Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
quang nguyet Chia quynh Nhung thụy music chuyen không linh luong tran ngam tuan Saigon hoang phong phung Nguyen Mộng quốc Nghin GIFT quan Trung mien
Latest topics
July 2020
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)

Go down 
Tác giảThông điệp
NHViet
Khách viếng thăm



Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSun Nov 04, 2012 7:55 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Z

Tình yêu (Amour)
Truyện ngắn - Guy de Maupassant (1850-1893)


Tôi vừa mới đọc trong mục tin vặt trên báo một bi kịch tình yêu say đắm. Chàng đã giết nàng rồi tự sát, nghĩa là đã yêu nàng. Chàng với Nàng thì có gì quan trọng? Chỉ có tình yêu của họ mới đáng cho tôi quan tâm, mà chẳng phải là vì tình yêu đó làm cho tôi mủi lòng hay ngạc nhiên, làm tôi xúc động hay suy nghĩ, lý do chỉ vì nó nhắc lại cho tôi một kỷ niệm thời trai trẻ, một kỷ niệm lạ kỳ về một chuyến đi săn, dịp này tình yêu đã hiển hiện với tôi như những thập tự hiển hiện giữa trời với những tín đồ Cơ đốc giáo đầu tiên.

Tôi sinh ra với tất cả bản năng và cảm giác của người sơ khai, được tiết chế bởi lý luận và cảm xúc của người văn minh. Tôi thích săn bắn đến độ đam mê; và hình ảnh con thú đầy máu me, máu dây trên lông, máu dính tay tôi, khiến tim tôi ngây ngất.
Năm đó, vào độ cuối thu, khí lạnh chợt về đột ngột, Karl de Rauville, một trong những người anh họ của tôi, cho gọi tôi tới để cùng anh săn vịt trời trong đầm lầy, lúc rạng sáng. Anh họ tôi trạc tứ tuần, vui tính, tóc hung, rất khoẻ mạnh, râu rậm, người quý phái ở nông thôn, hơi thô thiển mà dễ thương, bản tính vui vẻ, sẵn có tinh thần tự do phóng khoáng khiến việc tầm thường hoá thành dễ chịu, anh sống trong một kiểu lâu đài nông trại ở vùng thung lũng có con sông chảy qua. Những cánh rừng bao quanh đồi, bên trái và bên phải, kiểu rừng của lãnh chúa xưa, nơi còn lại nhiều cây tuyệt đẹp và cũng là nơi còn thấy được những loài chim quý hiếm nhất của khắp vùng này trên đất Pháp. Đôi khi ở đây người ta còn giết được cả đại bàng, và những con chim thiên di, những con hầu như chẳng bao giờ ghé đến những vùng quá đông người của chúng ta, đậu lại gần như chẳng thay đổi trên những cành cây già cỗi như thể chúng đã biết hay nhận ra lại góc rừng nhỏ này, vốn có ở đó từ xưa sẵn cho chúng trú ẩn trong khoảng thời gian nghỉ chân ngắn ngủi về đêm này.

Trong thung lũng là những đồng cỏ lớn tưới bởi những mương nước và có hàng rào ngăn cách. Phía xa hơn là con sông, dồn nước về tận đây rồi toả ra thành một đầm lầy rộng. Cái đầm này, khu vực săn bắn tuyệt nhất tôi từng biết, đã được anh họ tôi bỏ công sức giữ gìn như một bãi săn. Băng qua một đám lau sậy rộng lớn phủ tràn bãi này, khiến cho nó sinh động, rì rào, xao xác, người ta đã vạch ra những lối đi hẹp cho những con thuyền đáy phẳng điều khiển bằng sào, trôi đi lặng lẽ trên mặt nước lặng lờ, lướt qua đám song mây, xua bầy cá vụt lội qua lớp cỏ và đuổi lũ gà rừng cắm đầu đen nhọn xuống rồi đột ngột lủi mất.
Tôi yêu sông nước bằng một đam mê không chừng mực: yêu biển, tuy quá rộng và luôn luân chuyển, không thể sở hữu được, yêu sông đẹp đến thế, nhưng lại qua đi, trôi đi, chảy đi, và yêu nhất là đầm lầy nơi rộn ràng cuộc sống đầy bí ẩn của bao loài vật thuỷ cư. Đầm lầy là một thế giới trọn vẹn trên mặt đất, một thế giới khác, có đời sống riêng, có cư dân riêng, lại có những khách lãng du, có tiếng nói, âm thanh và bí mật của nó nữa. Đôi lúc, chẳng có gì gây bối rối, lo âu, hoảng sợ, hơn là bãi đầm lầy. Tại sao nỗi sợ này lại bay lượn trên những đồng cỏ ngập nước? Phải chăng là do những tiếng rì rào mơ hồ của lau sậy, những đốm lửa ma trơi lạ lùng, sự im lặng tột cùng bao trùm đêm thanh vắng, hay là lớp sương mù kỳ dị kéo phủ trên đám song mây như những chiếc áo của người chết, hoặc giả là tiếng bập bềnh thoáng qua, nhỏ thôi, êm thôi, mà lại gây kinh hoàng hơn tiếng đại bác của loài người hay tiếng sấm rền của đất trời, tất cả khiến đầm lầy trông giống như những xứ sở trong mơ, những xứ sở đáng sợ ẩn chứa một bí mật không nhận biết được và đầy hiểm nguy.
Không. Có một thứ khác toả ra, một bí mật khác sâu kín hơn, nặng nề hơn, bập bềnh trong lớp sương mù dày đặc, có lẽ là sự bí mật của chính sự khai sáng! Bởi lẽ chẳng phải là chính trong bùn lầy nước đọng, trong ẩm thấp nặng nề của vùng đất đẫm ướt dưới ánh nắng mà mầm sống đầu tiên đã cựa quậy, đã rung rinh, đã chào đời hay sao?

Tôi đến nhà anh họ vào buổi tối. Trời giá lạnh đến đá cũng nứt nẻ.
Khi ăn tối, trong căn phòng rộng mà tủ buýp phê, tường và trần nhà đều đầy cả những con chim nhồi, căng ra với đôi cánh rộng, hoặc đậu trên những cành móc vào những cái đinh, diều hâu, diệc, cú vọ, cú muỗi, chim ưng, chim diều mốc, kền kền, chim cắt, anh họ tôi giống như một con vật lạ kỳ của xứ lạnh, khoác chiếc áo cánh bằng da hải cẩu, kể cho tôi nghe anh đã chuẩn bị thế nào cho cuộc săn đêm nay.
Chúng tôi phải ra đi lúc 3 giờ rưỡi sáng để vào khoảng 4 rưỡi có thể đến điểm đã chọn để mai phục. Ở chỗ đó, người ta đã xây một cái lều với những tảng băng để chúng tôi núp tránh phần nào cơn gió khủng khiếp khi trời sắp sáng, thứ gió mang theo cơn lạnh xẻ da như lưỡi cưa, cắt da như dao, chích như kim tẩm thuốc độc, vặn xoắn như kìm, và đốt cháy như lửa.
Anh họ tôi xát hai bàn tay vào nhau: "Anh chưa bao giờ thấy giá lạnh như thế này, anh nói, mới sáu giờ chiều mà đã mười hai độ âm." Ăn xong là tôi lăn vào giường và thiếp ngủ dưới ánh sáng ngọn lửa lớn cháy trong lò sưởi.

Đúng ba giờ tôi được đánh thức. Tôi khoác lên người mảnh da cừu và thấy anh Karl phủ bộ lông gấu. Sau khi uống mỗi người hai tách cà phê nóng hổi kèm theo hai ly sâm banh hảo hạng, chúng tôi lên đường cùng người phụ việc và hai con chó là Plongeon và Pierot.
Mới ra ngoài được vài bước, tôi đã thấy lạnh thấu xương. Đó là một trong những đêm mà mặt đất dường như chết cóng vì lạnh. Không khí đóng băng khó chịu đến mức trở nên cứng, sờ thấy được; không một làn gió nào lay động, khí trời đông cứng, bất động, nó cắn, đâm ngang, làm héo, giết chết cây to, cây nhỏ, côn trùng, cả những con chim nhỏ rơi từ trên cành xuống mặt đất cứng, rồi chim cũng bị giá lạnh ghì siết mà thành cứng ngắt luôn.
Trăng hạ tuần chếch hẳn về một phía, thật nhợt nhạt, có vẻ như khuyết hẳn đi giữa không trung, yếu ớt đến nỗi không lặn đi được, cứ ở mãi trên cao đó, bị bầu trời khắc nghiệt tóm lấy và làm cho tê cóng. Trăng toả một thứ ánh sáng khô khốc và buồn bã xuống trần gian, ánh sáng lờ đờ, nhợt nhạt của mặt trăng vào cuối chu kỳ trăng mỗi tháng.
Karl và tôi đi cạnh nhau, lưng khom xuống, tay thọc vào túi, súng kẹp dưới nách. Những đôi giày có bọc len để khỏi trượt chân khi đi trên dòng sông băng không gây ra tiếng động. Tôi nhìn làn khói trắng do mấy con chó thở phì ra. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến mép đầm lầy và đi vào một trong những con đường đầy lau sậy khô dẫn tới cánh rừng thấp.
Khuỷu tay chúng tôi, chạm vào những dải lá dài, để lại phía sau một âm thanh nhỏ. Tôi cảm thấy một mối cảm xúc mãnh liệt và lạ kỳ, như tôi chưa bao giờ thấy, do đầm lầy gây ra nơi tôi. Nó đã chết, cái đầm lầy ấy, chết vì giá lạnh, bởi vì chúng tôi đã bước lên trên, giữa những đám song mây khô queo của nó.

Đột nhiên, nơi khúc ngoặt đường đi, tôi nhìn thấy cái lều băng được dựng sẵn cho chúng tôi vào ẩn núp. Tôi bước vào, và vì chúng tôi còn gần một tiếng đồng hồ chờ cho những con chim lang thang thức giấc, tôi cuộn mình trong tấm chăn để cố sưởi ấm.
Lúc này, nằm ngả lưng, tôi bắt đầu ngắm nhìn mặt trăng biến dạng, với bốn cái sừng xuyên qua những bức vách trong suốt của căn nhà băng này.
Nhưng cái lạnh của đầm lầy đóng băng, cái lạnh của những bức tường, cơn lạnh từ trên trời ập xuống nhanh chóng thấm vào tôi một cách khủng khiếp khiến tôi bật cơn ho.
Anh họ tôi tỏ ra lo lắng: "Nếu hôm nay không giết được gì nhiều cũng chẳng sao cả, anh nói, anh không muốn chú bị cảm lạnh, chúng ta sẽ đốt lửa." Rồi anh bảo người phụ việc đi chặt lau sậy.
Lau sậy đem về chất thành đống để ngay giữa căn lều đã khơi thông trên chóp để khói thoát ra; khi ngọn lửa hồng bốc lên dọc theo các vách ngăn trong suốt, chúng tan chảy từ từ, nhẹ nhàng, như thể những tảng đá băng đổ mồ hôi vậy. Karl vẫn đứng bên ngoài, gọi tôi: "Chú đến xem này!" Tôi bước ra và kinh ngạc tột cùng. Căn lều của chúng tôi, dạng hình nón, trông như viên kim cương quái dị nằm trong đống lửa bất ngờ bị đẩy ra giữa mặt nước đóng băng của đầm lầy. Và bên trong, có thể nhìn thấy hai hình thù mờ ảo, là hai con chó của chúng tôi đang nằm sưởi ấm.
Nhưng một tiếng kêu kỳ lạ, tiếng kêu thảng thốt, tiếng kêu lạc lõng vang trên đầu chúng tôi. Ánh sáng lờ mờ từ ngọn lửa sưởi nóng đã đánh thức lũ chim hoang dã.
Không có gì làm tôi xúc động bằng tiếng la ó đầu tiên của sự sống này, tuy không nhìn thấy nhưng trong bóng tối, nó lan truyền thật nhanh, thật xa, trước khi những tia sáng đầu tiên của ngày mùa đông ló dạng nơi chân trời. Vào giờ khắc lạnh giá này của buổi rạng đông, tôi tưởng chừng tiếng kêu trốn chạy này của con vật có lông vũ là tiếng thở dài của con người.

Karl nói: "Dập lửa đi. Rạng đông rồi."
Quả thật trời bắt đầu chuyển sang màu tai tái, và từng bầy vịt trời kéo trên bầu trời những vệt dài di chuyển nhanh, rồi sớm bị xoá nhoà.
Một vệt sáng loé lên trong màn đêm, Karl vừa nổ súng, hai con chó lao đi như tên bắn.
Thế là, từng phút một, hoặc anh ấy, hoặc là tôi, chúng tôi nhanh nhẹn nhắm bắn ngay khi trên đám lau sậy hiện ra bóng dáng đàn vật bay. Và Pierrot cùng Plongeon, hụt hơi và vui vẻ, mang về cho chúng tôi những con thú dính máu mà đôi lúc mắt vẫn còn nhìn chúng tôi.

Ngày đã lên, một ngày trong xanh, mặt trời mọc phía cuối thung lũng, chúng tôi tính sẽ bỏ đi, đúng lúc hai con chim, cổ vươn dài, cánh giăng thẳng, bất ngờ xẹt qua trên đầu chúng tôi. Tôi nã súng. Một trong hai con rớt xuống gần ngay chân tôi. Đó là con le le bụng bạc. Thế rồi, trong khoảng không gian ngay trên đầu tôi, nghe có tiếng, tiếng chim kêu lên. Tiếng kêu than ngắn, lặp đi lặp lại, não lòng, và con vật, con vật bé nhỏ thoát được cứ quay tròn trên bầu trời xanh trên đầu chúng tôi mà nhìn xuống chim bạn đã chết tôi đang nắm trong tay.
Karl, quỳ gối, tì súng vào vai, mắt háo hức, rình chờ con chim bay đến gần.
"Chú đã hạ con mái, anh nói, con trống sẽ không rời nó đâu."
Thực vậy, nó không bay đi, mà cứ quay vòng và khóc than chung quanh chúng tôi. Chưa bao giờ tiếng kêu than bi thương lại dày vò tâm can tôi như tiếng kêu đau buồn, như lời oán trách thảm thiết của con vật tội nghiệp lạc lõng trong không trung.
Thỉnh thoảng nó bay xa đi dưới họng súng theo dõi nó đe doạ, có vẻ như nó vẫn sẵn sàng tiếp tục hành trình, chỉ một mình trên trời xanh. Nhưng rồi không cương quyết, nó lại bay trở về tìm con mái của mình.
"Chú để bạn nó xuống đất đi, Karl bảo tôi, lát sau nó sẽ tới gần."
Nó tới gần thật, không bận tâm đến nguy hiểm, hốt hoảng với tình yêu loài vật, tình yêu dành cho con vật mà tôi đã giết.

Karl bấm cò, như người ta cắt sợi chỉ treo giữ con chim vậy thôi. Tôi nhìn thấy một vật đen rơi xuống, tôi nghe tiếng rơi trong đám lau sậy. Và Pierrot mang nó lại cho tôi.
Tôi để cả hai đã lạnh ngắt trong cùng chiếc túi săn... và tôi lên đường trở về Paris ngay hôm đó.

......
7 décembre 1886.
 
THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp "Amour"
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSun Mar 24, 2019 8:00 am

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 180606103602-ifrances-best-kept-secret---stock--sanddebeautheil-bonifacio-courtesy-of-corsica-tourist-office-super-169

Huyết thù 
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Góa phụ Paolo Saverini sống một mình với đứa con trai trong một ngôi nhà nhỏ nghèo nàn trên vành đai của Bonifacio. Một thị trấn hình thành trên đỉnh những ngọn núi, nơi những mỏm đá nhô ra biển, trông ngang qua một con kênh tua tủa những đá ngầm, đến bờ biển Sardinia ở phía dưới. Dưới chân núi, phía bên kia và gần như bao quanh thị trấn ấy là dòng kênh có vai trò như một bến cảng, cắt vào trong đá như một hành lang khổng lồ. Xuyên một vòng giữa những bức vách đá dựng đứng trong nước, con kênh mang những chiếc thuyền đánh cá của người Italia hoặc của người Sardinia, đến tận thềm của những ngôi nhà đầu tiên và cứ mỗi hai tuần, những chiếc thuyền cũ kỹ chạy bằng hơi nước đến và đi từ Ajaccio.

Bên trên vùng núi trọc ấy là cụm nhà tạo nên những mảng vá màu trắng, trông giống như những tổ chim hoang, bám trên tảng đá nổi bật trên dòng kênh nguy hiểm mà hiếm có chiếc tàu nào liều lĩnh đi qua. Những luồng gió không bao giờ ngơi nghỉ luôn khuấy động mặt biển và ăn mòn bờ biển đến trơ trụi chỉ còn những đám cỏ lơ thơ bao phủ, gió còn thổi vào khe núi và tàn phá hai bên vách núi. Ðám bọt trắng xóa dật dờ bám quanh vô số mũi đá đen nằm khắp mọi nơi chọc thủng những cơn sóng, giống những chiếc lều rách nổi bềnh bồng nhấp nhô trên mặt nước.
Căn nhà của bà góa phụ Saverini cheo leo trên một rìa đá; ba cửa sổ của căn nhà đều hướng ra khung cảnh hoang vu và heo hút này. Bà sống thui thủi ở đó với con trai là Antoine và con chó cái Semillante, một con chó to và ốm với bộ lông dài bờm xờm của một giống chó chăn cừu. Người thanh niên trẻ dùng nó để đi săn.
Buổi chiều nọ, sau một trận cãi vả, Antoine Saverini đã bị giết chết một cách thảm khốc bằng một nhát dao của tên phản phúc Nicolas Ravolati, hắn đã trốn đi Sardinia ngay đêm đó.
Khi nhận thi thể con mình và nhờ người ta mang về, bà mẹ già của anh đã không khóc, nhưng bà đã ngồi bất động rất lâu, nhìn vào xác con, vòng cánh tay nhăn nheo qua xác con mình, bà thề sẽ trả mối thù này cho con. Bà không muốn có ai bên cạnh, bà nhốt mình trong nhà cùng với xác chết và với con chó buồn thảm. Con chó cứ tru lên mãi, nó đứng ở chân giường, đầu sục vào xác chủ, đuôi cụp xuống. Nó không buồn nhúc nhích, cả bà mẹ cũng thế, bà cúi xuống và nhìn sững vào xác con lặng lẽ chùi nước mắt.

Xác người thanh niên nằm ngửa, trong chiếc áo choàng dày bằng vải séc với một lỗ thủng ở phía trước, trông như đang ngủ; nhưng khắp nơi đều đầy máu; máu trên áo sơ mi bị xé phăng bởi lần cấp cứu vội vàng; trên áo choàng, trên chiếc quần chẽn, trên mặt anh, trên đôi tay. Máu bết dính đông cứng lại trên râu và tóc anh.
Bà mẹ già bắt đầu nói với anh. Con chó lặng yên trong lúc bà nói.
“Rồi đây, con sẽ được báo thù, đứa con bé bỏng của mẹ, con của mẹ, đứa con đáng thương của mẹ. Hãy ngủ yên, ngủ đi, con sẽ được báo thù, con nghe đấy chứ! Mẹ của con đã thề như thế! Và mẹ của con sẽ luôn giữ lời thề; con biết như vậy mà”.
Bà chậm chạp cúi xuống thi thể của anh, đặt đôi môi giá lạnh của mình lên môi của xác chết.
Khi đó Semillante bắt đầu tru lên một lần nữa. Nó tru từng hồi dài, đều đều, những tiếng kêu não nùng thảm thiết. Người đàn bà và con chó, vẫn cùng nhau ngồi đó cho đến sáng.
Antoine Saverini được chôn vào ngày hôm sau, và không bao lâu ở Bonifacio chẳng còn ai nói về anh nữa.
Anh chẳng có anh em hay bà con nào gần gũi. Không có một người đàn ông nào ở đó để báo thù. Chỉ có duy nhất mẹ anh, một bà già, đang nghiền ngẫm suy tính.

***

Từ phía bên kia của con kênh bà đã quan sát từ sáng đến tối, một đốm nhỏ trên bờ biển. Ðó là một làng nhỏ của người Sardinia, Longosardo, nơi những tên cướp người Corse trốn chạy và trú ẩn khi bị truy lùng gắt gao. Bọn họ trở thành toàn bộ cư dân cho cái làng nhỏ hướng ra bãi biển phía trước quê nhà của họ; và ở đó họ chờ đợi thời cơ thích hợp để trở về, về lại vùng cây bụi rậm ở Corsia. Bà biết rằng Nicolas Ravolati đã trốn tránh ở chính cái làng đó.
Ðơn độc một mình, suốt ngày dài ngồi bên cửa sổ, bà nhìn xa xăm nơi đó và hoạch định chuyện trả thù. Làm thế nào bà có thể thực hiện mà không có sự giúp đỡ của người khác, huống hồ là bà đã quá gầy yếu và đã gần đất xa trời? Nhưng bà đã hứa, đã thề trước xác con. Bà không thể quên, mà bà cũng không thể chờ đợi nữa. Bà sẽ làm gì đây? Ban đêm bà không thể ngủ được, bà không còn ngủ được cũng như không còn thấy thanh thản; bà miên man tìm kiếm cách giải quyết. Con chó nằm ngủ dưới chân bà thỉnh thoảng ngóc đầu dậy và tru lên. Từ khi chủ nó qua đời, nó vẫn thường tru lên như thế, như thể nó gọi anh, như thể cái tâm hồn của con vật, không nguôi thương nhớ, vẫn cứ giữ mãi những hồi ức không phai của người chủ.

Một đêm nọ, khi Semillante lại đang bắt đầu rền rĩ, bà mẹ bỗng nảy ra một ý tưởng, một ý tưởng hoàn toàn hợp lẽ với lòng hận thù sâu sắc và tàn bạo. Bà trầm tư cho đến sáng, thế rồi khi mặt trời ló dạng, bà đến nhà thờ. Bà cầu nguyện, quỳ gối trên nền đá, phủ phục trước Chúa, bà van xin Ngài giúp đỡ bà, cứu rỗi bà, ban cho cái thân hình suy sụp của bà một sức mạnh cần thiết để trả thù cho con trai.
Rồi bà trở về nhà. Trong sân có một thùng rượu cũ dùng để hứng nước mưa, bà úp lại, đổ nước đi, gắn chặt xuống đất bằng chiếc cọc và những hòn đá; kế đến bà xích Semillante vào chiếc cũi đó, rồi vào nhà.
Sau đó bà bắt đầu bước tới bước lui trong phòng, không nghỉ ngơi, mắt bà vẫn hướng ra vùng biển Sardinia. Hắn ở đó, tên sát nhân.
Suốt một ngày và đêm dài con chó cứ tru. Vào buổi sáng bà già cho nó một chút nước đựng trong chén, và không cho thêm gì nữa, không súp, không bánh mì.
Một ngày nữa trôi qua. Semillante kiệt sức, lơ mơ ngủ. Ngày hôm sau hai mắt nó sáng lên, lông dựng ngược và nó liều lĩnh giật sợi xích.
Một lần nữa, bà già không cho nó ăn gì. Con vật điên cuồng vì đói, sủa khàn cả giọng. Một đêm nữa trôi qua.

Lúc rạng sáng, bà mẹ Saverini đi sang hàng xóm để xin hai bó rơm. Bà lấy chiếc áo cũ đã hư của chồng nhồi rơm vào bên trong giống như một hình nhân.
Trồng một cái trụ trên sân trước chiếc cũi của Semillante, bà cột vào đó cái hình nộm mà giờ đây trông giống như một người đang đứng. Rồi bà trang trí cái đầu hình nộm với một sợi dây vải đã cũ. Con chó, ngạc nhiên nhìn người đàn ông bằng rơm, yên lặng, mặc dù bị cơn đói hành hạ.
Bà già đến nhà người bán thịt lợn và mua một miếng dồi thật dài. Khi trở về nhà, bà đốt một bếp lửa nhỏ ở sân sau, đóng chiếc cũi chó lại và nướng miếng dồi lợn. Semillante, điên cuồng, lồng lộn và nước bọt sủi đầy mép, mắt nó như gắn vào món ăn, mùi thơm phức đã cào cấu bao tử nó.
Với miếng dồi bốc khói bà mẹ làm thành một chiếc cổ áo cho hình nộm rơm. Phải rất lâu bà mới có thể buộc miếng dồi vòng quanh cổ sao cho nó ngập vào bên trong hình nộm. Khi công việc xong xuôi, bà thả con chó ra.
Với một cú nhảy vọt, con vật lao lên cổ họng hình nộm, móng chân nó bấu trên vai hình nộm và bắt đầu cắn xé. Con vật rơi xuống với một miếng dồi trong miệng, nó lao lên lần nữa, cắn ngập răng chiếc cổ áo làm bằng dồi ấy và xé thành những mếng vụn, nó lại rơi xuống lần nữa, rồi lại lao lên, ngấu nghiến một cách bạo tàn.
Với những miếng ngoạm lớn, nó bứt khuôn mặt và xé toàn bộ phần cổ ra manh mún. Bà già theo dõi, lặng lẽ và bất động, một niềm hy vọng loé trong tâm tưởng của bà. Thế rồi bà xích con chó lại lần nữa, bỏ đói nó hai ngày nữa, và lặp lại cuộc diễn tập khác thường đó.
Ròng rã ba tháng trời bà huấn luyện cho con chó chiến đấu theo kiểu ấy, đoạt lấy bữa ăn bằng những chiếc nanh nhọn. Bà đã không còn xích con chó nữa mà chỉ cần ra dấu là nó tấn công hình nộm.
Bà đã dạy cho con chó cắn nát và nhai ngấu nghiến cái hình nộm không có thức ăn giấu bên trong cổ họng. Sau đó bà thưởng cho nó miếng dồi lợn mà bà đã làm sẵn.
Ngay khi thấy hình người, Semaillante run lên, nó hướng mắt về phía bà chủ - người sẽ ra lệnh cho nó: ”Ði” trong tiếng huýt sáo kèm cái phẩy tay.

***

Khi cảm thấy giờ phán quyết đã điểm, một sáng chủ nhật bà mẹ Saverini đi xưng tội và rước lễ với một vẻ vô cùng thành kính; thế rồi bà khoác vào người bộ trang phục đàn ông giống như một người ăn xin.
Bà mặc cả với một ngư dân Sardinia, để ông ta đưa bà cùng con chó sang bên kia eo biển.
Trong chiếc túi vải bà đựng một miếng dồi lợn thật lớn. Semillante đã không được ăn uống gì hai ngày nay. Cứ mỗi phút, bà già lại cho nó ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức, kích thích cơn đói của nó. Họ đến Longosardo.
Người đàn bà đảo Corse bước đi bằng những bước khập khiễng. Bà đến nhà một người làm bánh và hỏi thăm nhà của Nicolas Ravolati. Hắn đã trở về lại nghề cũ, làm thợ mộc. Hắn đang làm việc một mình phía sau xưởng.
Bà già đẩy cửa và gọi hắn:
“Ê! Nicolas!”
Người đàn ông quay lại; thế là, bà thả ngay con chó và la lên:
“Ði đi, cắn nó đi, cắn nó!”
Con thú điên cuồng lao tới và táp lấy cổ họng của hắn ta. Người đàn ông chìa tay ra, túm chặt lấy con chó và lăn lộn trên nền đất. Hắn quằn quại vài phút, đập chân trên nền đất, thế rồi hắn nằm im bất động trong khi Semillante sục mõm vào cổ họng hắn và xé tơi tả.

Hai người láng giềng, ngồi trên bậu cửa thản nhiên kể lại rằng đã thấy một lão ăn mày đi ra với một con chó gầy còm vừa đi vừa ăn một thứ gì đó màu nâu mà chủ của nó cho.
Chiều hôm ấy, bà già trở về nhà. Ðêm đó bà ngủ rất ngon.

Nhị Tường dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSat Apr 13, 2019 10:50 am

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Z

Niềm hạnh phúc
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Đó là giờ của những buổi tiệc trà trước khi người ta thắp đèn. Ngôi biệt thự sừng sững ven biển: mặt trời đang lặn khiến bầu trời rực lên một màu hồng, lấm tấm đám bụi vàng. Biển Địa Trung Hải tịnh không một gợn sóng, không một cơn rùng mình, phẳng lì, lấp lánh chiếu ánh mặt trời lúc chiều tà, tựa như một tấm kim loại nhẵn bóng rộng lớn.
Xa xa, ở phía bên phải, những ngọn núi lô xô sừng sững thành một khối đen sì trên nền trời màu tía loang lổ ánh hoàng hôn.

Người ta đang nói về tình yêu, tranh luận về cái đề tài muôn thủa này, nhắc lại những điều mà họ đã nói đi nói lại thường xuyên. Nỗi buồn man mác êm dịu của buổi hoàng hôn khiến lời nói như chậm lại, tâm hồn người ta bùi ngùi xúc động, và hai tiếng “tình yêu” được nhắc đi nhắc lại không ngớt, khi thì phát ra từ một giọng đàn ông trầm trầm, lúc lại cất lên bằng một giọng nữ thanh thanh, rộn lên khắp căn phòng nhỏ, bay lượn như loài chim và lửng lơ như một linh hồn.
Liệu người ta có thể yêu nhau suốt nhiều năm liền không?
“Có chứ!” Một vài người chắc chắn.
“Không!” Những người khác khẳng định.
Người ta kể ra đủ mọi tình huống, vạch rõ mọi sự phân định, nêu lên mọi dẫn chứng, và tất cả, đàn ông lẫn đàn bà, đều cảm thấy kỷ niệm trào dâng khiến tâm hồn rung động, những kỷ niệm mà họ chẳng thể tiết lộ cùng ai nhưng cứ chực dâng lên môi. Họ có vẻ rất xúc động, bàn tán về chủ đề bình dị mà lại có sức mạnh vô song, một sự thỏa hiệp êm dịu và huyền bí giữa hai sinh vật, với một xúc cảm sâu sắc và sự nồng nhiệt hăng say.
Nhưng một người đang đăm đắm nhìn về phía xa bỗng kêu lên:
“Ôi! Nhìn kìa! Ở đằng kia, cái gì thế nhỉ?”
Trên mặt biển, tận cuối chân trời, một khối xám nhờ nhờ khổng lồ hiện lên.
Đám phụ nữ nhổm cả dậy nhìn, không hiểu vật kỳ lạ kia là gì, trước đây họ chưa từng thấy.
Một người lên tiếng: “Đó là đảo Corse! Người ta vẫn thấy nó thế này mỗi năm hai hoặc ba lần, trong những điều kiện khí hậu đặc biệt, khi không khí hoàn toàn trong suốt không che khuất nó bởi những màn sương mù hơi nước vẫn thường bao phủ lên mọi vật ở xa”.
Mọi người nhận thấy rõ những mỏm núi xa xa và tin rằng mình thấy cả tuyết rơi trên đó. Ai cũng ngạc nhiên sững sờ, bối rối, gần như là hoảng hốt bởi sự xuất hiện đột ngột của thế giới kỳ lạ, một hồn ma vừa từ đáy biển chui ra. Có lẽ những người thám hiểm như Colomb khi vượt qua những đại dương hoang sơ cũng đã từng thấy cảnh tượng lạ lùng này.
Thế rồi một người đàn ông đã luống tuổi nãy giờ vẫn im lặng bỗng cất tiếng:
“Nghe này, tôi biết trên hòn đảo vừa mới hiện ra trước mắt chúng ta như là để trả lời cho những điều chúng ta nói với nhau nãy giờ và để nhắc tôi nhớ lại một kỷ niệm lạ thường, tôi biết một minh chứng tuyệt vời về một tình yêu chung thủy, một tình yêu hạnh phúc vô song.
Đây là câu chuyện”.

***

Năm năm trước, tôi đi du lịch tới đảo Corse. Hòn đảo hoang sơ này còn xa lạ và cách biệt với chúng ta hơn cả châu Mỹ, dù rằng thỉnh thoảng ta vẫn thấy nó từ bên này bờ nước Pháp, giống như hôm nay.
Các bạn có tin rằng vẫn còn có một thế giới đang trong thời kỳ hỗn mang không? Những dãy núi trùng điệp ngăn cách với nhau bởi những khe núi hẹp cuồn cuộn thác ghềnh, không một dải đồng bằng, nhưng có những khối đá hoa cương rộng mênh mông và những ụ đất nhấp nhô khổng lồ che phủ bởi những rừng cây bụi hay rừng dẻ và thông. Đó là một vùng đất nguyên sinh chưa được khai phá, hoang vu, dù rằng đôi lúc ta cũng nhìn thấy một vài ngôi làng giống như những mỏm đá trên đỉnh núi. Không đồng ruộng, không nhà xưởng, không một công trình nghệ thuật nào. Chẳng bao giờ ta tìm thấy một mảnh gỗ được gọt đẽo, một tảng đá được chạm trổ, cũng chẳng bao giờ có những ký ức trong sáng và tinh tế về những điều tuyệt vời đẹp đẽ của tổ tiên. Điều ta thấy rõ nhất ở xứ sở tuyệt diệu và khắc nghiệt này: đó là sự thờ ơ truyền kiếp đối với sự tìm tòi những dáng vẻ hấp dẫn mà người ta gọi là nghệ thuật.
Nước Ý, nơi mà mỗi lâu đài đều chứa đầy những tác phẩm nghệ thuật tự nó cũng chính là một kiệt tác nghệ thuật, nơi mà mỗi khối đá cẩm thạch, mỗi khúc gỗ, mỗi thanh sắt thanh đồng, mỗi thứ kim loại hay đá sỏi đều in đậm dấu ấn tài năng của con người, nơi mà những đồ vật nhỏ bé nhất trong ngôi nhà cổ cũng biểu lộ sự tôn vinh cái đẹp, và với tất cả chúng ta, đó là tổ quốc thiêng liêng mà chúng ta yêu quý, bởi vì nó chỉ cho ta thấy và minh chứng cho sự nỗ lực, lớn lao, sức mạnh và vinh quang của tài năng và sức sáng tạo của loài người.
Đối diện với nó, đảo Corse hoang dã vẫn nguyên sơ như thủa ban đầu. Người dân ở đây sống trong những ngôi nhà thô kệch, dửng dưng với bất cứ điều gì không đụng chạm đến cuộc sống của mình hay những mối thù dòng tộc. Họ giữ nguyên cả những khiếm khuyết và phẩm chất của những giống người vô học, tàn nhẫn, thù địch, khát máu từ trong tiềm thức, nhưng cũng rất hiếu khách, độ lượng, tận tâm, ngờ nghệch, sẵn sàng mở cửa đón khách qua đường và trao trọn tình bạn trung thành đáp lại bất cứ biểu hiện tình cảm nào, dù là nhỏ nhặt nhất.
Vậy là trong suốt một tháng, tôi lang thang khắp hòn đảo tuyệt vời này, cảm giác mình đang ở tận cùng thế giới. Không một nhà trọ, không một quán ăn, không một con đường. Ta phải men theo những lối đường mòn của đám lừa thồ hàng để đến những ngôi làng chênh vênh trên sườn núi, mấp mé bên vực thẳm ngoằn ngoèo, nơi mà hàng đêm ta vẫn thấy dội lên một thứ âm thanh dồn dập, tiếng thác đổ âm ỉ và sâu lắng. Ta cứ việc gõ cửa một ngôi nhà, xin trú chân qua đêm và một chút gì đó lót dạ. Ta ngồi bên một chiếc bàn mộc mạc, ngủ dưới mái nhà thô sơ, và sớm hôm sau, ta siết chặt bàn tay vị chủ nhà đã tiễn ta tới tận cuối làng.
Thế rồi một tối, sau mười giờ đồng hồ đi bộ, tôi gặp một ngôi nhà nhỏ chơi vơi giữa một thung lũng hẹp cách bờ biển một dặm đường. Hai sườn núi dựng ngược bao phủ bởi những bụi cây rậm rạp, những tảng đá sụt lở và những cây cổ thụ như hai bức tường thành sẫm màu bao quanh cái thung lũng buồn u ám.
Xung quanh túp lều là mấy bụi nho, một mảnh vườn nhỏ và xa hơn là mấy cây dẻ già, là nguồn lương thực, gia tài quý giá ở vùng đất nghèo nàn này.
Người phụ nữ ra đón tôi đã luống tuổi, khắc khổ nhưng rất sạch sẽ. Người đàn ông ngồi trên chiếc ghế rơm khẽ đứng dậy chào tôi rồi lại ngồi ngay xuống, không nói một lời.
Bà vợ nói với tôi:
“Xin ông thứ lỗi cho ông ấy. Bây giờ ông ấy gần như điếc đặc, 83 tuổi rồi còn gì”.
Bà nói giọng Pháp rất chuẩn khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Tôi hỏi:
“Bà không phải là người đảo Corse à?”
Bà ta trả lời:
“Vâng, chúng tôi là người lục địa, nhưng chúng tôi sống ở đây đã năm mươi năm rồi”.
Một cảm giác kinh hoàng sợ hãi xâm chiếm tôi khi nghĩ tới quãng thời gian năm mươi năm giam hãm trong xứ sở hẻo lánh tối tăm này, cách xa nơi dân cư sinh sống. Một con chó béc giê già nua đi vào và mọi người bắt đầu ăn bữa tối với cái đĩa duy nhất trước mặt đựng món súp đặc sệt, lẫn lộn cả khoai tây, mỡ phần và bắp cải.
Khi bữa ăn ngắn ngủi kết thúc, tôi đến ngồi trước cửa, tim se thắt nỗi buồn man mác vì khung cảnh sầu thảm nơi đây, bóp nghẹt vì nỗi cô chiếc tuyệt vọng đôi khi len lỏi vào hồn người lữ khách trong những đêm quạnh quẽ ở những nơi hoang vắng. Dường như tất cả đều sắp đến hồi kết thúc: sự sống và vũ trụ. Ta bỗng nhận ra nỗi khốn quẫn thật kinh hoàng của cuộc sống, sự ghẻ lạnh của người đời, nỗi hư vô của vạn vật và sự cô quạnh của con tim luôn tự an ủi, tự lừa dối bằng những giấc mơ ngọt ngào cho đến tận lúc từ giã cõi đời.
Bà già đến ngồi cạnh tôi, có vẻ bị giằng xé bởi nỗi tò mò luôn ẩn sâu tận đáy lòng cả những tâm hồn nhẫn nhịn nhất:
“Ông từ nước Pháp đến à”, bà hỏi.
“Vâng, tôị vốn là người rất thích đi đây đi đó”.
“Chắc ông là người Paris?”
“Ồ không! Tôi là người Nancy”.
Tôi thấy dường như bà ta run lên vì một mối xúc động lạ thường. Làm sao tôi có thể nhìn thấy, hay đúng hơn là cảm nhận thấy điều ấy, tôi cũng không biết nữa.
Bà nhắc lại, chậm rãi:
“Ông ở Nancy à?”
Người đàn ông xuất hiện ở ngưỡng cửa, lạnh tanh như những người điếc khác.
Bà nói tiếp: “Không sao, ông ấy không nghe thấy gì đâu”.
Vài giây sau, bà hỏi:
“Vậy ông biết nhiều người ở Nancy chứ?”
“Ồ vâng! Tôi biết hầu hết tất cả mọi người”.
“Cả các gia đình ở Sainte Allaize à?”
“Vâng, tôi biết rõ là đằng khác. Đó là những người bạn của cha tôi”.
“Ông tên là gì?”
Tôi nói tên mình. Bà nhìn tôi chằm chằm rồi nói bằng giọng nghẹn ngào như thể kỷ niệm đang tràn về:
“Vâng, vâng, tôi vẫn nhớ. Thế nhà Brisemare, họ sao rồi?”
“Họ đã chết cả”.
“A! Còn nhà Sirmont, ông có biết họ không?”
“Có, người duy nhất còn lại giờ là Đại tướng”.
Và bà ấy nói, run rẩy vì xúc động, vì lo âu, vì những tình cảm lẫn lộn mà tôi không biết nữa, mãnh liệt và thiêng liêng, vì nhu cầu được bộc bạch, được nói tất cả, những chuyện mà bà đã giữ kín trong lòng cho đến tận bấy giờ, về những người mà tên của họ khiến lòng bà chao đảo.
“Đúng rồi, Henri de Sirmont. Tôi biết rõ lắm. Đó là em trai tôi”.
Tôi tròn mắt nhìn bà, hốt hoảng kinh ngạc. Và một câu chuyện vụt trở về trong trí óc tôi.

Chuyện đó trước đây đã gây ra một vụ xì căng đan ầm ĩ trong giới thượng lưu ở Lorraine. Một cô thiếu nữ trẻ đẹp và giàu sang, Suzanne de Sirmont đã lén bỏ trốn cùng một viên hạ sĩ quan thuộc trung đoàn kỵ binh do cha nàng chỉ huy.
Đó là một thanh niên đẹp trai, con một người nông dân nhưng lại rất hợp với bộ quần áo nẹp xanh dương, và chàng lính trẻ đã quyến rũ con gái viên Đại tá của mình. Nàng đã nhìn thấy chàng, để ý và đem lòng yêu chàng khi xem đoàn kỵ binh diễu hành, có lẽ vậy. Nhưng làm thế nào nàng nói chuyện được với anh, làm sao họ có hẹn hò và si mê nhau, làm sao nàng có thể làm cho anh hiểu rằng nàng yêu anh? Không bao giờ người ta có thể biết được.
Không ai đoán ra điều gì, cũng chẳng dự cảm thấy gì hết. Để rồi một đêm nọ, khi anh lính vừa kết thúc buổi trực, anh đã biến mất cùng nàng. Người ta tìm họ khắp nơi nhưng không thấy. Người ta chẳng bao giờ nhận được tin tức của nàng và nghĩ rằng nàng đã không còn trên cõi đời này.
Thế mà tôi đã tìm thấy nàng trong một cái thung lũng nhỏ thật thảm
hại.
Và đến lượt mình, tôi lên tiếng:
“Vâng, tôi vẫn nhớ. Bà là tiểu thư Suzanne”.
Bà gật đầu xác nhận. Những giọt nước mắt trào lên cặp mắt. Và, đưa mắt chỉ cho tôi về phía ông lão bất động ngồi trên bậu cửa túp lều, bà nói:
“Ông ấy đấy”.
Và tôi hiểu bà vẫn luôn yêu người đàn ông này, vẫn luôn nhìn ông bằng ánh mắt say đắm thủa nào.
Tôi hỏi:
“Ít ra bà cũng hạnh phúc chứ?"
Bà đáp bằng giọng nói cất lên từ đáy lòng:
“Ồ! Vâng, rất hạnh phúc, ông ấy đã khiến tôi rất hạnh phúc. Tôi chẳng tiếc nuối gì”.
Tôi ngắm bà, buồn bã, kinh ngạc, thán phục bởi sức mạnh của tình yêu! Cô tiểu thư con nhà quyền quý đã đi theo người đàn ông nghèo khổ, một người nông dân bình thường. Và bản thân nàng cũng trở thành một người dân dã. Cuộc sống của nàng không chút xa hoa dư dả, không những thú vui phù phiếm, nàng tuân theo những thói quen giản dị. Và nàng vẫn yêu chàng. Nàng đã trở thành một người đàn bà cục mịch, đội mũ đầu trùm, mặc váy vải thô. Nàng ăn trong những chiếc bát bằng đất nung đặt trên chiếc bàn gỗ, ngồi trên ghế rơm, ăn món súp bắp cải nấu lẫn khoai tây và mỡ phần. Nàng ngủ trên đệm rơm bên chàng.
Nàng chẳng nghĩ đến gì khác, ngoài chàng. Nàng không tiếc những món đồ trang sức, những váy áo lụa là, những xa hoa lộng lẫy, những nệm ấm chăn êm, cũng chẳng bận tâm đến những căn phòng phủ trướng ấm áp thơm tho hay những chăn lông mềm mại ôm ấp cơ thể duỗi dài. Nàng chẳng bao giờ cần gì khác ngoài chàng, chỉ cần có chàng ở bên là nàng đã thấy hoàn toàn đầy đủ.
Khi còn xuân trẻ, nàng đã từ bỏ cuộc đời và cả thế gian, cả những người đã nuôi nấng và thương yêu nàng. Nàng đã đi với chàng, một mình, đến cái thung lũng hoang sơ này. Và chàng là tất cả đối với nàng, là khát khao, là mơ ước, là chờ đợi, là hy vọng mà người đời luôn kiếm tìm. Chàng đã mang đến hạnh phúc cho cả cuộc đời nàng, luôn luôn là thế.
Nàng không thể hạnh phúc hơn.
Suốt đêm, nghe tiếng thở khàn khàn của người lính già trên chiếc giường tồi tàn, bên cạnh người đàn bà đã theo ông cả một chặng đường dài, tôi miên man nghĩ về cuộc phiêu lưu kỳ lạ mà giản dị này, về niềm hạnh phúc trọn vẹn thật là hiếm hoi.
Và khi mặt trời lên, tôi từ biệt họ, sau khi siết chặt tay cặp vợ chồng già.

***

Người kể chuyện im bặt. Một bà nói:
“Dẫu sao, bà ta có một lý tưởng quá đơn giản, những nhu cầu quá sơ khai và những đòi hỏi quá dễ dàng. Đó chỉ có thể là một kẻ ngu ngốc”.
Một bà khác nói, giọng chậm rãi:
“Có sao đâu! Bà ta được hạnh phúc…”
Và ở đằng xa, nơi chân trời, đảo Corse khuất dần trong màn đêm, từ từ trở lại với biển cả, xóa sạch hình dáng hùng vĩ của nó hiện ra khi nãy. Chắc hẳn nó muốn tự mình kể lại câu chuyện của cặp tình nhân khiêm nhường đang náu mình trên đảo.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSun Apr 21, 2019 8:28 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Khong-gia-dinh-tai-ban-3

MỘT GIA ĐÌNH
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Tôi đi thăm người bạn Simon Radevin mà tôi đã không gặp từ mười lăm năm nay.
Xưa kia đó là người bạn tốt nhất của tôi, người bạn luôn chia sẻ mọi ngọt bùi cùng tôi, là người cùng tôi chia sẻ biết bao buổi tối dài đầy vui vẻ thanh bình, là người tôi có thể dốc bầu tâm sự, là người mà mỗi khi tôi có một suy nghĩ, một ý tưởng dù lạ lùng, dù vớ vẩn, dù thông minh hay ngớ ngẩn tôi cũng sẽ tìm đến người đó để sẻ chia hoặc để thực hiện những ý tưởng dù là ngông cuồng, ngốc nghếch nhất, là người mà tôi luôn cảm thấy dễ chịu thoải mái khi ở bên.
Trong suốt một thời gian dài, chúng tôi gần như không hề dời nhau. Chúng tôi cùng sống, cùng chơi, cùng suy tưởng, cùng mơ mộng với nhau, chúng tôi có cùng sở thích; chúng tôi cùng yêu mến một số đồ vật đáng yêu, cùng đọc, cùng thán phục cùng những cuốn sách, những tác phẩm nghệ thuật giống nhau, cùng có cảm giác giống nhau, và thường cùng bật cười trước một điều buồn cười vớ vẩn gì đó mà không cần phải liếc mắt nhìn nhau.

Thế rồi anh ta cưới vợ. Anh đột ngột lấy một cô gái quê lên Paris để kiếm tìm một đức lang quân.
Làm thế nào mà một cô gái bé nhỏ, gày còm với mái tóc vàng xỉn, với đôi tay thô kệch, với đôi mắt nhạt và vô hồn, có giọng nói the thé, hoàn toàn giống hàng trăm hàng nghìn con búp bê vô hồn lại có thể tóm được một người đàn ông thông minh và tinh tế đến thế? Làm sao người ta có thể hiểu điều đó được? Hiển nhiên là anh ta mong muốn có được hạnh phúc, một hạnh phúc bình dị, lâu bền trong vòng tay của một phụ nữ đức hạnh, dịu dàng và chung thủy; và anh ta đã thoáng thấy tất cả những cái đó trong đôi mắt trong suốt của cô gái láu lỉnh có mái tóc nhạt màu này.
Anh ta đã không nghĩ rằng một người đàn ông hoạt bát, nhanh nhẹn, rất dễ rung cảm sẽ mệt mỏi chán nản vì tất cả những cái mà anh ta đang nắm chặt lấy, trừ phi anh ta không u mê đờ đẫn đến nỗi không còn hiểu được bất cứ điều gì nữa.
Giờ đây anh ta sẽ thế nào nhỉ? Vẫn hoạt bát nhanh nhẹn, hóm hỉnh, hay cười, đầy nhiệt huyết hay đang uể oải trong nhịp điệu sống ở nông thôn? Một người đàn ông có thể thay đổi sau mười lăm năm chứ nhỉ!

Tàu dừng ở một ga nhỏ. Tôi xuống tàu, một người đàn ông to béo, rất to béo với đôi má phinh phính đỏ hây hây, với cái bụng phệ lao bổ về phía tôi với hai cánh tay dang rộng và kêu to: “Georges”. Tôi ôm hôn anh ta nhưng tôi vẫn còn chưa nhận được ra anh ta. Thế rồi tôi rên rỉ một cách ngu ngốc, ngớ ngẩn:
“Cristi, cậu không hề gày đi.”
Anh ta vừa cười vừa trả lời:
“Cậu muốn gì bây giờ? Một cuộc sống tốt đẹp! Một bàn ăn đầy thức ăn ngon lành! Những giấc ngủ ngon không mộng mị! Lẽ sống của tôi là được ăn ngon miệng và ngủ đẫy giấc!”
Tôi đứng lặng ngắm nhìn anh, kiếm tìm trong dáng hình trước mặt, những nét thân quen xưa. Chỉ duy đôi mắt là không thay đổi gì về hình dáng, nhưng tôi không còn nhìn thấy cái cách nhìn thân thuộc xưa nữa, tôi tự nhủ: “Nếu đúng là cái nhìn phản ánh suy nghĩ, thì những suy nghĩ trong cái đầu của người bạn thân tôi từng rất hiểu, rất đồng cảm đã khác trước rất nhiều”.
Tuy ánh mắt anh vẫn lấp lánh sáng, một ánh sáng vui vẻ, yêu đời nhưng nó không còn sáng lên ánh sáng thông minh, dí dỏm, hài hước xưa nữa. Bỗng nhiên Simon nói với tôi:
“Xem này, đây là hai đứa lớn nhà tôi.”
Nhìn theo tay anh chỉ, tôi thấy một cô nhỏ khoảng mười bốn, trông đã ra dáng thiếu nữ lắm rồi và một cậu nhỏ mười ba, còn đang mặc đồng phục của trường cấp hai, chúng tiến lại gần tôi đầy vẻ rụt rè.
Tôi kêu lên: “Con cậu đấy à?”
Anh vừa cười vừa trả lời: “Ừ.”
“Cậu có bao nhiêu đứa?”
“Năm! Vẫn còn ba đứa ở nhà!” Anh ta trả lời đầy vẻ tự hào, hài lòng, đầy vẻ hoan hỉ.
Trong tôi bỗng dâng lên một cảm giác thương cảm sâu sắc, trộn lẫn với cảm giác hơi khinh thường đối với con vật giống kiêu căng và ngây thơ dành cả đêm cho việc duy trì nòi giống. Con đực đó được nhốt trong một ngôi nhà ở nông thôn, như thể một con thỏ bị nhốt trong lồng.

Tôi leo lên chiếc xe ô-tô anh ta tự lái và chúng tôi đi về phía thành phố, một thành phố buồn tẻ với nhịp sống ngái ngủ lờ đờ. Trên phố vắng ngoe vắng ngoắt, thỉnh thoảng có một vài con chó hay hai ba kẻ giúp việc đi qua đi lại. Thỉnh thoảng mới có một cửa hàng nhỏ ngoài cửa có giá để mũ.
Simon vừa đi vừa chào và gọi tên tất cả những người đàn ông mà chúng tôi gặp trên đường về, tôi có cảm tưởng anh biết hết, thuộc hết tên của tất cả những cư dân trong thành phố nhỏ bé này. Tôi vẩn vơ nghĩ, hẳn anh ta định ăn đời ở kiếp ở chốn này, chôn vùi thân xác cũng như mọi suy nghĩ tình cảm của anh ta ở mảnh đất này.
Chỉ một lát chúng tôi đã đi qua vùng thành phố, và ô-tô bắt đầu vào trong một khu vườn trông như một công viên thu nhỏ, rồi dừng lại trước cửa một ngôi nhà trông hoàn toàn giống một lâu đài.
“Đây là hang ổ của tôi.” Simon nói để chờ một lời khen.
Tôi trả lời: “Tuyệt thật.”
Trên bậc thềm, xuất hiện một người phụ nữ, trang điểm, ăn mặc kỹ càng, cẩn thận để tiếp khách, với những lời có sẵn để hỏi khách. Đó không còn là cô gái nhỏ tóc vàng nhạt nhẽo mà tôi đã gặp ở nhà thờ cách đây mười lăm năm trước. Giờ đây trước mặt tôi là một phụ nữ đẫy đà, trang sức lòe loẹt với những búp tóc xoăn, một trong những kiểu quý bà nhạt nhẽo, không có tuổi, không có tính cách, không lịch thiệp, không duyên dáng, không có chính kiến, chẳng có gì ngoài dáng vẻ bề ngoài là một quý bà. Đó là một người mẹ điển hình, một cỗ máy đẻ, một con gà mái, một cỗ máy bằng xương bằng thịt mà mọi suy nghĩ trong đầu chỉ là con cái và các cuốn sách nấu ăn.
Cô ngỏ lời chào đón tôi, theo đúng thể thức chào khách, khi vào trong phòng tiền sảnh tôi thấy xuất hiện ở đó ba đứa nhỏ đang đứng xếp hàng tề chỉnh như thể những tên lính cứu hỏa.
Tôi hỏi: “Á à! Đây là những đứa còn lại phải không?”
Simon hớn hở gọi tên từng đứa: “Jean, Sophie và Gontran.”

Cửa phòng khách đã mở sẵn. Tôi đi vào đó và tôi nhìn thấy sâu trong một chiếc ghế sa-lông có ai đó đang động đậy, một người đàn ông, một ông già liệt.
Bà Radevin đi lại gần ông già:
“Đây là cha tôi, thưa ông, ông cụ năm nay được tám mươi bảy tuổi.” Rồi cô hét vào tai ông lão nghễnh ngãng: “Đây là bạn của Simon, bố ạ”. Ông cụ cố hết sức đưa tay ra hiệu chào tôi và rồi vừa khóc “oe, oe” vừa vẫy tay ra hiệu.
Tôi nói với ông cụ: “Ông thật đáng mến, thưa ông”. Rồi tôi ngồi phịch xuống một chiếc ghế.
Simon vừa vào, anh cười: “Á! À! Cậu đã làm quen với bố vợ mình đấy à. Ông cụ rất kỳ cục, bọn trẻ con hay lôi ông ra làm trò tiêu khiển. Ông rất háu ăn, bạn thân yêu của tôi ạ, ông ngốn tất cả những gì có trên bàn. Cậu không thể tưởng được, ông có thể ăn nhiều đến thế nào đâu nếu người ta không để mắt đến ông. Nhưng rồi cậu sẽ thấy, cậu sẽ thấy. Ông đang chăm chú nhìn đĩa đường như thể đang ngốn ngấu dáng hình khêu gợi của các cô gái trẻ kia. Cậu chưa bao giờ gặp một người buồn cười đến thế đâu, rồi cậu sẽ thấy.”
Rồi anh đưa tôi vào phòng nghỉ, để tôi rửa mặt mũi chân tay. Đã đến giờ ăn tối, tôi nghe tiếng chân bước rùng rùng ngoài cầu thang, tôi quay lại. Phía sau tôi bọn trẻ đi thành một hàng dài mà đi đầu là bố của chúng, không nghi ngờ gì là để tỏ lòng tôn kính tôi.
Phòng của tôi trông ra thảo nguyên, một thảo nguyên khô cằn, đơn điệu, chẳng có gì ngoài cỏ, lúa mì và yến mạch. Không có lấy một bụi cây, một sườn đồi, trí tưởng tượng bị hạn hẹp, buồn rầu, giữa một cuộc sống tẻ nhạt, mà mọi người trong nhà này đang sống.

Một tiếng chuông vang lên, đó là tiếng chuông báo bữa tối đã sẵn sàng. Tôi đi xuống.
Bà Radevin nắm lấy tay tôi đầy vẻ trang trọng và chúng tôi cùng vào phòng ăn. Một người hầu đẩy chiếc ghế bành của ông cụ vào chỗ cụ ngồi, ông cụ nhìn lướt tất cả các đĩa ăn với một cái nhìn hau háu đầy tò mò và quay đầu một cách khó khăn nhìn từ đĩa này đến đĩa khác, cái đầu lúc la lúc lắc.
Thế là Simon xoa hai tay vào nhau và bảo tôi: “Cậu sẽ rất buồn cười cho mà xem”. Và tất cả bọn trẻ hiểu ngay rằng người ta sẽ cho tôi xem một màn trình diễn về người ông tham ăn, cùng cười toáng lên, trong khi đó mẹ chúng vừa mỉm cười vừa nhún vai.
Simon quay về phía ông già, lấy tay làm loa và hét vào tai ông:
“Tối nay chúng ta có món bánh kem tráng miệng”.
Khuôn mặt nhăn nheo của ông lão sáng bừng lên và ông rung người rất mạnh để biểu thị rằng ông đã hiểu và ông rất hài lòng.
Và rồi người ta bắt đầu bữa tối.
“Xem này”. Simon rên lên. Ông lão không thích món súp và từ chối ăn nó. Người ta bắt ông phải ăn vì nó tốt cho sức khỏe của ông, người hầu tống vào miệng ông từng thìa súp đầy, trong khi ông cố chống cự lại bằng hết sức bình sinh để khỏi phải nuốt cái thứ nước ông không thích đó, chính vì thế ông làm đổ bẩn hết cả ông, cả bàn ăn và cả những người xung quanh.

Bọn trẻ cười chảy cả nước mắt, trong khi đó bố chúng, vô cùng hài lòng, lặp đi lặp lại: “Có buồn cười không, ông lão này? Có tức cười không?” Và trong suốt bữa ăn họ chỉ chăm chút cho ông lão. Ông lão nghiến ngấu nhìn những đĩa thức ăn đặt trên bàn, và cố đưa bàn tay run rẩy ra để kéo những đĩa thức ăn về phía mình. Mọi người cố tình đặt chúng sao cho ông gần với tới được, để rồi xem ông cố công cố sức với chúng, vừa run lẩy bẩy vừa cố lấy đà để lao được đến đĩa thức ăn. Mùi thơm của thức ăn khiến ông chảy cả dãi ra vì thèm khát, ông vừa làu nhàu vừa cố với. Cả nhà reo hò vui vẻ vì vẻ khốn khổ lố bịch của ông già.
Rồi người ta tiếp vào đĩa ông một miếng bánh bé tẹo mà ông ăn ngốn ngấu hết ngay với hy vọng người ta sẽ tiếp thêm miếng khác cho ông. Khi người ta mang bánh ngọt lên. Ông như người lên cơn động kinh. Ông rên lên vì thèm thuồng.
Gontran hét lên với ông: “Ông ăn nhiều quá rồi, ông không nên ăn nữa”. Và nó làm ra vẻ không cho ông ăn nữa.
Thế là ông già bật khóc nức nở. Ông vừa khóc, vừa run rất mạnh trong khi đó tất cả bọn trẻ con cười ngặt cười nghẹo. Cuối cùng người ta cũng mang phần của ông đến cho ông, một phần bánh rất nhỏ; ông nhét ngay nó vào mồm nghiến ngấu, vừa ăn vừa phát ra tiếng kêu chóp chép như một đứa trẻ phàm ăn. Vừa ăn vừa ợ, vừa nấc như một con vịt nuốt phải một miếng cá quá to.
Rồi khi ông ăn xong, ông lại giậm chân để bảo mọi người tiếp thêm cho ông.
Ái ngại cho ông già, mủi lòng tôi quay sang ướm lời:
“Xem kìa, đưa thêm một chút bánh ngọt cho ông chứ?”
Simon trả lời: “Ôi không! Bạn thân mến, nếu ông ăn quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe của ông đâu.”
Tôi cứng họng trước những lời như thế. Ôi đạo đức, ôi lập luận, ôi sự thông thái, ở tuổi ông, người ta đã tước nốt thú vui được ăn của ông vì lo lắng cho sức khỏe của ông! Sức khỏe của ông! Người ta sẽ làm gì được cho ông, cho một lão già liệt, run lẩy bẩy? Người ta giữ gìn sức khỏe cho ông, người ta giữ cho ông được sống lâu hơn, như người ta nói ư? Giữ cho ông sống được lâu hơn, nhưng sống lâu hơn được bao nhiêu ngày? Mười ngày, hai mươi ngày, năm mươi ngày hay một trăm ngày? Để làm gì? Vì cái gì? Vì ai? Vì ông? Hay để giữ cho gia đình một đồ vật để mà chơi, để mà đùa về thói tham ăn đầy bất lực của ông?
Ông chẳng còn việc gì để làm trong cuộc đời này nữa, chẳng còn gì nữa hết. Chỉ còn một mong muốn duy nhất còn lại, một thú vui duy nhất; tại sao người ta không thỏa mãn cho ông cái niềm vui cuối cùng đó, cho ông được hưởng cái niềm vui duy nhất còn lại đó cho tới ngày cuối đời?

Sau đó chúng tôi còn đánh bài rất lâu rồi tôi mới lên phòng đi nghỉ: tôi buồn, buồn, buồn quá!
Tôi ra đứng ở cửa sổ nhìn ra ngoài, ngoài kia, chẳng hề có một tiếng động nhẹ nào ngoài tiếng một con chim đang líu lo hót trong một bụi cây ở một nơi nào đó. Chú chim này hẳn đang hót với một giọng nhỏ nhẹ trong đêm để ru con mái ngủ, ấp trên những quả trứng.
Tôi lại nghĩ đến năm đứa con của anh bạn khốn khổ của tôi, người hẳn giờ đây đang ngáy bên người vợ xấu xí của anh ta.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSat Apr 27, 2019 3:05 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Images?q=tbn:ANd9GcQqwUNZqIZvklPmnOB0ZTZ3idvi3cUnmGTITtCii7d_UTvxka0M

Vĩnh biệt
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Hai người bạn đang ăn bữa tối. Qua khung cửa sổ quán cà phê, họ nhìn ra đại lộ tấp nập người qua lại. Họ cảm thấy những cơn gió ấm áp đang rong chơi khắp Paris trong đêm hè êm ả khiến cho tất cả người qua lại đều ngẩng cao đầu lên, khiến cho người ta chợt thấy ham muốn được bước đi, đến nơi nào không cần biết, dưới những tán lá rợp bóng, mơ về những dòng sông lấp loáng ánh trăng, những con đom đóm lập lòe và những con chim sơn ca hót thánh thót.

Một trong hai người, Henri Simon cất giọng nói trong tiếng thở dài não nuột:
“Ôi! Tôi già mất rồi. Thật buồn quá. Trước kia, những đêm như thế này, tôi luôn cảm thấy có một con quỷ lồng lộn trong cơ thể mình. Vậy mà giờ, tôi chỉ còn thấy có sự tiếc nuối. Cuộc đời sao mà qua nhanh đến thế!”
Trông ông ta đã hơi phát tướng, có lẽ khoảng 45 tuổi và tóc hói trụi. Người kia, Pierre Carnier, cũng trạc tuổi ấy, nhưng gầy và nhanh nhẹn hơn, lên tiếng:
“Tôi ấy à, ông bạn thân mến, tôi đã già đi, nhưng không nhận thấy điều ấy một tí nào. Lúc nào tôi cũng vui vẻ, hoạt bát, đầy sức sống, và vân vân. Nếu ngày nào người ta cũng soi gương, người ta sẽ không thể nào nhận ra những dấu vết của tuổi tác, vì việc đó diễn ra quá chậm chạp và đều đặn, nó làm biến đổi gương mặt người ta quá khẽ khàng, đến nỗi mà chẳng ai cảm thấy điều đó. Chính nhờ thế mà chúng ta không phải chết vì đau buồn sau hai hay ba năm bị nếp nhăn làm biến dạng. Vì chúng ta đã quen dần với điều đó. Nếu muốn thấy rõ sự thay đổi, cứ thử nhịn soi gương khoảng sáu tháng xem, chà! Chắc sẽ là một cú sốc lớn!

Còn đám phụ nữ ấy mà, ông bạn thân mến, tôi thấy họ mới thật đáng thương, những sinh linh tội nghiệp. Tất cả hạnh phúc, sức mạnh, cuộc sống của họ đều ở chỗ nhan sắc mà ra, thế mà cái nhan sắc ấy lại chỉ vẻn vẹn có chục năm trời.
Nhưng quả thực, tôi đã già đi mà chưa một lần nào thấy bận lòng. Tôi cứ ngỡ mình vẫn còn ở tuổi thanh niên dù đã ngót năm mươi rồi. Tôi không nhận thấy sự suy yếu trong mình nên cứ bước đi, vô lo và hạnh phúc.
Thế rồi tôi đã nhận ra cái bóng của tuổi già một cách thật đơn giản mà quá đỗi khủng khiếp, đến nỗi tôi suy sụp mất gần nửa năm trời… và tôi đang phải chạy trốn.
Cũng như những gã đàn ông khác, tôi luôn là kẻ si tình, nhưng đặc biệt phải kể đến một lần…”

***

Tôi đã gặp nàng trên bãi biển Étretat, cách đây khoảng mười hai năm, sau khi chiến tranh kết thúc. Chẳng có gì tuyệt như bờ biển này vào mỗi sáng, lúc mọi người xuống tắm. Nó thật xinh xắn, khum khum hình móng ngựa, bao quanh là những vách đá trắng toát có những lỗ hổng rất lạ mà người ta thường gọi là “cổng trời”. Có một khối núi khổng lồ giấu một nửa mình dưới lớp sóng biển, nửa kia vươn lên trời thành hình vòng cung tròn trĩnh. Từng đám các bà các cô tụ tập ở đó, đứng ngồi tấp nập, xiêm áo rực rỡ trông như một vườn hoa lồng trong khung là những vách núi. Ánh nắng mặt trời trải rộng trên khắp bãi biển, trên từng chiếc ô xinh xắn, trên mặt nước biển xanh thăm thẳm, và tất cả trông thật sống động, đáng yêu và vui mắt. Người ta đến ngồi trên bờ cát, ngắm những cô nàng đùa nghịch cùng sóng biển. Họ bước xuống, mình quấn quanh chiếc áo choàng flanelle, rồi bằng một động tác đầy quyến rũ, họ rũ bỏ tấm áo choàng ra, chân chạm vào lớp bọt trắng xóa của những con sóng lăn tăn, và họ tiến dần ra biển, những bước chân nhỏ nhắn chạy nhanh trong làn nước, thỉnh thoảng khẽ chậm lại vì cơn rùng mình trong cái lạnh thú vị, vì hơi thở se se trong niềm vui sướng.
Lần đầu tiên nhìn thấy người con gái ấy trong khung cảnh như vậy, tôi đã bị mê hoặc hoàn toàn. Thân hình nàng thật cân đối và rắn chắc. Trần đời có những khuôn mặt thật xinh đẹp, vẻ yêu kiều như dội vào tim ta, biến ta thành một kẻ nô lệ cuồng si, như thể ta đã tìm được người đàn bà mà số phận đã sinh ra để ta yêu nàng vậy. Đó đích thực là cảm giác của tôi, là nỗi choáng váng trong tôi.

Tôi lân la làm quen với nàng và chẳng mấy chốc đã ngã quỵ như chưa từng thế. Nàng xâm chiếm trái tim tôi. Thật sung sướng và dịu ngọt khi được một người đàn bà như nàng chế ngự. Đó gần như là một cực hình, lại như là một niềm hạnh phúc vô biên. Từ ánh mắt nàng, nụ cười nàng, mái tóc bồng bềnh bay trong gió để lộ khoảng da trắng ngần, những đường nét thanh mảnh trên khuôn mặt cho đến từng cái nhíu mày nhăn trán duyên dáng đều khiến tôi say đắm quay cuồng, khiến tôi điên đảo. Nàng sở hữu tôi bằng cả con người nàng, bằng những cử chỉ dịu dàng, bằng cách xử sự tinh tế, thậm chí cả những thứ nàng mang trên người cũng trở thành bùa mê quyến rũ. Tôi nâng niu đến cả chiếc mạng che mặt của nàng đặt trên bàn hay đôi găng tay trên ghế. Váy áo nàng thật không bút nào tả xiết, và không ai có những chiếc mũ xinh xắn như mũ nàng đội.

Nàng đã kết hôn, nhưng chồng nàng chỉ ở nhà hai ngày cuối tuần rồi lại phải đi xa. Tôi chẳng thèm bận tâm đến hắn ta làm gì. Tôi cũng không mảy may ghen với hắn, và không biết sao lại thế. Tôi chưa từng thấy có sinh vật nào trên đời này lại vô nghĩa với tôi như cái gã đàn ông ấy.
Sao mà tôi yêu nàng quá chừng! Và sao mà nàng đẹp đến dường ấy! Thật kiều diễm và căng tràn sức sống! Đó là sự kết hợp của tuổi trẻ, nét yêu kiều và trong trắng. Chưa bao giờ tôi cảm thấy rõ đàn bà quả là kiệt tác của tạo hóa như lúc này, những sinh linh thật xinh đẹp, mỏng manh, tao nhã, tinh tế, duyên dáng và quyến rũ. Chưa bao giờ tôi lại biết rằng vẻ đẹp ẩn chứa trong cả nét căng tròn của đôi gò má, trong từng cử động nhỏ của đôi môi, trong đôi vành tai lượn cong xinh xắn và trong cả dáng vẻ của chiếc mũi thanh thanh.
Mọi chuyện chỉ kéo dài trong ba tháng, rồi tôi bị điều sang châu Mỹ, con tim thất vọng não nề. Nhưng hình ảnh nàng vẫn luôn ở trong tôi, dai dẳng, lộng lẫy. Nàng ám ảnh tôi ở xa cũng như khi ở gần. Nhiều năm đã trôi qua mà ký ức ấy không hề phai nhạt, vẻ lôi cuốn của nàng vẫn nguyên vẹn trong tim tôi, vẫn hiển hiện ngay trước mắt. Và tôi vẫn một lòng ngưỡng mộ nàng, dù có phần lắng dịu hơn, một cái gì đó giống như ký ức về một thời si mê một thứ gì đẹp nhất, quyến rũ nhất trên đời.

Mười hai năm quả là ngắn ngủi trong đời người! Hầu như ta chẳng cảm thấy nó đã vụt trôi qua. Năm này nối tiếp năm khác, nhẹ nhàng và chóng vánh, chậm chạp rồi vội vã, năm nào cũng dài lê thê nhưng chẳng mấy chốc đã kết thúc. Thời gian cứ thế trôi đi, chẳng để lại chút dấu vết gì sau lưng, nó biến mất nhanh đến nỗi khi ta quay đầu lại thì quãng đời đã qua, ta chẳng nhận thấy gì, nhưng cũng không hiểu làm thế nào nó có thể biến ta thành ông bà già hết cả.
Quả thực tôi tưởng như mình mới rời xa những tháng ngày tuyệt diệu trên bãi biển Étretat mới mấy tháng thôi.

Mùa xuân năm ngoái, tôi đến ăn tối ở nhà mấy người bạn ở Laffite.
Khi tàu sắp chuyển bánh, một bà to béo trèo lên toa tôi ngồi, theo sau là bốn đứa con gái nhỏ. Tôi khẽ liếc bà mẹ béo ục ịch này, cái mặt to bè bè tròn như trăng đầy tháng lại còn chụp thêm cái mũ quấn một dải băng. Bà ta thở nặng nhọc, hổn hển vì vừa phải chạy bộ. Mấy đứa trẻ bắt đầu liến láu. Tôi bèn giở báo ra và chăm chú đọc.
Khi chúng tôi vừa đi qua Asnières thì bà hàng xóm của tôi bỗng nhiên hỏi:
“Xin lỗi, ông có phải là ông Carnier không?”
“Vâng, đúng rồi thưa bà”. 
Thế là bà ta cười, điệu cười hài lòng của một phụ nữ trung hậu, nhưng có chút buồn buồn.
“Ông không nhận ra em sao?”
Tôi do dự. Đúng là tôi đã từng thấy khuôn mặt này rồi, nhưng ở đâu và từ khi nào thì không rõ. Tôi liền đáp:
“Vâng… à không… Tôi chắc là có biết bà, nhưng tôi không nhớ ra tên”.
Bà ta hơi đỏ mặt một chút:
“Em là bà Juliet Lafèvre”.

Chưa bao giờ tôi bị một cú choáng váng đến thế. Dường như trong chốc lát, mọi thứ đã sụp đổ đối với tôi. Tôi chỉ cảm thấy có một bức màn bị xé rách toang trước mắt và tôi đã phát hiện ra những điều thật kinh khủng và đáng thất vọng.
Đó là nàng! Cái bà to béo sồ sề tầm thường này là nàng? Và nàng đã đẻ sòn sòn bốn đứa con gái từ khi chúng tôi không gặp nhau nữa. Cả bốn đứa trẻ đều khiến tôi ngạc nhiên như mẹ của chúng. Chúng từ người nàng sinh ra, chúng đã lớn và đã có chỗ trong cuộc đời này. Trong khi đó nàng tàn tạ hết sức, còn đâu nét duyên dáng quyến rũ ngày nào? Tưởng như mới hôm qua thôi tôi vẫn thấy nàng yêu kiều mê đắm, vậy mà hôm nay gặp nàng thế này! Liệu có thể như thế được không? Một nỗi đau đớn xót xa bóp nghẹt tim tôi, trong tôi trào lên cơn phẫn nộ với tạo hóa, một nỗi bất bình vô cớ trước cái hình hài thô kệch, trước sự phá hủy tàn nhẫn này.

Tôi nhìn bà ta vô cùng sửng sốt. Rồi tôi nắm lấy tay bà, nước mắt trào lên giàn giụa. Tôi khóc cho tuổi thanh xuân, cho cái chết của nàng. Bởi vì tôi đâu có quen biết người đàn bà to béo đang ngồi trước mặt tôi đây.
Bà ta cũng xúc động, nói lắp bắp:
“Em đã thay đổi rất nhiều, phải không ông? Ông còn muốn gì nữa nào, tất cả đã qua rồi. Ông thấy đấy, em đã trở thành một bà mẹ, chỉ là một bà mẹ thôi, một bà mẹ tốt. Vĩnh biệt mọi thứ còn lại, thế là hết! Ôi! Em đã biết rằng ông sẽ không nhận ra em được nữa nếu chúng ta gặp lại nhau. Ông cũng khác trước nhiều. Em phải đắn đo một lúc để chắc là mình không nhận nhầm người đấy. Tóc ông bạc trắng hết cả. Thử nghĩ xem! Đã mười hai năm trời! Đứa con gái lớn của em đã mười tuổi rồi”.
Tôi nhìn đứa bé. Tôi nhận thấy phảng phất nét kiều diễm của mẹ nó ngày nào, nhưng vẫn chưa thật rõ nét, chưa trọn vẹn, có lẽ phải chờ tới sau này. Và tôi nhận thấy cuộc đời trôi nhanh như một chuyến tàu.

Chúng tôi đến Laffitte. Tôi hôn tay bà bạn già, không biết nói gì ngoài mấy câu nói tầm phào thảm hại. Vì tôi quá choáng váng để có thể nói gì.
Buổi tối, khi về nhà và chỉ có một mình, tôi ngồi ngắm mình trong gương lâu, rất lâu. Và cuối cùng tôi cũng nhớ lại trong ký ức hình ảnh của chính mình ngày xưa với bộ râu hung hung và mái tóc đen nhánh, với diện mạo trẻ trung trên khuôn mặt.
Giờ thì tôi đã già rồi. Xin vĩnh biệt.
.

Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeTue Apr 30, 2019 11:16 am

.

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 22868958._SX540_

CÁI GHIM
- Guy de Maupassant (1850-1893)


“A! Bạn yêu quý của tôi, bọn đàn bà mới hiểm độc làm sao!”
“Sao bạn lại nói thế?”
“Vì họ đã chơi tôi một vố rất tệ.”
“Chơi cậu?”
“Phải, chơi tôi.”
““Họ” hay chỉ một người thôi?”
“Hai cùng một lúc.”
“Hai người cùng một lúc?”
“Phải.”
“Vố nào thế?”
Hai thanh niên trẻ đang trò chuyện trong một quán cà phê lớn nhìn ra đại lộ, họ vừa chuyện trò vừa nhâm nhi cốc-tai nho, món rượu khai vị này khi đã được pha chế trông có màu xanh như màu nước.

Họ trông trẻ như nhau, khoảng từ hai lăm đến ba mươi tuổi. Một người tóc vàng còn người kia tóc nâu. Họ có một vẻ gì đó vừa sang trọng vừa phong trần, họ có dáng vẻ của những người môi giới chứng khoán, những người vừa có mặt ở những phòng khách sang trọng, vừa có mặt trong những sàn giao dịch chứng khoán. Họ có mặt ở khắp mọi nơi, sống ở khắp nơi, dàn trải tình yêu ở khắp nơi. Cậu thanh niên có mái tóc nâu lại tiếp:
“Tôi đã nói cho cậu nghe về cuộc tình duyên của tôi với cô nàng tư sản gặp trên quảng trường Dieppe rồi đúng không.”
“Đúng rồi.”
“Bạn thân mên, cậu biết thế là thế nào rồi đấy, tôi đã có một cô nhân tình ở Paris, một cô nhân tình mà tôi yêu với cả tấm tình si, một người bạn cũ, một người bạn thân, một người bạn tốt, và tôi rất yêu thương gắn bó.”
“Một người tình cũ?”
“Vâng một người tình cũ. Cô cũng đã cưới một chàng trai trung hậu, tử tế mà tôi cũng rất mến. Một chàng trai tốt, rất dễ mến, một người bạn thật sự. Căn nhà đó đã từng là nơi tôi ở trọ một thời gian khá dài.”
“Rồi sao?”
“Sao ư, họ không thể rời khỏi Paris, còn tôi, tôi đến Dieppe một mình.”
“Sao cậu lại đến Dieppe làm gì?”
“Để thay đổi không khí. Người ta không thể ở mãi một chỗ được.”
“Rồi sao?”
“Rồi ở Dieppe tôi đã gặp cô nàng mà tôi vừa nói với cậu đấy.”
“Vợ của ông trưởng phòng?”
“Phải đấy, cô ta đang rất buồn phiền, vả lại chồng cô ta chỉ về vào ngày chủ nhật, và ông ta thì rất xấu trai lại cả xấu tính nữa. Tôi lại khéo chiều cô ta, thế nên chúng tôi đã cùng nhau vui đùa khiêu vũ.”
“Thế sau đó?”
“Vâng, sau đó chúng tôi đã hò hẹn với nhau, chúng tôi cảm thấy rất vui khi ở bên nhau, tôi đã nói với cô ta cảm xúc của mình: cô ta nhắc lại để hiểu rõ hơn, và thế là giữa cô ta và tôi chẳng còn rào cản gì nữa.”
“Cậu yêu cô ta?”
“Ừ, một chút, cô ta rất dễ mến.”
“Thế còn cô kia?”
“Cô kia thì ở Paris! Quả là trong suốt sáu tuần, mọi việc diễn ra rất suôn sẻ, và chúng tôi đã ở đây rất vui vẻ. Cậu có biết làm thế nào để cắt đứt một mối quan hệ với một người phụ nữ trong khi cô ta không hề có lỗi gì với cậu không?”
“Đương nhiên là có chứ.”
“Cậu làm thế nào?”
“Tôi bỏ rơi cô ta.”
“Nhưng làm thế nào để bỏ rơi được cô ta?”
“Tôi không đến chơi nhà cô ta nữa.”
“Thế nếu cô ấy đến tìm cậu?”
“Tôi… tôi giả vờ không có nhà.”
“Nếu cô lại đến nữa?”
“Tôi nói với cô ta là tôi bị mệt.”
“Nếu cô ta ở lại để chăm sóc cậu?”
“Tôi… tôi sẽ chơi sỏ cô ta, chọc giận cô ta.”
“Nếu cô ta chịu cho cậu chơi sỏ, chịu cho cậu chọc giận?”

“Tôi sẽ viết một bức thư nặc danh gửi đến chồng cô ta để anh ta theo dõi cô ta vào những ngày cô ta có thể đến nhà tôi.”
“Thế thì hơi quá! Tôi, tôi không có khả năng ấy. Tôi không biết cách cắt đứt quan hệ. Tôi sưu tập họ. Với cô này tôi chỉ gặp cô ta một năm một lần thôi, với cô khác là sáu tháng một lần, với các cô khác nữa thì tôi chỉ gặp họ những ngày họ muốn ăn tối ở các quán cà phê ca nhạc. Những cô mà tôi gặp gỡ một cách ngắt quãng như thế không bao giờ làm phiền tôi, và tôi chỉ thường gặp phải phiền toái một chút, buồn rầu một chút khi phải xa dời những cô mới.”
“Rồi…”
“Rồi, bạn thân mên, cô bạn vợ sếp đã trở nên đầy hăng hái, đầy nhiệt tình, và không hề có một chút lầm lỗi gì với tôi như tôi đã nói với cậu! Bởi chồng cô ở lì lại văn phòng, cô thường đến tìm tôi không báo trước. Đã hai lần cô suýt chạm trán với các cô nhân tình cũ của tôi.”
“Kinh khủng!”
“Vâng, kinh khủng vậy nên tôi đã ấn định ngày cho từng cô để tránh lộn xộn. Thứ hai và thứ bảy cho cô cũ, thứ ba, thứ năm và chủ nhật cho cô mới.”
“Sao lại có sự ưu đãi với cô mới thế?”
“À thì vì cô ấy trẻ hơn.”
“Thế tức là cậu chỉ có hai ngày mỗi tuần để nghỉ ngơi.”
“Với tôi thế là đủ.”
“Xin có lời khen cậu đấy.”
“Thế mà cậu biết không, đã có một chuyện nực cười nhất, xuẩn ngốc nhất trần đời này xảy đến với tôi đấy. Từ bốn tháng nay, mọi chuyện vẫn diễn ra thuận chèo mát mái, tôi vẫn ngủ ngon trong giường của mình và tôi thật sự thấy hạnh phúc thì bỗng nhiên, thứ hai tuần trước mọi chuyện vỡ lở.”

Tôi đang đợi cô nhân tình cũ vào giờ đã định, một giờ mười lăm, vừa đợi vừa hút xì gà. Tôi mơ mộng, rất hài lòng về chính bản thân mình, rồi tôi thấy đã trễ giờ hẹn mà cô ta vẫn chưa đến, tôi hơi ngạc nhiên vì cô thường đến rất đúng hẹn. Nhưng tôi cho rằng có lẽ hôm nay cô đến hơi muộn vì một sự cố nhỏ nào đó. Tuy nhiên, nửa tiếng sau, rồi một tiếng, một tiếng rưỡi sau giờ hẹn cũng đã trôi qua mà không thấy bóng dáng cô đâu. Tôi cho là cô đã bị vướng vì một lý do nào đó mà không đến được, một cơn đau đầu chẳng hạn hoặc một việc quan trọng gì đó. Thật là chán ngắt vì đã đợi hoài công… thật khó chịu, bực cả mình. Cuối cùng tôi quyết định đến tìm cô xem có chuyện gì. Tôi thấy cô đang ngồi đọc truyện.
Tôi hỏi cô: “Thế là sao?” Cô trả lời tôi một cách bình thản: “Anh yêu, em đã không thể đi được, em bị ngăn lại.”
“Vì sao bị ngăn lại?”
“Vì…. bận việc.”
“Việc gì vậy?”
“Phải tiếp một vị khách rất chán.”
Tôi cho rằng cô không muốn nói cho tôi biết lý do thật, và bởi cô rất bình tĩnh nên tôi không lo lắng gì nữa. Tôi định gỡ lại thời gian đã mất với cô kia vào ngày mai.
Thế nên ngày hôm sau, ngày thứ ba, tôi rất hồi hộp và hạnh phúc đón chờ cô nhân tình trẻ mới của tôi, và tôi cũng rất ngạc nhiên không thấy cô đến sớm như lệ thường. Chốc chốc tôi lại nhìn đồng hồ đầy nóng ruột. Tôi nhìn đồng hồ thấy kim giờ kim phút cứ trôi qua giờ hẹn, mười làm phút, ba mươi phút, một tiếng rồi hai tiếng… Tôi không thể ngồi yên được nữa, tôi đi những bước dài dọc ngang trong phòng, tì trán vào cửa sổ ngóng đợi, áp tai vào cửa nghe xem có phải cô đang lên cầu thang hay không.
Rồi hai tiếng rưỡi trôi qua, rồi ba tiếng! Tôi vồ lấy mũ và chạy đến nhà cô. Cô ấy đang ngồi, cậu ạ, đọc truyện.
“Sao thế em?” Tôi hỏi cô một cách lo lắng. Cô trả lời tôi một cách bình thản như cô nhãn tình cũ của tôi:
“Anh yêu, em đã không thể đi được, em bị ngăn lại.”
“Vì sao bị ngăn lại?”
“Vì…. bận việc.”
“Việc gì vậy?”
“Phải tiếp một vị khách rất chán.” Thế là rõ rồi, ngay lập tức tôi cho là cô ta đã biết hết mọi chuyện. Thế nhưng cô có vẻ bình thản đến nỗi tôi nghĩ rằng đó chỉ là ngẫu nhiên, và cô không thể giả vờ khéo đến như thế. Sau một tiếng chuyện gẫu đầy thân thiết với cô, tôi đành sượng sùng ra về vì con gái cô cứ chạy ra chạy vào đến hai mươi lần. Và cậu biết chuyện gì xảy đến tiếp vào ngày hôm sau không?
“Vẫn thế à?”
“Ừ, và cả hôm sau nữa cũng vẫn thế. Cứ thế kéo dài trong suốt ba tuần, không một lời giải thích, không một yếu tố nhỏ nào tiết lộ sao lại xảy đến chuyện buồn cười đến thế, tôi chỉ nghi ngờ có thể điều bí mật của tôi đã bị vỡ lở.”
“Các cô ấy biết hết cả rồi à?”
“Tất nhiên. Nhưng làm thế nào các cô ấy biết cơ chứ? Tôi đã đau đớn khổ sở biết mấy trước khi biết được làm thế nào các cô ấy biết.”
“Cuối cùng cậu phát hiện ra là như thế nào?”
“Vì các bức thư.”
Vì các bức thư. Các cô ấy thường viết thư gửi đến cho tôi, những bức thư cùng thể loại, cùng gửi đến những ngày nghỉ phép định kỳ của tôi.
“Và?”
“Và thế là… cậu biết đấy, bạn thân mến, phụ nữ họ luôn có trong người họ hàng đống ghim cài đầu, tôi biết rất rõ chúng, tôi cũng rất cảnh giác với chúng, tôi luôn để mắt đến chúng. Nhưng có những chiếc ghim cài đầu nhỏ vô cùng phản trắc, những chiếc ghim cài đầu nhỏ chết tiệt, chúng cùng nhỏ tẹo và cùng một màu đen như nhau. Với chúng ta thì chúng có vẻ như giống hệt nhau, nhưng với họ, họ phân biệt được chúng ngay lập tức như kiểu chúng ta phân biệt được ngay một cách rõ ràng một con ngựa với một con chó vậy.”


Thế nên một hôm, hình như cô nhân tình mới của tôi đã cài một chiếc ghim cài đầu của cô ta vào trong màn cửa của tôi, gần gương soi. Cô nhân tình cũ của tôi, chỉ bằng một cái liếc mắt đã nhận thấy ngay trên màn treo một chấm nhỏ chỉ to bằng một con rận, và không hề nói gì về cái mà cô đã tìm thấy, lặng lẽ lấy chiếc ghim đó ra và thế vào đó một trong những chiếc ghim cài của cô, cũng màu đen nhưng có hình khác.
Ngày hôm sau nữa, cô nhân tình mới muốn lấy lại chiếc ghim cài của cô, và nhận ra ngay vật bị đánh tráo; thế là một sự nghi ngờ dấy lên trong cô. Cô liền gắn luôn lên đó hai chiếc ghim theo hình chữ thập, cô nhân tình cũ liền đáp lại bằng ba chiếc ghim ghim liền một hàng, cái này sau cái kia.
Lần nọ tiếp nối lần kia, các cô ấy cứ dùng ghim cài nói chuyện với nhau, và đến một hôm một cô cài thêm một mảnh giấy nhỏ viết: “Cửa phụ, đại lộ Malesherbes, C.D”
Thế là các cô ấy viết thư cho nhau, tôi không hề biết gì, tôi đã thua họ. Họ đã đến đó vô cùng cẩn thận, với hàng nghìn mưu mẹo, với một sự cẩn thận cần có trong những trường hợp tương tự. Nhưng cô nhân tình cũ của tôi đã làm một cú táo bạo, cô ấy hẹn hò với người khác.

Các cô ấy đã nói gì với nhau, tôi cũng không biết nữa, tôi chỉ biết rằng tôi đã phải trả giá khá nhiều cho những cuộc gặp gỡ của họ, thế đấy!
“Thế thôi à?”
“Ừ.”
“Cậu không gặp lại họ nữa?”
“Ồ, tôi vẫn gặp họ như gặp những người bạn gái, chúng tôi không hoàn toàn cắt đứt quan hệ.”
“Thế còn các cô ấy, các cô ấy có còn gặp lại nhau không?”
“Các cô ấy vẫn gặp nhau, và hơn thế nữa, các cô ấy còn trở thành bạn thân của nhau.”
“A! A! Thế điều đó không cho cậu một ý tưởng gì à?”
“Không, sao?”
“Chàng ngốc đặc ạ, ý tưởng khiến cho họ lao vào đâm xé nhau với hai cây ghim hai tay chứ còn gì nữa?”
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeWed May 15, 2019 11:34 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) V%C3%A9XeBu%C3%BDtOpenTourParisv%C3%A0DuThuy%E1%BB%81nS%C3%B4ngSeine

Vào Mùa Xuân (Au Printemps)
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Khi những ngày đẹp trời đầu tiên tới, khi trái đất thức tỉnh lại và màu xanh của cây cối trở về, khi không khí ấm ám thơm tho lại mơn trớn làn da, đi vào lồng phổi và hầu như xuyên tới tim của chúng ta, thì chúng ta lâng lâng thèm muốn có những niềm hạnh phúc mơ hồ, thèm chạy nhẩy, thèm đi lang thang, đi kiếm một cuộc phiêu lưu, thèm thụ hưởng mùa xuân. Mùa Đông năm vừa qua quá khắc nghiệt cho nên đến tháng Năm tôi cần sự hớn hở như thèm hương say, nó tràn ngập trong con người tôi như một cơn dâng trào của nhựa sống.

Thế rồi, một buổi sáng thức dậy, tôi thấy qua cửa sổ, một khoảng xanh bầu trời đỏ rực ánh sáng mặt trời nằm trên những căn nhà hàng xóm. Những con chim hoàng yến đậu trên các cửa sổ đua nhau hót; những đứa tớ gái hát líu lo khắp các từng lầu; một tiếng ồn áo vui nhộn dâng lên từ dưới phố; và trong niềm hân hoan, tôi đi ra ngoài để đi đâu, tôi cũng không biết nữa. Mọi người nở miệng cười khi gặp nhau; một luồng hạnh phúc bay bổng khắp nơi dưới sự ấm áp của mùa xuân đã trở lại. Người ta có thể nói rằng trên phố phường đang có một cơn gió yêu đương nhẹ thổi khắp mọi nơi. Những cô gái đi ngang qua tôi, trong những bộ y phục của buổi sáng, với ánh mắt dịu hiền và lối đi đứng khoan thái, làm cho tôi thấy xúc động trong lòng. Tôi không biết bằng cách nào và tại sao tôi đã đến tới bờ con sông Seine. Những con tàu chạy hơi nước đang trôi về hướng Suresne, và bỗng nhiên tôi thèm hết sức chạy xuyên qua những khu rừng thưa.

Cầu tàu «Mouche»(*) đầy những hành khách, bởi vì mặt trời mới đầu mùa lôi kéo mọi người, dù không muốn cũng vẫn ra khỏi nhà, và tất cả ai cũng quay cuồng, đi tới đi lui, nói chuyện với người đứng cạnh mình. Người đứng bên tôi là một cô gái, có lẽ là một công nhân bình thường, với nét duyên dáng của người người dân Paris thứ thật, xinh xắn,tóc hung với những cuộn tóc xoăn hai bên thái dương, tóc nàng hơi có vẻ như đã bị uốn chạy dài xuống tới tai, chạy cho tới phiá sau gáy, nhẩy múa dưới cơn gió rồi đi xuống thấp hơn để biến thành những lông tơ, mảnh mai và màu hoe vàng trông hấp dẫn đến nỗi ai cũng thèm hết sức đặt những nụ hôn vào nơi đó. Thấy tôi nhìn nàng dai dẳng, nàng quay đầu về phiá tôi, rồi bỗng nhiên cúi mặt nhìn xuống dưới đất, đồng thời một nếp của làn da, tựa như khi sắp nở ra một nụ cười, làm cho mép miệng nàng ăn sâu xuống một tí và cho tôi thấy nơi đó cũng có những lông tơ mềm mại chỉ thấy mờ mờ do chút ánh sáng chiếu vào.
Con sông êm đềm mở rộng ra. Một nét thanh bình ấm áp lơ lửng trong không khí, và một tiếng thầm thì của sự sống có vẻ như đang bao trùm không gian. Cô bé đứng bên tôi ngước mắt lên và, lần này thì rõ ràng, nàng mỉm cười khi thấy tôi vẫn đang nhìn nàng. Trông nàng đẹp khi cười và nhìn nàng trốn tránh tôi, tôi thấy hàng ngàn thứ tôi chưa biết khi trước. Tôi thấy những vũng sâu xa lạ, tất cả vẻ đẹp của những cử chỉ trìu mến, tất cả sự nên thơ mà chúng ta thường mơ tới, tất cả niềm hạnh phúc mà chúng ta tìm mãi không thôi. Và tôi thèm phát điên dang đôi cánh tay ra ôm nàng, đưa nàng tới một nơi nào đó để nhủ khẽ trong tai nàng những lời tình tứ êm dịu ngọt ngào.

Tôi mới toan mở miệng và tiến tới gần nàng thì có ai đụng vào vai tôi. Ngạc nhiên tôi quay lại và thấy một người đàn ông dáng dấp bình thường, không trẻ không già, ông ta nhìn tôi vẻ mặt buồn rầu.
- Tôi muốn nói chuyện với ông, ông ta nói.
Tôi nhăn mặt và chắc ông ta thấy tôi nhăn bởi vì ông ta nói thêm:
- Chuyện này quan trọng.
Tôi đứng lên và đi theo ông ta tới đầu kia của con tàu:
- Thưa ông, ông ta nói tiếp, khi mùa đông tới với những cơn lạnh, mưa và tuyết, bác sĩ thường khuyên ông mỗi ngày «hãy giữ sao cho đôi chân thật ấm, hãy tránh bị lạnh, bị cảm, bị sưng phổi, bị viêm màng phổi». Thế là ông thận trọng, ông bận áo ấm bằng bông len (áo flanelle), áo choàng dầy, đi giầy to, vậy mà cũng không tránh khỏi phải vào giường nằm hai tháng trời. Vậy mà khi mùa xuân trở lại với hoa lá, với những cơn gió nhẹ ấm áp làm cho lòng dịu xuống, khi những làn hương thơm thoảng mùi đồng lúa, những thứ ông không hiểu vì lẽ gì mà thấy rộn lòng, khi ông có những cảm giác mủi lòng vô cớ, thì lại không có ai tới nới với ông, «ông ơi, hãy coi chừng tình yêu! Nó phục kích khắp mọi nơi, nó rình rập ông khắp mọi xó xỉnh; nó căng đủ thứ bẫy, dùng mọi vũ khí sắc bén, chuẩn bị mọi thủ đoạn! Hãy đề phòng tình yêu!... Hãy đề phòng tình yêu ông ơi!... Tình yêu còn nguy hiểm hơn cả cảm cúm, hơn cả bệnh viêm phổi, viêm màng phổi! Nókhông tha ai, nó thúc đẩy mọi người làm những chuyện tầm bậy hết thuốc chữa!» Vâng thưa ông, tôi nói rằng hàng năm chính phủ đáng lẽ ra phải dán trên tường những tờ cảnh cáo to lớn «Xuân về. Hỡi các công dân Pháp, hãy coi chừng tình yêu!» giống như người ta dán trên cửa nhà «Coi chừng sơn còn ướt!» Ông biết không, chính vìchính phủ không làm nên tôi phải làm thay, tôi xin nói với ông rằng: «Hãy coi chừng Tình Yêu! Nó đang tìm cách nhéo ông và tôi có bổn phận phải cảnh báo với ông giống như người ta cảnh báo một người qua đường khi thấy mũi người ấy bị cóng vì lạnh".

Người đàn ông kỳ lạ đó đã làm cho tôi sửng sốt, tôi bèn nghiêm nghị nói:
- Coi nào, ông hình như đang xen vào chuyện không dính gì tới ông hết!
Ông ta giật mình trả lời:
- Ối ông ơi ông! Nếu tôi thấy một người sắp sửa dấn thân vào một nơi nguy hiểm, không lẽ tôi cứ để cho người ấy chết? Tiện đây tôi xin kể cho ông nghe câu chuyện của chính tôi, để rồi ông sẽ hiểu tại sao tôi lại dám nói với ông như vậy.
«... Chuyện mới xẩy ra năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này. Trước tiên tôi cần phải nói cho ông biết rằng tôi là một nhân viên của Bộ Hải Quân, nơi đấy những thượng cấp của chúng tôi, những ủy viên, luôn coi trọng lon sĩ quan của họ và coi chúng tôi như bọn thủy thủ chỉ biết kéo buồm. Ôi giá mà tất cả những thượng cấp là dân sự!, nhưng thôi tôi bỏ qua chuyện này.
Từ bàn làm việc của tôi, tôi thấy được một vùng nhỏ của bầu trời xanh ngát với những chim nhạn bay luợn làm cho tôi như muốn nhẩy múa bên những thùng giấy tờ đen thủi đen thui. Sự thèm muốn của tôi tăng lớn tới độ tôi đi tìm ông xếp của tôi, mặc dù tôi ghê sợ ông ta. Ông là một người ưa càu nhàu,luôn luôn cáu kỉnh. Tôi nói với ông ta rằng tôi ốm thì ông nhìn mũi tôi nói: «Tôi không tin anh ốm chút nào. Nhưng thôi, cút đi! Anh có nghĩ rằng một văn phòng lại có thể chạy được với những nhân viên như anh không?» Dù vậy, tôi vẫn chuồn, tôi đi tới con sông Seine. Trời đẹp cũng như hôm nay và tôi đã leo lên con tàu Mouche để đi tới Saint Cloud chơi một vòng. Ôi ông ơi! Giá mà ông xếp của tôi đã không cho phép tôi! Tôi có cảm tưởng tôi nở phình ra dưới ánh mặt trời. Tôi khoái hết mọi thứ, con tàu, con sông, cây cối, nhà cửa, những người đi bên tôi,... tất cả. Tôi muốn ôm vào lòng một cái gì, bất cứ cái gì: chính tình yêu đang sửa soạn giăng bẫy để tóm tôi.

Bỗng nhiên, tới Trocadéro thì một cô gái leo lên tàu, tay cầm một gói đồ và cô ta tới ngồi ngay đối diện với tôi. Trông cô ta xinh xinh, vâng thưa ông; nhưng sao lạ thay, cứ khi trời đẹp thìchúng ta lại có cảm tưởng là đàn bà xinh đẹp hơn, nhất là vào lúc mùa xuân mới về: họ có vẻ khêu gợi, mỹ miều, họ có một cái gì đó đặc biệt, tôi biết rõ đó là cái gì. Họ giống hệt rượu vang mình uống sau khi ăn phômai. Tôi nhìn cô ta, và cô ta cũng nhìn tôi, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi, giống như cô nàng của ông bạn nãy. Cuối cùng vì cứ ngắm nhau mãi, tôi cảm thấy rằng chúng tôi đã biết nhau khá đủ để mở màn đối thoại, thế là tôi nói với cô ta. Cô ta trả lời. Cô ta dễ thương vô cùng, tất nhiên là thế. Cô ta làm cho tôi say mê, thưa ông! Khi tàu tới bến Saint Cloud, cô ta xuống, tôi cũng xuống theo. Hoá ra cô ta đi giao hàng. Khi cô ta trở lại thì chiếc tàu đã vừa đi mất. Tôi bèn đi bên cô ta, và làn gió mát dịu làm cho cả hai đứa chúng tôi thở hắt ra.
- Đi trong rừng chắc thú vị hơn, tôi nói với cô ta.
Cô trả lời: «Vâng, chắc thế!»
- Chúng mình đi chơi một vòng trong đó, cô chịu không?
Cô ta nhìn tôi bằng đôi mắt như để xem tôi có sáng giá hay không, rồi sau một vài phút lưỡng lự mới đồng ý. Thế là chúng tôi đi bên nhau giữa rừng cây. Dưới bóng lá hãy còn mỏng manh, đám cỏ cao và rậm xanh bóng như vẹc ni như nằm phơi dưới áng nắng mặt trời, với đầy những con vật nhỏ béđ ang ái ân trong đó. Tiếng chim hót vang khắp nơi. Thế là cô bé bạn đường của tôi quyết định vừa chạy vừa nhẩy nhót; không khí và hơi bốc mùi đồng quê đã làm cho nàng say sưa. Và tôi cũng chạy theo, vừa chạy vừa nhẩy múa giống cô nàng. Sao con người đôi khi ngu dại thế, ông nhỉ? Rồi nàng hăng say ca hát đủ thứ điệu nhạc, những điệu opéra, những bài ca Musette (**). Sao khi đó tôi thấy nàng thơ mộng đến thế!. Tôi gần như muốn khóc! Ôi những chuyện tầm phào đó, thế mà chúng làm xáo trộn đầu mình: Ông hãy tin tôi đi, chớ có bao giờ đi lấy một người đàn bà vùng quê mà lại khoái hát hỏng, nhất là hát những bài Musette!

Chẳng bao lâu sau, mệt vì quá hát nàng ngồi xuống trên đám cỏ xanh. Riêng tôi, tôi quỳ gối dưới chân nàng, tôi nắm lấy hai bàn tay nàng, những bàn tay lấm tấm những vết kim chọc vào; và sự thể đó làm mềm lòng tôi. Tôi tự nhủ: «Đây là những vết sẹo thiêng liêng do lao động.» Ôi, ông ơi! ông có biết những vết sẹo thiêng liêng do lao động có nghiã là gì không? Chúng đồng nghiã với những câu chuyện ngồi lê mách lẻo nghe được tại xưởng làm, những lời tục tỉu nhủ thầm, đầu óc bị làm nhơ bẩn bởi những chuyện dơ dáy kể cho nhau nghe, sự mất trinh tiết, tất cả sự ngu ngốc của những câu chuyện nói với nhau, nguyên cái tính hẹp hòi của những ý tưởng nơi những người đàn bà bình dân, đều nổi bật nơi người mang những vết sẹo thiêng liêng do lao động nơi những đầu ngón tay.
Thế rồi chúng tôi nhìn nhau trong mắt rất lâu. Ôi con mắt đàn bà, sao nó có uy lực đến thế! Nó có thể gây sáo trộn, xâm nhập, chiếm hữu, thống trị, sao nó sâu kín, đầy hứa hẹn, đầy những chuyện vô tận! Người ta gọi đó là nhìn tâm hồn của nhau! Ôi ông ơi, đó chỉ là chuyện riễu! Nếu người ta có thể nhìn được tâm hồn thì người ta đã thánh thiện hơn, ông ạ. Nói cho cùng, tôi đã hứng khởi quá đáng, đã điên rồ. Tôi đã muốn ôm nàng vào lòng. Cô ta lại nói với tôi «Đừng có mó vào tôi!» Sau đó tôi quỳ xuống nơi chân cô ta, tôi mở rộng trái tim tôi ra; tôi nói với nàng tất cả những lời nói tình tứ đang làm cho tôi ngộp thở. Cô ta có vẻ ngạc nhiên trước sự thay đổi phong cách của tôi và nhìn tôi với ánh mắt nghiêng xéo như thể nàng muốn nói: «À, hóa ra bằng cách đó người ta lợi dụng được anh chàng, được rồi, được rồi, vậy thì: để đó xem sao.»
Trong tình yêu, thưa ông, chúng ta đều là những kẻ ngây thơ còn những người đàn bà là giống đi buôn. Chắc chắn tôi đã có thể chiếm được nàng; sau này tôi mới biết tôi đã ngu ngốc, vì thật ra tôi đã đi tìm không phải là một tấm thân mà là những cử chỉ âu yếm, một tình yêu lý tưởng; tôi để tình cảm lấn áp trong lúc đáng lý ra tôi phải biết sử dụng thời gian một cách hữu hiệu hơn.
Khi nàng đã chán nghe tôi thổ lộ nỗi lòng, nàng đứng dậy và chúng tôi trở lại Saint-Cloud. Tôi chỉ rời nàng khi về tới Paris. Nàng có vẻ buồn kể từ lúc bắt đầu trở về thành thử tôi phải hỏi nàng tại sao.
Nàng trả lời: «Em nghĩrằng những ngày như thế này, mình không có nhiều trong cuộc đời.»
Thế là tim tôi đập như muốn vỡ lồng ngực. Chủ nhật tuần sau đó, tôi lại gặp nàng và kể cả tuần sau đó, và tất cả những chủ nhật khác. Tôi đưa nàng đi Bougival, Saint-Germain, Maisons-Laffitte, Poissy; bất cứ nơi nào có những cuộc tình vụng trộm diễn ra ở vùng ngoại ô. Cuối cùng tôi hoàn toàn mất trí khôn và ba tháng sau tôi cưới nàng làm vợ. Làm sao khác được, thưa ông? Mình có công ăn việc làm, lại đơn độc, không gia đình, không những lời khuyên răn! Mình tự bảo mình rằng cuộc đời sẽ ngọt ngào nếu có một người đàn bà; và người đàn bà đó, mình lấy làm vợ. Sau đó con vợ nó chửi mình từ sáng tới chiều, nó không hiểu gì cả, không biết gì cả, mồm mép nói không ngừng, hát tới hát lui bài ca Musette làm mình điên đầu (Ôi bài ca Musette, quả là một lưỡi cưa!), nó cãi lộn với người bán than, kể cho anh chàng trông cửa những câu chuyện thầm kín của vợ chồng nó, thổ lộ cho đứa tớ gái nhà hàng xóm biết tất cả những bí mật phòng the, nói xấu chồng tại những cửa hàng quen, nó có đầu đầy những chuyện ngu xuẩn, những niềm tin đần độn, những ý kiến riêng lố bịch, những thành kiến kỳ dị. Tới độ, mỗi khi phải nói chuyện với cô ta, tôi phát khóc vì quá nản, thưa ông...

Ông ta ngừng nói, trông như đã hết còn hơi và quá súc động. Tôi nhìn ông ta mà thấy thương hại cho gã ăn mày ngu ngốc đó, và tôi đang tính trả lời cho hắn thì chiếc tàu dừng lại. Đã tới Saint Cloud: người con gái đã làm cho trái tim tôi rung động đứng dậy để xuống tầu. Nàng đi ngang qua, ngay sát bên tôi, đưa mắt nhìn trộm tôi và bẽn lẽn cười mỉm, một thứ cười làm cho mình cuống cuồng lên; rồi nàng nhẩy xuống cầu tầu. Tôi phóng người, tính đi theo nàng nhưng cái ông đứng bên tôi đã nắm tay áo tóm lại. Tôi vùng ra, ông ta túm lấy cái vạt của chiếc áo choàng dài của tôi và kéo, miệng nói đi nói lại: «Ông không đi đâu hết! Ông không đi đâu hết!». Giọng ông lớn tới độ làm cho mọi người quay lại nhìn. Có tiếng cười nổi lên xung quanh chúng tôi. Tôi đành đứng yên, tức phát điên nhưng không dám làm gì sợ người ta cười và sợ tai tiếng. Và con tầu lại khởi hành. Cô gái đứng dưới cầu tầu nhìn tôi xa dần với vẻ mặt thất vọng, trong khi kẻ đang hành hạ tôi nói khẽvào tai tôi, hai tay xoa xoa vào nhau: «Tôi đã vừa giúp ông một việc gay go, thôi xin chào ông!».

- Hướng Dương txđ dịch
-----------------
(*) Mouche: chiếc tàu chạy bằng hơi nước đưa khách trên con sông Seine
(**) Musette: loại nhạc dân gian (sến) chơi bằng kèn túi (loại của dân Écosse) thịnh hành vào thế kỷ thứ 17-18 tại những triều đình bên Pháp.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeMon May 20, 2019 8:55 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Exposition-collection-buhrle-musee-maillol-paris-paris-billets-coupe-file-carte-pass-coffret-box-culture-300x180-min

Kỷ niệm
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Những kỷ niệm thời trai trẻ sao cứ tràn về trong ta dưới cái vuốt ve của những tia nắng sớm mai. Đó là quãng đời con người ta thật khỏe mạnh, vui vẻ, nhạy cảm và ngây ngất. Và thật dịu ngọt biết bao hồi ức về những tháng ngày xuân tràn.
 
Các anh nhớ không, các bạn già của tôi, những người anh em của tôi, những năm tháng tươi đẹp, khi cuộc sống chỉ toàn là vinh quang và tiếng cười? Các anh có nhớ những ngày lang thang khắp ngóc ngách Paris, cảnh nghèo túng mà đầm ấm, cuộc dạo chơi trong những cánh rừng xanh tươi, cơn say ngút trời trong những quán rượu bên bờ sông Seine, và cả những chuyến phiêu lưu tình ái hết sức tầm thường mà lại quá đỗi ngọt ngào của chúng ta?
Tôi muốn nhắc lại một trong những chuyến phiêu lưu ấy. Nó đã xảy ra cách đây mười hai năm và dường như với tôi nó đã quá lâu rồi, quá lâu, đến nỗi tôi tưởng nó ở mãi tận đầu kia của cuộc đời, trước khi vào lối rẽ, cái lối rẽ đáng nguyền rủa đã khiến tôi nhận ra chặng cuối cuộc hành trình.
Năm đó tôi hai mươi nhăm tuổi. Tôi mới chân ướt chân ráo tới Paris. Là nhân viên của Bộ, chủ nhật đối với tôi như một ngày hội rất lạ thường, đầy niềm hạnh phúc bồng bột, dù cảm giác ấy bao giờ cũng khiến tôi bị bất ngờ.
Giờ thì ngày nào cũng là chủ nhật. Nhưng tôi rất nhớ quãng thời gian chỉ có một chủ nhật trong cả tuần. Sao mà đẹp đến vậy! Và tôi có 6 franc để chi tiêu.

Sáng đó tôi dậy sớm, với cảm giác tự do mà đám nhân viên phòng giấy biết rất rõ, cái cảm giác được giải phóng, được nghỉ ngơi, được yên tĩnh và độc lập.
Tôi mở cửa sổ. Thời tiết đẹp tuyệt, Bầu trời trong xanh bao trùm lên cả thành phố, ánh nắng mặt trời rực rỡ và từng đàn chim én chao liệng trên cao. Tôi mặc quần áo thật nhanh rồi lên đường, tôi muốn dạo chơi cả ngày trong rừng, hít thở những chiếc lá, vì tôi vốn xuất thân từ nông thôn, lớn lên từ đồng cỏ và dưới những tán cây xanh mát.
Paris bừng tỉnh, náo nhiệt trong hơi nóng và ánh sáng. Bề mặt những ngôi nhà sáng lấp lánh, lũ chim hoàng yến của người gác cổng hót líu lo trong lồng và một niềm vui sướng chạy dọc khắp phố, rạng rỡ trên những khuôn mặt, đâu đâu cũng thấy những nụ cười như thể một niềm hạnh phúc thần bí đang trào lên khắp cả con người lẫn cảnh vật dưới ánh rạng rỡ của mặt trời ban mai.

Tôi đi ra phía sông Seine để lên con tàu Chim én tới Saint Cloud.
Tôi rất thích đứng chờ tàu ở trên bến nổi này. Vì tôi luôn có cảm giác mình sắp sửa đi tới tận cùng thế giới, đến những vùng đất mới diệu kỳ. Tôi thấy con tàu xuất hiện ở mãi đằng xa, dưới vòm một cây cầu thứ hai, nhỏ xíu với cuộn khói đen quen thuộc, rồi nó rõ dần, rõ dần, nhưng lúc nào trong tâm trí tôi nó cũng mang dáng vẻ một con tàu chở khách rất lớn.
Tàu cập bến và tôi trèo lên.
Trên đó đã có rất nhiều người ăn diện chỉnh tề, những bộ váy áo lòe loẹt, những dải ruy băng sặc sỡ và những khuôn mặt đỏ bừng. Tôi đi qua trước mặt họ, chọn một chỗ đứng, ngắm bến cảng, hàng cây, những ngôi nhà và chiếc cầu trôi qua trước mắt. Đột nhiên tôi nhận ra cây cầu Point-du-Jour bắc ngang sông. Đó là nơi Paris kết thúc và bắt đầu tới vùng nông thôn, dòng sông Seine sau hai vòm cầu song song bất ngờ trải rộng ra như thể vừa được trả tự do về với khoảng không rộng lớn, biến thành một con sông êm đềm và băng qua bình nguyên, chảy dưới chân những ngọn đồi xanh tươi, giữa những cánh đồng và bên bờ rừng.
Sau khi vượt giữa hai ốc đảo, con tàu Chim én men theo một khúc quanh sườn đồi, trên nền xanh lô nhô những ngôi nhà trắng. Một giọng nói thông báo: “Bến Menon”, rồi thêm một đoạn nữa: “Sèvre”, xa hơn một chút “Saint Cloud”.

Tôi xuống tàu, bước chân vội vã qua thành phố nhỏ trên con đường dẫn vào rừng. Tôi đã mang theo một tấm bản đồ vùng lân cận Paris để không lạc giữa những con đường ngang dọc trong khu rừng xinh đẹp, nơi người dân Paris thường dạo chơi.
Ngay khi tới chỗ có bóng mát, tôi đã giở bản đồ xem hành trình của mình, và thấy chẳng có gì rối rắm cả. Tôi sẽ rẽ phải, sau đó rẽ trái, rẽ trái thêm một lần nữa là đến đêm có thể tới lâu đài Versailles để nghỉ ăn tối.
Tôi bắt đầu bước chậm rãi dưới những tán lá, hít căng lồng ngực bầu không khí trong lành thơm ngát hương của những chồi non và nhựa sống. Tôi bước từng bước nhỏ, quên hết đống giấy tờ bề bộn, văn phòng, ông sếp, đám đồng nghiệp và những tập hồ sơ, chỉ nghĩ đến những điều hạnh phúc trong tương lai chắc chắn đến với mình, Tôi cũng miên man trong hàng ngàn kỷ niệm ấu thơ được đánh thức trong cái dư vị thôn dã này; và tôi bước đi, ngập tràn trong sự quyến rũ ngát thơm, sống động và phập phồng của khu rừng chói chang ánh mặt trời tháng sáu.
Thỉnh thoảng, tôi ngồi lại để ngắm dọc theo một sườn dốc tất cả những loài hoa xinh xắn mà tôi đã quen tên từ khi còn bé xíu. Tôi nhận ra tất cả như thể chúng chính là những bông hoa tôi nhìn thấy từ ngày xưa. Có đủ màu: vàng, đỏ, tím, thật mong manh đáng yêu, cành vươn cao hoặc bò sát mặt đất. Những con côn trùng sặc sỡ đủ mọi hình dáng, tròn xoe hay dài ngoẵng cấu tạo thật lạ thường, những sinh vật nhỏ xíu gớm ghiếc đang nhẹ nhàng leo lên ngọn cỏ khiến nó cong rạp xuống vì nặng.
Tôi ngủ vài giờ trong một cái hố rồi lại lên đường, khỏe khoắn và tươi tỉnh sau khi lấy lại sức.

Trước mặt tôi mở ra một lối đi tuyệt đẹp, những tán lá thưa thớt để lọt xuống vô vàn tia nắng nhảy nhót trên mặt đất làm sáng bừng đám hoa mác-gơ-rít trắng muốt. Dường như nó trải dài đến vô tận, tịnh không một bóng người và rất yên tĩnh. Chỉ có một con ong bầu đơn độc kêu vo vo bay dọc con đường, thỉnh thoảng dừng lại hút nhụy vài bông hoa nghiêng mình về phía nó rồi lại nhanh chóng bay đi về phía tổ nơi xa hơn một chút. Thân mình to lớn của nó như phủ một lớp nhung màu nâu xen lẫn sọc vàng, được mang bởi đôi cánh trong suốt và xinh xắn.
Nhưng bất chợt tôi nhận thấy ở đầu kia lối đi có hai người, một người đàn ông và một phụ nữ đang đi về phía tôi. Bực bội vì bị quấy rầy khi đang dạo chơi yên tĩnh, tôi định lánh vào sau mấy bụi cây thì nghe như có tiếng họ gọi. Quả là người phụ nữ đang vẫy vẫy ô, còn người đàn ông mặc áo sơ mi, áo choàng cầm ở tay, tay kia giơ cao lên ra hiệu cần giúp đỡ.
Tôi đi lại gần. Họ cũng bước nhanh về phía tôi, mặt đỏ phừng phừng, người phụ nữ bước ngắn vội vã, còn người đàn ông sải bước dài hơn. Có thể thấy ngay trên khuôn mặt họ vẻ tức tối và mệt mỏi.
Người phụ nữ hỏi ngay khi vừa gặp tôi: “Thưa ông, làm ơn cho tôi biết chúng ta đang ở đâu đây? Gã chồng ngờ nghệch của tôi đã khiến chúng tôi bị lạc lòng vòng trong vùng này”.
Tôi trả lời vẻ chắc chắn: “Thưa bà, ông bà đang đi về phía Saint Cloud, còn sau lưng hai người là lâu đài Versailles”.
Cô vợ nói và ném cái nhìn mỉa mai thảm hại về phía chồng:
“Sao cơ! Sau lưng chúng tôi là Versailles à? Nhưng đó chính là nơi chúng tôi muốn đến ăn tối”.
“Tôi cũng vậy, thưa bà. Tôi đang đến đó”.
Cô vợ lặp đi lặp lại nhiều lần, nhún vai: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi!”, giọng khinh bỉ tột bậc mà đám đàn bà vẫn hay dùng khi muốn diễn tả cơn thịnh nộ của họ.

Cô ta hãy còn trẻ, xinh đẹp, mái tóc màu nâu và có một viền ria mờ mờ quanh miệng. Còn anh chồng, mồ hôi mướt mải đang lau trán. Đó chắc chắn là một cặp tiểu tư sản đến từ Paris. Anh chồng có vẻ hốt hoảng, mệt nhọc và hối lỗi. Anh ta nói khẽ: “Nhưng… mình yêu dấu… chính mình…”
Cô vợ không để chồng nói hết: “Chính tôi à!… A! Giờ thì lại đổ tại tôi đấy. Có phải chính tôi là người muốn đi mà không cần hỏi đường vì cứ cho rằng mình không bao giờ bị lạc không? Chính tôi đã đòi rẽ phải lúc ở trên sườn núi và chắc như đinh đóng cột là nhận ra đường à? Hay chính tôi nhận sẽ đảm đương công việc ở Chachou…”
Cô ta chưa dứt lời thì anh chồng đã như bị lên cơn điên, hét một tiếng chói tai, một tiếng rú dài man dại khó ngôn ngữ nào có thể diễn tả nổi, nghe như là “Tiiitiiit”.
Cô vợ trẻ không chút ngạc nhiên hay xúc động, nói tiếp:
“Trời! Có những kẻ thật quá ngu ngốc, lúc nào cũng ra vẻ ta đây biết tuốt. Có phải chính tôi năm ngoái đã lên tàu Dieppe thay vì phải lên tàu Havre? Hãy nói xem, chính tôi à? Tôi có đánh cược là ông Letourneur vẫn ở phố Martyrs không? Hay tôi nhất định không chịu tin Céleste là con ăn cắp?…”
Và cô ta tiếp tục lải nhải với vẻ giận dữ, ào ào tuôn ra những lời lẽ đáng sửng sốt, những lời kết tội đủ điều cay nghiệt nhất, xúc xiểm nhất, động chạm đến những lúc thân mật của hai vợ chồng, chê trách chồng mọi việc làm, mọi suy nghĩ, mọi dáng vẻ, mọi ý định, mọi nỗ lực, cả cuộc sống của anh ta từ lúc cưới nhau cho đến tận bây giờ.
Anh chồng cố ngăn vợ lại mà mong cô ta bình tĩnh, lắp bắp:
“Nhưng, kìa mình!… đâu ích gì… trước mặt ông đây… Chúng ta đang biến thành trò cười… Chắc ông đây cũng không thích thế…”
Và anh ta quay đôi mắt ngân ngấn nước về phía bụi cây, như thể anh ta nghĩ tới một chỗ ẩn náu bí mật và yên bình để được chui vào đó, chạy trốn, giấu mình khỏi ánh mắt của tất cả mọi người, và chốc chốc anh ta lại kêu lên cái tiếng “tiiitiiit” dai dẳng chói tai. Tôi nghĩ anh ta mắc bệnh thần kinh nên mới thế.

Cô vợ trẻ bỗng quay về phía tôi và đổi giọng nhanh không ngờ: “Nếu ông cho phép, chúng em xin được đi cùng đường với ông để khỏi bị lạc một lần nữa và cũng không bị ngủ lại trong rừng”. Tôi khẽ nghiêng mình, cô ta bám lấy tay tôi và bắt đầu huyên thuyên đủ thứ chuyện về bản thân mình, cuộc đời, gia đình, công việc làm ăn buôn bán. Họ bán găng tay trên phố Saint Lazare.
Anh chồng đi bên cạnh vợ, lúc nào cũng đưa ánh mắt như kẻ điên về phía hàng cây rậm rạp, một lúc lại kêu tiiitiiit.
Cuối cùng tôi hỏi anh ta: “Sao anh cứ kêu như vậy?”
Anh ta đáp vẻ rầu rĩ và tuyệt vọng:
“Đó là vì con chó mà tôi đã đánh mất”.
“Sao? Anh đã để mất con chó của mình à?”
“Vâng. Gần một năm rồi. Nó chẳng bao giờ rời khỏi cửa hàng. Tôi muốn đem nó theo để cho nó đi dạo trong rừng. Nó chưa bao giờ được thấy cỏ cây hoa lá nên như phát điên vì vui sướng. Nó vừa chạy vừa sủa vang rồi biến vào rừng. Phải nói thêm rằng nó rất sợ đường sắt, sợ đến mức chẳng biết trời đất gì. Tôi đã cố gọi nó quay lại nhưng không được. Chắc nó đã chết đói trong rừng”.
Cô vợ không thèm quay về phía chồng nói: “Nếu anh không xích nó suốt ngày thì làm gì có chuyện đó. Khi người ta ngốc như anh, người ta chẳng bao giờ nuôi chó hết”.
Anh ta thì thầm vẻ e dè: “Kìa mình! Chính mình…”
Cô ta đứng khựng lại, nhìn xoáy vào mắt chồng như thể sắp moi chúng ra, và lại xối xả ném vào mặt anh ta những lời chê bai khinh khỉnh.

Trời dần tối. Màn sương mù bao phủ lên khắp vùng quê lúc chiều tà đang dâng lên chậm chạp, và cảm giác được thấy dáng vẻ mới đầy diệu kỳ và quyến rũ của khu rừng lúc màn đêm đến gần thật là nên thơ.
Bất ngờ anh chồng dừng lại, cuống cuồng sờ nắn khắp người:
“Ôi! Tôi tin là mình đã…”
Cô vợ nhìn sang: “Chuyện gì thế?”
“Tôi không để ý là mình cầm áo khoác trên tay”.
“Thì sao?”
“Tôi đánh mất ví rồi… Tiền để cả trong đấy”.
Cô ta rên lên giận dữ, chì chiết phẫn nộ:
“Chỉ thiếu mỗi nước đó nữa thôi! Sao mà anh ngu ngốc đến thế! Anh thật là đần độn! Sao tôi có thể lấy một kẻ đần đến mức ấy chứ! Anh quay lại mà tìm nó đi, và phải cố tìm thấy đấy! Còn tôi, tôi sẽ đến Versailles trước với ông đây. Tôi không muốn bị ngủ trong rừng”.
Anh ta đáp khẽ:
“Được rồi, mình ạ! Thế tôi sẽ gặp mọi người ở đâu?”
Người ta đã giới thiệu với tôi một quán ăn, và tôi nói tên cho anh ta biết.
Anh chồng quay lại phía sau, khom lưng cúi xuống đất, mắt đưa đi đưa lại lo lắng, miệng vẫn kêu tiiitiiit và đi xa dần. Phải rất lâu sau anh ta mới biến mất hẳn, cái bóng mờ mờ lẫn vào đoạn đường mãi phía xa. Thật khó phân biệt được dáng người anh ta, nhưng tiếng kêu tiiitiiit, tiiitiiit sầu thảm thì còn văng vẳng mãi, càng sắc lạnh hơn khi bóng tối càng dày đặc.

Còn tôi, tôi đi những bước chân mạnh mẽ, hạnh phúc trong chiều tà, cùng với cô nàng xinh xắn không quen biết đang dựa sát cánh tay tôi. Tôi cố tìm những từ hoa mỹ nhất nhưng không được. Thế nên đành câm lặng, lòng lâng lâng vui sướng.
Nhưng một con đường lớn bỗng cắt ngang lối đi của chúng tôi. Tôi nhận thấy phía bên phải, trong một thung lũng nhỏ có một thị trấn. Vậy đây là vùng nào?
Một người đàn ông đi ngang qua.
Tôi hỏi và ông ta đáp: “Bougival”.
Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng: “Sao lại là Bougival? Ông chắc chứ?”
“Dĩ nhiên rồi. Tôi sống ở đây”.
Cô nàng xinh xắn phá lên cười như điên.
Tôi bèn đề nghị thuê một chiếc xe ngựa đến Versailles, và cô ta bảo: “Không đời nào! Như thế thật là kỳ cục, vả lại em sắp chết đói rồi. Em thấy mình đang được yên tĩnh, nhưng gã chồng em sẽ sớm quay lại. Thật là sung sướng cho em nếu được an ủi trong vài giờ”.

Thế là chúng tôi vào một nhà hàng bên bờ sông, tôi dám thuê cả một buồng riêng loại đặc biệt. Cô nàng thích thú ngất ngây, nhảy múa, ca hát, uống sâm panh, làm đủ mọi trò điên khùng khác… thậm chí cả những điều điên khùng nữa.
Đó là lần ngoại tình đầu tiên trong đời tôi.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeFri Jun 14, 2019 12:15 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 9k=

Ánh Trăng
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Maupassant có hai truyện cùng tên " Clair de lune ". Truyện thứ nhất đăng lần đầu trên tờ Gaulois, ngày 1 tháng 7 năm 1882. Truyện thứ hai đăng trên tờ Gil Blas, ngày 19 tháng 10 năm 1882.
Truyện dịch dưới đây là truyện thứ nhất.


Bà Julie Roubère đang đợi người chị cả là bà Henriette Létoré trở về sau chuyến đi Thuỵ Sĩ.
Gia đình Létoré đã đi gần năm tuần nay rồi. Bà Henriette để chồng một mình quay về trang trại của họ ở Calvados, nơi công việc có lợi đang chờ ông, còn bà đến nhà em gái ở Paris vài ngày.

Chiều xuống. Trong căn phòng khách nhỏ, bình dị, mờ tối trong ánh hoàng hôn, bà Roubère ngồi đọc, lơ đãng, cứ nghe tiếng động là ngước mắt lên nhìn.
Cuối cùng chuông cũng reo và bà chị xuất hiện, người trùm kín trong tấm áo đi đường rộng. Và, ngay lập tức, hai người không chỉ nhận ra nhau mà ôm chặt lấy nhau, tạm ngừng rồi lại ôm nhau tiếp.
Sau đó, họ chuyện vãn, hỏi han nhau về sức khoẻ, gia đình và trăm ngàn chuyện khác, huyên thuyên, tuôn ra những lời dồn dập, ngắt quãng, chuyện nọ xọ chuyện kia, trong lúc bà Henriette gỡ mạng che mặt và mũ.
 
Đêm xuống. Bà Roubère gọi mang đèn tới, và ngay khi có ánh sáng, nàng nhìn chị, sắp sửa ôm hôn nữa. Nhưng nàng cứ thẫn thờ, hốt hoảng, không thốt nên lời. Trên thái dương, bà Létoré có hai chòm tóc bạc. Phần còn lại trên đầu có màu đen tối và sáng, nhưng ở đó, chỉ ở đó thôi, từ phía hai bên, chảy xuống như hai dòng suối bạc đổ nhanh vào mảng tóc sẫm màu. Vậy mà nàng chỉ mới hai mươi bốn tuổi và chuyện này đột ngột xảy ra từ khi nàng đi Thuỵ Sĩ. Ngồi bất động, bà Roubère nhìn chị sững sờ, sắp sửa khóc, nàng nghĩ rằng một nỗi bất hạnh bí ẩn và khủng khiếp nào đó đã xảy ra với chị của mình, nàng lên tiếng hỏi:
- Có chuyện gì thế, chị Henriette?
Thoáng nở một nụ cười buồn bã, nụ cười của người có tâm bệnh, người kia đáp:
- Chẳng có gì đâu, chị bảo đảm đó. Hay là vì em thấy tóc chị bạc?
Bà Roubère nắm chặt vai chị, săm soi nhìn và nhắc lại:
- Chuyện gì đã xảy ra? Chị có chuyện gì? Nói cho em nghe đi!

Hai người vẫn đối diện nhau, bà Henriette biến sắc, xanh xao, yếu đuối, giọt lệ rơi xuống từ khoé mắt.
Lúc này, bằng giọng nói cam chịu, người kia thì thào:
- Chị... chị có nhân tình.
Và rồi, tựa đầu trên vai cô em, nàng nức nở.
Khi trấn tỉnh lại chút ít, khi lồng ngực đã bớt phập phồng, nàng bỗng lên tiếng, chừng như muốn trút bỏ khỏi mình sự bí mật này, thổ lộ hết nỗi đau khổ này với một tâm hồn đồng cảm.

Và hai người phụ nữ siết chặt tay nhau cùng đến ngồi trên ghế tràng kỷ, nơi phòng khách tối mờ, người trẻ hơn vòng tay qua cổ và ôm chị vào lòng, lắng nghe.
- Ôi, chị thừa nhận là chẳng biện minh gì được, chị không hiểu được chính mình, chị đã điên rồ từ ngày hôm đó. Em hãy coi chừng, em gái bé bỏng, em hãy coi chừng chính mình đó. Nếu em hiểu được chúng ta yếu đuối đến mức nào, chúng ta hay nhượng bộ đến thế nào, chúng ta gục ngã nhanh chóng ra làm sao! Chỉ cần một điều chẳng là gì cả, chỉ một chút, một chút thôi, một sự yếu đuối, một chút bâng khuâng bất chợt thoáng qua hồn, một sự khao khát được mở rộng vòng tay, được yêu thương và ôm ấp, là những thứ chúng ta đều có cả, vào những khoảnh khắc nào đó.

Em biết chồng chị, và em biết chị yêu anh ấy đến mức nào, nhưng anh ấy chín chắn và sống bằng lý trí, chẳng hiểu gì về những rung động tế nhị của trái tim phụ nữ. Anh ấy vẫn luôn luôn, luôn luôn là như thế, luôn luôn tốt bụng, luôn luôn tươi cười, luôn luôn chiều chuộng, luôn luôn hoàn hảo. Ôi! Chị mong sao có lần anh bất chợt ôm chị vào lòng, trao cho chị những nụ hôn chậm rãi và ngọt ngào, làm hoà quyện hai con người, như trao gởi những lời tâm sự thầm lặng, mong sao anh có phút giây buông bỏ, cả yếu đuối nữa, để cảm thấy cần có chị, cần những vuốt ve của chị, cần những giọt nước mắt của chị.
Tất cả những thứ đó thật là rồ dại, nhưng phụ nữ chúng ta là thế. Chúng ta có làm được gì đâu? Tuy thế, chưa bao giờ chị có ý nghĩ muốn lừa dối anh ấy. Ngày hôm nay, chuyện đã xảy đến, không có tình yêu, không có lý trí, không có gì hết, bởi đã có trăng, có đêm, trên hồ Lucerne.

Từ một tháng nay đi du lịch với nhau, bằng sự lạnh lùng điềm tĩnh của mình, chồng chị đã làm tê liệt tất cả nhiệt tình, dập tắt mọi hứng khởi của chị. Có hôm, vào lúc bình minh, bọn chị đi xuống sườn đồi trên cỗ xe tứ mã đang phóng nước đại. Trong làn hơi nước trong suốt của ban mai, đi qua những thung lũng dài, những cánh rừng, những con sông, những làng mạc, chị vui thích vỗ tay và nói với anh ấy: "Ôi, đẹp quá, anh yêu, ôm hôn em đi!" Anh ấy hơi nhún vai đáp lại: "Không phải là lý do để hôn nhau, chẳng qua vì em thích cảnh đẹp thôi!"
Và điều đó khiến chị băng giá cả cõi lòng. Thế mà chị nghĩ là khi yêu, lúc nào người ta cũng muốn yêu nhau nhiều hơn nữa trước những phong cảnh cảm động.

Cuối cùng chị cảm thấy bừng dậy trong người những tình cảm sôi nổi mộng mơ mà anh ấy cố ngăn cản không để lan toả. Chị biết nói gì với em đây? Chị gần giống như một nồi nước sôi đầy hơi bị bịt kín.
Một tối kia (anh chị đang ở khách sạn Fluclen từ bốn hôm rồi), Robert cảm thấy đau đầu và ăn xong là đi ngủ sớm, chị dạo chơi một mình quanh hồ.
Đêm như trong chuyện thần tiên. Mặt trăng tròn vành vạnh toả rộng giữa bầu trời, những ngọn núi lớn có tuyết trông như phủ bạc và mặt nước lóng lánh có gợn sóng nhỏ lung linh. Không khí êm dịu, thứ êm dịu thấm vào người khiến ta uỷ mị đến yếu ớt, suy sụp vô cớ. Nhưng tâm hồn lại nhạy cảm làm sao vào những lúc đó! Tâm hồn rung động nhanh chóng và cảm nhận mạnh mẽ biết bao!

Chị ngồi trên cỏ, đưa mắt nhìn mặt hồ rộng lớn, u buồn và quyến rũ, và một điều lạ lùng đã xảy ra trong chị: chị cảm thấy một nỗi khát khao yêu đương không thoả được, một tình cảm chống lại sự nhạt nhẽo buồn tẻ của cuộc đời. Vậy mà, làm sao đây? Có bao giờ chị sẽ được ở trong vòng tay một người đàn ông yêu thương đi dọc theo bờ sông ngập ánh trăng? Có bao giờ chị sẽ được đón nhận những nụ hôn say đắm, ngọt ngào và bàng hoàng người ta vẫn trao nhau vào những đêm êm ái mà Thượng đế dường như đã tạo ra dành cho những tình cảm âu yếm? Sẽ có lúc nào chị được siết chặt mê say bởi những vòng tay đắm đuối, trong ánh sáng mờ tỏ một đêm mùa hè?
Rồi chị oà lên khóc như một người điên.
Chị nghe có tiếng động đàng sau. Một người đàn ông đứng nhìn chị. Khi chị quay đầu lại, anh ta nhận ra chị và đi tới gần.
- Bà khóc đấy à, thưa bà?
Đó là một luật sư trẻ, cùng đi du lịch với mẹ mà bọn chị đã gặp nhiều lần. Anh ấy vẫn thường dõi mắt nhìn theo chị.
Chị bối rối đến độ không biết trả lời sao, không biết nghĩ thế nào. Chị đứng dậy và tự nhủ cố chịu đựng.

Anh ta đi bên cạnh chị, ung dung và lễ độ, anh ta nói với chị về chuyến du lịch. Tất cả những gì chị cảm thấy, anh diễn dịch cả ra, tất cả những gì khiến chị xúc động, anh ấy cũng hiểu như chị, hơn cả chị. Rồi bất ngờ anh ấy đọc thơ cho chị nghe, những câu thơ của Musset (1). Chị cảm thấy một nỗi xúc động khó tả khiến ngạt thở. Chị thấy hình như ngay những ngọn núi, cái hồ, ánh trăng, tất cả đều hoà ca những điều ngọt ngào khó diễn thành lời.
Chuyện đó xảy ra, chị chẳng hiểu như thế nào, chị chẳng hiểu tại sao, như một kiểu ảo giác.
Còn anh ấy, chị chỉ gặp lại vào ngày hôm sau, lúc ra đi.

Và bà Létoré, rũ xuống trong đôi tay em gái, thốt lên những tiếng rên rỉ, gần như là tiếng kêu la.
Lúc này bà Roubère, tĩnh tâm lại, nghiêm trang, tuyên bố nhẹ nhàng:
- Chị ơi, chị thấy không, nhiều lúc không phải chúng ta yêu một người đàn ông nào đâu, mà là yêu chính tình yêu đó thôi. Và tối hôm đó, chính ánh trăng mới là người yêu đích thực của chị.

-------------------------------
(1) Alfred de Musset (1810-1857), nhà thơ nổi tiếng thuộc trường phái lãng mạn Pháp.

Thân Trọng Sơn
dịch từ nguyên tác "Clair de lune" (1er juillet 1882)
Guy de Maupassant
.

Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeFri Jun 21, 2019 5:05 pm

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 9k=

Đồ trang sức
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Là một cô gái có vẻ đẹp kiêu sa, duyên dáng, thế nhưng trớ trêu thay, cô lại sinh ra trong một gia đình viên chức xoàng xĩnh, cô không có của hồi môn, không được thừa hưởng một gia tài nào, cũng chẳng có phương cách gì để trở nên nổi tiếng, để được biết đến, được mến mộ, được yêu, được cưới một người đàn ông giàu có và tao nhã; và cô đã hạ mình cưới một viên chức quèn làm việc trong bộ Công.

Cô thường ăn mặc giản dị và không trang điểm: nhưng cô luôn cảm thấy cô thật bất hạnh như bị hạ thấp. Vì người phụ nữ không chỉ được phân loại theo dòng dõi mà sắc đẹp của họ, về duyên dáng yêu kiều của họ, sự tinh tế bẩm sinh, sự trang nhã thiên phú và sự mềm mại của tâm hồn, tất cả những điều đó tạo nên thứ bậc giữa những người phụ nữ, đã khiến cho những con gái nhà bình dân có thể sánh ngang hàng với các quý bà sang cả.
Cô luôn phải sống trong sự chịu đựng: cô cho rằng cô được sinh ra để có được những gì tinh tế nhất, sang trọng nhất. Cô khó chịu với sự nghèo nàn của ngôi nhà mình ở, cô bực bội vì những tấm giấy dán tường cũ bẩn, vì những chiếc ghế sờn rách, vì những tấm khăn ăn xấu xí. Lẽ ra một người như cô, một người thuộc tầng lớp cô không phải chịu dựng như vậy mới đúng, và điều đó đã ám ảnh hành hạ cô đêm ngày, làm cô phẫn nộ. Ánh mắt của cô bé nông dân khi nhìn vào căn hộ xoàng xĩnh hèn mọn của cô đã khơi dậy trong cô những tiếc nuối đã xa, khơi dậy trong cô những mơ ước thuở trước. Cô nghĩ đến những căn phòng với hệ thống chống tiếng ồn, những tấm nệm trần, với những tấm giấy dán tường theo kiểu phương Tây, được chiếu sáng bằng những chiếc đèn bằng đồng lớn, và cô nghĩ tới hai người phục vụ mặc đồng phục soóc ngắn trong các nhà hàng lớn, thiu thiu ngủ dưới làn hơi ấm của chiếc máy tỏa nhiệt. Cô nhìn những chiếc ghế bành cũ kỹ với tấm vải phủ bằng soa cũ mèm, nghĩ tới những đồ gỗ tinh xảo chứa toàn những đồ trang trí vô giá, và cô nghĩ tới những phòng khách nhỏ duyên dáng, thơm nức được trang hoàng cho phù hợp với những buổi chuyện trò thân mật vào lúc năm giờ với bạn bè thân, với những người đàn ông nổi tiếng, với những người phụ nữ đến đó để mong được chú ý.

Khi ngồi vào bàn ăn tối, chiếc bàn được phủ một tấm vải đã trải từ ba hôm nay, đối diện với người chồng đang múc súp ra đĩa một cách vẻ vui vẻ:
"A! Món thịt bò hầm rau! Tôi chẳng còn biết đến một món ngon nào khác ngoài món này..."
Còn cô thì lại nghĩ đến những bữa tối ngon lành, tới bộ đồ ăn bằng bạc sáng lấp lánh, tới những món ăn thơm lừng được trình bày đẹp mắt, tới những lời tán tỉnh thầm thì, tới những cô gái vừa nghe những lời tán tỉnh vừa nở những nụ cười bí ẩn. Những con người đó ăn món thịt gà lôi, thịt chim ưng và các món đặc sản ngon lành khác.
Cô chẳng có quần áo đẹp, không đồ nữ trang, cô chẳng có gì cả. Mà cô lại yêu thích những thứ đó biết bao nhiêu; cô cảm thấy cô sinh ra là để được có tất cả những thứ đó. Cô thèm muốn biết bao nhiêu, được vui chơi, được chiêm ngưỡng, được tán tỉnh, được quyến rũ, được nhiều người yêu chuộng.
Cô có một cô bạn giàu có, một người bạn từ thời đi học, mà giờ đây cô không muốn gặp lại nữa, cô phải cảm thấy khổ sở biết bao nhiêu khi nhìn cuộc sống đủ đầy vui vẻ của cô bạn này. Cô đã khóc ròng nhiều ngày nhiều tháng, vì buồn rầu, thất vọng, tiếc nuối, và căng thẳng.

Một tối, chồng cô về nhà với mặt đầy vẻ hoan hỉ. tay giơ cao một chiếc phong bì lớn.
- Xem anh có gì cho em này, em yêu.
Cô xé phong bì một cách nôn nóng và rút ra một tấm thiếp mời trên đó viết:
"Bộ trưởng bộ Công cùng bà Georges Ramponneau trân trọng kính mời ông bà Loisel tới dự dạ hội tại nhà khách của Bộ vào thứ hai ngày mười tám tháng Một".
Thay vì nhảy lên sung sướng như chồng cô đã tưởng, cô ném toẹt tờ thiếp mời lên bàn và rên lên đau khổ:
- Anh muốn em làm gì với nó cơ chứ?
- Nhưng, em yêu, anh đã tưởng rằng em sẽ thích, em sẽ hài lòng. Em chưa bao giờ tham dự các dạ tiệc, và đây là một cơ hội cho em, một cơ hội tốt. Anh đã phải tốn bao công sức để có được nó. Mọi người ai cũng mong có được tấm vé mời ấy, buổi dạ tiệc đó rất lớn, được tổ chức rất long trọng, thế nên người ta không mời nhiều nhân viên lắm đâu. Rồi em sẽ gặp tất cả các quan chức cấp cao ở đó.
Cô nhìn chồng bằng ánh mắt bực bội rồi thốt lên:
- Anh muốn em khoác lên người cái gì để đi đến đó?
Chồng cô còn chưa nghĩ đến chuyện đó, anh ấp úng:
- Nhưng chiếc váy mà em đã mặc đi xem hát. Nó rất hợp với em, theo anh...
Anh im bặt, hoảng hồn, mất bình tĩnh khi thấy vợ bật khóc. Hai hàng nước mắt lăn dài trên má, đến tận góc miệng, lã chã tuôn rơi. Anh ấp úng:
- Em sao thế? Sao thế?
Nhưng bằng một cố gắng phi thường, cô đã thôi khóc và vừa trả lời chồng bằng một giọng bình tĩnh vừa chùi nước mắt.
- Không có gì. Chỉ là vì em chẳng có bộ cánh nào ra hồn, vì thế em chẳng thể đi tới dự dạ hội đó được, hãy mang tấm thiếp của anh cho anh bạn đồng nghiệp nào đó của anh mà vợ anh ta có quần áo tươm tất hơn em.
Buồn bực, chồng cô hỏi:
- Để xem nào, Mathilde. Một dịp như thế này cho em là rất hiếm hoi, chỉ vì một điều vớ vẩn như thế mà để lỡ mất nó thì thật tiếc. Một bộ phù hợp cho dịp như thế này mất khoảng bao nhiêu tiền?

Suy nghĩ vài giây, tính toán bao nhiêu tiền là đủ, và cô cũng còn phải tính xem khoảng bao nhiêu thì chồng cô có thể chấp nhận được. Sau một hồi suy nghĩ, cô trả lời một cách do dự:
- Em không biết chính xác, nhưng theo em thì khoảng bốn trăm frăng là em có thể xoay xở được.
Chồng cô hơi tái mặt, anh đã dành dụm được đúng một khoản như thế để mua một khẩu súng săn và anh đã dự định sẽ dùng nó để đi săn vào mùa hè tới với mấy người bạn cùng làm ở vùng cao nguyên Nantes. Chủ nhật trước họ đã tới đó và đã săn được một vài con chim ngói.
Thế nhưng anh nói:
- Thôi được rồi. Anh sẽ đưa cho em bốn trăm frăng. Hãy dùng nó mua một bộ váy áo đẹp vào em nhé.

***

Ngày dạ hội đã đến gần, nhưng cô vẫn có vẻ buồn, bồn chồn, lo lắng. Tuy rằng bộ váy áo dạ hội của cô đã rất hoàn hảo, sẵn sàng đợi cô xỏ tay vào. Một tối chồng cô hỏi:
- Em sao thế? Từ ba ngày nay em có vẻ lạ lắm.
Cô trả lời:
- Điều làm em lo lắng là em chẳng có lấy một đồ trang sức nào cả. Em chẳng có lấy một sợi dây chuyền để đeo. Trông em sẽ có vẻ rất nghèo khổ đáng thương cho mà xem. Em thấy tốt hơn hết là em không đi thì hơn.
Chồng cô mách nước:
- So em không dùng hoa tươi, giờ đang là mốt dùng hoa tươi để trang điểm đấy. Chỉ cần mười frăng là em có thể có ba bốn bông hoa đẹp tuyệt rồi.
- Không, - Cô phản kháng lại một cách dữ dội - chẳng có gì nhục nhã hơn là có vẻ hèn kém giữa các quý bà sang trọng.
Bỗng chồng cô kêu lên:
- Sao em ngốc thế! Hãy đến tìm bà bạn thân Forestier của em ấy. Hãy mượn cô ấy một đồ trang sức nào đó, các em thân nhau đến thế thì có gì đâu mà cô ấy không cho em mượn.
Cô bật kêu lên vì mừng rỡ:
- Ừ nhỉ, sao em lại không nghĩ ra nhỉ.

Ngay ngày hôm sau cô đến nhà bạn và kể cho bạn nghe về nỗi ưu phiền của mình.
Cô bạn Forestier đến ngay tủ gương và lôi ra một chiếc hộp lớn, cô mở nó ra và gọi bạn:
- Chọn đi, bạn thân mến của tôi.
Trước tiên cô nhìn những chiếc vòng đeo tay, rồi đến một chuỗi vòng cổ bằng ngọc trai, rồi những dây đeo có mặt bằng vàng và bằng đá quý, tất cả những thứ đó đều rất đẹp, tinh xảo. Cô đứng trước gương, ướm hết cái này đến cái kia lên người, không biết nên chọn cái nào. Cô luôn miệng hỏi:
- Cậu còn cái nào khác nữa không?
- Còn chứ, để mình lấy, mình không biết cậu sẽ thích cái nào.
Thế rồi bỗng bạn cô mở một chiếc hộp nhung đen, lấy ra một chuỗi vòng nạm kim cương tuyệt đẹp sáng lấp lánh: tim cô đập cuồng lên, tay cô run run khi chạm vào nó, cô ướm nó lên trên cái cổ cao, trắng ngần của mình, cô đứng lặng ngắm nhìn mình trong gương.
Do dự và hơi lo lắng, cô hỏi bạn:
- Cậu có thể cho mình mượn chiếc vòng này được không? Chỉ một chiếc vòng cổ này thôi.
- Tất nhiên là được rồi.
Cô nhảy lên ôm cô bạn một cách phấn khích, rồi từ biệt bạn và về ngay với chuỗi vòng vô giá.

Ngày lễ đã đến. Mathilde đã có một đêm dạ hội thành công. Cô là tâm điểm của dạ hội đêm đó, cô là người phụ nữ xinh đẹp yêu kiều nhất, duyên dáng nhất, lịch lãm nhất, sang trọng nhất với nụ cười tươi tắn luôn nở trên môi, cô như ngây ngất, như say trong không khí vui tươi nơi đây. Mọi người đàn ông đều nhìn cô, hỏi tên cô, tìm cách làm quen với cô. Ai cũng muốn mời cô nhảy và thậm chí cả đến ngài bộ trưởng cũng để ý đến cô.
Cô nhảy trong trạng thái sung sướng mê say, cô chẳng còn nghĩ đến điều gì khác, cô xoay tròn trong hết vũ điệu này đến vũ điệu khác, vô cùng phấn khích, ngất ngây vì được ngắm nhìn, được thấy mình xinh đẹp, được tán dương, được chiều chuộng. Cô như bay lên chín tầng mây hạnh phúc và thành công.
Cô lên đường về nhà lúc khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô, đã vào một phòng trống nằm nghỉ từ lúc mười hai giờ với ba bốn người bạn trong khi những người vợ đang miệt mài chơi đùa, tán gẫu, nhảy múa.
Chồng cô khoác lên vai cô chiếc áo choàng mà họ đã bỏ ra trước khi vào dạ tiệc, một chiếc áo choàng tầm thường xấu xí mà ngày thường cô vẫn mặc. Vẻ nghèo khổ của nó thật lạc lõng với bộ váy áo dạ tiệc. Cô cảm thấy điều đó và cô muốn bỏ đi thật nhanh để không bị những người phụ nữ khác đang khoác lên người những chiếc áo choàng sang trọng để ý.
Chồng cô giữ cô lại:
- Đợi chút em, bên ngoài lạnh lắm và em sẽ bị cảm lạnh mất. Anh đi gọi một chiếc xe.
Nhưng cô không nghe, cô bỏ chạy xuống gác thật nhanh, khi họ ra đến ngoài phố, họ chẳng gặp được một chiếc xe nào; họ đành cuốc bộ, vừa đi vừa ngó ngang ngó dọc tìm kiếm, gọi váng lên mỗi khi nhìn thấy một chiếc xe từ đằng xa.
Họ đi về phía sông Seine, không hy vọng gì gọi được một chiếc xe nữa, run cầm cập vì rét. Cuối cùng, đến bên sông họ lên một chiếc xe cũ kỹ mà người ta chỉ có thể nhìn thấy vào ban đêm ở Paris như thể chúng cảm thấy ngượng vì vẻ nghèo hèn của chúng.
Người đánh xe ngựa đưa họ đến tận cửa nhà họ trên phố Marty, và họ leo lên nhà một cách buồn rầu. Với cô, thế là hết. Còn với chồng cô, anh nghĩ đến việc phải có mặt ở nơi làm việc lúc mười giờ.

Lặng lẽ đứng trước gương, cô hất chiếc áo choàng xấu xí tầm thường trên vai xuống để ngắm lại lần cuối cùng vẻ đẹp rạng ngời của mình. Bỗng cô thốt kêu lên, chuỗi vòng không còn trên cổ cô nữa!
Chồng cô lúc đó đã cởi bỏ trang phục, hỏi:
- Có chuyện gì thế em?
Cô quay về phía chồng đầy hoảng hốt:
- Em... em mất... mất.... chuỗi vòng của Forestier rồi.
Chồng cô đứng phắt lên, hoảng hồn:
- Cái gì?... Sao!... Không thể thế được!
Họ vội vàng tìm trong những nếp váy, trong áo khoác ngoài, trong các túi, khắp mọi nơi. Nhưng họ chẳng tìm thấy gì cả.
Chồng cô hỏi:
- Em có chắc là em vẫn còn nó khi rời khỏi phòng nhảy không?
- Em chắc mà, em còn chạm phải nó khi ở ngoài phòng tiền sảnh mà.
- Nếu chúng ta đánh rơi nó khi đang đi trên phố, chúng ta phải nghe thấy tiếng nó rơi. Nó hẳn đã rơi trong xe rồi.
- Vâng, có thể như thế lắm. Anh có nhớ số xe không?
- Không. Thế em có nhìn thấy biển số không?
- Không.
Họ rụng rời nhìn nhau. Cuối cùng chồng cô mặc lại quần áo và nói:
- Anh sẽ quay lại tất cả những đường mà chúng ta đã đi bộ qua, may ra anh có thể tìm lại được nó.

Rồi anh đi, cô vẫn đứng như trời trồng, trong bộ váy dạ hội, không còn đủ sức cởi nó ra nữa, rồi ngồi bịch xuống một chiếc ghế, cô cứ ngồi như thế trong lạnh giá, không buồn đốt lò sưởi lên, không suy nghĩ gì hết.
Khoảng bảy giờ chồng cô về, anh không tìm thấy sợi dây chuyền. Anh đến khai báo ở đồn cảnh sát, tới các tòa soạn báo để thông báo rơi mất và hứa thưởng một khoản tiền hậu hĩnh cho công ty hoặc cá nhân nào biết về chiếc xe hôm qua đã đỗ ở bờ sông Seine và đã chở khách về phố Marty với hy vọng mong manh có thể tìm lại được sợi dây chuyền.
Cô ở nhà đợi tin suốt cả ngày trong tâm trạng hoảng hốt trước thảm họa khủng khiếp này.
Đến tối, chồng cô về nhà, khuôn mặt hốc hác xanh xao, anh chẳng tìm thấy một manh mối nhỏ nào về chiếc xe hôm trước đã chở họ về. Anh bảo vợ:
- Em phải viết thư cho bạn bảo cô ấy rằng em làm gãy chốt cài của sợi dây chuyền và rằng em sẽ đem sửa trả cô ấy. Như thế chúng ta có thêm thời gian để định liệu.
Rồi anh đọc cho cô chép một bức thư gửi cho bạn.

***

Sau một tuần tìm kiếm, họ đã mất hết hy vọng, chồng cô trông già đi đến một chục tuổi, bảo vợ:
- Chúng ta phải mua một sợi dây khác trả cho bạn em thôi.
Hôm sau, theo tên và địa chỉ ghi trên hộp đựng chuỗi vòng, họ đến cửa hiệu kim hoàn đã làm ra nó để hỏi thăm, người thợ kim hoàn tra cứu một lúc lâu trong tập sách những sản phẩm đã ra lò của anh ta rồi bảo:
- Thưa bà, cửa hàng chúng tôi chưa chế tác một sợi dây chuyền như thế, nếu bà muốn chúng tôi có thể chế tác cho bà một sợi khác.
Họ đi từ cửa hàng đồ trang sức này đến cửa hàng trang sức khác, tìm một sợi dây tương tự như sợi dây đó, hỏi thăm các chủ tiệm xem họ có từng bán một sợi dây tương tự như thế không. Và cả hai đều mệt nhoài vì buồn rầu và cáu kỉnh.

Cuối cùng họ tìm thấy trên đường Pale Royal một cửa hàng có bày một chuỗi vòng kim cương hoàn toàn giống với chuỗi mà họ đang tìm kiếm. Giá của chuỗi vòng là bốn mươi nghìn frăng. Chủ tiệm đồng ý bán cho họ với giá ba mươi sáu ngàn frăng.
Họ nài nỉ chủ tiệm đừng bán chuỗi vòng đó trong vòng ba ngày để họ về thu xếp tiền và nếu từ giờ đến cuối tháng Hai họ tìm lại được chuỗi vòng đã mất cửa tiệm sẽ mua lại chuỗi vòng này với giá ba mươi tư ngàn frăng.
Loisel có mười tám nghìn frăng được thừa hưởng từ bố anh, số còn lại họ phải đi vay mượn.
Họ đi hỏi vay, hỏi mượn mỗi người một ít, người này thì một nghìn frăng, người kia năm trăm frăng. Họ cầm cố nhà cửa, đi vay ở những nhà cho vay nặng lãi, họ tìm đủ mọi phương cách để có được số tiền đó dù chưa biết đến bao giờ trả cho hết được nợ nần. Họ vừa ký giấy nợ vừa run sợ khi nghĩ đến viễn cảnh đen tối sau này. Nghĩ đến việc họ sẽ phải cố công cố sức làm đêm làm ngày để kiếm tiền trả nợ, nghĩ đến việc họ sẽ luôn bị các chủ nợ hối thúc sau lưng, tất cả những điều đó khiến họ cảm thấy tinh thần bị tra tấn khủng khiếp bởi một tương lai mịt mù đen tối. Cuối cùng họ cũng có đủ ba mươi sáu ngàn frăng để mua được sợi dây chuyền.
Khi cô mang trả chuỗi vòng cho bạn, bạn cô nói với cô bằng một giọng bực bội:
- Lẽ ra cậu phải mang trả nó cho mình sớm hơn chứ, nhỡ mình cần dùng đến nó thì sao.
Cô không dám mở hộp đựng vòng ra vì sợ bạn cô có thể nghi ngờ, phát hiện thấy đó không phải là chiếc vòng cũ. Lúc đó liệu cô ấy sẽ nói gì, sẽ nói gì, và cô ấy có thể cho rằng cô là một con ăn cắp thì sao.

***

Kể từ hôm đó, cô biết đến một cuộc sống cơ cực nghèo khó. Vả lại bỗng đâu đùng một cái cô đã quyết định một cách anh dũng, dấn thân vào cuộc sống khổ cực khốn khó đó. Họ cần phải trả món nợ khổng lồ đó. Cô sẽ trả. Họ cho người giúp việc nghỉ việc, họ thay đổi chỗ ở: họ thuê một căn phòng áp mái để sống.
Cô nếm trải nhưng công việc nội trợ nặng nhọc, những công việc bếp núc ghê tởm. Cô rửa chén bát, làm hỏng những ngón tay búp măng trắng hồng xinh xắn bằng việc chà rửa chén bát và cọ nồi xoong. Cô giặt giũ ga giường, rèm, thảm, quần áo và những khăn lau bẩn thỉu rồi phơi chúng trên dây phơi. Cô mang rác từ trên tầng cao nơi mình ở xuống, rồi mang nước từ dưới đó lên, hết mỗi tầng lại dừng lại ở thềm nghỉ thở hổn hển. Và ăn mặc như những người đàn bà nghèo khó, cô đến hàng rau, hàng thịt, hàng mắm, hàng cá... tay xách làn, chửi thề, cò kè mặc cả từng xu như tất cả các bà nội trợ thường dân thô kệch.
Mỗi tháng đều phải trả tiền các hóa đơn, trả tiền những khoản vay nợ đã đến hạn, rồi lại vay những khoản nợ mới để đập vào những khoản thiếu hụt.
Chồng cô nhận thêm việc chép lại cho sạch sẽ những sổ sách kế toán của một số thương nhân và anh làm việc đó cả tối, có khi cả đêm để kiếm thêm được năm xu cho mỗi trang chép lại.
Cuộc sống như thế kéo dài đã được mười năm.
Đầu năm thứ mười, họ đã trả được hết nợ nần, kể cả những khoản lãi suất chồng chất.

Giờ đây, cô Loisel đã già. Cô đã trở thành một phụ nữ mạnh mẽ, khỏe khoắn và thô lỗ vì những công việc nội trợ khó nhọc hàng ngày. Đầu bù tóc rối, váy áo xộc xệch, bàn tay thô ráp, cô đã quen thói ăn to nói lớn, cô đã có thể xách một xô nước đầy ắp lên đến phòng mình không cần phải nghỉ lại ở mỗi tầng như trước nữa.
Nhưng thỉnh thoảng, khi chồng cô đang đi làm, cô ngồi bên cửa sổ, mơ màng nhớ đến cái tối xa xưa đó, nhớ đến cái tối mà cô đã trở thành tâm điểm của sự chú ý bởi sự lộng lẫy, bởi sự duyên dáng xinh đẹp, bởi nét tươi vui ngời trong mắt biếc.
Điều gì sẽ đến nếu đêm đó cô không làm mất chuỗi vòng đó? Ai mà biết được? Ai mà biết được? Cuộc sống mới nhiều bất ngờ làm sao! Chỉ trong tích tắc mà người ta có thể lên đến tột đỉnh của vui sướng rồi tụt xuống tận cùng của sự khốn cùng!

***

Thế rồi một chủ nhật nọ, trong khi cô đang đi dạo ở quảng trường Champs - Élysées sau một tuần làm việc vất vả, cô bỗng nhìn thấy một phụ nữ đang dắt tay một đứa trẻ đi dạo đầy vẻ thong dong. Đó chính là cô Forestier, cô vẫn trẻ, vẫn đẹp, vẫn quyến rũ như xưa.
Cô bỗng thấy xúc động vô cùng. Có nên nói cho cô ta biết không? Có chứ. Giờ đây cô đã trả được hết nợ nần, cô sẽ nói tất cả cho cô ta biết. Tại sao lại không nhỉ?
Cô tiến lại gần cô bạn cũ và nói: "Chào Jeanne".
Cô bạn cô không hề nhận ra cô, ngạc nhiên vì được một người phụ nữ thô lậu chào một cách đầy thân mật như thế. Cô ta ấp úng:
- Nhưng... thưa bà... Tôi không biết... Hẳn bà đã nhầm tôi với ai đó chăng.
- Không, mình là Mathilde Loisel.
Cô bạn cô bật kêu lên:
- Ôi!... Mathilde khốn khổ, cậu mới thay đổi làm sao!...
- Ừ, mình đã có những ngày rất nặng nề và vô cùng khốn khó kể từ ngày gặp cậu lần cuối cùng... và chính là vì cậu mà mình đã phải chịu đựng tất cả những điều đó!...
- Vì mình ư? Nhưng sao lại thế?
- Cậu có còn nhớ chuỗi kim cương mà cậu đã cho mình mượn đi dạ hội nhà ông bộ trưởng không.
- Có nhớ, nhưng sao?
- Mình đã làm mất nó.
- Gì kia, nhưng cậu đã trả nó lại cho mình kia mà?
- Mình đã trả lại cậu một chuỗi vòng y hệt. Và vợ chồng mình đã phải mất mười năm để trả giá cho nó đấy. Cậu biết rõ điều đó chẳng dễ dàng gì với bọn mình, những kẻ chẳng có gì... Cuối cùng thì cũng đã xong, mình thật sự hài lòng.
- Cậu nói rằng cậu đã mua một chuỗi vòng kim cương khác để đền cho mình ư?
- Phải, và cậu đã không nhận ra sự khác biệt đúng không? Chúng thật vô cùng giống nhau đúng không nào.
Và cô nở nụ cười với đầy vẻ kiêu hãnh.
Cô Forestier, vô cùng xúc động, nắm lấy hai tay cô:
- Ôi! Mathilde khốn khổ của tôi! Chuỗi vòng của tôi là đồ dỏm mà. Nó chỉ có giá trị nhiều lắm năm trăm frăng là cùng!...
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeTue Jul 02, 2019 10:48 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Slide1


BẢN DI CHÚC
- GUY DE MAUPASSANT (1850-1893)


Tôi quen anh chàng cao cao tên là René de Bourneval đó. Anh có thái độ đối xử dễ thương, tuy hơi âu sầu, hình như ngán ngẩm mọi chuyện, khá hoài nghi, một kiểu hoài nghi chính xác và cay độc, đặc biệt khéo léo vạch trần mọi thói đạo đức giả của người đời chỉ bằng một từ thôi. Anh thường nói: "Chẳng có người lương thiện đâu, hoặc ít ra họ chỉ lương thiện tương đối so với bọn bất lương."

Anh có hai người anh mà anh chẳng mấy khi gặp, những người mang họ de Courcils. Tôi nghĩ anh là anh em khác cha vì thấy mang họ khác. Nhiều lần tôi nghe nói trong gia đình này có chuyện ly kỳ lắm, nhưng không nói rõ chi tiết.
Tôi rất thích anh chàng này và chúng tôi đã sớm kết thân. Một tối kia, trong khi chỉ hai người cùng ăn tối chung, tôi buột miệng hỏi: "Anh là con của cuộc hôn nhân đầu hay thứ hai?" Tôi thấy mặt anh hơi tái rồi đỏ bừng, anh lặng im vài giây, lộ rõ vẻ bối rối. Rồi, nở nụ cười buồn bã và hiền lành quen thuộc, anh nói: "Bạn thân mến, nếu anh không chán, tôi sẽ kể cho anh những chi tiết lạ lùng về gốc gác của tôi. Tôi biết anh là người thông minh, nên tôi không ngại chuyện kể sẽ ảnh hưởng đến tình bạn của anh, mà nếu có ảnh hưởng thì tôi cũng không thiết tha chuyện coi anh là bạn nữa".

Mẹ tôi, bà de Courlis, là một phụ nữ nhỏ bé, rụt rè, đáng thương, do có của cải mà được cưới làm vợ. Cuộc đời bà là cả một nỗi thống khổ. Với tâm hồn nhân hậu, sợ sệt, tế nhị, bà bị ngược đãi không ngừng bởi người đáng lẽ là cha tôi, là một trong những nông dân mà người ta gọi là quý tộc nhà quê. Lấy vợ được một tháng, ông sống với một người tớ gái. Ngoài ra, ông còn lấy vợ và con của các tá điền làm nhân tình, trong khi vợ vẫn sinh cho ông hai đứa con, nếu tính cả tôi nữa thì là ba. Mẹ tôi chẳng hó hé gì, trong căn nhà lúc nào cũng ồn ào này bà sống như những con chuột nhắt lén lút dưới bàn ghế. Mờ nhạt, ẩn khuất, run rẩy, bà nhìn mọi người bằng đôi mắt sáng đầy âu lo, luôn linh hoạt, đôi mắt hốt hoảng do nỗi sợ không rời. Tuy nhiên, bà đẹp, rất đẹp, mái tóc vàng, màu vàng xám, một sắc vàng  nhợt nhạt, chừng như tóc bà vì sợ hãi liên miên mà phai màu đi.

Trong số những người bạn hay lui tới lâu đài của ông de Courcils, có một cựu sĩ quan kỵ binh, goá vợ, người được nể sợ, dịu dàng và mạnh mẽ, có thể đưa ra những quyết định cương quyết nhất, đó là ông de Bourneval, mà tôi đang mang họ đây. Ông ấy cao lớn, mảnh khảnh, râu mép đen rậm. Tôi giống ông lắm. Ông đọc nhiều và tư tưởng của ông không giống chút nào những người cùng tầng lớp với ông. Bà cố của ông từng là bạn của J.J.Rousseau (1), và có thể nói là ông đã thừa hưởng chút gì từ mối quan hệ này của tiền nhân. Ông thuộc lòng "Khế ước xã hội" (2), "Héloïse mới" (3) và tất cả các sách thuyết lý chuẩn bị từ sớm sự đảo lộn sau này của các tập quán xưa cũ, các thành kiến, các luật lệ lỗi thời, nền luân lý ngu xuẩn.
Có vẻ như ông yêu mẹ tôi, và được yêu lại. Mối quan hệ này hoàn toàn bí mật đến độ không ai nghi ngờ gì. Người phụ nữ đáng thương, rầu rĩ, bị bỏ rơi, hẳn phải tuyệt vọng gắn bó với ông, mong nhờ sự giao thiệp này mà có được lối nghĩ, tư tưởng tình cảm tự do, yêu đương táo bạo, nhưng, do bản tính rụt rè, chẳng bao giờ bà dám lên tiếng, tất cả những điều kia bị dồn nén, cô đọng, ép chặt lại trong con tim không cởi mở bao giờ của bà.

Hai người anh của tôi, cũng như cha, đối đãi thô bạo với bà, chẳng lúc nào dịu ngọt, và ở trong nhà chẳng xem bà ra gì cả, phần nào chỉ xem là con ở thôi.
Tôi là con trai độc nhất yêu bà thực sự và được bà yêu.
Bà qua đời. Lúc đó tôi mười tám tuổi. Để anh hiểu chuyện tiếp theo, tôi phải nói thêm rằng chồng bà đã biết được sự tư vấn pháp lý quyết định việc phân chia tài sản có lợi cho mẹ tôi, nhờ vào sự vận dụng khôn khéo pháp luật và sự tận tụy thông minh của công chứng viên, bà được giữ quyền lập di chúc để lại tài sản theo ý mình.
Như vậy, chúng tôi được thông báo là bản di chúc hiện có tại văn phòng công chứng, và được mời tới nghe công bố.

Tôi còn nhớ như chuyện mới xảy ra hôm qua. Quang cảnh hôm đó thật long trọng, kịch tính, khôi hài, bất ngờ, dẫn dắt bởi sự phản kháng muộn màng của người đã khuất, bởi tiếng thét đòi tự do, bởi nguyện vọng từ đáy mồ của người phụ nữ thống khổ bị phong tục đè nén suốt cả cuộc đời, và giờ đây, từ chiếc quan tài đóng kín, cất lên tiếng gọi đầy tuyệt vọng kêu đòi độc lập.
Người lâu nay vẫn tự cho là cha tôi, to béo, đỏ lừ, gợi hình ảnh anh hàng thịt, và các ông anh tôi, hai chàng khoẻ mạnh hai mươi và hai mươi hai tuổi, ngồi yên trên ghế chờ đợi. Ông de Bourneval, được mời tới dự, bước vào ngồi sau lưng tôi. Người bó sát trong chiếc áo choàng, ông trông xanh xao, thỉnh thoảng nhay nhay bộ râu mép nay đã hơi bạc. Hẳn là ông đã biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.

Viên công chứng khoá kín cửa, mở chiếc phong bì gắn xi đỏ mà chính ông cũng không rõ nội dung, và bắt đầu đọc.
Đột nhiên bạn tôi ngừng lại, đứng lên đến ngăn kéo tủ lấy ra một mảnh giấy cũ, mở ra, hôn tờ giấy thật lâu, rồi mới nói tiếp. Đây là bản di chúc của người mẹ yêu quý của tôi.
"Tôi, ký tên dưới đây, Anne- Catherine- Geneviève- Mathilde de Croixluce, vợ hợp pháp của Jean- Léoplod-Joseph Gontran de Courcils, thể chất khoẻ mạnh, tinh thần tỉnh táo, bày tỏ ước nguyện cuối cùng của tôi như sau:
Trước tiên tôi cầu xin Chúa, sau đó là René con trai tôi, tha thứ cho hành động tôi sắp sửa phạm phải sau đây. Tôi nghĩ là con tôi đủ bao dung để hiểu và tha thứ cho tôi. Tôi đã đau khổ suốt đời. Chồng tôi đã cưới tôi vì tính toán, sau đó không ngừng khinh miệt, lạnh nhạt, ức hiếp, lừa dối tôi.
Tôi tha thứ cho ông ta, nhưng tôi không mắc nợ gì ông ta cả.
Những đứa con trai lớn của tôi không yêu thương, chiều chuộng tôi chút nào, chỉ bất đắc dĩ xem tôi là mẹ.
Suốt đời tôi, tôi đã đối xử với chúng như bổn phận phải làm, tôi chết đi cũng chẳng nợ nần gì chúng. Những mối quan hệ huyết thống không thể có được nếu không có tình thương bền vững, thiêng liêng, biểu lộ hàng ngày. Đứa con bất hiếu còn tệ hơn người dưng, mà là tên tội phạm, bởi nó không được phép tỏ ra dửng dưng với mẹ đẻ của mình.

Tôi lúc nào cũng run sợ trước nam giới, trước những luật lệ bất công, những thói quen bất nhân, những thành kiến bất lương của họ. Trước Thượng đế, tôi không còn sợ nữa. Chết đi, tôi vứt bỏ thói đạo đức giả đáng hỗ thẹn khỏi mình, tôi dám nói lên điều mình nghĩ, bộc bạch và chịu trách nhiệm bí mật của con tim.
Bởi lẽ đó, tôi chuyển cho ông Pierre-Germer-Simon de Bourneval, người tình yêu quý của tôi, toàn bộ phần tài sản mà luật pháp cho phép tôi sử dụng, để sau đó sẽ về phần con trai René thân yêu của chúng tôi.
(Ngoài ra ước nguyện này còn được ghi nhận cụ thể hơn trong một văn bản công chứng).

Và, trước Đấng phán xử tối cao đang lắng nghe tôi đây, tôi xin tuyên bố là lẽ ra tôi đã nguyền rủa đất trời và lẽ sống nếu tôi không nhận được tình thương sâu sắc, tận tuỵ, ngọt ngào, bền vững của người yêu của tôi, nếu trong vòng tay ông ấy tôi không hiểu được rằng đấng Sáng tạo đã tạo ra con người là để yêu thương nhau, che chở nhau, an ủi nhau, và để cùng khóc trong những giờ phút cay đắng.
Hai con trai lớn của tôi đã có cha là ông de Courcils. Chỉ René là con ông de Bourneval. Tôi cầu xin đấng Quyền uy của con người và số phận của họ hãy nâng cha và con vượt lên trên những định kiến xã hội và hãy khiến hai cha con yêu thương nhau cho đến cuối đời và yêu cả tôi trong quan tài nữa.
Đấy là ý nghĩ cuối cùng và ước nguyện cuối cùng của tôi.
MATHILDE DE CROIXLUCE".

Ông de Courcils đứng dậy la lớn: "Đây là di chúc của một người điên!". Ngay lúc đó, ông de Bourneval nhích lên một bước và tuyên bố, giọng rõ ràng, quả quyết:
"Tôi, Simon de Bourneval, tuyên bố rằng bản viết đó chứa đựng hoàn toàn sự thật. Tôi sẵn sàng bảo vệ nó trước bất cứ ai, và sẵn sàng chứng minh điều đó bằng số thư từ tôi đang giữ đây."
Ông de Courcils liền bước về phía ông. Tôi nghĩ là họ sẽ đánh nhau. Họ đứng kia, cả hai đều cao lớn, người mập, người gầy, đều giận run cả người. Chồng của mẹ tôi lắp bắp nói: "Đồ khốn nạn!". Người kia đáp trả, cũng giọng cương quyết và khô khan: "Chúng ta sẽ gặp nhau chỗ khác, thưa ông. Lẽ ra tôi đã tát vào mặt ông và thách đấu với ông từ lâu rồi nếu tôi không nghĩ đến, hơn mọi thứ, sự bình yên trong tâm hồn người phụ nữ tội nghiệp mà ông đã gây ra quá nhiều đau khổ".
Rồi, quay sang tôi, ông nói: "Con là con của cha. Con muốn đi theo cha không? Cha không có quyền đưa con đi, nhưng cha sẽ nhận trách nhiệm đó nếu con đồng ý đi theo cha.".
Tôi bắt tay ông mà không đáp. Và chúng tôi cùng ra về. Người tôi cứ lâng lâng.

Hai ngày sau, ông de Bourneval bắn hạ ông de Courcils trong cuộc thách đấu. Mấy người anh của tôi đã nín thinh vì ngại tai tiếng xấu xa. Tôi nhường cho họ và họ đã nhận một nửa gia tài mẹ tôi để lại.
Tôi lấy lại họ của người cha thực sự của tôi, từ khước cái họ không đúng mà luật pháp gán cho tôi.
Ông de  Bourneval mất đã năm năm rồi. Tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi buồn.

Bạn tôi đứng dậy, tiến vài bước tới ngồi trước mặt tôi: "Tôi cho rằng bản di chúc của mẹ tôi là một trong những thứ đẹp đẽ nhất, trung thực nhất, cao cả nhất mà một người phụ nữ có thể thực hiện. Ý anh chẳng phải vậy sao?"
Tôi chìa ra cả hai tay cho anh: "Vâng, chắc chắn là tôi cũng nghĩ thế, bạn ạ!"

GUY DE MAUPASANT
bản Việt ngữ: Thân Trọng Sơn
dịch từ nguyên bản "Le Testament/7 Novembre 1882.")
___________
(1)   J.J. Rousseau (1712-1778),nhà tư tưởng, nhà giáo dục học, nhà văn.
(2)   Khế ước xã hội, Contrat social, tiểu luận triết học chính trị của Rousseau, 1762.
(3)   Julie, ou la nouvelle Héloïse, tiểu thuyết, 1762.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSat Jul 06, 2019 7:50 pm

.

Thú nhận
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Marguerite de Thérelles sắp chết. Mặc dầu bà mới chỉ năm mươi sáu tuổi nhưng trông bà già như người hơn bảy mươi lăm. Bà thở hổn hển, mặt trắng bệch, người run bần bật, mặt co rúm lại, mắt nhớn nhác như thể có điều gì đó rất khủng khiếp đang hiện lên trước mắt bà. Đang quỳ gối cạnh giường khóc nức nở là chị cả của bà, Suzanne, lớn hơn bà sáu tuổi. Cạnh giường của người đang hấp hối, người ta đã kê sẵn một chiếc bàn con và thắp hai ngọn nến lớn trên đó, vì họ đang đợi cha xứ đến rửa tội và cầu nguyện cho người chết.

Ngôi nhà có vẻ buồn thảm thường thấy ở nhà có người sắp chết, cả ngôi nhà bao trùm một vẻ nặng nề buồn thảm. Những bình hoa bị vứt lên các nóc tủ, quần áo bị vứt vào các góc nhà, bị gạt qua loa vào đó bằng mấy cú đá chân hoặc mấy nhát chổi. Đồ đạc để ngổn ngang. Người đang hấp hối nằm đó, chờ đợi.
Câu chuyện của hai chị em nhà đó làm mủi lòng bất cứ ai biết chuyện. Người ta kể cho nhau nghe chuyện của họ và nó đã khiến cho biết bao người rơi nước mắt.
Suzanne, người chị cả, đã yêu say đắm một chàng trai trẻ và chàng trai này cũng si mê cô. Họ đã đính ước và chờ đến ngày lành làm lễ cưới thì bỗng nhiên Henry de Sampierre bỗng chết đột ngột.
Cô gái trẻ tuyệt vọng, khóc hết nước mắt, cô thề không lấy một ai nữa và cô đã giữ lời. Cô luôn mặc đồ đen như những người đàn bà góa để tang chồng và mặc nó suốt đến tận bây giờ.

Thế rồi, em gái cô, cô Marguerite, lúc đó mới mười hai tuổi, một sáng đã vào phòng chị gái, ôm chặt lấy chị và bảo: "Chị cả yêu quý, em không muốn chị đau khổ nữa, em không muốn chị buồn bã đau khổ mãi thế. Em sẽ không đi đâu nữa cả, cả em nữa, em cũng sẽ không đi lấy chồng và sẽ ở mãi bên chị. Em sẽ mãi mãi ở bên cạnh chị".
Suzanne ôm chặt lấy cô em gái bé bỏng, xúc động đến tận đáy lòng vì tình cảm của em gái, tuy rằng cô không tin em cô có thể làm thế.
Thế nhưng cô em gái cũng giữ đúng lời hứa, cô không lấy ai dù bố mẹ cô có van nài cầu khẩn, dù biết bao lời khuyên nhủ của họ hàng, cô không chịu kết hôn cùng bất cứ ai, dù cô vô cùng xinh đẹp và có biết bao chàng trai trẻ phải lòng cô, theo đuổi cô, ngỏ lời cầu hôn cô. Cô không lấy ai và không bao giờ rời xa cô chị.
Hai cô cùng sống một nhà và chưa bao giờ xa nhau dù chỉ một lần kể từ ngày đó. Họ luôn đi cạnh nhau, như một thể thông nhất không thể tách rời.
Nhưng Marguerite luôn có vẻ buồn bã, như có điều gì đó luôn đè nặng trong tâm can cô, cô trông còn ủ ê hơn cả chị gái mình, có vẻ như sự hy sinh cao thượng của cô đang gặm mòn cô, tàn phá cô. Cô già đi rất nhanh, cô bạc cả tóc ngay khi mới ba mươi tuổi và thường có những cơn buồn bã đau khổ, như thể đang bị rình rập giày vò bởi một điều tồi tệ nào đó.
Giờ cô lại là người ra đi trước.

Cô đã không nói gì nữa từ một ngày nay. Tảng sáng hôm nay, cô chỉ nói đúng một câu:
- Đi gọi cha xứ cho tôi, đến lúc rồi.
Rồi cô lại nằm im, co quắp lại căng cứng cả người lên, môi run lên bần bật như thể những lời khủng khiếp đang dâng lên mà bị ghìm chặt lại, không thể phát ra thành lời, mắt cô thất thần, thật đáng sợ khi nhìn cảnh đó.
Chị gái cô, lòng đau như cắt, khóc như mưa như gió, trán tì lên thành giường, nhắc đi nhắc lại:
- Margot, Margot khốn khổ của chị, em bé bỏng của chị!
Cô chị luôn gọi cô em là: "em bé bỏng" cũng như cô em luôn gọi cô chị: "chị cả".

Người ta nghe có tiếng chân bước lên cầu thang. Cửa mở ra và một lễ sinh xuất hiện, theo sau là một ông cha xứ mặc áo lễ. Ngay khi nhìn thấy họ, người đang hấp hối giật nảy mình, mở miệng lắp bắp, cào cào ngón tay vào thành giường.
Cha xứ Simon tiến lại gần, cầm lấy tay cô, hôn lên trán cô và nhẹ nhàng nói:
- Chúa tha thứ cho con, con thân mến, dũng cảm lên, đây là thời điểm thích hợp cuối cùng, hãy nói hết những gì con muốn nói, hãy thú tội một lần cuối cùng đi con.
Thế là Marguerite, run lẩy bẩy từ đầu đến chân như thể đang chịu một nỗi đau vò xé cùng cực, lắp bắp:
- Chị ngồi lên, chị cả của em, nghe này.

Cha xứ nghiêng người về phía Suzanne, cô này vẫn đang quỳ dưới chân giường, đỡ cô đứng lên, đỡ cô ngồi vào một chiếc ghế cạnh đó, và mỗi tay ông nắm lấy một tay của cả hai chị em, ông nói:
- Lạy Chúa, xin người cho họ sức mạnh, xin người khoan dung với họ.
Marguerite bắt đầu nói. Từng từ khàn khàn, giật cục thoát ra khỏi họng cô như khiến cô kiệt lực.
- Tha lỗi, tha lỗi cho em, chị cả, hãy tha lỗi cho em! Ôi! Giá chị biết được em đã kinh sợ biết mấy giờ phút này, suốt cuộc đời em!...
Suzanne, nói trong nước mắt:
- Em phải xin lỗi chị vì cái gì, em bé bỏng? Em đã hy sinh tất cả vì chị, em là một thiên thần...
Marguerite ngắt lời chị:
- Im nào chị cả! Đừng ngắt lời em! Xin đừng ngắt lời em! Hãy để em nói... đừng ngắt lời em... thật khủng khiếp... hãy để em nói ra... nói hết ra, ngồi im đi chị... nghe em nói... chị có nhớ... chị có nhớ... Henry...
Suzanne rùng mình ngang lên nhìn em gái. Cô em lại nói:
- Chị phải nghe hết thì mới hiểu được, Thuở đó, em mới mười hai tuổi, chỉ mới mười hai tuổi, chị nhớ rõ mà, phải không? Em rất được chiều, em chỉ làm những gì em muốn!... Chị có nhớ mọi người đã chiều em đến thế nào không?... Nghe nhớ... Lần đầu tiên khi anh ấy đến, anh ấy đi một đôi ủng bóng loáng, đến trước cửa nhà mình, anh ấy xuống ngựa, trông anh ấy thật tuyệt trong bộ quần áo kỵ sĩ, hôm đó anh ấy đến báo tin cho bố. Chị nhớ rõ mà, đúng không?... Đừng nói gì cả... nghe em đã. Khi nhìn thấy anh ấy, em đã phải lòng anh ấy ngay lập tức, em thấy anh ấy mới đẹp trai làm sao, và em đã đứng mãi ở góc phòng khách để ngắm anh ấy. Trẻ con thật... khủng khiếp thật... và em đã mơ mộng!...

Anh ấy còn quay lại nhiều lần nữa... em luôn dõi mắt theo anh ấy... luôn hướng về anh ấy với tất cả tâm hồn... và em còn bày ra nhiều mưu mẹo hơn là mọi người có thể tưởng được cơ... Anh ấy rất hay đến... Em chỉ còn nghĩ đến anh ấy... Em thường gọi tên anh ấy một mình:
- Henry... Henry Sampierre!
Rồi mọi người biết rằng anh ấy sẽ lấy chị. Đau khổ biết mấy... Ôi! Chị cả... một nỗi đau... một nỗi đau! Em đã khóc suốt ba đêm, không ngủ. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ đến chiều, sau bữa ăn trưa là anh ấy đến. Chị nhớ rõ mà, đúng không?... Đừng nói gì... nghe em đã. Chị thường làm bánh ngọt, thứ bánh mà anh ấy rất thích... Em thuộc lòng cung cách của anh ấy. Anh ấy nếm một miếng bánh, rồi hớp một ngụm rượu vang... rồi anh ấy nói: "Ngon tuyệt". Chị có nhớ anh ấy đã nói thế, như thế nào không?
Em đã ghen, ghen khủng khiếp!... Ngày cưới của chị đến gần. Chỉ còn mười lăm ngày nữa. Em phát điên phát rồ. Em tự nhủ: Anh ấy sẽ không cưới Suzanne, không, ta không muốn!... Anh ấy sẽ cưới ta, khi ta đã lớn. Ta sẽ chẳng bao giờ yêu ai nhiều như thế... Nhưng một tối, mười ngày trước ngày cưới, chị và anh ấy cùng đi dạo trước cửa lâu đài, dưới ánh trăng sáng tỏa... dưới bóng những cây thông lớn... Anh ấy ôm chị... hôn chị.... rất lâu... Chị nhớ chứ, đúng không? Chắc chắn đó là lần đầu tiên... đúng không... chị đã rất xúc động khi vào nhà!

Em đã nhìn thấy cả hai anh chị, lúc đó em đang ngồi ở trong một tán cây. Em đã đau khổ đến phát dại! Giá em có thể, em đã giết chết cả hai người! Em tự nhủ: Anh ấy sẽ không lấy Suzanne, không bao giờ! Anh ấy sẽ chẳng cưới bất cứ ai. Ta sẽ quá đau khổ... Và bỗng nhiên em bỗng thấy ghét anh ấy, ghét kinh khủng.
Và thế là chị có biết em đã làm gì không?... Hãy nghe. Em đã từng nhìn thấy người làm vườn làm những viên thịt băm để giết bọn chó đi hoang. Ông ấy lấy một hòn gạch, nghiền nhỏ một cái chai thủy tinh ra và nhét những mảnh thủy tinh được nghiền nhỏ đó vào trong một viên thịt băm.
Em đã lấy một cái chai thủy tinh đựng thuốc nhỏ ở phòng mẹ ra, và với một cái búa, em đã nghiền nát nó ra rồi em giấu phần thủy tinh bị nghiền nát đó vào túi áo. Đó là một chất bột lấp lánh sáng... Ngày hôm sau, khi chị đang làm những chiếc bánh nhỏ, em đã khoét một lỗ vào những chiếc bánh đó và em đổ bột thủy tinh vào đó... Anh ấy đã ăn ba chiếc... em cũng ăn, một chiếc... Em đã ném sáu chiếc xuống ao... hai con thiên nga cũng đã chết ba ngày sau đó... Chị nhớ không? Đừng nói gì hết... nghe em nói đã... nghe em đã... Chỉ có mỗi mình em, em đã không chết. Nhưng em mãi ôm yếu... chị nghe đã... Anh ấy chết... chị biết rõ mà... hãy nghe em nói... lúc đó điều đó chẳng có ý nghĩa gì mấy... nhưng sau đó... sau đó... thật khủng khiếp...

Suốt cuộc đời còn lại của mình, suốt cả cuộc đời mình... em đã đau khổ biết mấy! Em tự nhủ lòng: Ta sẽ không xa rời chị ta nữa. Và ta sẽ kể lại sự thật cho chị ấy nghe vào lúc ta sắp từ giã cõi đời... Và kể từ lúc đó, em đã luôn nghĩ đến giờ khắc này, cái thời khắc mà em sẽ phải kể lại tất cả... và thế là cuối cùng giờ khắc đó cũng đã đến rồi... Khủng khiếp quá... Ôi!... Chị cả!
Em đã luôn tự nhắc nhở mình, ngày cũng như đêm, sáng cũng như tối: Phải nói cho chị ấy biết điều đó... Và em đợi... khổ hình đó mới khủng khiếp làm sao!... Đừng!... Chị đừng nói gì hết.... Giờ em sợ... em sợ quá... Lát nữa nếu em gặp anh ấy ở dưới đó, khi em chết đi... em gặp anh ấy... chị có nghĩ đến điều đó không?... Em là người xuống trước... Em sẽ không dám đâu... Anh ấy sẽ... Em sắp chết... em muốn chị tha thứ cho em. Em muốn có được lời tha thứ của chị. Em không thể xuống đó đứng trước mặt anh ấy mà không có lời tha thứ của chị. Ôi! Hãy bảo anh ấy tha thứ cho con. Thưa Cha, hãy bảo anh ấy... Làm ơn bảo anh ấy. Con không thể chết mà không được tha thứ...
Cô im bặt, hổn hển thở, cào cào liên tục vào tấm ga trải giường bằng những ngón tay co quắp...

Suzanne giấu mặt vào trong tay, bất động. Cô nghĩ tới người yêu, người cô đã mãi yêu điên cuồng! Người mà lẽ ra đã cùng cô sống một cuộc sống vô cùng hạnh phúc! Cô như đang nhìn thấy anh, như trong quá khứ xa xưa, người yêu nhất đời của cô! Người đã làm con tim cô đau đớn đến thế! Ôi! Nụ hôn ấy, nụ hôn duy nhất! Cô đã giữ mãi nụ hôn ấy trong tâm khảm.
Bỗng ông cha xứ đứng dậy, bằng một giọng trầm, ngân vang, ông hô:
- Cô Suzanne, em gái cô đang hấp hối!
Suzanne ngẩng khuôn mặt đang giàn giụa nước mắt lên, lao đến bên em gái, rối rít hôn em, vừa hôn vừa lắp bắp:
- Chị tha thứ cho em, chị tha thứ cho em, em bé bỏng...
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSat Aug 10, 2019 8:45 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 1_123527

Lời thú nhận bất ngờ
- Guy de Maupassant (1850-1893)

Trong vụ án này quả là có điều gì đó rất thần bí mà bất cứ một bồi thẩm viên, một chánh án hay một quan kiểm sát nào cũng không thể hiểu được.

Cô gái có cái họ Bailutang và cái tên Keshali đó là đầy tớ gái làm việc trong nhà vợ chồng Walangbo ở Mangtai. Trong khi ông chủ nhà chưa kịp phát hiện, cô gái đã mang thai, và trong một đêm, cô đã sinh con ngay trên gác xép, sau đó giết chết đứa trẻ và chôn trong vườn nhà.
Các cô đầy tớ gái giết trẻ sơ sinh do mình đẻ ra là chuyện thường thấy, nhưng ở đây lại có một chi tiết không sao hiểu nổi. Trong một lần kiểm tra phòng ngủ của Keshali, người ta thấy có mấy bộ đồ trẻ sơ sinh hoàn chỉnh. Nó là do chính Keshali bỏ công ra cắt may suốt ba mươi buổi tối.

Vì phải làm chuyện này trong một thời gian quá lâu nên cô đã phải đổi những thứ chính mình làm ra đó lấy đèn sáp để dùng. Ông chủ cửa hàng tạp hóa bán đèn sáp đã tới nhà Walangbo làm chứng. Mặt khác người nhà Walangbo còn điều tra một bà đỡ trong thôn, người biết chuyện của Keshali, đã chỉ dẫn và bày vẽ giúp cho cô không đến nỗi trở tay không kịp trong tình huống mịt mù không ai trợ giúp. Bà mụ này còn tìm một chỗ cho cô gái Keshali ở thôn Baxi, bởi bà biết thế nào cô gái cũng bị sa thải, vì vợ chồng nhà Walangbo xưa nay vốn coi trọng đạo đức.
Hai ông bà chủ nhà đã đến tòa án. Họ thuộc tầng lớp tiểu tư sản tỉnh lẻ, đùng đùng nổi giận  mắng Keshali là con đĩ phá hoại thanh danh nhà họ! Họ muốn. chẳng cần xét xử gì, chỉ cần lấy khẩu cung của những người tố giác rồi chém đầu cô gái ngay lập tức!
Bị cáo là một cô gái xinh đẹp, thon thả, người xứ Normandy. Lúc này cô chỉ khóc chứ không nói gì cả.
Vì tất cả sự thực đều chứng minh rằng từ lâu cô đã muốn giữ lại và nuôi nấng đứa trẻ do mình sinh ra nên không ai tin là trong lúc thất vọng, cô ta lại điên cuồng hành động dã man như vậy.

Chánh án cố khuyên cô gái nói ra sự thực. Với thái độ hết sức hòa nhã, ông ta đã cảm hóa được cô gái, làm cho cô hiểu rõ, mọi người xét xử cô chẳng những không dồn cô vào chỗ chết mà còn có thể giải oan cho cô. Lúc đó cô ta mới để ý tới cuộc xét xử.
Ông Chánh án hỏi:
- Bị cáo, trước hết cô hãy cho Tòa biết cha đứa trẻ là ai?
Trước lúc ông Chánh án hỏi câu này, cô gái luôn che giấu, lúc này đột nhiên cô nhìn vợ chồng người chủ nhà vừa mới giận dữ buộc tội cô, đáp:
- Thưa quý tòa, đó là anh Yuese, cháu ngài Walangbo.
Hai vợ chồng chủ nhà nhảy dựng lên:
- Không đúng! Cô ta nói láo! Nó là một con đĩ.
Ông Chánh án yêu cầu hai người im lặng, đồng thời hỏi bị cáo:
- Nói tiếp đi, bị cáo! Cô hãy nói cho chúng tôi biết, chúng tôi phải làm sao đây?

Thế là cô gái lớn tiếng nói lời chống đối. Trước mấy người đàn ông nghiêm khắc bị cô ta coi là kẻ thù và vị Chánh án, trái tim nhút nhát của cô gái cuối cùng được khai mở, trái tim đáng thương, cô đơn lạnh lẽo bị xé nát bắt đầu thốt ra những lời thương cảm:
- Thưa tòa, đúng là Yuese, năm ngoái khi anh ta xin nghỉ phép về nhà.
- Yuese, anh ta làm gì?
- Anh ta là lính pháo binh, thưa ngài. Dạo đó anh ta ở nhà hai tháng. Hai tháng hè. Con, lúc đó con chẳng nghĩ gì hết; thoạt tiên anh ta chú ý đến con, sau đó anh ta thường nói với con những lời ngọt ngào âu yếm, sau nữa, suốt ngày anh tìm cách lấy lòng con. Con nghĩ, tất cả những chuyện đó đều rất tự nhiên. Anh ta nói con là người con gái đẹp nhất, người con gái làm cho anh ta rất thích… nói con vừa ý anh ta lắm! Với con, con cũng rất thích anh ta. Quả đúng là như vậy đấy ạ. Thưa ngài, ngài bảo con phải làm sao?...
Người con gái nghe những lời nói ấy đang là một người cô đơn… hoàn toàn cô đơn như con lúc đó… Con rất cô đơn trên thế giới này, thưa ngài… Nỗi buồn khổ của con, con không thổ lộ cùng ai được… Con không có cha, cũng không có mẹ, chẳng có anh chị em gì cả… không một ai hết! Vì vậy, mỗi khi có anh ấy bên cạnh, con đều coi anh ấy là người nhà. Thế rồi, có một tối anh ấy tha thiết rủ con ra bờ sông chơi để có thể nói chuyện thoải mái mà không ai biết. Vậy là con đi theo anh ấy, con có biết gì đâu? Con có biết chuyện gì sẽ xảy ra sau đó đâu? Anh ấy ôm con, nói, anh thực lòng… Quả tình là con không muốn… Không… không… con không thể… lúc đó tiết trời đẹp quá, ánh trăng mượt mà soi lên mặt đất… Con không thể cưỡng được…; anh ấy cứ làm theo ý mình… Những chuyện thế này kết thúc trước đây ba tuần, lúc anh ấy còn ở nhà… Con có thể cùng anh đi đến cùng trời cuối đất… Nhưng anh ấy bỏ con, đi một mình… Lúc đó con không biết là mình mang thai, con… mãi tới một tháng sau con mới biết!
Cô gái khóc nức nở, xem ra phải cần một chút thời gian để cô ta trấn tĩnh lại.

Ông Chánh án bằng thái độ của các giáo sĩ trước kẻ sám hối, nói:
- Nói tiếp đi.
Keshali nói:
- Khi con biết mình có thai, con báo ngay cho bà Budan, nói cho bà biết đầu đuôi câu chuyện và nhờ bà giúp cho chuyện không thể ngờ được này để con biết cách xoay xở trong lúc cần kíp. Về sau, hằng đêm con đều thức may áo cho đứa bé sắp ra đời, tới một giờ sáng mới đi ngủ. Ngày nào cũng như ngày nào. Rồi con tìm thêm việc bên ngoài, bởi vì con biết rất rõ thế nào con cũng bị sa thải; nhưng con vẫn phải ở lại đây để kiếm thêm ít đồng tiền công, nó rất cần cho đứa trẻ sau này…
- Thế ra, từ đầu bị cáo không có ý định giết đứa trẻ?
- Ôi! Thực lòng con không hề có ý  ấy, thưa ngài.
- Vậy sao bị cáo lại giết nó?
- Xin ngài hãy nghe con nói đây. Chuyện này đến sớm hơn theo tính toán của con. Lúc đang rửa chén bát trong nhà bếp, đột nhiên con trở dạ. Ông bà chủ đều đã ngủ; con vịn vào thành cầu thang cố sức lên lầu, cuối cùng con nằm vật ra trên sàn gác xép vì không muốn làm bẩn giường. Có lẽ con chịu đựng khoảng một, có khi là hai, cũng có khi là ba tiếng đồng hồ; con không biết gì nữa vì con đau quá; cuối cùng con cố sức tống nó ra ngoài, con có cảm giác là nó đã lọt ra, con liền ôm chặt lấy nó.

Chao ôi, lúc đó con vô cùng hạnh phúc! Con làm mọi việc theo chỉ dẫn của bà mụ. Rồi con đặt đứa bé lên giường. Đứa bé! Ai biết được sau một trận đau đớn kinh hoàng, một sinh linh thật đáng yêu ra đời như vậy! Đàn ông các người thích rong chơi, nếu biết kiểu đau đớn thế này chắc sẽ không còn thích thú làm chuyện đó nữa!
Con ngã xuống, nằm ngửa trên sàn nhà, cơn đau khủng khiếp lại diễn ra lần nữa, từng cơn từng cơn quặn thắt, con tưởng chừng như tắt thở thì đứa bé thứ hai ra đời. Con lại ôm lấy nó như với đứa trước, đoạn đặt nó lên giường. Con phải làm sao với hai đứa trẻ đỏ hỏn này đây? Ngài nói đi… con phải làm sao bây giờ? Một đứa thì còn cố tằn tiện nuôi được, nhưng hai đứa thì không thể. Chuyện này khiến cho đầu óc con mụ mị hẳn đi.
Ngài biết không, con còn biết lựa chọn cách nào đây? Xin ngài hãy nói đi! Ngài biết chứ, con nhìn thấy cái ngày mạt vận của con đã đến! Con lấy chiếc gối áp lên mặt chúng mà không hay biết gì… Con lăn lộn trên sàn khóc ngất và lịm đi… Khi con tỉnh lại, bầu trời đã sáng lên ngoài cửa sổ. Lúc đó cả hai đứa trẻ đã chết ngạt dưới gối. Con ôm xác chúng ra vườn, tìm cuốc đào một cái hố sâu, rồi đào tiếp một cái hố khác. Con không dám chôn chung bởi lo là chúng nó nằm cạnh nhau sẽ hỏi nhau về mẹ chúng! Những đứa trẻ sơ sinh mà chết kiểu này là thiêng lắm!
Sau cùng, con nằm bẹp trên giường không dậy được. Bác sĩ tới. Chuyện gì xảy ra ngài đã rõ, phải không ạ? Đây là tình huống thực, thưa ngài Chánh án. Xin ngài hãy làm những gì ngài muốn, con xin nghe theo!

Trong lúc bị cáo tường trình sự việc, một nửa số bồi thẩm viên thỉnh thoảng rút khăn tay xỉ mũi, lau nước mắt. Nhiều phụ nữ trong phòng xử án khóc rấm rứt, xót xa.
Ông Chánh án hỏi:
- Bị cáo, cô chôn đứa bé kia ở đâu?
Keshali hỏi ngược lại:
- Ngài đã tìm thấy đứa kia?
- Đứa trẻ đó chôn trong vườn rau cải trắng.
- Đúng thế ạ. Còn đứa kia thì chôn ở cạnh giếng nước.
Và rồi cô gái lại khóc thảm thiết, đến nỗi ai cũng mủi lòng khóc theo.
Kết thúc phiên tòa, cô gái họ Bailutang, tên Keshali được ông Chánh án tuyên vô tội.

- Trà Ly (dịch)
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeThu Aug 22, 2019 7:25 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) 2Q==

Khúc củi
– Guy de Maupassant (1850-1893)


Buồng khách nhỏ, chăng kín những tấm rèm dầy, phảng phất mùi thơm kín đáo. Trong lò sưởi lớn, lửa cháy rực, trong khi chỉ có một ngọn đèn đặt ở góc lò sưởi, che bởi một cái chụp bằng hàng ren cũ, hắt một thứ ánh sáng dịu nhạt xuống hai người đang ngồi nói chuyện.

Bà chủ nhà, một phụ nữ có tuổi, tóc bạc trắng, một kiểu bà già đáng mến, da chưa có một nếp nhăn nào, mịn màng như một tờ giấy, và thơm, thắm đượm mùi thơm. Những tinh hương nhuần nhị mà bà tắm gội, như ngấm sâu vào da thịt từ rất lâu rồi: một bà già mà khi người ta hôn tay bà, thì thấy phả ngay vào mũi một mùi thơm nhẹ như khi mở một hộp phấn ướp mùi hoa kim ngân vậy.
Ông khách, một người bạn cũ ngày xưa, độc thân, một người bạn tuần nào cũng đến, một người đồng hành trong cuộc sống, chỉ như thế, không có gì hơn. Hai người đã ngừng nói chuyện được khoảng một phút, và cả hai đều nhìn ngọn lửa, mơ màng đến một chuyện gì đó, một trong những khoảnh khắc im lặng bạn bè, giữa những con người không cần phải nói luôn để cho vui khi ngồi bên nhau.

Đột nhiên một khúc củi lớn, một cái gốc lởm chởm những rễ đang cháy ngùn ngụt, bỗng đổ sập xuống. Khúc củi văng qua cái chắn tàn tro và lăn trên tấm thảm giữa phòng khách, làm bắn ra chung quanh những tàn lửa đỏ rực.
Bà chủ nhà, thốt một tiếng kêu khẽ, vùng đứng lên như muốn chạy, trong khi ông bạn, dùng chân đi ủng hất khúc củi cháy vào trong lò sưởi và dùng đế ủng dập tắt những vụn than hồng văng ra chung quanh.
Khi việc tai hại ấy đã qua, một mùi cháy khét lẹt tỏa khắp phòng, người đàn ông lại ngồi xuống trước mặt bà bạn mình, nhìn bà, mỉm cười:
– Thế đấy, – ông vừa nói vừa chỉ cái khúc củi cháy vừa được hất vào trong đám lửa, – chính vì thế mà tôi không bao giờ lấy vợ.
Bà hết sức kinh ngạc, nhìn ông ta bằng con mắt tò mò của những người đàn bà muốn tìm hiểu, cái con mắt đàn bà không còn trẻ trung nữa mà trong đó sự tò mò có suy tư, phức tạp nhiều khi tinh quái, và bà hỏi:
– Tại sao lại thế?
Ông nói tiếp:
– Ôi chao! Đó là cả một câu chuyện, một câu chuyện khá rắc rối và buồn.

Những bè bạn cũ của tôi thường vẫn rất ngạc nhiên về sự lạnh nhạt đột ngột xảy đến giữa một trong những người bạn rất tốt tên là Duyliêng với tôi. Họ không hiểu vì sao hai người thân thiết nhau, không rời nhau như chúng tôi, mà đột nhiên, đối với nhau lại trở thành gần như xa lạ. Đây là cái điều bí ẩn của sự rời xa nhau của chúng tôi.
Trước kia, anh ta với tôi cùng ở chung. Chúng tôi không rời nhau bao giờ, và tình bạn ràng buộc chúng tôi bền chặt đến nỗi tường như chẳng có gì làm cho tan vỡ được.
Một buổi tối, về nhà, anh báo với tôi về các cuộc hôn nhân của anh.
Tôi bị một cú đánh vào giữa ngực, dường như anh ta đã đánh cắp của tôi, hoặc lừa dối tôi. Khi một người bạn lấy vợ, thế là hết, thật hết. Cái tình yêu ghen tuông của người đàn bà, cái tình mến yêu mù tối, đầy ưu tư và nhục dục ấy không tha thứ cho một sự kết bạn bền chặt, chân thật, cái tình thân thiết của tư duy, tình cảm và lòng tin cậy tồn tại giữa hai người đàn ông.
Bà xem đấy, thưa bà bạn, dù cho mối tình ràng buộc người nọ với người kia thế nào đi nữa, người đàn ông và người đàn bà đối với nhau vẫn xa lạ về tâm hồn và trí tuệ; họ vẫn là hai phía tương tranh, họ vẫn thuộc những chủng loại khác biệt. Bao giờ cũng phải có một người chinh phục và một người bị khuất phục, một ông chủ và một người nô lệ; khi thì là người này, khi thì là người kia; họ chẳng bao giờ bình đẳng. Họ siết chặt tay nhau, những bàn tay run rẩy tình cảm sôi nổi; chẳng bao giờ họ siết chặt tay nhau trong cái siết tay khoáng đạt, thẳng thắn; từ trong cái siết tay ấy dường như mở rộng lòng mình, bộc lộ trái tim họ trong niềm tin yêu chân thực và mạnh mẽ rất đàn ông. Những người khôn ngoan, thay vì lấy vợ để tạo sẵn cho mình cái nguồn an ủi trong tuổi già là sinh sôi ra những đứa con mà sau này chúng sẽ bỏ mặc họ, thì họ tìm một người bạn tốt, tin cậy chắc chắn, sống những ngày tuổi già với bạn trong một sự cộng đồng về tư tưởng chỉ có thể có được giữa hai người đàn ông.
Vậy là anh bạn Duyliêng của tôi lấy vợ. Cô vợ trắng trẻo xinh tươi, người mũm mĩm, có vẻ rất yêu anh. Thoạt đầu, tôi rất ít đến nhà, sợ làm trở ngại cho tình yêu nồng nàn của họ, mà tôi cũng cảm thấy mình là người quá thừa trong họ. Tuy vậy, dường như họ cũng muốn kéo tôi đến gần, mời mọc tôi luôn và cũng có vẻ mến tôi.

Dần dần tôi cũng để mình bị chinh phục bởi cái thú êm đềm của cuộc sống chung ấy. Tôi thường ăn cơm tối ở nhà họ, và cũng thường thường trở về nhà riêng của tôi ban đêm, tôi đã nghĩ là đến phải làm như anh bạn, phải lấy một người vợ, vì thấy căn nhà trống trải của mình bây giờ trở nên buồn tẻ quá.
Họ thì tỏ ra âu yếm nhau, không rời nhau nữa. Thế rồi, một buổi tối, Duyliêng viết thư mời tôi đến ăn cơm. Tôi đến.
– Này cậu, – anh nói – ăn xong mình phải đi có việc. Mình sẽ không về được trước 11 giờ khuya đâu, mà đúng 11 giờ mình mới về. Mình tin có cậu để ngồi chơi nói chuyện với Béctơ.
Người vợ trẻ mỉm cười:
– Thế mà chính em có ý kiến mời anh đến đấy. – chị tiếp.
Tôi bắt tay chị:
– Chị thật có nhã ý.
Và tôi cảm thấy những ngón tay mình được nắm giữ lâu và chặt trong một cái bắt tay thân thiết. Tôi không để ý đến điều ấy, mọi người ngồi vào bàn ăn. Đến 8 giờ, Duyliêng tạm rời chúng tôi, ra đi.
Anh ta vừa đi khỏi, một sự ngượng ngập khác thường đột nhiên nảy sinh giữa chị vợ anh ta và tôi. Chúng tôi chưa bao giờ chỉ ngồi hai người với nhau. Và mặc dầu, tình bạn mỗi ngày có thân thiết hơn, nhưng cái việc ngồi riêng với nhau như thế này, đặt chúng tôi vào một tình thế mới.

Thoạt đầu, tôi nói những chuyện đâu đâu, những chuyện vô nghĩa mà người ta vẫn lấp những khoảng vắng lặng bối rối. Chị không nói gì và ngồi trước mặt tôi, phía bên kia lò sưởi, đầu cúi xuống nhìn lơ đãng, một chân duỗi về phía ngọn lửa, như lạc trong những suy ngẫm khó khăn nào. Khi đã cạn những chuyện lan man rồi, tôi cũng nín thinh. Thật lạ lùng là đôi khi lại rất khó tìm được một chuyện gì đó để mà nói. Và rồi, tôi lại cảm thấy trong bầu không khí, tôi cảm thấy cái vô hình, một cái gì không thể diễn giải được, những dấu hiệu bí ẩn nó báo trước cho anh những ý đồ kín nhẹm tốt hoặc xấu, của một người khác đối với anh.
Cái im lặng nặng nề ấy kéo dài một khoảng thời gian. Rồi sau, Béctơ bảo tôi:
– Cho thêm một khúc củi vào lò, anh bạn, anh cũng thấy là lửa sắp tắt rồi.
Tôi mở cái thùng đựng củi – cái thùng cũng để đúng như chỗ để cái thùng củi của bà đây – tôi lấy một khúc củi lớn nhất dựng theo hình tháp trên những khúc khác đã cháy được đến ba phần tư rồi.
Và cái im lặng lại bắt đầu.

Mấy phút sau, khúc củi cháy rừng rực, đến nỗi làm nóng cả mặt.
Người thiếu phụ trẻ ngước đôi mắt nhìn tôi, đôi mặt mà tôi thấy rất lạ lùng.
– Nóng quá, – chị nói – chúng ta ra chỗ cái ghế dài kia đi.
Vậy là chúng tôi ra ngồi trên cái ghế dài (1).
Rồi đột nhiên, nhìn thẳng vào mặt tôi:
– Anh sẽ làm gì nếu có một người đàn bà bảo anh là cô ta yêu anh?
Tôi rất sửng sốt trả lời:
– Ôi chao! Trường hợp như thế đột ngột quá. Vả lại, cũng phải tùy xem là người đàn bà thế nào chứ!
Thế là chị ấy cười, một cái cười ròn khô, kích động run rẩy, một trong những cái cười lạc lõng, giống như tiếng vỡ của những cốc thủy tinh mỏng.
Và chị nói tiếp:
– Đàn ông chẳng bao giờ táo bạo, cũng không tinh khôn. – Chị ngừng lại rồi tiếp – Anh đã từng yêu bao giờ chưa, anh Pôn?
Tôi thú thật:
– Có, tôi đã từng yêu.
– Anh kể lại cho em nghe nào. – Chị nói.
Tôi kể cho chị nghe một chuyện yêu đương nào đó, chị chăm chú lắng nghe, luôn có những dấu hiệu tỏ vẻ không tán đồng và khinh thị, rồi đột nhiên, chị nói:
– Không, anh không hiểu đúng tình yêu. Tình yêu thắm thiết, em nghĩ, phải là cái tình yêu làm điên đảo trái tim, vò xé thần kinh, tàn phá đầu óc, nó phải là… nói thế nào nhỉ?… nguy hiểm, ghê gớm nữa, gần như là phạm tội hoặc vô luân ấy, nó phải như kiểu bội phản, em muốn nói là nó phải đạp đổ mọi trở ngại thiêng liêng, mọi luật lệ, mọi liên hệ anh em ruột thịt. Khi mà tình yêu còn phẳng lặng, dễ dãi, không hiểm họa, hợp pháp, thì có phải đúng là tình yêu không?
Tôi chẳng biết trả lời thế nào, từ trong thâm tâm mình thốt lên cái lời kêu than triết lý này: “Ôi! Trí óc đàn bà, các cô giỏi thật”.
Trong khi nói, chị lấy vẻ thản nhiên, làm bộ ngây thơ, và tựa mình trên gối, chị nằm dài, ngả đầu trên vai tôi, áo khoác ngoài vén hơi cao để lộ bắp chân với cái bít tất lụa màu đỏ, chốc chốc lại lấp loáng phản chiếu ánh lửa trong lò sưởi.
Khoảng chừng một phút.
– Em làm anh sợ ư? – Chị hỏi.
Tôi chối. Chị áp ngực, ngả hẳn vào lòng tôi và không nhìn tôi:
– Nếu em bảo anh là em yêu anh, anh làm thế nào?
Và trước khi tôi tìm được câu trả lời, hai cánh tay chị đã ôm lấy cổ tôi kéo đầu tôi xuống, và đôi môi chị gắn chặt vào môi tôi.

Ôi chao! Bà bạn thân mến của tôi, tôi xin trả lời bà là tôi không đùa giỡn đâu. Sao? Lừa dối Duyliêng ư? Trở thành người yêu của cái cô nàng điên dại, gian tà và quỷ quyệt này, cô nàng dâm dật một cách khủng khiếp, hẳn thế, mà người chồng bây giờ không đủ thỏa mãn cho cô nữa.
Tiếp tục lừa đảo, dối trá, chơi cái trò yêu đượng chỉ với mỗi cái thú hấp dẫn của cái quả cấm, của những vụ thoát hiểm, của một tình bạn phản phúc. Không! Điều ấy tôi không làm được. Nhưng làm thế nào đây?
Bắt chước vai trò Giôdép (2), đóng vai rất ngốc và cũng rất khó khăn ấy ư? Vì chị ta thật là bạo liệt trong cái sa ngã của mình, người con gái ấy bừng bừng ngọn lửa ham muốn, thèm khát, mê cuồng, làm thế nào cưỡng lại?
Ôi, ai chưa từng bao giờ được cảm thấy trên miệng mình cái hôn đắm sâu của một người đàn bà sẵn sàng hiến thân cho mình thì đừng chửi rủa tôi.
Thế rồi, thêm một phút nữa… bà hiểu chứ? Chỉ một phút nữa, là tôi đã… Không, chị ấy đã… xin lỗi, thật chính là chị ấy đã… hoặc có thể đã… thì bỗng nhiên một tiếng động kinh khiếp làm chúng tôi giật nẩy người.
Cái khúc củi, vâng cái khúc củi, thưa bà, văng ra ngoài phòng khách, hất đổ cái xẻng. làm sập cái giàn chắn than, lăn tròn như một cơn bão lửa, làm cháy tấm thảm trải sườn nhà, rồi lăn vào gần một cái ghế bành, mà nhất định là nó sẽ làm bốc cháy.
Tôi vùng dậy như một thằng điên, và trong khi tôi đẩy vào trong lò sưởi cái khúc củi cháy đỏ cứu tinh ấy thì cửa ra vào xịch mở.
Duyliêng rất hoan hỉ trở về. Anh reo lên:
– Mình được nghỉ rồi! Công việc xong sớm trước hai giờ!
Vâng, thưa bà bạn, không có khúc củi thì tôi bị tóm quả tang rồi. Và bây giờ bà thấy hậu quả của việc ấy đấy.

Vì rằng ngày ấy tôi đã có cách xử sự để không bao giờ rơi vào một tình thế giống như vậy nữa. Không bao giờ! Thế rồi, tôi nhận thấy đối với tôi, Duyliêng trở nên nhạt nhẽo, làm mặt lạnh như kiểu người ta nói. Vợ anh rõ ràng đã phá hoại tình bạn giữa chúng tôi. Và dần dần tôi xa lánh nhà anh, sau thì không nhìn mặt nhau nữa.
Tôi không bao giờ lấy vợ. Bây giờ thì điều ấy hẳn không làm bà kinh ngạc nữa.

Mạc Mạc dịch

(1) Canapé: một thứ ghế dài có lưng tựa và bọc nệm, có thể ngả người nằm.
(2) Joseph: nhân vật trong Kinh Thánh. Sách Sáng Thế Ký kể rằng: Joseph rất đẹp trai, bị bán qua xứ Ai Cập, làm nô lệ cho quan thị vệ. Vợ ông quan này ham muốn Joseph, nên lợi dụng lúc vắng người, nắm áo chàng đòi hỏi chuyện yêu đương. Chàng bèn cởi bỏ áo để ra đi.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeTue Aug 27, 2019 10:05 am

.


Cuộc gặp gỡ
– Guy de Maupassant (1850-1893)


Viết cho Édouard Rod

Hoàn toàn tình cờ. Ông nam tước Étraille, mệt mỏi vì phải đứng quá lâu, dạo bước đi tham quan tất cả các phòng của công nương, vì trong ngày lễ, tất cả các buồng trong nhà công nương đều để ngỏ, và cuối cùng đi vào phòng ngủ vắng lặng và gần như có thể nói là tối tăm sau khi vừa ra khỏi các phòng khách sáng rực đèn hoa.

Ông tìm một chiếc ghế sô-pha để ngả lưng, chắc chắn là vợ ông sẽ không chịu rời khỏi buổi tiệc trước bình minh. Ông nhận thấy ngay từ lúc vừa bước đến cửa một chiếc giường lớn được khảm lá ngọc hoa vàng, chiếc giường được đặt giữa phòng rộng, gần giống như một chiếc quan tài lớn nằm giữa nhà táng, nơi đó hẳn đã chôn vùi tình yêu của công nương vì công nương không còn trẻ nữa. Phía sau giường là một mảng sáng gây cảm giác như nhìn ra một hồ nước mênh mông qua một chiếc cửa sổ cao. Đó là một chiếc gương, rất lớn, lấp sau những tấm rèm nặng, đôi khi người ta thả những tấm rèm đó xuống, nhưng thường thì những tấm rèm đó được vén lên. Tấm gương là nhân chứng, là tòng phạm trong mọi việc đã từng diễn ra nơi đây. Người ta có thể nói rằng những tấm gương có kỷ niệm, có những buồn vui. Như trong những lâu đài bị ma ám, người ta sẽ có thể trông thấy những khuôn mặt phẳng lừ, những bóng hình phơ phất, những vòng tay âu yếm, những bóng dáng phụ nữ xinh đẹp quyến rũ với áo khăn hững hờ, những cái siết mạnh của những vòng tay đam mê.

Nam tước đứng im, hơi xúc động một chút khi đứng ở ngưỡng cửa tình yêu này. Nhưng đột nhiên, một cái gì đó hiện lên trong gương như thể những bóng ma đã được dựng dậy trước mặt ông. Có một người đàn ông và một người phụ nữ đang ngồi trên một chiếc trường kỷ rất thấp được đặt trong một góc tối, họ đứng lên. Và chiếc gương, một tấm kính trong suốt, phản chiếu bóng hình họ, chiếu hình họ đang cùng đứng dậy, hôn môi đầy tình tứ trước khi tạm biệt.
Nam tước nhận ra đó là vợ ông và bá tước Cervigné. Ông quay đi, lánh đi vì ông bá tước là người mạnh mẽ và là cấp trên của ông. Ông đợi cho trời sáng để đưa bà nam tước về nhưng giờ ông không còn thấy buồn ngủ nữa.
Ngay khi chỉ còn lại mình ông với vợ, ông bảo cô:
- Thưa cô, tôi vừa trông thấy cô trong phòng ngủ của công nương Raynes. Không cần phải giải thích gì hết. Tôi không muốn trách mắng, đánh chửi, chế giễu gì cô. Để tránh tất cả những phiền nhiễu khó chịu đó, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ chia tay nhau một cách lặng lẽ, không ầm ỹ. Các luật sư sẽ giải quyết rất nhanh gọn theo lệnh của tôi. Cô sẽ nhanh chóng được tự do sống theo sở thích của mình, nhưng không phải dưới mái nhà của tôi. Nhưng tôi cũng báo trước cho cô biết, nếu cô còn gây ra một vụ tai tiếng nào khi còn đang mang tên họ của tôi, tôi sẽ phải dùng tới các biện pháp cứng rắn với cô.
Cô muốn nói, nhưng ông ngăn cô lại, cúi đầu chào một cách vô cùng lịch sự, ông bỏ về phòng riêng ngay.

Ông cảm thấy ngạc nhiên và buồn nhiều hơn là cảm thấy đau khổ. Ông đã từng yêu cô biết mấy trong thời gian đầu mới lấy nhau. Nhưng rồi sự cuồng nhiệt đó cứ nguội lạnh dần theo thời gian. Và giờ đây, với cô, ông có những tình cảm biến đổi rất thất thường, lúc thì rất yêu, lúc lại thấy bình thường, vô cảm, tuy nhiên ông vẫn luôn tỏ ra yêu quý cô.
Cô còn quá trẻ, cô mới chỉ vừa hai mươi tư tuổi, nhỏ nhắn, xinh xắn với mái tóc vàng như ánh nắng mặt trời, gày nhỏ, quá gày. Cô là mẫu điển hình của búp bê Paris, rất xinh đẹp, rất được yêu chiều, lịch lãm, đỏm dáng, khá hóm hỉnh, rất duyên dáng. Đã có lần, trong một lần tâm sự với anh trai, ông đã nói một cách thân mật về cô: "Vợ em vô cùng duyên dáng, quyến rũ, chỉ có điều... cô ấy sẽ không thể nằm lâu trong tay bất cứ ai. Cô ấy giống như những ly rượu sâm panh đầy bọt. Khi ta đã uống cạn đến đáy, dù sao cùng tốt, nhưng hơi quá ít".
Ông đi đi lại trong phòng, bồn chồn và nghĩ đến hàng nghìn điều. Đến lúc này, cơn giận dữ mới dâng lên trong lòng ông, và ông mong muốn cồn cào được nói toáng lên điều bí mật đó để phá tan sự nghiệp của tên bá tước, để dồn hắn vào tròng. Rồi ông tự nhận thấy nếu ông làm điều đó, thì người bị cười nhạo trước tiên sẽ là ông chứ chẳng phải ai khác. Sự ngoại tình của vợ làm tổn thương tính kiêu căng của ông nhiều hơn là làm ông đau lòng. Ông lên giường đi nằm nhưng không sao chợp mắt được.

Một vài ngày sau, ở Paris mọi người biết rằng ông và bà nam tước thuận tình ly hôn vì không hợp nhau. Không ai nghi ngờ gì, không ai bàn tán gì, và cũng chẳng ai lấy làm ngạc nhiên gì.
Tuy nhiên, để tránh những cuộc gặp mặt có thể khiến ông thấy khó xử, ông nam tước đã lên đường đi du lịch. Mùa hè năm đó ông đi tắm biển, mùa thu ông đi săn và ông trở về Paris vào mùa đông. Suốt cả năm đó, ông không hề gặp lại vợ mình.
Ông thấy rằng mọi người chẳng hề dị nghị gì về cô. Ít nhất thì cô cũng đã để ý giữ thể diện. Ông đã không đề nghị cô làm điều đó.
Buồn chán, ông lại lên đường đi du lịch, ông tu sửa lại lâu đài của ông ở Villebon, việc tu sửa đó đã khiến ông mất đến hai năm; rồi ông mời bạn bè đến đó chơi, ít nhất ông cũng mất đến mười lăm tháng dài chơi bời thiết đãi bạn bè. Nhưng mệt mỏi vì những trò vui đã nhàm, ông quay về ngôi nhà ở phố Lille sau sáu năm ly dị.
Giờ ông đã bốn mươi lăm tuổi, vẫn còn khá tráng kiện với mái tóc đã lốm đốm bạc, hơi có bụng. Sầu muộn, chán nản, không còn thấy hứng thú gì với bất cứ ai, bất cứ cái gì.

Một tháng sau khi về Paris, ông bị cảm lạnh và húng hắng ho vì một hôm đi chơi về khuya. Bác sĩ đề nghị ông về Nice nghỉ qua mùa đông.
Thế là ông lại lên đường vào một buổi tối thứ hai, trên một chuyến tàu tốc hành.
Ông đến muộn, khi ông đến nơi, đoàn tàu đang bắt đầu lăn bánh. Chỉ còn có một chỗ trên khoang phụ. Ông đi lên, sâu phía trong đã có người ngồi, người đó quấn kín trong bộ áo lông thú và măng-tô nên ông thậm chí không đoán nổi đó là một phụ nữ hay một người đàn ông nữa. Khi thấy rằng ông sẽ không biết gì hơn về người bạn đồng hành, tới lượt mình, ông cũng tìm một tư thế cho thuận tiện, bỏ chiếc mũ rộng vành đi đường của mình xuống, mở chăn ra, quấn chặt mình trong chăn và ngủ thiếp đi.

Mãi đến khi bình minh lên ông mới tỉnh giấc. Ngay khi vừa tỉnh giấc, ông nhìn ngay sang chỗ người đồng hành, người này vẫn nằm yên ở tư thế từ hôm trước không hề cựa quậy và vẫn có vẻ đang say giấc nồng.
Ông Étraille tranh thủ thời gian để làm vệ sinh buổi sáng, chải lại râu tóc, và ngắm nghía khuôn mặt mình, sau có một đêm mà khuôn mặt đã thay đổi biết mấy, khuôn mặt có vẻ thay đổi thật nhanh khi người ta nhiều tuổi.
Một nhà thơ lớn từng nói: Khi ta trẻ, mỗi buổi sáng thức dậy, ta đều thấy hân hoan vui sướng!
Khi người ta trẻ, khi thức giấc ta thấy cuộc sống thật vô cùng tươi đẹp, với làn da rạng rỡ, với đôi mắt sáng long lanh, với mái tóc rực rỡ đầy sức sống.
Khi người ta già, mỗi sáng thức dậy, ta thấy mọi vật đều ảm đạm thê lương, đôi mắt lờ đờ, má phình phình đỏ, môi dày trễ nải, tóc tai bù xù và râu ria xồm xoàm khiến cho khuôn mặt có một vẻ già nua, mệt mỏi.
Nam tước mở hộp đồ dùng cá nhân ra, lấy ra một cái lược và chải qua loa râu tóc một chút. Rồi ông ngồi đợi.

Tàu hú một hồi dài rồi ngừng hẳn lại. Người đồng hành cựa quậy, hẳn là người đó đã thức giấc. Một ánh nắng xiên chéo vào trong toa, gần như chiếu thẳng vào người đang say ngủ, người này lại cựa quậy, và lúc lắc đầu như một chú gà con đang chui ra khỏi vỏ, cuối cùng thò cả mặt ra ngoài.
Đó là một phụ nữ trẻ, tóc vàng, da dẻ mịn căng, rất xinh đẹp và đậm người. Cô ngồi hẳn dậy.
Nam tước sững sờ nhìn cô. Ông không tin nổi vào mắt mình nữa, trước mặt ông là... đích thị là cô vợ cũ của ông, nhưng đã hoàn toàn thay đổi một cách đáng ngạc nhiên... so với trước đây, cô đã béo lên rất nhiều, béo nhiều hơn cả ông nữa.
Cô điềm tĩnh nhìn ông, có vẻ như không nhận ra ông, bình thản gấp lại chăn, áo cho gọn.
Cô có vẻ bình thản và vô cùng tự tin, một vẻ bình thản tự tin ở một phụ nữ hoàn toàn rất tự tin vào bản thân mình.
Nam tước hoàn toàn mất bình tĩnh.
Phải đó là vợ ông không? Hay đó chỉ là một người giống cô ấy? Ông đã không gặp lại cô từ sáu năm nay rồi, có thể ông nhầm.
Cô ngáp dài, ông quen biết mấy cử chỉ này.
Nhưng một lần nữa, cô quay về phía ông và nhìn ông, một cái nhìn lạnh lùng, không cảm xúc của một người nhìn một người lạ mà mình không quen. Rồi cô quay sang ngắm cảnh nông thôn.
Ông hoàn toàn bất ngờ và vô cùng bối rối. Ông ngồi và thỉnh thoảng lại lén nhìn trộm cô.

Nhưng rõ ràng là vợ ông mà, Chúa ơi! Sao ông có thể nhầm lẫn được cơ chứ? Không thể có hai người có cùng một cái mũi giống nhau đến thế. Hàng nghìn kỷ niệm lại ùa về, kỷ niệm về những cái vuốt ve âu yếm, những chi tiết nhỏ trên cơ thể của cô, một nốt ruồi nhỏ giữa ngực và một cái khác nằm trên lưng đối xứng với cái trước ngực. Ông đã hôn lên chúng biết bao lần! Ông lại cảm thấy cảm giác ngất ngây sung sướng thuở xưa, ông như thoáng ngửi thấy mùi hương cơ thể cô, như đang thấy miệng cô cười khi cô vòng tay ôm cổ ông, như đang nghe giọng nói ngọt ngào thỏ thẻ của cô bên tai, như cảm thấy những vuốt ve yêu đương trên da thịt.
Nhưng cô mới thay đổi biết mấy, đẹp lên rất nhiều, đúng là cô nhưng lại như không còn phải là cô nữa. Ông tìm lại được một phụ nữ chín chắn hơn, đằm thắm hơn, đàn bà hơn, quyến rũ hơn rất nhiều.
Vậy mà người phụ nữ xa lạ kia, người phụ nữ mà ông gặp một cách tình cờ trên toa tầu này đã từng là của ông, đã từng thuộc về ông cả thể xác lẫn linh hồn. Ông chỉ cần nói: "Tôi muốn" là có thể có được cô.
Xưa kia, ông đã từng nằm ngủ ngon lành trong vòng tay kia, từng sống trong tình yêu của cô. Giờ đây ông đã tìm lại được cô, đã thay đổi đến mức ông phải khó khăn lắm mới nhận ra được. Đó vừa là cô, vừa là một con người khác: một người vừa mới được sinh ra, lớn lên, trưởng thành từ ngày ông lìa xa cô. Đó chính là cô gái mà ông đã từng sở hữu, ông đã nhận ra được phong thái đã khá đổi khác của cô, nụ cười đã bớt yểu điệu, cử chỉ đã tự tin hơn. Đó là hai người phụ nữ trong một con người, hòa lẫn trong một người đó là một phụ nữ hoàn toàn xa lạ và một người phụ nữ mà ông đã từng vô cùng yêu quý. Điều đó thật lạ lùng, gây nhiều bối rối. Đó chính là vợ ông trong một cơ thể mới, trong một da thịt mới, cái da thịt mà môi ông chưa từng chạm vào.

Quả thật, ông nghĩ, trong sáu năm chúng ta đã thay đổi biết mấy. Ngay cả đến cảnh vật sau sáu năm có thể có cảnh vẫn nguyên như cũ nhưng cũng có thể có cảnh đã hoàn toàn biến mất nữa là.
Máu, tóc, da, tất cả đều có thể thay đổi, tất cả đều có thể đổi khác. Và khi lâu ngày không gặp lại, người ta có thể gặp lại được một con người hoàn toàn khác, dù rằng ông vẫn thế và ông vẫn mang tên họ cũ.
Và con tim cũng có thể đã thay đổi, tư tưởng tình cảm cũng có thể đã đổi khác rất nhiều, có thể đã đổi mới đến nỗi mà ở tuổi bốn mươi, dần dần, một cách chắc chắn, mỗi người đã có thể biến đổi thành bốn năm con người mới hoàn toàn khác so với con người cũ.
Ông suy nghĩ và rung động đến tận tâm can. Kỷ niệm về buổi tối xưa cũ ở nhà công nương lại tràn về, hôm đó ông đã không hề phẫn nộ. Nhưng hôm nay, trước mặt ông không còn là cô búp bê Paris mỏng manh xinh xắn hồi đó nữa rồi.
Ông sẽ làm gì? Ông sẽ nói gì với cô? Ông sẽ xử sự với cô thế nào? Chẳng lẽ cô hoàn toàn không nhận ra ông sao?

Tàu lại dừng, ông đứng lên, chào và nói: "Berthe, cô có cần gì không? Tôi có thể mang đến cho cô..."
Cô nhìn ông từ đầu đến chân và trả lời, không hề ngạc nhiên, không bối rối, không giận giữ, thậm chí còn hơi có vẻ lạnh lùng: "Không, không cần gì hết, cảm ơn".
Ông đi xuống, loạng choạng như thể đầu còn đang bị choáng sau một cú ngã. Ông sẽ làm gì bây giờ? Leo lên một toa khác ư? Ông sẽ có vẻ như trốn chạy. Tỏ ra ga lăng, ân cần săn đón ư? Ông sẽ có vẻ như hối hận. Lên giọng ông chủ ư? Ông sẽ có vẻ như một tên tồi, một kẻ bất lương. Vả lại, thực ra thì ông làm gì có quyền lên giọng ông chủ với cô nữa.
Ông lại lên tàu và ngồi vào chỗ của mình.

Cô cũng vậy, trong lúc ông xuống sân ga, cô đã đi vào phòng vệ sinh để chỉnh trang lại trang phục. Giờ cô ngồi xuống ghế của mình một cách thoải mái, rạng rỡ, tự tin, không một chút e ngại, bối rối.
Ông quay về phía cô và nói:
- Berthe quý mến, do một ngẫu nhiên tình cờ, chúng ta cùng có mặt ở đây sau sáu năm xa cách, sáu năm xa cách không một chút ồn ào, liệu chúng ta có nên tiếp tục nhìn nhau như nhìn kẻ thù không đội trời chung không? Liệu chúng ta có nên tiếp tục giữ mãi thái độ thù hằn với nhau không? Dù sao thì tôi, tôi cũng không muốn như vậy. Cho nên, liệu chúng ta có thể nói chuyện với nhau như... như... những người bạn trong cuộc hành trình này được không?
Cô trả lời một cách bình thản:
- Tùy ý ông.
Chưng hửng, ông không biết nói gì thêm. Nhưng rồi, lấy lại được dũng khí, ông tiến lại gần, ngồi vào ghế giữa và nói bằng một giọng ngọt ngào:
- Em có biết là em đã thay đổi biết mấy kể từ khi chúng ta không gặp nhau không. Gặp lại em làm tôi vui quá, em mới duyên dáng làm sao. Có lẽ tôi phải chinh phục lại em một lần nữa thôi, em biết không, chưa một phụ nữ nào làm tim tôi rộn ràng xao xuyến đến thế khi nhìn thấy bóng áo lông thú của em đi vào. Thật đấy, tôi không thể ngờ em đã thay đổi đến thế...
Cô nói, không hề quay đầu sang, không hề nhìn ông:
- Tôi không tin lắm, bởi ông đã từng vô cùng nhầm lẫn.
Ông đỏ mặt, bối rối rồi cười một cách cam chịu:
- Em thật cứng rắn.
Cô quay hẳn về phía ông:
- Tại sao? Tôi đã thấy. Ông đã không hề có ý định dành cho tôi tình yêu của ông, không phải thế sao? Vậy thì tôi cho rằng ông tốt hay xấu thì cũng vậy thôi. Nhưng tôi thấy rằng chủ đề này làm ông khó chịu. Vậy thì chúng ta sẽ chuyển chủ đề khác, ông đã làm gì kể từ khi tôi không gặp ông.
Ông hoàn toàn mất tự chủ, ông ấp úng:
- Tôi á? Tôi đã đi du lịch, tôi đã đi săn, tôi đã già đi, như cô thấy đấy. Thế còn cô?
Cô nói một cách thản nhiên:
- Tôi, tôi đã giữ thể diện như ông đã yêu cầu.
Ông suýt buột miệng chửi thề, nhưng ông kìm lại được, nhưng ông cầm lấy tay cô, hôn lên tay cô và nói:
- Cảm ơn cô.

Cô ngạc nhiên. Ông thật sự mạnh mẽ, và luôn là chủ cô.
Ông nói tiếp:
- Vì cô đã chấp nhận lời đề nghị đầu tiên của tôi, cô có đồng ý để chúng ta cùng trò chuyện mà không chua chát mỉa mai gì nhau.
Cô có một cử chỉ khinh miệt.
- Chua chát mỉa mai ư? Nhưng tôi đâu có làm thế. Ông làm tôi hơi lạ đấy. Tôi chỉ có ý nói chuyện vui thôi mà.
Ông nhìn cô không chớp mắt, ông muốn chinh phục lại cô cho dù cô có tỏ ra thô lỗ với ông, một cảm giác lạ lùng xâm chiếm ông, một cảm giác mạnh mẽ dai dẳng, cảm giác cần phải chinh phục cho được cô.
Cô lại nói, rõ rằng cô đang làm ông tổn thương:
- Ông bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Tôi tin rằng ông trẻ tuổi hơn là vẻ ngoài của ông.
Ông tái mặt:
- Tôi bốn lăm.
Rồi ông hỏi:
- Tôi quên không hỏi công nương Raynes có gì mới không. Cô có hay gặp công nương không?
Cô ném sang ông một cái nhìn thù địch:
- Ồ! Tôi rất hay gặp công nương, công nương vẫn rất khỏe, cảm ơn ông đã hỏi thăm.
Họ ngồi cạnh nhau, hai người cùng vừa xúc động vừa bực mình. Đột nhiên, ông tuyên bố:
- Berthe thân mến, tôi vừa thay đổi ý định. Em là vợ tôi, tôi mong rằng em sẽ trở về sống dưới mái nhà tôi ngay ngày hôm nay. Tôi thấy rằng em đã trở nên rất xinh đẹp và có cá tính, tôi sẽ lấy lại em. Tôi là chồng em, đó là quyền của tôi.
Sửng sốt, cô nhìn sâu vào mắt ông, mong đọc được ý ông. Trông ông có vẻ vô cùng cương quyết, cứng đầu và không thể lay chuyển.
Cô trả lời:
- Rất lấy làm tiếc, nhưng tôi không có ý định đó.
Ông cười:
- Kệ em, luật pháp cho tôi quyền đó. Tôi sẽ sử dụng quyền đó.

Tàu đi đến Marseille, tàu hú một hồi dài và đi chậm lại. Nữ nam tước đứng lên, cuộn lại chăn một cách cẩn thận, rồi quay về phía nam tước:
- Raymond thân mến, đừng lạm dụng cuộc gặp mặt mà em đã chuẩn bị trước. Em đã muốn có một cái cớ, theo lời khuyên của ông, để không có gì phải e ngại, không bị thất thố trước ông hay trước mọi người cho dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa. Ông đi Nice, đúng không nào?
- Anh đi đến đâu em đến.
- Hoàn toàn không đâu. Nghe em nói đây, và em đoan chắc rằng ông sẽ lại để cho em yên thôi mà. Lát nữa, ông sẽ gặp công nương Raynes, nữ bá tước Henriot và chồng của họ đến sân ga đón em. Em muốn họ sẽ nhìn thấy chúng ta, ông và em, cùng bước ra, em muốn họ biết rằng chúng ta đã cùng nhau qua một đêm trên toa xe này. Đừng e ngại gì hết. Những người này sẽ loan báo sự kiện đó cho cả thành phố biết, điều đó sẽ gây ngạc nhiên chấn động lớn đối với mọi người cho mà xem.
Lúc nãy em đã nói với ông rằng, em đã tuân thủ rất nghiêm chỉnh mọi dặn dò của ông, em đã giữ gìn cẩn thận danh tiết cùng như tăm tiếng của mình. Không hề có chút dị nghị gì, đúng không? Thế nên, để tiếp tục được như thế, em cần có cuộc gặp này. Ông đã ra lệnh cho em phải giữ gìn rất cẩn thận để tránh mọi vụ tai tiếng, em đang cố hết sức để tránh đây, ông thân mến.... bởi em sợ... em sợ...

Cô đợi cho con tàu dừng hẳn lại, và bởi lúc này đã có rất nhiều bạn bè cô đang chạy ào tới cửa xe và mở nó ra, cô nói nốt:
- Em sợ mình có mang.
Công nương chìa tay về phía cô, ôm hôn cô. Nữ nam tước vừa nói vừa chỉ tay về phía ông nam tước đang sững sờ ngạc nhiên, và đang cố đoán sự thật là thế nào:
- Các bạn không nhận ra Raymond sao? Quả là anh ấy đã thay đổi biết mấy. Anh ấy đã đồng ý đưa tôi đi để tôi không phải đi một mình. Thỉnh thoảng chúng tôi cùng trốn đi như thế này, bên nhau như những người bạn tốt. Chúng tôi không muốn sống chung nhưng thỉnh thoảng chúng tôi muốn cùng nhau đi chơi thay đổi không khí như thế này. Vả lại, chúng tôi cũng sẽ chia tay nhau ở đây thôi vì anh ấy đã chán ngấy tôi rồi.
Cô chìa tay cho ông và ông cầm lấy nó một cách máy móc. Thế rồi cô nhảy xuống sân ga, vào giữa đám người đang đứng đón cô.

Ông nam tước đóng sầm cửa toa lại, quá xúc động đến nỗi ông không nói được một lời nào cũng như không kịp phản ứng gì. Ông nghe tiếng cô, nghe thấy tiếng cười vui vẻ hạnh phúc của cô xa dần.
Ông không bao giờ gặp lại cô nữa.
Và ông không bao giờ biết được những lời cô nói là thật hay vờ.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeWed Sep 11, 2019 12:04 am

.

Luyến Tiếc
- Guy de Maupassant (1850-1893)

   
Savale, mà cả vùng Mante gọi sau lưng là ông lão Savale, vừa mới ngủ dậy. Hôm ấy là một ngày thu ảm đạm. Lá cây rụng lả tả. Lá chầm chậm rơi trong mưa, và ta tưởng như có hai trận mưa đồng thời, chỉ có điều trận mưa thứ hai to hạt hơn và thong thả hơn. Savale không vui. Ông đi đi lại lại từ lò sưởi ra mé cửa sổ, từ cửa sổ về phía lò sưởi. Trong cuộc đời ai cũng có những ngày đen tối. Đối với ông thì sẽ không có những ngày khác thế nữa, ông đã sáu mươi hai tuổi. Ông sống một mình, không vợ con, không người thân thích. Thật khổ tâm khi cứ như thế này mà chết đi, trong cô độc, không ai gắn bó, cũng chẳng ai quan tâm.
   
    Savale ngẫm nghĩ về cuộc đời xiết bao nhạt nẽo và vô tích sự của ông. Ông nhớ lại thời quá khứ xa xưa: thời thơ ấu, ngôi nhà bố mẹ, hai cụ thân sinh của ông. Rồi trường trung học, những bước đi đầu tiên ra cuộc đời, khoa Luật ở Paris. Sau đó là bệnh tật và cái chết của bố ông. Ông quay về ở với mẹ. Hai mẹ con ông sống êm ả, và cả ông, khi đó còn trẻ, cả mẹ ông, khi đó đã già, đều không cần gì hơn thế. Nhưng rồi mẹ ông cũng mất. Đến là buồn cái cuộc đời này!  
    Ông còn lại một mình. Chẳng bao lâu nữa sẽ đến lượt ông. Ông sẽ biến mất, và mọi chuyện sẽ kết thúc. Trên trái đất này sẽ không còn Paul Savale nữa. Thật khủng khiếp. Những người khác sẽ vẫn sống, yêu, cười đùa. Kỳ lạ quá đi thôi, làm sao người ta có thể cười đùa, vui vẻ, mừng rỡ, trong khi biết rằng rồi thể nào cũng chết? Giá như chỉ là xác suất, thì người ta còn có thể hy vọng gì đó, đằng này không phải thế - nó là tất yếu, cũng tất yếu như hết ngày lại đến đêm vậy.
    Nếu trong cuộc đời ông có được dù chỉ là một cái gì - ông đạt được một điều gì đó chẳng hạn, hoặc ông có những chuyến phiêu lưu, hoặc ông được hưởng những niềm vui lớn, những thành công, những thích thú đủ kiểu, lại ra một lẽ!... Nhưng hoàn toàn không có chuyện ấy. Suốt đời ông chỉ có một việc: vào những giờ nhất định, ông dậy ăn, rồi lại đi ngủ. Và cứ như thế năm sáu mươi hai tuổi. Thậm chí ông không lấy vợ như những người khác. Tại sao vậy? Ừ, mà tại sao ông không lấy vợ nhỉ? Ông hoàn toàn có thể cho phép mình lấy một người phụ nữ chứ, vì ông có ít nhiều tài sản. Không có dịp chăng? Có thể như vậy. Nhưng dịp may đâu phải là cái để mà chờ đợi, để có dịp may, ta phải kiếm tìm. Không, chẳng qua tính ông quá thụ động. Thụ động là thiếu sót chủ yếu của ông, là thói xấu, là nỗi bất hạnh của ông. Nó đã làm hỏng cuộc đời bao nhiêu người! Có những bản tính làm việc gì cũng khó – dù là dậy khỏi giường, nhích khỏi chỗ, cất tiếng nói, hay là bắt tay vào làm một việc gì, tìm hiểu một điều gì.
   
    Còn tình yêu? Ừ, cả tình yêu, ông cũng chưa bao giờ được nếm trải. Không một phụ nữ nào ngủ thiếp đi trong mê đắm tình yêu trên ngực ông. Ông chưa từng được cảm thấy nỗi xốn xang ngọt ngào của sự chờ đợi, cả sự hồi hộp thiên thần khi nắm lấy bàn tay đáng yêu, cả sự say sưa của niềm say mê đầy hứng khởi. Trái tim ta chắc hẳn tràn ngập một sự khoái lạc siêu đẳng khi đầu tiên cặp môi gặp cặp môi và vòng tay ôm hòa nhập hai con người cuồng nhiệt ham muốn nhau thành một niềm hạnh phúc vô biên!   
    Savale trong tấm áo choàng ngồi xuống bên lò sưởi và giơ chân về phía lửa. Rõ ràng là cuộc đời ông không ra sao, hoàn toàn chẳng ra sao cả. Vậy mà nghĩ cho kỹ, thì ông thấy mình cũng đã từng yêu. Ông đã yêu thầm lặng, đau khổ - và cũng như trong mọi việc, ông yêu một cách thụ động. Phải rồi, ông đã yêu bà Sandre, người bạn xưa kia của ông, vợ của ông Sandre, bạn cũ của ông. Thật tiếc, giá mà hai người quen biết nhau khi bà ấy còn là con gái. Nếu thế, nhất định ông sẽ cầu hôn bà. Nhưng họ lại gặp nhau quá muộn – bà ấy đã lấy chồng. Tuy nhiên, dù sao cũng có thể nói rằng ông đã mê luôn bà ấy ngay từ giây phút đầu tiên.   
    Savale hồi tưởng lại đã xúc động như thế nào khi gặp bà ấy, nhớ nhung ra sao khi chia tay và biết bao lần ông không ngủ vì hình ảnh bà ấy lúc nào cũng hiện rõ trong đầu ông. Nhưng buổi sáng, thức giấc, bao giờ ông cũng mê bà ít đi một chút so với tối hôm trước. Tại sao nhỉ?
    Cái cô gái đáng yêu, hay cười, có bộ tóc quăn vàng óng ấy, thật là xinh đẹp. Còn Sandre? Họ đâu có xứng đôi! Bây giờ cô gái ấy đã là một bà năm mươi tám tuổi và hình như hạnh phúc. Chà, nếu hồi đó nàng yêu ông, nếu nàng yêu! Tại sao nàng lại không yêu ông nhỉ? Ông yêu nàng đến thế cơ mà! Giá như nàng đoán ra dù chỉ chút ít… Chả lẽ nàng không nhận thấy gì, không trông thấy gì, không hiểu gì cả? Nàng nghĩ gì về ông? Và nàng sẽ trả lời sao, nếu ông tỏ tình? Savale tự đặt cho mình hết câu hỏi này đến câu hỏi khác. Một lần nữa ông bồi hồi nhớ lại những chi tiết nhỏ nhất. Ông nhớ lại những buổi tối dài dằng dặc ngồi chơi bài ở nhà Sandre, khi cô vợ của bạn ông hãy còn trẻ trung và duyên dáng. Ông nhớ lại đã cùng nàng nói những chuyện gì, nhớ lại giọng nói trầm bổng của nàng, nụ cười lặng lẽ, nhưng ngụ nhiều ý nghĩa của nàng.
   
    Ông nhớ lại những cuộc đi dạo tay ba trên bờ sông Seine và những bữa sáng trên cỏ - tất nhiên là vào các ngày chủ nhật, vì Sandre làm việc ở quận. Và Savale bỗng hình dung rất rõ một hôm, lúc ấy đã quá trưa, ông đi dạo cùng nàng, chỉ có hai người, ở cánh rừng dọc theo con sông. Ba người rời nhà đi chơi từ sáng, đem theo các gói thức ăn. Hôm ấy là một ngày xuân tuyệt diệu – một trong những ngày khiến ai cũng phải ngây ngất. Xung quanh tất cả đều thơm ngát, đều toát lên niềm hạnh phúc. Ngay chim chóc hót líu lo cũng vui sướng hơn và bay lượn cũng nhanh hơn bình thường. Họ ngồi ăn sáng dưới mấy cây liễu, ngay sát mép làn nước như đang thiu thiu ngủ trong nắng. Không khí ấm áp ngào ngạt hương thơm cây cỏ, cảm giác khi hít thở sao mà nhẹ nhõm. Một ngày đẹp vô cùng, đẹp hết chỗ nói!   
    Ăn xong, Sandre ngả lưng xuống ngủ. “Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi ngủ ngon đến thế!”. Về sau, ông thú thật.
    Vợ Sandre khoác tay Savale, và hai người đi dọc theo bờ sông. Nàng nép sát vào ông và vừa cười, vừa nói:
    -Em đang say, anh ạ. Em đang say lắm lắm.
    Ông nhìn nàng, rạo rực, cảm thấy mặt mình tái đi, ông sợ cái nhìn của ông sẽ trở nên quá táo tợn và cánh tay run run của ông sẽ để lộ nỗi niềm thầm kín trong lòng. Nàng bện cỏ và bông súng thành một tràng hoa, đội lên đầu và hỏi:
    -Anh có thích thế này không?
    Ông im lặng, không biết trả lời thế nào, ông chỉ muốn quỳ xuống đất. Nàng cười, điệu cười pha chút hờn dỗi, rồi bực bội nói:
    -Anh ngốc quá! Thì cũng phải nói một lời gì chứ!
    Ông suýt bật khóc, nhưng rốt cuộc vẫn không mở miệng. Tất cả những cái đó bây giờ hiện lên trong ký ức ông rõ ràng không kém gì lúc ấy. Tại sao nàng lại trách ông: “Anh ngốc quá! Thì cũng phải nói một lời gì chứ!”?

    Savale nhớ lại nàng đã nép sát vào ông dịu dàng âu yếm đến mức nào. Lúc đi ngang qua một cái cây nghiêng mình xuống nước, ông cảm thấy tai nàng chạm vào má ông, ông vội né tránh: ông sợ nàng coi sự đụng chạm ấy là cố ý. Rồi nàng đưa mắt nhìn ông với vẻ kỳ lạ biết bao khi ông hỏi:
    -Ta quay về chứ?
    Đúng vậy, đúng vậy, cái nhìn của nàng trở nên rất đặc biệt. Lúc ấy ông không để ý, nhưng bây giờ ông nhớ lại rõ lắm.
    -Tùy anh. Nếu anh đã mệt, thì chúng ta quay về.
    Ông phản bác lại:
    -Anh đâu có mệt, nhưng Sandre chắc là đã thức giấc.
    Nàng nhún vai:
    -À, nếu anh sợ chồng em thức giấc thì lại là chuyện khác. Ta về đi.
    Suốt dọc đường, nàng im lặng và không lần nào tựa vào cánh tay ông. Tại sao nhỉ? Câu hỏi này, ông tự đặt ra cho mình lần đầu tiên. Ông có cảm giác ông đang loáng thoáng nắm bắt được một điều gì đó chưa bao giờ ông ngờ tới.
   
    Chả lẽ lại thế?   
    Savale cảm thấy mình đỏ bừng mặt và trong cơn bối rối, ông bật dậy như thể ông trẻ lại ba mươi tuổi mà bỗng được nghe nàng nói: “Em yêu anh”. Liệu có thể như vậy không nhỉ? Điều phỏng đoán thoáng qua trong óc đã dầu độc tâm hồn ông. Chả lẽ ông đã không nhận thấy, đã không hiểu ra? 
    Ông đã bỏ lỡ hạnh phúc của ông?  
    Ông tự nhủ: “Ta phải biết chuyện này. Ta không muốn khổ sở vì hoài nghi. Ta phải biết!”. Không chậm trễ, ông vội vã mặc quần áo chỉnh tề. Ông nghĩ: “Mình đã sáu mươi hai, bà ấy đã năm mươi tám tuổi. Hoàn toàn có thể hỏi được rồi”. Thế là Savale bước ra khỏi nhà. Gia đình Sandre ở ngay bên kia đường, gần như đối diện nhà ông. Ông sang đó. Nghe tiếng gõ cửa, cô gái giúp việc chạy ra. Sự xuất hiện của ông vào lúc quá sớm khiến cô ngạc nhiên.
    -Ông đấy ạ, ông Savale? Có chuyện gì thế ạ?
    Ông đáp:
    -Không, không có chuyện gì cả, nhưng nhờ cô báo với bà chủ rằng tôi có chuyện cần nói ngay với bà ấy.
    -Bà chủ đang bận nấu mứt lê dùng cho mùa đông. Bà ở dưới bếp, bà cũng chưa ăn mặc tề chỉnh.
    -Nhờ cô cứ báo giúp. Việc rất quan trọng.
    Cô gái giúp việc đi vào bên trong, còn Savale hồi hộp sải những bước dài đi đi lại lại trong phòng khách. Nhưng ông không cảm thấy ngượng nghịu. Ông sẽ hỏi bà chuyện đó cũng đơn giản như hỏi về một công thức nấu ăn vậy thôi. Ông đã sáu mươi hai tuổi rồi còn gì!
   
    Cuối cùng, cánh cửa mở ra và bà Sandre xuất hiện. Bây giờ, đây đã là một phụ nữ to béo xồ xề, với hai má sệ xuống và tiếng cười oang oang. Bà vừa đi vừa vung rộng hai cánh tay để trần tới tận khuỷu và nhớp nháp mồ hôi.
    -Anh làm sao thế? Anh bị ốm à? – bà lo lắng hỏi.
    Ông đáp:
    -Không, tôi vẫn khỏe, nhưng tôi cần hỏi chị một điều rất quan trọng với tôi và rất tế nhị. Nhưng chị hứa phải nói thật đấy nhé.
    Bà mỉm cười:
    -Bao giờ tôi chả nói thật. Anh hỏi đi.
    -Thế này, tôi đã yêu chị ngay từ cái nhìn đầu tiên. Chị có biết không?
    Bà cất tiếng cười vang, và giọng bà lại như giống hồi xưa:
    -Anh ngốc quá! Tôi đã hiểu ngay như vậy mà.
    Savale rùng mình lắp bắp:
    -Chị có biết? Nhưng hồi ấy…
    Và ông im lặng.
    -Hồi ấy làm sao? – bà hỏi lại.
    Ông nói tiếp:
    -Hồi ấy… hồi ấy… Chị nghĩ thế nào? Nếu tôi hỏi, chị sẽ trả lời tôi ra sao?
    Bà cười càng to hơn. Mấy giọt nước mứt lê chảy từ các ngón tay bà xuống đất.
    -Tôi ấy à? Nhưng anh có hỏi tôi gì đâu. Mà tôi thì tỏ tình với anh sao được.
    Ông nhảy lên một bước.
    -Này… Chị hãy nói cho tôi biết: chị có nhớ cái hôm anh Sandre ăn sáng xong ngủ luôn trên cỏ, còn chúng ta… Hai chúng ta đi đến tận chỗ con đường rẽ ngoặt…
    Ông chờ câu trả lời. Bà ngừng cười và nhìn thẳng vào mắt ông.
    -Tất nhiên tôi nhớ.
    Trong lòng hồi hộp, ông gặng hỏi tiếp:
    -Thế… hôm ấy… chị sẽ xử sự ra sao, nếu tôi mạnh dạn hơn?
    Bà mỉm cười như một người phụ nữ chẳng có điều gì phải luyến tiếc, rồi nói dằn từng tiếng bằng giọng hơi diễu cợt:
    -Thì tôi sẽ chiều anh ngay.
    Rồi bà quay gót luôn chạy vào nấu nốt nồi mứt.
   
    Savale bước ra đường mà trong lòng bàng hoàng như vừa gặp một tai họa. Không nhìn xung quanh, không để ý đến đường đi, ông đội mưa sải những bước dài. Đến sông Seine, ông rẽ phải và đi dọc theo bờ sông. Ông đi mãi, như bị thôi thúc bởi một tình cảm gì đó rất bản năng. Quần áo ông ướt sũng, từ trên chiếc mũ đã rúm ró như giẻ rách của ông, nước mưa chảy xuống ròng ròng. Ông vẫn đi tiếp, đi tiếp, vẫn không để ý đến con đường dưới chân, và cuối cùng, ông đã đến chỗ họ ngồi ăn sáng trong cái ngày xa xưa mà bây giờ nhớ tới, trái tim ông tan nát.
    Ông ngồi xuống gốc mấy cây liễu còn trụi hết lá và bật khóc.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeSat Sep 21, 2019 7:40 am

.


Đứa con "L'enfant"
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Sau bữa ăn tối, mọi người bàn luận về vụ phá thai mới xẩy ra trong làng. Bà bá tước phẫn nộ: Sao lại có chuyện như vậy được! Cô gái, bị anh hàng thịt quyến rũ, đã ném đứa con của mình vào trong hầm mỏ! Khủng khiếp quá! Người ta đã xác nhận là đứa bé chưa chết ngay được.

Ông thầy thuốc, tối hôm đó cũng đến lâu đài dùng bữa, đưa ra những chi tiết ghê rợn bằng một vẻ trầm tĩnh, ông tỏ ra thán phục sự can đảm của bà mẹ khốn khổ sau khi một mình sinh đẻ đã đi bộ cả hai cây số để sát hại đứa con. Ông nhắc đi nhắc lại: "Cô ấy vững như sắt thép! Và quả là phải có một nghị lực mãnh liệt để ban đêm băng rừng, ôm đứa con đang rên siết trong tay! Tôi thực sự thán phục trước những đau đớn tinh thần tương tự! Xin mọi người hãy nghĩ đến nỗi kinh hoàng của tâm hồn ấy, sự dày vò của con tim ấy! Cuộc đời sao bỉ ổi và khốn nạn quá! Những định kiến ghê người, vâng, thưa bà, định kiến ghê người, danh tiết trá hình, đáng tởm hơn cả tội ác, cả một loạt những tình cảm giả dối, tiếng tăm tệ hại, đã thúc đẩy cô gái tội nghiệp phải yếu đuối tuân phục cái luật lệ khắc nghiệt của cuộc sống mà phạm tội giết con. Thật xấu hổ cho loài người đã dựng lên một thứ đạo đức như thế và biến sự yêu đương tự do của hai con người trở thành tội lỗi!"
Bà bá tước tức giận tới tái người.
Bà phản bác: "Thưa bác sĩ, như vậy là ông đã đặt tính xấu lên trên đức hạnh, đặt gái lăng loàn đứng trước phụ nữ đoan chính! Cô gái buông thả theo những bản năng đáng hổ thẹn ông xem như ngang bằng với người vợ hoàn hảo làm tròn nghĩa vụ của mình với lương tâm liêm khiết! "
 
Người thầy thuốc, một ông già đã chạm tay vào nhiều vết thương, đứng dậy lớn giọng nói: "Vâng, thưa bà, bà cứ giữ cái tính bao dung, nhân từ, độ lượng, bà không biết đâu! Bất hạnh thay cho những người mà tạo hoá trớ trêu đã trao cho những nhục cảm không thể nguôi dịu được. Những người trầm tĩnh, sinh ra chẳng có bản năng mãnh liệt, vẫn sống lương thiện theo phép tắc. Những người không hề bị hành hạ bởi những ham muốn điên loạn thì rất dễ làm tròn nghĩa vụ. Tôi biết nhiều phụ nữ trưởng giả có tâm thái bình tĩnh, cư xử cứng nhắc, tinh thần ôn hoà, tâm hồn chừng mực, họ luôn tỏ ra tức giận khi nghe nói đến lỗi lầm của những phụ nữ sa ngã.
Nhưng, thưa bà, đối với những người vô tình sinh ra đã sa vào vòng đam mê thì những nhục cảm không dễ gì khuất phục. Bà có thể nào làm dịu cơn gió thổi, bà có thể nào ngăn được sóng biển dâng? Bà có thể nào ngăn được sức mạnh của thiên nhiên? Không! Nhục cảm cũng giống như sức mạnh của thiên nhiên, không đánh bại được, như sóng biển và cơn gió. Chúng nhấc bổng và lôi kéo con người, ném vào cơn khoái lạc mà không sao chống lại được sự mãnh liệt của ham muốn. Những người phụ nữ hoàn hảo là những người không ham muốn. Họ đông lắm. Tôi chẳng ca ngợi gì đức hạnh của họ vì họ không phải chống chọi gì. Nhưng, không bao giờ, bà hiểu chứ, không bao giờ một cô gái như Messaline (1), như Catherine (2) tỏ ra đứng đắn được. Cô ta không thể như thế được. Cô ta được tạo ra dành cho sự vuốt ve mãnh liệt. Những cơ quan của cô ta không giống như bà, da thịt cô ta khác hẳn, nhiều rung cảm hơn, nhạy cảm hơn với sự tiếp xúc nhẹ nhàng nhất với một da thịt khác, và dây thần kinh của cô ta hoạt động, làm cho cô ta rối loạn và ngã gục trong khi bà không cảm thấy gì. Bà cứ thử nuôi chim bồ cắt với những hạt nhỏ tròn mà bà cho con vẹt ăn xem sao! Ấy vậy mà cả hai loài chim này đều có chiếc mỏ nhọn cứng. Bản năng của chúng khác hẳn nhau.
Ôi! Nhục cảm! Giá mà bà hiểu được sức mạnh của chúng! Nhục cảm khiến ta hổn hển suốt đêm trường, da thịt nóng bừng, con tim rạo rực, tâm thần xao động bởi những hình ảnh tưởng tượng điên cuồng! Bà thấy không, thưa bà, những người chừng mực chỉ là những người lạnh lùng, ghen tuông vô vọng mà không hay biết.
 
Xin nghe tôi kể đây:
Người mà tôi gọi là Hélène có nhiều nhục cảm. Ngay từ lúc còn rất nhỏ. Ở cô ta, nhục cảm đã trổi dậy ngay khi mới biết nói. Bà sẽ cho cô ta là con bệnh. Tại sao? Chẳng phải bà vốn thường yếu lòng? Cô ta được đưa đến tôi khi mới mười hai tuổi. Tôi nhận thấy là cô đã là phụ nữ, bị thôi thúc không ngừng bởi những cơn khát tình. Chỉ nhìn cô ta là nhận ra điều đó. Cô ta có đôi môi dày và cong, hé mở như những cánh hoa, cái cổ thẳng, làn da nóng rực, cái mũi lớn, hơi nở ra và phập phồng, đôi mắt to và sáng với tia nhìn đốt cháy đàn ông.
Vậy thì ai có thể làm dịu được nguồn máu hừng hực của con thú khao khát kia? Nhiều đêm cô ta khóc lóc vô cớ. Cô quằn quại vì thiếu giống đực.
Cuối cùng người ta cho cô lấy chồng ở tuổi mười lăm. Hai năm sau, anh chồng ho lao chết. Cô đã làm anh ta kiệt sức. Người chồng khác cũng cùng số phận sau mười tám tháng. Người thứ ba cầm cự được ba năm rồi cũng rời bỏ cô. Đến lúc phải như thế!

Trở lại sống một mình, cô cố tỏ ra đứng đắn. Đúng như những định kiến của bà. Rồi một hôm bị khủng hoảng tinh thần, cô mời tôi đến. Tôi nhận ra ngay rằng cô sẽ chết vì hoàn cảnh goá bụa của mình. Tôi nói với cô điều đó. Thưa bà, đấy là một phụ nữ đàng hoàng, dù đang chịu hành hạ, cô vẫn không muốn nghe lời tôi khuyên là kiếm lấy một người tình.
Trong vùng, mọi người nói cô điên. Ban đêm cô ra khỏi nhà và hoảng hốt bỏ chạy cốt để làm nguội lạnh cơ thể nổi loạn của mình. Rồi cô ta rơi vào những triệu chứng dẫn đến những cơn co thắt dữ dội.
Cô sống một mình trong lâu đài ở gần lâu đài của bà mẹ và lâu đài của những người thân thích. Thỉnh thoảng tôi đến thăm cô mà không biết phải làm gì chống lại sự sắp đặt khắc nghiệt của tạo hoá hoặc chống lại ý nguyện của chính cô.
Một hôm, vào khoảng tám giờ tối, cô đến nhà tôi khi tôi vừa ăn xong. Ngay khi chúng tôi ngồi riêng với nhau cô nói:
- Tôi thua rồi. Tôi đã có thai.
Tôi giật thót mình trên ghế.
- Cô bảo sao?
- Tôi có thai.
- Cô?
- Vâng, tôi.
Và đột nhiên, bằng một giọng ngắt quãng, cô nhìn thẳng vào mặt tôi và nói:
- Có thai với anh làm vườn của tôi, thưa bác sĩ. Khi đi dạo trong vườn, tôi chớm bị ngất xỉu. Anh chàng thấy tôi ngã vội chạy đến ôm lấy tôi để dìu tôi đi. Tôi đã làm gì? Tôi cũng không biết nữa. Tôi đã ôm chặt anh ta, đã hôn anh ta? Có lẽ thế. Bác sĩ đã biết nỗi bất hạnh và xấu hổ của tôi. Cuối cùng anh ta đã chiếm đoạt tôi. Tôi là thủ phạm, bởi tôi còn dâng hiến cũng bằng cách như thế ngày hôm sau và nhiều lần khác nữa. Thế là hết! Tôi không cưỡng lại được!
Cô nấc nghẹn rồi tiếp tục với giọng đầy kiêu hãnh:
- Tôi tự nguyện, tôi thích như thế, còn hơn là đi kiếm một người tình như bác sĩ đã khuyên tôi. Anh ta đã làm tôi mang thai. Ôi! Tôi xin thú nhận với bác sĩ điều này, không dè dặt, không ngần ngại. Tôi đã cố phá thai. Tôi tắm nước nóng, tôi cỡi lên những con ngựa cứng đầu, tôi đu xà treo, tôi dùng ma tuý, ngải đắng, nghệ, và nhiều thứ khác nữa. Nhưng không thành công. Bác sĩ biết cha tôi, các anh em tôi? Tôi thua rồi. Chị tôi kết hôn với một người danh giá. Sự ô nhục của tôi sẽ ảnh hưởng đến họ. Và còn bạn bè, hàng xóm, tên tuổi của gia đình, còn mẹ tôi...
Cô bắt đầu khóc nức nở. Tôi cầm lấy tay, hỏi han cô. Rồi tôi khuyên cô nên đi đâu đó thật xa để sinh con.
Cô đáp: " Vâng... vâng... vâng... chắc phải vậy..." mà chẳng có vẻ sẽ nghe lời.
Rồi cô bỏ đi.

Tôi còn gặp cô ta nhiều lần nữa. Cô phát điên lên rồi. Ý nghĩ về đứa con đang lớn dần trong bụng, về sự nhục nhã rõ rệt kia xuyên qua tâm hồn cô như một mũi tên nhọn. Cô không lúc nào dứt khỏi ý nghĩ đó, ban ngày không dám ra khỏi nhà, không gặp ai, sợ bị phát hiện bí mật kinh tởm kia. Tối đến cô đứng trước tủ kính, cởi quần áo và ngắm nhìn cạnh sườn đã biến dạng của mình, rồi cô lăn xuống đất, nhét khăn vào mồm để chặn tiếng khóc than. Có đến hai mươi lần cô đứng dậy, thắp nến lên và đến trước chiếc kính lớn phản chiếu hình ảnh căng phồng của tấm thân trần. Cô điên loạn đấm vào bụng để giết đi cái sinh linh đang làm lụi bại cô. Giữa cô và nó là một cuộc đánh vật khủng khiếp. Nhưng nó không chết mà cứ cựa quậy mãi, chừng như đang tự vệ. Cô lăn xuống sàn nhà để chèn nó xuống đất, khi ngủ cô cố đè lên người bằng vật nặng để cho nó ngạt. Cô căm ghét nó như người ta căm ghét kẻ thù bướng bỉnh đang đe doạ cuộc sống.
Sau những vẫy vùng vô ích, những cố gắng bất lực để thoát khỏi nó như thế, cô bỏ đi ra đồng, mải miết chạy, phát điên lên vì đau đớn và hoảng sợ.
Một sáng kia, người ta bắt gặp cô đang nhúng chân vào dòng suối, đôi mắt thất thần, ai cũng nghĩ cô đang mắc phải một cơn khủng hoảng hoang tưởng gì đấy, nhưng cũng không phát hiện ra điều gì.
Một ý nghĩ không thay đổi bám lấy cô. Dứt bỏ đứa con tồi tệ kia khỏi cơ thể mình.
Có lần, buổi tối, bà mẹ cười nói với cô: "Hélène, dạo này con mập ra đấy, nếu con có chồng, mẹ nghĩ là con đang mang thai."
Câu nói làm cô chết điếng. Cô bỏ đi về nhà ngay.

Cô ta đã làm gì? Hẳn là cô đã nhìn thật lâu cái bụng to chướng lên của mình, hẳn là cô đã đấm nó, làm tổn thương nó, đập nó vào góc bàn góc tủ như cô vẫn làm hằng đêm. Thế rồi, cô đi chân trần xuống nhà bếp, mở tủ và lấy con dao chặt thịt ra. Cô đi lên nhà trên, thắp bốn ngọn nến lên, ngồi trên chiếc ghế mây, ngay trước tấm kính.
Lúc này đây, cô căm ghét tột độ cái bào thai lạ lẫm và ghê tởm kia, muốn bóc gỡ nó ra mà giết đi, cầm nó trong tay, bóp nghẹt nó và quẳng ra xa; cô ấn tay vào vị trí con ấu trùng kia đang cựa quậy, và bằng một nhát dao sắc gọn, cô tự xẻ bụng mình.
Ôi! Cô hành động thật nhanh và thật khéo, bởi cô đã nắm được nó, kẻ thù mà lâu nay cô chưa thể chộp bắt được. Cô tóm lấy một chân nó, kéo ra khỏi mình và muốn ném nó vào bếp lửa than. Nhưng mà nó cố cưỡng lại bằng những sợi dây mà cô chưa kịp cắt bỏ, và trước khi cô hiểu ra phải làm gì nữa để tách khỏi hắn thì cô đã ngã ra bất tỉnh đè lên đứa con ngập ngụa trong vũng máu.
Cô gái có phạm tội không, thưa bà?
Ông thầy thuốc im lặng, chờ đợi. Bà bá tước không trả lời.

-------
1. Messaline: Tức là Valeria Messalina (25-48), vợ thứ ba của Hoàng đế La Mã Claudius, người đã đi vào lịch sử với tai tiếng là dâm loạn. Khi trở thành hoàng hậu, Messaline cho mở nhiều căn phòng bí mật để có thể quan hệ với nhiều người đàn ông khác nhằm thoả mãn dục tình vô độ của mình.

2. Catherine: Tức là Ekaterina (1729-1796), còn gọi là Ekaterina Đại đế, Nữ hoàng Nga, cai trị toàn bộ lãnh thổ đế quốc Nga từ 28/6/1762 cho đến khi qua đời. Cũng như Messaline, bà là người rất phóng đãng trong cuộc sống riêng tư. Từ khi lấy chồng năm 15 tuổi cho đến khi qua đời, bà có rất nhiều nhân tình, từ giới quý tộc đến kẻ tầm thường, có người kém bà gần 40 tuổi.

THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên tác "l'Enfant", 18 septembre 1883
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeTue Oct 15, 2019 8:40 am

.

MƯU MÔ XẢO QUYỆT

- Guy de Maupassant (1850-1893)


- Phụ nữ ư?
- Gì vậy? Phụ nữ thì sao?
- Không có người làm trò ảo thuật tinh tế nào có thể đặt chúng ta vào tình trạng chuyên dùng mưu mẹo để thành công dù cho có lí do hoặc không. Còn phụ nữ thì họ lập mưu một cách đơn giản, không thể ngờ tới, một cách táo bạo đáng ngạc nhiên, bằng một tình thế không thể thắng nổi. Họ dùng mưu mẹo để lừa dối từ sáng đến tối mà tất cả những cái đó đều trung thực, thẳng thắn, hợp lẽ.
“Cần nói thêm đôi khi họ cũng bị động. Người đàn ông thường có những bướng bỉnh ngu dại và những ý muốn bạo chúa. Người chồng luôn có những mong muốn duy ý chí một cách nực cười. Hắn có đầy đủ những thói kì quặc; người vợ khen hắn để đánh lừa hắn. Mụ ta còn làm cho người chồng tin rằng cái đó có giá trị, vì hắn cho rằng chẳng ra gì hết. Và người phụ nữ lúc nào cũng giải quyết công việc một cách thành thạo bằng những giải pháp rất dễ dàng rất tinh ranh mà đôi lúc đàn ông chịu xuôi tay. Chúng ta thường ngạc nhiên nói: “Tại sao lại không nhận ra những cái đó nhỉ?”.
Người đang nói là một cựu Bộ trưởng, Bá tước L., lắm mưu mẹo, người ta nói như vậy, và tinh thần thì cao thượng. Một nhóm những chàng trai đang nghe ông nói. Ông tiếp lời.

***

Tôi đã vướng phải một phụ nữ tiểu tư sản một cách nực cười và ra trò. Tôi sẽ nói những điều mà các bạn cần rút kinh nghiệm.
Thời ấy tôi là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, và sáng sáng tôi đi bộ cho đến tận Champs-Élysées. Lúc ấy là tháng năm; tôi vừa đi vừa hít thở không khí trong lành từ những mầm lá mới nhú lên.
Và ngày nào tôi cũng gặp một phụ nữ nhỏ bé đáng tôn thờ, một trong những người duyên dáng một cách lạ lùng đúng nhãn hiệu sản xuất tại Paris. Xinh đẹp ư? Vừa đúng lại vừa không đúng. Duyên dáng ư? Không, còn hơn cả duyên dáng. Thân hình thon thả, vai ngang ngực nở, thế đấy; nhưng tôi thích những bản phác thảo những con búp-bê bằng xương bằng thịt, giống thần vệ nữ Mi-lô.
Và rồi người phụ nữ ấy đi bằng những bước không gì có thể so sánh nổi; và chỉ với đôi mông ấy đã đủ làm cho người ta nảy sinh những ước ao từ trong xương tuỷ rồi. Người phụ nữ ấy có vẻ là nhìn tôi mỗi khi tôi đi qua. Nhưng phụ nữ thì có rất nhiều vẻ; và không bao giờ người ta biết được.

Một buổi sáng tôi thấy cô ta ngồi trên ghế dài với cuốn sách để mở trên tay. Tôi vội vàng tới ngồi bên cô. Năm phút sau, chúng tôi đã là bạn của nhau. Và mỗi buổi sáng sau khi “Chào Bà - Chào Ông” chúng tôi nói chuyện với nhau. Cô ta nói mình là vợ của một viên chức, rằng cuộc đời rất tẻ nhạt, rằng những thú vui thì hiếm hoi, còn những ưu phiền thì rất nhiều và hàng ngàn chuyện khác nữa.
Tôi nói với cô ta rằng mình là ai, hơi có vẻ kiêu hãnh; cô ta rất ngạc nhiên.
Hôm sau cô ta đến cơ quan Bộ gặp tôi, và sau đó cô ta đến một cách thường xuyên khiến các thư lại quen mặt, họ thì thào với nhau mỗi khi gặp cô, và đặt cho cô cái tên “Bà Léon”. “Tôi nhận cái tên ấy”, cô ta nói.
Trong suốt ba tháng sáng nào tôi cũng gặp cô, không rời cô một phút nào trong khi cô để lộ rõ tình yêu của mình.
Nhưng một hôm tôi thấy cô ta mắt đỏ hoe, nói chuyện một cách khó khăn vì những bận tâm bí mật của mình.
Tôi yêu cầu cô, van nài cô nói cho tôi biết những lo lắng của mình; và cuối cùng cô ta run rẩy và lắp bắp nói: “Em... Em, đã mang thai”. Rồi cô khóc nức nở. Ôi, tôi nhăn nhó và tái mặt đi như bất cứ ai nhận được cái tin ấy. Các bạn không biết cái tin bất chợt ấy đã như một quả đấm vào ngực khốn khổ của tôi như thế nào đâu. Nhưng sớm hay muộn các bạn cũng nhận ra thôi. Đến lượt mình, tôi cũng lắp bắp: “Nhưng, nhưng em là người đàn bà có chồng kia mà, đúng không?”.
Cô ta đáp: “Vâng, nhưng chồng em đã đi công tác ở Ý hai tháng nay và còn lâu nữa anh ấy mới về”.
Tôi cố gắng rũ bỏ trách nhiệm. Tôi nói:
“Phải đi gặp anh ta ngay”. Mặt cô ta đỏ đến tận mang tai, mắt cụp xuống và nói: “Vâng, nhưng… Cô ta không dám nói hết lời. Tôi đã hiểu ra và đưa cho cô một chiếc phong bì đựng tiền trang trải cho chuyến đi.
Tám ngày sau đó, tôi nhận được một bức thư của cô ta từ Gênes gửi tới.
Một tuần sau đó, một bức thư từ Florence.
Rồi những bức thư từ Livourne, từ Rome, từ Naples gửi tới.
Cô nói: “Em vẫn mạnh khoẻ, tình yêu của em, nhưng em rất thảm hại. Em muốn ông gặp lại em khi xong mọi việc. Chồng em không nghi ngờ gì cả. Vì công tác, anh ấy còn phải ở đây trong một thời gian nữa, còn em, em sẽ trở về Pháp sau khi sinh nở”.
Sau đó khoảng tám tháng tôi nhận được hai chữ từ Venise: “Con trai”.

Một thời gian sau, vào một buổi sáng cô ta bất chợt chạy vào văn phòng của tôi, vẫn trẻ đẹp như xưa, và ngã vào lòng tôi.
Và tình yêu của chúng tôi đã được nối lại.
Khi tôi rời cơ quan, cô ta đến tìm tôi trong khách sạn ở trên phố Crenelle. Cô ta cũng thường nói với tôi về đứa trẻ nhưng tôi không muốn nghe; cái đó không liên quan gì đến tôi. Tôi đưa cho cô ta một số tiền lớn và nói một cách đơn giản: “Để nuôi nó”.
Hai năm nữa lại trôi qua, cô ta nói với tôi về đứa trẻ, về thằng bé “Léon” nhiều hơn. Đôi khi cô ta khóc: “Ông không yêu nó, ông không muốn nhìn thấy nó, như vậy ông đã làm em rất đau khổ”. Vì cô ta cứ nài nỉ mãi nên tôi phải hứa hôm sau tới Champs-Élysées để cô ta dẫn tôi đến chỗ thằng bé.
Nhưng đến lúc ra đi thì một nỗi sợ hãi đã ngăn tôi lại.

Con người cũng yếu đuối như con vật; ai mà biết được có chuyện gì đã nảy sinh trong trái tim tôi? Nếu tôi cũng yêu thằng bé sinh ra từ tôi, tức là con trai tôi, thì sao? Tôi đã đội mũ, đi găng tay. Nhưng rồi tôi ném mũ lên bàn, ném găng tay xuống ghế, tự nhủ: “Không nhất định là không, ta không đi là khôn ngoan nhất”.
Cửa phòng tôi bật mở. Em trai tôi bước vào. Chú ấy đưa tôi một lá thư nặc danh mới nhận được sáng hôm nay: “Báo tin cho Bá tước L..., anh trai ông rằng người đàn bà trên phố Cassette coi khinh ông ta. Ông ta sẽ nhận được tin tức từ bà này”.
Tôi không nói với ai về sự tằng tịu này. Tôi kể lại câu chuyện từ đầu tới cuối cho em trai tôi nghe. Rồi tôi nói thêm: “Về phần tôi, tôi chẳng có trách nhiệm gì cả, nhưng tôi nhờ chú đi hỏi tin tức xem sao”.
Người em trai tôi đi, còn tôi, tôi tự nhủ: “Liệu cô ta có đánh lừa mình không? Cô ta có những tình nhân khác nữa không? Không quan trọng. Cô ta trẻ trung xinh đẹp; ta không đòi hỏi cô ấy nhiều. Cô ấy có vẻ yêu ta và ta đã phải trả một giá đắt. Thực ra ta không biết nhiều về cô ấy”.

Em trai tôi trở về. Ở sở Cảnh sát người ta đã cho chú ấy biết về người chồng “Đúng là viên chức của Bộ Nội vụ, được nhận xét là tốt, nhưng lấy phải một phụ nữ xinh đẹp và ăn diện nên tài chính trong ra đình có khó khăn”. Đó là tất cả.
Chú em tôi cũng tìm đến căn hộ của gia đình ấy. Ông gác cổng cho biết:
“Ông chồng là một người đàn ông đứng đắn, bà vợ cũng vậy, là một phụ nữ đứng đắn, không giàu nhưng họ rất hào hiệp”.
Chú em tôi hỏi thêm:
- Con trai họ năm nay mấy tuổi?
- Nhưng bà ấy không có con, thưa ông?
- Thế nào, thằng bé Léon kia mà?
- Không thưa ông, ông nhầm rồi.
- Thằng bé mà bà ta sinh ra khi đang ở bên Ý, cách đây hai năm ấy.
- Bà ấy không hề đi Ý. Năm năm nay bà ấy không rời khỏi Paris.

Chú em tôi ngạc nhiên nhưng không dám hỏi nhiều. Không có con, không đi đâu cả.
Tôi cũng ngạc nhiên không kém, không biết vở hài kịch này lúc nào mới kết thúc.
Tôi nói với em trai tôi rằng tôi muốn vô tư trong vụ này. Tôi sẽ mời cô ta tới đây vào ngày mai. Chú sẽ thay mặt tôi gặp cô ta; nếu cô ta đóng kịch với tôi thì chú đưa cho cô ta mười ngàn frăng này, và tôi sẽ không gặp cô ta nữa. Nói cho đúng ra thì tôi đã chán ngấy cô ta rồi.
Các bạn biết không, hôm qua tôi chán ngán vì đã có con với người phụ nữ ấy, tôi đã bị thương tổn và xấu hổ nhưng nay những cái đó không còn nữa.
Tôi đã được tự do, không chịu sự ràng buộc nào, không còn sự lo ngại nào và tôi thấy mình đang giận dữ.
Hôm sau, em trai tôi đợi cô ta trong văn phòng tôi. Cô ta nhanh nhẹn bước vào theo thói quen, dang hai tay ra, nhưng bỗng nhiên khựng lại.
Em tôi chào và xin lỗi cô ta.
- Xin lỗi bà, thưa bà, nếu tôi đang ngồi chỗ của anh trai tôi; nhưng anh tôi giao cho tôi trách nhiệm yêu cầu bà giải thích những sự việc khiến anh tôi phải phiền lòng. Rồi nhìn thẳng vào mắt cô ta, em tôi hỏi bất chợt:
- Tôi biết là bà không có con với anh tôi, đúng không?
Sau một phút sững sờ, nhưng rồi lấy lại được phong độ, mỉm cười nhìn ông quan toà. Cô ta trả lời rất đơn giản:
- Không tôi không có con.
- Tôi cũng biết là bà không hề sang Ý, đúng không?
Lần này thì cô ta cười thực sự:
- Không, tôi không hề sang Ý.
Em trai tôi choáng váng nói:
- Bá tước nhờ tôi đưa cho bà số tiền này và nói với bà rằng từ nay mọi việc chấm dứt. Cô ta lấy lại vẻ nghiêm chỉnh, cầm tiền nhét vào túi, và hỏi một cách ngây thơ rằng - Tôi không được lặp lại Bá tước nữa ư?
- Không thưa bà.
Cô ta có vẻ phật ý rồi nói bằng giọng bình thản:
- Mặc kệ, nhưng tôi vẫn yêu ông Bá tước.
Thấy cô ta đã chịu thua, em trai tôi mỉm cười hỏi thêm:
- Cho tôi biết tại sao bà lại bịa ra chuyện có con và chuyện sang Ý?
Cô ta ngạc nhiên khi thấy người đối thoại đặt ra câu hỏi ngớ ngẩn như vậy, rồi trả lời: “Đây là một trò tinh nghịch!” Ông có tin rằng người phụ nữ khốn khổ, không có gì cả được một ông Bá tước, Bộ trưởng, người giàu có và phong lưu rất mực, đem lòng yêu quí suốt ba năm trời mà không cho lại ông ấy một cái gì ư? Bây giờ tất cả đã hết. Mặc kệ. Việc này không thể kéo dài mãi. Trong ba năm tôi đã kiếm được không ít. Xin ông nói lại với Bá tước như vậy.

Cô ta đứng lên. Em trai tôi hỏi thêm:
- Thế còn đứa trẻ? Bà phải có một thằng bé để anh tôi nhìn thấy chứ?
- Đúng thế. Đó là con của người em gái tôi. Tôi mượn của cô ấy. Tôi cho rằng chính nó đã báo tin cho ông.
- Được rồi. Còn những lá thư từ Ý gửi về thì sao?
Cô ta cười một cách thoả mãn:
- Ôi Những bức thư ấy là những bài thơ. Ông Bá tước không phải làm Bộ
trưởng Ngoại giao để không được hưởng gì cả.
- Nhưng còn...
- Còn lại là những bí mật của tôi. Tôi không muốn làm hại ai cả.
Và cô ta chào với vẻ chế nhạo, rồi thản nhiên ra về như một diễn viên sau khi đóng xong vai kịch của mình. Và Bá tước L... rút ra một vấn đề đạo đức:
- “Hãy cự tuyệt những con người như vậy”.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeFri Feb 07, 2020 10:00 am

.


Yêu Vô Vọng  
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Vào cuối bữa ăn chiều khai mạc cho một mùa săn, gia đình Hầu tước Bertrans cùng khách khứa ngồi quanh một cái bàn thắp đèn sáng rực, đầy ắp trái cây và hoa. Câu chuyện chuyển sang đề tài tình yêu. Ngay lập tức nổ ra một cuộc tranh luận sôi nổi rằng phải chăng chúng ta có thể yêu không chỉ một lần.
Những người đã một lần yêu đưa ra minh chứng cho tình yêu của họ; thật khác với những người đã mãnh liệt yêu nhiều lần. Đàn ông cho rằng niềm đam mê ấy, như những căn bệnh, có thể đến với con người vài lần, trừ phi nó chết hẳn.
Kết luận này xem ra có vẻ khá thuyết phục. Tuy nhiên, giới phụ nữ, dựa vào thơ ca hơn là thực tế, cho rằng tình yêu chỉ đến một lần trong đời. Như bị sét đánh, một trái tim khi đã tổn thương vì yêu sẽ mãi mãi tan nát, khép kín, không còn chỗ cho những cảm xúc khác bám rễ, ngay cả mộng mơ cũng không. Hầu tước, người đã nhiều lần yêu, lên tiếng phản bác:
"Tôi nói các bạn nghe nhé, chúng ta có thể yêu nhiều lần và yêu rất chân thành với trọn vẹn con tim và cảm xúc. Các bạn kể tên những người đã tự tử vì yêu để chứng minh rằng tình yêu không thể đến hai lần. Nhưng tôi lại đánh cược rằng nếu họ không dại dột huỷ hoại đời mình, họ sẽ tìm ra một tình yêu khác, và thậm chí nhiều mối tình khác nữa cho đến khi họ chết. Yêu cũng như uống rượu, khi đã biết rồi thì sẽ mãi là nô lệ của nó. Đó là sự mới mẻ của tình yêu."

Họ chọn một vị bác sĩ lớn tuổi làm trọng tài. Ông ấy nói mình cũng nghĩ như Hầu tước đã nói, điều này thuộc về tính chất.
"Về phần tôi, vị bác sĩ nói, tôi đã biết đến một tình yêu kéo dài năm mươi lăm năm không một ngày ngơi nghỉ, và chỉ chấm dứt bằng cái chết." Bà Hầu tước vỗ tay.
"Tuyệt vời! Thật trong mơ mới được yêu như thế! Hạnh phúc làm sao khi được sống trong một tình cảm bền vững, không đổi thay trong suốt năm mươi lăm năm! Người đàn ông này quá may mắn nên mới được ngưỡng mộ như vậy!"
Vị bác sĩ mỉm cười. "Bà nói không sai, thưa bà, người được yêu là một người đàn ông. Bà biết ông ấy đấy, đó là ông Chouquet, dược sĩ. Bà cũng biết người phụ nữ. Đó là người thợ sửa bàn ghế mỗi năm đều đến tòa lâu đài này". Nỗi háo hức của các bà xịu xuống. Vài người bày tỏ sự thất vọng bằng cách thở phì vì tình yêu của những người bình thường không làm họ quan tâm.
Vị bác sĩ tiếp: "Ba tháng trước tôi được gọi đến gường bệnh của người sửa bàn ghế cũ, Vị linh mục đã ở đó. Bà ta muốn chúng tôi làm chứng cho nguyện vọng sau cùng. Để chúng tôi có thể hiểu được vấn đề bà ta kể hết về cuộc đời mình. Thật đáng thương! Cha mẹ bà ấy đều là người sửa bàn ghế. bà ấy chưa bao giờ sống trong một căn nhà. Khi còn là đứa bé con bà đã theo họ đi lang thang khắp nơi, dơ bẩn, nhếch nhác và đói khát. Họ đi đến nhiều nơi, bỏ lại ngựa, xe và chó ở bên ngoài, nơi con bé thẩn thơ chơi một mình chờ đến khi cha mẹ sửa xong những bàn ghế gãy trong vùng.
Họ rất ít nói, chỉ rao to: "Sửa bàn ghế cũ đây..."
"Khi con bé đi lạc đâu đó, cha nó giận dữ gọi về. Nó chưa hề nghe được một lời âu yếm. Lớn lên một chút, nó đi tìm và mang vác những bàn ghế hỏng. Rồi nó kết bạn với những đứa trẻ trong vùng, nhưng cha mẹ chúng thường gọi vào la mắng không cho nói chuyện với con bé lang thang. Những đứa bé trai thường ném đá vào nó. Có lần một bà tốt bụng cho nó vài xu. Nó cẩn thận cất đi. Một ngày nọ - khi ấy nó mười một tuổi - đi qua tỉnh lỵ, nó gặp bé Chouquet, đang khóc nức nở, vì một đứa bạn lấy cắp hai đồng xu quí báu. Nước mắt của một đứa bé con nhà khá giả, mà nó tưởng chừng không bao giờ biết đến buồn khổ, đã làm nó mềm lòng. Nó đến gần thằng bé và khi biết được nguyên do, nó liền đặt vào tay thằng bé tất cả số tiền dành dụm. Thằng bé lấy ngay không ngần ngại và lập tức nín khóc. Vô cùng vui sướng, nó hôn thằng bé. Bận đếm tiền, thằng bé chẳng màng phản ứng. Thấy không bị cự tuyệt, nó lại ôm thằng bé rồi chạy mất."
"Tình cảm của con bé đã chuyển biến như thế nào? Phải chăng nó đã cho hết của dành dụm để rồi cũng dành trọn tình cảm cho thằng bé con ấy, hay vì nó đã cho thằng bé nụ hôn dịu dàng đầu đời? Điều bí ẩn ấy tác động tới trẻ con cũng chẳng khác chi với người lớn. Trong nhiều tháng nó luôn mơ về góc đường gần nghĩa trang và thằng bé ấy. Thỉnh thoảng nó ăn cắp một vài xu từ tiền sửa ghế hay tiền mua vặt. Khi trở lại góc đường ấy, nó có trong túi hai quan tiền, nhưng thằng bé không có ở đó. Nó đi qua hiệu thuốc của cha thằng bé, trông thấy thằng bé đang ở sau quầy hàng, ngồi giữa hai quả cầu to, một đỏ, một xanh. Nó càng yêu mến thằng bé hơn, mang theo hình ảnh của những quả cầu rực rỡ sắc màu. Nó giữ mãi hồi ức đẹp đẽ trong tim. Năm sau nó gặp thằng bé gần trường học, đang chơi bi. Nó chạy đến ôm chầm lấy và hôn nồng nhiệt đến nỗi thằng bé la lên vì sợ hãi. Để dỗ dành, nó cho thằng bé tất cả. Ba quan và hai mươi xu! Thật là một mỏ vàng! Thằng bé không rời mắt khỏi số tiền đó."
"Sau đó thằng bé cho nó hôn thỏa thích. Suốt bốn năm sau đó nó đã cho thằng bé tất cả số tiền dành dụm để đổi lấy những nụ hôn. Lúc thì ba mươi cắc, lúc thì hai quan tiền. Có lần, chỉ có được mười hai cắc, nó khóc vì buồn và xấu hổ, nức nở giải thích rằng năm ấy quá túng thiếu. Năm sau, nó mang đến một đồng năm quan, lòng sung sướng. Nó không còn nghĩ đến ai khác ngoài thằng bé, và thằng bé thì nóng lòng mong nó; đôi khi chạy đi tìm nó. Tim nó rộn lên vì vui sướng.

Thình lình thằng bé biến mất. Nó đã đi học. Con bé biết được nhờ hỏi thăm. Rồi nó trổ hết tài để thuyết phục cha mẹ nó chuyển sang hướng khác và đi qua nơi gần trường học trong suốt mùa hè. Sau một năm nó đạt được ý nguyện. Đã hai năm nó không gặp thằng bé, và giờ khó lòng nhận ra, thằng bé đã thay đổi rất nhiều, cao hơn, xinh trai hơn và trông uy nghi trong bộ đồng phục gắn nút đồng. Nó giả vờ không thấy con bé, đi qua mà không hề liếc mắt. Con bé khóc nức nở hai ngày liền và từ đó nó không ngừng yêu và đau khổ.
Mỗi năm thằng bé về nhà và nó lại đi ngang qua, không dám ngước mắt nhìn.
Thằng bé không hề hạ mình quay đầu về phía nó. Nó yêu điên cuồng, vô vọng.
Nó nói: "Anh ấy là người đàn ông duy nhất tôi nhìn thấy. Tôi còn không biết đến sự hiện hữu của những người khác." Cha mẹ nó chết. Nó tiếp tục công việc của họ."
"Ngày nọ, trên đường vào làng, nơi cất giữ trái tim nó, nó trông thấy Chouquet từ hiệu thuốc khoác tay một phụ nữ trẻ đi ra, vợ anh ta đó. Tối hôm ấy cô thợ sửa ghế đã trầm mình xuống dòng sông. Một người say rượu đã lôi cô ấy lên và mang đến hiệu thuốc. Cậu Chouquet, khoác bộ đồ ngủ, xuống làm các động tác cấp cứu. Dường như không biết cô ta là ai, cậu cởi áo và chà xát khắp người, rồi hấp tấp nói:
"Cô điên rồi! Không nên làm cái việc ngu ngốc thế". Giọng nói của anh ta đã mang cô ấy trở lại cuộc sống. Anh ta đã nói chuyện! Rồi cô ấy vui vẻ trong một thời gian dài.

Cuộc sống của cô ấy trôi qua như thế: làm việc và luôn nghĩ về anh ta. Cô ấy bắt đầu mua thuốc tại hiệu thuốc ấy, điều này giúp cô có cơ hội nói chuyện và thấy được anh ta. Bằng cách này, cô ấy vẫn có thể cho anh ta tiền". "Như tôi vừa nói, bà ta mất mùa xuân rồi. Khi chấm dứt câu chuyện cảm động của mình, bà ta khẩn khoản tôi giao hết số tiền dành dụm cho người đàn ông mình yêu. Bà ta đã làm việc chỉ với mong muốn để lại cái gì đó gợi nhớ về mình sau khi chết. Tôi đưa Cha năm mươi quan để lo chi phí tang lễ. Sáng hôm sau tôi đến gặp Chouquet. Họ vừa ăn sáng xong, mập mạp và hồng hào, sung sức và tự mãn. Họ chào và mời tôi uống cà phê. Rồi tôi bắt đầu câu chuyện, giọng vẫn còn run vì xúc động, tin rằng họ sẽ mềm lòng, có thể rơi nước mắt. Ngay khi Chouquet biết rằng mình bị "đồ cầu bơ cầu bất, đồ mạt hạng, lang thang" đó yêu, anh ta căm phẫn nguyền rủa như thanh danh mình đã bị bôi nhọ, lòng tự trọng của một người cao quí đã bị mất, danh dự, cái mà anh ta xem trọng hơn cả cuộc sống, đã không còn. Người vợ điên tiết không ngớt nguyền rủa "Đồ ăn mày! Đồ ăn mày!" 
Chừng như không thể tìm ra từ ngữ để diễn tả, anh ta đứng dậy bước quanh, càu nhàu: "Ông có thể tưởng tượng được chuyện gì kinh khủng như thế không, bác sĩ? Ô, nếu tôi biết việc này khi mụ ta còn sống, tôi đã tống cổ mụ vào tù. Tôi thề rằng mụ ta sẽ không thoát khỏi tay tôi đâu."

"Tôi chết lặng; không còn biết nghĩ gì và nói gì, nhưng tôi vẫn phải hoàn tất lời hứa của mình. "Bà ta đã ủy thác cho tôi giao lại cho ông số tiền dành dụm của bà ấy, ba ngàn năm trăm quan. Vì ông bất mãn với những gì tôi vừa kể, có thể ông muốn cho người nghèo số tiền này."
"Họ nhìn tôi, người đàn ông và người đàn bà đó nín lặng vì kinh ngạc. Tôi lấy mấy ngàn quan ra khỏi túi. Những đồng tiền góp nhặt từ mọi miền đất nước. Đồng xu xen lẫn đồng vàng. Rồi tôi hỏi:
"Ông quyết định thế nào?"
"Bà Chouquet lên tiếng trước. "À, vì đó là mong muốn của người đàn bà đã chết, tôi nghĩ rằng mình không thể từ chối."
"Chồng bà ta nói, có vẻ xấu hổ. "Chúng ta có thể mua thứ gì đó cho con mình".
"Tôi trả lời khô khốc. "Tuỳ ý ông".
"Ông ta trả lời: "Được rồi, dù sao ông cũng đưa chúng tôi vì bà ta đã uỷ thác cho ông việc này, chúng ta sẽ tìm ra cách tiêu tiền chính đáng". "Tôi giao tiền cho họ, chào và ra về.
Ngày hôm sau Chouquet đến tìm tôi và sống sượng hỏi:
"Người đàn bà đó để lại cái xe - ông đã làm gì với nó?".
"Không gì cả, nếu muốn ông cứ lấy".
"Tôi cần nó". Ông ta nói rồi bỏ đi. Tôi gọi ông ta lại hỏi:
"Bà ta còn để lại một con ngựa già và hai con chó. Ông có cần chúng không?"
"Quẳng đi nếu ông muốn" "Ông ta cười to rồi đưa tay cho tôi. Tôi bắt tay. Tôi còn có thể làm gì? Bác sĩ và dược sĩ trong làng không nên thù địch nhau.

Tôi giữ lại hai con chó. Đức cha giữ con ngựa già. Chiếc xe rất hữu dụng với Chouquet, và anh ta dùng tiền để mua cổ phiếu đường sắt. Đó là một chuyện tình sâu đậm, tha thiết nhất mà tôi được biết trong suốt cuộc đời mình".
Vị bác sĩ ngước lên. Bà Hầu tước mắt đẫm lệ, thở dài nói:
"Không nghi ngờ gì nữa, chỉ có phụ nữ mới biết yêu".


Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Images?q=tbn%3AANd9GcQY71Do4DF46w1Wejct8GiZQzEo307KIRWXH110HhxQ7AvCY0ev
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeThu Mar 05, 2020 4:12 pm

.

Con quỷ 

- Guy de Maupassant (1850-1893)


Gã nông dân đứng đối diện viên thầy thuốc, trước giường người hấp hối. Bà lão, lặng lẽ, nhẫn nhục, minh mẫn, nhìn hai người đàn ông và nghe họ trò chuyện. Bà sắp chết; bà không cưỡng lại, đời bà hết rồi, bà đã chín mươi hai tuổi.

Qua cửa sổ và cửa ra vào để ngỏ, mặt trời tháng bảy tràn vào, rọi ánh nắng nóng nực lên nền đất nâu, mấp mô, đã nện lèn dưới gót guốc của bốn thế hệ dân quê. Cả mùi vị đồng ruộng cũng thoảng vào, do cơn gió oi bức thổi tới, mùi cỏ, mùi lúa mì, mùi lá khô nỏ dưới sức nóng ban trưa. Châu chấu kêu ran ran, khiến đồng quê vang lên tiếng lách tách lao xao, giống tiếng những con cào cào gỗ bán cho trẻ em chơi trong hội chợ.
Thầy thuốc cất cao giọng, nói:
- Bác Honore, bác không thể để bà cụ bác trơ trọi một mình trong tình trạng này được. Bà cụ sẽ tắt thở bất kỳ lúc nào!
Và gã nông dân, phiền muộn, nhắc lại:
- Tôi phải gặt lúa cho xong chứ. Lúa chín rũ xuống lâu quá rồi. Vừa may tốt trời. Này, mẹ bảo sao, hử?
Và bà lão hấp hối, hãy còn bị day dứt vì thói keo kiệt của gã Norman, “ừ” bằng mắt và trán, ý bảo con đi gặt lúa và cứ để bà chết một thân một mình.
Nhưng viên thầy thuốc nổi giận và giậm chân:
- Bác chỉ là đồ súc vật thôi bác biết chưa và tôi không cho phép bác làm như thế bác biết chưa. Và nếu bác buộc phải gặt lúa về ngay ngày hôm nay, thì đi mà tìm mụ Rapet, chứ sao! Và bảo mụ ấy trông nom bà lão. Tôi muốn thế, bác biết chưa? Và nếu bác không nghe lời tôi thì khi nào đến lượt bác ốm, tôi sẽ để mặc bác chết như con chó ấy, bác biết chưa?
Gã nông dân người cao gầy, cử chỉ chậm chạp, bị dằn vặt vì do dự, vì sợ thầy thuốc và vì lòng ham chắt bóp dữ dội, ngần ngại, toan tính, ấp úng:
- Thế nhà mụ Rapet, mụ ấy lấy ngần nào, để coi sóc?
Viên thầy thuốc hét lên:
- Tôi biết đâu đấy? Đó là tùy theo thời gian bác nhờ mụ ấy. Bác đi mà thu xếp với mụ ấy chứ. Rõ thật! Nhưng tôi muốn một giờ đồng hồ sau, mụ ấy phải có ở đây, bác biết chưa?
Gã đàn ông quyết định:
- Tôi đi đây, tôi đi đây, ông thầy thuốc, ông đừng có bực.
Và bác sĩ ra đi, còn dặn:
- Bác phải biết, phải biết, liệu đấy, vì tôi ấy, tôi mà bực lên thì tôi không đùa đâu!
Còn lại một mình, gã nông dân quay nhìn mẹ, và bằng một giọng nhẫn nhục: - Tôi đi tìm mụ Rapet vậy, vì cái nhà ông ấy muốn thế. Tôi chưa về, mẹ đừng có lo. Và gã cũng ra đi.

Mụ Rapet, một mụ thợ giặt già, thường trông nom người chết, người ốm ở làng và ở các vùng lân cận. Rồi bỏ xong khách hàng vào tấm vải mà họ không bao giờ ra khỏi nữa, mụ lại quay ra cầm bàn là, là quần áo cho người sống. Răn reo như quả táo khô từ năm ngoái còn lại, tàn nhẫn, ganh ghét, keo kiệt, một sự keo kiệt đến mức kỳ quái, người cúi gập xuống như thể bị gãy xương hông vì động tác triền miên đưa bàn là trên vải, dường như mụ có một mối tình quái đản và trắng trợn với sự hấp hối. Mụ chỉ nói đến những kẻ mụ đã nhìn thấy họ chết, đến đủ loại chết khác nhau mà mụ đã tham dự; và mụ kể lại hết sức tỉ mỉ những chi tiết bao giờ cũng giống nhau, hệt như một tay săn bắn thuật lại các phát súng của y.
Khi Honore Bontemps đến nhà mụ, gã thấy mụ đang pha nước lơ để hồ cổ áo cho các bà người làng.
Gã nói:
- Chào mụ, mụ Rapet, công việc có khá không?
Mụ quay đầu về phía gã:
- Vậy thôi, vậy thôi. Còn nhà bác thế nào?
- Ồ, phần tôi thì được. Nhưng bà cụ nhà tôi không ổn.
- Bà cụ bác hử?
- Ừ bà cụ!
- Bà cụ sao hử?
- Bà cụ sắp chết! Mụ già rút tay khỏi nước, những giọt nước xanh xanh trong suốt chảy đến tận đầu ngón tay mụ rồi lại rơi xuống chậu.
Mụ hỏi, đột nhiên có thiện cảm:
- Bà lão nặng thế kia hử?
- Thầy thuốc bảo chả qua khỏi chiều nay.
- Thế thì nặng lắm rồi!
Honore ngần ngại. Cần rào đón ít nhiều trước khi bàn với mụ điều gã đã chuẩn bị. Nhưng chẳng biết nói năng thế nào, gã bỗng quyết định phắt:
- Này, trông nom bà lão cho đến xong thì mụ lấy bao nhiêu? Mụ biết là tôi chả giàu có gì đâu. Mượn một người ở cũng chả đủ. Rõ khổ bà cụ nhà tôi, chính vì thế mà bà cụ đến nước này đấy, lo lắng nhiều quá, vất vả nhiều quá. Một mình làm bằng mười người ấy, mà chín mươi hai tuổi đầu rồi.
Mụ Rapet nghiêm trang đáp:
- Có hai giá: người giàu thì bốn mươi xu ban ngày, ba quan ban đêm. Người khác thì hai mươi xu ban ngày, bốn mươi xu ban đêm. Bác trả tôi hai mươi, bốn mươi.
Nhưng gã nông dân còn nghĩ ngợi. Gã biết rõ bà mẹ gã lắm. Gã biết bà lão bền bỉ, tráng kiện và dai sức đến như thế nào. Mặc dù thầy thuốc nói thế chứ dễ phải kéo đến tám ngày mới xong.
Gã cả quyết nói:
- Không, tôi muốn mụ định cho tôi một giá, thế, một giá để trông cho đến xong. Tôi cũng liều may rủi xem sao. Thầy thuốc bảo là bà sắp đi ngay. Nếu thế thì hay cho mụ, thiệt cho tôi. Nhưng nếu bà lão còn đến mai hay lâu nữa thì hay cho tôi, thiệt cho mụ! 
Mụ coi người ốm ngạc nhiên, nhìn gã đàn ông. Mụ chưa từng nhận khoán một cái chết nào. Mụ ngần ngừ, cũng muốn thử cầu may xem sao. Rồi mụ nghi người định bịp mình.
- Chưa nhìn thấy bà lão nhà bác thì tôi chưa nói năng gì được. – Mụ trả lời.
- Thế thì đi, đi xem. Mụ chùi tay rồi theo gã đi luôn.

Dọc đường họ chẳng nói năng gì. Mụ đi tất tưởi, trong khi gã sải đôi cẳng chân dài như thể mỗi bước đều phải bước qua một con suối.
Những con bò nằm trong đồng, mệt mỏi vì nóng bức, nặng nề ngửng đầu lên và rống khe khẽ, hướng về phía hai người đi qua, để xin họ ít cỏ tươi. Gần về đến nhà, Honore Bontemps lẩm bẩm:
- Ngộ xong rồi thì sao?
Và niềm ao ước bất tự giác của gã bộc lộ ra trong giọng nói.
Nhưng bà lão không hề chết. Bà nằm ngửa, trên chiếc giường nát, hai bàn tay đặt lên cái chăn vải tím, những bàn tay gầy một cách kinh khủng: gân guốc xù xì, giống như những con vật lạ lùng, như những con cua, và quắp lại vì bệnh tê thấp, vì những nỗi nhọc nhằn, vì những công việc chúng đã làm gần suốt một thế kỷ.
Mụ Rapet lại bên giường, ngắm người hấp hối. Mụ xem mạch sờ ngực, nghe bà lão thở, hỏi han để nghe bà nói, rồi sau khi đã ngắm nghía bà lão thêm một hồi lâu, mụ đi ra. Honore theo đằng sau. Ý mụ đã định. Bà lão không còn được đến tối. Honore hỏi:
- Thế nào?
Mụ trả lời:
- Thế này, phải kéo đến hai ngày, có khi ba. Bác cho tôi sáu quan tất cả.
Gã kêu lên:
- Sáu quan! Sáu quan! Mụ lẫn rồi à? Tôi bảo cho mụ biết là bà lão còn năm, sáu giờ đồng hồ nữa thôi, không hơn đâu!
Và họ mặc cả rất lâu, cả hai đều ráo riết hăm hở. Thấy mụ gác định ra về, thấy thời gian trôi qua, thấy lúa mì của mình không tự gặt về được, cuối cùng gã đồng ý:
- Thôi được, thế là ngã ngũ, sáu quan, tất cả, đến lúc đem đi chôn.
- Thế là ngã ngũ, sáu quan.

Và gã ra đi, bước ngắn bước dài, đến với lúa mì của gã đang rạp xuống đất, dưới mặt trời nặng nề hun chín mùa màng.
Mụ Rapet quay vào trong nhà. Mụ đã đem đồ khâu vá đến, vì bên người hấp hối và người chết, mụ vẫn làm việc không ngừng, khi thì làm cho mụ, khi thì cho gia đình thuê mụ làm cả hai việc một lúc, trả thêm tiền công. Thốt nhiên, mụ hỏi:
- Mụ Bontemps này thế đã làm lễ xức dầu cho mụ chưa?
Bà lão nông dân lắc đầu ra ý “không”, và mụ Rapet vốn người sùng đạo, hấp tấp đứng dậy:
- Lạy Chúa, ai lại thế bao giờ? Để tôi đi tìm cha xứ. Và mụ tất tả đến nhà xứ, vội vã đến mức bọn trẻ con trông thấy mụ chạy long tong như thế, cứ tưởng có chuyện rủi ro gì xảy ra.
Linh mục đến ngay, mặc áo lễ trắng, đứa bé hầu lễ đi trước lúc lắc cái chuông con để báo hiệu có Chúa Trời đi qua đồng quê oi bức và yên tĩnh. Những người đàn ông làm lụng ở đằng xa, ngả mũ và đứng đợi cho tà áo trắng khuất sau một trang trại; những người đàn bà đang lượm lúa đứng thẳng lên để làm dấu thánh giá; những con gà mái đen, hoảng sợ, chạy trốn dọc theo đường hào, đung đưa hai chân, cho đến tận cái hố rất quen thuộc với chúng, và lỏn ngay vào đó; một con ngựa non buộc ở cánh đồng cỏ, nhìn thấy tà áo lễ đâm hoảng chạy vòng quanh đầu sợi dây, vừa chạy vừa lồng lên. Chú bé hầu lễ mặc áo đỏ, rảo bước; và linh mục, đầu ngả về một bên vai, đội mũ vuông. Vừa theo sau vừa cầu kinh còn mụ Rapet đi sau cùng cúi rạp người xuống, gập mình làm đôi như thể vừa đi vừa lạy, hai tay chắp lại như ở nhà thờ.
Từ xa, Honore nhìn thấy họ. Gã hỏi:
- Cha xứ đi đâu ấy nhỉ?
Người làm của gã tinh tế hơn, trả lời:
- Cha mang mình Chúa đến cho bà cụ nhà bác chứ còn gì nữa!
Gã nông dân không ngạc nhiên:
- Ừ, cũng có khi như vậy? Và gã lại tiếp tục làm.
Mụ Bontemps xưng tội, được rửa tội, chịu lễ; và linh mục ra về, để lại hai người đàn bà với nhau trong túp nhà tranh ngột ngạt. Thế là mụ Rapet ngắm nhìn người hấp hối, và tự hỏi xem liệu có lâu không.

Trời ngả về chiều. Gió đã mát lùa vào mạnh hơn, làm một bức tranh Epinal cài bằng hai chiếc đinh ghim phất phới đập vào tường. Những tấm rèm che cửa sổ, xưa kia trắng, nay vàng và đầy vết ruồi bậu, có vẻ như bay lên, như giãy giụa, như muốn ra đi, cũng như linh hồn bà lão.
Bà lão, yên lặng, hai mắt mở, dường như thản nhiên chờ đợi cái chết cực gần mà chậm đến. Hơi thở ngắn của bà hơi rít trong cổ họng bị se lại. Lát nữa đây, hơi thở ấy sẽ ngưng, và trên đời sẽ bớt đi một người đàn bà chẳng ai thương tiếc.
Sẩm tối, Honore về. Gã lại gần giường, thấy mẹ còn sống, và gã hỏi:
- Thế nào mẹ? Giống như trước kia vẫn hỏi khi bà lão khó ở. Rồi gã cho mụ Rapet về, và dặn:
- Sáng mai, năm giờ, không sai nhé.
Mụ trả lời: - Sáng mai, năm giờ.
Quả thật, trời vừa sáng là mụ đến. Honore, trước khi ra đồng, ăn món xúp gã tự nấu lấy.
Mụ Rapet hỏi:
- Thế nào, bà cụ nhà bác đi chưa?
Gã trả lời, đuôi mắt nheo lại láu lỉnh:
- Bà lão lại khá hơn thì phải. Và gã ra đi.
Mụ Rapet, lo lắng, lại gần người hấp hối. Bà lão vẫn ở trong tình trạng cũ, khò khè tức thở và thờ ơ bình thản mắt mở, tay co quắp trên chăn.
Và mụ gác hiểu rằng có thể kéo dài hai ngày, bốn ngày, tám ngày như thế này; và một nỗi kinh hoàng co thắt trái tim keo kiệt của mụ, trong khi một cơn tức tối giận dữ bừng bừng nổi lên với cái tay láu cá đã bịp mụ và với cái mụ đàn bà không chết đi này.
Tuy vậy mụ vẫn làm việc, mắt đăm đăm nhìn vào bộ mặt răn reo của mụ Bontemps.
Honore trở về ăn bữa trưa. Gã có vẻ hài long, hầu như giễu cợt rồi gã lại đi. Chắc hẳn gã gặt lúa trong những điều kiện thật mỹ mãn.

Mụ Rapet nổi xung; mỗi phút trôi qua giờ đây mụ tưởng như thời gian bị ăn cắp, như tiền bạc bị ăn cắp. Mụ muốn, muốn một cách điên cuồng muốn tóm cổ cái con lừa cái già kia, cái mụ già ương ngạnh kia. Cái mụ già ngoan cố kia, và bóp lại một tị, làm ngưng cái hơi thở gấp gáp nho nhỏ kia, nó ăn cắp thời gian và tiền bạc của mụ.
Rồi mụ nghĩ tới sự nguy hiểm, và trong đầu nảy ra những ý khác, mụ lại gần giường. Mụ hỏi:
- Mụ đã trông thấy quỷ bao giờ chưa?
Mụ Bontemps thì thào: - Không.
Thế là mụ gác bèn nói chuyện, bèn kể cho bà lão nghe các câu chuyện để khủng bố cái linh hồn suy nhược của kẻ sắp chết.
Mụ bảo là vài phút trước khi tắt thở, quỷ thường hiện ra với tất cả những người hấp hối. Tay nó cầm cái chổi, đầu nó đội cái nồi, và nó hét rất to. Khi đã nhìn thấy nó, là xong đời đấy, chỉ còn chốc lát nữa thôi. Và mụ liệt kê tất cả những ai đã thấy quỷ hiện hình: trước mặt mụ, trong năm nay: Josephine Loisel này, Eulalie Ratier này, Sophie Padaknau này, Seraphine Grospied này.
Mụ Bontemps rốt cuộc bị xúc động, bồn chồn cựa quậy, động đậy tay, thử ngoái đầu để nhìn vào góc buồng trong cùng.

Đột nhiên mụ Rapet biến mất ở chân giường. Mụ lấy trong tủ một tấm vải trải giường, quấn vào người; mụ đội cái nồi, ba chân nồi ngắn và cong dựng lên như ba cái sừng, tay phải mụ với cái chổi, tay trái với cái xô sắt tay mà mụ bỗng tung mạnh lên để nó rơi xuống loảng xoảng.
Đụng phải mặt đất, nó khua ầm ầm dữ dội, thế là mụ trèo lên ghế vén tấm màn treo ở đầu giường và xuất hiện, tay chân vung vẩy, hét lên những tiếng the thé từ đấy chậu sắt che kín mặt và giơ chổi ra dọa dẫm bà già nông dân sắp tắt thở.
Hốt hoảng, mắt nhìn đờ dại, bà lão hấp hối gắng gỏi một cách phi thường để nhỏm dậy chạy trốn, bà đưa được cả vai và ngực ra khỏi chăn; rồi ngã xuống, thở hắt rất dài. Thế là xong.
Và mụ Rapet bình thản, xếp tất cả đồ đạc vào chỗ cũ, cái chổi vào góc tủ, vài trải giường vào trong tủ, nồi đặt lên bếp lò, xô để trên tấm ván, ghế dựa vào tường.

Rồi với những cử chỉ chuyên nghiệp, mụ vuốt đôi mắt to trừng trừng của người chết, đặt lên giường một cái đĩa rót nước thánh, lấy nhành dương treo trên tủ nhúng vào và quỳ xuống, nhiệt thành đọc những bài nguyện cho người qua đời mà mụ thuộc lòng, do nghề nghiệp.
Và đến tối khi Honore trở về gã thấy mụ đang cầu kinh, và gã tính ngay ra rằng mụ còn được lợi của gã ba mươi xu, vì mụ chỉ mất có ba ngày một đêm, tất cả là đi năm quan, chứ không phải sáu quan như gã đã phải trả mụ.

Lê Hồng Sâm dịch
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeFri Mar 20, 2020 12:24 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Images?q=tbn%3AANd9GcRzP6X3Tx5SwOZkIuXMUY1Vn40mdy0CUYG9WLmoCp_W63VoSd2S

Tình thôn dã
- Guy de Maupassant (1850-1893)


Chuyến xe lửa vừa rời thành phố Genes đi về hướng Marseille, men theo bờ biển khúc khuỷu lởm chởm đá, nhẹ lướt giữa biển cả núi non như con rắn sắt, bấu víu vào bờ biển cát vàng, nơi những lượn sóng nhấp nhô vỗ vào, trông như mảnh lưới bạc, và bỗng chui vào cửa miệng đen ngòm của những con đường hầm, như con thú chui vào hang.
Trong toa xe cuối cùng, một phụ nữ to lớn và một thanh niên ngồi đối diện nhau, không nói một câu, và chốc chốc lại nhìn nhau. Có lẽ cô ta đã hai nhăm tuổi, cô ngồi cạnh cửa ngắm phong cảnh. Cô là một nông dân vùng Piemont, đôi mắt đen huyền, chiếc ngực đồ sộ, đôi má núng nính. Cô đã cho đám hành lý của mình vào dưới băng ngồi bằng gỗ, và ôm trên gối một chiếc giỏ. Chàng thanh niên khoảng hai mươi tuổi, gầy gò, đen xạm, cái đen của người cày sâu cuốc bẫm ngoài trời. Bên cạnh chàng, trong chiếc khăn mù-xoa là tất cả gia tài, sự sản của chàng: một đôi giày, một áo chemise, một chiếc quần và một áo vét. Dưới băng ngồi chàng cũng cất một vài thứ: một xẻng, một cuốc buộc chung với nhau bằng một sợi dây. Chàng sang Pháp tìm việc làm.

Mặt trời đã lên cao, tỏa cơn nóng rực xuống vùng biển, lúc ấy vào cuối tháng năm, và những mùi thơm ngây ngất bay lượn lờ, chui vào toa xe qua những cửa kính để trống. Những cây cam, chanh đang kỳ ra hoa, toả lên không trung êm ả những mùi thơm ngọt ngào dịu dàng, mãnh liệt, làm ngây ngất, chúng hòa lẫn hương thơm ấy với mùi hoa hồng, mọc khắp nơi như cỏ dại dọc theo đường, trong những khu vườn trù phú, trước những túp lều tồi tàn, và cả trong cánh đồng.
Đây là quê hương của hoa hồng, trên bờ biển này! Chúng ngự trị vùng này bằng mùi thơm mãnh liệt và êm ái của chúng, chúng biến không khí thành kẹo ngọt tuyệt vời còn hơn cả rượu vang, và làm ta ngây ngất như thứ men ấy vậy.
Xe lửa từ từ chạy, như để nán lại trong khu vườn này, trong trạng thái êm ả này. Nó cứ dừng lại luôn, ở những ga xép, trước vài ngôi nhà sơn trắng, đoạn tiếp tục lên đường với dáng điệu thong dong, sau khi đã rúc còi một hồi lâu. Không ai lên toa xe ấy cả. Ta có thể nói rằng mọi người đều say ngủ, không dám thay chỗ ngồi trong buổi sáng mùa xuân nóng nực hôm nay. Người phụ nữ mập mạp kia thỉnh thoảng lại nhắm mắt, rồi chợt mở ra, khi chiếc giỏ của chị tụt xuống khỏi gối, chực rơi xuống sàn. Chị nhanh nhẹn chụp lại, rồi nhìn ra ngoài trong vài phút, rồi lại tiếp tục lim dim. Những giọt mồ hôi rịn ra trên trán chị, và chị thở một cách khó nhọc, như thể đang chịu một sức ép khủng khiếp.

Từ nãy giờ, chàng trai gục đầu và ngủ một giấc ngon lành như mọi người dân quê khác. Thình lình, khi xe vừa ra khỏi một ga xép, chị nông dân chợt tỉnh giấc, và vừa mở giỏ, chị vừa lôi ra một miếng bánh mì, vài quả trứng luộc, một vò rượu và mấy quả đào, những quả đào chín mọng trông phát thèm, và chị bắt đầu ăn.
Đến lượt chàng trai chợt thức giấc, và chàng nhìn chị, chàng nhìn từng miếng thức ăn của chị di chuyển từ đầu gối lên mồm. Chàng ngồi khoanh tay, mắt nhìn đăm đăm, đôi gò má lõm xuống, miệng mím chặt.
Còn chị, chị ăn uống như mọi phụ nữ xồ xề háu ăn, chốc chốc lại uống một ngụm rượu để trứng dễ nuốt hơn, rồi dừng lại để thở một chút. Chị thanh toán tất, nào táo, nào trứng, nào đào, nào rượu. Và từ lúc chị dùng xong bữa, chàng trai lại nhắm mắt. Lúc ấy, vì cảm thấy khó chịu, chị bèn nới lỏng áo ngực, và chàng trai bỗng nhìn tiếp.
Chị không hề quan tâm tới điều ấy, và cứ tiếp tục mở nốt cúc áo váy. Sức căng của ngực chị làm lần vải tung ra, để lộ một mảnh vải trắng và khoảng da thịt nằm giữa cặp vú.

Khi cảm thấy thoải mái hơn, chị bèn nói một câu bằng tiếng Ý: ‘Trời nóng đến nỗi không thể thở được nữa."
Chàng trai bèn trả lời bằng thứ ngôn ngữ ấy và và cũng bằng cách phát âm ấy: "Thời tiết thật tốt để đi chơi".
Chị hỏi: "Anh là người Piemont?"
- Tôi người Asti.
- Còn tôi ở Casale.
Họ là láng giềng của nhau. Họ bắt đầu trò chuyện.
Họ nói hàng lô hàng lốc những chuyện không đâu, như người ta thường nói ở nông thôn, và lại phù hợp với những đầu óc chậm chạp và không định hướng. Họ nói về quê họ. Họ cùng quen biết nhiều người. Họ kể tên ra, và mỗi khi họ khám phá ra thêm một người quen chung nào thì họ càng trở nên thân thiện hơn. Họ nói nhanh hơn, vội hơn, với các âm cuối ồn ào và ngữ điệu của người Ý. Đoạn họ tìm hiểu về nhau.
Chị đã lập gia đình, chị có ba cháu, hiện nhờ cô em nuôi hộ, vì chị đã tìm ra một chỗ nuôi vú em, một chỗ làm tốt ở nhà một bà người Pháp, tại Marseille.
Còn chàng, chàng đang tìm việc làm. Người ta đã mách cho chàng biết rằng chàng cũng có thể tìm được việc ở đó, vì hiện nay người ta đang xây cất nhiều.
Rồi họ lại im lặng.

Mặt trời càng lúc càng nóng kinh khủng, nó rọi thẳng xuống nóc toa xe như mưa trút. Một đám bụi mù la đà đằng sau xe, bay cả vào trong toa, và mùi thơm của cam và hoa hồng làm thêm ngây ngất, và dường như nó càng đậm đặc, càng nặng nề hơn.
Hai vị hành khách lại lim dim ngủ. Họ lại mở mắt ra gần như cùng lúc. Mặt trời nghiêng dần xuống biển cả, trút xuống mặt nước xanh biêng biếc một trận mưa rào ánh sáng chói chang, không khí mát mẻ hơn, dường như cũng nhẹ nhàng hơn.
Chị vú thở hổn hển, chiếc áo ngực mở tung, đôi gò má mềm nhũn, cặp mắt lờ đờ, và chị nói bằng một giọng mệt nhọc:
"Từ hôm qua đến nay em chưa cho bú. Bây giờ em cảm thấy choáng váng như sắp chết."
Chàng chẳng trả lời gì cả, vì chẳng biết nói chi, chị nói tiếp
"Khi dư sữa như em, mỗi ngày phải cho bú ba bận, nếu không thì khó chịu lắm, như thể mang đá trước ngực, nó làm em khó thở, và tay chân rụng rời. Thật là khổ sở khi dư sữa như vầy."
Chàng nói: "Vâng, khổ thật. Chị sẽ bị mệt nhiều đấy."
Thật vậy, chị ta có vẻ ốm nặng vì bị mệt mỏi và đau điếng người. Chị thì thầm: "Chỉ cần ấn mạnh vào bên trên để sữa phun ra là được. Thật buồn cười khi nhìn cảnh ấy. Nhưng không ai tin đâu, ở Casale, các ông bà hàng xóm thường xúm lại nhìn em."
Chàng nói: "Chà, thật vậy."
"Vâng, thật vậy. Em sẽ cho anh xem được thôi, nhưng như thế chẳng giúp gì cho em. Chẳng làm chảy ra được bao nhiêu sữa đâu." Và chị im lặng.
Đoàn xe dừng lại ở một trạm. Một người đàn bà đang đứng gần thanh chắn đường, tay bồng một đứa bé đang khóc. Bà ta gầy còm, rách rưới tả tơi.
Chị vú nhìn bà. Chị nói bằng một giọng thương cảm: "Kia là một người nữa mà em có thể giúp được. Và ngay đứa bé cũng có thể giúp em. Này, em không giàu đâu, bởi em đang bỏ nhà, bỏ người thân, bỏ thằng con út bé bỏng để đi làm mướn. Nhưng em sẽ biếu năm quan để được đứa bé kia bú hộ mười phút, để em bớt đau. Được vậy, em như được sinh ra lần nữa."
Chị lại im lặng. Rồi chị dùng bàn tay nóng hổi của mình xoa đi xoa lại vầng trán ướt đẫm mồ hôi. Và chị rên rỉ: "Em chịu hết nổi rồi. Em sắp chết mất." Và bằng một cử chỉ vô thức, chị mở tung chiếc áo váy ra.
Chiếc vú bên phải hiện ra, căng phồng to tướng, với cái núm màu sậm. Và người đàn bà tội nghiệp càu nhàu: "Ái da, lạy Chúa, lạy Chúa, tôi phải làm sao bây giờ?"

Xe lửa lại lên đường, và tiếp tục băng qua những vườn hoa tỏa ngát hương thơm vào trời chiều ấm áp. Đôi khi người ta gặp thuyền đánh cá dường như mơ màng trên mặt biển xanh biếc, in bóng xuống mặt nước cùng với cánh buồm trắng xóa, im lìm, như thể có một con tàu khác đang lộn đầu xuống biển.
Chàng thanh niên lúng túng nói: "Nhưng… thưa bà… tôi có thể… giúp bà."
Chị trả lời bằng một giọng nói nức nghẹn: "Vâng, nếu anh muốn. Em sẽ mang ơn anh rất nhiều. Em không thể chịu nổi nữa, em không chịu được nữa."
Chàng quỳ xuống trước mặt chị, và chị nghiêng người về phía anh, tay cầm chiếc núm nâu cho vào miệng anh, như người vú đang nuôi cháu bé. Khi chị dùng tay nâng vú, một giọt sữa chảy ra ở đầu núm. Chàng uống lấy vội vã, mồm ngoạm chặt đầu vú nặng trĩu như ngoạm một trái chín. Và chàng bú một cách hau háu và đều đều.
Chàng choàng đôi cánh tay quanh lưng chị, để kéo chị lại gần chàng hơn, và chàng uống từng ngụm sữa, động tác như trẻ em.
Chợt chị lên tiếng: "Bên này thế là được rồi, bây giờ tới cái bên kia."
Và chàng ngoan ngoãn chuyển sang vú bên kia. Chị đặt đôi bàn tay lên lưng chàng trai, và bây giờ chị hít thở rất thoải mái, rất sung sướng, vừa thưởng thức mùi hương của hoa hòa lẫn gió quyện vào toa tàu.
Chị nói: "Bây giờ dễ chịu lắm rồi."
Chàng không trả lời, và vẫn cứ uống mãi cái dòng sữa da thịt ấy, và nhắm nghiền mắt lại như để tận hưởng hương vị của nó.

Nhưng chị nhẹ nhàng ẩy người chàng ra:
"Thế là được rồi. Em cảm thấy khá hơn rồi. Em tỉnh lại rồi."
Chàng đứng dậy, dùng lưng bàn tay chùi mép.
Chị vừa nói vừa cho cặp vú căng tròn vào trong áo váy:
"Ông đã giúp em một việc rất đáng nhớ, thưa ông."
Và chàng đáp lại bằng một giọng biết ơn:
"Chính tôi mới là người cảm ơn, thưa bà, vì đã hai ngày nay, tôi chưa được ăn gì cả."
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeThu Apr 23, 2020 6:49 am

.
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Images?q=tbn%3AANd9GcTnG_SI7rdtm3OZgjuwnFfzOcbHSP_oJrnzt5jKyAKy1eUopwIE&usqp=CAU

Đợi chờ
- Guy De Maupassant (1850-1893)


Sau bữa ăn tối, nhóm đàn ông trò chuyện trong phòng hút thuốc. Họ bàn về những vụ thừa kế bất ngờ, những gia tài kỳ lạ. Lúc đó luật sư Le Brument mà khi thì người ta gọi là luật sư nổi tiếng, khi thì thầy cãi lừng danh, đến dựa lưng vào bên lò sưởi. Ông nói:
" Hiện tôi đang tìm một người thừa kế mất tích trong một trường hợp hết sức đặc biệt. Đây là một trong những bi kịch đơn giản và bất nhẫn nhất trong cuộc sống, một chuyện có thể xẩy ra hằng ngày nhưng là một trong những chuyện ghê sợ nhất mà tôi được biết. Chuyện như thế nầy:

Khoảng sáu tháng trước tôi được gọi đến bên giường một bà sắp chết. Bà ấy nói:
" Thưa ông, tôi muốn nhờ ông một việc có lẽ là tế nhị nhất, khó khăn nhất và mất nhiều thời gian nhất. Ông vui lòng xem qua chúc thư của tôi trên bàn kia. Một khoản thù lao năm ngàn quan sẽ dành cho ông nếu ông không thành công, còn nếu thành công thì sẽ là một trăm ngàn quan. Tôi muốn ông tìm con trai tôi sau khi tôi chết.
Bà ta nhờ tôi đỡ ngồi dậy trên giường để nói cho dễ hơn, vì giọng bà đứt quãng, thều thào, rít trong cổ họng.
Tôi đang đứng trong một ngôi nhà rất giàu. Căn phòng xa hoa nhưng giản dị được bọc bằng vải dày như bức tường, nhìn mát mắt đến nỗi ta có cảm giác như được vuốt ve mơn trớn, yên lặng đến nỗi dường như tiếng nói lọt vào đó sẽ biến mất, hòa tan mất.

Người phụ nữ hấp hối nói tiếp: “Ông là người đầu tiên nghe tôi kể câu chuyện khủng khiếp của tôi. Tôi sẽ cố sức để nói cho hết. Tôi biết ông là người tốt bụng và lịch duyệt nữa nên tôi muốn ông đừng quên bất cứ chuyện gì tôi sắp nói để có thể tận dụng khả năng mà giúp tôi. Ông nghe tôi kể đây:
"Trước khi lập gia đình, tôi đã yêu một người nhưng gia đình tôi không chấp nhận lời cầu hôn vì anh ấy không giàu. Sau đó ít lâu tôi cưới một người rất giàu. Tôi lấy ông ấy vì thiếu hiểu biết, vì sợ, vì vâng lời, vì chẳng quan tâm, nhiều cô gái cũng thường lấy chồng như thế mà!
"Tôi có sinh một đứa con, một đứa con trai. Vài năm sau chồng tôi qua đời. Người mà trước kia tôi yêu cũng đã có vợ. Khi biết tôi đã góa chồng ông ấy vô cùng đau khổ, là vì ông không còn tự do nữa. Ông đến thăm, khóc nức nở trước mặt tôi làm cho tôi rất đau lòng. Ông trở thành bạn của tôi. Lẽ ra tôi đừng tiếp ông ấy. Nhưng biết làm sao được? Tôi cô đơn, quá buồn, quá trơ trọi, quá tuyệt vọng. Và tôi cũng còn yêu ông ấy. Lắm khi người ta buồn khổ biết bao!

Tôi chỉ còn mỗi một mình ông ấy trên đời. Cha mẹ tôi cũng đã qua đời hết. Ông ấy thường đến thăm tôi, ngồi lại với tôi suốt buổi tối. Lẽ ra tôi không nên để ông ta thường xuyên đến như thế vì ông ấy đã có vợ. Nhưng tôi không có can đảm để ngăn ông ta. Phải nói sao với ông đây?
... Ông ấy trở thành người tình của tôi. Chuyện nầy đã xẩy ra như thế nào? Tôi có biết không? Người ta có biết không? Ông có nghĩ là khi sức mạnh không gì cưỡng nổi của tình yêu đã đẩy hai con người lại gần với nhau thì còn có thể xẩy ra chuyện gì khác chăng? Ông có tin là lúc nào ta cũng có thể cưỡng lại, lúc nào cũng có thể chống chọi, lúc nào cũng có thể từ chối những đòi hỏi kèm theo van lơn, năn nỉ, những giọt nước mắt, những lời nói thiếu kiềm chế, những cái quì gối, những cảm xúc quá trớn của người mà mình yêu tha thiết, của người mà mình muốn thấy vui sướng trước từng ước mơ vụn vặt nhất, người mà mình muốn trao hết mọi niềm vui nếu có thể, người mà mình gây thất vọng vì muốn phục tùng những khuôn phép về đạo hạnh trong đời. Muốn làm được những điều đó ắt phải mạnh mẽ, phải từ bỏ hạnh phúc, phải quên mình, thậm chí phải hy sinh cả tính ích kỷ của đạo đức nữa, không đúng sao?

"Cuối cùng tôi trở thành người tình của ông ta, ông à, và tôi rất hạnh phúc. Tôi sống hạnh phúc trong mười hai năm. Tôi trở thành bạn của vợ ông ấy và đây chính là nhược điểm trầm trọng nhất của tôi, là sự hèn nhát lớn lao nhất của tôi.
"Chúng tôi cùng nhau nuôi dạy đứa con riêng của tôi trở thành một con người trung thực, thông minh, đầy ý chí và cương nghị, có tư tưởng khoát đạt. Đứa con đã đến tuổi mười bảy.
"Thằng bé cũng yêu thương tình nhân của tôi như tôi yêu ông ấy, bởi vì nó được cả hai chúng tôi chăm sóc, cưng chiều. Nó gọi ông ấy là "bạn tốt" và rất kính trọng ông vì lúc nào ông cũng dạy nó điều hay lẽ phải và làm gương về tính thẳng thắn, trọng danh dự và trung thực. Nó coi ông như một người bạn thân thiết, trung thành và tận tụy của mẹ nó, như một người cha tinh thần, người đỡ đầu, người bảo trợ nó, đại khái như vậy.
"Có lẽ nó cũng chẳng thắc mắc hỏi han gì vì từ nhỏ nó đã quen thấy ông ấy ở trong nhà, bên cạnh tôi, bên cạnh nó, luôn chăm sóc chúng tôi.

"Một hôm cả ba chúng tôi cùng ăn tối với nhau (đó là những dịp trọng đại nhất của tôi). Tôi đang chờ cả hai người, tự hỏi không biết ai sẽ đến trước. Cửa sịch mở: đó là ông ấy. Tôi bước tới, dang tay ra và ông ấy đặt lên môi tôi một nụ hôn hạnh phúc. Bỗng có tiếng sột soạt rất khẽ. Linh tính cho biết có người xuất hiện khiến chúng tôi giật mình quay lại. Jean, con trai tôi đang đứng nhìn chúng tôi, mặt tái mét.
"Sau một giây hốt hoảng tột cùng, tôi lùi lại, đưa tay về phía con tôi như van lơn. Từ lúc đó tôi không còn gặp nó nữa. Nó đã bỏ đi.
"Chúng tôi mặt đối mặt, rụng rời, không nói được lời nào. Tôi buông mình xuống ghế bành. Một ước muốn mơ hồ nhưng mãnh liệt đang hình thành trong tôi, tôi muốn trốn chạy, muốn bỏ đi ngay trong đêm, muốn biến mất vĩnh viễn. Cổ họng tôi nghẹn ngào nức nở, tôi khóc, người run lên từng cơn, ruột đau như xé, thần kinh căng thẳng bởi cái cảm giác khủng khiếp về một sự bất hạnh không thể cứu vãn được và cũng bởi trong lòng người làm mẹ lúc đó quá ư hổ thẹn.
"Ông ấy... hốt hoảng đứng trước mặt tôi, không dám đến gần, không nói gì và cũng không chạm vào tôi vì sợ thằng bé trở về. Cuối cùng ông mới nói:
"Tôi đi tìm nó,... nói với nó... giải thích cho nó hiểu. Tóm lại tôi phải gặp nó... nó cần phải hiểu..."
Và ông ta đi ra.
"Tôi chờ... Tôi cuống cuồng chờ đợi, những tiếng động nhỏ nhất cũng khiến tôi run rẩy giật mình vì sợ, mỗi tiếng lách tách của lửa trong lò sưởi cũng làm tôi xúc động không chịu được.
"Tôi chờ một giờ, hai giờ, càng lúc càng bồn chồn lo sợ, sợ đến nỗi ngay cả đối với một tù nhân phạm trọng tội có lẽ tôi cũng sẽ không mong cho nó chịu được mười phút trong khoảnh khắc đó đâu. Con tôi giờ đó ở đâu? Nó đang làm gì?

Lúc nửa đêm, một người đưa tin mang cho tôi một mảnh giấy mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc lòng những gì ghi trên đó: "Con em về chưa? Tôi vẫn chưa tìm được nó. Tôi đang ở dưới nầy. Tôi không thể lên vào giờ nầy được."
"Tôi ghi lại bằng bút chì ngay trên mảnh giấy đó: "Jean chưa về. Anh phải tìm cho được nó."
"Và tôi ngồi trên ghế bành chờ suốt đêm. Tôi hóa điên. Tôi muốn gào thét, muốn chạy, muốn lăn xuống đất. Nhưng tôi vẫn bất động ngồi chờ. Chuyện gì đã xẩy ra? Tôi cố tưởng tượng, cố suy đoán nhưng chẳng hình dung được gì, dù đã rất cố gắng, dù trong lòng rất giằn vặt.
"Bây giờ tôi lại sợ họ gặp nhau. Họ sẽ làm gì? Con tôi sẽ làm gì? Những sự ngờ vực ghê gớm và những phỏng đoán khủng khiếp như xé ruột xé gan tôi. Ông hiểu rõ điều đó chứ, phải không, thưa ông?
"Cô hầu phòng của tôi vì không biết gì hết, không hiểu gì hết, nên cứ không ngừng ra vào phòng, có lẽ cô ấy tưởng tôi điên. Tôi xua đuổi cô ra, bằng lời hoặc bằng cử chỉ. Cô ta đi tìm bác sĩ. Bác sĩ thấy tôi đang vật vã vì khủng hoảng thần kinh.
"Họ đặt tôi nằm lên giường. Tôi bị sốt viêm não. Sau một trận đau dài, tôi tỉnh lại và tôi thấy ngồi bên giường tôi là.... một mình ông ấy. Tôi kêu lên:
 Con tôi? Con tôi đâu?"
"Ông ta làm thinh. Tôi lắp bắp:
"Chết... chết... Nó tự tử rồi à?
"Ông ta trả lời: - "Không, không, tôi thề với em. Nhưng mà chúng ta không thể tìm được nó dù tôi đã rất cố gắng."

"Thế là tôi bỗng thấy tức tối, thậm chí phẫn nộ bởi ta thường giận dữ một cách khó hiểu và vô lý như vậy đó. Tôi tuyên bố :
"Tôi cấm anh về gặp tôi nếu anh chưa tìm được nó. Anh đi đi!"
"Ông ta đi ra. Từ đó tôi chẳng còn gặp lại họ, cả con tôi lẫn ông ấy. Và tôi sống như thế nầy từ hai mươi năm nay, ông ạ.
"Ông có mường tượng ra điều đó không? Ông có hiểu cái hình phạt khủng khiếp nầy, nỗi đau khổ từ từ và liên miên nầy trong lòng người mẹ, trong lòng người đàn bà, ông có cảm nhận được chăng sự chờ đợi đáng sợ không dứt nầy... không bao giờ dứt... không! ...sự chờ đợi nầy sắp chấm dứt, bởi vì tôi đang chết. Tôi chết mà không gặp lại họ, không gặp lại một ai cả!
"Ông ấy, ông bạn tôi, từ hai mươi năm nay ngày nào cũng viết thư cho tôi, nhưng tôi chẳng bao giờ muốn tiếp ông ta, dù chỉ một giây, bởi vì tôi có linh cảm rằng lúc ông ấy trở về đây thì cũng chính là lúc tôi thấy con tôi xuất hiện lại. Con tôi! Con tôi! Nó còn sống hay đã chết? Nó đang trốn nơi nào? Có thể là ở bên kia đại dương, tại một nơi xa xôi nào đó mà ngay cả cái tên gọi tôi cũng chẳng biết. Nó có nghĩ đến tôi không? Ôi! giá mà nó biết! Con cái thật quá nhẫn tâm!

"Nó có hiểu rằng trong khi tôi, mẹ nó, đã yêu thương nó bằng tấm lòng mẫu tử mãnh liệt nhất thì nó đã phạt tôi phải chịu khổ sở như thế nào không, phải lâm vào tình cảnh tuyệt vọng như thế nào không, phải chịu những nỗi giằn vặt ghê sợ như thế nào không, từ khi tôi đang còn ở tuổi thanh xuân cho đến bây giờ là lúc cuối đời... nó có hiểu không? Ôi! Thật quá tàn nhẫn!
"Thưa ông, xin ông hãy nói với nó mấy điều đó. Ông hãy lập lại cho nó nghe những lời cuối cùng nầy của tôi:
"Con của mẹ, con yêu quí của mẹ, con nên bớt cứng rắn đối với những kẻ khốn khổ. Đời đã quá tàn nhẫn và độc ác. Con yêu, hãy nghĩ đến cuộc sống đã qua của mẹ, của người mẹ tội nghiệp của con, kể từ khi con bỏ mẹ mà đi. Con ơi, bây giờ mẹ đã chết, hãy tha thứ cho mẹ, hãy yêu thương mẹ vì mẹ đã phải chịu hình phạt khủng khiếp nhất.
Bà ta thở hổn hển, run rẩy, như thể bà đang nói với con bà đang đứng trước mặt. Rồi bà nói tiếp:
"Thưa ông, xin ông nói thêm với nó rằng tôi chưa hề gặp lại... ông ấy"
Bà ta ngừng bặt rồi nói tiếp, bằng giọng đứt quãng:
"Bây giờ xin ông vui lòng để tôi yên, Tôi muốn chết đơn độc bởi vì họ chẳng ở bên cạnh tôi."

Ông Le Brument nói thêm:
"Thưa các ngài, tôi vừa đi khỏi đó vừa khóc như điên, đến nỗi người đánh xe của tôi phải quay lại nhìn. Cũng phải nói rằng những thảm kịch tương tự như thế xảy ra hằng ngày chung quanh chúng ta nhiều lắm!
Tôi đã không tìm được đứa con... đứa con ấy. Các ngài nghĩ sao về nó thì tùy các ngài. Riêng tôi, tôi nói... đứa con nầy... có tội!

Thân Trọng Thủy dịch (5/2017)
Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: "L'attente"
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitimeThu Jun 18, 2020 10:28 pm

.

Alexandre

- Guy de Maupasant (1850-1893)

Lê Ngọc Anh dịch


Hôm ấy, vào lúc bốn giờ như mọi ngày, Alexandre mang ra trước cửa ngôi nhà nhỏ của gia đình Maramballe, chiếc xe lăn ba bánh mà trên đó ông vẫn đưa bà chủ già nua và bại liệt của mình dạo chơi đến tận sáu giờ, theo toa của thầy thuốc.
Sau khi đã đặt chiếc xe nhẹ bẫng ấy sát bậc thềm nơi mà ông có thể dễ dàng nâng bà phu nhân to béo lên tận đấy, ông trở vào nhà và người ta nghe thấy ngay ở tầng dưới một giọng nói giận dữ, khàn khàn của cựu quân nhân đang gào thét chửi rủa; đó là giọng của ông chủ, cựu đại úy lục quân đã về hưu, Joseph Maramballe.

Rồi có tiếng những cánh cửa sập mạnh, tiếng những chiếc ghế bị lật nhào, tiếng bước chân di chuyển, rồi không có gì nữa, và sau một lúc, Alexandre lại xuất hiện trên ngưỡng cửa ra đường, dùng hết sức lực đỡ bà Maramballe mệt lử vì phải xuống cầu thang. Khi bà đã được đặt ngay ngắn, không phải là không vất vả, trong chiếc ghế di động, Alexandre chuyển qua phía sau, nắm lấy cái thanh tròn dùng để đẩy xe và khởi hành về phía bờ sông.
Ngày nào cũng thế, họ đi qua thành phố nhỏ với những lời chào kính trọng có lẽ được gửi tới người đầy tớ cũng như tới bà chủ, vì nếu bà được tất cả yêu mến và kính trọng thì bản thân ông, người lính già có bộ râu bạc, bộ râu của cụ già đáng kính, đã trở thành kiểu mẫu của những gia nhân.
Mặt trời tháng bẩy chiếu gay gắt xuống đường, nhấn chìm những ngôi nhà thấp dưới ánh sáng buồn tẻ của nó bằng cái sức mạnh dữ dội và trắng trợn. Những con chó ngủ trên vỉa hè trong dải bóng râm của những bức tường, và Alexandre hơi thở dốc, rảo bước nhanh hơn để tới con đường có cây xanh dẫn tới dòng nước.
Bà Maramballe đã thiu thiu ngủ dưới chiếc dù trắng mà cái chỏm buông ra của nó chốc chốc lại phất vào gương mặt thản nhiên của người đàn ông.
Khi họ đi tới đường Tileuls, bà hầu như tỉnh hẳn dưới những bóng cây, và bà nói bằng một giọng nhân từ:
“Đi thong thả hơn đi, ông bạn đáng thương của tôi, ông sắp giết mình bởi cái nóng này đấy.”
Trong sự ích kỉ hồn nhiên của mình, người đàn bà can đảm này chẳng hề nghĩ rằng nếu bây giờ bà muốn đi chậm hơn, đấy là chỉ bởi bà mới được trú dưới tán lá.

Gần kề con đường bao phủ bởi những cây đoạn già được cắt gọt thành vòm, sông Navette trôi theo cái dòng ngoằn ngoèo giữa đôi hàng liễu. Những tiếng ồng ộc của những xoáy nước, những thác nước trên những tảng đá, những chỗ ngoặt dòng đột ngột gieo suốt dọc cuộc dạo chơi này một khúc ca êm đềm của nước và cái tươi mát của không khí ướt át.
Sau khi đã hít thở và tận hưởng sự quyến rũ ẩm ướt của chốn này, bà Maramballe thì thào :
“Nào, tốt hơn rồi. Nhưng hôm nay ông ấy trở dậy không được khỏe.”
Alexandre đáp:
“Ồ không, thưa bà.”
Từ ba mươi năm nay ông đã phục vụ cái gia đình này, ban đầu như một lính hầu cận sĩ quan, rồi sau như một đầy tớ không muốn xa rời những người chủ của mình; và từ sáu năm nay, chiều nào ông cũng lăn xe cho bà chủ qua những con đường hẹp chung quanh thành phố.
Vì sự phục vụ lâu dài tận tụy, rồi sau nữa vì giáp mặt nhau hàng ngày nên giữa bà phu nhân già nua và người hầu nảy sinh một kiểu thân mật, trìu mến ở bà và tôn kính ở ông.
Họ nói về việc nhà như người ta làm giữa những người bình đẳng. Chủ đề chính của cuộc chuyện trò thân mật và mối lo lắng của họ ngoài ra còn là tính xấu của ông đại úy, bực tức cau có vì một sự nghiệp dài bắt đầu với tiếng vang, rồi trôi đi không tiến bộ và kết thúc không vinh quang.
Bà Maramballe nói tiếp:
“Vì trở dậy không được khỏe, ông ấy đã trở dậy không được khỏe. Điều đó xảy ra thường xuyên với ông ấy từ khi ông ấy rời nghĩa vụ.”
Và Alexandre bổ sung ý nghĩ của bà chủ mình với một tiếng thở dài.
“Ôi! Bà có thể nói rằng điều đó xảy ra với ông ấy hàng ngày và điều đó cũng xảy ra với ông ấy trước khi rời quân đội.
- Điều đó đúng. Nhưng người đàn ông này đã không còn cơ hội nữa. Ông ấy đã khởi nghiệp bằng một hành động dũng cảm khiến ông ấy được thưởng huân chương năm hai mươi tuổi, và rồi từ hai mươi đến năm mươi tuổi ông ấy đã không thể lên cao hơn cấp đại úy, thế mà lúc đầu ông ấy đã tính chắc rằng ít ra là cấp đại tá lúc về hưu.
- Bà có thể vẫn nói rằng đó là lỗi của ông ấy sau tất thảy. Nếu ông ấy không luôn luôn mềm như một cái roi ngựa thì những người chỉ huy của ông ấy đã quý mến và che chở ông ấy hơn. Việc phải làm vừa lòng người để được ưa nhìn chả giúp được gì cho việc thành người cứng cỏi.
“Khi ông ấy đối xử với chúng ta như thế, chúng ta thì khác, đó cũng là lỗi của chúng ta bởi vì điều đó làm chúng ta thích ở lại với ông ấy, nhưng với những người khác thì lại khác.”

Bà Maramballe ngẫm nghĩ. Ôi! từ bao nhiêu năm nay, ngày nào bà cũng nghĩ về tính tàn nhẫn của người chồng mà bà đã cưới hồi xưa, đã lâu rồi, bởi vì ông là một sĩ quan điển trai, được huân chương khi còn rất trẻ và đầy tương lai như người ta nói. Trong đời người ta mới lầm lẫn làm sao!
Bà thì thào:
“Chúng ta dừng lại một chút đi, Alexandre đáng thương của tôi, và hãy nghỉ trên cái ghế của ông.”
Đó là một chiếc ghế nhỏ bằng gỗ bị ướt một nửa dựng ở chỗ ngoặt của con đường dành cho những người dạo chơi ngày chủ nhật. Mỗi lần người ta tới bên nó, Alexandre có thói quen ngồi thở vài phút trên cái ghế ấy.
Ông ngồi đó và nắm chòm râu bạc xòe hình rẻ quạt trong hai bàn tay bằng một cử chỉ quen thuộc và đầy tự hào, ông siết chặt nó rồi vuốt nó trong những ngón tay nắm chặt mà đôi lúc ông giữ lại trên rốn mình như để gắn chặt nó vào đấy và để nhận thấy mỗi lần nó mọc dài thêm.
Bà Maramballe lại nói:
“Còn tôi, tôi đã lấy ông ấy. Việc tôi chịu sự bất công của ông ấy thật thích đáng và tự nhiên, nhưng điều mà tôi không hiểu là chính ông cũng đã chịu đựng ông ấy, Alexandre can đảm của tôi ạ!”
Ông khẽ nhún vai và chỉ nói:
“Ôi! tự tôi… thưa bà.”
Và bà nói thêm:
“Quả thực. Tôi thường nghĩ đến điều đó. Ông đã là lính hầu cận của ông ấy khi tôi lấy ông ấy và ông không mấy khi có thể làm cách khác hơn là chịu đựng ông ấy. Nhưng từ khi…, vì sao ông ở lại với chúng tôi, người trả ông rất ít và đối xử với ông rất tồi, trong khi mà ông đã có thể làm như mọi người, lập nghiệp, cưới vợ, có những đứa con, tạo ra một gia đình?”
Ông lặp lại:
“Ôi! tự tôi, thưa bà, đó là chuyện khác.” Rồi ông nín lặng ; nhưng ông kéo chòm râu mình như thể có một quả chuông đã ngân vang lại ngân vang trong ông, như thể ông đã tìm cách kéo nó, và ông đảo cặp mắt hoảng hốt của con người ngập chìm trong bối rối.

Bà Maramballe theo đuổi ý nghĩ của mình.
“Ông không phải là nông dân. Ông đã được giáo dục…”
Ông cắt ngang một cách tự hào:
“Tôi đã học để làm nhân viên đo đạc địa hình, thưa bà.
- Thế thì tại sao ông ở lại bên chúng tôi để bỏ phí đời mình?”
Ông ấp úng:
“Như thế đấy! như thế đấy! Lỗi ở bản tính của tôi.
- Sao lại bởi bản tính của ông?
- Phải, khi tôi quyến luyến, tôi quyến luyến và thế là hết.”
Bà bắt đầu mỉm cười:
“Xem nào, ông sẽ chẳng khiến tôi tin là những cách đối xử tốt và sự dịu dàng của Maramballe đã gắn bó đời ông với ông ấy.”
Ông cựa quậy trên ghế, đầu óc rõ ràng luống cuống và ông lầm rầm trong đám ria mép dài của mình:
“Không phải ông ấy, mà là bà!”

Bà phu nhân già, người có một gương mặt rất dịu dàng, được tôn lên bởi một lọn tóc xoăn mầu tuyết được chăm chút uốn hàng ngày và sáng như lông thiên nga giữa vầng trán và đám tóc, động đậy trong chiếc xe của mình và ngắm nhìn người đầy tớ với con mắt rất ngạc nhiên.
“Tôi ư, Alexandre đáng thương của tôi. Thế là thế nào?”
Ông bắt đầu nhìn lên trời, rồi xoay đầu nhìn gần nhìn xa, như những người nhút nhát bị buộc phải thú nhận những bí mật hổ thẹn vẫn làm. Rồi ông tuyên bố bằng một sự can đảm của người lính được ra lệnh đi vào lửa:
“Như thế đấy. Lần đầu tiên tôi mang cho tiểu thư một bức thư của trung úy và tiểu thư đã vừa cho tôi năm xu vừa mỉm cười với tôi, điều ấy đã được định đoạt như thế.”
Bà lưỡng lự, không hiểu rõ.
“Nào, ông hãy giải thích đi.”
Thế là ông thốt lên với nỗi lo sợ của một kẻ khốn khổ thú nhận một tội ác và của kẻ đã sa đọa :
“Tôi đã có cảm tình với bà. Thế đấy!”
Bà không đáp lại gì, thôi nhìn ông, cúi đầu và ngẫm nghĩ. Bà tốt bụng, đầy thẳng thắn, dịu dàng, lý trí và nhạy cảm.
Trong một giây, bà nghĩ tới sự tận tâm vô hạn của con người đáng thương đã từ bỏ tất cả để sống bên bà mà không nói một lời. Và bà đã muốn khóc.
Rồi lấy vẻ mặt hơi nghiêm trang nhưng điểm chút giận dữ, bà bảo:
“Về thôi”

Ông đứng dậy, chuyển qua phía sau chiếc ghế di động, và bắt đầu đẩy nó.
Bởi vì họ tới gần ngôi làng, họ nhận thấy ông đại úy Maramballe đang đến chỗ họ.
Ngay khi ông ta bắt kịp họ, ông ta bảo vợ với vẻ muốn nổi cáu rõ rệt:
“Chúng ta có gì để ăn tối thế?
- Một con gà giò nhỏ và hạt đậu lùn.”
Ông ta nổi khùng.
“Một con gà giò, lại là gà giò, luôn là gà giò, mẹ kiếp! Tôi, tôi đã chán ngấy gà giò của bà rồi. Thế trong đầu bà không có ý nào hơn là bắt tôi ngày nào cũng ăn cùng một thứ hay sao?“
Bà nhẫn nhục đáp :
“Nhưng mình yêu quý của tôi, mình biết là bác sĩ đã kê đơn cho mình như thế. Hơn nữa, thế tốt hơn cho dạ dày của mình. Nếu mình không bị đau dạ dày, tôi đã làm cho mình ăn nhiều món mà tôi không dám dọn cho mình.”
Thế là ông ta đứng sững trước Alexandre vẻ phẫn nộ.
“Nếu tôi bị đau dạ dày thì lỗi do cái đồ thô lậu này. Đã ba mươi nhăm năm nó đầu độc tôi bằng món ăn rác rưởi của nó.”

Đột nhiên, bà Maramballe gần như quay hẳn đầu lại để nhìn người đầy tớ già. Thế là mắt họ gặp nhau và cả người nọ lẫn người kia cùng nói: “Cảm ơn” trong ánh nhìn duy nhất ấy.
.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)   Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893) Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn: Tình yêu (Amour) - Guy de Maupassant (1850-1893)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến