Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
không mien thụy quang Saigon Nghin GIFT Mộng quốc nguyet quan phung Nguyen ngắn dino luong Trung tran Nhung chuyen hoang linh ngam quynh Chia music
Latest topics
January 2021
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
25262728293031
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeThu Dec 27, 2012 10:15 pm

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Photo-1121

CHIẾC ÁO TÂY VÀNG
- Nhật Tiến

Đã có một thời như thế


Trong cái đám đông ồn ào ấy, người thiếu nữ cũng chen vào. Nàng hơi choáng váng vì mùi xú uế của đống rác gần đó xộc lên. Nó gợi cho nàng cái cơn buồn nôn chờn vờn mãi từ ngày hôm qua chưa chấm dứt, mặc dầu nàng đã nén nó xuống từ nãy bằng một viên kẹo bột.

Vị đường ngọt lịm vẫn còn dính đâu đó ở kẽ răng, nhưng viên kẹo thì đã tan hết. Nàng có thể cất giọng nói to mà không bị vướng víu cái gì ở trong miệng. Trước hết nàng cất tiếng chào một bà cụ ngồi bán thuốc lá cuộn, bó thành từng bó, bày trên chiếc mẹt ở ngay mé vỉa hè. Bà cụ đáp lại bằng những tiếng gì nghe không rõ vì đám đông ồn quá. Bên tai thiếu nữ, nàng chỉ nghe thấy những tiếng chào mời om sòm của mấy người đứng bên cạnh, và nhất là tiếng cười nói tục tĩu vang lại từ mấy thanh niên ở gần đó. Trên tay của họ là những xấp quần tây dài. Đủ loại vải. Đủ loại màu. Nhiều nhất là màu ka-ki bộ đội. Có anh cầm trên tay tới ba, bốn cái, bên tay kia còn giơ cao thêm một cái nữa. Một vài người đi qua, đứng lại ngắm nghía, lật bên này, giở bên kia, xem cho có rồi bỏ đi. Từ sáng, chưa thấy ai bán được món nào, mặc dầu tất cả đã phải bỏ chạy ba bốn lần vì công an kiểm soát chợ đi rảo nhiều lần.

Đây là khu đất hẹp ngay đàng sau lưng của chợ Đồng Xuân, một vùng đất hạn hẹp, phụ thuộc nhưng đầy vẻ mâu thuẫn của một khu vực đã đi vào nề nếp từ bao nhiêu năm nay. Nhưng cũng chính vì tính chất phụ thuộc ấy mà nó trở nên hỗn độn, phức tạp hơn nhiều so với cái quang cảnh vắng hoe ở ngay trong lồng chợ. Vào trong đó thì cái gì cũng sạch, cái gì cũng ngăn nắp, chỉ phải mỗi tội là hầu hết đều phải mua bằng tem phiếu. Nhiều món hấp dẫn khác lại chỉ được bày cho có, với mảnh giấy ghi rõ là "hàng mẫu". Như thế chẳng trách gì nhân viên phục vụ đông đảo hơn khách mua hàng.
Rút cục, chẳng cần xua đuổi, mọi người cũng đã tự động rút ra mé ngoài tạo thành một xã hội bên lề của xã hội. Tất cả đều lam lũ như nhau, chen lấn hỗn độn trong những mớ gồng gánh, thúng mủng giăng la liệt ở khắp các lối đi. Vào những hôm mưa, con đường trở nên lầy bùn, dẫm chân lên thấy lép nhép. Rác rưởi quăng bừa bãi, người chen nhau trên từng khoảng đất nhỏ vừa đủ để đặt chân tới. Thỉnh thoảng gặp một cái xe đạp thồ nghênh ngang đi vào thì cả đám đông đều bị nghẽn ứ lại. Tiếng chửi rủa cất lên. Tiếng cãi lại còn to giọng hơn nữa. Đủ loại danh từ tục tằn được văng ra. Không nói được ở cơ quan, không văng được ở các buổi hội họp, không được phát biểu tự do cho nó đã cái miệng thì sự dồn nén ấy được sì ra ở đây, đâu có lý do gì để bắt lỗi nhau đã mất lập trường!

Bọn thanh niên phải kể là đã văng tục nhiều nhất. Từ nãy đến giờ, người thiếu nữ đã nghe đến hàng chục lần câu nói tục tĩu từ anh chàng trai trẻ đứng ở chỗ gần nàng nhất. Nàng không bực mình vì những từ ngữ hắn dùng, nhưng cái tội của hắn là đã la to quá. Tiếng nói của hắn xoáy vào màng tai của nàng nghe như những tiếng búa đập lên đe, vừa gọn vừa sắc. Nó làm cho cơn khó chịu của nàng tăng lên và lại bắt đầu thấy lợm giọng. Nàng định móc túi lấy thêm ra một viên kẹo nữa thì sực nhớ đến nhiệm vụ của mình. Nàng bỏ ý nghĩ lấy kẹo ra ăn và giơ cao chiếc áo đang cầm trên tay mời mọc một đám khách hàng vừa đi qua đó.
Cái áo gây được sự chú ý của mọi người. Nó là một cái áo tây bằng vải ka-ki màu vàng. Nó đã cũ rích cũ mèm, nhưng chính vì thế mà cái kiểu áo còn mang một vẻ rất tây. Tay áo dài và rộng, ráp lên hai bờ vai thật khéo không một vết nhăn nhúm. Cái kiểu cổ bẻ, hở xuống tới ngực rồi chạy tiếp hai hàng nút áo, mỗi bên có ba chiếc khuy bằng đồng chạm trổ, đem lại một vẻ phong lưu mà xuất xứ của nó, hẳn phải là của một tay chơi sành từ hai ba chục năm về trước. Tuy lâu đời là vậy, nhưng là vải hàng ngoại, lại được giữ gìn, nên mặt áo trông vẫn còn tươm. Thiếu nữ giơ cao cái áo lên quá đầu của mình. Nàng nói với một người đang đi tới:
"Áo này mặc vừa, mua đi anh giai!"
Người khách ngừng lại, nhìn hững hờ. Biết anh ta chỉ tò mò thôi, nhưng nàng vẫn nói thêm:
"Ba chục thôi, mùa đông này mặc ra ngoài áo len, ấm phải biết."
Người khách toan thò tay ra ướm, bỗng nghe thấy cái giá "ba chục" bèn rút ngay lại. Ông ta nhìn thiếu nữ với ánh mắt cười cười. Thiếu nữ cảm thông ngay rằng, những hạng như ông ta thì chỉ nên mua cái đồ giẻ rách đáng giá ba đồng.

Rồi một đợt khách nữa đi qua, thiếu nữ lại mời chào. Sự đón đợi của nàng cứ giảm dần đi. Nàng quay lại bắt đầu khó chịu vì cái cảm giác buồn nôn chờn vờn ở cổ. Nàng thò tay vào túi nhón một viên kẹo bột khác bỏ vào miệng. Bây giờ nàng khám phá ra cái nguồn gốc của cơn buồn nôn ám ảnh nàng từ ngày hôm qua. Nó không phải vì nàng đã ăn bát mì vữa mà đứa em của nàng bỏ đó từ chiều hôm trước. Nó cũng không phải vì nàng đã nhiễm lạnh sau khi phơi mình giữa làn sương đêm. Nàng nhớ ra rằng, trong lúc sử dụng cây cuốc, nàng đã cuốc nhằm giữa lưng một con cóc. Con vật không kịp kêu lên một tiếng đã bị dẹp lép sau một tiếng "bụp" khô khan. Nàng có cảm giác như những mảnh xương gẫy của nó truyền được cái âm thanh đó dồn qua cán cuốc để vào được đôi bàn tay chai cứng của mình. Từ cái phút ấy nàng bắt đầu thấy rờn rợn ở trong đầu, rồi càng nghĩ tới nàng càng cảm thấy lợm giọng thêm. Con cóc là một sự sống. Chính nàng đã đập giập sự sống ấy để biến nó thành một đống bầy nhầy. Phải chi nó là cái xác của một cóc chết. Vừa cuốc đất làm việc, nàng vừa vẩn vơ nghĩ. Nếu nó là một con cóc chết thì nó đã chẳng làm cho nàng bận tâm như thế. Bây giờ cơn ám ảnh đó vẫn còn, và còn gia tăng hơn nữa vì cái mùi xú uế bốc lên từ đống rác ở ven chợ. Nàng lại lợm giọng, và nàng thèm được ọe ra một lần cho nó nhẹ nhõm trong người, mặc dù từ sáng, nàng chưa ăn gì ngoài mấy viên kẹo bột.
Vừa đúng lúc nàng vắt cái áo tây vàng lên vai định rời chợ thì có một người khách ngừng lại ở ngay trước mặt. Không phải là một người đàn ông, mà lại là một người đàn bà. Bà ta ngó sững cái áo tây vàng như bị thu hút bởi một sức lực kỳ lạ, rồi thiếu nữ thấy mặt của bà hơi tái đi. Bà ta xòe tay ra nắm lấy cái áo trong khi hai mắt của bà bỗng nhìn xoáy vào mắt thiếu nữ bằng những tia dữ dội.

Nàng không ưa cái cung cách có ai nhìn thẳng vào mắt mình như thế. Nàng càng không ưa cái vẻ mặt xanh tái với nước da màu chì trên khuôn mặt dữ dằn của thiếu phụ đứng trước. Bà ta trạc khoảng năm mươi, nhưng nếu nhìn thật kỹ để thấy cái nét tươi trẻ phảng phất ở vành môi và vầng trán phẳng thì tuổi của bà chỉ đến bốn mươi là cùng. Thiếu nữ cố gợi lại trong óc của mình để tìm xem bà ta có gì liên hệ đến mình, nhưng trong một vài giây ngắn ngủi, nàng chỉ thấy như mình bị xao động bởi cái nhìn của người đối diện, với đôi mắt đục lờ hơi xếch lên, ẩn dưới đôi lông mày khá đậm. Bây giờ thì người đàn bà đã gỡ được cái áo trên tay của thiếu nữ. Bà ta rũ tung nó ra và giơ áo lên bằng cả hai tay. Thiếu nữ có cảm giác ngay rằng bà ta không xem xét như thể để hỏi mua. Nàng muốn giằng cái áo lại để lui đi, nhưng người đàn bà đã nắm chắc lấy nó bằng hai bàn tay xương xẩu, đầy gân xanh của mình. Bà ta cất giọng hỏi hách dịch:
"Cô lấy cái áo này ở đâu?"
Thiếu nữ thấy lạnh lạnh sống lưng. Nàng ngó sững lại người đàn bà. Vẻ hung hăng của bà ta đem lại cho nàng một thoáng bối rối. Nhưng rồi nàng đã biết mình phải làm gì cho qua cơn xui xẻo này. Nàng đáp bằng giọng thản nhiên:
"Tôi mua đi bán lại!"

Vừa nói, thiếu nữ vừa xông tới giật cái áo ở trên tay người đàn bà. Nàng hoàn toàn thất bại trong công việc đó, và chẳng những nàng không cầm được chiếc áo trên tay mà còn bị người đàn bà túm ngay lấy cánh tay của mình nữa. Thiếu nữ cảm thấy những móng sắc của bà ta bấu cứng lấy da thịt mình. Ngay khi đó thì nàng biết mình vừa làm một chuyện sai lầm. Nàng đã tiếc cái áo một cách dại dột nên thay vì bỏ chạy đi, nàng đã xông tới. Bây giờ thì đã quá muộn. Thiếu phụ đã đeo cứng lấy nàng bằng những móng vuốt của bà ta. Nàng có cảm giác như bà ta đã chất chứa bên trong tấm thân gầy gò ấy một sức khỏe lạ lùng. Nàng đã thử vùng lên chạy, nhưng những móng sắc càng bám sâu thêm vào làn da, làm thiếu nữ đau đớn. Nàng hơi nhăn mặt, và cất giọng cau có:
"Ô hay! Bà làm cái gì thế này?"
Người đàn bà tác sác:
"Tao hỏi mày, mày lấy cái áo này ở đâu ra?
"Tôi mua đi bán lại!"
"Đồ điêu! Mày ra công an với tao, xem mày còn điêu ngoa được như thế mãi hay không?"
Thiếu nữ giằng lại. Bà ta lôi đi. Cuộc giằng co làm náo loạn cả một góc chợ. Mọi người xúm lại. Có cả trăm câu hỏi cùng một lúc nhao nhao lên:
"Ăn cắp hả?"
"Ăn cắp hả?"
"Đánh bỏ mẹ nó đi. Không chịu lao động gì, chỉ ngồi không ăn bám!"

Sự ồn ào ấy trong khoảnh khắc đã thu hút mấy đồng chí làm an ninh ở quanh chợ. Một người xông tới, phụ với người đàn bà giữ cứng thêm một cánh tay nữa của thiếu nữ. Tóc của nàng bây giờ xổ tung. Hai chiếc khuy áo trên ngực cũng bị banh ra. Nhưng thiếu nữ không nhìn thấy gì, không phân biệt được gì trước khung cảnh hỗn độn ồn ào trước mắt. Nàng nghĩ đến hai em đang còn ở nhà. Nàng nghĩ đến cặp mắt dữ dội của thiếu phụ. Nàng nghĩ đến cái áo tây vàng và hình ảnh của con cóc dẹp lép bầy nhầy. Tất cả ùa đến thật nhanh, choáng ngộp hết đầu óc nàng, và nàng để mặc cho mọi người lôi mình đi như lôi một con vật.
Tới đồn công an, người đàn bà trung niên khai rành rọt:
"Thưa các đồng chí, tôi vừa chôn chồng được đúng năm ngày. Tất cả giấy tờ khai báo, thủ tục tôi còn giữ đầy đủ cả ở đây. Trong lúc khâm liệm cho chồng tôi, tôi có để cho ông ấy một chiếc áo tây vàng. Chiếc áo này đây. Nó quen thuộc với gia đình tôi từ mấy chục năm nay. Tôi có thể chỉ ra rất nhiều dấu vết mà tôi đã thuộc nằm lòng. Vậy mà hôm nay đi chợ, tôi thấy cô này đứng bán đúng cái áo đã chôn theo chồng tôi. Nhờ các đồng chí điều tra hộ, cái áo ở đâu ra? Làm sao cô ta có được cái áo đó?"

Tất cả mọi người trong phòng đều sửng sốt. Mấy đồng chí công tác ở bàn kế bên cũng bỏ cả việc, mở to mắt ra nhìn. Trong cả trăm ngàn vụ rắc rối trong đời sống từ trước ở đây, chưa bao giờ lại có chuyện xảy ra lạ lùng đến thế. Mọi con mắt đều dồn về phía thiếu nữ. Nàng có vẻ còn mệt mỏi sau một cuộc lôi kéo ồn ào giữa đám đông, nhưng bây giờ nàng đã lấy lại được vẻ bình thản hằng ngày, và nói cho đúng hơn, thật khó có thể đoán ra được tâm trạng của nàng sau vẻ mặt lầm lì và ánh mắt sắc sảo lạnh lùng. Nàng đã biểu lộ một thái độ không nao núng, mà cũng chẳng sợ hãi, đúng là một thái độ của một kẻ đã bị dồn đến đường cùng và sẵn sàng đương đầu với tất cả.
Chính thái độ ấy đã khiến cho anh chàng công an trẻ, mới khởi đầu giở giọng nạt nộ nhưng rồi sau cũng phải dịu xuống. Nàng không để cho ai mắng mỏ mình. Với thiếu phụ trung niên, nàng nói:
"Ờ thì cái áo ấy của ông chồng bà. Bà không cần phải la lối om sòm."
Thiếu phụ cũng chỉ cần nàng xác nhận có thế. Bà ta giơ hai tay ra trước mặt, về phía đám công an lố nhố ở trong phòng như để phân vua:
"Thế đấy! Thế đấy! Tôi có vu oan giá họa cho ai!"

Rồi bà ta ngồi xuống ghế, thở dốc. Sau một hồi cố gắng, kể từ lúc túm đứa con gái to gan này ở ngoài chợ cho đến lúc nó phải xác nhận rằng cái áo tây đó là của bà, bà ta đã hoàn toàn đạt được những thắng lợi mà mình mong muốn. Sau đó là phần của nhà nước. Nhà nước sẽ xử lý vụ này, sẽ phải làm cho ra nhẽ. Nếu cần, bà sẽ thưa lên tới thành ủy. Nhưng sự sốt sắng của các đồng chí công an trong vụ này làm bà hài lòng. Bà thấy mình nên đóng vai trò hiền lành, chân chỉ thì sẽ có lợi hơn, vì đằng nào sự thể cũng đã hai năm rõ mười. Nghĩ như thế bà dịu hẳn vẻ mặt của mình xuống và chẳng mấy chốc, mọi người nghe thấy tiếng của bà ta khóc sụt sịt. Bàn tay của bà quơ lấy dải khăn tang dài lên lau mặt một cách cố ý để cho mọi người nhìn thấy. Điều này có kết quả ngay vì đồng chí công an ngồi ở bàn giấy giữa đã an ủi bà bằng một giọng dịu dàng rồi quay qua thiếu nữ, cất giọng nạt nộ:
"Biết điều thì khai hết đi, nếu không thì tù mọt gông!"
Thiếu nữ hơi nhếch cặp mắt lên, ánh mắt vẫn đầy vẻ lạnh lẽo, và nàng cất tiếng hỏi lại:
"Chế độ ta cũng còn có "gông" hả đồng chí?"
Bị hỏi móc họng, đồng chí công an tái ngay mặt lại rồi sau đó vụt đỏ bừng lên. Đồng chí ấy tác sác để xí xóa câu nói hớ hênh của mình:
"Đừng có đánh trống lảng. Cái áo mày lấy ở đâu. Khai ra đi!"
"Việc gì tôi phải đánh trống lảng. Việc gì tôi phải chối cãi. Nhưng tôi yêu cầu đồng chí bỏ cái giọng mày tao ấy đi. Tôi là nhân dân. Đồng chí phục vụ nhân dân, đồng chí không có quyền nói năng với tôi như thế."

Bị hai đòn phủ đầu liên tiếp, đồng chí công an đột nhiên sững sờ hẳn lại. Anh ta nhìn sững người con gái ngồi ngay trước mặt với một vẻ vừa ngạc nhiên, vừa tò mò. Kinh nghiệm cho thấy những loại cứng cỏi như thế hẳn gốc gác của nó phải có gì đáng gờm. Vậy thì không ai dại gì mà húc bừa vào những của mà tông tích của nó chưa rõ ràng. Đồng chí công an nhỉnh ngay nét mặt, và xuống giọng ôn hòa:
"Được rồi! Tôi rút lại cách xưng hô đó. Nhưng tôi nói trước cho cô biết, muốn xưng hô cách nào thì xưng hô, cô phải khai cho hết. Cái áo đó cô lấy ở đâu?" Thiếu nữ buông sõng một câu:
"Đào mả!"
Giọng nói của nàng sắc, gọn, lạnh lùng, thản nhiên, không một chút xúc động. Điều đó làm cho mọi người đã sửng sốt lại càng thấy sửng sốt hơn. Đến ngay thiếu phụ đang ngồi sụt sùi cũng vội ngưng ngay tiếng khóc để giương mắt lên nhìn. Đào mả thì dĩ nhiên rồi, nhưng bà ta không thể tin được rằng câu chuyện động trời ấy lại được thực hiện bằng chính ngay thiếu nữ mảnh mai ngồi ở phía trước mặt. Bà ta chợt nhớ đến hành động của mình trong vòng nửa giờ trước đó. Túm lấy nó ở giữa chợ. Điều nó đi qua một dẫy phố để tới đồn công an. Vậy mà quân trời đánh, thánh vật này không xỉa cho bà một dao thì quả là bà vừa thoát khỏi một tai nạn tầy trời. Nghĩ như thế, bà ta thấy rúm người lại, nếu ở quanh đó không đầy rẫy những bóng dáng công an áo vàng thì bà ta đã vùng lên, bỏ chạy đi rồi. Bây giờ thì bầu không khí trong phòng có vẻ nghiêm trang hơn lên. Đây không còn là một vụ ăn cắp, ăn trộm hay mua đi bán lại nữa. Nó đã trở thành một vụ đào mả. Một vụ động trời. Một vụ hy hữu mà từ xưa đến nay chưa bao giờ xử lý tới cả.

Mọi thủ tục bây giờ được chuẩn bị lại hết. Người ta trình báo vào văn phòng của đồng chí trưởng phòng. Người ta sắp xếp lại hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn. Người ta tăng cường thêm một xấp giấy trắng để đặc biệt ghi cung. Người ta cũng thay thế luôn cả đồng chí ngồi ở giữa bàn lúc nãy bằng một người chắc ở chức vụ cao hơn.
Cuộc thẩm vấn thiếu nữ kéo dài suốt ngày hôm đó. Nàng trả lời hết. Nàng thú nhận hết. Nàng mô tả hết, đến độ trong hồ sơ khai trình của nàng có cả sự việc con cóc bị một nhát cuốc chém dẹp lép trở thành một đống bầy nhầy. Người thư ký quều quào ghi chép cũng đã xài gần hết một thếp giấy đôi. Bây giờ thì người ta biết được rằng nàng đã sinh sống bằng cái nghề đào mả này từ trước đó hai năm. Bố nàng thuộc diện ngụy quyền đã bị đi an trí và bỏ xác trong trại cải tạo từ những năm của thập niên 60. Mẹ nàng bỏ đi lấy chồng khác, rồi cũng chết sau đó vài năm. Nàng còn hai em nhỏ. Nàng đã làm đủ mọi nghề để có thể nuôi cho hai em ăn học. Nhưng nghề nào cũng chỉ đủ nuôi một thân một mình nàng, trừ cái việc đi đào mả người chết lấy đồ dùng đem ra bán ở ngoài chợ trời. Nàng đã khai như thế. Và nàng tỏ ra thản nhiên khi nói lên những sự thực này.

Thể theo lời yêu cầu của gia chủ đã có thân nhân bị đào tung mả lên, nàng bị giam giữ để cho tòa xét xử.
Nhưng một tháng sau đó, người ta lại thấy nàng xuất hiện ở khu vực chợ trời. Người nàng xanh rớt. Thân hình tiều tụy. Sức khỏe của nàng sút giảm hẳn đi. Nàng ngồi thu mình ở một góc vỉa hè, trước mặt là mấy hộp sữa và vài bịch đường. Lý lịch của nàng vẫn còn trắng tinh. Bởi vì khi ra ngoài tòa nàng đã khai:
- Xã hội của chúng ta là xã hội chủ nghĩa, chủ trương duy vật mà đả phá duy tâm. Chỉ những kẻ còn đầu óc duy tâm mới quan niệm rằng đào mả lên tức là xâm phạm đến linh hồn người chết. Tôi sống bằng lao động của chính tôi. Tôi không ăn bám một ai. Tôi chỉ lấy đi những đồ dùng chôn dưới mả là những thứ mà xã hội bỏ đi, đã phế thải. Hơn thế nữa, tôi lại dùng lợi tức ấy để nuôi các em tôi ăn học, tức là bằng lao động đó, tôi đã nuôi dưỡng những mầm non của đất nước. Vì thế, tôi là người hoàn toàn vô tội!

.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 611
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeThu Nov 19, 2020 11:38 pm

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Th?id=OIP

Bức Tường Xanh
- Nhật Tiến


Căn phòng vỏn vẹn có ba thước bề dài và hai thước bề ngang. Chung quanh là những tấm mắt cáo đóng bằng gỗ nẹp. Nắng đã xế qua lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia sân, nên những khoảng đốm sáng trên sàn gạch bây giờ bò dần lên vách gỗ. Mặt gạch còn hấp đầy hơi nóng. Cái nóng nung nấu từ buổi trưa đã làm mảng lưng của Thiện như muốn rộp lên. Trong lúc ngủ, mồ hôi ở lưng áo đổ ra ướt đẫm sàn gạch rồi bốc hơi mau chóng. Bây giờ đã bắt đầu có gió hiu hiu thổi. Gió lùa qua khe gỗ đưa vào hơi mát xen lẫn mùi nồng nồng của những cái hôi hám hỗn tạp. Đám rãi rớt của tên áo xanh nằm ở góc phòng còn nguyên sau cơn nôn ọe buổi trưa. Vết loét lở ở ống chân của tên cởi trần đã bị sút băng, bông để lộ ra một vết sâu hoắm, lốm đốm những con ruồi đen đang bám chặt. Hơi thở nặng nề trong giấc ngủ mệt nhọc của sáu, bẩy tên khác nằm ngổn ngang khắp căn phòng. Hai, ba tên khác chập chờn trong tình trạng nửa ngủ, nửa thức vẫn rên rỉ từ mấy tiếng đồng hồ qua.

Thiện thấy miệng mình khô đắng lại. Cảm giác buồn nôn chờn vờn trong cổ họng. Hắn cố nhịn để đám rãi trong miệng khỏi ùa ra. Rồi hắn nuốt đánh ực. Hắn cảm thấy dạ dầy nôn nao khiến đầu hắn chòng chành. Hắn chống tay ngồi dậy. Ánh sáng chói lọi ở lớp mái tôn của dẫy nhà bên kia làm mắt hắn tối sầm. Hắn nhè nhẹ xoay lưng lại rồi cố lết về phía vách gỗ. Giấc ngủ vừa qua không làm hắn dễ chịu hơn. Đầu hắn nặng như búa bổ. Vành mắt như dầy cộm lên. Tròng con ngươi cứng đơ lại. Hai bên vành môi thưỡn ra không thể mấp máy. Nước rãi lại ứa ra ở chân răng, nhễu xuống mép và chỉ đến lúc thấy mát ở xương quai cằm, hắn mới nhận thấy và giơ tay lên quệt ngang.
Hắn mệt nhọc nhìn quanh một lần nữa khung cảnh buồn chán trước mặt. Những đốm sáng hình ô vuông lên cao hơn nữa trên vách gỗ. Vài mảng màng nhện rách rưới đu đưa trong gió nhẹ. Mái tôn nóng hổi như đang cựa mình lách cách. Thằng áo xanh vẫn nằm ngoẹo đầu ngủ li bì. Đám rãi rớt xen lẫn những hạt lấm tấm trắng lúc ọe ra bây giờ như đã se mặt. Những con ruồi vẫn bám riết lấy đám mủ bầy nhầy vừa xanh, vừa vàng trên vết thương sâu hoắm. Một vài tiếng ú ớ vang lên. Tiếng ngáy khò khè vẫn như một điệu nhạc buồn nản kéo dài từ trưa. Mùi hôi nồng thoảng trong gió ùa vào đầy ắp tới cổ họng của hắn. Hắn lại nuốt ừng ực để chăn cơn nôn ọe vẫn đang rập rình trồi lên từ đáy dạ dầy.
Thiện đổi thế ngồi một lần nữa để dựa một bên vai vào vách gỗ. Qua các lỗ ô vuông của tấm mắt cáo, khoảng sân đất hiện ra chói lòa ánh nắng. Ở dẫy nhà bên kia đã thấy lác đác có bóng người qua lại. Toán trực nhật lo cơm chiều bắt đầu khiêng những thùng nhôm đi xuống bếp. Khu bếp núc trông thẳng được ra dẫy hàng rào ngoài cổng trại, nhưng ngồi ở đấy, Thiện chỉ thấy dẫy bể nước thấp lè tè bằng xi măng có những khóa đồng sáng bóng. Hắn thèm được thấy con lộ đầy bóng mát chạy ven theo hàng rào. Con lộ thẳng tắp, hai bên là cây cao. Qua lùm cây xanh, phía bên kia là con sông êm đềm với tiếng sóng vỗ róc rách.

Đã hai tuần nay rồi Thiện chưa được trông thấy con sông, cũng chưa được thấy cả con lộ thẳng tắp chạy men theo hàng rào. Lộ trình một ngày của hắn chỉ là bước qua khu sân đất để sang dẫy nhà tôn ở mé đằng sau. Một ngày ba lần. Hai lần cho bữa cơm và một lần ở phòng thuốc. Giọng nói ngọt ngào quen thuộc của viên y tá già còn vẳng bên tai:
– Ráng đi con. Chỉ cực mấy ngày đầu. Rồi sẽ êm hết. Sẽ êm hết thiệt đó mà…
Thiện đã từng đón những viên thuốc mầu hạt dẻ như một cái máy vô tri. Mầu xanh của khói thuốc như đang dựng trước mắt hắn một bức tường xanh. Bức tường cao vòi vọi, cuồn cuộn nung nấu, sôi sục rồi bủa ra, vây quanh che mờ lấy mắt Thiện. Nó thấm vào từng lỗ chân lông, bám riết lấy từng sợi máu, ùa vào lục phủ ngũ tạng biến thành những con sâu gậm, nhấm, đục, khoét. Thiện rú lên như con vật bị chọc tiết. Hắn quờ tay về phía trước. Đầu hắn chúi xuống. Hắn muốn với tới bức tường xanh. Nhưng hai tay hắn đã bị kìm cứng lại. Tiếng khóa sắt lách cách hình như xen lẫn với chính tiếng hắn gào. Hắn gào thật to như trút tất cả sức lực vào cổ họng. Rồi hắn rũ xuống. Hắn thấy bức tường đổi sang sắc đỏ, rồi sắc tím, rồi tất cả tối đen lại. Hình như có nhiều tiếng người lao xao. Hình như vòng xích đang cột sát hắn vào vách tường. Hình như những đứa khác cũng đang kêu gào. Hắn mệt quá. Hắn muốn níu lấy một cái gì có thể bấu víu.

Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hình ảnh cằn cỗi của mẹ hắn hiện ra chập chờn. Căn nhà cũ. Căn phòng cũ. Tiếng khóc nỉ non của đứa em gái ở đầu thềm. Tiếng con heo đất rơi vỡ tan tành trên sàn gạch. Tất cả những cái đó đã xẩy ra. Như mới xẩy ra. Hắn còn giữ nguyên cái cảm giác lúc hồi hộp rón rén đem con heo đất từ đầu giường mẹ (lấy dưới lớp giẻ rách bùi nhùi) để đi ra cửa phòng. Rồi hắn vấp phải chiếc ghế. Con heo vỡ tan tành. Hắn đứng chết trân ở đó, trước những đồng bạc cắc vừa chạy, vừa reo trên kháp mọi ngõ ngách trong căn buồng chật hẹp. Mẹ choàng dậy. Tiếng khóc bắt đầu cất lên kéo theo tiếng khóc của đứa em gái. Hắn nổi giận với tất cả mọi người, mọi vật chung quanh. Hắn xô cái ghế báo hại nằm giữa lối ra vào. Hắn muốn gầm lên để bịt lỗ miệng đứa em gái. Nó có quyền gì. Nó là cái thá gì chứ. Hắn trút nỗi giận vào đám ly tách sứt mẻ, cáu ghét trên mặt bàn. Có tiếng thủy tinh vỡ. Hắn nghe như sự đổ vỡ của chính lòng mình.
Hắn vội vã quơ mớ tiền giấy nằm ngổn ngang trên mặt đất rồi vùng lên như chạy trốn. Tiếng khóc còn như đuổi theo sau. Nhất là khuôn mặt của mẹ. Khuôn mặt khô cằn, hốc hác với đôi mắt lõm sâu bám riết lấy hắn. Hắn thấy tức thở. Đầu óc như bị bó chặt lại. Hắn vùng vẫy để thoát khỏi cơn ám ảnh của khung cảnh kinh hoàng vừa xẩy đến. Cảm giác ngỡ ngàng lúc con heo rớt xuống đất như đóng đinh trên mặt hắn, không rời. Hắn nghĩ đến những điếu thuốc. Hai ngày rồi hắn chưa nhìn thấy khói mầu xanh. Mầu xanh như thôi thúc, hối dục. Hắn chạy mau hơn, và không biết bằng cách nào, hắn đã giải quyết được nhu cầu của hắn như trong một cơn mơ. Lúc tỉnh táo hẳn lại, hắn thấy mình ngồi bên bờ tường của một căn nhà đổ nát. Bức tường xanh tan biến thành những cảm giác đê mê đưa hắn lên cao bồng bềnh. Hắn nhớ đến những chuyện đã xẩy ra.
Hắn bưng mặt lên khóc.
Và bây giờ thì hắn đã ở đây. Một tổ chức tư nhân dậy dỗ trẻ bất trị, kể cả việc trị bệnh ghiền ma túy tiếp hắn khi hắn tình nguyện đến. Hắn đã đánh đổi tất cả để được cầm tay mẹ. Bàn tay run rẩy già nua đã lâu lắm mới vuốt lên mái tóc bù xù của hắn một lần. Ánh mắt tha thiết của đứa em gái rạng ngời lên niềm tin. Hắn đã đưa tiễn và nhìn theo hai người khốn khổ ấy cho đến khi họ khuất sau rặng cây xanh. Gió ở sông đưa lên làm phổi hắn căng phồng. Hắn như còn lẩm bẩm nhắc lại câu nói mà hắn đã nói nhiều lần “Con hứa với mẹ. Con hứa với mẹ”. Rồi sau đó là cả một chuỗi ngày phấn đấu. Bức tường xanh. Những con sâu đục khoét. Những cơn vật vã nôn ọe. Hắn không có gì để tự vệ ngoài làn da tay chai cứng của mẹ còn vương vất trên mái tóc. Bàn tay mẹ yếu đuối run rẩy trong tay hắn… Mắt mẹ như ẩn nụ cười, dù cay đắng, dù chịu đựng nhưng chan chứa tình thương.

Đến giờ phát thuốc buổi chiều, cả bọn bị dựng hết dậy và lùa ra. Một vài đứa cứng đầu cự nự trước cái roi mây kè kè trên mỗi tay của ba người giám thị. Thiện nhớ đến những khẩu hiệu sơn lên từng tấm gỗ bằng mầu sơn lòe loẹt la liệt khắp nơi, từ ngoài văn phòng đến hành lang các tiểu trại: “Tình cảm trước – Roi vọt sau” “Roi vọt là biện pháp cuối cùng của dậy dỗ” – “Đã phải trừng trị thì sẽ trừng trị nghiêm khắc đến cùng”. Vừa vuốt ve. Vừa đe dọa. Đó là chủ trương của Ban Giám Đốc điều hành.
Sau một hồi quát tháo, nạt nộ, những đứa hiền lành đã xếp hàng sẵn ở cửa. Thằng bị thương ở chân không chịu đứng dậy, lết vào một góc giả bộ ôm chân nhăn nhó. Hai người giám thị tiến lại xốc nó lên. Nó chùn lại. Nhưng rồi nó cũng bị xách ra khỏi buồng như người ta xách một con gà. Riêng thằng áo xanh thì rũ liệt hoàn toàn. Nó không giả vờ. Nó đói thuốc từ sáng. Và nó nằm lì lại, nhất định không nhúc nhích. Theo sự hiểu biết của Thiện thì nó là một dân trùm ở bên ngoài. Nhà nó khá giả, nhưng vì đua đòi nên cuộc đời đã dẫn nó xuống hố thẳm. Gia đình đã áp dụng đủ mọi biện pháp để lôi kéo nó trở lại tuổi trẻ hồn nhiên. Việc gửi nó tới Trung Tâm này là biện pháp cuối cùng. Nếu thất bại, cuộc đời của nó coi như bỏ đi hoàn toàn. Nó mới được gửi tới trong vòng không đầy bốn ngày. Và nó bị nhốt riêng trước khi hòa đồng với tập thể ở dẫy tiểu trại bên kia sân đất. Như Thiện. Như thằng bị loét ở chân. Như những đứa khác lúc này đang lục tục xếp thành hàng đôi trước cửa phòng.
Mấy người giám thị chào thua thằng áo xanh. Cũng như ngày hôm qua, sẽ có y tá xuống tận nơi chích thuốc cho nó. Ít ra làm như vậy còn đỡ vất vả hơn là phải khiêng nó đi qua ba bốn khu tiểu trại để xuống tới phòng thuốc. Thiện đi theo toán người xếp hàng đôi, trí óc bồng bềnh như trong cơn mơ. Hắn bắt đầu thấy cảm giác buồn buồn hiện ra ở những đầu ngón tay. Hắn còn đủ sáng suốt để nghĩ rằng lại sắp sửa phải qua một cơn phấn đấu kịch liệt. Ruột gan lộn phèo, rãi rớt đầy ứ ở miệng, những con trùng vô hình bò đi khắp châu thân, đến từng mạch máu, tế bào.

Thiện cố nghĩ đến hình ảnh khác. Mẹ bây giờ ở đâu, làm gì nhỉ. Thành phố sắp lên đèn, chắc là bữa cơm tối đang diễn ra trong bầu không khí tẻ nhạt dưới ánh sáng đục ngầu của ngọn đèn thắp bằng điện yếu. Hồi trước, Thiện rất sợ phải ngồi tham dự những bữa cơm tẻ nhạt như thế. Hắn sợ thứ ánh sáng chỉ đủ làm sáng đôi mắt sâu thẳm của mẹ và hai con ngươi lóng lánh như hai hòn ngọc của đứa em gái. Cơ hồ tất cả tinh túy của hai người chỉ còn dồn lên đôi mắt. Những đôi mắt linh hoạt, biết dò xét, biết phán đoán và hầu như biết đọc tất cả những ý nghĩ đang xoay chuyển trong đầu óc của Thiện. Bữa cơm nào cũng vì thế mà Thiện buông đũa trước khi no. Hắn không chịu được cái nhìn của mẹ và em, không chịu được cả bầu không khí vắng lặng, âm thầm chỉ còn vang lên tiếng bát, đũa va chạm lách cách và tiếng nhai nhóp nhép của từng người. Bây giờ trong khung cảnh tranh tối, tranh sáng của một ngày đang tàn lụi, Thiện bỗng thấy tiếc nuối vô cùng khung cảnh xum họp đã qua. Mẹ bây giờ ở đâu, đang làm gì?

Những ý nghĩ của Thiện bị cắt ngang khi toán xếp hàng đứng khựng lại ở trước một hành lang hẹp. Tiếng người ồn ào. Đèn sáng choang. Mùi thuốc, mùi alcool tràn ngập.
Thiện hoàn tất thủ tục thường ngày hai mươi phút sau đó. Bây giờ hắn buồn nản đứng dựa lưng vào vách tường chờ đợi các bạn đồng hành. Hắn đứng không được bao lâu thì có bàn tay lôi hắn tách ra khỏi hàng và kéo vào một góc tối. Hắn không thấy mặt kẻ đối diện nhưng nghe rõ lời thì thào bên tai:
– Anh Tư hôm nay không xuống phải không?
À bây giờ hắn mới biết tên thằng áo xanh còn nằm ở phòng là anh Tư. Hắn cố nhìn cho rõ mặt kẻ đối diện, nhưng bóng tối thật lờ mờ. Hắn gật đầu, không lên tiếng đáp. Hắn thấy kẻ lạ dúi vào tay hắn một gói nhỏ rồi căn dặn, giọng nói bây giờ sắc và gọn đến rợn người:
– Trao cho anh Tư giùm nhé Thiện!
Hắn chưa kịp ruỗi ra thì kẻ lạ đã rời bóng tối đi ra. Nó to lớn, cao hơn Thiện đến một đầu. Bước chân vững vàng, chắc nịch. Thiện tự hỏi Tư đã có tài cán gì mà thu phục được những đàn em sức lực đến như thế. Nhưng sự lo ngại ùa đến thật nhanh làm hắn thấy ớn lạnh ở xương sống. Nội một điều kẻ lạ gọi tên hắn một cách ngon lành cũng đủ khiến cho Thiện rùng mình. Hắn thấy rõ ràng là mình mới bị giao phó một trọng trách. Hắn biết hậu quả sẽ thế nào nếu trọng trách không được thi hành nghiêm chỉnh. Hắn khẽ đưa cái gói nhỏ ra mé có ánh sáng. Hắn nhận biết thật nhanh ở bên trong có gì. Đó là một lưỡi cưa nhỏ sáng quắc màu thép xanh và mấy điếu thuốc có ma túy.

Thiện thủ thật nhanh cái gói nhỏ vào bụng quần. Đã hơn mười ngày nay, Thiện chưa được trông thấy điếu thuốc. Mầu khói xanh lơ chợt hiện ra chập chờn như đánh thức tất cả tế bào của hắn sống dậy. Hắn muốn bỏ đi thật nhanh. Kiếm một cớ gì đó để vô nhà cầu. Hắn sẽ tan thành khói để bay bổng lên tận cùng của bức tường xanh cao vòi vọi. Chỉ một điếu thôi. Một điếu cho đã thèm rồi trả hết cho anh Tư, thằng áo xanh còn nằm lết bết ở trong phòng. Mất mát gì đâu. Chẳng ai biết. Mà anh Tư không chừng còn thưởng cho công lao của hắn thêm một điếu nữa. Khuôn mặt bạc nhược vêu vao của anh Tư bỗng hiện trước mắt chập chờn. Rồi cái vêu vao của nó bỗng trở thành hình dáng vêu vao trên khuôn mặt của mẹ hôm chia tay. Mẹ không nói gì nhiều nhưng cặp mắt hàm chưa biết bao nỗi lòng cần bầy tỏ. Bàn tay của mẹ như còn hơi hướng ấm áp, run rẩy trong tay hắn. Thiện có cảm giác như bị giằng xé. Hắn muốn đầu hàng. Nhưng rồi hắn lại muốn cưỡng lại. Cái bọc nhỏ vẫn còn cộm ở thắt lưng quần. Ở trong có một lưỡi cưa và có mấy điếu thuốc.

Bây giờ thì cả toán đã được khám bệnh và phát thuốc xong. Mấy người giám thị đang lùa cả bọn vào hàng ngũ. Nhiều đứa đang bắt đầu lên cơn nên có điệu bộ rũ rượi như những con gà bị cắt tiết. Có đứa ói mửa ngay trên sàn gạch. Một vài đứa khác khỏe mạnh hơn, giữ bộ mặt thản nhiên. Mọi người đã đi qua một khu tiểu trại. Còn hai tiểu trại nữa là về đến căn phòng chật hẹp. Thiện bối rối cùng cực. Giọng nói lạnh lẽo của kẻ lạ như còn văng vẳng bên tai:
– Trao cho anh Tư giùm nhé. Thiện!
Thiện! Thiện! Thiện! Tên của hắn dội lên chát chúa như lời điểm danh của định mệnh. Hắn tự hỏi tại sao bọn thằng Tư lại chọn đúng hắn để giao phó nhiệm vụ ấy chứ. Hắn muốn bình thản như hôm qua, hôm kia, như mười ngày đã trôi qua, như một cơn mộng dữ sắp phai tàn. Hắn muốn được trông thấy mẹ ngay bây giờ. Mẹ là nguồn an ủi độc nhất có thể giúp hắn trong cơn khó khăn này. Hắn thầm kêu lên: Mẹ ơi! Mẹ ơi! Gió ở sông đưa theo mùi nước đọng vừa mát, vừa nồng thoảng qua trong bầu không khí tĩnh mịch. Hắn bỗng nhớ đến không khí tĩnh mịch của buổi trưa hôm được mẹ dẫn vào nhập trại. Không gian êm ả. Tiếng sóng vỗ róc rách. Mùi tanh nồng tỏa trong gió mát. Và bàn tay run rẩy, yếu đuối của mẹ trong tay hắn. Tất cả vụt bừng dậy mãnh liệt khiến Thiện thấy rõ việc của mình sẽ phải làm. Hắn quyết định thật nhanh, như nếu chỉ chậm lại một chút là sẽ đổi ý. Mầu khói xanh lơ vẫn chập chờn cám dỗ hắn ở đâu đó trong ý nghĩ.

Thiện chọn ngay thằng bị thương ở chân không biết từ lúc nào, đã được ghép vào hàng ngũ đi bên cạnh hắn. Bây giờ chân hắn được băng bó cẩn thận hơn. Mầu bông băng sáng lên theo nhịp chân đi khập khiễng của nó. Thiện chép miệng nói:
– Mẹ kiếp, chân có ròi như thế, tối nay tránh xa tao ra đó, nghe con!
Thằng đau chân đang đi lặng lẽ bỗng choàng dậy như một con thú vừa bị chọc giận lúc đang ngủ. Nó quay ngay sang nhìn Thiện, cặp mắt bốc lửa. Thiện nhìn nó, mỉm cười ngạo nghễ rồi bồi thêm một câu nữa điếng người:
– Đồ hôi thối, nghe rõ tao nói không?
Thiện chẳng cần khiêu khích thêm và chờ đợi lâu hơn nữa. Thằng đau ở chân đã dùng tất cả sức lực của nó đề đánh vào mặt Thiện một quả đấm dữ dội. Tuy nhiên, cẳng chân đau làm nó mất đi rất nhiều sự nhặm lẹ. Thiện tránh thoát được quả đấm dễ dàng. Hắn liền xô tới, nhè ngay bên cẳng đau của địch thủ mà khều một cái nhẹ. Lập tức cái thân bồ tượng của gã ta ngã bổ nhoài ngay xuống sân cỏ. Nó gầm lên như một con thú dữ. Thiện cũng cất mồm la lối theo. Hàng ngũ của cả bọn bỗng náo loạn hẳn lên. Lập tức cả một đoàn sáu bẩy viên giám thị cùng ùa tới. Tiếng roi mây quật vun vút. Thiện thấy rát phỏng ở lưng như vừa bị dội lên những dòng nước sôi. Rồi hai bên cánh tay của hắn bị ghì cứng lại bởi hai viên giám thị lực lưỡng.

Họ lôi hắn ra khỏi đám đông. Hắn cố ngoái đầu về phía thằng đau chân chửi bới thêm nữa, chửi thật to như cố ý để cho đồng bọn, lũ đàn em của anh Tư nghe thấy. Nếu coi như sự việc vừa xẩy ra là một màn kịch thì Thiện đã sắm vai trò của mình thật là tuyệt diệu. Hắn sẽ bị cô lập ở một phòng riêng. Hắn sẽ bị khám xét. Người ta sẽ phanh phui ở lưng quần của hắn có một lưỡi cưa và mấy điếu thuốc. Hắn sẽ bị trừng trị nặng nề. Nhưng để đánh đổi sự chịu đựng ấy, hắn sẽ thoát được khỏi vòng kiềm tỏa của bọn anh Tư. Bất quá, bọn chúng chỉ coi như hắn vụng về mà làm hỏng việc chứ không bị liệt vào hạng phản bội hay cứng đầu không chịu tuân phục. Hình phạt của bọn chúng hẳn sẽ ghê gớm hơn nhiều. Trong bóng tối, Thiện khẽ nhếch một nụ cười mãn nguyện. Hắn nghĩ đến mẹ và em gái. Hắn thấy như mình đang lớn lên, lòng tràn ngập niềm kiêu hãnh, một cảm giác mà từ bao nhiêu năm nay, bây giờ hắn mới tìm thấy…

NHẬT TIẾN
Saigon ngày 24-1-1973

.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 594
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeWed Nov 25, 2020 4:28 pm

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Bia-nhat-tien-web

Cánh Cửa
- Nhật Tiến


Mối liên hệ giữa Trường và Sủng, thằng công an mặt non choẹt chỉ đáng tuổi con trai của chàng, khởi sự từ hôm Trường kiếm được một mảnh nhôm lớn.

Mảnh nhôm nằm đâu đó trong bụi cỏ và bị vùi nông dưới một lớp đất bùn. Thoạt tiên, Trường tưởng đó là một miếng tôn rỉ. Nhưng nắn thử, chàng thấy nó vừa cứng, vừa nhẹ. Lúc chàng miết mạnh móng tay cái của mình xuống, Trường thấy nó để lại một vệt sáng ngời.
Thế là Trường thủ mảnh nhôm đem về trại và phác họa trong đầu đủ thứ vật dụng mà chàng có thể biến chế. Chàng nghĩ đến một cái lược cài tóc cho vợ, một cái trâm gài đầu cho đứa con gái và một cái mặt dây chuyền đeo cổ để tùy nghi.Thời giờ ở đây có thừa để Trường đủ kiên nhẫn ngồi gò những món vật dụng của mình trở thành tinh xảo. Như cái lược là một công trình tuyệt hảo của bàn tay tài hoa phối hợp với khối óc nhiều sáng tạo. Hàng răng lược đều đặn, khoảng cách cân đối, còn dẫy hoa văn khắc trên mặt lược là cả một nghệ thuật trang trí tỉ mỉ, gợi ý từ những mặt hổ phù, những nét khắc họa trang trí trên đồ gỗ, đồ khảm, đồ chén đĩa mà trước đây Trường đã có nhiều lần say sưa ngắm nghía.

Một công trình như thế, Trường đã phải dành ra cả tháng ròng rã để hoàn tất. Trong thời gian ấy, đi đâu chàng cũng mang nó theo, dắt kỹ ở lần túi trong của chiếc áo thô sơ may bằng vải bao cát. Khi đi lao động có chút thì giờ nghỉ ngơi, Trường hay đem nó ra ngắm nghía để thấy mình còn đôi chút hơi hướng nghĩ về người vợ thân yêu.
Chiếc lược này rồi ra sẽ được cài lên mái tóc óng ả, mượt như tơ của nàng. Nói cho đúng ra, đó là mái tóc trong kỷ niệm, trong trí nhớ của thời kỳ đoàn tụ, yên ấm đã qua chứ không phải là mái tóc cũng của chính nàng nhưng đã tơi tả, héo khô và ngả màu đốm bạc mà chàng đã trông thấy trong lần thăm nuôi kỳ trước.
Hôm ấy Trường đã giơ bàn tay sần sùi, chai sạn vuốt lên mái tóc xác xơ của nàng, lòng đầy nghẹn ngào, xúc động. Mới có vài năm trôi qua mà mọi sự đổi thay mau chóng đến bàng hoàng. Tuy nhiên hình ảnh mái tóc phong sương đầy vất vả ấy dù đã hiện hữu nhưng hãy còn quá bỡ ngỡ, mới mẻ. Nó không đủ sức để bôi xóa được trong tâm tưởng của chàng về một mái tóc đen mượt, óng ả bao quanh chiếc cổ trắng ngần và phủ xuống hai bờ vai thon. Ngày xưa đã xa lắc, đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại như mái tóc đã đổi màu chẳng thể bao giờ còn lấy lại được vẻ nuột nà. Nhưng Trường vẫn cứ muốn níu kéo, cứ muốn mọi kỷ mềm, mọi hình ảnh, mọi tâm tình đều phải dừng lại ở thời điểm nồng nàn ấy như một cái phao cuối cùng giúp chàng có can đảm lội qua được chặng đường khổ ải này. Cho nên chàng vẫn chắt chiu cái lược với tất cả sự say sưa. Mồ hôi lao động thấm qua lớp áo vải thô đã làm cho nó lên nước bóng ngời. Chàng vừa khắc những nét tỉ mỉ vừa thủ thỉ với nàng, với kỷ niệm, với cả chính chàng.

Cơn mê sảng thảng thốt ấy khiến chàng đôi lúc đã bứt rời thực tại và đắm chìm trong những giấc mơ huyễn hoặc, ngắn ngủi. Chàng không nghe thấy tiếng báo cáo viên nói. Còi tập hợp của cán bộ đã thôi thúc luôn hồi, chàng vẫn chưa buồn đứng dậy. Hết giờ nghỉ giải lao mà chàng hãy còn mơ mộng, lần khân. Cho đến một lần thì thằng công an mặt non choẹt đã giận dữ xông lại. Nó túm lấy ngực áo của chàng. Nó kéo chàng bật dậy, sừng sộ:
– Nàm chưa được một góc công nênh mà đã đổ nười ra hả. Ông thì đá cho một cái xem mắt có mở to thao náo, nàm ăn tỉnh táo ra ngay không lào!
Trường không đáp, lẳng lặng nhét cái lược vô trong túi rồi định quay gót đi, nhưng thằng Sủng tưởng chàng giấu giếm cái gì đã vội vã vặn ngoéo cổ tay chàng lại. Hai người đột nhiên ở vào cái tư thế phải giằng co. Rồi cái lược rớt xuống đất. Cái lược sáng loáng lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời nom như một thỏi bạc sáng ngời. Vật lạ khiến cho Sủng ngây hẳn người ra. Nó cúi xuống lượm lên rồi giơ lên ngắm nghía cái công trình tuyệt hảo ấy một cách sững sờ. Lâu lắm nó mới lại cất tiếng, lần này giọng điệu có vẻ nhẹ nhàng hơn:
– Anh nàm nấy đấy à?
Trường không đáp mà chỉ lẳng lặng gật đầu. Rồi chàng giật lấy cái lược trên tay thằng công an mà lòng nhen nhúm một sự tức giận, khinh bỉ đến tột cùng. Những hạng súc vật như nó không đáng sờ mó lên vật kỷ niệm vô giá của chàng. Tay chàng run lên. Mắt chàng long lên sòng sọc. Chàng sầm sầm quay đi. Đây là lần đầu tiên chàng có phản ứng mạnh mẽ đối với một đứa công an. Những lần khác, chàng chỉ khinh bỉ mà không hề giận dữ. Chàng vẫn nói với các bạn đồng tù rằng chỉ có lòng khinh bỉ mới đặt mình ở vị trí cao hơn. Giận dữ với chúng nó là tự đặt mình ngang hàng.
Thế mà hôm nay chàng đã bày tỏ thái độ giận dữ. Cơn giận dữ ùa đến bất ngờ khiến chàng không thể kiểm soát được, có lẽ nó bắt nguồn từ bàn tay thô bạo của thằng nhỏ đã dám sờ mó lên vật kỷ niệm thiêng liêng của chàng. Nhưng rồi chàng tự nhủ: như thế là còn may. Nó chưa có dịp mè nheo, xin xỏ hay tệ hơn nữa, tạo đủ lý do để tịch thu bất cứ cái gì mà nó muốn.

Sau hôm đó, Trường chôn kỹ cái lược ở một chỗ kín đáo ngoài phòng giam tù. Chàng chỉ sẽ đào nó lên trong lần thăm nuôi kỳ sau để tự tay cài lên mái tóc úa khô, xơ xác của vợ chàng. Bây giờ thì chàng khởi sự công trình mài rũa chiếc trâm dành cho đứa con gái. Công việc ngày một thêm khó khăn hơn vì những ngón tay xước nát, bầm dập của chàng. Lúc mài mảnh nhôm xuống mặt xi-măng hay trên một hòn đá nhỏ, chàng nghe thấy sự buốt xót từ những đầu ngón tay hòa lẫn với cái cảm giác trơn láng, mát lạnh của mặt nhôm. Chàng thì thầm với con gái về sự nó có cảm nhận được làn da tay sần sùi, rườm máu, đau đến tê dại của bố khi cài chiếc trâm này trên đầu hay không. Phải chăng đấy cũng là một loại ngôn từ di chúc của cha gửi đến cho con. Và trong lòng quê hương khốn khổ này, đã có biết bao nhiêu là ngôn ngữ lưu truyền kiểu đó, của thế hệ này gửi lại cho thế hệ sau.
Trong thời gian đó, Trường cũng để ý đến sự thay đổi khác lạ trong cung cách đối xử của thằng Sủng. Bỗng nhiên nó bớt hẳn giọng điệu gay gắt đối với chàng. Thỉnh thoảng nó hay nhìn chàng với ánh mắt nửa như thân thiện, nửa như lấm lét. Trường ngạc nhiên tự hỏi cái lược chạm trổ của chàng đã làm chóa mắt thằng côn đồ đó đến cỡ nào khiến nó thay đổi thái độ như thế. Nhưng Trường tự nhủ, dù thế nào thì công an vẫn là công an. Chế độ sản sinh ra chúng nó để chỉ thuần túy là công cụ của bạo lực, để sẵn sàng đàn áp không nương tay và bất chấp tình người. Các bạn đồng tù của chàng cũng đều chia sẻ cái thành kiến này. Chúng nó chỉ là những cái máy đội lốt người, sẵn sàng phản ứng như tuân theo một nút bấm và nhiều khi có những hành động gần gũi với loài súc vật.

Trường băn khoăn tự hỏi thằng Sủng toan tính gì đây khi nó muốn lân la với chàng. Điều này khiến cho chàng phải chú ý đến nó nhiều hơn và chàng ngạc nhiên khám phá ra rằng đối với tất cả những tên cán bộ ở đây, chưa bao giờ chàng nhìn ngắm chúng nó kỹ lưỡng cả. Hàng năm trời gặp gỡ, tiếp xúc, bọn chúng chỉ như những cái bóng mờ nhạt xuất hiện qua lại trước mắt chàng mà chàng không thấy cần thiết phải bận tâm. Thì giờ đâu bận tâm đến lũ người ấy!
Nhưng bây giờ, trong hoàn cảnh này, Trường không thể không nhìn ngắm thằng Sủng kỹ lưỡng hơn. Nó còn trẻ lắm. Tuổi chỉ mười chín, hai mươi là cùng. Đầu nó hớt cao, vầng trán thấp tịt mà lại còn gồ. Đôi mắt hơi xếch ẩn dưới đôi lông mày rậm. Mặt nó vuông hình chữ điền, đôi môi dầy, bậm sịt lúc nào cũng mím lại làm cho vẻ mặt tăng thêm phần dữ tợn, loại dữ tợn ẩn chứa một vẻ đần độn, đơn giản, cực đoan và liều lĩnh. Chung qui, cả khuôn mặt của nó chỉ vớt vát lại được có mỗi một nụ cười. Lúc nó cười, hai hàm răng trắng bóng phô ra làm dịu đi nét cau có ở đôi lông mày, và trong ánh mắt của nó toát ra một niềm vui không thể che giấu.

Cho đến một hôm, nhân dịp vắng vẻ, thằng Sủng tự ý sấn lại gần chàng. Lúc này Trường đang ngồi mài chiếc trâm bằng nhôm trên mặt cát. Vừa nhác thấy nó, Trường ngừng tay và thủ cái trâm vào ống tay áo. Thái độ của Sủng đầy vẻ rụt rè. Một nửa nó muốn tiến tới, một nửa nó định bỏ đi. Nhưng nó không quyết định được dứt khoát nên hóa ra tần ngần và mỗi lúc một thêm bối rối. Rút cục nó không biết làm gì khác hơn là nhe răng ra cười. Dù cảnh giác cách nào thì Trường cũng không đủ nhẫn tâm để cau có với một kẻ đang cười với mình. Nét mặt của chàng dịu lại. Chàng vẫn không cất tiếng, nhưng nhìn nó với một vẻ dò hỏi.
Một lát thằng Sủng mới vô đề bằng một câu bâng quơ:
– Lày, nính ngụy cũng có nắm tay tài hoa đấy chứ nhỉ.
– Tài hoa về cái gì?
– Cái nược ấy. Cái nược mà anh nàm nấy đấy.
Trường mỉm cười:
– Ờ! Đó là nghề tay trái.
Sủng ngơ ngác:
– Nghề tay trái nà nghề gì?
– Là nghề phụ. Là thứ nghề không phải nghề. Làm chơi cho vui vậy thôi.
– À! Cái đó gọi nà “nghiệp dư”. Nghiệp dư thì lói nghiệp dư chứ cái gì mà ví von tay phải với tay trái. Chữ nghĩa của các anh đến nà buồn cười.
Trường nhún vai:
– Thì cũng giống như chúng tôi buồn cười khi nghe anh nói nghiệp dư, nghiệp thừa vậy.
Phải như khi trước thì Sủng đã nổi sùng về câu nói móc máy này rồi. Nhưng lần này nó vẫn giữ một vẻ thản nhiên. Nó thú nhận:
- Tôi chưa bao giờ trông thấy một cái nược đẹp đẽ đến như thế. Ló nại nàm bằng tay không thôi. Lếu tôi không chính mắt thấy thì tôi không tin nà do anh nàm.
Thấy Trường không đáp, nó lại nói tiếp:
– Mẹ tôi ở nhà cũng có một cái nược bằng bạc. Cái nược di truyền mấy đời rồi cơ đấy. Lom thấy cái nược nàm tôi nhớ đến mẹ tôi, thương mẹ tôi vô cùng.
Trường ngạc nhiên về tâm tình của thằng Sủng. Chàng cất tiếng hỏi:
– Bà cụ bây giờ vẫn khỏe mạnh chứ.
Sủng bùi ngùi:
– Bà ấy mất rồi. Mất hồi lăm kia… Bệnh tật nâu mà thuốc men thì thiếu thốn…
Rồi chợt nhớ ra rằng kể khổ trước mặt bọn “ngụy” là sai lập trường, Sủng vội xoay ra chuyện khác:
– Anh cũng còn mẹ hả? Anh khắc cái nược cho bà cụ hả?
Trường lắc đầu:
– Mẹ tôi cũng mất rồi. Cái lược đó tôi dành cho vợ tôi.

Mắt thằng Sủng rạng lên một niềm vui. Hình như nó cũng biết chia sẻ tấm lòng của một người đang xa cách gia đình. Trường tự nhủ, thằng này cũng còn có tâm tình riêng đấy chứ. Điều này làm cho Trường trở nên dễ dãi hơn và chàng không còn giấu cái trâm ở tay áo nữa. Cái trâm mới chỉ đang ở giai đoạn hình thành một dáng dấp thuôn dài nên mặt nhôm còn nhiều vẻ thô sơ. Mắt thằng Sủng sáng lên khi nhìn thấy mảnh nhôm trên tay chàng:
– Tài thật! Miếng nhôm xấu xí thế lày mà anh biến chế thành đồ mỹ thuật tinh xảo. Tôi phục năn!
Trường giơ cái trâm lên ngắm nghía rồi giảng giải:
– Gọi là nghề tay trái… hay nghiệp dư gì đó, nhưng vận dụng được nó nhuần nhuyễn cũng phải đòi hỏi cả một quá trình tập luyện.
– Phải rồi, nàm gì thì nàm cũng phải có học tập tốt đã chứ. Anh học cái nghề trạm trổ lày ở trong quân đội ngụy à?
– Không! Tôi ở ngành pháo binh, mà pháo binh thì ai mà đi dậy cho cái nghề lẩm cẩm này. Tôi tự nghiên cứu, học hỏi lấy.
Sủng ngơ ngác:
– Học hỏi nấy một mình mà cũng nàm được như thế cơ?
– Chứ sao! Miễn là có một đôi chút năng khiếu cộng với lòng say mê nghệ thuật.
Mắt Sủng thoáng một tia hớn hở và nó cất giọng hỏi thành thực:
– Say mê thì tôi dứt khoát nà say mê rồi. Nhưng nàm sao để biết rằng mình có được đôi chút lăng khiếu?
Trường nhìn vẻ mặt đần độn của nó một cách thương hại rồi trả lời buông xuôi:
– Thì cứ làm đại đi rồi sẽ biết.
– Anh hướng dẫn tôi nhớ!
Lời đề nghị bất ngờ của Sủng khiến Trường bối rối. Nhưng chàng chưa kịp trả lời thì nó suy nghĩ thế nào đã vội chữa lại:
– Nhưng không được đâu! Tôi niên hệ nhiều với anh sẽ bị đặt vấn đề.
Vừa lúc đó có một toán lao động đi ngang, Sủng vội vã bỏ đi.

Tối hôm ấy, hình ảnh của Sủng với ước vọng đơn sơ của nó khiến Trường trằn trọc. Vậy ra tiềm ẩn ở đằng sau những hành động đàn áp, ngỗ ngược, nó vẫn còn có tâm tình riêng, và lại còn có cả năng khiếu trong lãnh vực thẩm mỹ.
Điều này thật hoàn toàn bất ngờ đối với thành kiến sẵn có của Trường. Từ lâu, chàng vẫn nghĩ rằng tất cả bọn chúng nó đều chỉ là những công cụ vô tri của chế độ, hay tệ hơn nữa, lũ người này chỉ đáng được xếp ngang hàng với một lũ súc vật. Có nghĩ họ là súc vật thì chàng mới bất thần nổi nóng khi Sủng dám đụng tay vào cây lược kỷ niệm vô giá của mình. Bây giờ nghĩ lại, Trường cảm thấy xấu hổ về cơn giận dữ quá đáng của mình.
Ai đã được sinh ra, đầu tiên lại chẳng là một con người. Nhưng từ con người đến nỗi trở thành con thú là do hoàn cảnh xô đẩy. Sự kiện đã xảy ra chẳng cứ ở bên này hay bên kia. Trong xã hội cũ, có thiếu gì con người cũng chẳng còn đôi chút nhân tính. Đó là những kẻ đầu cơ, tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ, phè phỡn trên cơn thiếu thuốc men, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình. Còn trong xã hội Cộng sản này, con người bị xô đẩy vào một tình huống khác, ở đó nó bị chế độ nhào nặn bằng những phương pháp vận dụng khoa học tinh vi nhất, thân phận con người trở thành những mẫu mực được đổ khuôn theo nhu cầu trấn áp để bảo vệ chế độ.

Trường tự lấy làm ngạc nhiên rằng tại sao mình dễ dàng nổi giận với Sủng mà chưa bao giờ một lần trước đây chàng nổi cơn phẫn nộ đối với những con người phi nhân tính ở trong xã hội cũ. Hẳn cơn giận dữ về sự buôn bán trên sinh mạng, sức khỏe và sự nghèo đói cơ cực của đồng đội, đồng bào sẽ đích đáng hơn là cơn giận ùa đến từ sự kiện một kẻ dám sờ tay vào một cái lược vô tri. Trường chợt nhìn thấy rõ tính cách bất công của mình và đó là lý do đă khiến cho chàng bứt rứt về cơn giận dữ với Sủng vừa qua. Chàng tự nghĩ, nếu trước đây ai cũng biết nổi giận, và nổi giận kịp thời thì đất nước đâu đến nỗi cơ cực, lầm than như hiện nay. Và ngay cả đến bây giờ, trong cơn sụp đổ của miền Nam, có bao nhiêu người rút tỉa được bài học gì gọi là đích đáng?
Trường thực sự lao đao về những nhận thức mới mẻ này. Chàng có cảm giác như mình vừa đụng phải cái phao vật vờ đâu đó trong cơn chìm tàu hoảng hốt giữa đại dương đầy bão tố. Chàng cố gắng bình tĩnh để nghiền ngẫm đầy đủ mọi sự với ngay từ cái khởi đầu. Nghĩa là phải vén những tấm màn che của thành kiến, nông cạn, phải đâm toạc vào bóng tối u mê của những nhận thức cực đoan, một chiều. Nói gọn lại là hãy phải tự giải phóng chính mình trước để có tự do nhìn ngắm con đường sẽ phải đi tới nhằm giải phóng quê hương.

Ngày hôm sau, Trường đã gặp lại Sủng trong một tâm trạng bình thản hiếm thấy ở  chàng. Điều đó có nghĩa là chàng đặt thằng Sủng trước hết ở vị trí một con người để từ đó chiêm nghiệm xem con người đó đã bị chế độ làm biến chất đi đến mức độ nào và những gì còn vớt vát lại được ở trong nó.
Không như trước đây, vì mất mát, vì đổ vỡ, vì chìm đắm trong thiếu thốn, khổ hình, Trường hay có thái độ sổ toẹt. Nghĩ cho cùng, kể cũng thật là ghê gớm khi người ta dễ dãi sổ toẹt một con người. Thằng Sủng hôm nay có vẻ rất phởn phơ. Nó nhoẻn với Trường một nụ cười ngay khi vừa chợt trông thấy chàng. Hai hàm răng của nó trắng bóng dưới ánh nắng của một ngày đẹp trời. Trong tia nhìn của nó thấp thoáng ánh sáng của một niềm vui. Trường hỏi:
– Có chuyện gì mà sao hôm nay vui thế ?
Sủng vỗ lên túi áo ngực và nói:
– Nhận được thư… nhà !
– Thích nhỉ. Tất cả đều bình yên chứ?
Sủng ngần ngừ, rồi đáp nhỏ:
– Lói đúng ra, không phải thư nhà đâu. Đây nà thư của cô Ninh.
Trường ngạc nhiên:
– Cô Ninh là ai?
Sủng cười hềnh hệch:
– Của tôi đấy! Hai đứa dự định lăm tới sẽ đứng ra “tổ chức” đấy.
– Tổ chức cái gì?
– Còn cái gì. Tổ chức nà nấy nhau, nà nập gia đình chứ còn gì.
Trường bật lên cười và lần này chàng có dịp nhạo lại nó:
– Cái đó gọi là làm đám cưới. Làm đám cưới thì nói là làm đám cưới chứ cái gì mà tổ chức với tổ chiếc. Chữ nghĩa các anh dùng đến là buồn cười.
Thằng Sủng không lấy làm phật lòng về sự châm trích này. Nó chỉ đáp buông xuôi:
– Ừ Thì quen thế lào, lói thế ấy.
Rồi bỗng nó buông một lời nhận xét khiến Trường phải giật mình:
– Nghĩ cũng buồn cười đấy nhỉ. Mình cùng nà người Việt Lam mà lói với nhau nắm khi không hiểu.

Trường bị xúc động lắm về câu nói bất ngờ này. Bao nhiêu ngày bị giam hãm ở đây, chưa bao giờ Trường nhớ lại được ra rằng quê hương Việt Nam từ ngàn xưa vẫn trải dài từ Nam Quan cho đến Cà Mâu. Cơn sụp đổ phũ phàng của đất nước đóng khung sự suy nghĩ của chàng vẫn ở cái thời điểm mà đất nước bị chia cắt. Miền Bắc và miền Nam. Bên này và bên kia. Bên này sụp đổ, bên kia xâm lược, chiến thắng. Ước mơ của chàng về đất nước, nếu có thì chỉ là sự giải phóng lại miền Nam, khôi phục lại vùng đất cũ chứ chưa bao giờ chàng nghĩ đến một giải giang sơn trải dài từ Bắc xuống Nam cùng chung sống trong một vận hội mới. Làm sao Trường có thể hình dung ra được một sự chung sống như thế với nhân dân hai miền đầy rẫy những mâu thuẫn, khác biệt. Nhưng ít ra đó cũng là một ước mơ, một nguyện vọng chính đáng phải thể hiện chứ, Trường hỏi Sủng:
– Anh nghĩ rằng tôi cũng là người Việt Nam như anh à?
Sủng ngạc nhiên:
– Anh không nà người Việt Lam thì nà người gì?
– Thì tôi vẫn là người Việt Nam. Nhưng tôi tưởng, dưới mắt các anh, chỉ có một bên là các anh, một bên là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Làm gì có người Việt Nam với nhau, có phải thế không?

Hình như Trường đặt ra với Sủng một câu hỏi có vẻ vượt quá khả năng suy nghĩ của nó. Nó hơi bối rối một chút, nhưng rồi cũng tìm ra câu trả lời:
– Với chúng tôi, bạn, thù rất phân minh. Nẫn nộn với bạn và thù nà chao đảo, nà hữu khuynh.
– Vậy anh nghĩ về tôi là gì? Bạn hay thù?
– Trước học tập cải tạo, anh nà thù. Sau học tập cải tạo anh nà bạn. Nà bạn hay thù, cái đó tùy thuộc ở anh!
Trường cười khẩy:
– Thôi đi mà anh Sủng! Anh thuộc bài bản đấy, nhưng thực tế nó đâu phải vậy. Anh thừa biết đấy, trước hay sau học tập, chẳng bao giờ chúng tôi được chế độ tin dùng. Còn trong học tập lại càng rõ ràng cụ thể nữa. Cái chính sách kéo dài cải tạo vô thời hạn, đời sống vật chất cực kỳ thiếu thốn, công tác lao động lại cực kỳ nặng nhọc, tất cả cho thấy không có một kết luận nào khác hơn là các cấp lãnh đạo của các anh có chủ trương hủy hoại khả năng chống đối của con người.
Mắt Sủng tự nhiên sững lại. Nó ngó Trường một cách trân trân, cái nhìn biểu lộ một sự ngạc nhiên hơn là hận thù. Rồi nó buông một câu nhỏ vừa đủ để cho Trường nghe:
– Anh cũng nhận ra điều ấy, hả?
Nói xong Sủng đột nhiên bỏ đi. Thái độ vội vàng này chỉ có thể giải thích được rằng Sủng đã sợ hãi sau khi buông ra một lời thú nhận, đồng tình.

Dẫu sao thì sau lần đó, giữa Sủng và Trường đã mở ra thêm được một cánh cửa. Sự dè dặt của Trường đối với nó đã giảm thiểu đi rất nhiều. Bây giờ thì Trường có thể kể cho nó nghe huyên thuyên về đủ mọi thứ chuyện trong đời sống ở một xã hội tự do. Trước thì chỉ là vì ý thích, vì lòng hoài vọng những kỷ niệm đã xa vời, nhưng dần dà Trường trở nên say mê trong một dụng ý mới. Chàng muốn cải tạo chính thằng nhỏ đang có nhiệm vụ cải tạo mình. Điều này thật ra không phải dễ. Sủng có những quan niệm đã đóng khuôn và trở thành chai đá. Như quan niệm về sự tự do mà Trường đã nhiều lần gợi ý, Sủng chỉ cho rằng đó là một sự hỗn loạn, cá lớn nuốt cá bé, giầu bóc lột nghèo.
– Điều đó cũng đúng thôi. Nhưng không phải vì chán ghét cái này mà mình phải chấp nhận cái kia cũng tệ hại chẳng kém.
Trường nói với nó như thế và nó im lặng đồng tình. Nó thú nhận:
– Ở miền Bắc, chả có ai rỗi hơi đặt ra những vấn đề như anh lói. Mọi sự đều có Đảng và nhà lước no hết.
Trường kêu lên:
– Thế thì cả cái xã hội ấy đã trở thành một cái chuồng trâu, chuồng bò rồi còn gì.
– Có sao đâu! Bao nhiêu chục lăm lay, chả thấy có ai cần lêu thắc mắc gì ngoài sự tranh cãi về sự thiệt thòi nhu yếu phẩm.
Trường bùi ngùi:
– Thế thì phải hiểu rằng nhân dân miền Bắc đã bị tước đoạt hết quyền tối thiểu làm người. Bởi vì đời sống đâu chỉ có gói tròn trong có mỗi một vấn đề nhu yếu phẩm.
– Anh lói thế chứ, đó nà một vấn đề quan trọng hàng đầu đấy. Dời nhu yếu phẩm ra nà chết đói nhăn răng.
Trường chép miệng:
– Chưa bao giờ trên đời này lại có một kiểu xã hội đơn giản và khủng khiếp đến như vậy.

Lòng Trường đột nhiên tràn ngập một nỗi xót xa đến độ chàng không còn muốn nói thêm với Sủng một lời. Chàng im lặng đẩy mũi dao nhọn hoắt trên những đường hoa văn chạy trên cái trâm cài. Sủng cũng không nói gì thêm mà chỉ say sưa chăm chú theo dõi những nét tài hoa mà Trường đang chạm trổ. Khi Trường hoàn tất những nét sửa chữa cuối cùng, chàng giơ cái trâm lên ngắm nghía.
Lúc ấy Sủng mới trầm trồ:
– Tuyệt đẹp anh ạ. Lếu anh rảnh, nhờ anh khắc cho tôi một cái để tôi gửi tặng Ninh.
Trường gật đầu:
– Anh đi kiếm nhôm đi. Chuyện khắc thì dễ, tôi làm được.
Sủng reo lên như một đứa trẻ được mẹ hứa cho quà. Bây giờ nó mới thú nhận rằng nó đã tom góp được bao nhiêu là mảnh nhôm và ước vọng của nó chỉ là có được một cái lược giống y như cái lược nó đã trông thấy hôm nào để gửi tặng người yêu. Sủng nói:
– Chỉ xin anh thêm cho vô đây một hàng chữ viết nà “Yêu Ninh trong nghĩa vụ thanh liên”.
Trường hỏi:
– Ninh hay là Linh. En nờ hay E lờ?
– E nờ chứ! Giống như điện Cẩm Ninh mà anh lói đấy.
Trường bật cười:
– À ! Thế là E lờ! Linh! Linh chứ không phải Ninh. Nhưng này, cái gì mà “yêu trong nghĩa vụ thanh niên”. Nói yêu thôi, không phải là đủ à?
Sủng cúi đầu, bùi ngùi:
– Phải lói thế Ninh mới hiểu được nòng tôi. Bởi vì lếu không dính đến cái vụ nghĩa vụ thì tôi đã nuôn nuôn ở bên cạnh cô ấy rồi còn gì.

Trường chép miệng:
– Đất nước đã hòa bình, độc lập từ bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn cái vụ nghĩa vụ làm cho tình yêu phải phân ly, chia lìa. Nói thật, cái giới lãnh đạo của chế độ này quả là một lũ người không còn nhân tính.
Sủng kêu lên:
– Chết! Anh phát ngôn ninh tinh như thế có ngày mang họa.
– Thì chỉ có tôi với anh. Chả lẽ anh đi tố cáo tôi. …
– Sợ nà sợ anh quen mồm đó thôi. Lói ở đây thì được, về tới trại mà như thế nà chết. Có thiếu gì tai mắt, nguy hiểm nắm.
Trường nhìn Sủng biểu lộ một sự cám ơn về lời khuyên cảnh giác của nó. Niềm cảm thông nẩy nở giữa hai người đem lại cho Trường thêm những ý tưởng mới mẻ. Rõ ràng cả cái dân tộc này cần tới một sự đối thoại. Bọn lãnh đạo, bọn có đầy đủ uy quyền chỉ là một thiểu số. Đa phần còn lại đều là những nạn nhân. Giữa nạn nhân nếu vẫn còn dựng lên những hàng rào, những hố ngăn cách thì sức mạnh tổng hợp không bao giờ tìm thấy được.

Những ngày sau đó, Trường chuyên chú vào việc mài rũa cái lược dành cho Sủng. Sủng có vẻ cảm kích lắm. Lòng nó hẳn có nhiều xốn xang khi nghĩ đến cái lược tuyệt hảo này sẽ được gài lên mái tóc của người yêu. Trường chưa bao giờ hỏi thăm một lời nào về Linh cả. Chàng chỉ nghĩ rằng họ cũng là những trái tim biết thổn thức. Ngoài chuyện cá nhân, đôi lứa, sự thổn thức của trái tim có hướng về một mục tiêu nào khác nữa hay không là do ở trình độ nhận thức, hiểu biết. Cái nhược điểm lớn lao của xã hội này là toàn thể mọi người đều bị chế độ bưng bít tối đa. Giống như tên xà ích che mắt một con ngựa để chỉ cho nó đi theo hiệu lệnh của làn roi. Con ngựa trở nên mù lòa và suốt đời không thể tưởng tượng ra được ở bên kia bóng tối bao trùm tất cả đời sống của nó, là cả một cánh rừng bao la, những đồi cỏ non, những thung lũng trải dài, những triền núi cao thăm thẳm. Và có cả những đàn ngựa hồng xoải vó cất tiếng hí vang động cả trời cao. Ý nghĩ này khiến Trường nẩy ra sáng kiến giành ra một góc nhỏ để trạm trổ một đôi ngựa. Như một thứ thông điệp tự do của kẻ nằm trong tù gửi cho những kẻ ở ngoài nhà tù. Chàng nhắn nhủ với Sủng:
– Nhìn ngắm đôi ngựa này để biết thù ghét kiếp ngựa bị che mắt và chỉ tuân hành theo chỉ thị của làn roi. Kiếp người cũng thế mà thôi.
Sủng chớp mắt liên hồi khi được Trường nhồi nhét cho cái hình ảnh ấy, điều mà trước đây, không bao giờ nó có thể tưởng tượng được ra. Nó hình dung đến hình ảnh một ngày nào đó trong tương lai, ngồi cầm lược chải đầu cho vợ mới cưới, hẳn nó sẽ bối rối nhiều lắm khi phải giải thích cho nàng nghe về ý nghĩ của một đôi ngựa.

Bẵng đi nhiều ngày sau, tự nhiên Trường không thấy Sủng xuất hiện trong những nhiệm vụ hằng ngày nữa. Lúc đầu, Trường dự đoán là Sủng bận rộn một công tác đột xuất nào đó. Sau dần dà, sự vắng bóng lâu lắc của nó gây cho chàng một mối lo ngại về một sự bất thường nào đó đã xẩy ra. Mãi đến hơn hai tuần sau, trong một buổi chập choạng tối, lúc chờ giờ phân phối thực phẩm ăn tối, Trường mới thấy Sủng bất ngờ xuất hiện một cách lén lút và kéo tay chàng ra một chỗ khuất riêng.
Sủng nói:
– “Em” bị gặp khó khăn rồi. Các đồng chí nãnh đạo kết tội em hữu khuynh và truy kích em kịch niệt. Các đồng chí ấy lói rằng tưởng em có nhiệm vụ cải tạo Mỹ Ngụy, lào ngờ chính em bị Mỹ Ngụy nàm cho chao đảo. Biện pháp áp dụng nà gửi em hoàn trả cho đơn vị gốc tùy lơi lày xử ný. Thế nà em không chờ anh hoàn tất được cái nược để em tặng cho Ninh rồi.
Trường vội vã nói:
– Chú chờ ở đây. Tôi tặng chú cái lược của chính vợ tôi.
Nói rồi Trường tất tả đi bới lên cái lược mà chàng đã cất giấu. Dưới ánh sáng chập chờn của những ngọn lửa trên lò bếp, nó vẫn sáng ngời như một thanh kiếm bạc. Chàng dúi vào tay Sủng và thầm thì:
– Tôi tiếc là không làm nhanh hơn để trên cái lược này có lời đề tặng của chú dành cho cô Linh.
Và chàng mỉm cười:
– Nhất là chẳng có một đôi ngựa…
Sủng mỉm cười theo:
– Chẳng có đôi ngựa ở trên nược thì em cũng đã ghi gói hình ảnh đó ở trong đầu. Em sẽ lói với Ninh về đôi ngựa ấy khi có dịp.
Trường xúc động ghì chặt lấy đôi vai vạm vỡ của Sủng. Trong cái nhá nhem của một ngày tàn, đôi mắt của Sủng chợt sáng lên một cách lạ kỳ. Rồi Sủng nhe răng nhoẻn một nụ cười thật hồn nhiên. Nụ cười của tuổi trẻ còn sót lại sau bao nhiêu thiêu đốt của những lò đổ khuôn một con người.

Sau lần đó, không bao giờ Trường còn được nghe nói về Sủng. Nhưng lòng của Trường vẫn tràn ngập một niềm vui vì chàng đã gửi đi được một thông điệp ngay giữa vòng rào kẽm gai của một trại tù.

NHẬT TIẾN
Santa Ana, tháng 12 năm 1985

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 670
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeThu Dec 10, 2020 10:18 am

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  2Q==

Cái Thuở Ban Đầu

- Nhật Tiến


Cái diện H.O. của gia đình ông  Bửu có hai điều tốt đẹp hơn những người khác. Một là  ông có người em đã đi Mỹ  từ năm 1975, hiện ở vùng California, thủ phủ của dân tỵ nạn. Qua thư từ trao đổi, ông Bửu thấy cô chú đã ăn nên làm ra và có thể trở thành chỗ dựa vững chắc cho cả  gia đình nhà ông Bửu. Còn điều tốt đẹp thứ  hai, hai ông bà  có hai đứa con, một  trai, một gái, chưa đứa  nào lập gia đình và  đều dưới mười tám tuổi.  Thế là cả gia đình  được đi hết, không  còn phải băn khoăn  bịn rịn vì ai.  Một hoàn cảnh như thế, ai mà không  mơ ước. Hôm cả nhà ra sân  bay, rất đông bạn bè đi tiễn. Ông Bửu  hân hoan tươi cười giơ tay vẫy  chào với tất cả niềm sung sướng trọn vẹn. Bước chân của ông nhẹ tênh. Ánh mắt của ông sáng rực. Nụ cười của ông rạng  rỡ. Ông có cảm giác  như mỗi bước chân trèo  lên một bậc thang phi  cơ là một bước đi  vào một vùng hào quang  chói lọi mà ông đã  hằng mơ ước từ bao  nhiêu năm nay. Bây giờ ước mơ đã thành  sự thực. Cũng bõ với biết bao nhiêu là ngày tháng đắng cay, tủi nhục mà ông đã từng trải qua.

Hôm đến Mỹ, cả gia đình chú Tài kéo nhau ra đón người mới tới, đông đúc  một bầy đàn dễ  đến chín mười người. Chú trông vẫn trẻ trung, nhưng đã có dáng bệ vệ. Chú mập hơn xưa rất nhiều. Da dẻ hồng hào,căng bóng. Mái tóc chải chuốt kỹ lưỡng, đen láng như chưa hề có một  sợi tóc bạc. Chỉ có đôi mắt tươi cười của chú là không thay đổi. Nó biểu lộ ở  nơi chú một con người lạc quan, yêu đời. Đối với chú, ở đời chẳng có sự việc gì khó khăn mà không thể giải quyết được. Hoàn cảnh nào cũng có lối thoát của nó, dĩ nhiên nhiều khi nó chẳng như ý mình mong muốn nhưng có điều kiện khả thi, tức là không thể không thực  hiện được. Và chú chấp nhận cái lối thoát khả thi đó, rồi không  thắc mắc gì thêm nữa. Có lẽ quan niệm sống như  vậy đã làm cho chú trẻ lâu. Chú không bao giờ tự tàn phá  thân xác mình bằng  những đêm trằn trọc, thao thức, mất ngủ. Ngày xưa,  ông Bửu vẫn nhận xét rằng cái thằng Tài phổi bò, đặt lưng xuống là ngáy khò chẳng biết lo toan là cái gì hết.

Vậy mà, bây giờ, ở đây, nơi cái xã hội văn minh vật chất khổng lồ này, chỉ cần phóng tầm nhìn ra  mọi sinh hoạt ở chung quanh là đã thấy chóng mặt vì cái tốc độ vận chuyển của nó, thì chú Tài đã có một đời sống vững vàng, sung túc, chỉ cần nhìn cái cử chỉ an nhiên, tự tại, và vẻ mặt sung mãn của chú là cũng đủ thấy.
Nhưng chính cũng vì cái vẻ sung mãn này mà ông Bửu trở nên rụt rè. Lúc phi cơ sắp sửa đáp xuống phi trường, ông đã hình dung ra cảnh hai anh em ôm ghì lấy nhau, nước mắt ràn rụa, những giọt nước mắt thương nhớ tích tụ từ hơn mười lăm năm xa cách. Ông tiến lại phía người em và mở rộng hai vòng tay. Trong thâm tâm, ông chờ đợi chú Tài sẽ nhẩy bổ đến ôm chầm lấy ông. Bề gì, cử chỉ đó cũng là một cái thước đo tình cảm mà ông cần biết trong hoàn cảnh này. Nhưng sự chờ đợi của ông  đã không tới. Chú Tài chỉ chộp lấy hai bàn tay của ông rồi lắc lấy lắc để. Trong lòng, ông Bửu hơi thoáng một nét buồn, nhưng ông tự cho là mình vô lý. Nếu chú ấy không quan tâm đến mình thì đâu có kéo cả một  bầu đoàn thê tử đông đúc thế kia  ra đón. Bây giờ ông Bửu mới  chú ý đến người em dâu và lũ cháu đông đảo trước mặt. Ông thấy vợ của mình cũng đang tần ngần trao đổi điều gì đó với thím ấy. Còn lũ cháu thì đều trố hết cả mắt ra nhìn. Ông Bửu không  còn nhận ra  đứa nào với đứa nào. Chúng nó  đã lớn hết cả rồi. Có đứa đã lập gia đình và hôm nay cũng đang tay bồng tay mang. Một vài đứa sinh ra và lớn lên ở đây. Dĩ nhiên là chúng nó phải nhìn ông bằng cặp mắt xa lạ, cũng như chính ông, ông không  hoặc chưa tìm  thấy một tình cảm ràng buộc thân thiết nào đối với chúng nó cả.
Cả đoàn người kéo nhau lên chật bốn cái xe hơi. Ngồi cạnh bên tay lái của chú Tài, ông Bửu nghe chú ấy nói:
– Bây giờ anh chị và hai cháu hãy về qua đằng em. Hôm nay, nhà em nấu phở cho cả nhà. Sau đó, chúng em sẽ đưa anh chị về chỗ ở mới.
Ông Bửu ngạc nhiên:
– Ô! Thế chúng tôi không ở chung với cô chú à?
Chú Tài mỉm cười:
– Rồi anh sẽ thấy, mọi cung cách ăn, ở sinh hoạt ở đây hoàn toàn khác biệt với những điều mà anh vẫn hình dung ra khi ở nhà. Đâu còn có cái  cảnh mấy anh em chui  rúc trong cùng một phòng kê ba bốn cái đi-văng  hay giường nằm. Ở đây, sự  riêng tư là một quyền tuyệt đối không thể  bị xâm phạm, ngay cả bố mẹ  đối với con cái. Cho nên, ai cũng phải có  phòng riêng, anh chị  đừng hiểu lầm là chúng em không quan tâm đến anh chị.

Đến buổi chiều, sau một bữa ăn ồn ào (sự ồn ào gây nên bởi lũ trẻ, hầu hết là xì xồ toàn tiếng Mỹ), chú Tài đưa gia đình ông Bửu đến một khu chung cư hẻo lánh. Nhà cửa ở đây, cái nào cũng giống cái nào, trừ những  con số gắn  trên cánh cửa mà mầu sơn trắng đã cáu đen đến gần trở thành  mầu sơn nâu của gỗ cửa. Căn nhà có hai phòng ngủ, một phòng khách, bếp liền với phòng ăn, cộng với hai phòng tắm riêng biệt. Thảm trải từ ngoài vào trong, tuy cũ kỹ nhưng so với căn nhà của ông Bửu hồi còn ở Sài Gòn thì cũng đã một trời một vực. Chú Tài vừa dẫn mọi người đi coi mọi chỗ vừa giải thích:
– Đồ đạc tuy còn thiếu nhiều nhưng rồi từ từ đâu sẽ vào đấy. Một vài người bạn của em hứa đem lại cái bàn ăn, bộ salon, cái tủ đựng quần áo, chắc họ chưa có thì giờ chở tới. Để em sẽ nhắc họ. Anh chị thì  ngủ trong căn phòng có buồng tắm riêng biệt này. Mỹ nó gọi là master bedroom. Còn cháu Trang thì giữ căn phòng bên. Cháu Toản ngủ tạm ngoài phòng khách, là con trai cũng không hề gì.
Trang nhanh nhảu:
– Cháu chia chung phòng với em cháu được rồi.
Chú Tài chặn ngay:
– Không được. Ở Mỹ, con trai, con  gái lớn dù là anh em ruột cũng không thể ở  chung phòng. Ấy, cái xứ  này nó kỳ cục như  vậy đấy, nhưng nhập gia tùy tục cháu à.

Lục đục kê dọn đến chiều tối thì mọi sự kể như đã yên ổn, mặc dù nhà cửa trông vẫn còn tuênh toang. Phòng khách trống trơn không có lấy một cái  ghế ngồi. Bữa cơm chiều, mấy bố  mẹ con trải giấy xuống thảm, ngồi xổm ăn uống với nhau. Được cái nồi niêu bát đĩa thì khá đầy đủ. Điều quan trọng nhất là vấn đề  tiền bạc thì chú Tài đã nói rành rẽ:
– Gia  đình anh chị được trợ cấp trong vòng 8 tháng. Trừ tiền thuê nhà, còn dư được sáu trăm. Nhà  em sẽ giữ lại ba trăm để mỗi tuần đưa chị đi chợ một lần. Còn ba trăm là tiền cả nhà chi dụng trong mỗi tháng, bao gồm tiền tiêu vặt, tiền  xe buýt di chuyển, tiền sách vở của các cháu và tiền điện thoại tối thiểu.
Bà Bửu nghe thấy đã kêu lên:
– Thôi, xài điện thoại làm chi cho tốn tiền.
Chú Tài đã giải thích:
– Rồi chị sẽ thấy ở đây mà  không có điện thoại thì sẽ chẳng khác gì giam  mình trong ốc đảo. Ngay như chúng em là chỗ thân cận nhất, nhà  lại ở xa đây, đâu có thể mỗi chốc chạy qua hỏi thăm nhau được. Do đó, cần có cái điện thoại để liên lạc. Mà cũng không tốn kém gì ghê gớm lắm đâu, vài chục bạc là cùng, miễn là anh chị đừng gọi điện thoại viễn liên. Tuyệt đối dặn các cháu cũng đừng gọi đi xa. Thời gian đầu ở Mỹ, phải hết sức dè dặt trong vấn đề chi tiêu mới được. Rồi chú ấy còn dặn thêm, mặc dù đã nói nhiều lần:
– Anh chị và các cháu có tám tháng lo sắp xếp, ổn định để tự túc. Cho nên phải cấp tốc học Anh văn và nhận lãnh bất cứ công việc gì, với bất cứ giá nào. Việc chọn lựa những cái mình thích hãy gác qua một bên để chờ sau này ổn định vững chắc cái đã.
Ông Bửu cố nén băn khoăn, lo lắng, chỉ thở dài:
– Thôi thì lúc đầu, mọi sự trông cậy vào chú tất cả…
Nói xong ông thấy chua xót trong  lòng. Ông tự hỏi tại sao ông đã phải dùng lời lẽ khách sáo đó với chính thằng em ruột của mình. Điều gì đã xẩy ra trong một ngày ngắn ngủi thúc đẩy ông làm việc đó? Ông không thể trả lời một cách rõ rệt, nhưng sự băn khoăn hiện ra trên nét mặt của ông đã bị bà Bửu bắt gặp. Bà khẽ nắm lấy tay ông rồi xiết chặt. Vậy là bà  cũng cùng chia xẻ với ông cái tâm trạng bất ổn mà ông vừa trải qua. Đó là cái nhậy cảm tuyệt vời của người bạn đường đã cùng ông trải qua biết bao nhiêu là cơn sóng gió của đời sống.

Tối hôm đó, lần đầu tiên hai ông bà ngủ qua đêm trên đất Mỹ, trong căn phòng mà chú Tài gọi là master bedroom, với hai cái túi ngủ do thím Tài cho mượn. Trong bóng tối mênh mông, cả hai đều thao thức nhưng chẳng ai  nói với ai một câu nào. Ở phòng bên cạnh, cái Trang còn thức hay ngủ,  còn thằng Toản đang làm gì ngoài phòng khách cũng chẳng thể  ai biết. Căn nhà tuy chẳng rộng rãi gì nhưng sao khoảng cách giữa người này với người kia hầu như quá lớn, quá sự tưởng tượng mà ông Bửu có thể hình dung ra được. Hồi còn ở nhà, đang trong giai đoạn sửa soạn ra đi, chú Tài luôn luôn viết thư về nhắc nhở:
– Đừng có ảo tưởng gì hết nhớ! Anh chị cứ nên nhớ rằng đời sống ở Mỹ cũng đầy rẫy những khó khăn.
Sự cẩn thận của chú chỉ khiến cho ông Bửu bật cười:
– Có ai mang ảo  tưởng gì đâu mà chú ấy khéo lo. Còn sự khó khăn thì có  nơi nào khó khăn bằng hoàn cảnh mà mình hiện đang sống đâu.
Bây giờ thì ông Bửu bắt đầu thấm thía về những lời dặn dò của chú. Sự khó khăn mà ông nhận diện được lần đầu tiên, ở đây, không phải vì  nhà cửa tuênh toang,  đồ đạc còn trống vắng, cũng không phải vì ông đã loay hoay xoay  trở nhiều lần trong cái túi ngủ mà vẫn còn thao thức, nhưng chính  là ở cái khoảng cách giữa người này với người kia, giữa ông với chú Tài, giữa ông với hai đứa con ruột thịt mà  hình ảnh của chúng đang chập  chờn lẩn khuất đâu đó trong bóng tối mênh mông của đêm dài đầu tiên trên đất Mỹ.

***

Những ngày hôm  sau, chú Tài vẫn lui tới  một cách sốt sắng. Điều này khiến ông Bửu cảm thấy vui vẻ hơn mặc dầu trong lòng ông còn đôi chút lấn cấn vì thiếu sự vồn vã của người em dâu. Cả gia đình ông đã theo chú đi làm các thủ tục giấy tờ, đi khám sức khoẻ tổng quát và thăm thú một vài khu chợ Việt Nam đông đúc, phồn thịnh.
Một hôm cuối tuần, chú Tài nói nho nhỏ, riêng với ông Bửu:
– Em sẽ đưa anh chị và các cháu  tới một ngôi nhà thờ Tin Lành. Ông mục sư ở đây hứa tặng gia đình anh chị quần áo mùa đông và các đồ đạc gia dụng khác. Vậy ông nói gì mặc ổng, miễn mình có đồ xài. Ông Bửu nghe rồi, hơi nhăn mặt lại:
– Mà ông ấy sẽ nói gì chứ?
Chú Tài cười xuề xòa:
– Ồ! Truyền đạo vớ vỉn thôi. Ăn thua ở mình, mình không tin thì thôi chứ ai bắt buộc. Xứ này là xứ tự do mà.
Ông Bửu miễn cưỡng nhận lời, không phải vì những bộ quần áo mùa đông được hứa hẹn nhưng nể lời đề nghị của chú ấy. Từ chối sợ làm chú phật lòng.

Cuộc gặp gỡ đã diễn ra không có gì lấy làm ngột ngạt cho lắm. Cũng là bởi ông mục sư Thành là người sốt sắng, vồn vã, và có lòng chân tình muốn trợ giúp cho những gia  đình mới tới. Tuy nhiên, ông ta cũng không thể bỏ qua nhiệm vụ chính yếu của mình. Sau khi thuyết giảng rất lâu về vấn đề tôn giáo, ông đã ấn vào tay của Trang và Toản một chồng lẫn lộn cả sách kinh lẫn tài liệu. Rồi ông nói:
– Các cháu đem về đọc kỹ đi để biết thêm về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và công việc cứu chuộc của ngài. Nhờ ngài mà chúng ta mới được cứu rỗi. Kỳ sau gặp nhau ta sẽ trao đổi thêm về đức tin Thiên Chúa.
Trong lúc thằng Toản còn ngần  ngừ thì Trang đã  rụt tay lại, và nói:
– Thưa mục sư, gia đình cháu theo đạo Phật.
Ông mục sư hơi khựng lại, mặt ông thoáng một vẻ bối rối, nhưng ông trấn tĩnh được rất nhanh. Ông nở một nụ cười đầy vẻ thân ái:
– Thì đâu có sao. Đây là vấn đề tìm hiểu mà.
Bầu không khí đột nhiên có vẻ bắt đầu găng lên, và điều này đã khiến  chú Tài phải chen  vào cuộc. Chú tưởng rằng chỉ cần dặn riêng ông anh là đủ, nhưng chú không ngờ phản ứng ương ngạnh của đứa cháu gái mà trước đây, chú vẫn mang định kiến là nó còn nhỏ nhít, không cần đếm xỉa đến làm gì. Chú đã vội đưa tay ra đón lấy chồng sách của mục sư Thành và nói lấp liếm:
– Mục sư nói phải đấy cháu ạ. Đã sang đến đây thì chuyện gì cũng phải tìm hiểu, chuyện gì cũng phải mở mắt, vểnh tai lên. Có thế thì mới hội nhập vào cái xứ này được.
Tất cả  mọi người đều không  ngờ được rằng, cái  Trang đã trả lời chú một cách rất đĩnh đạc, cái giọng rành rọt, sắc sảo của nó như đượm một vẻ gì khinh miệt ông chú mà nó tích lũy từ bao lâu, bây giờ mới có dịp phát ra:
– Thưa chú hội nhập không có nghĩa là phải đổi đạo, là bán linh hồn. Nếu chú nghĩ rằng có thể mua được linh hồn của chúng cháu, có thể bắt chúng cháu phải bỏ đạo bằng mấy thứ quần áo cũ này thì thật là một giá quá rẻ.
Mặt chú Tài sạm đi thấy rõ. Chú nhìn con bé một cách sững sờ như không thể tưởng tượng rằng nó đang là đứa cháu ruột của mình. Phải lặng đi rất lâu rồi chú mới buông được một câu:
– Con bé này ăn phải đũa Việt cộng mất rồi.

Trên đường  về, chú Tài không che dấu cơn giận dữ của mình. Chú vùng vằng trong lúc lái xe, mặt chú đỏ gay lên không thấy giảm xuống chút  nào, còn đôi mắt của chú thì long lanh một cách dữ tợn. Qua kính chiếu hậu, chú nhìn một cách căm ghét khuôn mặt chai lì, lạnh lẽo của con bé mười sáu tuổi đang ngồi ngậm câm bên cạnh khuôn mặt đầy ẩn nhẫn chịu  đựng của ông bố. Suốt từ lúc xẩy ra câu chuyện, ông Bửu chưa lên tiếng một lời nào.  Điều này cũng  khiến cho chú  Tài bực bội  thêm. Chú tự nghĩ con cái thì  phải dậy dỗ chúng nó chứ, đâu  có thể để cho tự do ngang ngược, luông tuồng như vậy được.
Chiều hôm ấy, lúc chú Tài đã ra về rồi, ông Bửu thấy cái Trang đang ngồi khóc ở trên một cái ghế gỗ kê bên cạnh cửa sổ. Ông xót xa cảm thông những  ý nghĩ tức tưởi của nó sau câu chuyện đã xẩy ra. Ông tiến lại, khẽ vuốt tóc nó và thầm thì:
– Thôi đừng buồn. Bố hiểu, nhưng nhập gia phải tùy tục con ạ.
Cái Trang  không đáp lại lời ông, nhưng có vẻ nó cố nén lại để khỏi khóc to hơn. Có lẽ đây là lần đầu tiên kể từ khi đặt chân lên xứ Mỹ, ông Bửu cảm thấy quyết định ra đi của mình là sai lầm. Phải chi như ngày xưa, khi còn tuổi trẻ và sức lực, thì sự sai lầm nào cũng có thể sửa chữa được. Nhưng giờ đây nơi xứ sở xa lạ đầy bất trắc này, ông thấy rõ bất lực yếu kém của mình. Ông chỉ còn tự an ủi mình bằng một câu, thôi thì định mệnh đã an bài, biết làm sao.

Một lát sau, cái Trang đã nín khóc. Nó vừa vuốt lại mái tóc, vừa ngồi lên ngay ngắn. Rồi nó cất tiếng, cái giọng nghe vừa quả quyết, vừa đĩnh đạc như thể nó tin tưởng tuyệt đối vào những lời lẽ nó đang nói ra:
– Bố ạ, bằng  mọi cách mình phải thoát ra khỏi chỗ này thôi. Con không còn thể chịu đựng được hơn nữa những thái độ của chú Tài. Qua cái nhìn của chú ấy  mà con thấy ở trong kính xe, con thấy rõ chú ấy đã nghĩ gì.
Ông Bửu cố tìm lời an ủi:
– Cũng phải từ từ  con ạ. Mình mới tới, chú ấy lại hết lòng giúp đỡ mình, bỏ đi ngay sao tiện.
Giọng cái Trang đột nhiên gầm lên:
– Chú ấy hết lòng ở chỗ nào? Bố thử nghĩ coi, bố có thể đón tiếp một người thân ruột thịt bằng những ngày đầu tiên nằm lăn lóc trên mặt thảm mà không có tấm ván kê lưng không. Một cái bàn ngồi ăn cơm không có.  Nhìn bố mẹ ngồi xổm xuống đất bưng bát cơm lên ăn, con chịu không nổi. Mỗi đêm trằn trọc trong túi ngủ, nghĩ đến bố mẹ cũng cùng một cái cảnh ấy, con thấy rõ chú ấy hết lòng với gia đình  mình tới mức độ nào. Rồi  bố sẽ thấy, trong vòng tám tháng nữa khi hết tiền  trợ cấp, chú  thím ấy sẽ  có thái độ thế nào.

Ông Bửu cau mặt lại. Ông cảm thấy tình ruột thịt bị thương tổn mặc dù nhận xét của con bé không sai. Ông cố vớt vát:
– Thì chú thím ấy cũng lo cho tương lai của mình đấy chứ. Mấy tuần nay, lúc  nào chú ấy chẳng đôn đáo đi lo cho mình công việc…
Cái Trang mỉm một nụ cười chua chát:
– Điều đó dĩ nhiên. Để cho mình khỏi phiền lụy khi hết còn trợ cấp. Mà bố có thấy không, ngoài việc đi xin chỗ này chỗ kia đồ đạc vật dụng dư thừa, chú ấy có chi một đồng xu teng nào cho mình ngoài số tiền chính phủ trợ cấp đâu.
Ông Bửu đuối lý nhưng cố gạt đi:
– Thôi đừng có suy diễn, nghĩ ngợi xa xôi làm phụ lòng chú thím ấy đi.
Nói rồi ông định đứng dậy bỏ  đi. Lúc ông ngẩng đầu lên, ông chợt bắt gặp đôi mắt buồn bã của bà Bửu đang nhìn ông thăm thẳm. Ông bối rối  quay đi. Lòng ông trĩu nặng những tâm tình ngổn ngang. Vừa buồn vừa lo.  Ông thấy rõ cái thời hạn tám tháng trợ cấp như một bức tường thành sừng sững trước mặt. Làm sao ông có thể vượt qua… Ông không thấy một tia sáng  hy vọng nào khi đối chiếu với hoàn cảnh hiện tại của mình. Như một con thú bị dồn tới chỗ đường cùng, mọi khả năng vùng vẫy của ông hầu như bị tê liệt.

Ngày hôm sau, chú Tài trở lại với nụ cười hớn hở trên môi. Chú ấy nói ngay từ khi mới bước vào nhà:
– Có việc cho lũ nhỏ rồi đây.
Ông bà Bửu cùng mừng rỡ:
– Ô! Thế à! Trời ơi, may mắn quá.
Như sợ sự vui mừng của anh chị mình bừng lên quá lố, chú Tài vội nói thêm:
– Việc tạm thời thôi, chứ không lâu dài gì, nhưng rất nhẹ nhàng, đủ kiếm thêm tiền mua sách vở.
Rồi chú ấy giải thích rằng có một cơ sở mà chú ấy quen biết, trong vài  ngày nữa, sẽ  tưng bừng khai trương. Thằng Toản, cái Trang chỉ việc bận  một bộ đồ đặc biệt, một đứa làm gấu, một đứa làm thỏ đứng ở ngay trước cửa công ty, giơ cao tấm biển: NGÀY KHAI TRƯƠNG, thế  là có bốn đô la  cho mỗi đứa một giờ. Đứng tám giờ kiếm được hơn ba chục đồng. Không phải là ít!
Vẻ mặt  đang tươi rói của ông Bửu  bỗng nhiên sịu đi. Ông mường tượng ngay ra cái tình thế khó khăn khi cả hai đứa con của ông không chịu nhận  cái loại công việc hết sức kỳ cục đối với chúng nó như thế. Tuy nhiên, để khỏi phụ lòng chú em của mình, ông vội vã chặn ngay, không để cho chú ấy tiếp xúc trực tiếp với hai đứa.
Ông nói:
– Vậy thì tốt quá. Chú để tôi nói lại với chúng nó. Mà bao giờ thì làm, ở đâu.
Chú Tài vui vẻ:
– Rất gần chỗ này thôi. Chỉ một chặng xe buýt là tới. Đây này, em đã viết  sẵn thư giới thiệu và ghi rõ địa chỉ, ngày giờ cần có mặt. Các  cháu chỉ nói tên chú Tài giới thiệu là ở đó họ biết ngay.
Chú Tài lấy trong túi ra một bao thư trao cho anh mình rồi vội vã đi ngay. Chú nói còn rất nhiều công việc phải giải quyết.

Khi chú đi khỏi rồi, thằng Toản, cái Trang ở trong phòng bước ra, mặt nhăn nhó, như chúng đã nghe thấy toàn bộ câu chuyện. Toản nói:
- Bốn đồng chứ bốn mươi đồng con cũng không làm đâu. Công việc gì kỳ cục như một thằng hề.
Ông Bửu cãi lại:
– Mày đâu có phải chường mặt ra mà sợ. Cả cái bộ đồ thú chùm kín mít từ đầu đến chân rồi còn gì.
Toản phụng phịu:
– Nhưng vẫn là xấu hổ. Xấu hổ với chính mình.
Ông Bửu  quay sang nhìn cái Trang. Vẻ mặt lạnh lùng, trơ như đá của nó làm ông thất vọng. Ông  biết là mình không thể thuyết phục được gì ở nơi chúng nó. Ông thở dài, nhún vai:
– Thôi được. Không muốn làm thì thôi, mình đâu đã chết đói mà sợ.

Tối hôm đó, nằm trong hai cái túi ngủ đặt sát cạnh nhau, ông bà Bửu đã sầm sì trao đổi. Cả hai đi đến quyết định là cùng thay thế hai đứa nhỏ  để vẫn giữ được công việc do chú Tài giới thiệu. Ở đời, chỉ có người xấu chứ không có nghề xấu. Đồng tiền kiếm ra từ sự lương thiện đều là quý giá cả. Nghĩ đến cái giây phút người vợ nhỏ bé của  mình phải chui vào bộ đồ thú hình con thỏ, lòng ông Bửu đau như xát muối. Ông thò tay qua nắm lấy bàn tay nhỏ bé của bà, nước mắt tự nhiên trào ra. Bà cũng nắm chặt lấy tay ông như một sự chia xẻ như suốt bao nhiêu năm ròng rã trong cuộc đời nổi trôi bà cũng đã từng chia xẻ với ông mọi nỗi thăng trầm trong bất cứ hoàn cảnh nào. Giọng của ông như nghẹn lại. Ông thì thào:
– Anh cám ơn em. Có em, anh sẽ vượt qua được mọi thứ khó khăn trên đời này.
Bàn tay của bà nắm lấy tay ông chặt hơn. Điều này rất mau chóng đem lại cho ông sự bình an trong tâm hồn. Đêm hôm ấy, ông đã trải qua một giấc ngủ dài, bình an, không mộng mị.

***

Cái ngày khai trương ấy, nơi cửa xí nghiệp buôn bán đồ gỗ Đông Phương mà hầu hết là nhập cảng từ Hồng Kông hay Đài Loan, có hai con thú nhởn nhơ qua lại, trên tay cầm tấm bảng một tiếng Anh, một tiếng Việt: GRAND OPENING, ĐẠI KHAI TRƯƠNG. Một con là thỏ. Một con là gấu. Con thỏ cố làm  ra vẻ nhanh nhẹn của dáng thỏ. Nó nhẩy tới, nhẩy  lui. Tạt sang trái. Tạt sang phải. Có lúc nó sán lại gần con gấu, cái đầu gật gù thân thiện. Con  gấu có vóc dáng nặng nề, chậm chạp hơn. Nó không phản ứng gì khi thấy con thỏ dụi cái đầu  vào vai nó. Cái miệng nó trễ xuống. Hai hàm răng trắng nhởn nhe ra như đang cười. Nhưng ở đằng sau cái vỏ lông lá sù sì ấy, là cả khuôn mặt của ông Bửu đang ròng ròng  nước mắt. Ông thương người vợ thân yêu của ông  đến cùng độ. Cái dáng nhẩy chân sáo của người làm thỏ gợi cho ông hình ảnh nhanh nhẹn, vui vẻ của bà hồi hai  người chưa cưới nhau. Rồi ông đã đưa bà đi qua khắp mọi hoàn cảnh nổi trôi  trong đời sống. Chưa bao giờ bà có lại dáng điệu nhanh nhẹn, tươi vui như  đôi chân nhẩy nhót của bà bây giờ. Đôi chân bờm sờm những đám lông dựng lên, và xỏ vào đôi giầy có mũi dài quá khổ ở đầu mút có những cái móng cong lên, sơn đỏ loét.
Những giờ dài dằng dặc qua đi trong đám đông người tấp nập lui tới. Cả hai ông  bà cùng thấy rõ từng vẻ mặt, từng ánh mắt, từng nụ cười của mỗi con người qua lại. Tuy nhiên, ở phía thật xa, núp sau một lùm cây tỏa bóng um tùm, ông bà không thể nhìn thấy đứa con gái của mình đang ngồi gục xuống nệm cỏ, khóc nức nở, có lúc ngất đi từng cơn.

Chiều tối hôm ấy, lúc trở về nhà, cái Trang đã chạy đến ôm chầm lấy bố mẹ, quỳ xuống chân và nói tức tưởi:
– Con xin lỗi bố mẹ…
Cô bé định nói gì thêm nữa nhưng tiếng nấc nghẹn không cất được lên thành lời. Ông Bửu vội vàng nâng  con gái dậy, giơ bàn tay khẳng khiu lên vuốt những sợi tóc ướt mèm nước mắt của nó và nói giọng đầy cảm xúc:
– Không có gì đâu… Không có gì đâu… Công việc… nhàn mà!
Bà Bửu cũng chen vào đôi lời an ủi:
– Nghĩ cho cùng thì để bố mẹ đi thay cho các con là phải. Ở tuổi các con, bố mẹ không muốn làm các con nẩy nở lòng tự ti mặc cảm. Các con sẽ tìm được những công việc xứng đáng hơn nhiều.
Cái Trang xà sang phía mẹ, ôm chặt lấy bà và nói qua đôi vai còm cõi của bà:
– Không đâu mẹ ạ. Bố mẹ đã dậy cho con một bài học rất sâu xa. Bây giờ thì con nhận ra rằng dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù đen tối đến đâu thì mình cũng phải biết đứng dậy. Lạc quan mà đứng dậy.

Vẻ mặt của bà Bửu rạng rỡ hẳn lên. Lòng bà tự nhiên nhẹ tênh như trong khoảnh khắc, mọi nỗi u ám  nặng nề đang đè chĩu lên lòng bà tan biến đi rất nhanh. Chưa bao giờ bà thấy được một sự trả công cho tám giờ lao động chân tay lại quý giá và lớn lao như lần này. Bà quay  sang phía chồng và nhìn ông với ánh mắt như muốn được chia xẻ nỗi vui mừng. Ông Bửu cảm nhận được ngay những ý nghĩ trong đầu của bà. Ông nói:
– Vậy là con đã biết suy nghĩ rồi đấy. Bố mẹ tin rằng với cái quan niệm mà con vừa nói ra đó, con sẽ đứng dậy vững vàng ở vùng đất xa lạ này.
Rồi bỗng ông chợt hỏi:
– Thế còn thằng Toản đâu?
Trang đáp:
– Chắc nó đang ở trong phòng. Sáng nay, nó bị chú Tài mắng mỏ dữ dội.
Ông Bửu nhăn mặt:
– Chú ấy mắng nó làm gì. Nó còn con nít, không muốn đi thì thôi, bố mẹ làm thay cũng được rồi.
Trang tiếp:
– Không chỉ riêng chuyện đó đâu, bố ạ. Chú ấy tức giận vì nó lại từ chối chú ấy một công việc khác.
Ông Bửu ngạc nhiên:
– Ủa! Còn việc gì nữa đây.
Trang giải thích:
– Tại vì chủ nhật này, cộng đồng Việt Nam ở đây tổ chức biểu tình chống việc bỏ cấm vận. Chú ấy bảo nó đi cầm biểu ngữ, tham gia biểu tình cho nó đông đảo.
Mặt ông Bửu tự nhiên biến sắc ngay đi, ông nói giọng như quát:
– Cái nhà chú này như thế là quá quắt lắm rồi. Tại sao lại lôi kéo con nít vào những chuyện như thế.
Bà Bửu cũng xen vào, giọng bất mãn:
– Để  rồi phải  giải thích cho chú ấy hiểu. Nhà mình tuyệt đối không nhồi nhét cho bọn trẻ những tư tưởng chính trị. Chúng nó chẳng có lý do gì phải chia  xẻ những cái mất mát, thua thiệt của thế hệ đi trước. Với lại, chú ấy đâu có hiểu rằng chống việc bỏ cấm vận là ngược với ý muốn của mọi người ở nhà.

Nói rồi bà buồn bã ra ngồi phệt xuống một góc phòng. Sau một hồi lâu, suy nghĩ rất lung, bà đứng dậy, nói với mọi người:
– Thôi để tôi sẽ đi cầm biển cho cuộc biểu tình. Kẻo chú ấy lại nói, cứ có tiền thì mới thò mặt vô, còn những việc đấu tranh, tự nguyện thì cả nhà đều trốn tránh. Bất tiện!
Vừa nghe dứt lời, ông Bửu quay phắt ngay lại, ngó bà chăm chăm:
– Bà có cái ý kiến kiểu gì mà kỳ cục như thế. Bộ cứ sợ làm chú ấy mất lòng là mình  phải làm tất cả mọi điều chiều theo chú ấy hay sao.
Ông chợt nhớ  tới lời cái Trang đã nói chú trước mặt ông mục sư Thành hôm nào:
– Nếu chú nghĩ rằng có thể mua được linh hồn của chúng cháu bằng mấy thứ quần áo cũ này thì thật là một giá quá rẻ.
Trong thâm tâm, ông vẫn thầm kiêu hãnh về sự suy nghĩ trưởng thành của đứa con gái của mình, nhưng ông không khỏi bận tâm về lời nói sau đó của chú Tài để trả lời cho cái luận điệu cứng đầu của nó:
– Con bé này ăn phải đũa Việt cộng mất rồi.

Ông chợt nhớ tới hoàn cảnh sinh hoạt chính trị của những người Việt ở hải ngoại mà ông đã loáng thoáng nghe được ngay từ hồi còn ở quê nhà. Hầu như ai cũng cho là mình đang ôm được chính nghĩa, và người ta sẵn sàng chụp lên đầu kẻ khác cái mũ cộng sản nếu cả gan nói lên những điều khác biệt với chính kiến của mình. Phản ứng mau chóng của chú Tài hôm ấy  là một chứng minh cụ thể cho những điều mà trước đây ông chỉ được nghe kể lại. Bất giác ông bật lên cười khi nghĩ rằng ngay cả ông, người đã lăn lộn trong nhà tù cải tạo suốt bao nhiêu năm trời có thể cũng dám bị chú ấy cho là ăn phải đũa cộng sản khi từ chối đi biểu tình chống việc bỏ cấm vận. Tiếng cười cùng cục, khô khan của ông bật ra một âm ngắn gọn  rồi tắt ngóm trong sự ngơ ngác của mọi người. Bà Bửu nhìn ông như dò hỏi. Ông phải nói lảng đi:
– Tôi bật cười khi nghĩ đến hình ảnh của bà tay cầm cái biểu ngữ đi tới đi lui hò hét trong đám đông người…
Bà Bửu như vui lây cái vui của chồng, trong lòng bà nhen nhúm một sự vui mừng khi nghĩ tới cơn căng thẳng trong gia đình đã bắt đầu trôi qua. Bà cũng mỉm cười đáp lại:
– Nhưng đâu có tức cười bằng cái hình ảnh tôi bận bộ đồ thú đi tới đi lui nhẩy nhót suốt một ngày, trước mọi người qua lại.
Ông Bửu lắc đầu:
– Cái hình ảnh đó chỉ chua xót thôi  mà không ai có thể cất lên tiếng cười. Còn  đằng này, trong suốt cuộc đời của bà, bà chưa bao giờ quan tâm hay dính líu tới chuyện chính trị, thế mà nay phải chường mặt ra, hò hét với cái biểu ngữ trên tay. Bà không thấy đó là chuyện đáng tức cười hay sao.
Rồi ông đổi sang giọng quả quyết:
– Để rồi tôi sẽ nói với chú ấy. Mình dứt khoát không thể làm những chuyện ruồi bu, trái với nguyện vọng của bà con, bạn bè, đồng bào mà mình đã thấy rõ khi còn ở quê nhà. Cái Trang hôm nọ đã nói đúng, mình đâu có phải là loại người chịu bán rẻ linh hồn chỉ vì miếng cơm, manh áo.

Buổi tối hôm sau, quả nhiên có một cuộc cãi vã tay đôi xẩy ra giữa hai anh em xoay quanh đề tài bỏ hay không bỏ chuyện cấm vận. Mặt chú Tài cứ mỗi lúc một đỏ gay lên. Vào cái lúc cả hai gần như đã trình bầy hết nhẽ của mình, chú đã phải thốt lên một câu:
– Em lấy làm lạ là anh chị đã  chấp nhận Cộng sản đến thế sao còn sang đây làm gì.
Ông Bửu không nén được cơn giận, đã quát lên:
– Tôi cấm chú được nói với tôi những lời lẽ như thế. Chú đã bỏ chạy ngay từ năm bẩy lăm, cuộc đời của chú sau đó không kinh qua lấy một ngày được nhìn vào thực trạng của quê hương, không có lấy một phút chia xẻ với những nỗi khó khăn, nhục nhằn của bà con, anh em, bạn bè nơi quê nhà, do  đó chú không có quyền phán xét người khác.
Lần đầu tiên chú Tài đứng dậy bỏ ra về mà không có một lời chào từ biệt. Vấn đề chính kiến quả là một chuyện nguy hiểm. Nó có thể là mầm  mống chia rẽ, ngăn cách ngay cả đối với những người có cùng máu mủ ruột  thịt. Căn bệnh này hẳn sẽ còn tác hại rất lâu, ít ra là một thế hệ nữa. Bọn trẻ sau này lớn lên, không phải chịu áp lực nặng nề  nào của quá khứ, hy vọng sẽ nhìn nhau bằng những cặp mắt cảm thông và cởi mở một cách dễ dàng hơn.

Một tuần lễ sau, chú Tài cũng không thấy quay trở lại. Vào một buổi sáng, như thường lệ trong lúc cả nhà quây quần quanh nồi cơm nếp do bà Bửu nấu thay cho bữa sáng, ông Bửu vừa bưng bát cơm lên, vừa tần ngần:
– Rồi đây, mình sẽ chẳng trông được vào ai đâu. Hết hạn tám tháng trợ cấp là phải tự lực cánh sinh đấy.
Cái Trang nhìn cái dáng gầy gò của bố ngồi xổm trên thảm tay cầm bát cơm nếp mà lòng đầy thương cảm xót xa. Sự  xót xa không phải vì hoàn cảnh thiếu thốn bây giờ mà ông đang phải trải qua, nhưng mà ở cái vẻ ẩn nhẫn, kiên trì biểu hiện trên từng nếp nhăn trên vầng trán hay những cái chớp  chớp liên tục trên đôi mắt đã ngả màu đục lờ của ông. Tự dưng Trang nghẹn ngào muốn rơi lệ. Cô bé nhìn ông qua ánh mắt nhạt nhòa, rồi chợt lên tiếng hỏi:
– Bố ơi…  bố có lấy làm  tiếc rằng mình đã  quyết định nhận lời chú Tài bảo lãnh qua đây không?
Ông Bửu đang nhai nhỏ nhẹ miếng xôi trong miệng, bỗng ngừng lại. Ông quay sang nhìn đứa con gái với một vẻ hơi sửng sốt, rồi như nhận ra được tầm mức đáng kể trong câu hỏi mà nó vừa đặt ra, ông vội buông cái  bát xuống mặt thảm và đổi lại thế ngồi. Trầm ngâm một giây lâu sau, ông mới chậm rãi:
– Các con ạ…. Rời bỏ quê hương mà đi là chuyện đau lòng. Đâu có phải chỉ  là chuyện ham hố trong một chuyến đi du lịch hào hứng nhất thời. Đối  với hoàn cảnh của  bố, đó là chuyện chẳng đặng đừng. Bố đã chọn lựa và bố không bao giờ hối tiếc riêng cho mình. Nhưng điều quan trọng là bố  đã lôi các con vào trong công cuộc giải quyết cuộc đời của bố. Đây mới là điều trọng đại cần nói ra. Xứ sở này đầy dẫy những cám dỗ rất dễ làm cho tuổi trẻ sơ sẩy. Bố sẽ vô cùng hối tiếc nếu các con tự ý xô đẩy mình  rơi vào những cái sơ sẩy đó. Nhà trường của Mỹ đã có vô số tuổi trẻ Việt Nam tốt nghiệp, nhưng trong nhà tù Mỹ cũng có không thiếu tuổi trẻ Việt Nam. Cho nên câu trả lời là tùy thuộc ở chính các con mà thôi.

Nói xong ông từ từ đứng dậy. Ông chậm rãi tiến ra phía cửa sổ và đứng lặng rất lâu nhìn ra bầu trời trong xanh, quang đãng trước mặt. Ông  chợt nhớ đến khoảng trời xanh mà ông đã nhìn thấy nó xuyên qua những  vòng rào kẽm gai. Trước đây, ông mơ ước nó. Bây giờ ông có cảm giác như đã hòa được ở trong nó. Cuộc đời ông quả là đã trải qua biết bao nhiêu tang thương, biến đổi, và cho đến bây giờ, gần cuối cuộc đời, ông cũng vẫn chưa tìm được một chỗ trú chân ổn định. Những ý nghĩ đó khiến cho ông như già thêm đi trong bóng dáng nhỏ bé, còm cõi của ông in rõ trên khung trời xanh thẳm ngoài cửa sổ.
Cái Trang như cảm nhận được hết nỗi lòng của ông và nó chợt thấy mình dâng lên một niềm xót xa khôn tả. Nó cũng đứng  dậy, tiến lại  phía sau  ông, giơ cả hai cánh tay ôm choàng lấy thân hình nhỏ bé của ông. Rồi nó thì thào:
- Bố cứ yên tâm về phía chúng con. Chúng con sẽ cố gắng để không bao giờ làm cho bố bị hối tiếc cả. Chỉ riêng có điều vì hoàn cảnh của mình hiện tại nó khó khăn cực nhọc quá nên con băn khoăn cho bố thôi.

Ông Bửu giơ bàn tay khẳng khiu ra vuốt nhè nhẹ lên mái tóc óng ả, mượt mà của con gái. Rồi ông nói:
– Đấy là con đường mà ai cũng phải đi qua, một cái giá tối thiểu mà mình phải trả cho sự đã chọn lựa. Bố thấy được như vầy cũng là may mắn lắm rồi. Còn sự đứng vững được hay không là hoàn toàn là tùy thuộc ở chính nơi mình, con ạ.
Trang ghì chặt lấy bố lòng tràn đầy một sự cảm thông và cất giọng quả quyết:        
– Bố đừng có lo. Cả nhà mình cứ lăn lưng ra làm thì đâu có sợ. Bữa hôm trước, bố mẹ đội lốt thú ra đứng đầu đường đã dậy cho con thấy  từ nay  chẳng việc gì lương thiện mà con không làm được cả….
Ông Bửu chợt  rơm rớm nước mắt, ông  nắm lấy hai bàn tay của con gái rồi nghẹn ngào:
– Các con nhận ra được điều đó thì thật theo bố nghĩ chẳng có cái thù lao nào mà lại quý giá đến thế so với công việc nhỏ mọn mà bố mẹ đã làm.
Thấy bố con  bịn rịn lo lắng về  vấn đề công ăn việc làm, bà Bửu cũng cất lời an ủi:
– Trời sinh voi sinh cỏ mà ông. Hồi mấy năm trước, chật vật vất vả còn gấp trăm lần thế mà rồi nhà mình cũng qua được nữa là. Dạo ấy, tôi với chị Ba nhiều lúc quẫn quá tưởng đã phải buông xuôi rồi, vậy mà cũng qua.
Tần ngần giây lát, bà nói tiếp:
– Ờ, nhân nhắc đến chị Ba, tôi nhớ tháng này là tháng chị ấy sinh nở đây này. Tội nghiệp, chẳng biết chị ấy sẽ xoay sở ra sao trong lúc nách lại  một đàn con nhỏ thế này. Cho nên tôi đề nghị với ông món tiền mấy chục kiếm được bữa nọ, ta mua gói quà gửi về cho chị ấy bù đắp thêm vào chi phí sinh nở, ông nghĩ sao.
Ông Bửu gật đầu:
– Bà tính thế cũng phải. Tôi chỉ e gửi về ít ỏi quá, ở nhà lại dè bỉu, chê  trách là đã đi Mỹ mà bần tiện gửi về cho có vài chục bạc.
Bà Bửu gạt đi:
– Ôi, ai nói gì thì nói, ăn thua gì, miễn ở tấm lòng của mình ấy chứ.
Riêng cái Trang thì bật lên cười:
– Con nghĩ  món quà của  mẹ rồi sẽ  bị chê, nhưng  ai có thể hiểu rằng nó được kiếm ra từ  những giờ phút do chính mẹ đã mặc bộ đồ thú đi nhảy nhót giữa đám đông người…

Nhật Tiến
Tháng 4/94

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 670
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeSun Dec 13, 2020 9:26 am

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  9k=

NỒI CHÁO THỊT

- Nhật Tiến

Đã có một thời như thế


Lão Quới đứng chết lịm ngay trên nền đất ẩm. Cơn giận kéo đến quá nhanh đến độ lão thấy cổ họng của mình như bị chận ngang tưởng muốn ngộp thở. Đôi mắt của lão nóng lên dần dần.. Lão cảm thấy mạch máu ở hai bên thái dương chảy rậm rật. Trước mắt lão là lớp giậu thưa bị xé toang một mảng. Bên dưới chỗ bị xé toang một mảng là những lốt chân trên nền đất dẫn tới một luống khoai. Luống khoai bị xới tung ngổn ngang như vừa trải qua một cơn tàn phá. Những lá khoai xanh mướt bị vùi giập dưới từng nhát cuốc sâu. Đất ẩm bị bươi nát thành từng cục đè nát gí những cọng rau tươi mơn mởn.
Cả một khu vườn xinh đẹp với những luống khoai thẳng tắp bây giờ bị vẹt đi một mảng trông xấu xí hẳn đi. Lão tiếc cái công trình vun bón, chăm sóc trong bao nhiêu ngày tháng của mình. Lão càng tiếc hơn nữa khi nghĩ tới những củ khoai đỏ au và mập ú đã không cánh mà bay mất sau một đêm sơ hở không canh chừng. Miệng lão bắt đầu làu bàu những tiếng chửi thề mà chỉ mình lão nghe rõ. Rồi lão nhìn ra chung quanh.

Khu nhà tranh lụp xụp của hàng xóm vẫn nằm êm ả trong lớp sương mờ buổi sáng. Vài đợt khói xanh lơ bắt đầu bốc lên từ những căn bếp nhỏ. Một vài tiếng chim hót lảnh lót trong lùm cây gần đó. Có cả tiếng vó ngựa gõ lốc cốc từ xa của mấy cái xe thổ mộ đang trên đường lên chợ.  Khung cảnh vẫn hiền hòa quen thuộc như mọi ngàỵ. Bốn bề chung quanh toàn là bà con, thân hữu, chẳng mặt nào có thể nỡ lòng đang đêm lén vào xới từng vuông khoai của lão lên cả. Như vậy chỉ còn khu xóm hỗn độn ở bên kia đường lộ.
 Đúng hơn là một bãi rác hoang, ở đó là cả một đám đông nghèo nàn, hỗn tạp, sống chui rúc với nhau như những ổ chuột. Hình ảnh thiếu thốn cực nhọc của họ làm cơn giận của lão dịu xuống. Lão nghĩ tới những đứa trẻ xanh xao suốt ngày lảng vảng như những bóng ma gầy ở mấy cái quán nhỏ để tranh nhau liếm láp những cái lá bánh đầy ruồi bâu hoặc húp cho đến những cặn cuối cùng của một bát ăn thừa.
 Đó là sản phẩm mới mọc ra ở khu vực này sau một cơn đổi đời ghê gớm. Đa số những con người vất vưởng này bị lùa ra từ những khu trại gia binh ở gần mé chợ. Những người đi trình diện học tập không hy vọng có ngày trở về. Những người mẹ mỏi mòn trong chờ đợi với một bầy con thơ ốm đau, bệnh tật và no đói thất thường.
 Họ xuất hiện ở đây từ ngày nào chẳng ai rõ, những khu đất trống cứ thấy mọc dần lên những túp lều lụp xụp cất bằng đủ loại thứ vật liệu, những mảnh giấy thùng, mảnh tôn, mảnh ván, những tấm nylon chắp vá đủ loại mầu Và ở đó, những con người chui ra, chui vô, nét đói khổ in hằn lên từng khuôn mặt xanh xao vàng vọt.
 Cơn giận tan trong lòng lão Quới cũng nhanh như lúc nó ùa đến. Trong cơn xuống dốc của toàn thể mọi người, lão cũng mới chỉ từ nồi cơm trắng xuống đến rổ khoai luộc. Rổ khoai cho hai vợ chồng già, đèo đẹt vài củ, nhưng bữa nào lão cũng được ăn no. Thời buổi này dầu là ăn gì, nhưng cứ được no đã là quý. Trọn gần một đời người, lão chưa biết đến mùi đói khổ, tuy nhiên lão đã thấy dấu vết hãi hùng của nó in trên những khuôn mặt trẻ thơ quanh xóm, với lớp da ngả màu xanh mét, những hàm răng nhô ra và những hố mắt sâu như lỗ đáo.
 
Một cơn xúc động chạy qua ý nghĩ của lão, bất giác làm lão buông một tiếng thở dài. Lão trở lại với bộ điệu bình thản mọi ngày. Lão ngồi sụp xuống, chậm rãi quơ từng sợi dây khoai đem xếp gọn ở một góc vườn rồi dùng cây cuốc nhỏ vun lại đám đất vương vãi ở chung quanh. Làm xong ngần ấy công việc thì vợ lão cũng đã giặt giũ xong mớ quần áo ở ngoài giếng nước. Bà lão đem chậu đồ ra phơi ở những sợi dây mắc bên hàng rào. Tiếng động của bà làm lão Quới quay lại. Lão thấy đôi mắt của bà nheo lại dưới những tia nắng đầu tiên trong ngày. Lão nói:
 - Đêm qua có đứa vào nhổ trộm khoai.
Bà lão hơi điếc nên ngẩng lên nhìn. Lão nhắc lại câu nói thêm một lần nữa. Bây giờ thì bà ta kêu lên:
 - Ối chà! Quân bất nhân nào thế?
Giọng lão Quới vẫn tiếp tục nhỏ nhẹ:
 - Chả biết ai, nhưng đói quá đấy thôi
Bà lão trợn mắt:
- Đói thì đói chớ!
Lão nhún vai:
- Thì biết vậy Nhưng... thôi đi! Mình chưa đói mà!
Bà lão nhìn chồng một giây lâu. Bà hơi bực dọc về thái độ bình thản của lão. Rồi bà ngúng nguẩy xách cái chậu đi lên nhà, miệng lầu bầu cái gì nghe không rõ.
 
Tới bữa ăn buổi trưa, bà lão trở lại với nỗi hậm hực của mình:
- Trẻ không tha, già không thương. Hồi xưa đâu có thế.
Lão Quới làm ngơ ngó ra ngoài. Lão nhẩm tính phải một hai tuần nữa vườn khoai mới tới kỳ đem rỡ được. Mối bận tâm của lão là phải làm sao đối phó với mấy tên cán bộ bên Ủy Ban đã lấp lửng đặt vấn đề đòi thu mua. Nhưng bà lão vẫn lôi chồng trở về đề tài câu chuyện của mình:
- Mất mà không la, rồi chúng nó sẽ còn bươi hết cả vườn cho coi.
Lão Quới bực mình trước cơn dai dẳng của vợ. Lão quay đầu lại nhìn bà ta rồi đáp:
- Mất rồi, la ích gì? Mình bị một lần thôi. Lần sau đứa nào rớ vào, bắt được quả tang rồi sẽ biết!
Bà lão nhếch miệng cười mỉa mai:
- Bộ nó rớ vào nó báo cho mà biết chắc?
- Mình dòm chừng chớ! Nếu quen mùi, nó sẽ tới. Tới lần này tui không tha đâu!
Bà lão ngúng nguẩy đứng dậy. Những điều lão nói không làm giảm được sự hậm hực cứ lởn vởn trong đầu óc của bà từ sáng. Nghĩ đến những củ khoai đỏ au, bà tiếc đứt ruột. Bà ra đứng ở đầu hè, bên kia là khu xóm nhỏ. Nắng đã quá đỉnh đầu chiếu lên những tấm mái tôn thành từng mảng trắng xóa. Cũng như lão Quới, bà cũng không thể nghi ngờ được ai ở quanh khu vực toàn người quen biết này. Chợt một ý nghĩ thoáng qua đầu, bà vội quay vào nói to với chồng:
 - Tôi đi trình đây!
 Lão Quới đang lúi húi làm cái gì đó, chợt ngửng phắt lên, giọng xẵng lại:
- Cái gì? Bà nói cái gì?
Mặt bà lão hơi có vẻ ngỡ ngàng trước cơn giận dữ đến với chồng một cách dễ dàng. Bà ta đổi giọng lí nhí:
 - Tôi đi trình...
- Trình cái gì? Trình ai?
- Thì công an nhà nước đó!
Bây giờ thì lão Quới để nổ bùng sự giận dữ của mình. Mắt lão quắc lên.. Lão nói như quát:
- Bà tiếc của rồi đâm khùng rồi đó chắc. Không trình báo gì hết trơn đó. Tôi đã bảo không bao giờ thèm dính dáng tới tụi nó mà.
 - Mà điều, nó phải lo an ninh trật tự trong chòm xóm chớ.
 - Nó lo gì mặc xác nó, không dính tới mình. Mà lo cái gì? Bà thấy nó lo cho mình cái gì?

Bị dồn một hồi, bà lão sợ hãi len lén bước ra ngoài sân đất. Còn tiếc xót về mớ khoai bị đào đêm hôm trước cũng hoàn toàn biến mất khỏi tâm trí của bà. Bà có cảm giác như nếu mình còn đôi co thêm vài ba câu nữa, lão Quới sẽ làm um sùm nhà cửa lên. Lúc này hai làn môi của lão đã mím lại. Cặp mắt của lão long lên. Lão phải nắm chặt lấy bên mép giường để giữ cho bàn tay bớt run rẩy. Lão không thể ngờ được rằng vợ lão lại có thể nghĩ tới sự đi tố cáo với công an, dù chỉ là tố cáo một kẻ vô danh đã đào trộm khoai trong vườn của lão. Mấy năm nay, lão vẫn thường nhắc nhở với lũ con cháu xa gần:
- Tụi bay làm chi thì làm, nhưng đừng có đứa nào đi tính cái việc bất nhân tố cáo mọi người. Đứa nào không nghe đi tố cáo ai thì đừng có nhìn tới tao nữa.
 Ở khu xóm này, nhờ thái độ quyết liệt đó của lão mà thấy đỡ cái vụ nhà này báo cáo nhà kia, chòm xóm nương nhau cứ thầm lặng mà sống cho qua ngày. Cơn giận bà lão, làm lão Quới ngủ trưa không được. Lão nằm xoay trở một lát rồi nhỏm dậy lầm lũi đi ra bờ rào. Dưới ánh nắng chói chang của buổi trưa mùa hạ, lão cắm cúi ngồi ráp vá chỗ hàng rào đêm trước bị xé thủng.
Ráp vá cho có lệ mà thôi, chứ cung cách này rồi ai cũng sẽ đói hết. Đói ăn vụng, túng làm càn, một hàng rào chớ bao nhiêu hàng rào rồi cũng sẽ bị xé tuốt, có trời mới can nổi những con người lang thang vất vưởng như bóng ma ngoài chợ sẽ còn xông vào xâm phạm đến vườn khoai của lão.
 
Lão bắt đầu suy tính đến công việc phải thức đêm canh chừng. Chiều tôi hôm đó lão leo lên giường đi ngủ sớm. Tới nửa khuya thì lão bò dậy, ra ngồi thù lù như một cây củi mục ở đầu hè. Lão thấy rõ cái kỳ cục trong hành động rình mò của mình. Mấy luống khoai có là cái gì để lão phải khốn khổ như thế. Nhưng ở thời buổi này, không gìn giữ để phải đói cũng chết. Lão mở to mắt ra nhìn vào khoảng tối đen mịt mù trước mặt. Hai tai của lão vểnh lên. Lão có thể phân biệt từ tiếng dế kêu đến tiếng sóc chạy nhẩy trên những tàu dừa Nhưng cả đêm hôm đó lão đã toi công vì chẳng có ma nào bén mảng đến vườn khoai của lão cả. Rồi đêm sau, đêm sau nữa.
 Lão cười hề hề nói với vợ:
 - Tôi đã biểu mà. Đói quá làm bậy một lần rồi thôi, đâu có phải dân chuyên nghiệp.
 Bà lão thấy chồng ba đêm liền mất ngủ nên cũng ậm ừ:
- Chắc vậy rồi. Chẳng nên rình nữa làm chi cho nó mệt xác. Trời bao giờ cũng có mắt mà.

Tối hôm đó lão Quới được ngủ thẳng một giấc ngon lành. Một ngày nữa êm ả qua đi, nhưng vừa đúng lúc nửa đêm hôm sau, lão đang ngáy phì phò thì thấy có ai lay nhẹ chân mình. Lão giật mình choàng dậy. Trong ánh đèn tù mù để ở xế đầu giường lão thấy vợ ghé vào tai thì thào:
- Nó tới rồi đó!
 Lão tỉnh ngay ngủ và choàng dậy. Bà lão vẫn nói tiếp:
- Tôi nghe có tiếng chó cắn ở tuốt mé bên kia đường. Tôi tỉnh dậy nằm cố ý dòm chừng. Rồi tôi nghe thấy có tiếng bẻ rào loạt xoạt, chẳng nó thì ai nữa.
Lão Quới ngồi phắt ngay dậy. Lão quơ xuống gậm giường tìm con dao rựa. Lão nắm chắc lấy con dao trong tay rồi phóng ra phía cửa. Trời tối đen. Mọi vật chìm trong làn sương đục lờ. Lão chăm chăm nhìn về phía vườn khoai để làm quen với bóng tối. Hai tai lão vểnh lên. Lão nghe thấy tiếng gió rì rào, tiếng cành khô xao động và có cả tiếng cuốc đào trên nền đất. Lão lủi thật nhanh về phía giếng nước, con dao rựa lão vẫn nắm chắc ở trong tay.
Bây giờ thì lão nghe thấy cả tiếng loạt xoạt của đám lá bị bứt nhổ ở phía luống khoai. Lão lủi tới đó thật gần. Rồi bất chợt, lão chồm tới để chụp lấy bờ vai của tên trộm, cái bờ vai gầy guộc, mảnh mai tưởng như muốn sụm xuống dưới sức mạnh của bàn tay cứng cỏi của lão.
 Lão quát lên như để trấn át kẻ gian phi:
- Hôm nay thì mày sẽ biết!
Lão tì mạnh hơn nữa hơi sức của mình lên bờ vai mà lão vừa tóm được. Lần này thì tên trộm ngã khụy ngay xuống làm cho lão mất đà cũng ngã chúi xuống theo. Lão nghe thấy một tiếng rên nhỏ:
 - Trời ơi là trời.
Đó là tiếng của một người đàn bà chắc còn trẻ.. Bà ta vừa rên lên, vừa cố vùng vẫy để thoát thoát khỏi cánh tay cứng như sắt nguội đang đè lên vai mình. Lão Quới không còn bụng dạ nào để sử dụng võ lực đối với kẻ gian phi. Lão buông bàn tay của mình ra rồi lùi lại quát khẽ:
- Ai đó?
Có tiếng khóc nức nở vang lên thay cho câu trả lời. Lão vội vã móc túi lấy bao diêm rồi xòe lên. Ánh sáng bùng lên trong chớp mắt rồi teo lại. Nhưng thời gian khoảnh khắc ấy thừa đủ để lão nhìn rõ khuôn mặt của người đàn bà đối diện. Lão chết lặng người đi như chính lão cũng vừa bị bắt quả tang trong một hành vi tội lỗi.
Người đàn bà mà lão vừa nhận diện chẳng phải ai xa lạ trong khu vực này. Ngày trước chồng bà ta là sĩ quan làm việc trong một Quân Y viện ở gần đó. Cái Quân Y viện mà, dù không phải quân nhân, lão cũng đã được cấp tốc đưa vào để được cấp cứu một lần. Lão Quới không bao giờ quên được khuôn mặt khả ái của người sĩ quan trẻ tuổi, xông xáo khắp các phòng, vượt qua mọi thủ tục để có thể giúp đỡ lão vượt qua cơn hiểm nghèo.
Sau này khi xuất viện, lão đã dẫn vợ tới khu gia binh để cả hai cùng chắp tay cảm ơn. Người đàn ông mỉm cười xuề xòa và không để cho lão mở miệng nói dài dòng. Ông ta lúc nào cũng bận rộn, kể cả sự bận rộn lâu lâu lại chở vợ con ngồi đầy nhóc trên chiếc xe jeep lùn chạy từ khu gia binh lên phía chợ.

Dưới mắt mọi người, đó là một gia đình tràn ngập hạnh phúc với người vợ trẻ tươi tỉnh như hoa và năm sáu đứa nhỏ kháu khỉnh như một bầy gà con lít nhít. Nhưng rồi cơn đại họa đã ùa tới. Người chồng lên đường đi "cải tạo", vợ bị đuổi ra khỏi khu gia binh, kéo một bầy con nheo nhóc ra bãi hoang sống dưới túp lều lụp xụp với những người cùng chung cảnh ngộ.
Từ một bà đại úy trở thành một kẻ xé rào đi ăn trộm, dưới ánh sáng hiu hắt của một que diêm, tuy chỉ bị soi mặt trong khoảnh khắc nhưng cũng đủ xấu hổ cả một đời người. Có lẽ vì thế mà bà ta khóc to hơn. Tiếng khóc làm lão Quới bối rối. Lão không biết phải làm gì trong hoàn cảnh này.
Vừa may lúc đó có ánh đèn tù mù của vợ lão từ trong nhà đi ra. Bà lão xăm xăm đi xuống phía cuối vườn. Làn ánh sáng đỏ đòng đọc tỏa ra hai bên làm héo úa lớp lá khoai xanh mướt ở những chỗ bà đi qua. Lúc tới gần, bà giơ cao cây đèn lên nhìn về phía lão Quới. Ánh đèn bây giờ soi rõ người đàn bà tội nghiệp với bộ quần áo rách bươm, bê bết đất bẩn. Mái tóc của bà xổ tung che gần lấp khuôn mặt còm cõi xanh xao. Gió lùa qua cái thông phong trên ngọn đèn làm chao đi chao lại ngọn lửa leo lét khiến cho thân hình của bà ta trở nên chập chờn như một bóng ma vừa đội mồ sống dậy. Có tiếng bà Quới kêu lên:
 - Phải bà đại úy Sáu đó không?
Người đàn bà bật lên khóc và chạy lại phủ phục dưới chân của bà lão. Lão Quới không thể chịu nổi quang cảnh đó đã nghẹn ngào quay đi. Hai mắt của lão cay xè. Lão thấy rõ những giọt nước mắt của mình đang ứa ra ở hai bên bờ mi.
Một lát sau, cả ba người lầm lũi đi lên phía sân đất. Bà Quới xách theo cái sọt nhỏ của thiếu phụ, lẳng lặng đem vào phía nhà sau. Trong lúc đó lão Quới lần ở thắt lưng lấy ra tờ giấy 50 đồng mà lão từng dắt kỹ trong mấy lớp bọc bằng nylon. Lão dúi tờ giấy bạc vào trong tay người đàn bà, lão định nói thêm một câu gì nhưng cổ họng của lão như tắc lại.
Lão nhớ đến hình ảnh tươi cười đầy vẻ xuề xòa của ông đại úy. Lão nhớ đến cả khuôn mặt xinh đẹp của bà ta vẫn thường tươi như hoa giữa bầy trẻ nhỏ nom lít nhít như đàn gà. Nếu chẳng đổi đời thì chẳng bao giờ lão lại có thể làm được cái công việc như ngày hôm nay.
Trong bóng tối, mồm lão xệch đi.. Lão thương cho người đứng trước mặt, thương tất cả mọi người, thương ngay cả chính mình. Cơn sụp đổ toàn diện trên quê hương chưa bao giờ hiện lên rõ nét trong lòng lão bằng chính lúc này. Lão bước ra đầu hè để hỉ mũi rồi lui vào phía nhà trong.
Vừa lúc đó, bà lão đã lại cầm cây đèn leo lét đi ra. Ở tay kia, bà xách theo cái sọt nhỏ. Bây giờ ở trong sọt đã thấy lăn lóc hơn chục củ khoai và một túi gạo nhỏ. Hai người đàn bà dìu nhau đi ra phía cổng. Dưới ánh đèn vàng vọt, bóng của họ đổ xuống nom dài ngoẵng như hai cái bóng chập chờn quái dị.

Cách một hôm sau,vào lúc xế trưa, lão Quới đang lúi húi ở giếng nước thì gã Tổ trưởng dân phố dẫn theo một viên công an bận đồng phục áo vàng đi vào. Bà Quới đứng ở gần đó ngẩn mặt ra nhìn. Cả bốn người gặp nhau ở trên thềm đất. Anh công an lên tiếng trước:
 - Cách đây một ngày, phải nhà bác có kẻ đào trộm khoai không?
Lão Quới giật mình. Quả nhiên là ghê gớm. Chẳng có cái gì qua mắt được bọn người này. Lão lấy làm tiếc rằng đã không dặn vợ giữ kín câu chuyện xẩy ra trong đêm hôm trước. Thay vì trả lời câu hỏi, lão quay sang vợ cằn nhằn:
- Bà kể lể làm chi vậy?
Nhưng bà lão đã la lên:
- Tôi kể cái gì? Tôi có nói cái gì, ở đâu?
Gã Tổ trưởng hơi nhếch môi định cười nhưng gã đã kìm ngay được trước vẻ mặt lầm lì của người bận đồng phục. Anh ta còn quá trẻ nhưng cố làm ra vẻ ta đây có quyền uy, liếc lão Quới một cách láo xược rồi quay lại nhìn bà lão cũng theo một cung cách như thế. Rồi anh ta vừa khoát tay vừa nói bằng một giọng khô khan:
- Đi theo tôi!
Chẳng đợi cho lão Quới kịp có phản ứng gì, anh ta đã quay lưng xăm xăm đi trước. Gã Tổ trưởng lót tót chạy theo sau. Lão Quới đành rảo bước tiến theo họ, trong lòng đầy phân vân, toán người bước nhanh trên con đường dẫn ra mặt lộ. Bà Quới không dằn được nỗi thắc mắc đành phải nắm lấy tay gã Tổ trưởng và cất tiếng hỏi:
- Có cái gì dính líu tới tụi tui sao, chú Bảy?
Chú Bảy gỡ bàn tay của bà cụ ra không trả lời. Gã chỉ hất hàm ra dấu về phía khu đất hoang ở bên kia mặt đường lộ.
Mọi người bây giờ đã băng qua con đường cái để tiến vào một lối đi hẹp hai bên có những đống rác nằm cạnh những mô, gò lổn nhổn. Một đám trẻ con rách rưới bẩn thỉu chạy túa ra nhìn. Một vài người lớn tuổi đứng ở gần đó lô nhô chỉ trỏ. Có lúc họ đã phải dạt ra để lấy chỗ cho toán bốn người đi vào.

Mọi người dừng lại ở trước một túp lều nhỏ, mái đụp đơn sơ, tường vách xộc xệch. Đứng ở ngoài, lão Quới có thể dòm qua những khoảng trống tuênh toang để thấy một quang cảnh bầy ra trước mắt. Trên một tấm ván mỏng, một người đàn bà đang nằm dài. Bên cạnh đó là một loạt năm đứa nhỏ nằm xếp song song. Tất cả đều mang một vẻ nhăn nhúm dễ sợ. Lão Quới bấu chặt lấy mảnh gỗ ở trên vách ngoài để cố giữ cho mình khỏi khuỵu xuống. Lão không tin ở mắt mình, không thể tin ngay cả chính cái điều đang bầy ra ở trước mắt là một quang cảnh thực. Bàn tay của anh công an khẽ đặt lên vai lão. Anh ta nói:
- Có thư gửi bác đây.
Lão Quới run rẩy đón lấy mảnh giấy vừa được trao cho. Lá thư không dài và được viết bằng một nét chữ mềm mại:
 “Xin hai bác tha thứ cho cháu. Cháu không còn đường nào khác để giúp cho bầy con tội nghiệp của cháu khỏi phải trầm luân trong cái xã hội đầy dẫy cơ cực này. Năm mươi đồng và gói gạo mà bác cho, cháu đã nấu đủ một nồi cháo thịt, nồi cháo mà bầy con của cháu vẫn thường mơ ước hằng ngày. Nhưng kể từ nay, hẳn chúng nó sẽ không bao giờ còn phải ước mơ những điều nhỏ nhoi, tầm thường như thế nữa ”.
Lá thư chưa chấm dứt ở đó nhưng mầu mực tím đã trở nên nhạt nhòa bởi vì khuôn mặt của lão Quới đã đầm đìa nước mắt.

Trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan ngày 22-1-1980
Nhật Tiến

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 670
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitimeWed Dec 23, 2020 7:55 pm

.
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Bong-hong2

Bông Hồng Nào Cho Mẹ?
- Nhật Tiến


Giang sơn của cụ Giáo Thìn bây giờ chỉ thu vào đúng hai khoảnh nhỏ: một dẻo đất hẹp chạy dọc theo bờ tường của cái garage và một vùng trí nhớ lãng đãng với một mớ kỷ niệm xô bồ, không thứ tự, dấu hiệu của sự tàn phai trước tuổi già.

Về cái dẻo đất hẹp thì phải nói rằng đó là kết quả của một công trình chăm sóc tuyệt hảo. Bề ngang đâu được thước hai, bề dọc cỡ độ bẩy thước, cụ Thìn đã đổ gần như tất cả thời giờ trong một ngày của mình vào đó để vun sới. Có ba cây ớt, một khoảnh ngò, một khoảnh hẹ, răm bẩy gốc tía tô, chừng mươi gốc húng và một nhúm hành ta. Đủ lệ bộ cho một đĩa rau thơm vào cái hôm mà cả nhà muốn ăn món bò nhúng giấm hay món gỏi cuốn chấm mắm nêm. Đó là những dịp duy nhất  mà cả nhà lên tiếng khen bà cụ do công trình tưới bón, chăm sóc của bà. Tuấn nói:
– Tụi  bay còn cứ chê “mom” trồng trọt lẩm cẩm làm gì nữa đi. Sao bảo mấy thứ đó chạy ào ra chợ là có, đâu có thấy đứa nào vác xác ra chợ đâu!
Thuý nhìn anh bỉu môi :
– Tụi này đã không đi thì sao anh không đi đi, ở đó mà nói.
Thu họa theo:
– Nói cho hay, anh mà không chuẩn bị cơm nước chợ búa trước, tới chừng lấy chị Hương xong rồi ở đó mà chờ cái cảnh cơm bưng nước rót.
Tuấn cãi lại:
– Tao chờ chứ sao không? Tao lấy vợ Việt Nam chớ đâu có phải lấy vợ Mỹ!
Thu trợn mắt nhìn anh:
– À, thế ra cứ lấy vợ việt Nam là bắt vợ làm “mọi” cho mình đấy có phải không? Xí! Còn lâu!
– Thì mày hỏi mẹ coi. Tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh là những thứ hàng đầu của con gái, phải không mẹ?

Bà cụ nhìn mấy đứa con không trả lời. Bà chẳng còn cái thói quen lên tiếng phát biểu ý kiến riêng của mình từ ngày qua đây. Mọi thứ chung quanh đối với bà đều trở nên choáng ngợp, vuột tầm tay, bứt rời mọi thứ kinh nghiệm sống mà bà đã thu lượm được trong suốt gần cả một đời người. Nghĩa là đứng trước điều gì ở đây bà cũng đều bỡ ngỡ, rụt rè, nói ra cái gì là sai lầm cái đó, rút cục lại bà chỉ như một thứ trẻ nít trong nhà đi đâu cũng phải có người dẫn đi, làm gì cũng phải hỏi ý kiến con cái mà có những điều cả lũ đã xúm lại giải thích nhưng bà vẫn ù ù cạc cạc, chẳng hiểu mô tê gì hết ráo.
Từ ngày thằng Tuấn kiếm được việc làm, nó đổi cái ti-vi cũ để thay bằng một cái mới tinh. Tuấn dặn mẹ:
– Cái này có remote control. Mẹ muốn coi thì đừng có rờ mó gì vào những cái nút ở ti-vi cả. Họ đã set up đầy đủ hết rồi. Chỉ cần ngồi ở salon mà nhấn vào những cái nút ở trên cái này thôi.
Tuấn ấn vào tay bà  cụ cái remote control. Bà miễn cưỡng đón lấy nó bằng tất cả sự rụt rè, tưởng như bàn tay của mình mà đụng vào đâu lầm chỗ thì nó sẽ giở chứng hư ngay lập tức. Tuấn tiếp tục giảng giải:
– Cái này là nút on, cái này là nút off, cái này là volume tiếng to nhỏ, cái channel này là để đổi đài, cái mute này lúc đang xem mà có điện thoại, mình muốn cho âm thanh nó tạm im đi thì chỉ nhấn khẽ vào…
Đầu óc của bà Thìn cứ bấn loạn cả lên và cuối cùng bà dúi trả vào tay Tuấn:
– Thôi! Rắc rối quá, tao chịu!
Rồi bà tần ngần:
– Mấy lại tao đâu có thiết gì ti-vi. Nó nói nhăng nói cuội, tao có hiểu ất giáp gì đâu!
Tuấn nằn nì:
– Thì mẹ nghe nhạc.
– Ôi! Cái thứ nhạc cứ như đấm vào tai, càng nghe càng nhức đầu.                   
Rút cục, thú giải trí của bà chỉ còn là mấy cuộn băng cải lương mà bà đã nghe đi nghe lại nhiều lần trên cái máy cassette tuy cũ sì nhưng được cái nó đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ có điều không phải lúc nào bà muốn nghe thì nghe. Con Thuý còn đỡ, chớ con Thu mà thấy mẹ vặn cải lương khi có mặt nó thì bao giờ nó cũng nhằn:
– Thôi tắt đi bớt đi một chút cho đỡ nhức đầu. Nhạc lải nhải thế  mà mẹ nghe mãi được.
Có lúc Tuấn cảm thấy bất nhẫn, phải gắt lên :
– Thì mẹ có mỗi cái thú nghe cải lương mày phải để cho mẹ nghe chứ.
Thu cãi lại:
– Thiếu gì lúc mẹ có thể nghe được. Chờ cả nhà đi học đã, rồi mẹ tha hồ nghe.

Dĩ nhiên rằng bà Thìn chẳng bao giờ muốn chính mình trở thành cái duyên cớ để anh em nó hục hặc với nhau, nên bà thò tay nhấn cái nút trên máy để cho cuộn băng ngưng lại. Bà nhìn các con bằng đôi mắt buồn thảm rồi mở cửa ra đứng ở phía sau. Qua một cái sân cỏ nhỏ là một dẫy bờ tường chắn ngang tầm mắt. Dẫy tường quét bằng mầu vôi hồng sậm, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Sáu, bà thấy nhức mắt. Bà lại nghĩ đến cái giang sơn nhỏ bé của mình. Khu vườn nhỏ, một thước hai bề ngang, bẩy thước bề dài có hẹ, có húng, có ngò, có tía tô. Mấy tuần lễ trước  gặp cụ Cả Phong ở ngoài chợ. Cụ có hứa sẽ bứng cho bà mấy rễ rau rớp cá khi nào bà tới chơi. Bà hoan hỉ báo tin cho lũ con ở nhà với lời đề nghị rụt rè:
– Bữa nào rảnh có đứa nào lái xe chở mẹ tới lấy rau rớp cá về trồng.
Thuý nhún vai, lè lưỡi:
– Eo ơi! Rau rớp cá thì con chào thua. Chĩ nghĩ tới là đã muốn sỉu rồi!
Thu nói:
– Me too! Rau gì mà mùi tanh thấy ớn!
Lại đến lượt Tuấn phải can thiệp vào:
– Tùy goût mỗi người chứ. Rau rớp cá có biết bao nhiêu người thích ăn. Tụi bay không ăn nhưng mẹ ăn. Cứ lái xe đưa mẹ tới xin về để mẹ trồng.
Thuý nói :
– Tuần này em có hẹn! Thứ Bẩy phải tới phụ đằng con Liên làm sinh nhật của nó. Chủ nhật thì bạn của anh có party, mời cả em đấy thôi.
Tuấn quay sang Thu:
– Vậy con Thu đưa mẹ đi. Weekend này mày làm gì?
Thu hỏi ngay lại:
– Thế còn anh làm gì?
Tuấn trừng mắt nhìn em thì mặt con nhỏ cũng vênh đáp lại. Thế là bà giáo Thìn lại vội vã xen vào hoà giải:
– Chẳng tuần này thì tuần sau. Đâu có vội.
Nhưng cái tuần sau đó đã trôi qua cả tháng nay rồi mà bà thì vẫn chưa có dịp ghé lại được đằng cụ Cả Phong. Câu chuyện rau rớp cá chỉ thoáng qua trong giây lát rồi mọi người đã quên đi, trừ bà Giáo.

Hồi còn ở quê nhà, bà là người nghiện ăn trầu, xỉa thuốc vào hạng nặng. Khi còn sinh thời, ông Giáo ưu ái trồng riêng ở vườn sau trong căn nhà khang trang ở Sài Gòn cho bà một giàn trầu không leo kín cả một mái liếp. Có lẽ trong cái vùng trí nhớ lãng đãng của bà, hình ảnh sâu đậm nhất đối với bà không chỉ là kỷ niệm của một thời còn nghiện trầu và được ăn trầu mà còn là sự gợi nhớ lại tất cả tấm lòng yêu thương mà ông Giáo đã dành cho bà. Khi ông Giáo mất đi, giàn trầu vẫn xanh tốt, nhiều hôm ra hái trầu bà đã đứng nép ở sau giàn cây mà khóc sụt sùi một mình. Đó là một trong những giây phút bà nhớ ông nhất. Đến lúc vô nhà, mắt của bà còn đỏ hoe.
Hồi đó Thu mới lên năm, cái Thuý lên tám và thằng Tuấn thì mười hai. Tất cả còn bé dại và bà đã dành tất cả quãng đời còn lại của mình để yêu thương và chăm sóc chúng nó. Khi lớn lên được một tí, cái Thu và cái Thuý tranh nhau học têm trầu cho mẹ. Nhìn những bàn tay xinh xinh bụ bẫm của hai đứa trịnh trọng xếp từng nếp trên lá trầu để hoàn tất những miếng trầu méo mó, xô lệch bà cảm thấy lòng hết sức thoải mái và yên vui.
Nhưng từ ngày qua tới đây, cả hai đứa đều đồng thanh đề nghị mẹ phải bỏ cái thói quen nhai trầu. Thu giải thích:
– Ăn trầu ở bên này không được đâu. Mồm miệng đỏ lòm, người ta cho mình là savage!
Thuý phụ thêm:
– Đấy, mẹ coi đàn bà cả nước Mỹ này đâu có ai nhai trầu. Mẹ mà ra phố nhai trầu, cả bàn dân thiên hạ sẽ xúm lại ngó mẹ cho mà coi!
Tuấn tuy cảm thông với mẹ hơn nhưng cũng phải đồng tình với các em:    
– Thôi để chúng nó mua chewing-gum cho mẹ nhai đỡ buồn mồm. Cái Thu chiều nay đi học về tạt qua đâu đó mua cho mẹ loại chewing-gum có quế đó, mẹ dễ ăn.
Lần đầu tiên Thu không phản đối gì ông anh về đề nghị đó cả. Có lẽ vì nhiệm vụ tiêu diệt cái thói quen nhai trầu của bà giáo là một nhiệm vụ trọng đại mà tất cả mọi người trong nhà đều phải xúm lại, góp công sức vào để quật ngã nó. Cho nên Thu sốt sắng khuân về đủ loại kẹo cao su, thứ dẹp và dài có, thứ viên vuông vuông mầu trắng có và dĩ nhiên có cả loại Dentyl mùi quế mà Tuấn đã đề nghị nữa. Bà giáo thấy con mua tốn tiền đã dẫy nẩy lên:
– Làm gì mà mày khuân về lắm như thế. Bỏ thì bỏ chớ việc gì phải nhai kẹo cao su.
Rồi bà nói tiếp, giọng buồn buồn:
– Nhập gia cũng phải tuỳ tục chứ.
Quả nhiên bà Giáo bỏ đứt cái thói quen ăn trầu. Bà cũng chẳng cần dùng đến một chiếc kẹo nào do Thu mua về. Thói quen ấy của bà có thể đã bị tiêu diệt nhưng giàn trầu không xanh um trong trí nhớ của bà thì chẳng bao giờ bà có thể quên. Những hôm cả nhà đi vắng hết, bà ngồi thu lu trên bộ salon ở phòng khách nhìn ra khung cửa kính sáng loà. Thân hình còm cõi của bà co gọn trên chiếc sofa rộng thênh thang trông lạc lõng và cô đơn như một con mèo già. Mái tóc của bà mới đó có vài năm đã bạc trắng ra. Bà giương cặp mắt hấp háy nhìn ra sân sau, lòng thì nghĩ như mình đang ngồi trong căn phòng khách nhỏ bé ở Sài Gòn nhìn ra khoảnh vườn có giàn trầu không leo lên những tấm nan tre do chính bàn tay của ông Giáo đã dựng lên. Bà nghe như ở phía bên kia bờ tường có tiếng động cơ xích lô máy chạy qua con đường bên hông chợ. Bà cũng như nghe thấy cả tiếng ồn ào ồn ào từ cái máy nước công cộng, tiếng hàng quà rong rao lảnh lót, có cả tiếng con tầu từ Biên Hoà chạy qua cổng xe lửa vang lên xậm xịch. Quê hương thật đã xa tít mù và chỉ còn tồn tại trong cái khoảng trí nhớ lãng đãng của bà.

Những ngày mới qua Mỹ, lúc bốn mẹ con ngồi ăn cơm với nhau, mỗi người thi nhau nhắc chuyện dĩ vãng. Kỷ niệm cũ với ông Giáo. Kỷ niệm cũ với Sài Gòn, trường học, đường phố, bà con, bạn bè. Lâu dần, rút cục chỉ còn có mỗi bà giáo là thích nghe và thích kể về chuyện quê nhà. Mà những dịp này thì cũng hiếm hoi dần đi. Bữa cơm trong nhà không còn là một cái gì gọi là sinh hoạt thường nhật. Buổi trưa, lũ trẻ ăn ở trong trường. Đến chiều, mỗi đứa về một giờ giấc. Thu về sớm nhất, háu ăn nhất, lao vào bếp nấu một tô súp rau (loại súp bán sẵn trong những cái túi bằng nhựa) và một vài lát sandwiches. Bà giáo kêu ca:
– Ăn cái gì nhẹ thôi. Để đến tối cả nhà cùng ngồi ăn đông đủ.
Cùng ngồi ăn đông đủ! Đó là niềm hạnh phúc và ước mơ nhỏ bé cuối cùng của bà trong căn nhà này. Nhưng trong thực tế, thật khó mà kiếm được dịp cả nhà ngồi chung với nhau, trừ một hai bữa trong những ngày cuối tuần. Khi Tuấn về đến nhà thì Thu và Thuý đã rút vô phòng riêng, đóng kín cửa lại. Bà giáo thì ngồi thiu thiu trên ghế chờ con về. Mâm cơm nguội lạnh đã bầy sẵn. Có dưa muối. Có thịt kho. Có canh cải hay nước rau rền. Tuấn ngồi vào bàn, nể mẹ sới được lưng bát cơm. Sau đó, chàng ăn tiếp một tô mì gói. Tuấn có thể ăn mì gói kinh niên mà không bao giờ ngán. Những hôm ăn một mình, Tuấn bưng nguyên cả tô mì ra ngồi ở salon, vừa ăn vừa coi ti-vi. Thành ra nồi cơm trắng phau, tuy sốt rẻo như thế mà bao giờ cũng ế. Cơm ế, không đời nào bà giáo đem đổ đi. Bà đem cất tủ lạnh để sáng hôm sau hâm lại làm bữa trưa cho mình. Nhiều hôm bà đổ thêm nước vào để nấu thành cháo. Riết rồi bà cũng mặc nhiên trở thành một người kinh niên ăn cháo, âu nó cũng thích hợp với hai hàn răng cũng đã bắt đầu lung lay của bà. Trong cuộc đời của bà Giáo, bà sợ hãi  nhất là hai tiếng “đổ đi” ngay cả khi còn ở Sài Gòn vào thời kỳ bà đang giầu có, sung túc nhất. Các con của bà luôn luôn được nghe câu nói: “Phí của giời, mười đời không có”, bà làm như lúc nào cũng có con mắt của Trời, Phật ngó vào khi bà lỡ đánh rơi vài hạt cơm hay rúm gạo. Cho nên cái gì dư thừa, bao giờ bà cũng cất vô tủ lạnh, từ một chén ăn giở cho đến đĩa đầu tôm rang mặn hay những mẩu vụn vặt của một nồi cá kho. Có lần Thuý phải kêu lên:
– Mẹ suốt đời ăn đồ thiu. Coi chừng mắc bệnh, kính chả bõ phiền. Mà ở bên này đồ ăn thiếu gì!
Bà Giáo cãi lại:
– Mẹ mày! Thiu đâu mà thiu!
Thu cũng bực bội chen vào:
– Không thiu thì cũng đun đi đun lại cả tuần. Mẹ không đổ đi thì con đổ cho mà coi.
Và Thu làm thật. Chờ lúc bà Giáo lúi húi ở vườn sau, Thu dọn sạch banh cái tủ lạnh. Ít lắm thì Thu cũng lôi ra được nửa xoong cháo, một tô cơm nguội, một đĩa cải sào, một chén mắm ruốc kho và một lưng niêu nhỏ chứa cái gì “đen sì sì’ thịt không ra thịt, mỡ không ra mỡ lại lẫn lộn  cả mấy cọng râu tôm.
Nhưng rồi chỉ tuần lễ sau, mọi sự đâu lại vào đấy. Chán rồi, tất cả đều để mặc cho bà tự  do ăn uống theo ý mình, giống như Thu thì thích súp rau, Thuý thì thích bún thịt nướng, còn Tuấn thì thích ôm tô mì mì gói ra ngồi ở salon trước ti-vi. Ăn xong, đứa nào về phòng của đứa đó.

Trong căn nhà của xã hội Mỹ có những cánh cửa phòng khi đóng lại thì kín như bưng đã là cái hình ảnh khủng khiếp nhất đối với tâm trạng của bà Giáo. Khi bầy con của bà rút vô phòng rồi thì bà không biết chúng nó đang làm gì ở trong đó, hay nhỡ có chuyện gì không may xẩy ra đối với chúng nó? Đứng ở ngoài hành lang thấp thoáng ánh đèn vàng vọt héo úa, bà với chúng nó tuy thật gần nhau về khoảng cách nhưng tâm tình thì thật đã xa cách nghìn trùng, đến nỗi bà nhiều khi có cảm giác như những cánh cửa phòng vô tri kia đã cắt lìa bà ra khỏi cuộc đời của chúng nó. Nào chúng nó có biết rằng rất nhiều hôm mủi lòng, bà đã tựa đầu vào vách gỗ để sùi sụt khóc mùi.
Hồi ngày xưa, bà có thể nắm vững tình hình sinh hoạt hằng ngày của từng đứa. Về quần áo, mỗi đứa có bộ nào, chiếc quần nào của Tuấn có vết mạng, cái áo nào của Thuý hay Thu sứt chỉ hay được đơm lại khuy, vết sước trên tay Thu khởi sự từ bao giờ và nó đã được chữa trị ra sao, hôm nào thì liền da, bong vẩy, thậm chí đến từng cái răng lược bị gẫy, cái quai dép bong keo hay chiếc khăn tay bị ố mầu mực tím, nhất nhất bà Giáo đều nắm vững như tất cả những thứ đó nằm trên đường chỉ tay của bà.
Bây giờ thì bà rất hiếm hoi có dịp được bước chân vô phòng của cả mấy đứa. Muốn kêu đứa nào, bà phải đứng ngoài gõ cửa. Nhiều hôm cái Thu hay Thuý chỉ hé  một chút xíu cánh cửa gỗ rồi thò đầu ra, trao đổi vài câu ngắn ngủi với bà rồi lại khép sập lại. Bà thấy rõ các con đã vượt  xa tầm tay của bà. Mỗi đứa đều có thế giới riêng của mình kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Một lần Tuấn bị đau nằm liệt trên giường ba ngày liền.
Ôi thôi, bà Giáo thấy mình linh hoạt hẳn lên. Bà lăng xăng nấu cháo nóng, thái củ hành, vắt nước cam, giặt khăn nước lạnh, pha sữa hộp, quơ đồ cũ của Tuấn mang giặt và đem phơi. Bà tự do ra vô căn phòng của Tuấn mà không cần gõ cửa. Bà lại có thể ngồi hàng giờ ở cuối chân giường của Tuấn, lâu lâu lại sờ đầu, sờ chân, kéo mép chăn, căng mép vạt trải giường và nghe ngóng từng hơi thở khó khăn nặng nề của Tuấn.

Nhưng sự bận rộn đầy yêu thương và hạnh phúc đó của bà cũng chỉ kéo dài được ba ngày. Sau hôm Tuấn khỏi bệnh và đã đi làm được ngày đầu, buổi tối bà Giáo tiến lại cánh cửa của phòng Tuấn với dáng điệu rụt rè. Rồi bà ngập ngừng gõ nhẹ lên phiến gỗ. Tuấn hỏi vọng ra:
– Ai đó?
– Mẹ đây!
– Có việc gì không hả mẹ?
– Không! Mẹ hỏi thăm xem hôm nay con khá hơn chưa?
Giọng Tuấn đáp to: “Khoẻ như voi rồi, mẹ khỏi lo!”
Bà Giáo đứng tần ngần một lát rồi quay ra. Trong lòng bà dâng lên một niềm vui nghe con khỏi bệnh nhưng đồng thời cũng xen vào đó là cảm giác tiếc nuối, nôn nao như bà vừa bị đánh mất một cái gì thân thương khó tả.
Bà lại ra ngồi ở trên ghế salon, thu mình lại như một con mèo già ốm yếu, già nua. Phía bên kia cánh cửa kính là khoảng trời sâu hun hút  điểm mấy vì sao thưa. Bà nghe văng vẳng  hình như có âm thanh của những bản nhạc vọng lại từ rất xa phát ra từ những cánh cửa phòng đóng kín mít của các con bà.
Bà chợt thấy hối hận ngay với ý nghĩ điên rồ vừa chợt nẩy ra trong đầu:
“Con Thu, con Thuý sao chẳng bao giờ thấy chúng nó ốm đau cả!”

NHẬT TIẾN
(California, Mùa Vu Lan – 1983)

.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng    Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng  Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Nhật Tiến: Chiếc Áo Tây Vàng
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến