Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Nhung thụy GIFT Nghin hoang phung Mộng Trung không Chia Nguyen music Saigon linh dino quan quynh tran quốc ngam nguyet luong chuyen ngắn mien quang
Latest topics
November 2020
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30      
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeWed Aug 22, 2012 2:26 pm

.

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Tubui-bia-jp

Bờ bên kia
- Trần Kiêm Đoàn


Một buổi trưa, cây lá lao xao lấp loáng theo nắng. Trời trong và nhẹ giữa âm vang thinh lặng thoáng vẻ ca dao. Những chén trà mắt trâu gõ nhịp cho câu chuyện chỉ có hai người. Người nghe và người nói thấm vào nhau không phân biệt vì cả hai đều đã nghe và đã hiểu câu chuyện đầy ẩn dụ từ thuở xa xưa.   Thế nhưng nhu cầu phải nói lên, nói những lời muôn năm vẫn còn thiếu với người khao khát đi tìm và thừa với kẻ mệt mề quay mặt như lời nói tình yêu, như lời kinh cầu nguyện... vẫn cần thiết, vẫn thôi thúc.

Tiếng Lê Trung Ẩn đều và ấm bên bình trà nội phủ với Phạm Xảo:
- Ngày nọ, hai anh em đồng môn xuống núi. Trí Quang và Trí Minh đã sống quanh quẩn bên cạnh Thầy suốt mười lăm năm dài tu học. Hai anh em dắt tay nhau bước dần xuống đồi. Cứ mỗi bước đi tới lại quay lui nhìn Thầy. Vị ân sư nuôi dạy hai trẻ mồ côi trong ngôi chùa cổ trên núi xanh dặn dò: “Cuộc đời thật dưới kia không phải là cảnh trời mà cũng chẳng phải là địa ngục. Hai con đã học chín những lời dạy tinh yếu nhất của ba tạng kinh điển. Nay phải xuống núi giúp đời là việc phải làm. Nếu chỉ lo tu trên núi để cầu mong giải thoát cho riêng mình như Thầy là điều rất khó đạt vì nợ nần chúng sanh là món nợ trùng trùng ân tình, ơn nghĩa dễ vay mà khó trả. Chưa trả sạch nợ thì nghiệp chưa giải hết, làm sao buông tay, quay mặt với đời để giải thoát một mình. Vay nhiều thì phải trả nhiều; vay ít thì trả ít; không vay thì khỏi trả. Trong các món nợ thì Nợ Mình là lớn nhất. Cái tôi càng nhỏ, nợ nần càng ít. Tâm không, vô ngã là hết nợ”.
Đời vô thường nên cuộc đoàn viên nào rồi cũng đến lúc chia tay. Với nụ cười khoan hòa, tĩnh lặng, nhưng không dấu được vẻ lưu luyến lúc chia xa, Thầy dừng lại ở cuối con đường chân núi vẫy tay dặn dò và chúc lành hai đứa bé mồ côi ngày xưa bây giờ đã thành hai thanh niên tuấn tú. Nước mắt lưng tròng, hai thanh niên nhìn lui Thầy lần chót trước khi con đường về đồng bằng rẽ khuất sau biển cây xanh.
 
Về với phố chợ lạ lùng, Trí Quang và Trí Minh bịn rịn bên nhau gần mấy tuần trăng, nhưng rồi cũng phải xa nhau, tự đi tìm lẽ sống. Trí Quang về sống ngay giữa khu chợ ồn ào, tấp nập bên cạnh bờ sông. Bắt chước theo hạnh đầu đà “thỏng tay vào chợ”, Trí Quang tin rằng, nuôi được tâm không vắng lặng giữa chốn bụi đời phiền trược mới thật là tịnh tâm và tịch diệt được mọi ham muốn ở đời. Tìm tịnh ngay trong động; và tìm động ngay trong tịnh mới thật là gần gũi với chân tính. Nghĩ thế và làm theo, Trí Quang suốt ngày lê la sống giữa chợ, mĩm cười bất chấp những điều tục lụy khen chê. Đêm về, anh ta ngồi ngủ trong cái lu sành kê dưới gốc cây mưng bên bờ sông. Đêm khuya chợ vắng, Trí Quang ngẩng đầu ra khỏi miệng lu, tĩnh tọa ngồi thiền. Quanh năm, áo quần tóc tai không thay đổi chăm sóc, bất cần đến nhục thân, bất cần đến xã hội xung quanh, miễn sao giữ cho được bản tâm mình thành thánh. Trí Minh thì hoàn toàn ngược lại. Anh ta nghĩ rằng bồ tát hạnh không xa thế gian một mảy may nên lặng lẽ vào đời để sống như mọi người. Trí Minh làm ăn trở nên giàu lớn và lấy vợ sinh con, có đủ thê thiếp, kẻ ăn, người ở đầy nhà.  
 
Mười năm trôi qua, Trí Minh chạnh nhớ người anh em và cho người đi tìm Trí Quang. Người nhà Trí Minh tìm được Trí Quang ngoài chợ và ngỏ lời mời đến thăm nhau. Trí Quang ra điều kiện là Trí Minh phải trải thảm đỏ từ nhà đến chợ để rước mình mới chịu đến thăm. Và khi đến dinh thự, Trí Minh và toàn thể gia nhân phải sắp hàng nghênh đón. Người nhà về bẩm báo, Trí Minh chịu mọi điều kiện của Trí Quang đưa ra.
Đến ngày hẹn, Trí Quang xuống sông tắm rửa, rồi xách gậy bước qua thảm đỏ đến thăm Trí Minh. Vừa đến dinh cơ đồ sộ của Trí Minh, Trí Quang ngẩn người ra một lát. Anh ta bị choáng ngợp với ý nghĩ rằng, Trí Minh đã quên lời Thầy dặn, chỉ lo tham luyến giữa đời. Rồi lập tức, chẳng nói, chẳng rằng, Trí Quang xách gậy đập vỡ từng cái một những đồ đạc quý giá, sang trọng bày biện khắp nơi trong dinh thự. Đập vỡ đồ đạc chán tay, Trí Quang lại xách gậy rượt đánh người nhà của Trí Minh chạy tán loạn. Khi chỉ còn lại Trí Minh vẫn đứng tươi cười chờ đón người anh em trước cửa giữa cảnh đổ nát trong dinh thự sang trọng, Trí Quang vung gậy lên trước mặt Trí Minh nhưng bỗng chùn tay lại. Đôi mắt hung hãn của Trí Quang bắt gặp ánh mắt trong ngần, mát lạnh của Trí Minh đang thân ái nhìn mình. Cây gậy trong tay Trí Quang rơi xuống. Không nói một lời, hai anh em đồng môn cùng dang tay, chạy ào tới ôm nhau... Trí Quang nói nhè nhẹ trong tiếng thở dài: “Đứng lại giữa đời mà lạc đường! Hèn gì Thầy mình phải vào sâu trong núi...” Trí Minh an ủi: “Mọi vật đều biến đổi trong từng khắc. Có gì đứng lại được đâu. Cho nên tự mình đứng lại cũng có nghĩa là đang bị xô đi.   Đã biết phút trước không còn, phút sau chưa đến thì có gì để bám víu và bám víu để làm gì đã chứ!”
 
Kể xong câu chuyện, Lê Trung Ẩn tự tay pha trà mời Phạm Xảo, kết luận:
- Tướng quân à, đồ gia bảo quý nhất là cái tâm trong sáng không dính mắc chứ chẳng phải là giá trị vật chất. Trốn chạy thực tế, chối bỏ vật chất cũng có thể là một cách tham lam đi tìm cái to hơn, cái quý hơn còn ở dạng tiềm năng, chưa tượng hình, tượng ảnh chứ chẳng phải là đi tìm chân Không, chân Tánh của Đạo.
Phạm Xảo đón chén trà từ tay Lê Trung Ẩn, hỏi:
- Quan thượng thư vẫn cố tìm cách thuyết phục tôi phải nhận lộc vua ban, nhận ân sủng của triều đình sao?
- Trả lời rằng “có” cũng đúng mà trả lời rằng “không” cũng không sai.
- Sao lại có trường hợp nhị trùng nhiêu khê thế?
- Vì Ẩn tôi vừa là quan thượng thư của triều đình, mà cũng vừa là người tin và hành đạo Phật.
- Không có sự mâu thuẫn khi cùng một lúc đóng hai vai trò vừa đạo, vừa đời như vậy sao?   
- Ngược lại đại huynh ạ. Hai vai hỗ trợ cho nhau. Nếu thiếu mất một bên thì ý nghĩa của đời sống sẽ mất đi một nửa.
- Tại sao một lúc lại cần đến cả hai?
- Cầm đầu luật pháp quốc gia như Ẩn tôi mà thiếu đi cái tâm chánh định, cái nhìn chánh kiến, cái trí chánh tư duy thì sẽ đi lệnh đường trung đạo, bị nghiêng ngửa bên nầy hay bên kia. Khi cán cân luật pháp mất quân bình thì luật lệ rất dễ trở thành trò áp bức. Còn vai bên kia là người theo đạo Phật. Nếu Ẩn tôi cứ nói toàn những triết lý cao siêu; lẽ đạo tuyệt vời mà chẳng làm gì được cho những người dân đen cùng khổ ngoài kia, cứ khăng khăng đi tìm đường giải thoát cho riêng mình thì lại vô hình chung rơi vào một sự bất công khác.
Phạm Xảo lắc đầu:
- Nói vậy, sẽ rất dễ vướng vào một sự cực đoan hình thức. Đấy là chưa nói đến   thái độ gần như phủ nhận phẩm chất ưu việt của những bậc chân tu, những kẻ đã hiến trọn đời mình cho đạo.
Lê Trung Ẩn cười và nói một cách nhã nhặn:
- Không đâu tướng quân ơi! Vàng thau thường lẫn lộn giữa đời thường, nhưng trong đời sống tâm linh thì tội và phước hiển lộ rạch ròi ngay từ trong tâm thức.   Đạo Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn mà Ẩn tôi mới đi có một. Còn lại những tám vạn, ba ngàn, chín trăm chín mươi chín cách chọn lựa tùy duyên khác nhau nữa, thiên hạ tha hồ mà chọn lựa, tướng quân lo lắng làm gì cho vất vả.
 
Phạm Xảo trở lại câu hỏi ban đầu:
- Cũng chẳng có gì quan trọng. Chấp nhặt làm gì chuyện sông hồ, ao biển, miễn sao có nước thì thôi. Giờ trở lại với ý ban đầu, quan muốn tôi phải thuận theo những ân điển của triều đình đã xếp đặt dành cho tôi chăng?
Lê Trung Ẩn cười cười đáp lại:
- Cũng chẳng có gì quan trọng. Ân điển của triều đình ban cho mà không muốn nhận thì có sao đâu. Người ta chỉ bắt vạ kẻ oán chứ không ai bắt vạ người ân.   Điều tôi cảm thấy chưa an lòng ở đây là có vẻ như tướng quân đang cố gắng thực hành con đường “vô ngã” bằng cách dựa vào cái ngã để chối bỏ, tiêu diệt nó.
Phạm Xảo nhìn lơ đãng khói trà váng vất, nói giọng bâng quơ:
- Vậy à? Tôi không biết và không cố ý đụng chạm đến cái gì mà quan vừa nói đó… à, à… cái ngã. Ngã ở đâu?  
- Làm gì có cái Ngã thực sự. Cái “tôi” hay cái “ta” chỉ là tên gọi tạm thời cho những đơn vị hợp thể. Khi hợp thể tan thì cái tôi hay ta tạm bợ đó cũng tan theo. Tất cả chỉ là sự chuyển hóa thói quen. Khi nói “tôi muốn hay không muốn...” là dựa vào kinh nghiệm và thói quen để bày tỏ.
Phạm Xảo khen nửa như chiếu lệ, nửa như mỉa mai: 
- Hay thật! Nếu “ta” là hư vọng, là vô ngã thì tu cho ai và giải thoát cái gì nhỉ?

Thoáng một chút lúng túng, Lê Trung Ẩn trả lời:
- Vô ngã là một ý niệm tuyệt đối, không thể dùng chữ, dùng lời, dùng âm thanh hay hình tượng mà gọi tên hay mô tả được. Khi còn một cái tôi thân xác nói được “vô ngã” bằng lời thì khái niệm vô ngã chưa thực sự là vô ngã. Cũng ví như khi người ta còn nói được “tôi ngủ” thì rõ ràng là chưa ngủ hay nói được “tôi đang ngủ” thì có nghĩa là đã thức dậy. Người ngủ là người đang hòa tan trong giấc ngủ, làm sao còn nói lên được khái niệm thật sự về cái ngủ như thế nào.   Những người còn tự xưng tụng hay muốn được xưng tụng mình là đức nầy, đấng nọ, ngài kia; còn cố bon chen cho được người trên ngưỡng mộ, người dưới cung bái để mưu cầu vô ngã là đang bước vào bóng tối để tìm ánh sáng,   bám vào hòn đá chìm dưới đáy sông để làm phao nổi trên mặt nước, ôm vô minh để cầu giác ngộ. Vô tâm hay cố tình trói buộc cái ngã của mình, cái ngã của chúng sanh và vạn pháp vào trong chùa to, tháp lớn, tượng đài để thực hành “vô ngã” thì có khác gì nói rằng: “Ăn nhiều vào đi để cho đói, ngủ nhiều vào đi để cho thức, uống thật say đi để cho tỉnh, vơ vét cho thật nhiều đi để mà tay không…”
- Như thế thì trong câu chuyện mà nhà quan vừa kể về hai anh em nhà họ Trí, ai đáng gọi là bậc hành giả trên con đường mưu cầu vô ngã?
Lê Trung Ẩn lại say sưa vào lý luận:
- Cả Trí Quang lẫn Trí Minh đều là hai trường hợp cực đoan, chấp trước; cả hai đã trú ẩn vào cơn mộng tưởng làm cứu cánh sau dáng vẻ “cầu vô ngã”. Khác nhau chăng là hình thức bên ngoài. Trí Quang và Trí Minh đều bày tỏ tâm tưởng kiêu mạn theo cách riêng của mình. Trí Quang quyết xa lánh cái “có” và ngỡ rằng sẽ tìm được cái “không” bằng thái độ chối bỏ và xem rẻ đời sống và giá trị vật chất quanh mình. Trí Minh thì tìm cách xa lánh cái “có” bằng thái độ bất cần.   Đó là sự chọn lựa nhập thế, tạo dựng và thỏa hiệp với cuộc đời thường. Khi đã nắm được của cải vật chất trong tầm tay mình rồi thì lại ra vẻ dửng dưng và từ bỏ nó; rồi từ có biến thành không. Tiếc thay, đấy chỉ là ảo tưởng nhất thời khi tâm tưởng vẫn còn mắc kẹt trong khái niệm nhị nguyên đối đãi thông thường.   Đó là khái niệm “có” và “không” vật lý chứ không phải có và không thể tánh.
 
Lê Trung Ẩn dừng nói, đưa mắt hỏi ý Phạm Xảo nhưng chỉ thấy người đối diện trầm ngâm nhìn lơ đãng đâu đâu. Im lặng hồi lâu, Phạm Xảo nói chậm rãi:
- Trí Quang và Trí Minh chỉ thực hành theo cái thấy và cái biết của cá nhân mình và thầy tổ của mình một cách trung thành. Thế theo quan thượng thư thì trong hoàn cảnh riêng của họ, hai anh em ấy có thể làm gì khác hơn không?
- Thầy phải đi tìm một cái ngã an tịnh và ít nhiễm độc trên núi sâu; trong khi hai gã học trò xuống núi thực hành “vô ngã vô nhiễm” giữa chốn bụi đời. Sống với bụi đời bao bọc chung quanh mà không lo “tu bụi”. Tu bụi để gột rửa bớt lớp lớp bụi bặm phong trần chực chờ bám vào trên thân xác và trong tâm tưởng liên tục trong mỗi nháy mắt. Những lớp mỏng bụi mờ không lau sạch, sự dồn tụ càng lâu càng thành đống thành đồi. Làm sao có thể chuyển hóa cái nghiệp muôn năm dính mắc trên thân phận làm người của mình được khi bụi đời chưa lau sạch trong tâm.
- Theo quan thì phải cần tu bụi trước?
- Vâng, tu là chuyển. Chuyển là thay đổi. Trong thay đổi thì cái gì cần nhất và gần nhất thì làm trước, thế thôi. Chỉ vì mãi lo “tu đạo” khi thân chưa sạch, tâm chưa an nên cả hai anh em nhà họ Trí đều bị dính mắc vào mớ bòng bong của tâm thức phá ngã và dối ngã. Trí Quang khinh bỉ quay lưng hay nóng nảy đập phá thế giới vật chất mà anh ta coi như là “có”, là kẻ thù của vô ngã. Trí Quang nhắc ta nhớ lại hình ảnh một kiếm khách thời xa xưa vác trường kiếm chém gió thu để cho trời hết lạnh. Trí Minh thì tự cho mình đã vượt ra khỏi vòng câu chấp; ôm trọn đời sống vật chất trong tay nhưng quay lại đánh đổ và coi thường nó như một sự phủ nhận hiện hữu với tâm trạng thỏa mãn của người “giác ngộ”.   Sự giác ngộ dễ dãi và ngây thơ của người chỉ thấy tượng Phật trong chùa mà không thấy tánh Phật quanh ta. Cái ngã của hai người anh em ấy to gấp đôi so với người thường. Mỗi người vốn có một cái “ngã sở” lù lù ra đó của riêng mình. Giờ đây, lại có thêm cái “ngã chấp” hiện tiền nung đốt họ.
 
Phạm Xảo góp ý một cách lơ lửng:
- Biết đâu vậy mà hai anh em ấy lại cảm thấy an lạc và hạnh phúc hơn tất cả chúng ta bây giờ.
- Tại sao tướng quân lại suy diễn như thế?
- Vì tất cả chỉ là phương tiện tạm thời để đi đến cái đích. Ấy là hạnh phúc. Sống là phương tiện. Thân xác nầy là phương tiện. Tu bụi hay tu đạo cũng chỉ là phương tiện. Qua những thay đổi, thăng trầm bên ngoài mà có người cho là “dâu bể” thì hạnh phúc nhất là tìm được ra nhau. Trí Quang và Trí Minh tìm ra nhau, ôm lấy nhau sau những đổ vỡ tang thương. Ấy là hạnh phúc.
 
***

Những oan trái thường theo danh mà đến, bám lợi mà vào, nương theo lòng ham muốn mà đi. Sau lần gặp gỡ cuối cùng giữa Phạm Xảo và Lê Trung Ẩn, tước phong “Hùng Oai Đại Tướng Quân Tiền Vệ Phạm Hầu tự Thiện Xảo” của triều đình dành cho Phạm Xảo đã được công bố đi khắp nơi. Bảng sắc phong đã khuấy bụi thời gian làm cho Phạm Xảo nổi tiếng trong các cung đường và ngoài dân dã.
Sống đời lặng lẽ như chiếc bóng trong Thái Ấp, Phạm Xảo vẫn chẳng hay biết gì đời sống bên ngoài. Cho đến một hôm, một người khách lạ đường đột đến báo là có người đang chờ muốn gặp. Phạm Xảo bằng lòng.
 
Khách đến viếng là một người đàn ông trung niên. Dẫu cố khoác lớp áo bình dân bên ngoài, nhưng dáng dấp đường bệ, cử chỉ uy nghi và ngôn ngữ cẩn trọng đã chứng tỏ địa vị cao sang và xuất thân quý tộc của người nầy. Bước vào dinh ông Hoàng một mình với thanh trường kiếm cắp trong tay, người trung niên tiến thẳng đến trước mặt Phạm Xảo nghiêng mình thi lễ:
- Xin kính chào Hùng Oai Đại Tướng Quân. Kẻ tiểu sanh nầy xin được diện kiến tướng quân. Xin tướng quân tha cho sự khiếm lễ trong việc trình báo hơi đột ngột nầy.
Phạm Xảo chắp tay vái chào đáp lễ người khách lạ, đáp lại:
- Không sao. Xin quan tổng đốc chớ bận lòng về những lễ nghi hình thức.
Người khách trung niên quắc mắt nhìn như xoáy vào người đối diện và bất ngờ cao giọng đầy giận dữ:
- Ông biết tôi là ai? Thế nầy thì quá lắm. Ông đã giết hết cha mẹ tôi rồi mà hơn 30 năm sau vẫn còn bám sát đứa con trai bất hạnh sống sót của họ là tôi để giết nốt hay sao?
Lạ thay, trên khuôn mặt của Phạm Xảo không lộ một chút bối rối hay sợ hãi.   Ông nói với người khách đang nổi giận bằng giọng ôn tồn qua nét nhìn đầy nhân hậu:
- Quan tổng đốc, người là một đại quan văn võ toàn tài, những lời nói tầm thường như thế thật không xứng đáng với vị thế và uy danh của quan đâu.
Người khách cau mày, giọng bớt xẵng, trả lời:
- Nhân nghĩa có nơi, ăn chơi có chốn. Có lẽ không cần giới thiệu ông cũng đã biết tôi quá rõ. Tôi là Trần Minh, con trai của vợ chồng người chủ quán mà ông đã giết trong đêm biến loạn dạo nọ. Tôi đã kiếm ông bao nhiêu năm mà không tìm ra tông tích. Khi ngỡ rằng ông đã chết thì tên tuổi ông lại xuất hiện như một cựu lão tướng lương đống của triều đình.
 
Nhìn người khách trong một dáng buồn rầu, Phạm Xảo hỏi:
- Trần Minh, còn gặp nhau thì vẫn chưa muộn. Trong hoàn cảnh nầy, tôi có thể làm được gì để giang tay thanh toán nợ nần?
Trần Minh vẫn cố bám sát con mồi đã ra khỏi hang:
- Ân báo ân, oán báo oán. Giết người thì đền mạng là công lý xưa nay. Ông giết cha mẹ tôi. Vua tha tội cho ông; luập pháp do con người đặt ra giải tội cho ông; con người đầy chủ quan và thiên kiến xúy xóa cho ông; kể cả phản ứng của cái tôi đầy ngã mạn mà người ta quen gọi là lương tâm cũng về hùa với ông. Nhưng trời đất mênh mông, lưới trời lồng lộng tưởng như chẳng vướng chân ai, thế mà một tơ hào tội ác, một mảy may bất nhân cuối cùng cũng không chui qua lọt đó ông ạ.
Phạm Xảo gật gù biểu đồng tình:
- Tôi cũng tin như thế. Chẳng hay hôm nay quan tổng đốc muốn mang uy quyền, muốn mượn lưới trời đến đây bắt tội tôi chăng?
- Cha mẹ tôi sinh tôi ra, tuy có công sinh thành mà không dưỡng dục. Nhưng ơn nghĩa sinh thành vẫn hết sức thiêng liêng. Đạo làm con là phải báo hiếu cho cha mẹ. Khi cha mẹ bị hàm oan thì phải minh oan; cha mẹ bị sát hại thì phải trả thù.   Nói một cách rõ ràng và minh bạch là tôi muốn lấy mạng sống của ông để báo thù cho cha mẹ tôi.
- Như thế có nghĩa là quan tổng đốc phải giết tôi mới trả thù được cho cha mẹ hay sao?
Trần Minh trả lời không do dự:
- Không còn cách lựa chọn nào khác ông ạ.
Phạm Xảo lắc đầu:
- Đáng tiếc!
- Ông sợ?
- Sợ gì?
- Sợ chết.
- Chết thì ai cũng sợ đã đành, nhưng chết một cách nông cạn và lãng nhách thì lại càng đáng sợ và đáng tiếc hơn.
Trần Minh cười nhạt, hỏi lại:
- Chết thế nào là chết “nông cạn và lãng nhách” vậy ông?
Phạm Xảo trả lời với giọng đầy khinh bạc:
- Là nhắm mắt chết cho những ham muốn làm “kẻ” thánh tử đạo trung thành điên đảo. Quên chính mình cho những ước mơ hoang tưởng, cho những hận thù cố chấp si mê.
Trần Minh cười húc hắc khó nghe:
- Ông lấy tư cách gì để phê phán sự dấn thân hành động của người khác đã chứ?
- Tư cách của một người sắp bị chứng kiến hay sắp bị thiêu thân cho một loại chết tương tự như thế.
- Vì nghĩ vậy nên ông đang tìm cách ngăn chận nó chăng?
- Không bao giờ!
- Vì sao?
- Vì một hành động dẫu là điên cuồng hay ngu ngốc mà chưa xảy ra, chưa ló mặt, chưa gây tác hại thì chỉ mới ra ở dạng “chủng tử” hay nói cách khác thì chỉ mới là cái nhân. Lấy gì để chứng minh và thuyết phục người khác đừng theo?
- Vậy là bất lực sao?
- Chưa hẳn là bất lực. Nếu đừng tạo duyên cho nhân mọc lên thành cây, thành quả thì có thể cứu vãn được.
- Cha mẹ tôi đã chết rồi thì làm sao mà cứu vãn?
- Nếu ngài tổng đốc cho rằng chết là hết thì mọi việc làm của nhà quan hôm nay như trả thù hay ban ân báo oán là để phục vụ cho ngài chứ chẳng dính dấp đến cha mẹ ngài đã chết. Nếu ngài tin cha mẹ vẫn còn tiếp diễn dòng sống đâu đây qua tiếng tăm, qua một phần tâm thức và thân xác của con cháu thì hãy ráng bảo vệ và bồi đắp cho con cháu.
- Tôi không tin cả hai. Tôi chỉ cần làm việc phải làm như vay thì phải trả. Thế thôi!
- Thế có khác gì con ngựa ăn lúa mạch của chủ thì phải kéo xe trả nợ đâu!

Trần Minh nghiến răng nhưng bỗng cảm thấy lạnh gáy vì cái nhìn đau đớn đầy thương cảm của ông già đang ném cho mình. Ánh mắt không sợ hãi, không hận thù, không trách móc mà xót xa như cha nhìn con lầm lỡ. Trần Minh lớn lên với bà Vãi trong chùa. Minh học kinh sách với những nhà sư ẩn dật, học võ nghệ với những viễn khách du hóa giang hồ, lớn lên thi đậu tiến sĩ văn, cử nhân võ được bổ ra làm quan tổng đốc. Chưa bao giờ một lần trong đời, Trần Minh bắt gặp một tia mắt nào lạ lùng như ẩn chứa cả một huyền sử không lời đến thế. Nhưng Minh đã được tôi luyện trong một môi trường kiến thức và tài năng vắng tiếng trái tim ru hời và tình cảm suối nguồn thổn thức của mẹ; không có thứ tình núi Thái Sơn đầy uy vũ mà êm đềm huyền diệu của cha. Đứa trẻ mồ côi chỉ có một con đường trước mặt: Ước mơ và chinh phục những ước mơ bằng thành đạt. Đứa trẻ đó đã sớm thành quan tổng đốc. Nó cần san phẳng những chướng ngại tình cảm tạm bợ và nhỏ bé trước mắt để cho cuộc đời đầy quyền thế và tương lai đầy tươi sáng của nó tiến lên. Nó hất đầu gạt phăng nỗi ám ảnh từ cái nhìn tha thiết của ông già đang hướng về nó, rồi cao giọng như ra lệnh:
- Lão tướng à, tôi còn bận việc công, không có nhiều thì giờ để bàn chuyện nhân luân, tri lý quanh co. Tôi muốn ông và tôi giải quyết món nợ truyền đời nầy trong công bằng và danh dự càng nhanh càng tốt.
Đôi mắt ông lão càng đượm buồn sâu hút và nét nhìn càng nhức nhối hơn. Ông run run lên tiếng:
- Nghĩa là quan tổng đốc muốn tôi chết để đền mạng?
Trần Minh trả lời khô khan, dứt điểm:
- Không! Lấy mạng ông tôi chỉ cần một đường kiếm. Nhưng ông giết cha mẹ tôi, đến lượt ông thế mạng để trả nợ sòng phẳng dưới bàn tay tôi thì vô hình chung món nợ đời thế mạng lại chụp trên đầu tôi để biến tôi thay ông làm kẻ mắc nợ.   Tôi muốn ông và tôi có mạng sống đồng đều, chúng ta hãy sử dụng mạng sống của chính mình để làm phương tiện hóa giải hận thù.  
Phạm Xảo nhíu mày hỏi lại:
- Phải tiêu diệt mạng sống của nhau mới hóa giải được sao?
Trần Minh trả lời xác quyết:
- Mạng đổi mạng, ấy là lẽ công bằng xưa nay. Ông chỉ có một mạng và tôi cũng thế. Không có sự trốn chạy hay lựa chọn nào khác hơn.
Lưng ông lão như còng xuống. Bản lĩnh con nhà tướng không cho ông lùi bước, xuống giọng hay năn nỉ dẫu vì người khác; mà chỉ biết hy sinh cho người khác.   Ông lão giật mình vì sự thông minh và nhạy bén của Trần Minh đã đi trước suy nghĩ của ông:
- Thưa lão tướng quân, cả hai chúng ta tuy khác thế hệ, nhưng đều ở hàng đệ nhất võ quan của triều đình. Truyền thống con nhà tướng của chúng ta là thà chết chứ không thà giữ mạng sống mà phải hạ thấp khí tiết của mình để được sống. Cái sống hèn mọn còn tệ hơn là cái chết đối với một vị tướng trung bình.   Bởi vậy, trong cuộc thi triển mạng sống giữa tôi và tướng quân sắp đến, mọi sự hy sinh hay nhân nhượng đều đồng nghĩa với sự nhục mạ và hủy diệt thanh danh của nhau.
Lão tướng hỏi nhanh:
- Chúng ta sắp làm gì?

Chưa trả lời vội, Trần Minh mở cái bao vải dài để bên cạnh và rút ra một thanh trường kiếm. Phạm Xảo ngẩn người khi nhận ra đó là thanh kiếm cũ đã theo ông vào sanh ra tử trong bao nhiêu năm. Cũng chính thanh kiếm nầy Phạm Xảo đã dùng để chém chết vợ chồng chủ quán năm xưa. Phạm Xảo đã quăng thanh kiếm xuống dòng nước như môt sự đoạn tuyệt với quá khứ. Trần Minh dùng vạt áo lau bụi làm lộ ra ánh sáng xanh ngời ánh thép của cây trường kiếm. Cầm đốc kiếm quay một vòng, Trần Minh chậm rãi nói:
- Phải, đây là cây trường kiếm của tướng quân Phạm Xảo năm xưa. Thanh kiếm nầy đã góp phần dựng nên nghiệp lớn cho đương triều; nhưng cũng chính thanh kiếm nầy đã chém chết vợ chồng người chủ quán vô tội để lại đứa con thơ. Thằng bé mồ côi cả cha lẫn mẹ đó bây giờ đang cầm lại thanh kiếm cũ và đứng trước mặt người đã giết cha mẹ nó.
Ngoài khu vườn có cây kỳ Nam cổ mộc, Trần Minh đặt cây kiếm trên chiếc bàn đá cách đều cả hai người đang ngồi đối diện nhau. Phạm Xảo nhìn đăm đăm cây kiếm. Từng tiếng của Trần Minh rớt xuống đanh như chém đá:
- Trước mắt chúng ta là cây kiếm. Bắt đầu từ thời khắc nầy, tôi và ông ngồi yên tại chỗ, không ai được nằm xuống hay nói chuyện. Không ăn, không uống cho đến khi một trong hai người gục xuống. Người chưa gục phải lấy kiếm chém đầu người gục trước. Sau đó, sẽ có người xách thủ cấp vừa bị chém về chỗ lăng mộ của cha mẹ tôi để tế giải oan. Tôi đã dặn dò chuẩn bị mọi thứ và cho bố trí người cẩn mật. Đây là hai bản giao ước giống nhau đã soạn sẵn. Nếu tướng quân đồng ý, cả hai chúng ta sẽ ký vào và mỗi người giữ một bản làm bằng chứng. Kẻ chết được yên thân và người sống cũng không sợ bị ai bắt vạ.
Phạm Xảo biết là không thể nào lay chuyển được lòng dạ cao thượng nhưng sắt đá của con người trẻ tuổi nầy. Ông chỉ hỏi:
- Nếu cả hai người cùng gục một lần thì sao?
- Khi một người đã chết, người còn sống sẽ được cứu cho tỉnh lại. Mọi việc lớn nhỏ đều đã có dự liệu trong bản giao ước nầy. Điều chắc chắn là sẽ không có trường hợp cả hai người cùng sống hay cùng chết sau cuộc thi triển nầy.
Phạm Xảo và Trần Minh cùng ký vào giao ước và cuộc đối mặt trả thù có Thần Chết làm chứng bắt đầu…

***

Một ngày đã đi qua. Hung thần đến trước là cơn khát. Cái khát không còn là sự thèm nước bình thường mà nó trở thành rừng dao sắc nhọn chạy khắp châu thân. Mũi nhọn của cơn khát đâm vào từng lỗ chân lông và nghiến nát từng thớ da thịt. Hơi thở và mạch máu từng hồi nóng rần rật như đang sôi. Chiều về và đêm xuống lạnh làm dịu lại cơn khát thì cái đói bắt đầu xuất hiện. Đói và khát quyện vào nhau. Trăng lên sau rừng lá. Ánh sáng là lửa, dầu là ánh trăng xanh bạc màu sữa loãng. Phạm Xảo bắt đầu chú ý đến âm thanh hơi thở khô khan của Trần Minh. Người trung niên đang độ phương cường ấy có đủ bản lĩnh của dương tính động, đương đầu và xông pha. Lão già bên bờ sinh tử lại có thừa sức trì của âm tính tĩnh, chịu đựng và nhẫn nhục. Tính động cần tiêu dùng năng lượng trong khi tính tĩnh bảo tồn được năng lượng. Qua những tháng ngày tĩnh toạ định tâm, Phạm Xảo biết rõ là trong cuộc thi triển nầy, Trần Minh sẽ gục ngã trước rất nhanh. Phạm Xảo rợn người khi nghĩ đến giây phút chính tay mình phải cầm lại thanh trường kiếm năm xưa để chém đầu Trần Minh đúng theo quy ước trong bản giao kèo đã ký.
Đã quá nửa đêm, hơi thở của Trần Minh có vẻ dồn dập hơn. Trăng lặn dần, có tiếng Trần Minh rên khe khẻ.  Phạm Xảo vẫn đắm mình trong cơn định tâm sâu lắng. Tiếng gà gáy sáng cuối Thái Ấp bắt đầu trỗi dậy. Tiếng gà từng đêm nối đêm trong cơn trường mộng mấy mươi năm chưa dứt. Tiếng chuông chùa Thiên Mụ giọt xuống. Mỗi tiếng chuông là sự biểu hiện toàn vẹn nhất của một chu kỳ dòng sống. Tiếng chuông vỡ òa, chiếm hết không gian, rồi theo thời gian nhỏ dần, nhỏ dần, nhỏ dần… rơi xuống và mất hút vào khoảng không. Không lớn không nhỏ. Không trên không dưới. Không đến không đi. Cái không quá khứ hay vị lai mà bao trùm tất cả và tan đi. Tan đi. Vắng lặng.
Sương đêm làm ẩm vai áo cả hai người. Hơi sương thấm vào từng lỗ chân lông đang khô khốc giúp cho cơn khát dịu xuống. Mặt trời vừa lên sau tàng cây. Ánh sáng không xua nổi bóng tối của một sự gục xuống đang ngấp nghé đợi chờ từ bốn phía. Phạm Xảo cảm thấy tỉnh táo hơn bao giờ hết. Có một dòng sông vỗ cánh vừa hiện ra trong tâm thức của ông. Dòng sông huyền diệu quá, sương khói quá. Cái chết, cái sống nối đuôi nhau trôi về một nơi xa lắc. Bờ bên nầy và bờ bên kia có khác gì đâu. Nén một hơi thở đã thấy tay mình dài cả dặm. Với tay ra là quá dòng sông vắng lặng. Không níu kéo mà bờ bên kia đã nằm tan loãng dưới lòng bàn tay. Không còn bên nầy, không còn bên kia níu kéo. Đã hết bờ.   Ngồi bên nầy mà cũng đã qua bên kia. Reo vui.
 
Xốc kiếm đứng lên như cơn gió mới, Phạm Xảo cầm chặt đốc kiếm trong tay. Có tiếng nói thều thào của Trần Minh:
- Khoan, khoan. Tôi chưa ngã gục mà.
Mặc… không còn để ý, Phạm Xảo nhảy ba bước đến bức tường vôi trắng xoá. Loáng kiếm, hoa lên. Dòng máu đỏ tươi phọt ra từ ngón tay trỏ, ngón tay quần thảo thành những nét đại tự lên tường vôi: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế…” Máu cạn. Loáng kiếm hoa lên. Dòng máu đỏ yếu dần từ ngón tay giữa, nét chữ nhỏ dần, đứt quảng: “ba la tăng… yết… đế… ” Máu cạn. Loáng kiếm hoa lên. Máu đỏ đã cạn, rỉ ra yếu dần và khô lại từ ngón tay đeo nhẫn, nét chữ rời rạc như sương pha ráng đỏ. Nét chữ chỉ còn là chấm móc mơ hồ: “bồ đề, tat…ba…ha”. 
Trên bệ đá giữa nền vôi trắng, mấy dòng chữ Hán mầu đỏ tím càng lúc càng hiện rõ dần khi nắng lên cao. Đó là câu thần chú cao thâm nhất, uyên áo nhất, vi diệu nhất mà không một câu thần chú nào khác có thể so sánh được trong kinh điển Phật giáo. Nhưng đó cũng là câu thần chú đơn giản nhất, dễ hiểu nhất, bình dân nhất trong kho tàng ngôn ngữ thần chú của lịch sử loài người. Nội dung thần chú ấy chỉ là: Qua đi, qua đi, hãy qua bến bờ bên kia. Reo vui.  Paramita… tiếng reo vui nguyên thủy của người Ấn Độ khi đã tới bến bờ đẹp tươi. Bờ giác ngộ.
Thân hình tầm thước, ngồi xếp bàn ngay ngắn như đang thiền định, lưng dựa vào bức tường có câu chú Bát Nhã Ba La viết bằng tất cả dòng tinh lực, râu tóc bạc như tơ… Phạm Xảo chỉ còn là cái xác. 
Bằng những phản ứng yếu đuối, Trần Minh chỉ có thể ngồi nhìn Phạm Xảo chặt ngón tay, rút hết máu trong mình để viết… Như sực nhớ điều gì, nguồn tinh lực đang ẩn tàng từ vô thức bỗng cháy lên, Trần Minh cảm thấy như ai vừa vực mình sống lại. Minh chụp ngay nửa vuông vải gấm vàng để trong ngực áo đã cũ xưa ra nhìn. Cả bầu trời lồng lộng chỉ còn tụ lại thành một mảnh. Bài kinh Bát Nhã viết bằng mực son trên mảnh gấm vàng bị xé mất phần cuối. Phần cuối đó là câu kết của bài kinh Bát Nhã mà Phạm Xảo vừa viết trên bức tường vôi trắng. Nét đá, nét mác cuồng thảo trên gấm vàng và tường vôi trắng gặp nhau.

Đã ba mươi năm Trần Minh đi tìm kẻ thù và người ân mà không gặp. Kẻ thù giết cha, giết mẹ. Người ân dấu mặt giao đứa hài nhi cho bà Vải ở chùa và thường xuyên lo lắng cuộc sống cơm áo, học hành của đứa bé cho đến khi khôn lớn thành tài ra làm quan. Trước khi mất đi, bà Vải ở chùa đã trao cho Trần Minh kỷ vật duy nhất mà bà có được về người ân, đó là vuông vải gấm vàng có bài kinh Bát Nhã bị xé mất câu chú sau cùng.
Trần Minh nhớ lại ánh mắt đau đớn gần như van lơn của lão tướng Phạm Xảo khi ký vào thỏa ước thi triển giữa hai bên. 
Lần đầu tiên, quan tổng đốc trẻ tuổi thành công đầy kiêu hãnh ấy ôm mảnh gấm vàng và khóc vùi dưới chân cái xác uy nghi như tượng thần của lão tướng.
Trần Minh nói đủ cho mình mà cả ba ngàn thế giới đều nghe: “Mẹ ơi! Cha ơi! Ân nhân ơi! Ước chi con gần được những trái tim của Mẹ, của Cha, của Người Ân từ ngày còn bé để con biết khóc như hôm nay trước khi con biết hận thù!”
 
(Trích trong truyện dài “Tu Bụi”)

.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeThu Sep 24, 2020 8:45 am

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Hue-tran-01

Người Giầu Có và Cái Bát Mẻ
- Hạnh Chi


Hai hình ảnh tương phản này có thể chẳng bao giờ thấy nhau. Không có người nhà giầu nào lại dùng cái bát đã sứt mẻ; cũng như, cái bát nào trong bếp người nhà giầu mà chẳng may bị mẻ thì số phận nó nhiều phần sẽ nằm trong thùng rác!
Nhưng, vốn chẳng có chi tuyệt đối, nên buổi chiều nay, mới khác những buổi chiều từng qua.

Nắng đã tắt nhưng cái nóng còn oi ả, lết theo bước chân mệt nhọc của một gã thanh niên nghèo khó. Gã có vẻ là một kẻ ăn xin, với y phục rách rưới, lôi thôi, trên tay lại ôm cái bát bẩn thỉu đã sứt mẻ. Hình như gã đã đói lả, vì bước chân xiêu vẹo, ngả nghiêng, tiến được một, lại lùi hai! Cuối cùng, chịu không nổi nữa, gã dựa vào cánh cổng một dinh thự.
Tình cờ, cũng lúc đó, người chủ nhân mở cửa bước ra. Bằng phản ứng tự nhiên, gã nghèo khổ nâng cái bát mẻ bằng hai tay tỏ sự cung kính người đối diện, rồi cất tiếng van xin:
- Con lạy ông, con lạy bà, xin nhủ lòng bố thí cho con miếng cơm dư.
Ông chủ nhà, chắc đã nhiều lần gặp cảnh ăn mày tới xin, nhưng nghe giọng nói của gã bần cùng, ông chợt xao xuyến.

Đưa tay gỡ chiếc nón lá rách bươm trên đầu kẻ nghèo khổ để nhìn cho rõ mặt thì ông chợt biết, đây chính là giây phút thiêng liêng, giao cảm với người bạn tri kỷ đã khuất núi bao năm.
Thay vì sai gia nhân mang thức ăn cho gã, ông lại nhẹ nhàng, vừa cầm tay dắt gã vào, vừa nói:
- Vào đây, vào đây, ta có chuyện nói với ngươi.
Gã thanh niên hiểu lầm, hoảng sợ la lên:
- Không! Không! Con dù nghèo nhưng không rình rập trộm cắp gì! Con đói quá, chỉ xin hạt cơm dư mà thôi!
Ông chủ nhà trấn an:
- Ngươi đâu có phạm tội gì. Vào đây ta cho cơm rồi hỏi gia cảnh ngươi chút thôi.

Sau khi lặng lẽ ngồi nhìn gã nghèo khổ ngấu nghiến hết hai tô cơm đầy, ông chủ nhà mới điềm đạm hỏi:
- Này, hãy nói ta nghe, trước khi chết, cha ngươi dặn dò những gì?
Gã cúi đầu, lí nhí:
- Thưa ông, con là một đứa con bất hiếu. Vì được cha quá nuông chiều nên con thường lơ là việc trau giồi trí đức, theo chúng bạn rong chơi, không màng chi đến nỗi thương lo của đấng sinh thành. Khuyên răn con không được, cha buồn lắm. Trước phút lâm chung, cha bỗng dặn con là ruộng nương, nhà cửa để lại, dù con có ngu muội tiêu xài hoang phí hết, nhưng chiếc áo đang mặc trên người đây là kỷ vật cuối cùng của cha, có nghèo đói tới đâu cũng không được bán, phải luôn giữ nó trên thân mình. Thưa ông chủ, con tuy bất xứng, bất hiếu, nay đây mai đó quên cả đường về, nhưng lời cuối cha dặn, con vẫn giữ đây.
Ông nhà giầu đưa tay sờ nhẹ lên tấm áo lem luốc trên thân gã nghèo khổ và lầm thầm, như không cần cho gã nghe mà vẫn khiến gã bàng hoàng:
- Tạ ơn Trời Phật, cuối cùng thì con anh đã tìm tới đây, để tôi được trọn lời anh ủy thác.

Ông cầm lấy bàn tay khô cứng của gã, nhìn sâu vào đôi mắt gã, rồi ân cần, chậm rãi bảo rằng:
- Này con, chiếc áo này là gia tài lớn lao mà cha con đã để lại cho con. Gia tài này, con có nhận được hay không còn do sự sám hối chí thành của con và lời cầu nguyện hằng đêm của ta. Hôm nay, con đã đến đây gặp ta, quả là con đã biết lỗi, dù đói nghèo vẫn giữ lòng  trong sạch. Còn ta, ta luôn cầu nguyện Chư Phật, xin từ bi dẫn dắt con tới để ta trọn lời ủy thác của người bạn cố tri.

Này con, thuở sinh thời, cha con và ta là hai người tương đắc, tâm giao. Nỗi khổ của cha con về đứa con ngu si khờ dại, ta đã biết đủ, nghe đủ, nên cha con đã ủy thác ta, chỉ cho con đâu là gia tài ông để lại. Điều này chỉ có được khi con đủ lòng hối hận và ta đủ lòng thành cầu xin.
Này con, hãy kính cẩn cởi chiếc áo này ra. Hãy nhìn cho thật kỹ khắp chiếc áo. Con thấy gì không?
Đây này, ở góc chéo áo, lẩn sau hai lớp vải dày là hạt minh châu vô cùng quý báu. Với hạt châu này, con sẽ là người giầu có.
Này con, hãy nhìn kỹ hạt châu lấp lánh kia. Hạt châu đó soi suốt mọi sự, nhận biết mọi sự không qua một lăng kính phân biệt nào. Hạt châu đó nhìn những thành hoại, sang hèn, còn mất, đẹp xấu, thủy chung, bội phản, vui buồn...v..v.. đến rồi đi với tâm an nhiên, thanh thản.

Con có hiểu ta đang nói gì không?
Này con, hạt châu đó là sự nhận biết mọi trạng huống. Hạt châu đó là chủ nhà. Mọi sự quanh con là khách vãng lai. Chủ nhà không đi đâu cả. Chủ nhà luôn đứng đó, vui vẻ, tiếp mọi người khách đến, rồi đi, mà không hề đi theo khách, nên chủ nhà chẳng bao giờ bị vướng bận vì những người khách mang đủ các tên gọi khác nhau. Nào là ông khách Sang Hèn, bà khách Buồn Vui, anh khách Phản Bội, chị khách Thủy Chung …v…v… Dù mang tên gì cũng là tên của khách, chủ nhà chỉ nhận biết thôi nên tâm chủ nhà rỗng rang. Vì rỗng rang nên giầu có.

Này con, tại sao giầu có ư?
Hãy khép hờ mắt mà quán chiếu xem. Nếu tâm con chẳng còn vướng mắc những hệ lụy vô thường kia thì con sẽ luôn là NGƯỜI CHO chứ không phải KẺ NHẬN. Con nở một nụ cười với người, là quà tặng, con tha thứ cho người gây khổ đau là con vượt thoát khổ đau, con không khư khư ôm giữ gì, là con buông xả được nỗi lo sợ mất những thứ đó.

Tiếp tục quán chiếu đi con!
À, con đang thấy rõ dần rồi đó! Đúng vậy, khi con thương yêu ai, vì muốn người đó mãi mãi thuộc về mình nên con đã vô tình xử sự như một kẻ ăn xin.
Xin gì ư? Con thầm xin người đó đừng bao giờ hết thương con! Đừng bao giờ bỏ con! Đừng bao giờ đổi tình thương con thành tình thương người khác! Này con, nếu đối tượng thực tình hết thương con thì con xin cũng chẳng được, phải không?

Tốt lắm, con thấy rõ thêm chút nữa rồi. Tiếp tục quán chiếu đi. Nếu nhận ra muôn sự quanh vạn hữu mọi loài đều đến rồi đi, còn rồi mất, sao lại tự cột mình vào thành, vào hoại đó? Sao cứ mãi là kẻ nghèo khó ăn xin mà không là người nhà giầu ban phát?
Bây giờ hãy mở viên minh châu trong chéo áo ra! Nào, hãy cho ta xem gia tài con có những gì?

Ồ! Nhiều quá hả?
Con vừa hết khổ đau!
Con vừa hết tủi nhục!
Con vừa hết tự ti mặc cảm!
Con vừa hết bệnh tật, yếu đuối! vì tất cả những thứ bám chặt con lâu nay vừa được con nhận ra CHÚNG LÀ ĐỐI TƯỢNG BỊ NHÌN CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ CON!

Thế, con là cái gì ư?
Con là cái vô sinh bất diệt vừa lóe lên, rực sáng! Con là cái nhận biết sự việc. Con không phải là sự việc. Tấm thân tứ đại lem luốc nhưng cái nhận biết tiềm ẩn trong thân này không lem luốc.
CON LÀ HẠT MINH CHÂU TRONG CHIẾC ÁO TỒI TÀN.

Hỡi kẻ cùng tử, con còn thân người đây làm phương tiện chiếc thuyền, con vừa khai mở trí huệ để thấy hướng đi, con vừa tìm lại gia tài để thành người giầu có.
Bấy nhiêu hành trang quý báu, con sẽ không bao giờ còn là kẻ ăn xin nghèo khổ nữa. Chắc chắn như thế, vì với hạt minh châu, con sẽ dong thuyền Bát Nhã ra khơi. Con không cần xin thêm gì, chỉ còn vô lượng của cho.

Hôm sau, khi gia nhân trong dinh thự ra quét dọn cửa trước, thấy một cái bát mẻ nằm im lìm bên vách tường.
Cái bát được gom chung với những rác rưởi trong bao.

Hạnh Chi
(Kính đảnh lễ Thầy, đã một lần từ bi khai thị cho bao kẻ cùng tử)                  

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 663
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeWed Sep 30, 2020 8:15 pm

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Locations_1424922819_ad70939237c6f0d638fe79884d91449b

Cõi Người Ta
- Trần kiêm Đoàn


Trời chưa sáng hẳn, trên lối vào Thái ấp đã sáng rỡ đèn đuốc của toán thân binh bộ Lễ chuẩn bị võng lọng đến rước hoàng thân Trí Hải vào cung. Sáng hôm nay là ngày trọng đại, ngày “chuyển cữu” để tiễn đưa linh cữu của vua Gia Long đến nơi an nghỉ cuối cùng tại Thiên Thọ Lăng. Nơi đây được gọi là “Huyền cung”, vương cung của thiên tử sau khi chết. “Thiên tử cung” là cách nói trang trọng đầy tính lễ nghi về việc đưa đám nhà vua mà mọi bước tiến hành đều nhất nhất theo đúng các chi tiết ghi trong sách Hội điển và Thọ Mai Gia Lễ.

Trí Hải khoác bộ áo quần lễ tang, bước lên võng đợi sẵn trước cửa tư dinh. Vốn đã quen với lễ nghi đưa rước rườm rà nhưng Trí Hải vẫn có cảm giác là lạ khi nhìn màu sắc đen trắng u buồn nhuộm màu sáng mờ, lu lắt trong ánh đèn lồng và sương sớm. Không nghe tiếng nói cười mà chỉ nghe tiếng thở phì phò và giọng nói rỉ tai thì thào của nhóm khiêng kiệu. Từ ngày vua “băng”, từ triều đình đến dân chúng trong cả nước cấm không được tổ chức hát xướng, hội hè vui chơi hay làm lễ cưới hỏi và không được mặc quần áo màu đỏ, màu vàng chói lọi, sặc sỡ. Các quan chức từ trong triều đến ngoài quận, phục sức màu xanh, màu trắng, màu đen. Tất cả đều tránh phục sức hay trang trí bằng những màu vui tươi, nhất là màu đỏ và màu vàng. Cũng thế, chiếc võng thường lệ trải nệm nhiễu điều, trên có mui che bằng giấy bọc gấm xanh hay lam, hai bên hông che hai rèm đỏ điểm hoa văn màu vàng kim nay được đổi lại hai màu đen trắng. Hai chiếc đèn lồng đi trước, đến cái võng do hai người khiêng và hai người phụ công đi kèm để đổi vai. Hai bên tả hữu có hai người cầm hai cái lọng xanh. Cặp lọng linh động che mưa che nắng có giá trị trang trí hơn là thực tế. Đi theo võng lọng là một người hầu tay phải ôm cái tráp khảm, tay trái xách cái điếu ống khảm. Người lính sau cùng mang đôi chấu võng. Đoàn lính đưa rước võng gồm 10 người nầy làm việc nhịp nhàng quanh năm. Những động tác lập đi, lập lại nhuần nhuyễn đến độ họ không cần hở miệng nói với nhau một lời nào, sợ làm kinh động đường quan; nhưng từ khi rước đến khi thân chủ rời khỏi võng, sự phối hợp nhịp nhàng biến mười người thành một khối.

Càng gần đại cung đình, nơi đặt quan tài của vua, các đám rước võng lớn nhỏ xuất hiện càng nhiều. Người ngoài, chỉ nhìn đám rước võng cũng biết được vị chủ nhân trên võng là quan lớn hay quan nhỏ.
Trí Hải chưa kịp xuống võng, quan tham tri bộ lễ đã đích thân đến rước vào nhà đám vì phái đoàn người Pháp tham dự tang lễ vua đã có mặt, cần có người biết tiếng Pháp để giao dịch và tiếp rước cho đúng lễ nghi.
Sự hiện diện của người Pháp bên cạnh Nguyễn Vương trong cuộc chiến đấu chống Tây Sơn vừa là một thế lực, một chỗ dựa mà cũng vừa là mối đe dọa chỉ mới hiện ra còn xa vời nhưng đã dấy lên ở cuối chân trời. Sau cuộc Cách Mạng 1789, nước Pháp có những vấn đề nội bộ cấp thiết cần phải đương đầu. Thế lực viễn chinh bằng quân sự còn ở trong giai đoạn phôi thai, nhưng thế lực thăm dò, tiền trạm và giao lưu đã năng nổ lên đường và thẩm nhập Việt Nam từ Đàng Ngoài cho đến Đàng Trong. Gần 20 năm trị vì, vua Gia Long đã cầm chân người Pháp bằng cung cách ngoại giao mềm dẻo như một cử chỉ thiện chí hàm ý đền ân đáp nghĩa. Triều đình Huế dưới thời vua Gia Long mở cửa, nhưng chỉ là mở hé, cho các hoạt động buôn bán, truyền đạo và ngoại giao của người Pháp trên đất nước Việt Nam.
Trí Hải có một vị trí đặc biệt trong hoàn cảnh lịch sử và xã hội rất tế nhị và phức tạp vào buổi đầu xây dựng triều Nguyễn ở kinh đô Huế.
Hơn hoàng tử Cảnh 10 tuổi, lại là người cùng huyết thống, Trí Hải được theo chân vị đông cung thái tử tương lai nầy như một người chú, một người bạn, một người chăn giữ, một người hầu cận. Năm 1784, khi giám mục Bá Đa Lộc được sự ủy quyền của Nguyễn Ánh mang hoàng tử Cảnh sang Pháp, Trí Hải cùng đi theo. Khác với Nguyễn Phúc Cảnh được uốn nắn, đầu tư và giáo dục trong khuôn mẫu của nền học vấn tăng lữ Âu Châu để sau nầy về làm vua, Trí Hải được học ngôn ngữ và văn hóa Pháp để làm người. Hoàng tử Cảnh, một cậu bé 5 tuổi ngây thơ và hiền từ ngoan ngoãn. Trí Hải, một người trai trẻ ở tuổi dậy thì nhìn thế giới qua những hành lang lộng gió trên boong tàu và qua những khung cửa của lâu đài đóng kín.
Hơn ba năm ở lại Pháp, vai trò ban đầu của Trí Hải đối với hoàng tử Cảnh hoàn toàn bị đảo ngược. Thay vì là người gần gũi để chăm lo cho Cảnh, Trí Hải đã trở thành vật vướng chân trước sự xếp đặt của những  người giám hộ muốn giáo dục một ông vua tương lai của nước Nam theo một mô thức nào đó không đi ngược quyền lợi của Đại Pháp. Bởi vậy, mỗi ngày người ta khéo léo tách rời hoàng tử Cảnh và Trí Hải càng lúc càng xa.

Tại Paris, trong khi Cảnh được dạy dỗ trong những học viện quý tộc thì Trí Hải được gởi vào các trường học chung chung của giới con em bình dân lao động. Sau giờ học, Cảnh phải đọc sách khai tâm được tuyển chọn cẩn thận thì Trí Hải tha hồ đọc sách báo gì tùy thích. Cảnh được chăm lo từng đường đi nước bước thì Trí Hải được chạy nhảy theo đám con nhà bình dân tận các hang cùng ngỏ hẽm. Trong những lần theo phái đoàn chờ chực để vào yết kiến vua Louis XVI và ra mắt hoàng hậu Marie Antoinette ở điện Versaille, hoàng tử Cảnh được chuẩn bị cẩn thận từ bộ mặt nghiêm trọng đến mũ áo nhiều lớp nhiều tầng cho xứng mặt ông vua con An Nam, Trí Hải được đi theo như một bóng mờ không ai để ý. Hình ảnh nguy nga, lộng lẫy của cung điện Versaille và lối sinh họat vương giả, quý tộc của giới vua chúa ở khung cảnh vàng son đầy quyền lực nầy hiện ra như một thế giới hoàn toàn khác lạ với đời sống bình dân thợ thuyền lao động trong những khu nhà ổ chuột, trong những con hẽm còn đầy bóng tối của kinh đô nước Pháp nầy.
Cuộc sống cung đình Pháp thời tiền Cánh Mạng 1789 bao quanh bởi ba lớp thành trì được xây dựng bằng những chất liệu của thế quyền và thần quyền đầy tính huyền thoại từ thời trung cổ và viễn chinh: Hoàng tộc, quý tộc và tăng lữ. Nghe những câu nói đầy từ ngữ cao sang và những ẩn dụ bóng bẩy trong lối nói xưng tụng của giới quý tộc như chuyện thần tiên thời cổ, Trí Hải cảm thấy đời sống nơi đây giông giống những trái mít đã ruỗng cùi ở quê nhà. Lớp vỏ vàng óng thơm tho bên ngoài giúp che đậy tạm bợ những lớp xơ và múi không còn sức sống tinh túy tỏa chiết và níu kéo từ bên trong, chỉ đong đưa chờ ngày rụng xuống. Những dấu hiệu phản kháng, những tiếng gào kêu đòi cuộc sống, những sự bức xúc tập thể sôi sục bên ngoài có vẻ như không thẩm thấu qua được những lớp thành trì kiên cố xây bằng chất liệu quyền uy, kiêu hãnh và mặc nhiên của thế lực cầm quyền.

Từ một cậu bé lớn lên trong giai đoạn lịch sử chuyển mình chấm dứt cảnh Nam Bắc phân tranh bằng sự đương đầu quyết liệt giữa hai thế lực Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Trí Hải được thụ nhận và trưởng thành thêm với luồng gió mới của Âu Châu.
Trước mắt người Pháp, Trí Hải là một mẫu người đầy thu hút và thú vị trong cung cách giao thiệp. Với bản chất trầm mặc và sự hiểu biết sâu rộng về văn hóa truyền thống Á Đông, Trí Hải được học hỏi thêm về văn chương, văn hóa Âu Tây. Đặc biệt về con người, Trí Hải được tiếp cận với giới trẻ, giới bình dân thợ thuyền lao động và luôn cả giới quý tộc, tăng lữ Pháp ngay trên đất nước của họ. Bởi vậy từ trong cách nói, lối suy nghĩ và điệu sống là cả một tổng hợp hài hòa giữa con người và hoàn cảnh xã hội un đúc nên.
Được gặp lại những người Pháp một thời quen biết trong phái đoàn đến tiễn biệt vua Gia Long, Trí Hải có dịp giới thiệu cho họ những gì tiêu biểu trong lễ nghi tang tế của hai nhánh văn hóa - văn hóa dân gian và văn hóa cung đình - trong cùng một dòng văn hóa Việt.
Một cung điện thu gọn bằng giấy nằm trên đoàn thuyền mấy chục chiếc che gần kín cả dòng sông. Từ văn khố bút mực của nhà vua đến thành trì, cung điện, đồ dùng hàng ngày từ lớn đến nhỏ đều được mô phỏng hoặc dùng nguyên gốc đều được xếp lên hơn ba chục chiếc thuyền. Thuyền rồng Long Châu - mang quan tài của nhà vua (đại thắng dư) nổi bật nhất với màu đỏ và hoàng kim rực rỡ.
Các đình thần và quan chức nào được đi đưa đám vua thì tên họ phải được ghi rõ ràng trong danh sách của Bộ Lễ. Phủ Tôn Nhơn của Hoàng Tộc cũng phải lập một danh sách tương tự như thế cho các tôn tước.
Sau lễ An Huyền Cung, nghĩa là đã mai táng xong, là lễ hỏa thiêu tất cả đồ dùng hàng ngày của vua, kể cả hai chiếc thuyền rồng, một của vua dùng khi còn sống và một là thuyền rồng chở quan tài của vua.
Một năm sau ngày vua mất là lễ tiểu tường và năm tiếp theo là lễ đại tường, tức là lễ mãn tang.

Sau đám tang vua, Trí Hải về lại tư dinh. Chưa vào tới cửa ngõ, đã nghe ông già Phạm Xảo dùng chiếc đũa tre gõ nhịp trên thành chén sứ, hát nghêu ngao mấy câu thơ của ai nghe thật thân quen:
Công hầu bá đế trăm năm trắng,
Phú quý vinh hoa một giấc vàng.
Thấy Trí Hải, ông ta hỏi ngay:
- Hoàng thân, người ta chôn nhiều bạc vàng châu báu theo vua lắm phải không?
Trí Hải trả lời:
- Nhiều thứ lắm. Nhưng đó là lề thói xưa nay của hàng vua chúa, có gì đáng thắc mắc đâu.
Ông lão nhìn trống không và nói lời hờ hững:
- Rồi cũng tay trắng như nhau, cũng “thân như ánh chớp có rồi không” thôi!
Trí Hải xòe tay như cố tìm một cái gì xa xôi không hiện hình trong đó:
- Dù tránh hay tìm thì cái không vẫn nằm sẵn trước mắt!
Lão già thể hiện nỗi vui trong giọng nói:
- Phải rồi, cái không! Thầy tôi ngày trước cứ giảng đi giảng lại hoài cái Không và Vô Ngã. Thầy kể rằng, cái không là một báu vật vô giá phải tự mình tìm lấy và tìm thấy, kho tàng của cải không mua được. Ngày trước, Tần Thủy Hoàng cố đem cái Có tầm thường giữa cuộc đời để mua cái Không siêu tuyệt của hàng đại trí nên đâu đủ vốn liếng mà mua. Trần Nhân Tông đem cái Không giữa trần đời để mua cái Không trong chân tâm nên người đời nghĩ rằng ông ta mua được. Cho đến bạc đầu, tôi vẫn nhớ nằm lòng giọng Thầy giảng sách dưới trăng, rằng, cái Tâm Không mới chính là bản ngã siêu tuyệt của con người. Cái không là báu vật mang đến sự an lạc vĩnh hằng. Tần Thủy Hoàng có Vạn Lý Trường Thành, dùng bạo lực để xây dựng đại vương triều, cung vàng điện ngọc; nên cái tâm vắng bóng. Khi cái tâm vắng bóng thì cũng như kẻ nghèo cháy túi, sống còn chưa đủ, lấy gì để mua vật báu trên đời. Trần Nhân Tông bỏ ngai vàng như bỏ đôi dép cũ nên cái tâm hiển lộ. Cái tâm là nguồn vốn duy nhất để ông mua được cái Tâm Không, làm chủ một vùng trời an lạc.
Trí Hải vui vẻ góp lời:
- Tôi chẳng biết nhiều về Đạo Phật, nhưng có tìm hiểu chút ít về Kinh Thánh của đạo Gia Tô cũng như chút ít về đạo Phật. Tôi có cảm tưởng như khi con người không có đáp số về một ẩn số lớn nhất của đời sống thì phải dựa vào niềm tin tôn giáo để lý giải và tìm chốn an trú cho mình. Phạm Xảo thắc mắc:
- Cái ẩn số lớn nhất đó là gì?
- Là nguyên nhân hay nguồn gốc đầu tiên của sự sống và nơi an nghỉ sau cùng của kiếp người, của phần tâm linh không có sắc tướng - nếu tin rằng, mỗi người đều có “một cái gì đó” vẫn còn tiếp diễn sau sự chết - từ đâu mà có và đâu là chốn tận cùng vĩnh viễn của sự ra đi mà cũng là sự quay về. - Thế cái ẩn số lớn nhất đó theo hoàng thân biết và nghĩ là gì? - Tôi đang cố tìm, cố nghĩ nhưng vẫn tìm chưa tìm ra, nghĩ ra. Nếu bắt tôi nhắm mắt tin theo một đấng vô hình có quyền năng tuyệt đối tối cao hay một lực mầu nhiệm tuyệt đối nào đó thì tôi xin từ chối.
Mặc dầu tôi tôn kính tên gọi của những đấng đó hay lực đó và tôn trọng đức tin riêng của mỗi người, nhưng tôi không có lý do để tin vào một ẩn số hay là một câu hỏi chưa có câu trả lời. Tôi nghĩ tất cả cũng chỉ là một tên gọi khác của cái ẩn số lớn nhất chưa có đáp số rạch ròi như chúng ta đang nói đến mà thôi. Đạo Hồi gọi đó là đấng A-La, đạo Chúa gọi là Thượng Đế, đạo Phật không nhận có nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng mà tất cả là một chuỗi Duyên, Nghiệp trùng trùng từ vô thủy đến vô chung... Rất có thể họ đều đúng và phù hợp theo đức tin của họ. Một khi đã gọi là đức tin mà còn lâm vào vòng tranh cãi để làm “sáng” đức tin của mình và chối bỏ đức tin của người khác là một việc làm đầy vọng động. Tôi cũng cần một cái phao hay một nơi an trú cho tâm linh nhưng chưa có huynh ạ.
- Rồi sẽ ra sao nếu suốt đời tìm không có?
- Thà không có vẫn còn đỡ hơn là cố thuyết phục mình tin gượng ép vào điều mình chưa nắm vững. Ngụy tín và đức tin là hai mặt tối và sáng của con người. Thật là hạnh phúc nếu xây dựng được một niềm tin chân thực.

Ông lão rì rầm kể chuyện ngày xưa rồi tự hỏi người như tự hỏi mình:
- Như vậy, chết là chấm dứt cái Có và bắt đầu cái Không; là chấm dứt cái Ngã để đi vào Vô Ngã hay chỉ là một cuộc hành trình mới, mang cái tâm có - không, cái ngã thiện - ác đi vào cõi vô cùng hay đi sang một cuộc đời khác?
- Tôi không nghĩ cái Không trong đạo Phật mang ý nghĩa là “chẳng có” như có đối với không, giàu đối với nghèo, đói đối với no. “Không” ở đây là một trạng thái rỗng lặng hoàn toàn. Không có gì trước, chẳng có gì sau. Không có gì lớn hơn, chẳng có gì nhỏ hơn. Không có hai bề, chẳng có hai phía, không phân hai trạng thái khác nhau nên chẳng thể nào diễn tả, lý luận, so sánh được.
Ngày xưa, mỗi buổi sớm, khi còn nằm ngủ muộn, tôi thường nghe mẹ tôi xướng lên trước khi cầu kinh, rằng: “Phật, chúng sanh: Tánh thường rỗng lặng. Đạo cảm thông: Không thể nghĩ bàn.” Tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi! Nếu mà không thể nghĩ bàn thì làm sao mà hiểu được?” Mẹ tôi giải thích thật đơn giản: “Thời nhỏ, Phật ở trong cung vua học hết sách vở, những điều tầm thường và cao xa tới đâu ngài cũng biết. Nhưng mãi đến khi ra ngoài cửa thành, tự mình tiếp xúc mới thấy được cảnh sinh, già, bệnh, chết đau khổ là dường nào. Chính tự mình thấy được, gần được, nghe được mới cảm thông; có cảm thông mới hiểu được. Còn nằm ngủ nướng để nghĩ và bàn suông như con trai của mẹ thì không bao giờ hiểu được…”

Phạm Xảo vò đầu:
- Khó thật! Ngày xưa tôi chỉ huy hàng vạn quân sĩ. Nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi chưa hiểu một người nào cả. Nhớ thầy tôi từng dặn: “Để hiểu được một người thì phải rũ bỏ hết tất cả những lớp vỏ, đập vỡ sạch sành sanh mọi ý nghĩ có trước và có sau về người đó, để thấy được người đó như chính họ là họ…” Cũng sắp hết một đời, tôi chưa hề thấy được một ai đúng với ý nghĩa “thấy được người đó như chính họ là họ.” Phải chăng ý niệm của cái chính anh là anh, cái chính tôi là tôi là cái tánh thật, tánh “y như vậy”, Tánh Không nơi mỗi con người?
Trí Hải không trả lời trực tiếp mà khuyên:
- Hãy sống đi huynh, đừng hỏi vì sao phải sống. Đã biết Tần Thủy Hoàng lấy cái Có mà mua cái Không nên không mua được vì cái Không nó nằm ngay trong ta chứ đâu ở bên ngoài mà mua. Nếu huynh và các bậc Thầy của huynh càng nói về cái không chừng nào, cái không càng mất dạng chừng đó vì cái Không chẳng phải là cái mặt trời hay mặt trăng cụ thể để diễn tả. “Không” là một trạng thái, một ý niệm để chiêm nghiệm và chứng nghiệm, không phải để nói, để vẽ hình hay tạc tượng. Cái Không, cái Vô Ngã trong đạo Phật có mặt ngay trong cuộc hiện sinh nầy chứ đâu phải đợi tới khi sống chết, luân hồi. Nếu tin rằng con người là một sinh vật có dòng sống biến hiện không ngừng thì sống chết chỉ là sự thay áo trong dòng sống mà thôi. Sống và tự mình tìm mình trong vắng lặng đi Huynh à!
- Thế có nghĩa là muốn giữ mặt gương trong thì phải giữ đừng cho gương tiếp xúc với bụi? Gương và bụi cái nào trong hơn?
- Đều đục.
Ông lão nhìn người đối diện và băn khoăn hỏi rằng:
- Thế thì cái gì mới trong?
- Người xưa nói rằng, không gương mà cũng chẳng bụi mới thật là trong ngần tuyệt đối.
- Hoàng thân làm tôi nhớ câu chuyện được những người nhà chùa kể đi kể lại mòn nhẵn, thế nhưng lúc nào cũng như mới và đầy thú vị là chuyện Lục Tổ thiền tông. Hơn nghìn năm trước, Huệ Năng, người được sư Hoằng Nhẫn phong làm vị tổ thứ sáu của Thiền Tông Trung Hoa, cũng vì thấy rõ sự trong ngần đó mà đạt đạo khi ông bày tỏ rằng:
Bồ đề vốn chẳng có cây
Gương trong tự sáng chẳng dây với đài
Cái không tuyệt đối xưa nay
Lấy đâu dính bụi trần ai xứ nào.
(Bồ đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật, hà xứ hữu (nhạ) trần ai)

Ông lão ngước nhìn trời, những tảng mây thời thơ ấu vụt bay ngang trên bầu trời mờ đục. Trí ông, lòng ông và có một khoảng trời riêng nào đó bên trong tạm gọi là “tâm”, mỗi ngày một dày đặc.
Thêm một niềm vui, một nỗi buồn, một sự tiếc thương, một ân tình níu kéo; biết thêm một người quen, một người bạn, một người thù... mỗi thứ như một lớp bụi mờ rất mỏng. Cái thân và tâm này còn sờ sờ ra đây, làm sao mà bắt chước hàng đại gốc, đại trí như ngài Huệ Năng xưa nói rằng không có thân, không có tâm nên lấy gì mà dính bụi được. Nhưng những lớp bụi mỏng như măng tơ đó cứ mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm chồng chất lên mãi. Chúng nó không những làm mờ đục mà lấp đầy hết khoảng trời riêng bên trong. Làm sao ông rửa sạch nó, bào mỏng những lớp dày đóng thành chai đá hay đập vỡ nó đi.
Phạm Xảo đã có lần đem ý nghĩ nầy ra phân tích thì Trí Hải góp ý:
- Huynh ơi! Những đại đệ tử của ngài Thần Tú ở phương Bắc và ngài Huệ Năng ở phương Nam Trung Hoa tranh luận nhau suốt mấy trăm năm không phân thắng bại về chuyện phải phủi bụi, tu bụi hàng ngày để tâm trong sáng hay giữ cái tâm không thì bụi lấy gì để bám. Chuyện kể rằng:
Có hai đệ tử của hai phái Nam Bắc thiền tông ấy một hôm gặp nhau ở rừng Long Thọ. Hai bên cãi nhau suốt một ngày mà chưa phân thắng bại. Tối về, cả hai cùng tới xin tá túc tại căn nhà ông tiều phu duy nhất ở bìa rừng. Cả hai đều đói lả người nhưng miệng vẫn không ngớt nói đến pháp môn tiệm ngộ (là ngộ từ từ) của phái Thần Tú phương Bắc và đốn ngộ (là ngộ tức thời) của phái Huệ Năng ở phương Nam.

Ông tiều cũng là một bậc hành giả. Ông trao cho cả hai người, mỗi người một cái nồi đất đậy kín và bảo đó là thức ăn cần phải nấu chín mới ăn được.
Bếp ông “đốn ngộ” đun bằng củi đốn ngộ, tên ông tiều gọi loại củi thông rất dễ bắt lửa.
Bếp ông “tiệm ngộ” đun bằng củi bạch đàn cũng dễ bắt lửa chẳng kém gì củi thông.
Bị cơn đói thúc bách, hai ông bếp đều đun lửa tối đa cho đồ ăn mau chín, nhưng nấu hoài và chêm nước hoài mà vẫn cứ nghe tiếng “lọc cọc” của thức ăn chưa chín trong nồi. Đầu hôm, nửa đêm, tàn canh, rồi hừng sáng, thức ăn vẫn còn trơ trơ chưa chín. Cả hai ông “đốn” và ông “tiệm” đều “ngộ” ra cái mình nấu trong nồi không phải thức ăn gì cả mà là hai viên… đá hầm.
Trong lúc cả hai ông vẫn thều thào cãi nhau và sắp xỉu vì đói tới nơi thì lão tiều mang hai bát cháo măng thơm phức đi tới. Hai ông trố mắt nhìn vào cục đá “chưa chín” trong nồi của mình. Lão tiều khịt mũi kêu lên: “Cả hai vị cứ mải miết lo thổi lửa cho to, đun củi cho nhiều mà không biết mình đang phí công sức và thời gian để đi nấu cục đá.”
Hai ông khách trố mắt nhìn hau háu vào hai tô cháo vừa được bưng tới. Lão tiều phu chắp tay mời:
“Xin mời hai vị dùng cháo. Củi thông hay củi bạch đàn cũng đều đun lửa nấu chín được nồi cháo nầy, nhưng chẳng có loại củi nào nấu chín hai hòn đá tảng đó cả.”

Như có tiếng kêu phiền muộn từ trong lòng vọng ra, nhưng ông Lão quay quắt không biết cách nào để dìm nó xuống, gạt nó đi, xô đẩy nó ra khỏi đời mình. Ông nghe quá nhiều lời dạy, uống quá nhiều phương thuốc danh ngôn, cầu đảo quá nhiều đền miếu, nhưng cái lớp dày quái ác đó có vẻ như vẫn cứ dày thêm. Tất cả chỉ là sự xao động bên ngoài, không thấm qua được lớp vỏ dày đã thành rêu, thành nấm. Ông vuốt chòm râu bạc và thẫn thờ ném cái bình cũ xuống dòng nước đang chảy xiết dưới chân cầu bên cạnh nhà. Chiếc bình sứt vòi như còn vướng vất mộng đế vương, xoay vòng vòng chiếu loáng ánh trăng trước khi chìm khuất.

(Trích trong truyện dài “Tu Bụi”)

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 663
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeThu Oct 08, 2020 12:56 pm

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Nui-ngu-binh-khamphadisan-2-e1488164889173-1280x720

Bụi Tình
- Trần Kiêm Đoàn


Đêm chia tay trên sông, dòng nước sông Hương mềm lại. Bến bờ chìm sau biển sương mù và khói nước ven sông vây phủ như thế giới chỉ còn hai con người trong lòng thuyền đang sống. Cảm giác có nhau trong tay và nhớ nhau ngày sắp tới khiến những người tình chưa xa mà đã nhớ. Họ muốn hong khô những giọt nước càng thấm càng đầy làm trôi nổi dòng cảm xúc. Dù đã cho và nhận tận tình trên xác thân không tiếc nuối, họ vẫn muốn gửi nỗi thương nhớ còn quyến luyến vào mớ hành lý mai sau. Nỗi say mê không đong hết được khi tâm lý níu kéo dùng dằng ra đi và ở lại đang diễn ra trước bình minh của một ngày đang tới và sẽ lùi dần vào một buổi chiều chia xa. Ba Gấm sẽ khởi hành đi Hàng Châu trước khi trời tối. Từ cửa biển Thuận An, đoàn thuyền buôn của Ba Gấm sẽ căng buồm nương theo gió mùa, trực chỉ mé Đông Bắc. Nếu thuận buồm xuôi gió thì chỉ trong ba ngày đêm là tới đảo Hải Nam. Từ đó, thuyền sẽ chạy ven theo bờ biển Trung Quốc trong cuộc hải hành xa nghìn dặm đến vịnh Hàng Châu.
Tiếng reo hò của đám vệ binh tuần tra thủy diện làm Trí Hải choàng tỉnh dậy. Nỗi ám ảnh nặng nề đối với Trí Hải trong lúc này là sự tưởng tượng cảnh quân sĩ tuần tra phát hiện được Ba Gấm và Trí Hải đang tư tình với nhau trên một chiếc đò buông lái giữa thượng nguồn sông Hương. Thuyền quan quân gươm giáo tua tủa đang tiến nhanh về phía đò của Ba Gấm và Trí Hải. Với bản chất tự tin và trầm tĩnh đến độ lạnh lùng, Trí Hải ngồi nhìn đăm đăm những ánh lửa đang nhấp nhô di chuyển về phía mình. Dường như trên những đốm lửa phù du đó mọc lên lắm cảnh hệ lụy phi lý của kiếp người: Hận thù đối mặt với yêu thương, kềm kẹp đối mặt với tự do, xảo trá đối mặt với chân thành, bạo động đối mặt với bình an, đau khổ đối mặt với hạnh phúc… Trí Hải nhắm mắt lại trong cảm giác bàng hoàng chợt đến là tại sao mình phải đứng trước hoàn cảnh nầy. Bên này là nỗi đam mê tận tình của khát vọng hồn nhiên; bên kia là danh vị cao sang của người đời quy ước. Khi sự lựa chọn là con đường nghịch chiều, kẻ được chọn lựa thường đứng trước ngã ba: Ngã ngược, ngã xuôi và ngã thoát! Trí Hải cần một ngã thoát mà tìm mãi chưa ra.

Ba Gấm lách mình ra khỏi mui đò với dáng nhẹ nhàng và thản nhiên mà trong bóng tối không ai hình dung được vẻ mặt Ba Gấm là đang cố đương đầu hay sợ hãi. Thuyền tuần tra đã cặp sát vào đò Ba Gấm. Người đội trưởng tay cầm cây đèn gió đang cháy phừng phực, tay kia cầm đại đao cán dài nhảy lên trước mặt Ba Gấm hỏi bằng một giọng đầy thị uy uy gần như nạt nộ:
- Ai là chủ đò?
Ba Gấm trả lời bằng cái giọng bất chấp của một người kẻ cả:
- Ba Gấm!
Viên đội trưởng tuần tra gằn giọng hỏi dồn:
- Ba Gấm là tên nào? Ở đâu? Làm nghề gì?
Ba Gấm trả lời với vẻ lạnh lẽo và cứng rắn:
- Ngươi không cần biết. Quan tổng giám sát đội phòng ngự thủy diện của ngươi ở đâu, ngươi cấp tốc đi trình báo đến đây nói chuyện với ta.
Người đội trưởng tuần tra có vẻ như đã quen với sóng nước giang hồ, nhận ra ngay sức mạnh quyền thế trong giọng nói của người đàn bà đang đối diện với mình, xuống giọng hỏi lại:
- Bẩm, thế thì xin hỏi phu nhân đây quý danh là gì ạ?
- Ba Gấm.
Người đội trưởng không hỏi thêm gì nữa và nhanh chân lùi lại phía thuyền mình với quân lính canh phòng vẫn còn án binh bất động, đốt đuốc đợi chờ. Trong một khoảng ngắn thời gian hút chưa tàn điếu thuốc, thuyền lớn chỉ huy đã cặp vào đò Ba Gấm. Quan tổng giám sát nhẹ nhàng bước sang đò Ba Gấm, niềm nở chấp tay vái chào thân mật một cách lịch thiệp:
- Dạ, trình phu nhân, xin phu nhân thứ lỗi cho tên tiểu tốt đội trưởng. Hắn vừa mới được thuyên chuyển từ ải xa về nên chưa biết đại danh của phu nhân. Hạ quan xin phu nhân đừng chấp nhất.
Ba Gấm tươi cười đáp lễ:
- Chuyện nhỏ, xin quan tổng đừng bận tâm. Tiện thể, có món quà nhỏ xin biếu quan tổng lấy thảo.
Quan tổng đã quá quen thuộc với những “món quà nhỏ” như thế nên càng hăm hở chấp tay vái tạ:
- Cảm đội ơn phu nhân. Phu nhân lúc nào cũng hào sảng, chu đáo hèn gì quan quân người người đều cảm phục.
Quan tổng nhét vội hai nén bạc vào hầu bao và cung kính kiếu từ qua thuyền mình rồi ra lệnh cho toán thuyền tuần tra tránh xa khu vực quanh thuyền Ba Gấm.

Chưa quen với lối ứng xử đầy vẻ giang hồ một cách bất thường, Trí Hải mở to mắt theo dõi sự việc đã diễn ra trước mặt, lên tiếng hỏi:
- Sao một vị quan của triều đình nắm quyền tuần tra trên mặt sông lại có thể khúm núm trước mặt Ba Gấm đến như thế? Vì sợ uy quyền của quan Chánh Chưởng chăng?
- Không phải đâu huynh ạ. Quyền hạn của quan Chánh Chưởng đâu có lan xa đến những vùng sông nước hẻo lánh như thế nầy.
- Nếu vậy thì uy quyền của Ba Gấm là do đâu mà có?
Ba Gấm cười nhẹ:
- Chuyện chen chúc giữa đời nhiều khi không đáng để bận tâm huynh ạ. Mà huynh cần biết để làm gì cho mệt trí?
Trí Hải lắc đầu vì sợ bị hiểu lầm là thóc mách, lên tiếng:
- Ồ không. Tôi chẳng có ý tò mò hay phê phán em đâu. Nhưng thắc mắc vì tự mình không tìm ra lời giải đáp hợp lý đó thôi.
Ba Gấm trả lời gọn lỏn:
- Tiền!
- Chỉ thế sao?
- Dạ phải.
Một phản ứng tâm lý gần như bất bình chạy vào ý nghĩ của Trí Hải. Quen với đời sống cung đình và hoàng phủ, Trí Hải chỉ biết mọi việc trên bề mặt huy hoàng của phấn son, trang hoàng và nghi lễ. Những chuyển động thực sự nấp sau dáng vẻ uy nghi và nghiêm cẩn thật là khó hiểu. Trí Hải cảm thấy như chính lòng tự trọng của mình bị thương tổn khi biết quan quân triều đình cũng bị đồng tiền sai khiến. Trí Hải hỏi một cách nghiêm nghị:
- Như thế có nghĩa là Ba Gấm đã đút lót, hối lộ phi pháp cho các viên chức triều đình, phải không?
Ba Gấm đọc được vẻ căng thẳng và hoài nghi trong lời của Trí Hải nhưng vẫn hồn nhiên và tươi cười giải thích:
- Dạ, huynh. Trên cao nhìn xuống thì có lẽ tiền cho quan tổng là hối lộ và phi pháp, nhưng đi vào đời sống thực tế thì đó cũng chỉ là chuyện đời thường. Huynh nhìn quanh kinh thành và các vùng lân cận sẽ thấy. Nếu chấp hành đúng phép công thì bất cứ quan nào xây phủ đường, xây dinh thự đều đáng tội nghiêm trị, lưu đày hết. Lương của các quan chưa đủ nuôi sống và sắm sửa xe ngựa, áo gấm, tường loan… cho bản thân và con cháu đầy đàn, năm thê bảy thiếp, làm gì có tiền dư để xây phủ, xây dinh. Hơn ai hết, huynh đã biết rõ quy chế lương bổng của triều đình rồi. Thế thì tại sao làm quan lớn, giàu lớn; làm quan nhỏ, giàu nhỏ. Ai làm quan chức cũng sung sướng giàu sang là do đâu. Tiền của từ đâu ra? Nếu không phải là tiền hối lộ, ăn cắp, xoay xở, cắt xén, bòn rút từ mồ hôi nước mắt của dân đen thì chẳng lẽ tiền từ trên trời rơi xuống?

Trí Hải có cảm giác lành lạnh từ đỉnh đầu chảy dài xuống xương sống. Sự thật phơi bày quá rõ ràng. Càng che càng rõ. Cái lá chắn cuối cùng là bám vào cụ Khổng để trấn áp mầm mống phản kháng. Phải mang hai hàng rào kiên cố là cha và thầy để làm vòng đai an toàn cho vua. Ba dây cương là quân, sư, phụ hợp tác với năm đức hạnh ngũ thường… là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trở thành cái gông tinh thần vô hình chụp xuống đầu người dân. Người ta phải sống gương mẫu để tôn thờ và cung phụng guồng máy vua quan cầm quyền. Trí Hải ôm đầu. Ba Gấm hốt hoảng:
- Huynh ơi! Em xin lỗi đã làm huynh lo nghĩ. Quên hết đi anh. Đeo mang chuyện đời làm mình mất vui. Chỉ còn những giờ hạnh phúc ngắn ngủi bên nhau. Tối nay em đi rồi. Thương nhau đi…
Trí Hải hôn Ba Gấm thật đậm. Nói trong mơ hồ:
- Đi về đâu, em? Ta lạc đường mất rồi. Bao năm, ta nuôi mộng trung quân ái quốc, thương dân hơn thương cả bản thân mình. Nhưng ta đã tự chôn mình giữa những đống sách để mong tìm đường giúp nước, cứu đời. Tìm đến phương Tây, Tây chỉ muốn thay chủ đổi ngôi, nuôi hoàng tử Cảnh để biến vị vua tương lai thành bù nhìn mặt Nam dạ Pháp. Tìm về phương Đông, Tàu chỉ muốn biến nước ta thành châu quận. Tìm về đạo Nho, Nho chỉ dạy cúi đầu bóp bụng thờ vua. Tìm về đạo Phật, Phật dạy phải từ bỏ trần gian nầy để tìm phương giải thoát nơi miền cực lạc. Biết về đâu? Hai phần đời đã xế. Về bên em, Ba Gấm ơi, ta có muôn nghìn hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc nầy cũng chỉ là canh bạc lận dẫu sớm muộn cũng phải đến hồi kết cuộc. Em và ta đang cỡi mây đi ngoài bốn biển, rồi sẽ rơi xuống nơi đâu. Ai biết.
Ba Gấm áp má mình lên môi Trí Hải, nước mắt ràn rụa:
- Em hiểu anh, cả thể xác lẫn tinh thần. Rồi em cũng sẽ già và thân xác nầy rồi cũng xám tro như thân gỗ mục. Em cũng đã từng trăn trở đi tìm một hướng đời cho có ý nghĩa sống như anh. Ước mơ mình thì cao quá mà cuộc đời nầy thì lạnh lẽo và tầm thường. Với thân phận đàn bà, em chỉ biết kéo ước mơ về hiện thực. Em cố kéo ước mơ về lại trần gian này. Em cố nhìn trần gian nầy như một quê hương tươi đẹp.

Nét cương nghị ánh lên trong đôi mắt Ba Gấm. Trí Hải nhìn lên, chưa bao giờ Trí Hải thấy Ba Gấm đẹp như lúc này. Ngạc nhiên, Trí Hải kêu lên:
- Đẹp! Em đẹp quá. Có phải vì quê hương tươi đẹp trong lòng em đang làm em đẹp lên không?
- Cảm ơn anh đã khen em. Em không biết, nhưng em đã giữ đẹp quê hương bằng cách riêng của mình.
- Bằng cách nào?
- Bằng cách thỏa hiệp với cuộc đời. Em cứ cho như đời không đẹp mà cũng chẳng xấu; không khổ mà cũng chẳng sướng. Em mặc cho đời bằng chiếc áo của em. Em đã làm giàu công khai và lương thiện. Em lấy tiền của đời và trả lại cho đời. Em không dùng tiền như đốt pháo bông để làm vui cho đời mà coi tiền của như một phương tiện cứu người khốn khó.
- Người ta có thể vừa làm giàu mà cũng vừa lương thiện được không?
- Dạ, theo em thì được huynh ạ. Như cây kỳ nam cổ mộc của Tâm An chỉ là cây rừng hoang dã nhưng đem về bán giá nghìn vàng. Những bức thư pháp của các nhà danh họa Trung Hoa có thời chỉ đổi lấy con vịt, con gà nhưng kẻ biết sưu tầm thành ra vô giá. Đất ruộng Giang Nam xưa trồng lúa trồng khoai chỉ đủ ăn ngày hai bữa, nhưng có người khai thác trồng quýt trồng cam thu lợi gấp trăm gấp vạn lần. Hàng hóa gấm vóc, tơ lụa của Ba Gấm bán đắt gấp nhiều lần thiên hạ đâu phải là sự tình cờ hay ép buộc. Nhưng để được giá cao như vậy em đã vận dụng hết hiểu biết và kinh nghiệm của một thời cung nữ, học về cái đẹp trong tận cùng khổ nhục. Và đêm nay, em sẽ lên thuyền đi Hàng Châu để chọn mặt hàng. Biển khơi xa nghìn dặm, em có thể bỏ mạng trong giông bão dọc đường ai biết được. Muốn giúp đời, em cần phải phương tiện. Phương tiện trước mắt mà không cần tìm kiếm đâu xa là của cải vật chất. Nhưng vật chất giúp mình và giúp đời chỉ có ý nghĩa khi được làm ra một cách lương thiện. Cái giàu bất lương làm bằng dối lừa và mưu kế làm sao sánh được với cái giàu lương thiện làm nên do trí tuệ và tài năng.
- Đúng vậy. Xưa nay không ai cấm làm giàu một cách chính đáng và lương thiện. Ngay như đạo Phật coi mọi giá trị vật chất chỉ là hư giả, có là không, thế nhưng đức Phật vẫn khen ông trưởng giả Cấp Cô Độc, người đã đem vàng trải ra để mua khu vườn quý của thái tử Kỳ Đà làm nơi thuyết pháp cho Phật và tăng chúng.
- Dạ, cám ơn sự nhắc nhở đầy ý nghĩa của anh. Nhưng em không dám đi xa hay làm được điều gì to lớn hơn mà chỉ nguyện góp một bàn tay nhỏ và việc giúp người nghèo khó, hoạn nạn.
- Ba Gấm đã cứu được ai và ai là người khốn khó?
- Em đã cho và không đợi chờ nhận lại. Người em cho không biết là ai, nhưng em biết đích xác họ là những người khốn khổ. Người nhận cũng chẳng cần biết ai cho, điều họ cần biết có manh áo, miếng ăn trong cơn khốn khó.
Trí Hải buồn bã thở dài:
- Tôi đang ở đâu đây? Bao nhiêu chữ nghĩa… rốt cuộc, chỉ là một kẻ lạc đường!
Ba Gấm ôm đầu Trí Hải, nhìn thẳng vào đôi mắt thăm thẳm ưu tư:
- Huynh! Không đâu. Huynh không lạc đường khi tấm lòng của huynh còn đầy ắp yêu thương. Không phải chỉ thương em mà thương tất cả…
- Mơ hồ quá! Trái tim thương yêu chỉ mới là con thuyền trống. Thuyền biết chở ai về đỗ bến nào mới là thật sự yêu thương.
- Đúng!
- Đúng là thế nào?
- Là đem yêu thương về chính giữa cuộc đời gió bụi này. Địa ngục là đây mà thiên giới cũng là đây. Con người thuộc về trần gian nên phải đem con người về lại giữa trần gian. Muốn lên thiên giới hay muốn về địa ngục, con người cũng phải qua ngõ trần gian nầy trước đã. Quên trần gian để bước thẳng lên thiên giới là ảo tưởng của những tâm hồn mờ mịt niềm tin. Phi tiểu nhân bất thành quân tử. Nếu đời sống chỉ có toàn là quân tử hay tất cả đều là tiểu nhân thì làm gì có hai bờ đối đãi, tiểu nhân hay quân tử. Nếu không ai có tội thì làm gì có đấng chuộc tội. Đời không đau khổ thì làm gì có đấng cứu khổ.
- Hay lắm! Rất luận hành minh triết. Nhưng đâu là cửa ngõ để bước vào dòng đời thật sự đau khổ hay hạnh phúc. Biết bắt đầu từ đâu trong cuộc hành trình êm đềm mà khốc liệt nầy?
Ba Gấm đặt cả đôi bàn tay êm như gấm vuốt má Trí Hải, trả lời thờ ơ:
- Em không biết nữa. Bên huynh, bên em, phút này chúng ta đang sống trong chiếc võng hạnh phúc của cõi trời. Nhưng tối nay, khi em đi, đời vắng nhau rồi, sự nhớ thương sẽ đưa mình về… về địa ngục.
- Thế thì cõi lành cũng ở nơi đây mà cõi ác cũng ở nơi đây…
Trí Hải ấp bàn tay của Ba Gấm đưa lên ngực mình, nơi trái tim đang gõ từng nhịp đời dồn dập.
Ba Gấm nhắm mắt, tựa đầu lên ngực Trí Hải, nói nho nhỏ:
- Em nghe.
- Nghe gì em?
- Nghe tiếng tim anh đập, nghe sự sống của anh. 
- Rồi sao nữa?
- Trái tim chẳng biết nói gì hết ngoài những nhịp nhặt khoan vô nghĩa.
- Em đang nghĩ gì?
- Không. Thế anh đang nghĩ gì?
- Không!
- Em cảm thấy quá hạnh phúc trong cái “không” nầy anh ạ.
- Anh cũng vậy…
- Thế làm sao kéo dài cái “không” vô tận hở anh?
- Anh không biết. Em biết?
- Không! Bộ anh biết sao?
- Không!
Cả hai ngồi im lặng bên nhau mà trong nhau. Sự tĩnh lặng mong manh dần dần tan đi với mặt trời xế bóng.

Mộng tưởng cứu cánh… thường xuất phát từ niềm tin tôn giáo. Tôn giáo là một ảo tưởng trong mắt nhìn trần bụi. Nhưng tôn giáo là một thế giới hứa hẹn, thế giới mơ ước, thế giới bên kia trong niềm tin và hy vọng của tâm linh. Muốn qua thế giới bên kia cần phải có một chiếc cầu. Chiếc cầu không hình, không tướng, không sắc, không thanh, không màu, không ở một nơi nào cả. Bởi vậy, chẳng có một thi nhân, văn nhân, họa sĩ tài hoa trác tuyệt nào có thể diễn đạt hay mô tả được chiếc cầu ấy một cách chân xác. Chiếc cầu có có, không không trong rỗng lặng, trong cảm niệm, trong quán tưởng. Khi tất cả mọi cánh cửa của trí óc mở rộng; mọi rào chắn của tâm hồn phá bỏ; mọi suy tư và định kiến có từ muôn thuở tan đi thì vùng đất bên bờ nầy chợt hé ra để có được một khoảng trống làm đầu cầu. Có lúc, chiếc cầu chợt ẩn hiện đâu đó trong vô thức, trong tiềm thức, trong ý thức, trong cảm xúc, trong nụ cười, trong tiếng vọng, trong tình yêu, trong thù hận… trong tất cả. Chiếc cầu có khi chỉ là gang tấc; nhưng cũng có khi dài vô tận. Bao nhiêu người vịn thành cầu, đứng trên cầu, đi qua, đi qua, rồi đi qua… Có kẻ qua được bờ bên kia, có kẻ đứng lại bên cầu, có người vịn cầu chờ đợi và cũng có kẻ đi hoài không tới.
Tình yêu say đắm hay cảm xúc mê say thường chiếm hết khoảng không của trí óc và chiều sâu tâm hồn con người. Khi yêu, những người trong cuộc tình thường say mê chết lặng hay rên rỉ trong tình yêu. Những nghệ sĩ được xem là những người có khả năng và phương tiện rên rỉ bằng nghệ thuật điêu luyện, nên thơ tình, nhạc tình, tranh tình, hát tình… thường có độ rung đầy cường điệu dễ làm say đắm lòng người. Đắm trong suối tình, ướt đẫm đến từng chân tóc, không còn một khoảng trống nào để cho tạo vật và niềm an lạc thanh tịnh chen vào. Và cứ thế, con người vật lộn liên tục với cảm xúc nung nấu phóng ra và dội lại như con thoi cho đến ngày thân xác tan rã. Ba Gấm và Trí Hải cuốn hút nhau trong cơn lốc tình cảm. Khi cuộc tình chuyển qua một khúc quanh, cả hai người tình chợt khám phá ra một thoáng mắt lặng gió. Trong giây phút sắp chia tay, họ không bám víu những gì đã qua, chưa biết gì sắp xảy đến. Họ vừa đang có nhau mà cũng vừa đang mất nhau. Cả hai chưa có một vọng tưởng nào ngoài khoảnh khắc hiện tại. Họ mở bung hết ngọn nguồn cảm xúc cả tinh thần lẫn thể chất, ngồi bên nhau như hai cụ già đã quá vãng và như hai đứa trẻ chưa sinh trong hiện tại nên chẳng có gì để bám víu, dù là ảo tưởng. Chính sự đồng cảm trong cái “không” lặng gió của trần thế đã đưa họ tới suối nguồn hạnh phúc. Nhưng cái không của họ mới chỉ là cái tâm không dính mắc xảy ra trong thoáng mắt. Không có ai trong cả hai người tình có đủ sức mạnh để giữ lại được thoáng giây hạnh phúc ấy lâu hơn. Từ trong hạnh phúc, cả hai đều cảm nhận được mặt đối nghịch nằm khuất ở phía bên kia của đời sống thoáng nhe răng cười bóng hạnh phúc phù du của họ. Cái-không-hạnh-phúc lóe lên như một sự nhắc nhở tất cả chỉ là vô thường. Hạnh phúc giữa vô thường là cái bóng trêu người trước khi biến vào nẻo khuất. Chỉ còn một người thân duy nhất trong đêm là mặt trăng mùa đông hiếm hoi, nhưng rồi trăng là của muôn phương nên trăng cũng từ từ lặn mất.

Ba Gấm đã giương buồm ra khơi từ chặp tối. Phạm Xảo vẫn ngủ say dưới một mái nhà nhưng ý nghĩ và cảm xúc đã rời xa Trí Hải hàng bao nhiêu vạn dặm trường. Đầu hôm chợp mắt được một lát, tiếng động răng rắc của ngôi nhà quá cũ kỹ không chống đỡ nỗi với gió mạnh đã vực giấc ngủ dậy. Trí Hải chong mắt nhìn trăng lặn, đợi đêm tàn và chờ sáng.
Trong sương mù của ý nghĩ, tiếng chuông chùa Thiên Mụ vỡ lạnh cả hư không. Tiếng chuông về đâu. Không có một miền trú xứ. Âm thanh như một đời người, nó từ không mà có; rồi trở về không… Chú tiểu công phu sớm, cái chày kình mòn nhẵn nửa đầu, cổ chuông đúc từ thời chúa Nguyễn, một không gian vắng lặng, thẻ đếm chuông xâu chuỗi xếp hàng, một bàn tay lần thẻ và tay kia thong thả dộng chuông, và tiếng gió, tiếng đêm, tiếng dế cũng góp phần thai nghén, sinh đẻ, tạo tác tiếng chuông. Tiếng chuông từ tất cả, của tất cả mà cũng chẳng thuộc về ai.
Làm người có nhiều nỗi khổ, nhưng cái khổ âm thầm mà dằn vặt nhất là nỗi khổ suy tư. Nỗi nhớ trong tình yêu là cơn chớp giật sấm sét của suy tư. Nhớ không còn là một cảm giác mong ngóng hay ham muốn được đền bù để khỏa lấp khát vọng thèm thuồng mà là một sự quay quắt. Cảm giác quay quắt tê dại như một nửa phần thân thể bị ai cắt đi. Trí Hải nhớ Ba Gấm. Tất cả những cánh cửa gần như khép lại. Bầu trời lồng lộng, sông núi, cỏ cây, đều bị cái lạnh lẽo khép lại sau màn sương dày đặc. Chỉ có một cánh cửa ấm. Còn mở. Đó là nỗi nhớ. Nỗi nhớ cũng dày đặc mà không nắm bắt được, mơ hồ như khói, như sương, giữa hai người tình. Họ càng xa nhau, càng nghĩ đến nhau nồng nàn và gần gũi trong tâm tưởng. “Ba Gấm! Ba Gấm!”. Trí Hải kêu lên không thành tiếng.
Nỗi nhớ càng mênh mông, trí tưởng như càng đặc quánh lại. Trí Hải chỉ thấy đôi mắt đẹp muôn trùng của Ba Gấm đang từ biển khơi sóng gió hướng về mình. Đôi môi yêu thương chực nhoẻn những nụ cười tươi mới, nói những lời mơn trớn dịu ngọt và hé ra chờ đợi. Thân thể nồng nàn vật vã và quấn quyện của những loài thú mắt nai, trườn mình nơi rừng xanh làm động núi giữa mùa tình.

Bỗng như có một luồng gió lạ vừa thổi tới, Trí Hải quắc mắt nhìn bóng đêm. Bóng tối che hết cả vạn vật cũng như tình yêu cuốn lấy một người làm cho trái tim bị quấn những vòng dây êm ái quá. Khi trái tim chỉ còn biết rung động trong vòng quấn giới hạn thì tín hiệu yêu thương cũng rất khó trải dài ra ngoài cung cấm của nó.
Ráng hồng vừa hiện lên sau bóng hàng cây còn đen đặc bóng tối. Bình minh không đồng lõa với bóng tối. Gươm giáo, hận thù, la hét, cuồng nộ không bao giờ giết được bóng tối. Ánh sáng tự nó là ánh sáng, không nhân danh mặt trời mà cũng chẳng tô màu đặt tên cho chính nó. Ánh sáng chỉ cần yên lặng bước tới là bóng tối đi lui hay tan dần. Ngước nhìn bình minh, Trí Hải tự hỏi, nếu tình yêu và sự đam mê cũng dày đặc và bủa vây như bóng tối thì cần có một thứ ánh sáng nào giải phóng được trái tim đang đắm đuối. Ngồi bó gối nghĩ hoài không ra. Mặt trời lên cao, cao tới đỉnh đầu, chếch về phía Tây và sắp lặn. Mặt trời chao đảo trong mây, lấp lánh giữa biển sương vàng, tỏa hết hào quang trên đỉnh núi phía Tây trước khi lặn xuống như cũng đành chịu lạnh tanh, câm nín với số phận.
Nhìn mặt trời sắp lặn, Trí Hải cảm thấy bất an. Nỗi sợ hãi bóng tối quá mênh mông. Khi bóng tối dấy lên tự trong lòng, Trí Hải chỉ còn biết hướng vọng về một đối tượng từ bên ngoài để đi tìm ánh sáng. Trí Hải ngước nhìn về phía Tây, đỉnh núi Kim Phụng buổi chiều nằm lẫn trong mây. Mây ửng vàng pha tím xếp thành tầng trên đỉnh núi cao. Càng nhìn đăm đăm, mây núi càng gần lại. Gần đến nỗi Trí Hải cảm thấy như bàn chân của mình đang bước lên tầng thứ nhất. Trí Hải đứng dậy, nhón lên cao. Đôi mắt trong suốt và nụ cười từ ái của sư Trúc Lâm hiện ra từ sau dãy núi phía Tây. Những ngọn sóng thét gào trong lòng Trí Hải dịu xuống. Ảo giác không hoang tưởng trở thành sức mạnh tinh thần vô địch khoa học một người không đầu hàng với hoàn cảnh, phải vươn lên cho bằng được từ trong cô đơn. Phá tuyệt vọng là cuộc chiến đấu oanh liệt nhất bên bờ sinh tử.
Trí Hải đắm mình trong suy nghĩ nhưng đôi mắt vẫn nhắm thẳng hướng núi Kim Phụng, men theo con đường mòn đã quen mà cất bước ra đi.
Trí Hải qua khỏi đồi sim dẫn vào chân núi thì trời đã tối mịt. Trăng lên đầu núi thanh tuyền và uy nghi với ánh sáng dịu dàng, nhưng cũng đầy ngự trị. Hơi đá lạnh. Sương núi chập chùng bắt ánh trăng lọt qua kẻ lá. Núi rừng càng sâu, hơi lạnh càng dày. Đôi chân tiến bước thoăn thoắt, Trí Hải nhìn xuống lối mòn khi ẩn, khi hiện trong từng lớp lớp sương trăng. Khi cái chí đã vươn cao đầu núi. Trí Hải cảm thấy bước đi của mình trên đường rừng sỏi đá nhẹ nhàng và đầy năng lực như “đằng vân”, lướt mây mà đi vào vùng trời mong tưởng.

Nhớ khi xưa Trí Hải vẫn thường thắc mắc rằng, đường qua Tây Trúc thỉnh kinh của Huyền Trang gian lao quá. Phải mất mười bảy năm trường và vượt qua tám mươi mốt khổ nạn mới thỉnh được những tạng kinh điển Phật giáo về phương Đông. Trong lúc Tôn Ngộ Không với bảy mươi hai phép thần thông biến hóa không lường, có khả năng đại náo cả cung Trời, chỉ cần một cái phất tay, dùng cân đẫu vân cỡi mây, lướt gió là thừa khả năng đi đến cõi Trời. Thế thì tại sao Tôn Ngộ Không chẳng cõng thầy Huyền Trang đi đến Tây Trúc chỉ trong vòng nháy mắt mà phải gian lao đánh yêu, diệt quỷ trong một khoảng thời gian dài đến như thế!
Trí Hải lắng nghe tiếng bước đi xào xạc của mình trên lá khô như tiếng giục giã của thời gian đang thúc hối con người đi tìm một sự cứu rỗi ngay giữa trần thế đầy bụi bặm này. Bốn thầy trò Đường Tăng là một hợp thể của con người trần gian bằng xương bằng thịt. Con người hội đủ tâm hồn, trí tuệ, tài năng, tham lam, sân hận, si mê, hiếu sinh, hiếu sát. Tôn Ngộ Không có đủ thần thông để đi khắp sáu cõi luân hồi, nhưng vẫn say mê trần gian, tha thiết làm người vì không có nơi đâu đẹp não nùng và đáng yêu quằn quại bằng chốn trần gian nầy cả. Muôn phương vì trần gian mà lại. Trần gian vì muôn phương mà đi. Con người sinh ra giữa chốn dương trần chẳng phải là tình cờ, mà cũng chẳng phải là số phận do một đấng siêu nhiên nào đó đặt định.

Cuộc đời chẳng qua là một sự dừng chân tạm bợ để tính toán cấp thời những món nợ đang đeo nặng và chồng chất trên vai mà người ta thường gọi là “nghiệp”. Khi tạm thời được hoàn cảnh buông thả để tiến bước, người ta ra đi… tiếp tục cuộc hành trình.
Trí Hải vẫn bước đi giữa lối mòn của rừng núi, giữa trần gian với trái tim đầy ắp yêu thương. Yêu mình, yêu người và yêu cuộc sống.

(Trích trong truyện dài “Tu Bụi”)

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 663
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeMon Oct 26, 2020 8:02 pm

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Hoa-lan

SAY HOA

- Minh Đức Triều Tâm Ảnh


Vào đời vua Trần Nhân Tôn, dưới chân núi Thiên Thai có một nhà ẩn sĩ họ Khưu, tánh tình lập dị, không màng danh lợi mà quanh năm chỉ say mê hoa kiểng.
Gia tài của cha mẹ để lại cũng có trăm vạn, vài chục đám ruộng nhưng lần hồi Khưu ẩn sĩ bán sạch. Hễ nơi nào có giống hoa quý, hoa lạ thì với giá nào chàng cũng mua cho bằng được. Không có tiền mua, chàng đổi bằng của cải, tài sản. Chỉ non mười năm sau, nơi khu vườn của chàng đã có hơn trăm loại phong lan, trăm loại thổ lan, ngoài ra các loại danh hoa, danh mộc như trà mi, mẫu đơn, tảo mai, mộc cẩn, thục quỳ, oanh trúc… thì thật không kể xiết.

Vào vườn, khách phải đi xuyên qua một khu rừng trúc. Trúc cũng không phải là những thứ trúc tầm thường, mà được sưu tầm từ các xứ xa xôi. Có những thứ trúc như tảo đằng, tuyết đầu, thiên bút, cao phong, vân lôi… chàng phải đặt mua từ các dãy núi Thiên Sơn, Côn Luân tận cực Tây Trung Hoa.
Qua khỏi khu rừng trúc, khách phải dừng chân nơi một con suối thơ mộng. Ở đâu đó, nước rỉ ra từ những kẻ đá, trôi lặng lờ trên mặt cuội trắng tinh rồi vỗ nhẹ lên mấy đám cỏ biếc nở hoa li ti ngũ sắc. Cá lội từng đàn đủ màu, đủ vẻ, giỡn với những hạt bọt nổi phù du nom thanh bình như giữa cõi bồng lai. Đứng mỏi, khách có thể ngồi trên những tảng đá lưu niên cổ đại, tượng đứng, tượng ngồi, tượng nằm, sắc đá loáng thoáng rêu đen, xám, nhợt nhờ sương nước như những bức tranh “vĩnh tịch”.

Qua suối, bên mép chiếc cầu đá cong cong, ai đó viết nguệch ngoạc vài câu thơ không rõ nét, trông cũng phóng khoáng và phiêu bồng quá thể. Trên một tảng đá dựng thẳng, cao hơn trượng, đầu xám bạc, chân rêu xanh, nổi lên hai câu thơ, nét đại tự sắc mạnh như vệt đao chém giữa hư không:
“Thiên hạ hốt nhiên đại định,
Tứ thời tịch mịch hoa khai!”
Chẳng có gì hay ở đó, đại ngôn và tầm thường nữa, nhưng kể ra là có khí phách, ngang tàng một chút hoặc cuồng ngông một chút thì cũng vậy. Nhưng đâu là cái đại toàn? Giữa cái tuyệt bích rơi xuống một vài nét chấm phá thô tháo không tạo cho ta một vài cảm giác mạnh và đột ngột hay sao?
Người ta thường gọi chàng là Khưu ẩn sĩ, nhưng cái danh của chàng chơi hoa ở núi Thiên Thai đã làm rung động chốn đế kinh và thu hút rất nhiều danh sĩ, đạo nhân, tao nhân mặc khách…

Hôm kia, qua chân núi Thiên Thai là hai Tăng nhân bộ hành phong trần. Đến khu rừng trúc, họ dừng chân lại.
Một người nói:
– Cái thú say hoa kiểng thì thế gian chỉ có Khưu ẩn sĩ là một.
Người kia đáp:
– Họ say hoa thì chúng ta say Phật. Tục, thanh hay thoát tuy có khác nhau nhưng cũng là một cách say đó thôi!
Nói xong, y cười ha hả, giở chiếc nón rộng vành bày khuôn mặt ốm thanh tú, đôi mày sắc và nước da sạm đen. Y còn rất trẻ, tuy khoác chiếc áo nâu rộng đã bạc màu nhưng cũng không dấu được nét phong lưu kỳ mỹ.
Người kia đã đứng tuổi, to lớn, cằm vuông. Y nhăn mặt:
– Pháp đệ nói vậy không sợ giảm giá trị của đạo ta xuống sao? Hoa mà dám ví với Phật sao?
– Có gì đâu mà Pháp huynh bảo là dám và không dám?
Rồi tăng nhân trẻ chợt cao giọng:
– Phật là hoa. Hoa là Phật. Phật là tối thắng hoa, diệu thắng hoa. Pháp huynh vì không thấy Phật nên không thấy hoa. Hoặc giả, Pháp huynh bận đi tìm Phật nên chẳng thấy hoa bao giờ.

Tăng nhân đứng tuổi nhăn mày có vẻ trách móc nhưng lặng lẽ nhẫn nhục không nói gì. Ngay khi ấy có tiếng reo từ rừng trúc vọng lại:
– Hay lắm! Hay! Sư bác luận thế làm cho kẻ quê mùa dốt nát này bái phục làm sao! Phật là hoa, hoa là Phật, hay lắm!
Câu nói vừa xong, thì một người gầy gò mặc áo bào xanh chống gậy trúc sau vòm cây bước ra, dáng dấp tiêu sái, nhàn thoát khó đoán nổi tuổi tác. Y cung hai tay lại, phong cách lễ độ vừa phải.
Vị tăng trẻ đáp lễ rồi hỏi:
– Ẩn giả là chủ nhân chốn kỳ hoa?
Người ấy là Khưu ẩn sĩ, cười đáp:
– Vâng, xin thưa, chữ chủ nhân kia chỉ là lạm dụng, khiên cưỡng. Ai đòi làm chủ hoa thì kẻ đó khi mạn, thất lễ với trời đất. Kẻ ngu hèn này đâu dám thế. Hoặc giả sư bác muốn chỉ dạy một bài học về tâm pháp chăng?

Vị tăng lớn tuổi bây giờ mới quay lại, chăm chú nhìn người lạ mặt một hồi:
– Quả thật danh bất hư truyền. Đúng là phong độ cao nhân ẩn sĩ họ Khưu! Chúng tôi cam bề thất lễ. Nhưng bây giờ thì xin cáo từ!
Vị tăng trẻ nói:
– Huyền Quang tôn giả có lẽ chưa về núi, hiện giờ đang còn ở Yên Tử cũng nên. Hay là, Pháp huynh à, chúng ta qu
á bộ vào trong kia một lát cho mãn nhãn cái kiếp nhân sanh?
Vị tăng đứng tuổi hừm một tiếng:
– Hoa sắc, sắc hoa đều là hiện tướng của ma quân! Pháp đệ hãy khá lưu tâm. Sinh tử là việc lớn, trăm năm nào có mấy khắc, chớ có say mê hoa thơm cỏ lạ dọc đường để ngàn thu ân hận.
Khưu ẩn sĩ tủm tỉm cười:
– Mời quý sư ông, sư bác vào tệ xá uống vài chung thanh trà lấy thảo. Huyền Quang tôn giả và ngu lão đây vốn có tình quen biết, lúc nào đến Thiên Thai, đại sư cũng dừng chân ở đây giây lát để ngắm hoa và thưởng trà.
Vị tăng trẻ nói:
– Vậy thì xin phép chủ nhân cho chúng tôi được quấy quá.
Thế là vị tăng đứng tuổi đành miễn cưỡng đi theo. Cảnh đẹp làm cho vị tăng trẻ phải ngẩn ngơ, thán phục. Qua cầu, y dừng chân nơi hai câu thơ thật lâu rồi trầm trồ khen ngợi không hết lời. Vị tăng đứng tuổi hừm một tiếng rồi xăm xăm đi trước.

Ôi! Thật là không thể kể xiết được những kỳ hoa dị thảo ở khắp nơi. Trên cội cây, hốc đá, lối đi, bờ suối, triền non… đâu đâu cũng trăm sắc nghìn vẻ. Lời đồn đại của thế gian là mười mà chưa nói lên được một. Cảnh trí u nhã làm cho tâm hồn con người lâng lâng lắng dịu. Chủ nhân và vị tăng trẻ có vẻ tâm đầu ý hợp nên trò chuyện huyên thuyên…

Khi rời rừng hoa để bước vào Thảo nhai đình, tức là chái mây nhô ra bờ vực làm nơi thưởng trà, vọng nguyệt, vị tăng trẻ hốt nhiên ngâm mấy câu thơ lục bát với nhã ý tặng riêng Khưu ẩn sĩ:
Trần gian một thoáng không dài
Có khi mộng hóa, liên đài cũng nên!
Thềm mây đọng bóng chơn thiền
Ai ngờ tâm pháp một miền cỏ hoa!

Vị tăng đứng tuổi lòng ngổn ngang trăm mối buồn phiền vì người Pháp đệ của mình. Vừa qua chung trà thứ nhất, y đã cất giọng nói lớn:
– Chủ nhân có một đời sống thanh cao lắm, nhưng dám xin thưa thẳng một điều: tự mình có một đời sống nhàn lạc ở nơi góc núi đẹp như tiên cảnh này, danh lợi thị phi đắc thất dường như gió thoảng ngoài tai, dẫu vậy, phải chăng cũng còn ở trong cái ngã ái chật hẹp lắm ư?
Ẩn sĩ họ Khưu mỉm cười mà rằng:
– Dạ phải, sư ông dạy chí phải!
Vị tăng đứng tuổi cười lạt:
– Khưu ông mang cốt cách, phong thái của một dật sĩ, năm kinh ba giáo xem chừng cũng đã có ghé mắt xem qua. Vậy thì lời dạy của thánh hiền phải chăng là sở đắc này: Một đời sống nhàn lạc riêng tư, chật chội, phó mình buông trôi cho dòng chảy xiết “bộc lưu sinh tử”?
Ẩn sĩ họ Khưu cúi đầu nhũn nhặn:
– Dạ phải, sư ông dạy chí phải!
Vị tăng trẻ lấy làm khó chịu:
– Pháp huynh sao lắm lời đến thế? Mỗi người ai chí nấy, nhân nào quả nấy, tâm nào cảnh nấy! Đức Thích Ca đại sĩ bao nhiêu năm thuyết pháp mà không hề nói một chữ! Tu-bồ-đề im lặng thiền duyệt mà chư thiên rải hoa! Tâm mà có thể nói được? Pháp mà có thể nói được?
Vị tăng đứng tuổi khuôn mặt thoáng rắn lại, rồi chợt cười ha hả:
– Hay lắm! Cám ơn Pháp đệ đã thuyết Bát-nhã tánh không cho ta nghe! Cám ơn Khưu ẩn sĩ đã cho bần tăng lãnh hội tri kiến Pháp Hoa kinh. Thậm tri! Thậm tri! Vậy thì quý ngài cứ tâm đắc thù tạc, cho bần tăng thất lễ kiếu từ.
Ân sĩ họ Khưu chợt nói:
– Xin sư ông nán lại một chút. Có mấy đóa “bạch vân trà”, có lẽ vừa mới mãn khai. Đấy là loại tinh khiết, vương giả giữa trăm hoa, không để cho sư ông thưởng ngoạn thì biết để dành cho ai nữa?

Nói xong, ông ta biến mất sau mấy cụm bích đào, lát sau, mang ra một chậu trà mi trắng trang trọng đặt lên phiến đá cẩm thạch.
Cả hai vị sư đều sửng sốt.
Trong chậu, mấy đóa trà mi trắng nõn nường. Như lụa? Như thủy tinh? Như sương? Có lẽ chẳng phải thế! Nó như màu nguyệt bạch hoặc như màu bạch ngọc nhìn qua làn trăng mỏng. Cũng không hẳn thế. Thôi, chỉ diễn tả là đẹp lắm, đẹp tuyệt vời, đẹp không có gì sánh nổi, không có cách gì mà dùng lời được. Từng cánh hoa cong cong xếp lại. Mỗi cánh là một nét yểu điệu, mềm mại của vì tiên nữ. Ngoài ra còn có những đường vân tinh vi khi ẩn khi hiện qua ánh sáng đã được chắt lọc tinh khôi, vô nhiễm…
Khưu ẩn sĩ nhìn đôi mắt sửng sốt của hai vị tăng, y mãn nguyện, rung đùi ngâm:
– Tướng Phật, tướng hoa: vô nhị tướng!
Tánh hoa, tánh Phật: bản lai đồng!
Vị tăng trẻ cũng nhã hứng, thốt lên một cách sảng khoái:
– Biệt biệt, nhất trần vô cá biệt!
Khán hoa kiến Phật, liễu vô cùng!

Khưu ẩn sĩ đứng dậy cung tay hoan hỷ tán thưởng. Vị tăng đứng tuổi chép miệng, chặc lưỡi, ngó lên trời than dài:
– Ôi! Đảo điên đến thế là cùng! Pháp lộn tâm! Tâm lộn pháp! Chẳng hiểu đầu đuôi gốc ngọn ra sao mà dám xem Phật, hoa là đồng đẳng! Khán hoa là kiến Phật! Ôi! Than ôi! Phật pháp suy vi đến thế là cùng! Kẻ học Phật thời nay ngông cuồng đến thế là cùng! Ôi! Than ôi!

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 663
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeSat Nov 07, 2020 10:06 pm

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Nghe-thuat-pha-tra-dao


HAI LẦN MỞ CỬA
- Huyền Lam


Tuấn quen Davis hơn 20 năm trước tại Trường Đại học Oregon, Hoa Kỳ khi theo học ngành lập trình điện toán. Cũng giống như bao người Việt qua đây trong thời gian đầu, ngày ấy Tuấn rất khổ sở với các môn đòi hỏi phải đọc và viết nhiều tiếng Anh. Những môn Toán Lý Hóa, Lập trình, Logic thì Tuấn học rất khá. Trong một lần vào phòng lab, thấy Davis bực bội giải không ra bài lập trình, Tuấn đến giúp và quen anh từ dạo ấy.

Tuấn và Davis như cặp bài trùng suốt những năm dài đại học. Cả hai nương nhau để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Davis giúp Tuấn làm bài môn Văn, Lịch sử, Xã hội học... Tuấn giúp Davis Lập trình, Toán, Logic. Có thể nói không ngoa, nếu không bù đắp mặt yếu cho nhau, hai người có thể không tốt nghiệp.
Ra trường, hai người làm hai nơi nhưng không xa lắm nên thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn trưa. Khoảng năm 2000, Davis bỏ nghề, chuyển qua kinh doanh bất động sản. Thời gian đầu anh chỉ kinh doanh nhỏ vì ngân hàng chỉ cho mượn theo giá trị căn nhà thế chấp. Anh mua đất, chia lô rồi bán lại. Những năm ấy bất động sản được mùa, làm ăn khấm khá, tích lũy nhiều tín dụng nên ngân hàng ngày càng cho anh mượn nhiều tiền. Từ một người chia lô 4, 5 căn hộ, anh trở thành nhà quy hoạch cả trăm lô đất, bao thầu mọi khâu từ khai phá đất hoang cho đến việc xây, bán căn hộ.
 
Thành người triệu phú bận rộn nên Tuấn rất ít gặp anh, mỗi lần gặp, Davis đi xe sang hơn, phong cách doanh nhân lịch thiệp hơn, không còn tà tà thư giãn chuyện trò bạn bè như ngày trước. Bẵng đi khoảng 2 năm Tuấn không gặp anh, cho đến một chiều tối, anh gọi điện thoại, giọng mệt mỏi:
- Khoảng nửa tiếng... tôi tới nhà nhé...
Không bao lâu, tiếng chuông nhà reng, Tuấn hớn hở ra mở cửa đón bạn.  Một hình hài râu tóc rối bù, mắt sâu hoắm, lờ đờ thâm đen, làn da trắng bệch bạc, áo quần nhàu bẩn, bàn tay run run của người mất ngủ và uống quá nhiều thuốc chống trầm cảm. Nếu không nhờ giọng nói, Tuấn không thể nhận ra Davis lịch lãm mới ngày nào.
Anh nói như khóc, bấn loạn:
- Cám ơn cho tôi tới nhà... tuyệt vọng lắm, chắc điên lên mất... tôi...
Tuấn ra dấu cho anh vào:
- Chút nữa bạn kể tôi nghe, chúng ta có rất nhiều thời gian.

Dẫn anh vào phòng đọc sách nơi Tuấn có thiết kế không gian thiền đơn giản. Để anh ngồi một mình trong không gian tĩnh lặng ấy, Tuấn đi pha bình trà thảo hương mà người Hoa Kỳ thường dùng. Rót tách trà nóng, Tuấn từ tốn:
- Bạn có nhiều tâm sự, thong thả uống ly trà rồi làm theo tôi vài phút bạn sẽ thấy dễ dàng hơn.
Đôi bàn tay Davis run run, ráng giữ tách trà khỏi chao đổ, anh uống từ từ, nhìn Tuấn gật đầu.
- Bạn nhắm mắt lại, thở bình thường cho nhẹ cho sâu, nghe tiếng chuông bắt đầu vang, theo dõi âm thanh từ từ nhỏ dần rồi mất hẳn.
Trong buổi chiều vắng lặng, Tuấn thỉnh nhẹ chuông, âm thanh dịu dàng lan tỏa. Sau mỗi lần tiếng chuông ngưng vang, Tuấn để yên vài giây cho không gian chìm vào sâu lắng rồi thỉnh tiếng khác. 10 hồi chuông chậm rãi trôi qua, Tuấn nhìn bạn ân cần:
- Thấy diện mạo anh tôi rất lo, bây giờ anh có thể chia sẻ bất cứ điều gì. Chúng ta quen nhau hơn 20 năm rồi.

Davis đã bình tĩnh hơn, anh kể Tuấn nghe trong mấy tháng qua chịu nhiều áp lực khi chứng kiến hết ngân hàng này đến ngân hàng kia xiết nợ, phát mãi tất cả sản nghiệp vì thị trường bất động sản vỡ bong bóng. Công sức bỏ ra, vốn liếng tích lũy trong nhiều năm tan thành mây khói. Anh khủng hoảng tinh thần, tim đập bấn loạn, không đêm nào ngủ được. Bác sĩ bắt anh phải uống thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ. Cách đây hai hôm, do quá bức xúc, giận cá chém thớt, anh mạt sát vợ. Cảnh sát đã đến khuyên anh ra khỏi nhà vì sợ gia tốc thành bạo lực. Anh lái xe đi lang thang, lắm lúc nghĩ đến nhảy cầu xa lộ, hoặc lủi đại chiếc xe xuống núi cho nhẹ thân nhẹ đầu...
Davis thở dài:
- Một cuộc sống cực kỳ chán nản, đầy đau khổ thì sống để làm gì.
Tuấn chắm chú lắng nghe, sau khi bạn dứt lời một lúc lâu mới lên tiếng:
- Mất hết sản nghiệp buồn lắm chứ! Nhất là khi ta bỏ cả đời tạo dựng. Nhưng hãy buồn một ít thôi, phải vui lên vì có rất nhiều người chỉ mong được như bạn hiện tại.
Davis ngạc nhiên nhìn Tuấn, hỏi như trách:
- Có ai mà muốn như tôi đâu bạn?
- Đúng là không có ai muốn mất sản nghiệp cả. Tôi cũng sẽ đau khổ như bạn nhưng rồi tôi sẽ gắng bỏ qua vì thấy mình còn may mắn hơn rất nhiều người. Davis nghĩ xem, hiện có hơn 2 triệu người đang bị giam cầm tại Hoa Kỳ vì những lỗi lầm, những người này đều mong ước được tự do như bạn bây giờ. Ngay cả những người tù được thả ra hôm nay hay tương lai cũng mong được như bạn hiện tại. Với hồ sơ từng ở tù nằm trong máy điện toán, từ mướn nhà cho đến xin việc làm, ở đâu họ cũng nối vào trung tâm dữ liệu để kiểm tra quá khứ người điền đơn. Cơ hội được mướn nhà, có việc làm rất khó khăn. Họ rất ước ao có được một quá khứ trong sạch như bạn để làm lại cuộc đời. Đó là lý do nhiều đối tượng phạm pháp trở lại vì không có thân nhân che chở, vì rơi vào đường cùng.
David ngỡ ngàng, lặng thinh một hồi lâu:
- Ở trong hoàn cảnh tôi, bạn sẽ hiểu nó đau như thế nào? Đau lắm, chán lắm!
Tuấn vẫn nhẹ nhàng khuyên bạn:
- Đúng là không ai hiểu được nỗi đau của bạn. Chúng ta đau vì chúng ta khổ công mới có, rồi lại mất đi. Tuy nhiên chúng ta hãy coi cái mất đi như chưa từng có trước đây. Ngoài ra biết bao người bệnh nằm chờ chết sẽ sung sướng đánh đổi tất cả để được như bạn.
David ngập ngừng:
- Ừa... thì tôi sẽ ráng, chỉ sợ mình không đủ khả năng.
- Đêm nay bạn ở lại đây, ngày mai sạch sẽ gọn gàng về nhà xin lỗi vợ. Biết đâu nhờ những khó khăn này, vợ chồng bạn gắn bó chăm sóc nhau để vượt qua, từ đó có được tình yêu thương lớn hơn bao giờ hết. Hạnh phúc đích thực này quý hơn ngôi biệt thư hoặc mấy chiếc xe mắc tiền trước đây của bạn.
Sáng sớm, tiễn Davis về lại nhà, Tuấn tặng anh chiếc chuông nhỏ đêm qua, dặn anh khi muộn phiền đánh lên vài tiếng, hít thở nhắc nhở mình đang có hạnh phúc trong bàn tay. Davis tuy còn nét trầm cảm nhưng vững chãi hơn lúc đến rất nhiều. Anh gật đầu, mỉm cười thoáng chút ngượng ngùng.

***

Một năm sau, Davis gọi điện đến thăm. Tuấn ra mở cửa, Davis cười tươi rạng rỡ, tràn đầy sức sống, anh đem theo hộp quà. Tuấn định dẫn anh đến phòng khách ngồi uống nước chuyện trò, anh bảo vào phòng đọc sách kia.
Tuấn pha bình trà thảo hương, Davis uống một ngụm rồi nhắc mở hộp quà. Tuấn bưng lên lắc lắc nói đùa:
- Cái gì nặng nặng như vàng.
Davis cười to:
- Cái này quý hơn vàng.
Tuấn từ từ mở ra, bỗng buột miệng:
- Ô cái chuông! Cho tôi cái chuông à. Cái chuông cổ thế này tiếng kêu chắc thanh khiết lắm.
Tuấn cầm dùi chuông định thỉnh một tiếng ngân nghe thử, Davis nhẹ nhàng lên tiếng:
- Không! Để tôi thỉnh, năm ngoái bạn thỉnh cho tôi rồi. Mình làm giống năm ngoái nhé.

Buổi chiều hè những tiếng chuông ngân thanh tịnh, trầm ấm:
... Boong... boong... Âm thanh mầu nhiệm giúp người khai tâm.

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 663
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitimeSun Nov 22, 2020 9:35 am

.
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Th?id=OIP

Ẩn sĩ thời mạt pháp
- Trần Hạ Tháp


Lữ khách một mình trên lối mòn vào thung lũng An-nhiên. Núi rừng trùng điệp miền Bản-ngã-sơn huyền bí, nhàn nhạt ánh mặt trời trên bóng lá thâm u. Mơ hồ đâu đó phảng phất khói lam ai đốt lau làm rẫy dưới sườn non.

Mồ hôi nhỏ ròng ròng, hắn vẫn không một phút dừng chân. Chiếc gậy trúc đi đường và tay nải choàng ngang lưng đơn giản. Cứ thế, cô độc giữa hoang vu cho đến khi lữ khách bật tiếng reo đầy mệt mỏi:
- Ồ, thật may mắn. Đây rồi.
Thấp thoáng bóng thảo lư im lìm dưới tàn cây cổ thụ. Tiếng chó sủa nổi lên giữa rừng hoang đem đến niềm vui tìm lại bóng con người. Bao nhiêu nhọc nhằn vơi đi nhanh chóng. Thực ra đấy chỉ là căn lều tranh trơ trọi bên khúc uốn dòng suối triền miên đang róc rách. Mấy giò dã lan treo đu đưa, phảng phất khí vị của đại ngàn thanh khiết.
Quần áo tả tơi, lữ khách bước tới cổng ngõ là hai thân cây tự nhiên, không cánh cửa. Hắn lên tiếng sau khi điều hoà hơi thở:
- Kính chào ẩn sĩ. Xin ban cho kẻ phàm phu một đôi lời về lẽ sống.

Ngoài tiếng chó sủa chẳng thấy ai, lữ khách bước vào nhìn xuyên ô cửa sổ. Đồ gia dụng quá đơn sơ. Trên liếp phên trịnh trọng đôi câu thơ viết thảo lên giấy thô, vàng vọt đã lâu ngày:
"Mạt pháp ẩn cư ly ác nghiệp.
Thiện căn tuỳ ngộ diễn thiền tâm" (*).
Dường như bóng ẩn sĩ đang trầm tư trong một góc khuất gió. Mừng rỡ, lữ khách vái dài và lập lại thỉnh nguyện đầy tha thiết:
- Kính chào ẩn sĩ. Xin ban cho kẻ phàm phu một đôi lời về lẽ sống.
Bóng người không ngước lên khi có kẻ vào đến trước mặt mình, giọng nói bình thản như chưa hề kinh ngạc:
- Là ai? Từ đâu đến. Hãy nói lý do ngươi khổ cực đến đây?
- Kính chào ẩn sĩ. Dù phải đến từ chân trời gốc biển, nhưng kẻ vô danh vẫn miệt mài tìm chân lý. Ngoài ra, không ý đồ nào nữa cả.
- Chân lý ở khắp mọi nơi, mọi thời... Chân lý phơi bày rõ ràng từng ngày một sao lại phải đi tìm nơi núi thẳm rừng sâu?
Lữ khách thở dài, giọng chùng xuống như chất ngất tâm tư không nói đủ nên lời:
- Thưa, chính thế. Chính mọi nơi và mọi thời đều nhân danh chân lý. Và vì chân lý, kẻ phàm phu đã mất đi tuổi thanh xuân cùng sức sống... Ôi, vẫn có thứ chân lý co giãn tuỳ lúc, tuỳ nơi và - nực cười - tuỳ ở mỗi ai đang thuyết giảng. Tự nó mâu thuẩn như những trò diễn khôi hài nhất thế gian.
- Là giả lý, hoặc chỉ là chân-lý-tắc-kè. Mưu lược, thứ đồ dùng để qua mặt và chế ngự đối thủ ở đấu trường danh lợi. Đấy không thể là chân lý vì chân lý không bị động để tuỳ nghi thay đổi. Ta hiểu. Ngươi từng tôn thờ nó cho đến lúc nhận ra rằng, chính ngươi cũng bị thứ chân-lý-tắc-kè ấy qua mặt và chế ngự.
- Vâng, thưa ẩn sĩ. Thật cay đắng.
- Thiếu trí huệ để nhìn xa thấy rộng nhưng với nhiệt tâm luôn sôi sục cùng một phần hoàn cảnh riêng tư mà nên nỗi... Phải chăng? Trước khi đổ vỡ tâm tư, người như ngươi hẳn đầy rẫy cơ hội để trở thành hiệp sĩ. Và, tất nhiên với sự giúp đỡ của chân-lý-tắc-kè vừa nói... Sự giúp đỡ mà bây giờ ngươi nhìn ra đầy cay đắng. Không lầm chứ? Ngươi cũng từng là hiệp sĩ...
- Hỡi ôi...! Hiệp sĩ. Vâng, như một kẻ đã cạn vốn thời gian, nhiệt tâm và nghị lực, kẻ phàm phu chỉ còn biết thương xót lấy đời mình... Một cuộc đời mà trước đây, tưởng như đã vô cùng hân hạnh so nhiều đồng loại khác. Chưa nói đến ám ảnh đầy nghiệt ngã của một thời trai trẻ khi đã định tâm nhìn lại biên giới giữa điều lành và tội lỗi?
- Thế ngươi còn khổ công tìm chân lý ở nơi đâu? Đơn giản, chân lý rút gọn là sự-thật-cuối-cùng. Còn lẽ sống ư? Là cách hành-xử-với-sự-thật-cuối-cùng ra sao trong tự mỗi con người. Ngươi có quyền công nhận hoặc phủ nhận sự thật ấy, mặc lòng... Tuy thế, điều đáng nói nơi đây là chắc gì ngươi sống đủ, sống thực, sống mãi với điều ngươi lựa chọn? Ta muốn nói sự "sống giả" ấy mà. Nó khác lẽ sống thực ra sao...? Không phải ta mà là ngươi. Chính ngươi nên tự trả lời câu hỏi lấy. Từng là hiệp sĩ, ngươi thiếu gì lòng can đảm. Nhìn thẳng vào sự thật. Đấy, hãy hiệp-sĩ-với-nội-tâm mình xem thử...

Khách rũ rượi, lặng im trên gốc cây khô làm ghế. Đó đây chỉ còn vang vọng lời chim ca, tiếng suối chảy thầm thì... Ẩn sĩ rời chỗ ngồi, đem đặt trước lữ khách ít lương khô và bầu nước. Thảo lư lại chìm trong tịch mịch mãi cho đến khi lữ khách giật nẩy mình, đứng dậy. Hắn thở phào, mạnh dạn ngẩng đầu lên và tỏ rõ tri ân:
- Xin nhận nơi đây ít lễ mọn tâm thành. Chắc rằng ẩn sĩ sẽ có thêm chút điều kiện để giúp những người đến sau, đồng cảnh ngộ không khác kẻ phàm phu... Ngài còn phải lo chuyện thường nhật sinh tồn. Hãy tha thứ lời đường đột nhưng đầy cảm xúc tri ân. Quả nhiên, kẻ phàm phu như vừa ra khỏi cơn mộng huyễn hoang đường. Ôi, kinh hoàng cho nhân thế bể dâu...
Hắn lần lưng trịnh trọng lấy ra vài thứ trang sức quý giá, đặt tất cả trước mặt người đối diện. Ẩn sĩ bình thản xua tay:
- Với những người đồng cảnh ngộ, đến sau ngươi... Tại sao không là ngươi mà là ta? Phải nói lại những lời ngươi vừa nghe ban nãy. Còn thường nhật sinh tồn nơi thảo lư bé nhỏ nầy ư? Chính ẩn sĩ từ sáng sớm đã có mặt trên rẫy nương cho đến khi bóng chiều gác núi. Là lúc ngài quay về với thảo lư để nghỉ ngơi và chân truyền thêm bửu pháp... Lương thực ấy đủ cho ngài và cả ta qua những ngày đạm bạc. Còn bổn phận của ta ư? Thật ra, để thay mặt ẩn sĩ nói những gì cần nói.
Lữ khách bàng hoàng kinh ngạc:
- Vẫn chưa gặp ẩn sĩ...? Ồ, ngài ở đây chỉ là người giúp việc.
- Không hẳn thế. "Bất tác, bất thực"(*). Ta giúp ẩn sĩ có thì giờ để chăm lo nương rẫy như một cách tạ ơn đầy ý nghĩa. Thảo lư, do thế không vì sự vắng mặt thường xuyên của ẩn sĩ mà bỏ dở ý nguyện của ngài với lữ khách ngang qua... Ai cũng có việc phải làm. Và, làm ra làm, ngươi hiểu chứ? Tập quên thói "ngồi mát ăn bát vàng", uống mãi mồ hôi kẻ khác như uống thứ nước mưa từ trời rơi xuống. Tốt nhất, đừng nâng chén cơm mỗi ngày y như nâng lời nguyền rủa tự thân lên trước mặt. Nếu không, hãy thôi nói chân lý, đạo đức, công bằng và nhân danh cứu thế...
- Vâng, ân nghĩa và đạo đức ẩn sĩ thật cao dày. Nhưng riêng ngài, người giúp việc ẩn sĩ, từ bao giờ? Đã trở thành môn đồ đắc ý ở nơi đây.
- Không, ta chưa đủ nội lực để trọn đời theo ẩn sĩ. Sự sống và thời gian nơi đây giúp lấy lại quân bình trong thế cuộc đảo điên. Niềm vui của ta là những cuộc đàm đạo mỗi đêm bên bếp lửa hồng cùng ẩn sĩ. Ta cũng từng là khách ghé qua như ngươi, y hệt. Còn ngươi. Ngươi là luân-hồi-tâm-tư, phiên-bản-nỗi-lòng-chính-ta thời gian trước. Vâng, ta lữ khách ở lại. Tất nhiên vẫn sẽ trở về mái nhà xưa, khi một lữ khách nào tình nguyện thay vào chỗ của ta. Cứ thế...
- Để tiếp tục giúp ẩn sĩ như một cách tạ ơn đầy ý nghĩa...?
Câu hỏi không có tiếng trả lời. Và, chỉ cần hai nụ cười yên lặng giữa thảo lư gió lộng ấy, chừng như quá đủ để hai người xa lạ thiết thân nhau.

Một buổi sáng mấy hôm sau... Khi sương rừng còn giăng khắp đó đây. Thảo lư lung linh bóng ba người ngồi vòng quanh bếp lửa. Họ cung kính mời nhau mấy bát chè vối nóng. Lữ khách hôm trước, nay thành người ở lại. Hắn bịn rịn nói lời chia tay với một kẻ sắp lên đường trở lại mái nhà xưa.

(Thành nội Huế - tháng 02/2011)
Trần Hạ Tháp
___________________________

(*) Mạt pháp ẩn cư ly ác nghiệp/Thiện căn tuỳ ngộ diễn thiền tâm: Thời mạt pháp ở ẩn để xa rời ác nghiệp/Mối thiện căn tuỳ gặp mà phô diễn thiền tâm.
(*) "Bất tác, bất thực": Không làm, không ăn - Lời thiền sư Bách Trượng.

.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia    Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia  Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Phật Giáo: Bờ bên kia
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến