Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
chuyen mien quan Mộng GIFT Chia quynh Saigon Nguyen luong hoang thụy quang music linh ngam Nghin tran nguyet tuan phung không quốc Nhung phong Trung
Latest topics
July 2020
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế

Go down 
Tác giảThông điệp
NHViet
Khách viếng thăm



Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeThu May 03, 2012 4:01 pm

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Images?q=tbn:ANd9GcQrky2zSrlRECCs0TzamfeW8OukLdwaQkT-rlJXxVTX9SGiq8ueUw
 
Sau ngày tận thế
- Alberto Banasco


Những cơn sóng biển hung dữ ào ạt xô vào bờ và cuốn phăng đi tất cả những gì chúng gặp trên đường, rửa sạch phần bờ nó xô đến rồi quay lui về biển.

Giữa những cây cọ cụt đầu, tro tàn và băng đá, số ít những người sống sót đã tìm được chỗ trú ẩn cho mình. Mặt trời chỉ hơi ló dạng sau những đám mây và mưa lại trút xuống. Giữa những vòi rồng được tạo nên do bụi và khói, cuộc sống bị làm cho tan tác, mất trí vẫn bám chặt lấy sự tồn tại của mình.
Người đi một ủng (đã bị mất một chiếc) bò ra ngoài cửa hang và sợ sệt ngó nhìn. Hai người khác; một hói, một chột, đi tới đi lui ở bên ngoài. Có ai đó đã nhóm lên một đống lửa. Người đi một ủng nhìn thấy con rết ở bên cạnh và giẫm bẹp nó. Sau đó anh vươn cổ và lại nhìn ra ngoài.
- Giờ thì anh ra được rồi - người hói đầu nói - không có gì đe dọa anh nữa cả. Ra sưởi ấm đi.
Anh bò ra khỏi hang, đứng dậy và co một chân nhảy lò cò về phía đống lửa. Đến bên đống lửa, anh ngồi xổm xuống, ngái ngủ lắc lư người và cứ ngồi trong tư thế đó. Một lúc sau người chột mắt cũng đến và ngồi xuống cạnh đống lửa.
- Thế là chúng ta tập trung lại đây - người hói đầu nói.
Trong truyện ngắn viễn tưởng như một câu chuyện ngụ ngôn hiện đại này, sau thảm họa khủng khiếp đã hủy diệt nhân loại, những người còn may mắn sống sót đã tập hợp lại bên nhau và bắt đầu làm lại cuộc sống trên Trái đất bằng chính những kiến thức - cái nền tảng đã xây dựng nên thế giới và cũng có thể tiêu diệt thế giới...

Hai người kia lầu bầu một câu gì đấy để bày tỏ sự đồng ý của mình. Rồi họ im lặng. Im lặng hơn một tiếng. Trong lúc đó các con họ đã từ trong hang chui ra. Thân hình một đứa trông như con thỏ nhỏ, nó phình ra ở bên dưới, và khi đứa trẻ chuyển động nó xệ sát xuống mặt đất. Đứa kia trông giống một cái cây, và hai cánh tay như những cành cây gãy khúc. Đứa thứ ba trông giống một phôi thai lớn.
- Cần phải làm một cái gì đó - người hói đầu nói.
- Nhưng làm gì? - người chột mắt hỏi.
- Tôi không biết. Phải cứu lấy một cái gì đó - người hói đầu trả lời.
- Chẳng còn gì để cứu - người đi một ủng nói.

Họ lại im lặng, và một giờ trôi qua trong im lặng; âm thanh nghe thấy chỉ là tiếng gào thét, kêu khóc của lũ trẻ con đang giận dữ cào xé nhau và đẩy nhau đến sát bờ dốc.
- Không thể cứ tiếp tục thế này được, chúng ta phải chấm dứt việc theo dõi nhau như kẻ thù - cuối cùng người hói đầu nói – Vì chúng ta chỉ còn lại ba người, ai cũng có con, và nhất định phải làm một cái gì đấy.
- Thế chúng ta có thể làm gì? – người đi một ủng hỏi.
- Tôi xin giải thích - người hói đầu nói – mỗi người trong chúng ta đều có những kiến thức nhất định. Chúng ta có thể ghi chép lại tất cả những cái đó để có thể để lại cho con cháu chúng ta dù chỉ một chút gì đấy. Vì chúng sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, những gì chúng ta ghi chép được sẽ ít nhiều giúp ích cho chúng. Thí dụ như - anh ta quay sang hỏi người chột mắt - Anh tên là gì? Anh làm nghề gì? Tôi tên là Antonio Morales. Tôi làm việc ở cảng, chịu trách nhiệm bốc dỡ hàng.
- Tên tôi là Silba - người chột mắt nói – tôi là nhân viên văn phòng.
Cả hai quay sang nhìn người đi một ủng.
- Tôi là Anderson. Quản lý ở một cơ quan... Lửa sẽ tắt mất.
- Đừng lo, sẽ không tắt đâu. Anh hãy quẳng thêm thanh củi vào. Cảm ơn. Các anh biết đấy, tôi đã quen... có thể nói thế này... nói chung là một người tổ chức – vì tôi chính là một người tổ chức ở trên cảng. Còn anh, Silba, anh làm việc trong văn phòng nên có lẽ biết nhiều hơn chúng tôi.
- Vâng. Tôi có đọc chút ít, nhưng tất cả chỉ sơ sơ thôi. Tiếc là chúng ta không có giấy... Có thể viết lên những tấm thủy tinh bẩn này, tôi đã gom chúng lại được nhiều. Nào, chúng ta bắt đầu...

Silba đăm chiêu suy nghĩ và nhìn thẳng vào ngọn lửa. Lạnh và hình như cả một tuần nay anh cảm thấy lạnh, có lẽ là do anh đã không ăn uống gì cả. Anh biết gì? Anh biết rằng một sản phẩm khủng khiếp của sự tiến bộ mà chỉ số ít người đạt được đã đem lại tai họa, và giờ đây họ chỉ còn lại ba người cùng với những đứa con, bộ dạng chúng khiến phải kinh hoàng, và ba người bọn họ đang hi vọng có thể cứu vãn được chút gì đó. “Nero (1)!” – anh chợt nhớ. Trước đây anh đã xem một bộ phim về vị hoàng đế La Mã này.
- Tôi biết câu chuyện về Nero - anh nói thành tiếng – chúng ta có thể bắt đầu từ ông ta.
- Tốt đấy! – Morales, rõ ràng là đã tỉnh táo lại, thốt lên – Nero, mà tiếp theo là Christ (2). Một khởi đầu tốt đẹp. Nero sống năm bao nhiêu nhỉ?
- Tôi không nhớ. Tôi chỉ nhớ là cùng thời với Julius Caesar. Theo tôi, khoảng năm thứ 300 trước Công nguyên.
- Thế Christ sống vào thời nào?
- Cũng vào thời đó, tôi đoán vậy.
- Tuyệt rồi - Và Morales bắt đầu ghi chép. Thế anh còn biết gì nữa không? Thí dụ về Julius Caesar.
- Nero đã đốt cháy thành La Mã. Julius Caesar đã lập nên đế chế.
- Thế ông ta không xây dựng thành La Mã lại à?
- Theo tôi thì không.
- Thôi được - người hói đầu nói - điều này không có ý nghĩa. Thế anh biết gì về những người Hi Lạp?
- Người Hi Lạp sống trước đó.
- Chính xác là khi nào?
- Hơn 1.000 năm trước Công nguyên. Họ đã đánh nhau với người Sparta (3).
- Và ai thắng?
- Theo tôi không ai cả. Từ đó mà có thành ngữ “chiến thắng của Pirr”.
- Pirr (4) là tướng của quân Sparta?
- Phải, anh cứ ghi thế.
- Xong rồi. Nhưng theo tôi, chúng ta làm chưa đúng. Cần phải bắt đầu từ khoa học tự nhiên - Morales nói - còn anh, Anderson, anh chịu trách nhiệm về cả một cơ quan hành chính; có lẽ anh biết điều gì đó về điện.
- Không, tôi chẳng biết để làm gì cả. Thay cái bóng đèn bị cháy thì tôi có thể. Tôi còn biết về dòng điện, có dòng điện dương và dòng điện âm.
- Thế điện là gì? – Morales hỏi – Nó được làm ra như thế nào?
- Như thế nào à?... Nó được sản xuất trong nhà máy. Còn chính xác như thế nào thì tôi không thể nói được. Ở trong các nhà máy có các đường dẫn, dây cáp. Còn có cả các máy phát điện. Mà máy phát điện là cái gì? Con cái chúng ta hẳn cũng nên biết về nó.
- Thế còn anh, Silba, anh là nhân viên văn phòng - Morales tiếp tục – Anh hãy cho chúng tôi biết máy phát điện là gì?
- Đó là các vòng dây, chúng quay và sinh ra điện.
- Chúng còn sinh ra gì nữa?
- Phải chăng điện là còn ít?
- Anh ghi vào đi - Anderson nói.
- Xong rồi - Morales trả lời.
- Còn anh biết gì? – Anderson hỏi Morales.
- Tôi biết cách bốc xếp hàng trên boong tàu, hoặc là xếp vào trong phòng lạnh - Morales trả lời – nhưng ở đây không có tàu có phòng làm lạnh, cả việc khuân vác chúng cũng không.
- Anh không biết gì hơn về những con tàu à? – Anderson hỏi.
- Tất nhiên là biết. Tôi có thể vẽ nó và gọi tên từng bộ phận của con tàu.
- Chẳng hạn, tại sao tàu không bị chìm?
- Tại sao nó không chìm à? Tại vì nó rỗng. Ở chừng mực tôi biết thì ở đây theo một qui luật vật lý.
- Định luật Newton - cựu nhân viên văn phòng giải thích.
- Chính xác, Newton. Anh biết gì về Newton?
- Các anh đợi chút:... Định luật Newton nói về lực vạn vật hấp dẫn. Qui luật này áp dụng cho toàn vũ trụ.
- Chính vì thế tàu không bị chìm?
- Không hẳn. Nó không bị chìm là do một nguyên nhân hoàn toàn khác. Nước không để cho nó chìm.
- Thế còn gì làm nó không chìm nữa?
- Tôi đã nói với các anh rồi. Định luật Newton.
- Thế là chúng ta đã tiếp cận với khoa học thật sự - Morales nói và ghi nhanh lên tấm kính bẩn – Thuyết tương đối là gì?
- Ồ, thuyết tương đối! Điều này liên quan đến Einstein (5) - Silba giải thích - Ông ấy đã khám phá ra nó, tạo nên một bước ngoặt trong vật lý học. Ông ấy nói rằng tất cả chỉ là tương đối.
- Được rồi - Morales nói rồi bỏ tấm kính đã ghi kín sang một bên và cầm lấy tấm khác – Tất cả đều tương đối. Anh có nhớ một công thức nào đó của nó không?
- Không. Đợi đã... tôi nhớ ra rồi. Nó nói rằng vận tốc ánh sáng là 300.000km/phút.
- Anh chắc là trong một phút chứ? Nó có quá nhanh không đấy?
- Không đâu. Tôi nhớ chính xác mà.
- Tuyệt vời. Thế anh biết gì về hình học?
- Định lý của Pythagore - Silba trả lời, con mắt duy nhất của anh bắn ra niềm vui.
- Nó nói về điều gì vậy?
- Đó là phương pháp đo các cạnh của một tam giác. Các anh đợi chút... Pythagore cho rằng... Có lẽ chưa nên ghi vội... bình phương của cạnh huyền bằng bình phương của một cạnh góc vuông.
- Anh có thể giải thích điều này cho tôi không?
- Vâng, các anh nhìn xem. – Silba lấy một con dao, việc này khiến hai người kia lo lắng; nhưng anh ta dùng nó để kẻ trên nền đất cháy bỏng một tam giác vuông. – Các anh thấy chưa? Ở đây có phải là bình phương của cái này - và anh vẽ một hình vuông trên cạnh huyền - thì bằng bình phương cạnh này. Anh lại kẻ thêm hình vuông khác có một cạnh là cạnh góc vuông nhỏ.
- Nhưng chúng không bằng nhau.
- Đấy chỉ là cảm thấy thế khi các anh nhìn, còn theo toán học thì chúng bằng nhau. Vì vậy Pythagore đã phải chứng minh điều này.

Họ cứ tiếp tục cho đến tận cuối ngày, cho đến khi người hói đầu chưa quyết định rằng hôm nay như thế là đủ; sáng hôm sau họ gọi các con của họ lại và dưới cơn mưa không ngớt, trong thế giới đã bị hủy hoại bởi những con người hiểu biết rộng, họ lại bắt đầu truyền đạt những mẩu kiến thức đã được lưu lại trong trí nhớ của riêng họ cho những đứa con dị dạng của mình; chúng nhìn họ bằng những đôi mắt vô hồn và im lặng lắng nghe họ.
- Hai bình phương bằng bốn. Tương tự, tám bình phương bằng mười sáu, còn mười hai bình phương bằng hai tư. Để có được bình phương của một số, hãy nhân số đó với hai...

Đông Tây Kiệu Diệp dịch

(1) Claudius Caesar Nero: hoàng đế La Mã từ năm 54-68 sau Công nguyên
(2) Chúa Jesus
(3) Sparta: một thành phố - quốc gia Hi Lạp cổ, nằm ở phía nam bán đảo Peloponnec. Sau cuộc chiến xảy ra vào thế kỷ 8-6 trước CN Sparta trở thành một quốc gia hùng mạnh
(4) Pirr (319-273 trước CN): sa hoàng của Epir, một nước cổ đại thuộc Bắc Hi Lạp, đã chỉ huy quân của thành Tarenta
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeMon Sep 30, 2019 12:02 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 14_512400

Đi ngựa
- Guy de Maupassant (1850-1893)

Nhà nghèo sống chật vật nhờ vào đồng lương ít ỏi của người chồng. Từ khi họ lấy nhau đến giờ, hai đứa con ra đời, và sự túng bấn ban đầu đã trở thành một nỗi nghèo hèn âm thầm, che đậy, tủi hổ, một nỗi nghèo hèn của gia đình quý phái dù sao vẫn muốn giữ địa vị của mình.

Hécto đơ Gribơlanh được nuôi dạy ở tỉnh nhỏ, tại trang viên bên nội, do một vị mục sư già làm gia sư. Nhà chàng không giàu nhưng vẫn sống lần hồi và gìn giữ mẽ ngoài. Rồi năm chàng hai mươi tuổi, gia đình tìm công ăn việc làm cho chàng, và chàng vào làm nhân viên hưởng lương một ngàn năm trăm quan ở Bộ Hàng Hải. Chàng đã dạt vào tảng đá ngầm ấy như hết thảy những kẻ không sớm được chuẩn bị cho sự chiến đấu gay go với cuộc sống, tất cả những kẻ nhìn đời qua một áng mây mờ, không biết phương sách và lực đề kháng, những kẻ không được phát triển từ nhỏ những năng khiếu đặc thù, những khả năng riêng, một nghị lực gắt gao để đấu tranh, tất cả những kẻ không được giao cho một vũ khí hay một dụng cụ trong tay.
Ba năm đầu chàng làm việc ở sở thật kinh khủng. Chàng đã gặp lại được dăm người bạn của gia đình, những người già nua lận đận và cũng không giàu có gì, họ ở những khu phố quý phái, những khu phố buồn tẻ tại ngoại ô Xanh Giecmanh, và chàng đã tạo cho mình một nhóm giao du thân cận. Xa lạ với cuộc sống tân tiến, hèn mọn và kiêu hãnh, các vị quý tộc quẫn bách này ở những tầng nhà cao trong các ngôi nhà thiếp chủ. Người ở các tòa nhà đó từ trên chí dưới đều có chức tước, nhưng tiền nong dường như khan hiếm, ở tầng một cũng như ở tầng sáu. Những thành kiến cố hữu muôn đời, những băn khoăn về địa vị, mối lo toan làm sao cho khỏi lụn bại luôn ám ảnh những gia đình xưa kia hào hoa rực rỡ và sa sút đi vì sự ăn không ngồi rồi của nam giới. Hécto đơ Gribơlanh gặp gỡ trong giới này một thiếu nữ quý phái mà nghèo giống chàng, và lấy nàng làm vợ.

Trong bốn năm trời họ sinh hai đứa con. Ròng rã bốn năm sau nữa, cái gia đình luôn túng thiếu nheo nhóc này không được hưởng niềm vui giải trí nào khác ngoài buổi dạo chơi ngày chủ nhật ở Săng Êlidơ và dăm tối xem hát, mỗi mùa đông được một, hai lần, nhờ có một bạn đồng nghiệp tặng vé mời. Nhưng vào mùa xuân năm nay, anh nhân viên được ông sếp giao cho việc làm thêm và được lĩnh món tiền thưởng kỳ lạ là ba trăm quan. Đem số tiền đó về, chàng bảo vợ:
- Em Henriette thân yêu, chúng ta phải hưởng một cái gì đó, một cuộc vui cho con chẳng hạn.
Và sau khi bàn cãi rất lâu, họ quyết định sẽ về dạo chơi và ăn trưa ở vùng quê.
- Thực đấy! – Hecto kêu lên – một lần chẳng thành lệ quen được, chúng ta sẽ thuê một cỗ xe cho các con, cho em và chị vú, anh sẽ lấy một con ngựa ở nơi tập ngựa. Đi như vậy có lợi cho anh.
Và suốt tuần, họ chỉ nói về cuộc du ngoạn sắp tới. Mỗi tối, ở sở về, Hecto lại ôm lấy đứa con lớn, đặt nó cưỡi lên chân mình, vừa dùng hết sức lực nhún cho nó nhảy lên nhảy xuống, vừa bảo nó:
- Chủ nhật tới, đi dạo chơi, bố sẽ phi ngựa như thế này này.
Và thằng bé, suốt ngày, cưỡi lên ghế, lôi ghế vòng quanh phòng mà kêu: “Đây là bố đi ngựa đấy!”.
Và cả chị vú cũng nhìn ông chủ bằng cặp mắt thán phục, mà nghĩ rằng ông sẽ cưỡi ngựa đi kèm bên xe, và trong bữa ăn, chị nghe ông nói về thuật cưỡi ngựa, nghe ông kể lại các thành tích xưa kia, khi còn ở nhà bố. Ồ! Ông đã được tập luyện chu đáo, và một khi đã cưỡi lên con vật, ông chẳng sợ gì hết.
Hecto vừa xoa xoa hai bàn tay vừa lặp lại với vợ:
- Nếu họ cho anh được một con hơi khó nết thì anh sẽ thấy rất thú vị. Rồi em xem anh cưỡi như thế nào, và nếu em muốn, khi ở rừng về, ta sẽ về lối Săng Êlidơ. Vì trông chúng mình tươm tất, anh sẽ lấy làm hài lòng nếu gặp ai đó ở Bộ. Muốn cấp trên nể mình, chỉ cần có vậy thôi.

Vào ngày đã định, xe và ngựa tới trước cửa cùng một lúc. Chàng xuống nhà ngay để xem xét con vật minh cưỡi. Chàng đã cho đính những miếng đệm vào quần, và sử dụng chiếc roi ngựa vừa, mua hôm trước. Chàng nhấc lên và sờ từng chân một, đủ cả bốn cẳng chân con vật, nắn cổ, sườn, kheo, lấy tay gõ thử dưới lưng, mở mõm xem răng, công bố tuổi của con vật, rồi thấy cả nhà đã xuống, chàng diễn giải một bài lý thuyết và thực hành nho nhỏ về ngựa nói chung và đặc biệt con này mà chàng công nhận là hảo hạng. Khi hết thảy mọi người đã yên vị trong xe, chàng kiểm tra lại đai yên rồi nhún bổng một bên bàn đạp, chàng rơi xuống mình ngựa, con vật nhảy lên dưới sức nặng và suýt hất người cưỡi. Hecto xúc động, cố vỗ về nó.
- Nào, ngoan nào, anh bạn, ngoan nào.
Rồi, khi kẻ bị cưỡi đã bình tĩnh lại được, và kẻ cưỡi đã vững chãi lại được, anh này nói: “Xong cả chưa? ”. Ai nấy đều trả lời: “Rồi ạ”. Chàng bèn ra lệnh: “Lên đường! ”. Và đoàn người ngựa ra đi.
Ai nấy đều nhìn chàng chăm chú. Chàng phi nước kiệu theo kiểu Anh, cường điệu những lúc nảy lên nảy xuống. Vừa rơi mình xuống yên, chàng đã bật dậy như muốn vút lên không trung. Chốc chốc chàng lại như sắp rạp xuống mình ngựa, và chàng nhìn đăm đăm về phía trước, mặt tái đi, co rúm lại. Vợ chàng bế một đứa trẻ trên lòng, và chị vú bế đứa kia, cứ luôn mồm nhắc đi nhắc lại: “Nhìn bố kìa, nhìn bố kìa! ”.

Và hai thằng bé say sưa vì sự vận động, vì vui thích, vì khí trời tươi mát, kêu lên the thé. Con ngựa, hoảng sợ vì những tiếng hò la ấy, cuối cùng, phi nước đại và trong khi chàng kỵ mã cố kìm nó dừng lại thì cái mũ lăn xuống đất. Anh đánh xe phải nhảy xuống nhặt và khi Hecto nhận mũ anh ta đưa cho, chàng nói với lại từ xa bảo vợ:
- Đừng cho lũ trẻ kêu lên như thế, em làm anh bị cuốn đi đấy!
Họ ăn bữa trưa tren bãi cỏ, trong rừng Vêxinê, dùng lương thực mang theo trong hòm. Mặc dù anh lái xe đã chăm sóc ba con ngựa, Hecto cứ chốc chốc lại đứng dậy ra xem con của mình có đầy đủ mọi thứ không, và chàng vuốt ve cổ nó, cho nó ăn bánh mì, bánh ngọt, đường. Chàng tuyên bố:
- Con này phi khá lắm. Lúc đầu nó còn hơi lắc làm anh bị sóc nảy lên, nhưng em thấy anh tĩnh trí trở lại rất nhanh, nó đã nhận ra chủ nó rồi, bây giờ nó không cựa quậy nữa đâu.

Như đã quy định trước, họ trở về theo lối Săng Êlidơ. Đại lộ thênh thang nghìn nghịt những xe cộ. Và hai bên đường, người đi dạo đông đến nỗi tưởng như hai dải băng đen dài buông từ Khai Hoàn Môn đến tận quảng trường Côngcooc. Nắng dội xuống tất cả đám người đó, làm ánh ngời lên làn véc ni sơn đen, nước thép của yên cương, những quả nắm ở cửa xe. Một cơn mê cuồng vận động, một nỗi say đời dường như khuấy đảo đám đông người, vật, xe này. Và đằng kia, tháp Ôbêlixcơ vươn lên trong một áng sương vàng.
Con ngựa của Hecto, vừa vượt qua Khải Hoàn Môn, đột nhiên lại hăng lên, và nó phóng nước kiệu lớn qua các phố, về phía chuồng ngựa, mặc dù người cưỡi cố tìm cách làm nó dịu lại. Bây giờ cỗ xe đã ở xa, xa mãi đằng sau, và đến trước Nhà triển lãm công nghiệp, con vật thấy địa thế rộng, bèn rẽ sang phải và phi nước đại. Một bà già khoác tạp dề bình thản đi ngang qua đường, bà ta ở đúng vào lối Hecto đang vùn vụt tới. Bất lực không kìm nổi ngựa, chàng lấy hết hơi sức thét lên: “Này! Ấy! Này! Đằng kia này!”.
Hình như bà lão điếc, vì bà cứ thản nhiên đi tiếp cho đến lúc va vào ngực con ngựa đang lao đi như một đầu máy xe lửa, bà ngã lăn ra cách đó mươi bước, váy tốc lên, sau khi đã lăn ba vòng lộn nhào đầu xuống đất. Có tiếng kêu: “Bắt lấy hắn! ”. Hecto, bàng hoàng hoảng hốt, bám chặt lấy bờm ngựa mà hét:
- Cứu tôi với!
Một cái sốc nảy lên kinh hoàng hất chàng bắn tung như quả bóng qua tai con tuấn mã của chàng và rơi vào tay một viên cảnh sát vừa lao đến đón đường. Chỉ trong giây phút, một đám người giận dữ, hoa chân múa tay, gào thét om sòm, đã tụ tập quanh chàng. Nhất là một vị già cả, một vị già cả mang huy chương lớn hình tròn và bộ ria lớn bạc trắng, có vẻ rất phẫn nộ. Ông ta nhắc đi nhắc lại:
- Quái quỷ, đã vụng dại như thế thì ở nhà cho xong! Không biết điều khiển một con ngựa thì đừng có ra phố mà giết người!
Nhưng bốn người đàn ông đã khiêng bà già đến. Bà ta trông như chết rồi, với bộ mặt vàng ệch và chiếc mũ trùm xộc xệch, lấm bụi bê bết.
- Đem người đàn bà này đến nhà một dược sĩ – vị già cả ra lệnh – còn ta đến sở cảnh sát.

Hecto lên đường, có hai cảnh binh đi kèm. Một cảnh binh thứ ba dắt con ngựa của chàng. Một đám đông theo sau, và bỗng nhiên, cỗ xe xuất hiện. Vợ chàng lao tới, chị vú mất tinh thần, lũ trẻ rú lên. Chàng giải thích rằng chàng sẽ về ngay, rằng chàng làm ngã một người đàn bà, rằng không sao cả. Và gia đình chàng ra về, hoảng hốt. Tại sở cảnh sát, sự trình bày cũng ngắn gọn. Chàng khai tên mình, Hécto đơ Gribơlanh, nhân viên Bộ Hàng hải, và họ chờ tin tức của người bị thương. Một cảnh binh được cử đi xem tình hình quay về. Bà đã tỉnh, nhưng đau ghê gớm ở bên trong, bà bảo thế. Đó là một bà già làm công, sáu mươi nhăm tuổi, tên là Ximông.
Khi biết bà ta không chết, Hecto lại hy vọng, và hứa sẽ chịu tiền phí tổn chữa chạy. Rồi chàng chạy đến nhà ông dược sĩ. Một đám đông nhốn nháo đứng đầy trước cửa, bà lão nằm lả trong ghế bành, rền rĩ, hai tay bất đồng, mặt ngây ra. Hai thầy thuốc vẫn đang khám nghiệm. Không chân tay nào bị gãy, nhưng họ ngại có sự tổn thương bên trong. Hecto nói với bà:
- Bà có đau lắm không?
- Ôi! Có!
- Ở đâu?
- Như thể trong bụng tôi có lửa đốt.
Một thầy thuốc tiến lại gần:
- Thưa ông, ông là người gây ra tai nạn phải không?
- Thưa ông, vâng.
- Phải gửi người đàn bà này đến nhà an dưỡng, tôi biết một nơi sẽ nhận bà ta với giá sáu quan một ngày. Ông có muốn tôi thu xếp dùm không?
Hecto phấn khởi cảm ơn và trở về nhà. Vợ chàng khóc lóc đợi chàng. Chàng an ủi vợ:
- Không sao cả. Cái nhà bà Ximông ấy đỡ rồi, chỉ vài ba ngày nữa là khỏi hẳn, anh đã gửi bà ta đến một nhà an dưỡng, không sao cả!
Không sao cả!

Ngày hôm sau, tan sở, chàng đến hỏi thăm bà Ximông. Chàng thấy bà đang ăn món cháo thịt một cách rất thỏa mãn
- Thế nào? – chàng hỏi.
Bà ta trả lời:
- Ôi, khốn khổ thưa ông, chả khác gì hết. Tôi gần như bại hoại. Không thấy đỡ.
Thầy thuốc tuyên bố là phải chờ đợi, e có thể xảy ra biến chứng. Chàng đợi ba ngày, rồi chàng trở lại. Bà già, khí sắc sáng sủa, mắt trong leo lẻo, vừa nhìn thấy chàng là rền rĩ:
- Khốn khổ thưa ông, tôi không cựa quậy được nữa. Tôi bị thế này đến hết đời thôi.
Hecto rùng mình thấu xương. Chàng hỏi thầy thuốc. Thầy thuốc giơ tay lên trời:
- Làm thế nào được, thưa ông, về phần tôi, tôi không biết. Bà ấy cứ hét lên khi người ta định nâng dậy. Ngay như xê dịch cái ghế bành bà ấy ngồi, bà ấy cũng kêu la thê thảm. Tôi đành phải tin điều bà ấy nói với tôi, thưa ông, tôi không ở bên trong. Chưa trông thấy bà ấy đi lại thì tôi không có quyền cho là bà ấy nói dối.
Bà lão im lặng nghe, mắt nhìn thâm hiểm.

Tám ngày trôi qua, rồi mười lăm ngày, rồi một tháng. Bà Ximông không rời cái ghế bành của bà. Bà ăn từ sáng đến tối, béo ra, trò chuyện vui vẻ với các bệnh nhân khác, có vẻ quen với sự im lìm bất động, dường như đó là sự nghỉ ngơi xứng đáng cho năm mươi năm trời lên thang xuống thang, lật đật, rũ đệm, vác than từ tầng gác này đến tầng gác khác, dọn dẹp quét tước.
Hecto bàng hoàng, ngày nào cũng đến, ngày nào cũng nhìn thấy bà bình tĩnh thanh thản và tuyên bố:
- Tôi không cựa quậy được, khốn khổ thưa ông, không được nữa.
Tối nào bà Gribơlanh cũng hỏi, đầy lo âu khắc khoải:
- Thế bà Ximông ra sao?
Và lần nào chàng cũng trả lời với nỗi rầu rĩ tuyệt vọng:
- Chẳng có thay đổi gì, chẳng có gì hết!

Họ cho chị vú thôi việc, vì tiền công của chị nay thành gánh nặng. Họ lại tằn tiện hơn nữa, toàn bộ món tiền thưởng hết sạch vào đó.
Hecto bèn mời bốn thầy thuốc lớn tập hợp xung quanh bà lão. Bà để cho họ khám xét, sờ nắn, rờ rẫm, và nhìn họ bằng con mắt láu lỉnh. Một thầy thuốc nói:
- Phải làm cho bà ta đi lại.
Bà ta kêu to:
- Tôi không đi được, các ngài ơi, không đi được!
Họ bèn tóm lấy bà, xốc bà lên, kéo bà đi vài bước, nhưng bà tuột ra khỏi tay họ và ngã lưng xuống sàn mà gào thét kinh khủng đến nỗi họ khiêng trả bà lại ghế ngồi một cách gượng nhẹ cực kỳ. Họ phát biểu một ý kiến dè dặt, tuy nhiên vẫn kết luận là mất khả năng lao động. Và, khi Hecto báo tin này cho vợ biết, nàng để rơi mình xuống ghế, lắp bắp:
- Mang bà ấy về đây còn hơn, đỡ tốn kém cho ta.
Chàng nhảy lên:
- Về đây, về nhà chúng ta ư em?
Nhưng nàng, giờ đây đành nhẫn nhục chịu đựng hết thảy, trả lời, nước mắt lưng tròng:
- Làm thế nào được hả anh, có phải lỗi tại em đâu!...

Lê Hồng Sâm dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeWed Oct 02, 2019 8:00 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 9k=

Boris Petrovich Ekimov (1938) là nhà văn, nhà chính luận, từng được nhiều giải thưởng văn học Nga từ năm 1976, giải thưởng Solzhenitsyn năm 2008.

Ở nơi đất khách
- Boris Ekimov (Nga)

Cuối tháng 11, Vacia Kolun xuất hiện ở trong làng. Anh ta bao giờ cũng về nhà vào dịp lễ: Lễ Giáng sinh, lễ tống tiễn mùa đông, lễ Phục sinh, lễ ba ngôi, khi mà thượng đế cho phép tất cả mọi người được vui chơi thoả thích. Mấy năm này, Vacia làm việc ở thành phố: Lái xe, buôn bán cái gì đó (tất nhiên không phải thứ mình làm ra), sửa chữa xe cộ. Nói tóm lại là thử đủ mọi nghề. Mà Vacia Kolun mới có 30 tuổi. Bỏ vợ. Tự làm chủ mình. Sống nay đây mai đó; thỉnh thoảng anh ta có ghé về quê thăm mẹ dăm bữa nửa tháng rồi lại đi mất. Thỉnh thoảng kiếm được anh ta rất hào phóng. Nhưng thường thì phải lục ví tiền của mẹ để trả cho những bữa nhậu nhà quê.

Lần này Vacia xuất hiện vào dịp cuối năm, giáp Tết, mặc bảnh choẹ: áo da cừu thuộc xanh rêu, đội mũ có tai bịt cũng bằng da cừu thuộc, chân đi đôi bốt da cao cổ. Còn cái mặt thì giống như mặt mèo, tròn xoe, rõ ra người no đủ. Xe buýt chở Vacia từ trung tâm huyện đỗ sát ngay bên xưởng cơ khí của đội sản xuất và gara ôtô. Ở chỗ đó bao giờ cũng đông người.
- Ở đâu về đấy, Vasek (Vacia gọi thân mật)? - Mọi người hỏi anh ta - Trông mặt mũi đầy đặn thế kia chắc ăn nhiều, hay là ở nhà nghỉ về?
- Từ nhà tù ra.
Lập tức những câu đùa ào theo.
- Cho tớ địa chỉ nhà tù với. Chúng tớ cũng sẽ tới đấy. Tù cả đám cho vui.
- Tù cả đám không được đâu, người ta chia ra từng nhóm đấy. - Vacia cảnh cáo, nhưng vẫn cho địa chỉ: -Svarsenpumpe.
- Đấy là đâu vậy hả? - Cả bọn ngạc nhiên.
- Cộng hoà Liên bang Đức.
Đám đông im bặt. Gã mugic có vẻ như nói đùa. Nhưng nét mặt thì chẳng có vẻ gì là đùa cợt cả. Lấy từ trong túi ra cái chai nửa lít đựng rượu, hắn chiêu đãi mọi người, gọi là chào mừng ngày trở về quê hương, theo lệ. Mọi người chia đều rượu, đồng loạt uống cạn. Thế rồi người ta cũng hiểu được đôi chút sự việc. Hoá ra có một bọn người Chechen hay người Gruzin làm thuê cho Vacia chuyển xe ôtô từ Đức sang Nga. Họ sang bên đó bằng máy bay. Ở đấy người ta giao xe cho họ. Cứ thế mà lái về. Đến Bạch Nga sẽ có người tiếp nhận những chiếc xe đó. Vacia đã chuyển được ba chiếc. Đến cái thứ tư thì bị người Đức giữ lại ở biên giới. Trong máy vi tính có tên của hắn. Hãy bỏ tiền ra mà nộp phạt, 300 mác. Cũng chẳng hiểu vì sao lại bị phạt. Mà tiền thì không có. Thế là người ta bắt hắn ngồi tù hai tháng. Hắn mãn hạn ở cái nhà tù có tên Svarsenpumpe ấy. Đại thể, mọi người đều tin hắn. Tin cả việc hắn đã ở Đức, cả việc hắn bị tù.
Nhưng khi hắn nói đến đoạn tiếp theo thì người ta buộc phải dừng hẳn lại.
- Trong mỗi phòng giam đều có tivi màu mười một chương trình nhé. Có thể xem suốt ngày đêm. Mỗi phòng giam có từ hai đến ba người. Mỗi phòng đều có buồng tắm nóng lạnh, buồng vệ sinh.
- Thôi được rồi - người ta nói với hắn, Vacia, cậu đã bươn chải rồi. Xéo về với mẹ mà nghỉ ngơi đi.

Bọn khoác lác trong vùng không thiếu. Nhưng chẳng có ai như hắn. Nhất là hắn lại ca ngợi nhà tù nữa chứ. Gì thì gì chứ người ta cũng nghe chán về nhà tù rồi. Gã Kostia chẳng đã ở tù ba năm vì bà nhạc, còn Ivan Bưkov, như người ta đồn, ở tù vì say mê những vật dụng gia đình kỹ thuật phức tạp. Hắn thuổng có đến ba cái tủ lạnh ở cửa hàng trên huyện. Nikolai Mazaev ngồi tù những tám năm. Vì công việc, - gã giải thích ngắn gọn. Vì thế cho nên nói đến nhà tù, trại cải tạo, kỷ luật trong tù là họ cũng hiểu biết ít nhiều, đừng có tưởng dễ mà bịp được.
- Tivi màu... hai người một phòng giam... tắm nóng lạnh... buồng vệ sinh... Dân gian có câu một tấc đến trời, nhưng cũng phải có mức độ chứ. Nhà quê thật đấy nhưng đây không phải chỉ rặt bọn óc bã đậu đâu nhé. Đây cũng có đôi chút hiểu biết đấy. Nói tóm lại, họ đuổi Vacia về nhà.
Đuổi người ta về thì họ cũng đã đuổi rồi, hắn cũng đã đi rồi. Với lại thằng cha này đi đứng vẫn còn đàng hoàng lắm, rõ ra người chưa say. ấy vậy mà sau khi hắn đi rồi tự dưng lại có vài người đâm ra nghi hoặc:
- Dù sao thì cũng là ở ngoại quốc... chủ nghĩa tư bản... phát rồ hết cả rồi... cứ xem tivi thì biết...
- Tivi thì nói làm gì, ở đấy muốn cái gì người ta chiếu cái đó. Tuyên truyền mà lại! Thì bây giờ ở đấy người ta cũng tuyên truyền về chúng ta cho mà xem.
- Cậu Khachinsev người thôn Vikhliaevski đi thăm gia đình nhà vợ ở bên Đức cũng có kể...
Đến đây bỗng dưng Nikolai Mazaev chen ngang:
- Tất cả những thứ đó đều là bịa tất! - hắn la lên. - Bốc phét tổ trời! Chỉ khoẻ doạ! Vải trải giường ư! Tivi ư! Mỗ đây đã từng nếm trải cả rồi nhá, nhà tù, trại cải tạo đủ kiểu rồi! Vậy thế mà nó cứ khơi khơi làm như nhà tù là nhà văn hoá, giải trí không bằng. Thường thì gã mugic này ít lời. Thế mà bây giờ cứ nhảy chồm chồm lên, rõ ràng gã bị chạm nọc mạnh. Cứ để cho nó hót, thằng chọi con. Thề có các cụ chứng giám, tớ phải bóc mẽ nó mới được.

Thế là từ hôm ấy mọi chuyện đã bắt đầu. Trong thôn chỗ nào cũng chỉ thấy người ta nói tới cái nhà tù ở Đức ấy. Cả tuần người ta kéo Vacia đi hết nhà này đến nhà khác. Tất cả mọi người đều thích nghe câu chuyện của hắn, cho dù cũng chẳng tin, là vì nó cứ như truyện cổ tích vậy.
- Phòng giam có loại cho một người, có loại cho bốn người, còn phòng của tớ có hai người. Chỗ vệ sinh, lavabô, nhà tắm, nước nóng suốt ngày đêm...
- Gớm quá nhỉ! Còn chỗ chúng ta thì họ lại đóng cửa nhà tắm công cộng.
- Trong mỗi phòng giam đều có tivi màu. Chiếu cả mười một chương trình. - Bao nhiêu? - Mười một. - Sướng nhỉ... - Có ai đó thở dài - Nhà tù gì mà sướng thế.
- Nếu thích xem hoạt hình, có riêng một chương trình. Muốn xem đá bóng có đá bóng, muốn khúc côn cầu có khúc côn cầu. Còn phim hình sự thì thôi rồi, cứ gọi là thoải mái suốt ngày đêm. Mỗi phòng lại còn có cả tủ lạnh nữa chứ.
- Thế có cái gì ở trong ấy?
- Những thứ mua ở cửa hàng chứ còn cái gì. Cửa hàng làm việc hàng ngày mà cái gì cũng có chứ chẳng như cửa hàng ở thôn ta đâu. Nếu không có cái gì thì cứ việc đặt, người ta khắc mang tới vào ngay ngày hôm sau. Những buổi nói chuyện như vậy thường diễn ra trong bếp, nơi người ta uống hết chai này tới chai khác, nhắm rượu với dưa chuột muối, bắp cải muối, mỡ muối hay đồ nguội. Còn hút thuốc thì phải ra ngoài không thì khói thuốc khéo mà làm tốc cả mái nhà mất.
- Ban ngày nhà giam khoá cửa. Nếu muốn đi dạo thì đi dạo ở các tầng. Muốn chơi thể thao hả, cứ việc đến phòng tập luyện, ở đấy có đủ mọi loại dụng cụ. Có cả máy chạy, chạy hoài ở trên đó mà cứ như đứng nguyên tại chỗ. Có cả xe đạp, bàn bóng bàn. Nếu không thích chơi thể thao thì vào thư viện. ở đấy đầy sách đủ các thứ tiếng. Có cả tiếng Nga. Tớ cũng đã mượn.

Vacia ngồi ở chỗ trang trọng nhất, thong thả nhắm rượu với đồ nguội. - Nhưng đồ nguội ở đó lại cóc có, cái gì đã không có là không có. Các thứ còn lại thì cứ việc ních căng bụng. Buổi sáng dứt khoát phải có yogurt. - Cái gì, cái gì?...
- Yogurt. Một dạng sữa chua, nhưng ngọt và có thêm mùi trái cây. Cứ việc ăn thả sức, căng bụng. Bữa trưa, hôm thì người ta cho ăn thứ súp đặc nấu với khoai tây nghiền, hôm thì súp đậu, hôm súp rau, giống như súp củ cải đỏ nhà mình ấy.
- Thế có sampan không đấy? - Mazaev không nhịn được.
- Người ta tổ chức khiêu vũ một vài lần, có nhạc sống kèm theo. Đàn ông đàn bà đều được thả cả ra để nhảy với nhau. Khi đó thì có cả rượu và bia.
- Mày không bốc phét đấy chứ? - Trong nhà tù còn có cả khiêu vũ nữa... - Mazaev không còn giữ được bình tĩnh. - Nikolai! Người ta cảnh cáo hắn - đi hút thuốc đi. Mazaev ngoan ngoãn bước ra ngoài. Gặp ai ở hành lang hắn cũng giận dữ chứng minh:
- Rõ ràng là nó nói dối! Chính bản thân tớ đi hết nhà tù nọ đến nhà tù kia... Cả trong các trại cải tạo kiểu mẫu cũng đã từng, có những nơi giam giữ những người ngoại quốc, mà kể cả đấy cũng không phải nhà nghỉ, cũng không phải nhà trẻ! Đấy là nhà tù có chấn song sắt! Hắn nói dối! Gầy gò, rúm ró, Nikolai bổ nhào hết người nọ sang người kia, hai mắt đỏ kè.
- Nếu như không làm việc người ta vẫn cho năm mươi mác một tháng để tiêu vặt. Cũng đủ... Còn nếu như làm việc thì được ba trăm mác - đó là lương tối thiểu ở nước người ta, ít hơn không có. Đó là lương cho người quét dọn, làm vườn, trồng cây trong nhà kính, chăn thỏ, giặt giũ. Cũng có thể nhận được tới năm trăm, thậm chí bảy trăm mác.
- Nếu tính ra tiền ta thì chỗ đó là bao nhiêu?
- Thì cứ tính đi... Một mác ăn mười hay mười hai rúp. Năm trăm mác - vị chi là hơn năm trăm nghìn, khoảng sáu bảy trăm nghìn gì đó.
Những tiếng kêu, tiếng tranh cãi nổ ra ầm ầm. Là bởi vì người ta chẳng bao giờ được nhìn thấy số tiền lớn đến như vậy. Lương hai ba trăm rúp nhận được còn là khướt. Thôi thì đủ các loại giấy tờ, rồi ký nhận, cuối cùng thì cả năm cũng còn không nhận được. 
- Đồ dối trá khốn nạn! - Nikolai mất giọng, khào khào nói. - Tao gặt lúa có đến cả tháng rưỡi trời... không rời khỏi máy gặt... làm cả ngày lẫn đêm mà cũng chỉ được có nghìn rưởi... mà số tiền đó cũng đã nhận được đâu... Nói dối! - Và không chịu được, hắn vùng bỏ ra ngoài phố để băng tuyết làm dịu bớt cái đầu.

Vacia bình thản nhìn cảnh om sòm. Hắn thong thả làm một tợp rượu nhắm với đồ nguội chấm tương ớt. Hắn khen: - Chỗ ấy thế mà không có đồ nguội. Cái gì đã không có là không có. Khi đám đông trật tự trở lại, hắn lại tiếp tục hót:
- Xàphòng, nước gội đầu, kem đánh răng, bàn chải, dao cạo và các thứ khác người ta cho không. Mặc thì quần áo của họ. Khăn trải giường, khăn tắm, khăn mặt, đồ lót thay hàng ngày. Người ta vừa đẩy chiếc xe đựng đồ dọc theo ban công vừa kêu: Có ai cần giặt không!. Chỉ việc vất quần áo bẩn vào đó, rồi nhận lấy quần áo cũ.
- Thế mới là sống chứ... - Có ai đó ghen tức. - Hệt như đi nghỉ biển vậy. Giá mà được đến đấy nhỉ...
- Thì cứ việc, - Vacia thông báo. - Cứ đi đến Berlin, ở đó có ga SO ngay trong thành phố. Đi một vòng quanh ga sẽ tìm thấy một văn phòng.
đó người ta sẽ phát cho cái vé ngủ không mất tiền, rồi hướng dẫn tiếp đến chỗ đó như thế nào.
- Còn gì nữa, phải mau mau mà tới đó thôi! Cứ như vậy các buổi chiều trôi nhanh: Hết chai rượu nọ đến chai rượu kia được đặt lên bàn. Các thứ đồ muối, đồ mặn, mỡ muối nhà làm. Vacia Kolun ngồi ở chỗ trang trọng: Trong phòng giam nào là tủ lạnh, tivi màu, tủ đựng quần áo, tủ nhỏ để đầu giường, bàn... Ngày hôm nay hắn ca bài ca này ở một nhà, ngày mai nhà khác lại gọi hắn tới.
Ở nhà Vacia bị mẹ mắng: - Đừng có mà lê la các nhà như vậy. Mày không biết xấu hổ hả con? Cả thôn cứ ầm ĩ cả lên... Xóm giềng người ta chê cười cho... mày còn trẻ, còn phải sống chứ con. Trong họ nhà mình từ trước tới nay chưa có ai bị tù đày bao giờ.
- A - a... - Vacia phẩy tay.
Mẹ chẳng hiểu gì cả, có giải thích cho bà ấy cũng bằng thừa.
Như mọi lần, Vacia sống ở nhà độ hai tuần, chờ cho tới khi bà mẹ lĩnh được lương hưu mới đi khỏi. Người ta nhìn thấy hắn lên xe buýt. Trên người diện áo da cừu thuộc màu xanh, đội mũ cũng bằng da cừu thuộc có tai bịt, chân mang đôi bốt da cao cổ - tất cả đều còn mới toanh.

Hắn đi khỏi, dần dần người ta cũng quên hắn, quên cái nhà tù ở Đức. Cuộc sống hiện tại đâu có đơn giản: ở nông trang mọi thứ đều nát bét, không có lương, máy cày máy kéo không có phụ tùng thay thế. Mà máy kéo thì cần phải sửa chữa gấp, mùa xuân tới nơi rồi. Cần phải gieo hạt, lại còn cả đống ruộng chưa kịp cày vỡ từ hồi mùa thu.
Từ sáng sớm đội trưởng đi tới văn phòng, từ đấy ra anh ta dữ như quỷ, cứ hét toáng lên:
- Còn chờ cái gì nữa đây?! Phải làm bằng sức của mình ấy!!!
- Làm thế nào?! Ông không nhìn thấy chắc?!...
Cuộc cãi cọ chửi bới bắt đầu. Sau đó đội trưởng thở dài nói: - Hoặc là chúng ta bỏ tất cả rồi mang vợ con cuốn xéo khỏi đây, đi đến cái... nhà tù nơi mà Kolun ngồi trên cái bệ xí ấm ấy. Ai có địa chỉ cái nhà tù ấy không? Hắn ta đã cho rồi cơ mà. Có ai ghi lại không?
Hoá ra chẳng có ai ghi lại cả.
- Thế thì tiến lên phía trước và hát lên. Chẳng ai khổ hộ cho mình đâu. Và cũng chẳng ai nuôi chúng ta cả. Không nên chờ đợi nữa. Thời gian chẳng có chờ ai đâu. Thời gian, quả vậy đang trôi nhanh đến mùa xuân. Tính mà xem, đã là cuối tháng giêng mất rồi. Tháng hai đang ở ngay trước mặt. Cần phải chuẩn bị gấp. Tiếp theo là việc nọ nối tiếp việc kia: Nào bừa đất, gieo hạt, cày... cứ thế, cứ thế cho đến tận mùa thu.

Đang là cuối giêng. Băng giá. Tuyết rơi chất đống. Nhưng ban ngày mặt trời sưởi ấm - đâu đó băng bắt đầu tan chảy từ nóc nhà, làm thành những que nhũ rủ xuống: Káp - káp... káp - káp... Nghe rõ mồn một. Những con chim khuyên thử giọng: Dzen - dzen! Lũ trẻ từ trong trường ùa ra, cả thôn ngập trong tiếng cười lanh lảnh của con trẻ. Đó là dấu hiệu. Công việc của mùa xuân đã bắt đầu.

Đào Tuấn dịch
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeTue Oct 22, 2019 8:24 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 9k=

Sáng Thế
- Dino Buzzati (Ý)


Bấy giờ Đức Chúa Vạn năng vừa xong việc với vũ trụ: các ngôi sao, tinh vân, hành tinh, sao chỗi được xếp đặt lộn xộn một cách phóng túng. Ngài đang hài lòng ngắm nghía tác phẩm của mình thì thấy một trong hằng hà sa số những kỹ sư - chuyên viên thiết kế tiến lại gần ngài với vẻ mặt hết sức bận rộn.

Đó là thần Odnom, một trong những vị thần thế hệ mới thông minh và năng động hơn cả (Bạn nhất thiết phải quên ngay các vị thánh có cánh mặc áo trắng đi nhé; cánh và áo trắng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các họa sĩ thời xưa, chẳng qua vì họ thấy vẽ thế thì đẹp).
- Con muốn gì chăng? - Chúa Sáng Thế thân mật hỏi.
- Vâng, thưa Đấng Tối cao. - Vị thần kiến trúc trả lời. - Trước khi ngài đặt chữ Hết và ban phước cho tác phẩm tuyệt diệu của ngài, con muốn dâng ngài xem một đề án nhỏ mà con với vài đồng nghiệp trẻ vừa nghĩ ra. À, vài thứ phụ thôi, hết sức vặt vãnh so với toàn bộ phần còn lại, một chi tiết nhỏ, nhưng chúng con cho rằng có lẽ cũng thú vị.

Từ cặp tài liệu đang cầm ở tay, thần rút ra một tờ giấy có vẽ một dạng hình cầu.
- Xem nào. - Đấng Vạn Năng nói, tất nhiên là ngài đã tỏ tường toàn bộ đề án, nhưng ngài ra vẻ không biết gì và giả vờ tò mò để làm vừa lòng những kiến trúc sư giỏi nhất của ngài.
Kế hoạch rất cụ thể, có đủ những đánh giá cần thiết.
- Xem xem, đây có thể là gì nhỉ? - Đấng Sáng thế nói, tiếp tục màn ngoại giao của mình. - Ta có thể bảo đây là một tinh cầu, nhưng chả phải chúng ta đã xây hàng tỷ tỷ tinh cầu đó sao? Có cần phải làm thêm một cái nữa, với kích thước hạn hẹp thế này không?
- Thực ra đây đúng là một hành tinh nhỏ. - Vị thần - kiến trúc sư thừa nhận. - Nhưng không như hàng tỷ hành tinh khác, nó có vài thứ độc đáo.
Thần giải thích rằng nó sẽ quay quanh một ngôi sao, ở khoảng cách để nó có đủ nhiệt lượng cần thiết nhưng không quá nóng; thần liệt kê chi tiết bản dự toán với số lượng từng thứ và giá cả tương ứng. Và với mục đích gì? Chả là nếu hội đủ mọi điều kiện cần như thế, trên tinh cầu nhỏ nhoi ấy có thể tạo tiếp ra một hiện tượng rất lý thú: Cuộc sống.

Hiển nhiên là Đấng Sáng thế chẳng cần nhiều giải thích dài dòng. Hiểu biết của một mình ngài hẳn là hơn tất cả những thần-kiến trúc sư, thần-đốc công, thần-thợ nề cộng lại. ngài mỉm cười. Ý tưởng về hòn bi nhỏ lạc giữa vô hạn không gian, mang hằng hà những sự sống cứ sinh ra, giao phối, nhân lên và chết làm ngài thích thú. Tất nhiên thôi, bởi cho dù dự án là do thần Odnom và các cộng sự đề ra, thì tính cho cùng nó vẫn là từ ngài, khởi nguyên của vạn vật.
Yên tâm trước sự tiếp nhận thân tình của Thượng đế, thần-kiến trúc huýt lên một tiếng sáo chói tai và lập tức hàng nghìn, tôi đang nói gì nhỉ, hàng nghìn à, không, hàng trăm nghìn và có thể đến hàng triệu vị thần khác hiện ra ngay trước mặt.
Điều này làm Đấng Sáng thế hoảng hốt. Nếu chỉ có một vị đề đạt ý kiến thôi thì cũng được đi. Nhưng nếu mỗi vị thần kia mang đến nộp một đề án riêng với các giải thích cần thiết thì chuyện này phải kéo dài đến vài thế kỷ mất. Tuy nhiên, với lòng tốt vô biên, ngài đành chuẩn bị chấp nhận thử thách. Bọn hay quấy quả là một tai ương vĩnh cửu. Ngài chỉ biết thở dài...
Odnom làm ngài yên tâm. Không có gì phải sợ. Đám đông các thần này đều là các nhà vẽ mẫu. Ủy ban điều hành của tinh cầu mới đã đặt họ vẽ các loài sinh vật - cây cối và động vật - cần thiết cho tinh cầu mới. Odnom và đồng nghiệp đã không lãng phí thì giờ. Thay cho việc đưa ra các kế hoạch trừu tượng, họ đã tiên liệu các chi tiết nhỏ nhất. Và có lẽ tự thâm tâm, họ muốn đặt Đấng Tối cao trước sự đã rồi với một công việc hoàn hảo đến thế. Nhưng chẳng cần phải vậy.
Cuộc diễn hành đáng chán của bọn xin xỏ mà ngài chờ đợi hóa ra lại biến thành một dạng huy hoàng và vui tươi. Ngài không chỉ chăm chú xem xét phần lớn - nếu không phải tất cả - các bức vẽ cây cỏ sinh vật mà còn hăng hái tham gia vào các tranh luận liên tục nảy ra giữa các tác giả.

Mỗi nhà tạo mẫu hiển nhiên đều mơ ước tác phẩm của mình được thông qua, được khen nữa thì càng tốt. Nhưng trình độ tạo mẫu là hết sức khác nhau. Như bất cứ nơi nào trong vũ trụ, một số đông những kẻ tầm thường phải lăn lưng ra chế tạo cái mà chúng ta có thể gọi là "nền tảng vững chắc" cho tự nhiên: các thợ vẽ, tuy thường có trí tưởng tượng khá hạn chế, nhưng cần cù bù thông minh, họ đã lần lượt vẽ ra các vi sinh vật, rêu, địa y, côn trùng, đại khái những loài mà thời đó được xếp vào loại ít quan trọng nhất. Rồi đến các nghệ sĩ tài năng, bọn ngông cuồng, bọn lòe bịp cố gắng tỏa sáng và thu hút chú ý bằng cách tạo ra các loài kỳ dị, phức tạp, hoành tráng và đôi khi quái đản. Vài loại trong số đó, ví dụ rồng với hơn chục cái đầu, tất nhiên là bị từ chối và vứt vào sọt rác.
Các bức vẽ được thể hiện trên loại giấy xịn nhất với màu sắc và độ lớn bằng vật thật. Điều này rõ ràng đẩy tác giả của các sinh vật bé nhỏ xuống hàng thứ yếu. Các tác giả của vi khuẩn, virus và các loài tương tự gần như không được ai để ý, mặc dù công lao của họ là không thể phủ nhận. Họ xuất hiện với những miếng giấy bé bằng tem thư, có những ký hiệu li ti mà con mắt người thường của chúng ta không thể thấy được (nhưng mắt họ thì thấy, tất nhiên). Trong đám này có tác giả của các động vật thân khớp, đi đi lại lại với quyển ký họa to bằng cái mắt muỗi, chờ những người khác tán thưởng vẻ duyên dáng của các vi động vật tương lai nhang nhác giống gấu con, nhưng chẳng ai thèm để ý. May thay Đấng Toàn năng vốn chẳng bỏ sót điều gì, đã gửi cho vị này một cái nháy mắt làm ấm lòng, đáng giá bằng cái bắt tay nhiệt tình nhất.
Một cuộc tranh cãi gay gắt nổ ra giữa tác giả của lạc đà hai bướu và lạc đà một bướu, ai cũng cho rằng mình là người đầu tiên nghĩ ra cái bướu, như thể đó là một sáng chế thiên tài. Cả hai được công chúng đón nhận một cách khá lạnh nhạt: Phần lớn cho rằng chúng xấu đến thảm hại. Chúng được chấp nhận chẳng qua là cho công bằng.
Dự án về khủng long bị đa số la ó phản đối. Một nhóm các thần táo bạo nhiều tham vọng đã tổ chức một cuộc diễu hành, giương cao những tấm bảng khổng lồ có hình loài động vật lực lưỡng này. Sự phô trương như thế rõ ràng đã gây ấn tượng mạnh. Dù sao thì loài thú ngoại cỡ này cũng là sự thổi phồng hơi quá đáng và không có nhiều khả năng là chúng sẽ sống sót. Nhưng để khỏi làm các nghệ sĩ dũng cảm thất vọng - họ đã đổ bao tài năng công sức vào đó - Đấng Sáng thế Tối thượng vẫn cho thông qua.
Một trận cười nổ ra trước hình vẽ con voi. Độ dài của cái mũi có vẻ hơi quá đáng, thậm chí lố bịch. Tác giả vặc lại là đấy không phải cái mũi, mà là một cơ quan đặc biệt, có thể gọi là cái vòi chẳng hạn. Từ này khá là thích đáng và được vài người hoan hô. Đấng Toàn năng mỉm cười. Và con voi cũng thành công lọt qua vòng thi.

Đối lại, cá voi dành được thành công tức thời và ngoạn mục. Sáu vị thần bay tới, khiêng một tấm ván ngoại cỡ có chân dung con vật khổng lồ. Nó tạo được thiện cảm cho mọi người và khơi dậy sự hoan hô nhiệt liệt.
Nhưng làm sao mà nhớ hết được cuộc kiểm điểm vô tận ấy? Trong số những cái đinh nổi trội nhất, chúng tôi có thể kể ra một số loại bướm lớn màu sắc sặc sỡ, trăn khổng lồ, cây cù tùng, chim thủy tổ, chim công, chó, hoa hồng, bọ chét. Tất cả đồng thanh tiên đoán một tương lai lâu dài và xán lạn cho ba loài cuối cùng này.
Trong lúc đó, giữa đám đông các thần đang chen chúc sôi nổi quanh Đấng Toàn năng, khao khát được ban khen, một vị đơn độc đi đi lại lại với cuộn giấy cặp nách: thật là một kẻ quấy rầy bậc nhất khó chịu! Hắn có gương mặt sáng sủa, thật thế, cái này không ai phủ nhận. Nhưng hắn mới đáng ghét làm sao! Đến hai chục lần là ít hắn sấn sổ chen vai thích cánh người khác hòng leo lên hàng đầu, thu hút sự chú ý của Đại Chủ nhân. Nhưng sự hăng máu kiêu ngạo của hắn làm người ta phát ghét. Và các đồng nghiệp giả đò không thấy, đẩy hắn ra hàng sau.
Nhưng điều này chẳng làm hắn chùn lòng. Ối chà! Cuối cùng hắn cũng chen được đến chân Đấng Sáng thế, và trước khi đám đồng nghiệp có thì giờ ngăn trở, hắn trải cuộn giấy ra trưng thành quả tài năng của mình trước những con mắt thần thánh. Các bức vẽ thể hiện một động vật trông khá đáng ghét, nếu không nói là đáng ghê tởm, tuy nhiên đập vào mắt người ta vì sự khác biệt hoàn toàn so với những thứ được trình diễn cho đến lúc đó. Một bên là con đực, một bên là con cái. Như nhiều động vật khác, chúng có tứ chi, nhưng ít nhất nếu suy đoán từ hình ra, thì chúng chỉ dùng có hai chi để đi lại. Không có lông, nếu không kể vài túm chỗ này chỗ kia, nhất là trên đầu, như một cái bờm. Hai chi còn lại lòng thòng bên hông trông khá nực cười. Cái mõm hơi giống khỉ, loài đã vượt qua vòng thi. Hình dáng không được thanh nhã, hòa hợp và đẹp như các loài chim cá hay sâu bọ cánh cứng mà nguều ngoào, lóng ngóng, hơi nhờ nhạt thế nào đó, như thể đúng lúc quyết định, tác giả vào đâm mệt và nản chí.

Đấng Toàn Năng liếc qua:
- Không thể nói là chúng thật đẹp được! - Ngài vừa nhìn vừa bảo, thân tình giảm nhẹ sự nghiêm khắc trong phán xét. - Nhưng có thể con vật này có vài công năng đặc biệt chăng?
- Vâng, lạy Chúa tôi. - Kẻ đáng ghét khẳng định. - Nói một cách khiêm tốn thì đây là một sáng chế kỳ diệu. Đây sẽ là đàn ông và đây là đàn bà. Tách biệt với khía cạnh hình thể mà con thừa nhận là còn cần tranh cãi, con đã tìm ra cách để chúng có thể - xin ngài tha thứ cho sự táo gan của con - giống ngài, thưa Đấng Tối cao. Đây sẽ là loài duy nhất trong mọi vật có được lý trí, loài duy nhất biết đến sự tồn tại của ngài, loài duy nhất sẽ thờ cúng ngài. Vinh danh ngài chúng sẽ xây những ngôi đền vĩ đại, và chúng sẽ lao vào những cuộc chiến đầy chết chóc.
- Chà chà chà! Con muốn nói đây sẽ là loài có trí tuệ à? - Đấng Toàn Năng nói. - Tin ta đi, con của ta, không, không có loài trí tuệ nào hết. May thay cho đến nay vũ trụ vẫn được miễn trừ khỏi chúng. Và ta hy vọng sẽ tiếp tục như thế cho đến tận cùng các thiên niên kỷ. Con của ta ơi, ta không chối rằng sáng tạo của con thực sự là thiên tài. Nhưng con có thể bảo đảm sự thành công của nó chăng? Cái loài con đã nghĩ ra này có các phẩm chất đặc biệt, có thể thế, nhưng nếu xét theo điệu bộ của chúng thì có vẻ đây sẽ là nguồn rầy rà vô tận. Tuy nhiên, ta phải nói là ta rất sung sướng thừa nhận tài năng của con. Thậm chí ta có thể trao huy chương cho con. Nhưng ta nghĩ con nên từ bỏ ý đồ này thì hơn. Cái loài này, nếu ta mềm lòng mà tạo ra thì khá chắc chắn là một ngày chúng sẽ mang lại những phiền hà tệ hại nhất. Không, không, bỏ đi thôi.
Và ngài đuổi kẻ quấy rầy đi với một cử chỉ đầy tình phụ tử.

Tác giả của con người cau có bỏ đi dưới những nụ cười thầm ranh mãnh của đồng nghiệp. Muốn làm ra vẻ xuất sắc à... Sau đó đến lượt tác giả của gà gô đen.
Đó là một ngày đáng nhớ và vui vẻ như mọi giờ phút huy hoàng trong hy vọng và đợi chờ những điều tốt đẹp đang trên đường hình thành nhưng chưa hoàn tất. Trái Đất sẽ sinh ra với những kỳ quan tốt đẹp và tàn ác, với sự an lạc và sợ hãi, tình yêu và cái chết. Loài nhiều chân, loài sồi, giun sán, đại bàng, tò vò, linh dương, đỗ quyên. Sư tử!
Kẻ đáng ghét vẫn đi đi lại lại, không mệt mỏi và, ôi dào, trông đến là chán, với cái cặp tài liệu của hắn. Hắn không rời mắt khỏi ngôi cao, cố tìm trong mắt Đại Chủ nhân một dấu hiệu bãi bỏ lệnh cũ. Tuy nhiên các đề tài Người đang theo dõi lại hoàn toàn khác: chim ưng và trùng đế giày, chim ri và cây bông, khuẩn cầu và cá chép.
Cho đến lúc Trái Đất đã đầy tràn những loài đáng yêu và ghê tởm, hiền lành và hoang dã, khủng khiếp, tí xíu, lộng lẫy. Tiếng rì rầm của xao động, của tim đập, tiếng rên rỉ, âm ư, lúc rúc, líu lo bắt đầu nổi lên từ rừng từ biển. Đêm xuống. Các nhà tạo mẫu nhận được sự đồng ý tối thượng, bỏ đi, thỏa mãn về mặt này hay mặt khác. Mệt mỏi, Đấng Tối cao ở lại một mình trong không gian vô hạn lấp lánh sao. Ngài chìm vào giấc ngủ, thanh thản...

Ngài cảm thấy gấu áo của mình bị ai kéo nhẹ. Ngài mở mắt nhìn xuống và thấy kẻ quấy rầy đã quay lại: hắn lại mở bức vẽ ra và đăm đăm nhìn ngài khẩn khoản. Con người! Ý tưởng mới điên rồ và nguy hiểm làm sao. Nhưng tận sâu xa, đó cũng là trò chơi quyến rũ, là sự cám dỗ lớn lao đến chừng nào. Nói cho cùng, có thể nó cũng đáng công. Dào, thôi thì ra sao thì ra. Với lại vào lúc sáng thế người ta cũng nên lạc quan.
- Nào, đưa đây. - Đấng Toàn năng nói và cầm lấy bản vẽ định mệnh.
Và ngài hạ bút ký.

Phan Mai dịch từ tiếng Pháp
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeFri Nov 01, 2019 10:12 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 9k=

Miguel Rojas Mix, sinh năm 1934 tại thủ đô Chile. Giám đốc viện Nghệ thuật châu Mỹ La tinh thủ đô San Chiago. Bỏ Chile sang Pháp dạy học ở Đại học Paris VIII. Viết tiểu luận, truyện ngắn, sách thiếu nhi. “Bàn tay Chúa” là truyện ngắn ác liệt tố giác chính quyền Pinochet khát máu tại Chile chỉ có thể gây ra khổ đau, chết chóc, ly hương và quật khởi cho nhân dân xứ này. Truyện mang ý hướng ngụ ngôn, gợi ý, gợi hình, vừa có nét thần kỳ mà vẫn không xa hiện thực.


“Lạy Chúa toàn năng! Chúa là người minh triết vô biên đã giúp chúng con tuốt gươm cho Tổ quốc thân yêu tìm lại được tự do. Trước mặt đồng bào, con cầu xin Chúa điều mà con đã bao phen khẩn nguyện Chúa trong đêm vắng trước ngày 11 tháng 9; nay xin Chúa rủ lòng giúp sức cho dân tộc này tìm ra sinh mệnh sáng sủa nhất của nó trong đức tin”.
Tướng Pinochet
(Diễn văn đọc trong lễ kỷ niệm lần thứ nhất cuộc đảo chính ngày 11 tháng 9 năm 1974)



Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế A-afp-chile-prison-protest-police

Bàn tay Chúa
Miguel Rojas Mix (Chile)


Hôm ấy tôi bắt gặp lão đang bày trò với bàn tay Chúa. Tuân theo một lối nghi lễ cử hành mỗi buổi ngủ trưa, lão rút bàn tay trong hộp ra, đặt lên bàn, tắt đèn để cho vùng tam giác sáng viền quanh đấy nổi bật lên, mân mê mẫu bàn tay, nhấc nó lên và đứng lặng ngắm nghía hồi lâu giống như các bà mẹ trong loại tranh hiện thực đôn hậu ngắm nhìn con cái. Kế đó lão vỗ nhẹ vào đầu ngón tay, vào phía trần nhà, và bàn tay cất mình lên, lên, lừng lững một hồi (nó đã thường lên cao vì chỉ có nó là lên tới trên trời được), rồi chầm chậm hạ mình xuống trên mặt bàn gỗ đào. Nơi đây, lão cầm lấy bàn tay, chăm chú khảo sát nó một hồi, vuốt lưng bàn tay và, sau một hồi im lặng, lần lượt thoăn thoắt ra lệnh cho bàn tay thi hành đủ thứ trò lão nghĩ ra: bắt nó tỉa râu cho lão, gãi tai, đút ngón tay nó vào mũi lão… Nhưng cái lão khoái hơn cả và bắt nó làm liên hồi là đi lấy mấy hạt dẻ lùi trong lửa đang cháy trong lò sưởi ở cuối cái bàn làm việc to tướng.

Bàn tay Chúa thi hành bao nhiêu điều một cách nhẫn nhịn và tự tin, nhưng lâu lâu nó làm hỏng, chẳng hạn như dí bẹp một con ruồi thì chịu. Thế là, để phạt nó, lão bắt nó vào góc tường hí hoáy, và bàn tay chìa ra một ngón sáng viết ngoằn ngoèo bằng nét chữ ba-bi-lon, tùy theo lỗi nặng nhẹ, hai chục, năm chục hay một trăm lần câu nhận tội mình.

Không nên nghĩ rằng bàn tay Chúa có mang một dấu tích riêng biệt nào. Tôi thì đinh ninh rằng bàn tay có màu thiên thanh, còn móng tay thì màu mây hồng, nhưng không phải. Nó giống đúc bàn tay kẻ sử dụng nó. Lúc nào lão bày trò ra với nó, thì nó y hệt như hai bàn tay lão: cũng lông lởm chởm trên mặt lưng, cũng ngón tay ngắn ngủn dày dặn, cũng móng tròn… Và sau này, đến lượt đệ nhất phu nhân sử dụng bàn tay, thì tôi lại nom thấy bàn tay có ngón mảnh mai, lòng tay phớt hồng và móng tay dài bôi đỏ.

Bày trò một lát xong, lão phát hiện ra tôi. Lão hấp háy mắt mấy lượt, bối rối vì bị bắt gặp với món đồ chơi quái dị như thế, hoặc có thể là khó chịu vì tôi chứng kiến lão liên hệ với bàn tay Chúa, lão hấp tấp đút bàn tay vào lại trong hộp giấy dày. “Chú thấy cái gì trong này chưa?” lão vừa chỉ tay vào hộp vừa xẵng giọng hỏi tôi. “Thưa đại tướng, có thấy ạ”, tôi ngập ngừng đáp, lo sợ sự thập thò của mình gây lụy cho mình.

Lão nhìn tôi qua khóe mắt, quay người lại nửa vời và, sau một hồi lâu im tiếng, ý chừng nghĩ rằng có thể tin tưởng tôi được… cuối cùng lão giao cái hộp phát quang cho tôi (tôi phải bọc chiếc hộp vào một lớp giấy vải màu đen để cho ánh sáng khỏi lọt ra khe) rồi hạ lệnh cho tôi đưa chiếc hộp đến bà vợ lão đang cần đến nó cho bài diễn văn bà sẽ đọc chiều nay tại quãng trường Võ Binh. Trước khi ra đi, lão dặn dò thêm là phải coi ngó nó cực kỳ chu đáo, vì đây là một di vật vô giá, ích dụng lớn cho chính thể và lại càng có ích hơn nữa - lời của lão nếu như cái tốp giám mục kia, cái bọn không cha không mẹ ấy! không thường xuyên ngoan cố cãi lời lão, nhưng dù có như vậy, di vật vẫn rất có ích. “Di vật lịch sử đấy”, lão nói lại. Rồi nói tiếp là thừa kế nó từ mấy người Tây Ban Nha đầu tiên đến Châu Mỹ - bàn tay Chúa nhuốm nặng cái tính Tây Ban Nha. Để dẫn chứng, lão moi óc đọc thuộc lòng lời lẽ một người chép sử thế kỷ 16 có viết về vụ tàn sát ở So-luy-la như sau: “Người Tây Ban Nha được bàn tay Chúa dẫn đường và không nghĩ rằng họ phạm trọng tội - vì ý Chúa là đất đai kia phải được chinh phục, cứu độ và tước lấy từ quyền năng của ma quỷ”.


Trước khi bắt đầu bài diễn văn, và một khi hàng tướng tá, huy chương băng dải đầy mình, sắp lớp sau lưng như một hàng cột, Đệ Nhất Phu Nhân mở dây hộp và lấy bàn tay Chúa đưa lên cho mọi người thấy. Công chúng há mồm và chói mắt theo cái ánh sáng tỏa ra từ bàn tay, ngoại trừ một đoàn đàn bà điên chiều nào cũng quanh quẩn bên quảng trường, như thể một ai đó có quyền phép trao trả cho mấy bà những thân nhân mất tích. Người mất tích tái hiện hoặc không tái hiện, nhưng còn trao trả thì chẳng ai trao trả được. Ngoài ra, chính quyền đã lên tiếng rằng, nếu sau một tháng mà họ không xuất hiện, thì có thể chính thức công bố là mất tích và như thế là mấy bà khỏi cần tiếp tục quẩn quanh quảng trường, vì kẻ nào đã chính thức mất tích mà hiện ra lại thì đó là điều trái phép. Nhưng mấy mụ điên không cảm thấy hài lòng… Người ta cũng không thể phủ nhận rằng chính quyền đã làm đủ mọi cách trong vòng luật pháp để giải quyết vấn đề…

Sự có mặt của mấy bà điên khiến cho Đệ Nhất Phu Nhân phập phồng cao độ - bà vốn nhạy cảm, - bởi lẽ bà sợ một sự cố nào làm cho bà vấp váp trong bài diễn văn đã được tập dượt ráo riết mấy ngày nay trước gương soi, nhấn từng câu, ngắm từng động tác, và như thế thì sẽ u ám cho cái ngày sinh nhật thứ ba kỳ diệu này để kỷ niệm cuộc đảo chính đưa chính quyền mới lên thay thế. Nói vậy chứ bàn tay Chúa trấn an bà và tiếp đó, sau khi đã đưa bàn tay Chúa ra cho bốn phương tám hướng đều thấy xong xuôi, bà khai từ:

“Thưa các đại biểu lực lượng vũ trang, quý ông quý bà cùng toàn dân yêu quý. Hôm nay là ba năm kể từ ngày bàn tay Chúa hiện ra với chúng ta để cứu vớt chúng ta”, đó là lời tuyên bố mở đầu. Và chiếc bàn tay bây giờ có vẻ như sung sức và sáng ánh hơn thêm, nó nằm yên phía đằng sau gáy Đệ Nhất Phu Nhân, giúp cho bà có cái vẻ một hình tượng thời cổ đại. Đắc ý với lời phi lộ, bà sửa soạn tiếp lời thì bỗng, giữa đám đông nổi lên giọng ê a đục khàn của một bà điên rõ tiếng mồn một giữa khi diễn giả im tiếng: “Trả con cho tôi”.

Đệ Nhất Phu Nhân luống cuống thấy rõ. Làm sao nói tiếp nếu bị ngắt ngang đúng vào lúc mình định bụng trích dẫn một đoạn của Boóc-giơ mà gã cận vệ phụ trách văn hoá của đức ông chồng khuyến dụ bà chen vào giữa chừng. “Các … bạn thân … mến”, bà ấp úng lấy lại can đảm và nhìn qua nhìn lại kéo dài thì giờ, hy vọng lực lượng đặc biệt cứu gỡ cho mình và tống con mẹ điên này đi bằng công lực. Nhưng, ngay trước lúc lực lượng đặc biệt xuất hiện, một giọng khác lại vang lên từ phía đằng kia quảng trường: “Trả chồng tôi cho tôi”, “Thả con tôi ra”, “Trả em tôi cho tôi”.

Đến đây thì bàn tay Chúa hành sự và, sau khi rời gáy Đệ Nhất Phu Nhân, bắt đầu nhúc nhích các ngón tay phía trên cao khán đài, tiến xuống đám đông, đồng thời lớn dần ra, trương phồng thêm, đành đứng lại, biến đổi màu sắc. Những hòn đạn kim khí hiện ra trên lòng bàn tay, và các ngón cứng lại, long lanh màu nâu thẫm. Trên các đốt ngón tay mọc lên những chiếc đinh tán dài mấy phân, các móng đỏ biến thành họng đại bác, chân móng thành ống nhắm và các khớp thành lỗ châu mai bịt sắt, từ đây ngoi lên những chiếc đầu nón sắt chĩa vào đám đông khắp các hướng. Năm khẩu đại bác bắt đầu khạc đạn, và từng tản người nguyên khối gục ngã vô danh giữa quảng trường. Và trong khi nỗi kinh hoàng xâm chiếm những kẻ toan bài tháo chạy, thì riêng những người đàn bà điên có vẻ thản nhiên trước cuộc tàn sát và vẫn đứng trơ trơ tại chỗ, lớn tiếng gào lên nhất loạt: “Trả chồng con cho chúng tao”, “Buông tha con gái chúng tao ra”, “Để cho chúng tao có cháu”. Nhưng, cuối cùng, đám đàn bà này ngã theo xuống bởi vì bàn tay Chúa, giống hệt thời chinh phạt So-luy-la, đã muốn tận tụy phục dịch Chúa thì không để cho kẻ nào sống sót.

Và đến khi trên quảng trường không còn một mống nào đứng thẳng người thì các họng đại bác trở lại làm móng tay, các ngón mềm mại trở lại, các khớp và da nhũn mềm trở thành lòng bàn tay và bàn tay trăn qua trở lại mặt lưng mặt lòng, như thể có con mắt Chúa nhìn vào; lập tức nó kỳ cọ vào đất và vào một tượng đài dựng lên tưởng niệm một kỵ sĩ lẫy lừng để chùi máu dính vào nó, rồi trở lại nạm ánh vàng cắt thành hình tam giác và đậu xuống bàn tay run rẩy lật bật của Đệ Nhất Phu Nhân.

Hôm sau, tất cả báo chí trong nước đăng tải trên trang nhất hàng chữ sau đây:
“Tại quảng trường Võ Binh mưu sát Đệ Nhất Phu Nhân, một lần nữa bàn tay Chúa giáng xuống giữa chúng ta để cứu giúp chúng ta”.

BỬU Ý dịch
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeThu Nov 07, 2019 11:42 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Images?q=tbn:ANd9GcQRSay7XOXHWcyclDXHIGl7OMSS6zcXPXlMqhfljZ0ZHsNfio3OMg&s

Ngày cuối cùng
- Ivan Bunin‎ (Nga)(Nobel 1933)


Thôi thế là xong: gia súc bán cho người ta, chủ mới đã giong đi, những cỗ xe ngựa, yên cương, đồ đạc bán cho người ta, chủ mới cũng đã chở đi, cổng lò rèn và kho chứa củi, cửa vựa thóc và chuồng ngựa đều đã mở toang hoang: đâu đâu cũng đều trống rỗng, trơ trụi; trong sân cũng thảy đều hết sạch cả rồi.
Người chủ mới là bác thị dân Roxtovxev cho biết rằng bác ta sẽ đến vào chiều ngày hai mươi tháng tư. Bác Voeikov cũng quyết định ra đi vào ba giờ chiều đúng ngày hôm ấy; còn gia đình thì bác đã cho lên đường từ hôm mười hai.

Kẻ ăn người làm chỉ còn lại có hai mống là chú lính Piotr với thằng Xaska. Họ ngả ngớn trên những chiếc ghế dài trong căn bếp trống không, hút thuốc, rồi lúc thì với giọng bông lơn, lúc với vẻ nuối tiếc, họ nói chuyện với nhau về ông chủ đã khánh kiệt của mình. Còn chính bản thân ông ta thì ăn mặc theo kiểu thị thành, bận một bộ đồ vét tông nâu, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai, theo kiểu lính kinh kỵ có vành màu vàng, một tay cầm can, một tay xách ghế đẩu, ông ta đang đi quanh khắp trong nhà. Với những bức tường trần trụi, sao trong nhà sáng sủa thế! Mở bung hết cửa buồng nọ thông sang buồng kia, cứ vào mỗi buồng ông lại đứng lên ghế đẩu mà lột tung từ trên xuống dưới những tờ giấy dán tường đầy cứt ruồi đã bong ra khỏi mặt tường, và thế là từng mảnh giấy lớn, bên trong phủ dày vôi và hồ đã khô, rơi rào rào xuống sàn nhà. Trong một căn buồng lớn ở góc nhà, giấy dán tường lại là màu xanh sẫm pha kim nhũ. Giấy đã phai, đã bạc màu, nhưng còn mang nhiều hình bầu dục, hình vuông sẫm: căn buồng này trước đây bao giờ cũng treo các ảnh in trên kim loại và các bức tranh khắc cổ kính nho nhỏ, và ở một góc buồng là những tượng thánh. Giấy trong buồng này thì không thể bóc kịp nữa rồi.
Ánh nắng đã dịu dàng xuyên qua những ô kính mỏng, xỉn đục, trên bốn khung cửa sổ lớn. Nhớ tới lúc thiếu thời mình đã trải qua ở đây, bác Voeikov lấy gậy phang vào một khung cửa sổ, rồi phang sang chiếc khác... Kính vỡ rơi loảng xoảng xuống những bậu cửa gỗ đã mọt ruỗng, xuống những miếng gỗ hình bát giác màu vàng của sàn nhà gỗ đã nứt nẻ. Làn gió xuân dịu dàng hút qua những lỗ thủng và đã trông thấy được những bụi đinh hương xám ở bên ngoài.
Ngồi lên ghế đẩu,bác Voeikov còn định suy nghĩ nốt những ý tưởng cuối cùng.
Bác ngồi hồi lâu, cất chiếc mũ lưỡi trai ra khỏi mái đầu rộng, rẽ ngôi lệch theo kiểu cổ, - nghĩa là từ phải sang trái với hai bên tóc mai để dài - và cúi đầu xuống. Lần hồi bác nhớ lại các ông bà, cụ kỵ đã từng sống và qua đời trong ngôi nhà này, trong khu đất vườn này; bác nhớ lại được hầu hết tên của các con chó borzoi đã từng khiến cho các chuyến đi săn của họ hàng nhà Voeikov trở nên lừng lẫy... Giờ đây các con cháu của lũ borzoi chỉ còn lại vẻn vẹn có sáu mống, còm nhom, dơ dáng dại hình vì đói ăn và vì già nua... chẳng bao lâu nữa chúng sẽ chết ngoẻo thôi, điều đó là dĩ nhiên rồi... Đúng thế, nhưng không phải là Griska bỏ chúng lại cho Roxtovxev đâu! Bác Voeikov ngẩng bộ mặt ngăm đen nặng trịch của mình lên, một bộ mặt đầy những đường hằn và những vết nhăn hằn học, với bộ ria nhuộm màu xanh đen. Giờ đây đôi mắt bác long lanh một cách khắc nghiệt.

Đội mũ lên đầu, lộc cộc chống can, bác bước ra bậc thềm mà gọi vọng qua sân xuống bếp. Chú Piotr người dài ngoẵng chạy vọt tới ngưỡng cửa.
- Lũ chó đâu rồi? - bác Voeikov hỏi.
Piotr ngó ra buồng ngoài và qua sân ngó ra vườn...
- Hình như vẫn còn ở nhà cả đấy ạ.
- Ờ, thế thì hay, - bác Voeikov hét to, giọng chắc nịch, - đập chết hết đi. Cứ mỗi con, cho hai hào rưỡi.
Rồi cắm một điếu thuốc ngắn ngủn nhưng to xù vào cái bót thuốc lá loại đắt tiền đã ám khói, bác châm thuốc hút, đoạn ngồi xuống bậc ở ngoài thềm. Piotr bèn lủi vào bếp, nhanh nhẩu báo cho Xaska biết quyết định của ông chủ khiến cậu này cũng ngạc nhiên và mừng rỡ, rồi vớ lấy đoạn dây thừng dưới chiếc ghế dài, Piotr lại bước ra ngưỡng cửa, suy nghĩ: không biết bắt đầu từ con chó nào trước nhỉ.
Ba con khoang nằm ngoài nắng, ngay giữa sân. Hai con trắng nằm trong râm, cạnh kho chứa củi. Còn một con thì đang chạy ra khỏi khoảng vườn nhỏ trồng thông, men theo con đường sáng sủa giữa hai hàng cây dẫn qua một khu vườn còn thưa thớt với mấy cây táo tuy trụi lá nhưng đang trổ hoa trên mặt đất hồng hồng lúc sang xuân. Lũ chó đều đã già hết cả, kể cả con chó này, - một con chó cái màu vàng nhạt, hai tai đen, có mớ lông dài mà khô khốc ở những cẳng chân khẳng khiu, gày guộc. Piotr huýt sáo rồi vỗ vỗ đùi. Con chó qua sân tiến thẳng lại, ngoe nguẩy cái đuôi rậm cong tớn và liếm tay Piotr. Piotr quàng dây thừng vào cổ nó, rồi giậm đôi ủng lạo xạo chạy qua sân vào trong vườn. Thằng Xaska chân ngắn, tính thích cười đùa, cũng vớ lấy chiếc xẻng bằng sắt bị bỏ quên trong góc nhà ngoài, chạy theo.
Mới đầu con chó còn chịu đi. Nhưng đến cổng vườn thì nó bỗng chùn lại, chồm lên, rồi kêu lên ăng ẳng và bắt đầu quẫy lộn. Thẳng Xaska vừa chạy vừa giơ lên một cành táo có chạc dở xanh dở vàng, quật mấy nhát vào cái lưng khô khẳng của con chó, khiến chạc táo đều dính bết những chòm lông chó già nua. Piotr vừa chạy vừa ghé vai kéo dây, hệt như muốn ngã; còn con chó thì nhảy cẫng lên, vùng vằng, giật trở lại, lết người xuống đất, đầu lúc lắc. Những con borzoi đang ngủ liền bừng tỉnh, ùa đến cả đàn để thúc con chó cái.
- Đuổi chúng nó đi! - bác Voeikov chồm lên trên bậc thềm, rầy la dữ dội.
Xaska bèn dùng xẻng xua tan lũ chó. Còn con chó cái điên cuồng gặm vào dây thừng, bị chảy máu ở lợi: trong khi nghẹn thở nó đã cắn phải lưỡi. Ra đến lối đi giữa hai rặng xiêm gai ở cạnh vườn, Piotr đã đi được êm thấm hơn vì con chó đột nhiên kiệt sức, thôi không chống cự lại nữa, trông càng gày tọp đi và đã loạng choạng, chân sau bước rối loạn, đuôi cụp xuống. Ở một ngã tư đường, có một cây phong cằn cỗi, toả rộng cành. Khi Piotr quăng dây qua một cành phong to rồi mau lẹ ghé vai bên phải về phía cây phong mà kéo mạnh dây xuống thì con chó bị lôi hẫng chân sau lên, co giật và quằn quại hai chân trước, cố níu lấy đám đất lổn nhổn dưới gốc phong, nhưng nó đã bị treo lủng lẳng là là mặt đất. Cái lưỡi tím đen của nó thè ra, mặt nó nhăn nhó để lộ ra hai hàng lợi màu san hô, ánh nắng ban ngày phản chiếu trong cặp mắt màu nho lờ đờ của nó đã bắt đầu mờ mịt đi.
- Bây giờ thì im nhé, hết bắng nhắng rồi nhé, - quen thói bông đùa cả trong những cảnh thê lương, Piotr nói.

Xaska bắt chước giọng đàn bà hát í ẻo, đào một cái hố ở giữa hai bụi cây tuy trơ trụi nhưng cành đã nhú đầy những chồi xanh non tơ. Xa xa, trên những cây cổ thụ phía vườn dưới, đàn quạ kêu táo tác. Bốn phía chung quanh lũ sáo đá hót vang, một con ác là kêu ra rả, mặt trời đã làm héo khô đám lá nhàu nát dưới gốc các bụi cây, nhưng Xaska vẫn vững vàng và thoải mái dận chân lên lưỡi xẻng bóng loáng thun thút phập xuống đám đất tơi xốp màu xanh sẫm, xắt làm đôi những con giun béo, đỏ thẫm. Andrei, một cậu nông dân trong làng, ăn mặc tề chỉnh, đang trông cho con ngựa cái của mình ăn cỏ trong mảnh vườn vô chủ, thấy vậy bèn tiến lại gần.
- Sao lại xử tử nó thế? - cậu tủm tỉm cười, hỏi.
- Theo lệnh mà lại, - Piott vẫn ghé vai giữ dây đáp. - Để từ biệt mà lại. Ông ấy ra lệnh xử tử tuốt. Cốt sao không để chúng lại cho ai sất cả.
- Ông ấy xót lắm hả?
- Ai chả xót cơ chứ. Còn cậu thì đã đưa ngựa vào ăn trong vườn rồi đấy hả? Coi chừng, chiều nay chủ mới sẽ đến. Với ông ấy thì đừng có hòng mà chăn ngựa.
- Đến chiều mình lại ruổi ngựa về đấy mà, - Andrei nói.
Cậu ta lấy gậy thúc vào đít con chó, con chó bừng tỉnh, thót bụng lại gầm gừ. Rồi cậu ta lơ đãng nói tiếp.
- Mới đây mình cũng đập chết một con chó. Nó bị chó nhà ai cắn chả biết, chỉ sống được đâu một, hai tuần, rồi sủa cũng chẳng sủa được... Mình nghĩ mãi, nghĩ mãi đành mang ra đập chết đi vậy.
- Chó thì cũng như người, người hơn chó nhiều mà còn bị xử tử nữa là, - Piotr nói.
- Vậy cậu được thấy rồi sao?
- Mình làm sao thấy được. Họ có cho ai vào xem đâu, đến cả người nhà cũng chẳng được vào nữa là. Lính tráng họ kể cho mình nghe rằng ban đêm người ta dựng giá treo cổ, rồi sáng tinh mơ thì dẫn cái tên hung đồ ấy ra, người đao phủ trùm cho hắn một cái túi vào đầu rồi treo hắn lên một đoạn dây chão bện bằng cao su. Bác sĩ đến xem rồi cho biết ngay tức thì là hắn đã tắt thở hay chưa... Còn lỗ huyệt thì ở ngay dưới giá treo cổ.
- Vậy là họ cứ quăng xuống không có áo quan gì sất?
- Thế cậu nghĩ là phải cho vào hòm kính sao?
- Với lại như thế thì chẳng có anh đi tìm vàng nào mò ra được, - Xaska vừa cười vừa nói vọng ra từ trong bụi rậm.
Piotr quăng chiếc thừng, - con chó đã rơi xuống và vẫn ở tư thế ngồi, - rồi châm thuốc hút.
- Thế rồi sau họ lại đem cái cỗ máy ấy đi nơi khác ư? - Andrei hỏi.
- Nơi nào cần thì họ lại mang đến.
- Thế tại sao lại xử tử người ta vậy nhỉ?
- Dễ hiểu thôi, nếu tốt thì đã chả phải xử tử. Bị xử tử là vì khác lòng tin, đi cầm đầu, đi ăn cướp. Đừng gây rối, đừng trộm cắp thì...
- Thế còn cái lão đao phủ ấy, lão ta thế nào, có được lương bổng đấy chứ?
- Chứ sao. Cả cơm ăn áo mặc đàng hoàng nữa kia.
- Coi chừng, kẻo có lúc hết hơi đấy, - Andrei nói đùa, rồi đi lại phía con ngựa đang loạt soạt đống lá khô trong khu rừng trồng anh đào lưu niên.
- Cũng có lẽ, - Piotr nói, đoạn hét với thằng Xaska: - Sẵn sàng rồi chứ? Cậu ta lôi xềnh xệch con chó lại miệng hố cùng với cả đám lá rụng đủ loại màu đá hoa có, màu vàng có, khô có, ướt có. Lấp đất xuống hố xong, Xaska lấy chân giậm giậm, và đống đất ẩm phập phồng hít thở dưới đôi ủng của nó.
- Thôi, yên giấc ngàn thu nhé, - nó nói.
- Chúng tao sống vất va vất vưởng, còn mày thì thịt nát xương tan.

Đoạn vác xẻng lên vai, nó theo chân Piotr đi về nhà. Đến giữa sân thì Piotr dừng bước, giấu đoạn dây thừng ra sau lưng mà dụ dỗ gọi con chó đực to đã bạc cả lông, tên gọi Tserkex.
- Thưa ông Boris Borixưts, đã khử được một con và đã chôn rồi đấy ạ, - Xaska vui vẻ hét to với bác Voeikov nãy giờ vẫn ngồi trên bậc thềm.
- Mày hét cái gì thế hở, thằng ngu? - bác Voeikov nghiêm nghị dồn hỏi nó. - Tại sao lại chôn? Ai bảo chúng mày chôn? Đem vào rừng thông, treo tuốt lên những cây thông và cứ để thế. Nghe chưa?
- Xin tuân lệnh ạ, - Xaska đáp, đoạn xông tới tiếp tay cho Piotr. - Nào, nhanh tay lên thôi! - nó khẽ quát.
Tới khoảng ba giờ thì họ giải quyết xong cả lũ chó. Giờ đây, cái cơ ngơi xưa cũ, tĩnh mịch, vắng vẻ, mơ màng dưới ánh nắng tháng tư mơn man ấm áp, đã trở nên hoàn toàn trống trải. Hai cậu người làm hứng chí nhưng mệt nhoài, bước theo lối đi giữa hai hàng cây và cùng nhau tính toán xem mình sẽ được trả công bao nhiêu.
- Không sao, khớ đấy, - Piotr nói với một giọng hoan hỉ ảm đạm. - Được một rúp rưỡi bạc đấy. Ta sẽ được một bữa cỗ đàng hoàng có cả thức nhắm.
Bác Voeikov, đầu để trần đứng cạnh bậc thềm, làm dấu thánh giá rồi nghiêng mình trước ngôi nhà. - Xin chào, - bác vừa nói với vẻ nghiêm nghị, vừa quay bộ mặt tối tăm, cương quyết của mình về phía những người vừa bước tới. - Xong rồi chứ?
- Xong rồi ạ, - hai người làm đồng thanh trả lời và cất mũ lưỡi trai khỏi đầu.
- Cầm lấy. Xaska nhận tiền và hôn vào bàn tay ngăm đen, có đeo một chiếc nhẫn cưới đã mỏng dính của bác. Không thay đổi sắc mặt, bác Voeikov ôm lấy cậu ta mà hôn vào môi. Rồi bác gật đầu với Piotr. Trong giây lát đôi mắt bác lác xệch và mờ mịt hẳn đi. Nhưng rồi bác đội chiếc mũ lưỡi trai lên đầu, trông lại càng nghiêm nghị hơn, và bác nói với giọng càng cứng rắn hơn:
- Bây giờ chúng bay đi được rồi đấy. Ta không bảo Miron cho xe ghé lại đón ta. Ta sẽ tự đi đến chỗ nó, rồi từ đó đi xe ra ga. Không phải ta ngượng vì phải đi xe ngựa tải, mà chỉ là vì... ta không thích...
Thế rồi bác đi ra cổng, không ngoái đầu lại.
Xaska chạy ù ra quán bán hàng và ông chủ quán dùng chiếc rìu gỉ chặt ở ngay ngưỡng cửa cho cậu một tảng thịt lợn muối ướt nhèm. Piotr đã đợi cậu ta ở bên quán rượu, ngoài bãi chăn, cạnh trang trại. Thế là hai người ngồi nhậu với nhau rất lâu trên vạt cỏ mùa xuân le te ngời sáng. Chiều đã đến trong một sắc hồng. Không khí mát lạnh đi, và càng nghe rõ hơn tiếng đàn quạ náo động, kêu quang quác trên những rặng cây già cỗi phía vườn dưới ẩm thấp. Đằng sau những chỏm lá liền tù tì của rặng cây ấy đã ngời sáng một mảnh trăng trong nhỏ bé. Còn bên kia sông, mặt trời đang lặn trong một ánh vàng tinh khiết, và trong khu trang trại lặng lẽ một cách kỳ dị, người ta thấy bùng cháy thành màu da cam những ô cửa kính của ngôi nhà chết lặng cửa mở toang hoang.

Khi bác Roxtovxev cùng với người quản lý đi một chiếc xe ngựa đến trang trại thì trời đã khuya, thôn xóm đều đã ngủ cả. Trong bầu tĩnh mịch chỉ nghe có tiếng một chiếc đinh ốc dưới bánh xe khẽ kêu lạch xạch khi xe ngựa từ từ tiến vào khu sân cũ của bác Voeikov. Bác Roxtovxev dừng xe cạnh bậc thềm, xuống xe một cách khó nhọc, quẳng dây cương lại cho người quản lý. Người quản lý cho xe vào kho chứa để tháo ngựa ra, còn bác Roxtovxev mình bận áo dạ chùng, đầu đội mũ lưỡi trai sâu và ấm, thử duỗi đôi chân đã tê cứng do ngồi lâu trên xe mà bước vào nhà. Cả ông cũng cúi chào ngôi nhà, cất chiếc mũ lưỡi trai ra khỏi đầu và tỏ vẻ sùng kính, rắc một ít tóc của mình nơi ngưỡng cửa, trước khi bước vào những căn buồng đầy ánh trăng mờ đục. Trong các căn buồng, trên sàn đâu đâu cũng ngổn ngang những giấy dán tường bị lột xuống. Đi hết buồng nọ sang buồng kia, bác chăm chú và đã ra vẻ chủ nhà soi mói ngó vào mọi ngóc ngách, lấy ủng hất những mảnh giấy loạt xoạt, rồi lắc đầu với vẻ thực tâm chua chát, bác lẩm bẩm:
- Ôi chao, quân lừa đảo! Ôi chao, đồ mất dạy!
Trong bóng tối chập choạng, những căn buồng tưởng chừng như vô tận. Người ta thấy ghê rợn trong cái cảnh trống rỗng dơ dáng dại hình của chúng, trong cái khung trơ trụi của một tố ấm tan hoang của người khác, - một tổ ấm đã bao năm sống với con người riêng của mình, với một cuộc sống bí hiểm không sao hiểu nổi đối với tất cả mọi người thuộc dòng họ Roxtovxev.

Bác Roxtovxev quay gót, lưng gù xuống, mặt nhăn nhó, bước ra bậc thềm, và nóng lòng xem mau cho hết mọi cái giờ đây đã là của riêng mình, bác đi ra vườn để xem sắc thái của những cây táo, bởi lẽ năm nay bác đặt rất nhiều hy vọng vào khu vườn. Nhưng dưới ánh trăng dịu hồng, thậm chí cả cặp mắt tinh tường của bác Roxtovxev cũng không sao phân biệt nổi màu trắng hồng phơn phớt của những cành trơ trụi với những chồi non. Bác dừng chân đứng lại mũi hít hít để hòng nhận biết bằng khứu giác. Có mùi hoa đấy, nhưng chỉ phảng phất. Nồng nặc hơn vẫn là mùi đất ẩm lạnh và mùi cỏ non tươi. Trong cảnh âm u tĩnh mịch, tiếng hót chiu chít của một con chim họa mi đang thử giọng ở phía dưới nghe lại càng rành rọt và thận trọng lan đi khắp khu vườn.
Đêm hôm đó dịu dàng, sáng sủa, đầy ánh trăng nhưng có chút sương mù. Khu vườn hiện ra khá xa, - và khi ngoảnh lại nhìn khoảng rừng thông, bác Roxtovxev bỗng cảm thấy tóc mình rợn lên trong chiếc mũ lưỡi trai: trong khu rừng nhá nhem gồm những cây thông cao và um tùm lừng lững hiện ra năm con ma dài ngoẵng màu xanh nhạt. Hoảng quá phát khùng, bác tiến lại gần... Nhưng chỉ một phút sau bác đã lùi bước và lẩm bẩm với giọng càng cay đắng hơn:
- Ôi chao, quân lừa đảo! Ôi chao, đồ mất dạy!
- Tôi tính ngủ trong nhà lớn kia đấy, - bước ra giữa sân, bác cố ý nói to cho vang khắp cả sân. - Nhưng thôi, kệ xác chúng nó. Ở đấy ghê tởm, bậy bạ quá chừng. Cái lão ngu ngốc ấy lột sạch trơn, lại treo cổ tuốt cả lũ chó... Ta vào trong nhà gỗ vậy, dù là cái chuyện ấy chẳng quý phái gì.
- Chả thiệt gì lắm cả đâu ạ, - người quản lý bước lại gần, giọng oang oang, vui vẻ đáp. - Cái gì chứ đàn chó thì ta gây lại được thôi... Thưa ông Grigori Kixkentinưts, xin chúc mừng ông có nhà mới! - người quản lý nói, ngả mũ lưỡi trai xuống.
- Ồ, thôi đừng, thôi đừng! - bác Roxtovxev giả bộ bực mình, đáp. - Ta đi ngủ thôi...

Họ đi xuống bếp, trải dài hai bóng đen lên mặt cỏ đầm sương. Ở đây, ngồi trên ghế dài dưới ánh trăng, họ ăn lót lòng bánh mì trắng với xúc xích, thỉnh thoảng chuyện trò với nhau, rồi nằm châu đầu vào nhau trên chiếc ghế dài cạnh cửa sổ, gối đầu lên những chiếc áo dạ chùng đã gấp lại mà ngủ. Họ sẽ phải dậy sớm hơn để đón đoàn xe ngựa thồ từ tỉnh về mà bắt tay dọn dẹp cơ ngơi.
Nhưng do nóng ruột, bác Roxtovxev tưởng chừng như đêm dài vô tận. Bác luôn tỉnh giấc, nao nao nhìn vào ánh trăng màu hồng cứ chiếu mãi vào đôi ủng của bác. Và mỗi khi thức giấc bác lại rùng mình: trước mắt bác luôn sừng sững hiện ra cánh rừng thông xanh đen, ở đó, trong bóng tối trập trùng, có những con chó treo lủng lẳng. Bác luôn trở mình và bực tức nhếch mép tự chê cười mình chưa chi đã vội mất tinh thần.

Capri, ngày 1 tháng 2 năm 1913
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeSun Nov 10, 2019 10:10 am

.

PHIÊN TÒA
- Vũ Thành Sơn (Tạp Chí DA MÀU)

 
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán.

Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập ghềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường, câu hỏi tự dưng lại xuất hiện. Cuối cùng trò chơi cũng phải đi đến hồi kết bằng cách này hay cách khác mà tôi không có quyền lựa chọn. Nhưng tôi có quyền tự do lựa chọn theo ý mình sao? Tôi cười thầm chế diễu ý nghĩ đó của mình. Thực sự ai mới có quyền lựa chọn trong sự vận động vô tình của lịch sử? Lịch sử hay là định mệnh? Cảm giác xao xuyến, hồi hộp bóp khẽ trái tim nhưng tôi biết không thể tìm được chút manh mối gì từ tên lính canh hung tợn đi bên cạnh để làm dịu đi sự lo lắng vô cớ.

Tôi nhớ lại buổi sáng cuối cùng của mình. Tôi từ ngoài vườn vừa trở vô nhà, trong lúc đang còn loay hoay với xấp bài giảng thì bất thình lình đám vệ binh xuất hiện trước cửa. Chúng đứng vây quanh tôi, gươm giáo tuốt trần sáng choang, nét mặt khẩn trương, nghiêm nghị. Một tên, chắc là chỉ huy, không mang giáo và khiên, chỉ đeo gươm ngắn bên hông, mũ đính đuôi chim trĩ đỏ tía, đọc lệnh của hội đồng nguyên lão bắt tôi vì can tội hoạt động truyền bá dị giáo gây nguy hại cho sự thịnh trị của đảo quốc. Lệnh văn được tuyên xưng xong, tôi chỉ có đủ thời giờ vơ theo vội vàng một bộ đồ trước khi bị chúng giải đi.
Hôm ấy hẵng còn khá sớm, nhiều nhà vẫn chưa thức dậy. Một vài người trong xóm thấy đám lính giải tôi đi vội vàng thụt vào trong nhà đưa mắt dõi theo lấm lét. Tôi vừa bước đi vừa ngoái lại nhìn căn nhà, thấy những bông hoa cẩm chướng đong đưa bên cửa sổ như bàn tay vẫy tiễn biệt. Ra đến con đường chính, tôi nói với tên chỉ huy cho tôi được nhìn lần cuối cái xóm tôi ở và ngọn đồi đứng sừng sững bên phải con đường. Mặc cho con mắt dò xét cảnh giác của đám vệ binh tôi chỉnh đốn lại y phục và hướng về ngôi đền trên đỉnh đồi, ngôi đền mà tôi vẫn đến chiêm bái và hành lễ mỗi ngày, cúi đầu cung kính đảnh lễ.

Gió trên quảng trường thổi nhẹ, chỉ vừa đủ mát, hất khẽ vạt áo của tôi. Hít một hơi căng lồng ngực, cảm thấy khoan khoái. Ít ra vào lúc này tôi cũng thoát ra khỏi gian phòng nồng nặc mùi cứt đái, đầy chuột bọ của mình để được hít thở một chút khí trời. Mọi lỗ chân lông và giác quan như được đánh thức, hân hoan mở căng hết cỡ. Tôi ngửi thấy thoang thoảng mùi cỏ dại, có lẽ cỏ mọc đâu đó quanh đây hay là do trí tôi tưởng tượng, bởi dưới chân tôi chỉ là nền đá rắn chắc, lồi lõm. Bây giờ đang là mùa xuân hay đã sang thu? Ngày hay đêm? Ngày hay đêm với tôi từ bao lâu nay chỉ còn là một sự lặp lại bất tận những tiếng chân bước trong hành lang, tiếng mở xịch cửa, tiếng xướng danh, dọa nạt, tra hỏi và dần dần tôi mất hẳn ý thức về sự chuyển dịch của thời gian. Tôi cũng mất đi sự phân biệt nơi chốn. Ở đâu cũng chỉ tuyền một màu đen của bóng đêm. Căn phòng giam tôi hình như cũng được thiết kế với chủ đích như vậy. Bốn bức tường bọc quanh một không gian vuông vức không tiếp xúc với bất cứ cái gì, vừa vỏn vẹn đủ cho một con người xoay xở với nhu cầu ăn uống, vệ sinh cá nhân và ngủ trong tư thế co quắp. Tôi xoạc chân đi ngang, đi dọc rồi đấm tay vào vách nhưng chỉ có tiếng động của nắm đấm vọng lại.
Thời gian đầu mới vào đây tôi nghe ngóng động tĩnh chung quanh xem ngoài tôi ra còn có ai khác bị giam nữa, nhưng dường như chẳng có ai ngoài tôi. Có lẽ đây mới chính là hình phạt thâm độc của họ, cô lập tôi hoàn toàn với thế giới con người bên ngoài để thậm chí đến cả nhu cầu giao tiếp, nói chuyện cũng trở thành một nỗi thèm khát đến ám ảnh kinh hoàng. Rồi từng bước tôi sẽ phải ngã quỵ để trở thành một nhành cây hay hòn sỏi trong dòng chảy vô cảm, vô hồn của cái gọi là cuộc đời.

Điều lạ lùng là chưa bao giờ tôi lại thèm khát hơi ấm của đồng loại như lúc này, thèm khát quay cuồng đến mức ngay cả ý nghĩ nếu như mình có bị theo dõi đi chăng nữa, thì đó cũng là một ân huệ của Thượng Đế dành cho bởi vì ít ra nó còn cho tôi cảm giác mình còn có người đồng hành bên cạnh. Tôi nhớ se sắt đến đám học trò của mình, nhớ từng khuôn mặt, từng ánh mắt nhiệt thành khao khát kiếm tìm chân lý. Chúng sẽ ra sao trong một thế giới bị thao túng bởi thói giả trá và hiểm ác này?
Ngày ngày, cứ vào một giờ nhất định, tôi trông ngóng từng tiếng động chung quanh trong thấp thỏm, hy vọng rồi thất vọng, chỉ cho đến khi nghe được tiếng bước chân từ đầu hành lang của tên lính canh vọng lại mới thở phào nhẹ nhõm. Một mình trong bóng tối vô tận tôi chợt nhận ra con người mang vác sự cô đơn như một hình phạt, một vết thương trí mạng, như người ta phải mang vác cái bóng của mình trên mặt đất.

Có lúc để thoát khỏi tình trạng ù lì, đông cứng của trí não và để giải khuây, tôi tập quan sát bằng cách chú ý lắng nghe sự di chuyển của những con chuột và học cách phân biệt chúng; khi mệt mỏi tôi lại chuyển sang hồi tưởng những kỷ niệm từ thời thơ ấu, những phút giây hoan lạc hay đau buồn trong đời, rồi quan sát sự thay đổi tâm trạng và ý nghĩ của mình từ ngày đầu đặt chân đến nhà giam cho đến hiện thời. Tôi nhớ những buổi tối đầy sao đi dạo với nàng bên bến cảng, nhớ những câu chuyện chọc cười của gã bán rượu, một mùi hương của loài hoa lạ buổi sáng tinh sương hay một ngày đói thắt cả ruột gan khi đi lạc trong cánh rừng không tìm được lối ra. Những hình ảnh từ ký ức cứ lộn xộn, không đầu không đuôi, kéo dài miên man. Cuộc sống lúc đó sao mà giản dị, đẹp đẽ nhường ấy. Tôi cảm tưởng như tôi đang nắm chặt vĩnh viễn cuộc sống trong bàn tay mình.
Nhưng ngay cả độc thoại cũng lại nhanh chóng cho thấy là một thứ hình phạt giết người chậm rãi, bởi vì nó trái với tự nhiên, con người sinh ra không phải để tự giam hãm mình với chính mình, mà sống là ở phía trước, và cùng với đồng loại. Trong bóng tối xà lim tôi nghiền ngẫm về trò chơi khốc liệt, không lối thoát với đối thủ vô danh, vô hình này. Điều gì chờ đón tôi ở phía trước? Sự thừa nhận thất bại và cùng với nó là cái chết? Không, sự kiêu hãnh không cho phép tôi được đầu hàng. Tôi tin vào tri giác của mình, bởi trớ trêu là sống trong bóng tối lâu ngày, các giác quan của tôi bỗng trở nên nhạy bén khác thường. Chúng có thể tước đoạt tự do, kể cả sinh mạng của tôi nhưng nhất định không để cho chúng có thể lấy đi được nguồn ánh sáng linh thiêng trú ngụ trong linh hồn tôi và sâu trong mắt tôi. Sự căng thẳng cùng với cái lạnh và bóng đêm mịt mùng làm cho tôi bạc nhược và sa sút nhanh chóng, đầu óc tôi trở nên mụ mị, trống rỗng như một cái chuông tự ngân nga suốt ngày đêm không dứt, nhiều lúc chỉ muốn xuôi tay bỏ cuộc. Cuộc chiến đấu với đối thủ không chân dung, theo thời gian, rốt cuộc lại trở thành cuộc chiến đấu chống lại sự mệt mỏi, tâm lý thua cuộc để giành giật chút ánh sáng đang ngày càng hiu hắt trong chính bản thân mình.

Tên lính canh ấn vai đẩy tôi ngồi xuống. Dưới ánh sáng lờ nhờ không rõ ngày hay đêm, tôi lờ mờ nhìn thấy sát bên mình một cái ghế đá không có tựa lưng, giống như một cái băng dài ở công viên. Hơi mát lạnh của đá thấm vào da thịt và lan tỏa ra khắp người làm tôi khoan khoái, tôi tụt dép đặt nốt hai bàn chân trần của mình xuống nền đá lạnh. Thấy tôi cứ cục cựa không yên, tên lính quát: Ngồi im. Lúc nãy mở cửa phòng giam, hắn cũng đã gắt gỏng giục: Đi lẹ lên đi tên kia, trời nóng chết mẹ; tôi nhận ra đó là một giọng nói lạ, cục súc, nóng nảy và thịnh nộ khác hẳn với giọng nói vẫn gọi tên tôi hằng ngày để đi đến phòng thẩm vấn; có lẽ là một tên lính canh mới.
Đi bên cạnh hắn, tôi giương mắt nhìn chòng chọc vào nơi vừa phát ra tiếng nói nhưng trước mắt và chung quanh tôi, như thường lệ, vẫn chỉ toàn một màu tối đen. Tôi không thể thấy được nét mặt và hình dáng của tên lính canh này, hắn chỉ là một giọng nói. Cũng như bao lần trước đó tôi không khi nào có thể thấy được khuôn mặt và hình dáng của kẻ thẩm vấn mình mỗi ngày cho dù mỗi lần, tôi đều căng hai mắt ra để cố xuyên thủng bức màn tối đen ngăn cách tôi với cái giọng nói đó.
Chỉ có những giọng nói. Mỗi ngày tôi phải nói chuyện với bóng tối, với những cái miệng vô hình. Họ không có một khuôn mặt; họ là ai, là người hay chỉ là một cái máy, tôi không thể biết. Cái cảm giác mình đang phải đối diện với một kẻ vô hình nhưng có toàn quyền sinh sát ấy vừa khiến tôi cảm thấy như rơi vào trong trạng thái của kẻ bị khủng bố nhưng hoàn toàn bất lực, thứ bất lực và hoang mang của một món đồ vô tri trong bàn tay của một đứa trẻ; vừa tự thỏa mãn với ảo tưởng như mình vẫn được tự do trong ý nghĩ và cách diễn đạt, tự do cười khẩy hay khinh bỉ những câu tra hỏi ngu ngốc mà không sợ bị nhìn thấy. Tuy vậy, có lúc tôi cũng vượt qua được cảm giác sợ hãi ban đầu và lấy lại sự tự tin, rằng trong trường hợp này kẻ khiếp sợ thực ra không phải là tôi, mà là họ, chính họ, những kẻ luôn ẩn nấp trong bóng tối.

Không biết thời gian chờ đợi kéo dài bao lâu, bất thình lình tôi nghe tiếng tên lính canh quát lớn, ra lệnh: Đứng lên! Hội đồng thẩm phán đã đến! Tôi lật đật đứng dậy, đôi dép vẫn chưa kịp xỏ vào, cùng lúc nghe thấy phía trước có nhiều chuyển động đi kèm với những âm thanh xì xào mơ hồ. Hội đồng thẩm phán? Vậy có nghĩa là tôi đang đối diện với năm trăm con người đại diện cho thành bang sẽ thực hiện việc xét xử và luận tội theo như quy định. Tôi đón nhận một cách bình tĩnh pha lẫn chế diễu. Không ngờ hoạt động của mình lại có thể đe dọa nền cai trị của họ đến như thế. Ôi! Thật tội nghiệp cho những kẻ chăn dắt chỉ quen với mỗi sự tuân phục! Sự khác biệt đã làm cho họ run sợ đến mức phải triệu tập cả một phiên tòa.
Dòng suy nghĩ miên man của tôi đột ngột bị cắt đứt khi có tiếng nói từ trong bóng tối cất lên:
- Hãy đưa tội đồ tiến lên phía trước!
Tên lính canh vỗ mạnh vào vai tôi rồi một tay xốc nách tôi đứng dậy. Tôi bước đi theo hắn một đoạn cho đến khi mũi dáo của hắn chặn ngang ngực thì đứng lại. Có lẽ tôi đang đứng ở một khoảng cách khá gần với các vị phán quan bởi tôi có thể nghe thấy tiếng xầm xì của họ, cả tiếng quần áo sột soạt trước mặt. Thông thường đây sẽ là phiên tòa mở, có công chúng trong thành bang đến dự khán. Không biết trong đám đông ấy có ai là học trò và người quen biết của tôi đang hiện diện? Tôi muốn họ được chứng kiến giây phút đấu tranh cuối cùng này, giây phút mà một con người bị đám đông kết án bởi đã can đảm lựa chọn sống một cuộc đời cá biệt không theo quy ước, giây phút mà thứ trật tự chuyên chế áp đặt sẽ phải bị tra vấn tính hiển nhiên của nó để cho sự thật được cất tiếng nói dõng dạc đòi lại giá trị không thể hủy hoại của con người.
Tôi chẳng phải đợi lâu, chung quanh tiếng ồn ào, la ó đã nổi lên như sóng cồn.
- Treo cổ nó đi, đồ đạo đức giả!
- Tên nói láo gớm ghiếc!
- Thầy ơi Thầy!
- Thầy cả!
- Đồ phản bội!
Như được những tiếng hò hét kích động, đám đông càng lúc càng cuồng nhiệt như trong một trận tỷ thí. Tôi chẳng nhìn thấy gì cả ngoài bóng tối kín bưng. Trời chuyển nóng, tóc tôi ướt và trán rịn mồ hôi.
- Im lặng! Giữ trật tự!

Lệnh vừa phát ra từ trên các quan tòa, lớp sóng dữ lập tức bị chặn lại. Khi trật tự đã được vãn hồi, một lúc sau tòa mới tuyên đọc bản án. Bầu không khí mỗi lúc càng trở nên ngột ngạt một cách bất thường, mồ hôi tôi chảy dọc theo sống lưng. Cử tọa lặng im lắng nghe như nuốt lấy từng chữ. Cái nóng, sự chờ đợi và nhiều ngày bị biệt giam trong bóng tối làm cho tôi bải hoải, hai chân bắt đầu mềm nhũn và đầu thì ong ong. Tôi cố hết sức giữ tư thế đứng thẳng, mặt ngẩng nhìn về phía trước, nhưng càng cố gắng tôi lại càng nhanh chóng xuống sức, chỉ muốn nằm xuống và ngủ một giấc thật dài.
Có lẽ bản án quá dài, dài đến nỗi tôi hoàn toàn bị bất ngờ khi nó kết thúc mà chẳng kịp ghi nhớ được điều gì. Dường như có một lúc nào đó tôi đã chợp mắt thiếp đi trong chốc lát.
Khi quan tòa cho phép tôi nói lời tự biện hộ, đầu tôi vẫn chưa hết cơn ngầy ngật. Tôi chỉ nghĩ đến một ngọn gió mát, nếu có vào lúc này, sẽ có giá trị hơn cả sự phóng thích. Tôi cố nhớ lại những gì đã nghe loáng thoáng lúc nãy một cách hết sức khó khăn.
- Tôi không có tội!
Tôi vừa dứt lời, từ trong bóng tối liền rộ lên những tiếng la ó phản đối kịch liệt. Cơn thịnh nộ chỉ tạm thời lắng dịu khi một viên phán quan lên tiếng hỏi:
- Ngươi hãy nói lý do vì sao ngươi cho mình vô tội?
- Tôi luôn tôn kính thần linh và tuân phục thành bang.
Tiếng la ó lại nổi dậy bốn phía.
- Láo!
- Đồ giả hình!
- Thật là ghê tởm!
Sự phẫn nộ của đám đông cho tôi đo lường được tình trạng hiện thời của mình cũng như bản án đang chờ đợi tôi ở phía trước, nhưng tất cả những điều đó thật sự có ý nghĩa gì? Chân lý phải bị đánh cho tới chết.
Đợi cho tiếng ồn giảm xuống, một viên phán quan khác nói:
- Ai ai ở thành bang này cũng đều biết ngươi rao giảng những lời báng bổ thần linh.
Tôi có cần phải trả lời không? Có cần phải tự biện hộ không? Có ích gì những điều ấy? Tôi đã có thể bỏ trốn khỏi thành bang trước khi họ ra lệnh bắt nhưng tôi đã không làm điều ấy. Tôi đã để họ giam cầm và chịu đựng mọi khổ hình. Trốn chạy có nghĩa là khứng chịu thua cuộc, có nghĩa là thừa nhận họ đứng về lẽ phải. Nhưng ở lại và ra trước tòa cũng không phải để bào chữa hay chạy tội, mà chính sự hiện diện là thông điệp mạnh mẽ để nói lên sự đúng đắn trong hành động của mình, bất chấp mọi kết quả chung cuộc, kết tội hay phóng thích.
- Tôi tin vào các đấng thần linh như tất cả công dân của thành bang.
- Nhưng ngươi đã tin khác chúng ta! Và tin theo những lý lẽ của ngươi chứ không phải là lý lẽ của công dân thành bang này!
Một tiếng nói khác tiếp nối:
- Ngươi có biết tìm cách diễn giải theo ý của mình là phạm thánh và bất tuân phục luật lệ của thành bang không?

Làm sao mà tôi không biết điều đó chứ. Tôi biết hành động diễn giải là sự thách thức trực tiếp độc quyền chân lý của họ. Lẽ ra tôi phải tôn kính thần linh và phục tùng luật lệ của thành bang theo cái cách mà họ mong muốn. Họ kết tội tôi bởi vì không những tôi yêu kính thần linh và luật lệ khác họ, với một ý nghĩa khác họ, mà còn bởi tôi đã yêu kính hơn họ.
- Hội đồng cho ngươi năm phút để tự định đoạt hình phạt cho mình.
Đám đông bắt đầu la hét dữ tợn.
- Hãy treo cổ nó đi!
- Cho nó một liều độc dược!
- Hãy đày nó ra hoang đảo đời đời làm kiếp nô lệ!
- Thầy ơi! Chúng con luôn ở bên thầy!
Đây là số phận bi đát của chân lý. Để giữ gìn được phẩm giá của mình, chân lý phải bò sát mặt đất. Chân lý phải uống đến giọt đắng cuối cùng. Chưa lúc nào tôi bình thản như lúc này. Trời đã dịu mát hơn so với lúc nãy nhưng lưng áo tôi vẫn còn dính nhơm nhớp mồ hôi. Tôi chỉ muốn cởi phăng, ném chiếc áo đi.
- Đã hết năm phút, tội đồ không có ý kiến gì. Bây giờ hội đồng thẩm phán bắt đầu thủ tục nghị án.
Tên lính canh ấn vai cho phép tôi ngồi xuống. Lúc này tôi mới cảm thấy hai chân mình mỏi nhừ. Tôi thở chầm chậm và muốn nghĩ về một điều gì đó dễ chịu nhưng đầu óc hoàn toàn trống rỗng. Một lúc sau tôi đã nghe thấy các thẩm phán lục tục trở ra. Thời gian nghị án không dài như tôi tưởng.
Một viên thẩm phán đại diện cho hội đồng tuyên án. Tôi nghe các thẩm phán lục tục đứng dậy. Tiếng xô đẩy ghế cùng lúc của năm trăm con người nghe như một hồi trống trận dồn dập. Ha ha! Họ sắp sửa xung trận cùng với hàng trăm, hàng ngàn người chung quanh chỉ để tiêu diệt cho bằng được một ông già yếu đuối!

Sau hồi trống cả quảng trường bỗng nhiên im phăng phắc, thậm chí đến hơi thở tưởng cũng như bị kìm nén lại để không phá vỡ sự trang nghiêm cao cả của giờ phút trọng đại đã được chờ đợi bấy lâu nay.
Tôi ngửa mặt nhìn trời. Sao mọc đầy chi chít. Ánh sáng chỉ có từ trên cao. Thần linh đang nhìn xuống bầy người ngu muội dưới chân.
Viên thẩm phán hắng giọng trước khi đọc. Sau khi nêu mức độ nghiêm trọng của tội lỗi, đã trịnh trọng tuyên án:
Tử hình!
Tôi sẽ phải uống một liều độc dược do họ pha chế.
Bầu không khí lúc mới bắt đầu tuyên án trầm lắng hẳn xuống như trong một lễ tang rồi sau đó bất thình lình bùng vỡ ra thành những tiếng reo hò đắc thắng của cử tọa. Kẻ thù đã bị họ đánh gục.
Viên  thẩm phán vừa tuyên án nói:
- Tội đồ được tòa cho nói lời cuối cùng.

Tôi từ từ đứng dậy, xốc lại quần áo, nhìn ra chung quanh. Vẫn một màn tối đen. Cả quảng trường lại rơi vào im lặng. Tôi biết có hàng ngàn cặp mắt đang chĩa vào mình. Tôi nhìn khắp lượt rồi từ tốn nói:
- Chúng ta hãy cầu khấn thần linh cho những ngày chúng ta ở thế gian này và kể cả sau khi lìa đời, sẽ tiếp tục là những ngày hạnh phúc.
Bỗng tôi nghe một giọng nói nghẹn ngào từ trong bóng tối:
- Thầy ơi, thầy kính yêu, thầy còn căn dặn gì nữa không?
Ồ! Crito! Đúng là Crito rồi, đứa học trò giỏi giang của tôi. Nó đã có mặt ở đây.
Tôi xoay người hướng về phía tiếng nói vừa cất lên với tất cả sự trìu mến, rồi nói:
- Crito! Đừng khóc!
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeSat Nov 16, 2019 12:20 pm

.

VƯƠNG QUỐC ĐIÊU TÀN
- Haruki Murakami

Hoàng Long chuyển ngữ


Phía sau vương quốc điêu tàn có một dòng suối nhỏ trong lành. Đó là một dòng suối nhỏ đẹp đẽ đầy cá tôm. Chúng ăn rong rêu mà sống. Lũ cá nghĩ rằng vương quốc có điêu tàn chăng nữa thì cũng có liên quan gì đến mình đâu. Quả đúng là như thế. Đối với lũ cá thì cho dù là vương quốc hay nhà nước cộng hòa thì cũng chẳng liên quan gì. Chúng đâu có đi bầu cử hay nộp thuế gì đâu.
Vì thế mà lũ cá đều nghĩ rằng “chẳng có chút liên quan gì đến bọn ta cả”.
Tôi rửa chân nơi dòng suối nhỏ. Nước rất lạnh, chân vừa ngâm chút xíu đã đỏ tấy lên ngay. Từ đây có thể nhìn thấy được bức tường thành và đỉnh tháp cao vút của vương quốc điêu tàn. Trên đỉnh tháp còn có lá cờ hai màu đang bay phần phật trong gió ngàn. Tất cả những người đi ngang qua đây đều nhìn thấy lá cờ đó và họ đều bảo nhau.
“Nhìn kìa, đó là lá cờ của vương quốc điêu tàn đấy.”

*

Anh Q là bạn của tôi, hay đúng hơn là đã từng là bạn. Bởi vì mười năm rồi tôi và Q chưa từng một lần liên lạc với nhau như bạn bè gì cả. Vì thế dù đang nói chuyện bây giờ nhưng tôi nghĩ dùng thì quá khứ thì sẽ chính xác hơn. Dù gì đi nữa, chúng tôi cũng từng là bạn.
Mỗi lần muốn tả về anh Q cho ai đó tôi đều cảm thấy yếu đuối tuyệt vọng vô cùng. Mặc dù tôi cũng không phải là người giỏi ăn khéo nói gì nhưng cho dù cân nhắc suy xét kỹ lưỡng thì tôi vẫn thấy nói về những người như anh Q là một việc vô cùng đặc biệt và khó khăn. Và cứ mỗi lần muốn cất lời thì tôi lại cứ cảm thấy tuyệt vọng vô cùng sâu sắc.

Thôi cứ nói một cách đơn giản vậy.
Anh Q cùng tuổi với tôi và đẹp trai hơn tôi năm trăm bảy mươi lần. Tính cách hòa nhã, không bao giờ bắt nạt người ta. Cũng không kiêu ngạo tự mãn. Ai đó buồn chuyện gì mà đến làm phiền, anh cũng không bao giờ tức giận. Anh chỉ nói “Đành chịu vậy nhỉ. Trong trường hợp của bạn mình cũng vậy thôi mà”. Nhưng tôi chưa từng nghe thấy chuyện anh làm phiền người khác bao giờ cả. Hơn nữa, anh cũng được nuôi dạy trong gia cảnh rất tốt. Cha anh kinh doanh một bệnh viện ở đâu đó vùng Shikoku. Mặc dù anh có kha khá tiền tiêu vặt nhưng chưa bao giờ anh phung phí xa xỉ. Lúc nào cũng ngăn nắp gọn gàng. Trang phục cũng được chọn lựa cẩn thận.
Hơn thế anh Q lại là dân thể thao. Thời cấp ba đã có mặt trong đội tuyển tennis tham gia đại hội thể thao trường trung học toàn quốc. Sở thích của anh là bơi lội, một tuần phải đi bơi hai lần. Về chính trị, anh là người theo chủ nghĩa tự do ôn hòa. Thành tích học tập cũng tốt tuy không đặc biệt xuất sắc nổi trội. Tuy hầu như không học hành để thi cử gì nhưng anh chưa từng rớt hạng. Vì trong giờ học anh luôn lắng nghe bài giảng một cách cẩn thận chăm chú.
Anh cũng đánh piano khá hay. Anh có rất nhiều dĩa nhạc của Bill Evans và Mozart. Anh thích tiểu thuyết Pháp với các tác giả Balzac và Maupassant. Đôi khi anh cũng đọc Oe Kenzaburo nữa. Và còn đưa ra những lời bình luận rất xác đáng.
Dĩ nhiên là anh rất đào hoa, không đào hoa mới lạ. Tuy nhiên không phải là được chăng hay chớ mà có chọn lọc kỹ càng. Cô người yêu thuộc hàng thượng đẳng đang học năm hai ở một trường nào đó, mỗi tuần hai người đều dành ra ngày chủ nhật để hẹn hò nhau.
Nói chung là thế đấy.

Đó là anh Q mà tôi biết thời đại học. Mặc dù tôi có cảm giác mình quên nói gì đó nhưng dù sao cũng chẳng quan trọng lắm. Nếu nói tóm lại một câu thì anh Q là loại người hoàn hảo không tì vết.
Vào thời đó, anh Q sống trong căn hộ sát bên tôi. Trong lúc qua lại mượn nhau khi thì chút muối khi thì ít nước sốt mà dần dần chúng tôi trở nên thân thiết. Rồi từ đó thỉnh thoảng qua phòng nhau nghe nhạc hay uống bia. Tôi và anh Q cùng hai người bạn gái của chúng tôi đã từng lái xe đi Kamakura chơi nữa. Nói chung mối quan hệ bạn bè hai chúng tôi rất thân thiết nồng ấm. Vào mùa hè năm tư đại học, tôi rời căn hộ và từ đó bặt tin nhau.

Tôi đã gặp lại anh Q sau đó khoảng mười năm. Khi đó tôi đang ngồi đọc sách chỗ hồ bơi khách sạn gần Akasaka. Anh Q ngồi duỗi chân nơi chiếc ghế dựa cạnh tôi. Ngồi sát bên anh Q là một em gái chân dài mặc bộ bikini thời trang. Nàng là người tình của anh Q.
Tôi nhận ra anh Q ngay lập tức. Anh vẫn đẹp trai như xưa nhưng còn thêm vào đó nét uy nghiêm của người đàn ông trên ba mươi tuổi mà trước đây chưa có. Những cô gái trẻ đi ngang qua đều liếc mắt nhìn anh.
Anh Q không nhận ra tôi. Gương mặt tôi có vẻ tầm thường, đã thế lại còn đeo kính râm. Tôi do dự một chút nhưng cuối cùng quyết định không cất tiếng chào hỏi. Bởi vì tôi nhận thấy anh Q đang nói chuyện với cô gái sợ mình làm phiền đến hai người nên thôi. Nhưng quan trọng nhất là giữa tôi và anh Q chẳng có chủ đề gì chung để nói cả. Không cần phải mất thời gian để nhắc lại chuyện tôi đã cho cậu mượn hũ muối, cậu đã cho tôi mượn chai nước sốt làm gì. Vì thế tôi tiếp tục im lặng đọc sách.

Vì hồ bơi rất yên tĩnh nên dù không muốn câu chuyện của hai người cũng lọt vào tai tôi. Câu chuyện rất phức tạp. Tôi dừng đọc sách và lắng tai nghe.
“Ghét anh quá, đây không phải là chuyện đùa đâu mà”, em chân dài nói.
“Thiệt tình, đã nói là anh hiểu rõ điều em nói mà”, anh Q trả lời.
“Nhưng anh muốn em hiểu rõ điều anh nói. Anh cũng chẳng thích thú gì chuyện này. Cũng chẳng phải do anh quyết định nữa. Đó là quyết định của cấp trên. Có nghĩa là quyết định đó được cấp trên truyền đạt xuống cho anh. Vì vậy đừng nhìn anh bằng ánh mắt đó nữa.”
“Vậy giờ anh tính sao đây?” Cô gái nói.
Anh Q thở dài.

Bây giờ để tôi tóm tắt lại câu chuyện dài dòng của hai người bọn họ, dĩ nhiên là thêm vào kha khá sự tưởng tượng suy nghĩ của tôi nhưng đại khái là vậy. Anh Q hiện giờ đang làm giám đốc gì đó ở một đài truyền hình, còn cô gái kia là một diễn viên hay ca sĩ có chút tên tuổi. Rồi thì nàng ta có rắc rối hay vướng scandal gì đó hay có lẽ đơn giản là lượng người hâm mộ giảm sút nên bị loại khỏi chương trình. Anh Q là người chịu trách nhiệm trực tiếp phải đưa ra tuyên bố kia. Vì tôi không rành giới nghệ sĩ lắm nên cũng không rõ rình tiết cụ thể nhưng nói đại khái như vậy chắc cũng không sai.
Theo những điều tôi nghe được thì anh Q thực sự hoàn thành trách nhiệm công việc của mình một cách thành thực.
“Chúng ta không thể thiếu nhà tài trợ được đâu”, anh Q nói. “Em kiếm cơm trong giới này ít ra cũng phải hiểu điều đó chứ?”
“Vậy là anh nói anh không có trách nhiệm với tiếng nói trong công việc ư?”
“Không phải là không có nhưng rất hạn chế.”
Rồi hai người cứ tiếp tục nói câu chuyện không đi đến đâu cả. Nàng có vẻ muốn biết anh Q đã nỗ lực như thế nào để bảo vệ mình. Anh Q nói anh đã làm hết sức. Nhưng chẳng có chứng cứ gì. Nàng ta không tin. Tôi cũng cảm thấy chẳng tin mấy. Anh Q càng thành thực ra sức giải thích thì không khí của sự không thành thực lại càng phảng phất dâng lên như đám sương mù. Tuy nhiên đó không phải là trách nhiệm của anh Q. Cũng chẳng là trách nhiệm của ai cả. Vì lẽ đó mà câu chuyện của hai người không đi đến đâu.

Cho đến lúc đó, người con gái trông có vẻ rất quan tâm đến anh Q. Chắc hẳn cho đến trước sự việc này hai người rất tâm đầu ý hợp đây. Có lẽ chính vì vậy mà nàng ta lại càng giận dỗi. Cuối cùng nàng ta bỏ cuộc.
“Em hiểu rồi”, nàng nói. “Vậy là đủ rồi, anh đi mua Coca đi.”
Anh Q nghe vậy thì dứng dậy với vẻ nhẹ nhõm đi về phía quầy bán hàng. Người con gái đeo kính râm vào rồi nhìn đăm đăm về phía trước. Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ trong quyển sách của mình.
Cuối cùng anh Q trở lại. Hai tay mang hai ly Coca lớn. Anh đưa một ly cho cô gái rồi ngồi xuống chiếc ghế dựa. “Em đừng nghĩ nghiêm trọng quá làm gì”, anh Q nói. “Chẳng bao lâu nữa, chắc chắn…”
Lúc đó người con gái ném thẳng cái ly giấy đựng Coca vào mặt anh Q. Chiếc ly trúng ngay giữa mặt. Hai phần ba nước Coca trong ly giấy lớn hắt trúng anh Q, một phần ba còn lại văng trúng vào tôi. Sau đó cô gái chẳng nói chẳng rằng, đứng dậy, khẽ kéo phần vải bikini phía mông xuống một chút rồi ngúng nguẩy bước đi. Không thèm ngoái đầu nhìn lại. Tôi và anh Q sững sờ mất mười lăm giây. Những người xung quanh nhìn chúng tôi với vẻ ngạc nhiên vô cùng.

Người đầu tiên lấy lại tinh thần là anh Q. Anh hướng về phía tôi xin lỗi rồi đưa cho tôi chiếc khăn tắm. Tôi từ chối lời đề nghị đi tắm của anh Q. Vẻ mặt của anh Q thoáng bối rối. Anh rụt tay cầm chiếc khăn tắm lại rồi lau người mình.
“Cho tôi đền quyển sách vậy”, anh nói. Quyển sách cũng ướt đẫm. Đó là quyển sách bìa mềm rẻ tiền và chẳng thú vị gì. Chỉ cần ai đó tưới Coca lên và cảm phiền đọc hết cho cũng may rồi. Tôi nói vậy và anh Q mỉm cười. Gương mặt cười hòa nhã thân thiện như ngày xưa.
Ngay sau đó anh Q bỏ về. Khi về còn xin lỗi tôi thêm lần nữa. Tuy thế, đến phút cuối cùng anh Q vẫn không nhớ ra tôi là ai.

*

Cái tựa đề “Vương quốc điêu tàn” có được là do tôi ngẫu nhiên đọc được trong tờ báo chiều hôm đó nói về một vương quốc điêu tàn ở Châu Phi. “Một vương triều rực rỡ đã suy tàn”. Bài báo viết như vậy. “Điều đó còn thê thảm hơn nhiều so với khi nước cộng hòa nhỏ bé vô danh tàn lụi”.



Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 52567873_2348726595349996_8316693551088309265_n.jpg?_nc_ht=scontent-lga3-1.cdninstagram

.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeThu Nov 21, 2019 8:52 am

.

Lọ lem
- Boris Ekimov (Nga)


Triệu bông hồng đỏ thắm!
Triệu bông hồng dành cho em!
Suốt cả ngày bài hát ấy cứ vang lên khắp xóm trại. Từ sáng sớm, một giọng khản đặc đã cất lên: “Triệu bông hồng, triệu bông hồng…”, kéo mãi cho đến trưa. Còn bây giờ khi trời đã tối nó thành một dàn đồng ca gồm ba hay bốn giọng nữ rè rè, loạc choạc “Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm!”.
 
Ngày đầu họ hát “triệu bông hồng” ở nhà Masa Sapukhina, ngày hôm sau hát ở nhà Nhiusa Canmưkova. Chuyện hát hò là để chia tay với Valia Đađekina, sắp tới sẽ rời bỏ xóm trại chuyển đến sống ở trung tâm huyện, nơi ông bác ruột của cô vừa qua đời để lại cho cô thừa kế một ngôi nhà nhỏ còn tốt. Cô sẽ dọn đến đấy ở, tuy nhiên cũng chưa vội. Ở đây, trong xóm trại cô cũng có một ít tài sản: Con bò sữa và chú bê con, đàn heo, gà và mảnh vườn rộng - thì cũng như mọi người. Việc chuyển nhà, không phải chỉ phẩy tay một cái là xong. Cần phải bán được giá đàn gia súc, thu hoạch khoai tây, cà chua, hành và đủ thứ rau cỏ khác, sau đó mới có thể đi được.
Chính vì vậy mà ngay từ sáng, mặc dù không muốn nhưng Valia cũng phải làm cho xong việc nhà: vắt sữa bò, cho gia súc, gia cầm ăn, tưới vườn, đến một giờ chiều là phải xong hết.
Không nhớ đã là ngày thứ mấy rồi, nhưng lịch làm việc vẫn chẳng có gì thay đổi: làm xong việc nhà, sau đó đến nhà Grisa Bakhsevnik, người từ lâu đã không trồng dưa (1) nữa mà quay sang nấu rượu lậu.
Nhà của Grisa nằm trên lưng đồi. Từ đây có thể ngắm nhìn toàn cảnh xóm trại với những ngôi nhà nhỏ và các kho chứa xiêu xẹo có thể đếm trên đầu ngón tay, trông như những phế tích cũ kỹ. Tất cả chỉ có vậy.
 
Nhà của Grisa giống như cái hang cáo, tối tăm, bẩn thỉu, cửa nả lúc nào cũng đóng kín với ánh điện vàng ệch. Có thể chính vì vậy mà rượu của anh ta cũng bay mùi nồng nặc.
Rượu đựng trong chai nhựa vẫn còn ấm.
- Mới ra lò đấy… - chủ nhà quảng cáo sản phẩm của mình, những chiếc răng giả lấp lóa trong bóng tối nhờ nhờ.
- Rượu này có thể đánh bả bọ dừa được. - Valia đáp.
- Vào thành phố cô sẽ chỉ uống rượu mùi thôi. - Grisa tự ái nói.
- Tôi sẽ uống! - Valia đáp lại bằng một giọng khiêu khích.
Chẳng bao lâu nữa cô sẽ rời khỏi đây và như sau một giấc mơ kỳ lạ, cô sẽ quên căn nhà của Grisa cùng với thứ rượu lậu bay mùi nồng nặc của anh ta. Ở trung tâm huyện, chẳng khác gì thành phố, các cửa hàng đầy ắp hàng hóa. Có thể vào nhà hàng uống café, cứ ngồi vào bàn là có người mang ra ngay…, lại có cả nhạc sống nữa. Chẳng bao lâu…
Mỗi khi nghĩ đến việc ra đi Valia cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm, bài hát yêu thích cứ tự nhiên bật ra từ miệng cô:
Triệu bông hồng đỏ thắm!
Triệu bông hồng dành cho em!
 
Hôm nay đến lượt chia tay với Natanhia Bokova. Chiều qua Valia đã hứa rồi. Mặc dù vẫn là những con người ấy: Natanhia, Nhiusa, lần này sẽ có thêm Vera nữa, nhưng hôm nay mọi người sẽ tụ tập ở nhà Natanhia. Nhà cô ấy đây rồi, mọi người đang đợi Valia. “Triệu bông hồng, triệu bông hồng đỏ thắm…” - Valia lẩm nhẩm hát và chạy từ trên đồi xuống nhà Natanhia.
Ở đó, đúng là mọi người đang đợi cô bên chiếc bàn sứt sẹo. Trên bàn có đĩa dưa chuột và cà chua, trái nhỏ xíu, đĩa mỡ muối vàng ệch ướp từ năm ngoái, đĩa rau với những củ hành trăng trắng, lọ muối hạt và ổ bánh mì. Cần gì nhiều…
- Nào nâng cốc, chúc mừng Valia gặp vận may,… - lần nào cũng bắt đầu như vậy.
Đó chính là điều Valia mong đợi trong những ngày qua. Không phải vì rượu mà vì chuyến ra đi sắp tới cùng với cuộc sống mới trong thành phố làm cho đầu óc cô quay cuồng. Vĩnh biệt xóm trại, xứ khỉ ho cò gáy, thế là xong…
Sau cốc rượu thứ nhất câu chuyện bắt đầu rôm rả.
- Ở đó mới đúng là cuộc sống thật sự. - Mọi người ganh tị với số phận của Valia. - Khắp nơi chỗ nào cũng đường nhựa, cửa hàng. Còn ở đây, muốn mua bánh mì phải đi sáu cây số.
- Ở đó có cả bệnh viện nữa, bệnh gì bác sĩ cũng chữa khỏi, còn ở đây…
- Mà Valia cần gì bệnh viện, cậu ấy đã già đâu. Cậu ấy cần thợ uốn tóc, thợ sửa móng tay, rồi sẽ như người trong tranh, chẳng phải như bọn mình…
“Mà đúng thế thật… - Valia đưa mắt nhìn những người bạn gái của mình. - Trông họ như những bà già…”.
Những khuôn mặt sạm đen vì nắng gió, đầy những nếp nhăn, những chiếc răng sún ở vào cái tuổi ba mươi, bốn mươi.
 
Đã có thời họ là những cô gái xinh đẹp của xóm trại, mỗi khi ra đồng làm việc đều lấy khăn trắng che kín mặt chỉ hở mỗi đôi mắt, còn ban đêm họ lấy nước dưa chuột và sữa chua để làm mặt nạ dưỡng da. Có một thời rực rỡ như thế… còn bây giờ, hầu như mọi người đã quên hết.
- Ở đấy cậu sẽ tìm được một công việc tử tế, rồi sẽ có lương hưu, chẳng như ở đây…
- Vào thành phố, Valia sẽ tìm được ý trung nhân cho mình để sống cho ra hồn! Nào, hãy nâng cốc vì điều đó! - Mọi người quanh bàn cay đắng thốt ra cái điều có lẽ là quan trọng nhất. Cả bốn người, hoặc là quá lứa lỡ thì, hoặc đã thành gái góa.
Chính vì vậy mà họ đã nâng cốc và uống cạn vì “tình yêu”, rồi hát một bài hát buồn:
Cây thanh lương trà mảnh mai.
Một mình lắt lay trước gió.
Đó là bài hát về cuộc đời người đàn bà, về nỗi buồn và niềm hy vọng của họ:
Giá như ta, cây thanh lương trà mảnh mai,
Có thể biến thành cây sồi được…
Còn sau đó, họ lại hát bài hát yêu thích của Valia:
Triệu bông hồng đỏ thắm!
Triệu bông hồng dành cho em!
 
Họ hát say sưa vì tâm hồn phụ nữ của họ tin rằng: nếu chưa có người yêu, rồi sẽ có; còn anh ta, hoặc sẽ là một kẻ nát rượu với cái chai nửa lít, hoặc sẽ là một trang nam tử với tình yêu và bó hoa trên tay.
Valia hát to hơn tất cả, cô tin chắc chẳng bao lâu nữa, cuộc đời mình sẽ sang một trang mới, sắp đến rồi.
Họ hát rất to, nhưng ơn Chúa, họ cũng nghe thấy tiếng xe ô tô. Vào những ngày thời tiết ấm áp, khô ráo, mỗi tuần một lần xe chở bánh mì đến bán cho xóm trại. Vừa nghe thấy tiếng xe là họ vội chạy ra ngay vì ai mà biết được bánh mì có đủ hay không. Nếu không mua được thì cả tuần sẽ nhịn.
Vera và Nhiusa chạy về nhà mình lấy giỏ, Natanhia tìm một chiếc túi sạch, nhà cô sắp có khách. Chỉ có Valia là bình thản đứng lên. Cô hoàn toàn chẳng nghĩ đến chuyện bánh mì. Những cốc rượu, những bài hát, chuyến ra đi sắp tới, ý nghĩ về một cuộc sống mới như một làn sóng dễ chịu lan khắp cơ thể. Thậm chí ngay cả nhịp sống thường nhật hiện tại đã làm cô phát ngán cũng trở nên dễ thương: những ngôi nhà ọp ẹp ở xóm trại, bờ rào xiêu vẹo chìm lấp trong đám cây ngưu bàng, ngày hè ấm áp và tiếng ríu rít của chim én.
Mọi người nhớ lại những tháng năm tuổi thơ đáng yêu ở xóm trại. Valia cũng sẽ nhớ lại những điều tốt đẹp ấy cho dù tuổi thơ của cô không trôi qua ở đây mà ở huyện lỵ, nơi cô được gửi xuống học. Ở đấy Valia có bạn cùng trường và những người quen khác, và một mối tình đầu vụng dại. Mọi chuyện tưởng đã lùi vào dĩ vãng theo năm tháng, giờ bỗng hiện lên.
 
Chiếc xe chở bánh mì ì ạch như con vịt thận trọng chạy vào xóm trại, đỗ cạnh ngôi nhà đổ nát vốn trước kia là cửa hàng bách hóa. Một đám đông đã tụ tập sẵn: bà Sakhmanikha cùng với các bạn của mình là Khômovna, Karpovna, Mitrophanikha, ông lão rậm râu Mitri và ông lão không để râu Pheđor. Trong số những người trẻ tuổi chỉ có Vera - một phụ nữ từ nơi khác chuyển đến cùng với đứa con còn bế trên tay. Đứa bé bập bẹ cái gì đó làm người mẹ khó chịu.
Valia đi đến gần đứa bé và mỉm cười nói với người mẹ: “Nó sẽ thành một chàng Côzăc tuấn tú… - rồi cô chìa tay ra: - Nào lại đây với cô, lại đây… đừng quấy mẹ nữa…”. Đứa bé hoảng sợ nép chặt vào người mẹ và vừa chỉ tay vào Valia vừa kêu lên: “Lọ lem! Lọ lem!” rồi òa khóc. “Sao thế?” - cùng lúc cả mẹ đứa bé và Valia đều ngạc nhiên hỏi, không hiểu tại sao nó lại khóc. Còn đứa bé vẫn cứ la “Lọ lem! Lọ lem!...” và nép vào ngực mẹ.
Valia sững người, bối rối. Cũng may là lúc ấy xe chở bánh mì vừa đến, đỗ ngay bên cạnh, mọi người đổ xô đến chỗ tài xế với những câu hỏi đã quá quen thuộc:
- Có đủ cho mọi người không?
- Ít ra cũng một lần chở cho chúng tôi loại bánh dùng trong lễ hội chứ?
Những câu trao đổi vui vẻ thường lệ. Mùi thơm của bánh mì tỏa ra từ hai cánh cửa thùng xe mở rộng. Chẳng lẽ đây không phải là ngày hội hay sao? Mùa hè sẽ trôi qua, khi ấy sẽ phải ăn bánh mì sấy hay bánh mì dẹt tự nướng, rồi sẽ phải nhớ đến những ngày này.
Như mọi lần, Valia mua năm ổ bánh mì gối rồi về ngay, không quay lại với đám bạn gái vui vẻ đang chờ cô bên bàn.
Về đến nhà, Valia đến trước gương và dường như không nhận ra mình nữa. Mà ai có thể nhận ra cô trong hình hài một người đàn bà rầu rĩ, mặt mày đen nhẻm và đầy những nếp nhăn… Chẳng phải ngẫu nhiên mà đứa bé đã hét toáng lên “Lọ lem! Lọ lem!” và nép vào ngực mẹ khóc òa.
Người mẹ quá cố của Valia đã có lần mắng cô: “Con thử nhìn vào gương xem có giống ai không… như con Lọ lem…”.
Giờ đây Valia đang nhìn vào gương, cô nhìn thấy rất rõ và hiểu ngay rằng, tất cả đã trôi qua. Và cái cuộc sống ở huyện lỵ kia cũng sẽ chẳng giúp được gì cho cô. Nếu các bạn cũ, các thầy cô giáo và những người láng giềng của Valia có nhận ra cô, thì may ra họ cũng chỉ thốt lên ồ à vài câu rồi tỏ ra thương hại hay thông cảm. Chẳng lẽ đó là tất cả niềm mơ ước của cô hay sao?
Valia không còn đủ sức để ngồi lại trong ngôi nhà thấp lè tè với những căn phòng chật chội. Đôi chân tự nó dẫn đi, và cũng dễ hiểu là đi đâu - lên đồi, đến nhà Grisa mua rượu, sau đó lại đến nhà Vera, Natanhia để uống, rồi kể hết mọi chuyện. Giờ đây cô chẳng còn gì để tự hào nữa, chỉ đơn giản là để khóc, khóc mãi. Một ngày, hai ngày, ba ngày…
Nhưng rồi Valia đã vượt qua được, cô vội băng qua khu vườn đến cái lán gỗ chìm lấp giữa những bụi cây sơn trà và mận gai. Cô muốn đi thật xa, đến tận khe núi hoang vu, chui đầu xuống đất để khóc rống lên. Rồi cô cứ đi mãi, đi mãi, băng qua những bụi cây, đầu óc hoàn toàn tỉnh táo nhưng không phải là trong thế giới này. Valia cứ lê bước, chẳng nhìn thấy gì, rồi cô ngã vật xuống đất và tru lên như con sói. Cô khóc mãi, nước mắt cay đắng dàn dụa. Sau khi đã khóc chán chê, cô nằm im một lúc rồi đứng lên đi mà không biết mình sẽ đi đâu và sẽ làm gì.

Valia cảm thấy ớn lạnh, cô nghe tiếng nước suối róc rách đâu đây, rất gần. Tiếng nước chảy rì rào như tiếng trẻ con thủ thỉ, nghe không rõ nhưng rất gần gũi và sống động.
Trong trạng thái mơ mơ màng màng, Valia như nhìn thấy tuổi thơ và tuổi trẻ của mình, đó là những ngày hè cỏ cây xanh rờn, còn bầu trời thì xanh biếc với nắng vàng rực rỡ… Cô cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm đến trào nước mắt, nhưng đó là những giọt nước mắt sung sướng, ngọt ngào. Qua làn nước mắt như sương mù, Valia như nhìn thấy mọi việc một cách sáng rõ hơn: trên con đường mòn, đứa bé với hai cánh tay nhỏ xíu giang rộng và nụ cười vui vẻ đang chạy lại phía cô và ôm hôn cô. Lạy Chúa tôi, thật sung sướng làm sao…
- Sao cháu lại hôn cô? Cô xấu xí thế này…
- Không! Cô tốt lắm, cô đẹp lắm!
“Đẹp lắm” - câu nói của đứa bé vang lên trong tâm hồn và trái tim Valia, gây cho cô một cảm giác vừa ngọt ngào vừa đau đớn.
Valia hiểu đó chỉ là giấc mơ thoáng qua, nhưng thật là hạnh phúc!
 
Rồi giấc mơ ấy lặp lại: con đường mòn, chú bé như thiên thần vừa cười vừa chạy đến ôm chầm lấy Valia. “Cô đẹp lắm…”. Đôi tay nóng ấm của ai đó ôm lấy cô, nóng đến mức cô có cảm giác trái tim như muốn thoát ra khỏi lồng ngực. “Cô đẹp lắm…”. Trái tim cảm thấy bị gò bó, và niềm hạnh phúc cũng cảm thấy bị gò bó, nó bắt đầu lan ra khắp cơ thể Valia, mỗi lúc một nóng dần lên. Và dòng máu trong người cô cũng bừng lên hồi sinh.
 
(Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
-------------------------
(1) Họ của Grisa bắt nguồn từ chữ “Bakhsa” có nghĩa là ruộng dưa.
 
ĐÀO MINH HIỆP dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeTue Dec 31, 2019 8:46 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 2Q==

Cô dâu hay con hổ
- Frank R. Stockton (1834 - 1902)


Truyện ngắn này của nhà văn Mỹ Frank Stockton in lần đầu năm 1882 và đã được đưa vào nhiều tuyển tập truyện tiếng Anh. Nó được coi như một kiệt tác về nghệ thuật viết truyện ngắn, xây dựng cốt truyện và phân tích tâm lý. Thể loại truyện này được gọi là fantasy.
Tên truyện The lady or the tiger đã đi vào tiếng Anh như một thành ngữ chỉ một vấn đề nan giải.


Ngày xửa ngày xưa có một ông vua bán khai, đầu óc ông ta tuy đã có phần trở nên tinh tế và sắc bén nhờ sự tiến bộ của những lân bang Latin xa xôi dội đến, nhưng đó vẫn là một đầu óc phóng túng, bóng bẩy vì nửa con người ông là nguyên chất bán khai. Nhà vua có một trí tưởng tượng mãnh liệt, thêm vào đó là một quyền lực kiên trì đến mức nếu muốn ông có thể biến trò chơi thay đổi khôn lường của trí tưởng tượng vốn rất dồi dào nơi ông thành hiện thực. Nhưng ông lại có thiên hướng phân tích các hành động của mình, và một khi đã thuyết phục được bản thân thì không có gì ngăn cản được ông đẩy sự việc đến cùng. Nếu mọi thành viên trong các hệ thống gia đình và chính trị của ông vận hành theo đúng quỹ đạo đã vạch thì ông là người ôn tồn và tốt bụng; nhưng hễ có một trục trặc nhỏ và một vài hành tinh của ông đi lạc quỹ đạo thì ông lại càng ôn tồn và tốt bụng hơn. Bởi vì không có gì làm ông vui sướng bằng được thể hiện khả năng uốn thẳng những chỗ cong, san phẳng những chỗ gồ ghề.

Trong số các ý niệm vay mượn làm tính man rợ của ông bớt đi một nửa, có ý niệm dựng lên một vũ đài công cộng cho người và thú quyết đấu, qua đó nhằm thuần thục và cải tạo tâm hồn của các thần dân.
Nhưng chính tại đó trí tưởng tượng sôi sục, man rợ lại bộc lộ mạnh nhất. Vũ đài của nhà vua được dựng lên không phải để cho nhân dân có cơ hội nghe thấy những sự thống khoái của các đấu sĩ đang hấp hối, cũng không phải để họ tận mắt thấy cái kết thúc tất yếu của sự xung đột giữa đức tin tôn giáo và cái bụng đói, mà nhằm mục đích tạo ra một nơi thật thích hợp cho việc đề cao năng lượng trí tuệ của nhân dân. Đấu trường rộng lớn với những hành lang bao quanh, những hầm ngầm bí ẩn, những lối đi không ai nhìn thấy, là nơi thưởng phạt công minh, ở đó tội ác bị trừng phạt hoặc đức hạnh được ban thưởng theo sự phán quyết của một cơ may vô tư và liêm khiết.
Khi một thần dân nào đấy bị kết án phạm vào một tội đủ khiến đức vua tò mò thì một thông báo sẽ được phát ra rằng vào ngày đã định số phận của kẻ có tội sẽ được giải quyết tại đấu trường của nhà vua, một tòa công trình rất xứng với tên gọi này, bởi vì dù cho hình thức và thiết kế của nó là vay mượn từ phương xa, nhưng mục đích của nó hoàn toàn là từ đầu óc của con người này mà ra. Ông ta không coi trọng một truyền thống nào lớn hơn trí tưởng tượng của mình và đã đem cấy ghép vào mọi dạng tư duy và hành động thông thường của con người vô vàn những lý tưởng bán khai của mình.

Khi mọi người đã tụ tập trong các hành lang và đức vua được các triều thần hộ tống đã ngồi vào ngai vị, ông bèn ra hiệu, một cánh cửa phía dưới chỗ ông ngồi mở ra, kẻ bị kết tội bước ra vũ đài. Đối diện thẳng với hắn, ở phía bên kia của khoảng không gian khép kín, có hai cánh cửa giống hệt nhau nằm sát cạnh nhau. Kẻ tử tội có bổn phận và đặc ân là phải đi đến chỗ hai cánh cửa đó và mở ra một cánh. Hắn muốn mở cửa nào cũng được; hắn không phải chịu sự chỉ đạo hay tác động nào, ngoài sự phán quyết vô tư và liêm khiết đã nói trên. Nếu hắn mở một cửa, từ đấy một con hổ đói hung dữ và độc ác nhất trần đời sẽ lập tức nhào ra, nhảy bổ vào hắn, xé xác hắn ra làm trăm mảnh để trừng phạt tội lỗi của hắn. Khi số phận của kẻ tội phạm đã được kết liễu như vậy xong, những quả chuông sắt sẽ kêu rền rĩ, các bức tường vọng lại âm u tiếng kêu la của lũ người khóc mướn ngồi ở rìa phía ngoài vũ đài, còn đám đông người xem thì cúi đầu buồn bã chậm chạp lê bước về nhà, lòng đầy xót thương cho một người trai trẻ hay một bậc tôn kính đã chẳng may phải chịu một số phận thảm khốc đến thế.
Nhưng nếu kẻ tử tội mở cánh cửa khác thì từ đó sẽ bước ra một cô nương mà xét về tuổi tác và địa vị xã hội thì là người xứng đôi vừa lứa với hắn nhất so với tất cả phụ nữ mà quốc vương có thể lựa chọn, và với cô gái như một phần thưởng cho sự vô tội đó, người ta lập tức làm lễ cưới cho hắn. Dù hắn đã có vợ con hay đã đem lòng thương nhớ ai cũng mặc: đức vua không cho phép những chuyện lặt vặt như thế xen ngang vào kế hoạch thưởng phạt uy nghiêm của ông ta đã vạch ra. Cũng như trong trường hợp kia, mọi chuyện lúc này tức khắc được thực hiện trên vũ đài. Dưới ngai vị của đức vua lại có một cánh cửa nữa được mở ra, thầy tư tế bước ra cùng dàn đồng ca và đoàn nhảy múa do một vũ sư dẫn đầu trong tiếng nhạc vang lừng của đội kèn vàng; tất cả những người này cùng bước đến chỗ cặp vợ chồng mới đang kề vai sát cánh bên nhau và nghi lễ đám cưới diễn ra nhanh chóng và tưng bừng. Khi đó những tiếng chuông vui vẻ thong thả ngân vang, dân chúng hân hoan hô to lời chào mừng, kẻ vô tội dẫn cô dâu về nhà mình, đi trước là một đám trẻ rắc hoa đầy đường.

Phương thức bán khai để thực thi công lý của ông vua này là như vậy. Sự công bằng hoàn hảo ở đây là hiển nhiên. Kẻ tử tội không thể biết cô dâu ở bên cửa nào và tùy ý mở một cửa mà không mảy may hình dung được là trong giây lát mình sẽ bị xé xác hay được làm lễ cưới. Đôi khi con hổ bước ra từ cửa này, đôi khi từ cửa khác. Cách giải quyết của pháp đình này không những công bằng mà còn dứt khoát: nếu kẻ bị buộc tội xác định là mình có tội thì tức khắc sẽ bị trừng phạt; còn nếu chứng tỏ mình vô tội thì vẫn nguyên tại chỗ hắn được ban thưởng, dù hắn có thích phần thưởng đó hay không. Không có cách gì tránh được phán quyết của vũ đài nhà vua.
Thiết định này hết sức được ưa chuộng. Khi dân chúng tụ về ngày xử án, không một ai biết sẽ được chứng kiến một cảnh tượng đổ máu rùng rợn hay một đám cưới vui vẻ. Yếu tố bất định làm cho nghi lễ thêm phần hấp dẫn, điều không có được trong trường hợp ngược lại. Như vậy, dân chúng thì được vui thích và dễ chịu, còn bộ phận có học của xã hội thì không thể buộc tội thiết định đó là bất công được, bởi vì chẳng phải là kẻ tội phạm nắm toàn bộ vận mệnh mình trong tay đó sao?
Ông vua bán khai có một cô con gái với vẻ đẹp mãn khai rực rỡ như đầu óc tưởng tượng muôn màu của ông, với một tâm hồn nồng nàn và quyền uy như chính ông. Giống như trong mọi trường hợp thế này, nhà vua say đắm con mình hơn mọi thứ trên đời. Trong số các triều thần của ông có một chàng trai mà dòng máu thanh cao và địa vị thấp hèn đã đặt chàng vào cùng hàng với các nhân vật lãng mạn truyền thống đem lòng yêu con gái nhà vua. Nàng công chúa hoàn toàn bằng lòng với ý trung nhân của mình, bởi sắc đẹp và lòng dũng cảm của chàng vượt hơn tất cả những người khác trong vương quốc, nàng yêu chàng hừng hực, với tất cả sự nóng bỏng và mạnh mẽ nàng có được nhờ dòng máu bán khai mang trong mình. Mối tình hạnh phúc của họ kéo dài nhiều tháng cho đến khi bị nhà vua phát giác. Ông không chần chừ, do dự trước việc phải làm. Chàng trai bị tống ngay vào ngục; ngày thử thách chàng trên đấu trường được ấn định. Tất nhiên đây là một trường hợp quan trọng, đặc biệt nên cả đức vua và toàn thể dân chúng đều náo nức quan tâm theo dõi vụ này. Chưa từng bao giờ có chuyện như vậy xảy ra cả; hàng bao đời nay chưa hề có một thần dân nào lại dám cả gan yêu con gái vua. Về sau này những chuyện như thế trở thành bình thường, nhưng thời đó nó là chuyện mới mẻ, đáng kinh ngạc.

Người ta lục soát khắp các chuồng thú của cả vương quốc để tìm kiếm những con thú man dại, độc ác nhất, từ đó chọn ra một con thích hợp nhất cho cảnh tượng rùng rợn sắp xảy ra; người ta kiểm tra, thử thách tài trí nhiều cô gái đẹp để chàng trai được nhận cô dâu xứng đáng nếu như số phận mỉm cười với chàng. Cố nhiên tất cả đều biết rằng chàng trai bị buộc tội là không oan. Chàng đã yêu công chúa, và cả chàng cả nàng hay một ai đó khác cũng không có ý chối bỏ sự thật đó, nhưng nhà vua cũng không có ý định can thiệp vào tiến trình xử phạt vốn làm ông thỏa mãn và thích thú cao độ. Dù kết cục là thế nào chăng nữa, chàng trai vẫn phải lên vũ đài, còn nhà vua thì được hưởng sự thỏa mãn thẩm mỹ khi ngồi theo dõi diễn biến quá trình xác định xem liệu chàng trai có phạm tội hay không trong việc tự ý yêu công chúa.
Ngày xét xử đã đến. Mọi người xa gần nô nức kéo đến, ngồi chật các hành lang vũ đài, còn đám đông không chen vào được thì tụ tập quanh các bức tường phía ngoài. Đức vua và các triều thần ngồi vào các chỗ của mình, đối diện với hai cánh cửa kép, hai cánh cổng định mệnh, giống hệt nhau khủng khiếp.
Tất cả đã sẵn sàng. Hiệu lệnh được ban ra. Cánh cửa phía dưới chỗ nhà vua ngồi mở rộng, chàng trai ý trung nhân của công chúa bước ra vũ đài. Chàng trai cao lớn, đẹp đẽ, tóc sáng được chào đón bằng những tiếng hò la đầy thán phục và lo âu. Một nửa số khán giả không biết sống giữa họ lại có một chàng trai hào hoa đến vậy. Công chúa yêu chàng là phải. Thật khủng khiếp là chàng phải đứng ở đây!

Khi tiến vào vũ đài chàng trai quay người lại cúi chào nhà vua, theo đúng tục lệ, nhưng chàng không hề nghĩ đến bậc chí tôn đó. Cặp mắt chàng nhìn xoáy vào nàng công chúa đang ngồi bên phải vua cha. Nếu như không phải bản tính còn mang nửa phần hoang dại thì có lẽ nàng đã không đến đây; nhưng tâm hồn đam mê, cháy bỏng không cho phép nàng bỏ qua sự kiện khiến nàng rất đỗi quan tâm này. Sau khi biết sắc lệnh của vua cha tuyên phạt người yêu của nàng trên đấu trường, suốt đêm ngày nàng không nghĩ gì khác ngoài sự kiện trọng đại đó và nhiều chuyện liên quan đến nó. Vốn có một quyền lực to lớn, một uy tín rộng rãi, một tính cách mạnh mẽ hơn bất kỳ ai khác bị rơi vào hoàn cảnh tương tự, nàng đã làm được một việc không ai làm được: biết bí mật các cánh cửa. Nàng biết phía sau cửa nào là chuồng hổ, còn phía sau cửa nào là cô dâu. Hai tấm cửa dày, bên trong lại phủ kín bằng những bộ da lông thú, không để cho một âm thanh, tín hiệu nào lọt được ra ngoài, vang được đến tai người đang bước tới gần nâng chốt cửa lên. Nhưng vàng bạc và sức mạnh của ý chí phụ nữ đã tiết lộ cho công chúa điều bí mật.
Và nàng không chỉ biết cánh cửa nào che giấu cô dâu ửng hồng tươi tắn sẵn sàng bước ra ngoài khi cửa được mở mà nàng còn biết cô gái đó là ai. Để ban thưởng cho kẻ tử tội, nếu chàng chứng tỏ được mình vô tội, người ta đã chọn một trong những cô gái xinh đẹp và quyến rũ nhất trong triều, và nàng căm ghét cô ta. Nàng thường nhận thấy, hay là nghĩ rằng nhận thấy, cô gái xinh xắn đó nhìn người tình của nàng bằng ánh mắt thán phục, đôi khi nàng phải cam chịu thừa nhận là dường như những cái nhìn đó không phải không được đáp lại. Thi thoảng nàng thấy họ có trò chuyện với nhau dù chỉ là thoáng chốc, nhưng một khoảng thời gian ngắn ngủi cũng có thể nói được nhiều điều; có thể họ chỉ nói chuyện vặt thôi, nhưng làm sao nàng biết được? Cô gái trông hấp dẫn, nhưng cô ta đã dám ngước mắt nhìn người tình của công chúa; và với toàn bộ dòng máu hoang dại thừa hưởng từ vô số các tổ tiên thời còn mông muội, công chúa căm tức người con gái giờ đây đang run rẩy và ửng hồng ở phía sau cánh cửa đóng chặt im lìm.

Khi chàng trai quay lại nhìn nàng công chúa đang ngồi nhợt nhạt tái xanh hơn ai hết giữa cả biển người hồi hộp căng thẳng, hai luồng mắt của họ gặp nhau, và chàng thấy - nhờ một chớp lóe trong đầu óc mà chỉ những ai hòa quyện tâm hồn với nhau mới có được - nàng biết con hổ ở cửa nào, cô dâu ở cửa nào. Chàng nghĩ là nàng biết điều đó. Chàng hiểu tính cách của nàng, tâm hồn chàng tin chắc rằng công chúa sẽ không yên chừng nào chưa biết rõ điều này, cái điều mà tất thảy mọi người ngồi trên vũ đài, thậm chí nhà vua, đều không biết. Điều duy nhất chàng trai có thể hi vọng là công chúa biết được điều bí mật đó; và khi đưa mắt nhìn nàng, chàng hiểu là nàng đã biết được nó, y như trong tâm hồn mình chàng từng biết là nàng đã biết được nó.
Và khi đó cái nhìn tinh nhanh, khắc khoải của chàng đặt ra câu hỏi: “Cửa nào?”. Nó vọng đến chỗ nàng như thể chàng hét to lên từ chỗ chàng đang đứng. Không thể bỏ lỡ khoảnh khắc. Câu hỏi được hỏi bằng tia mắt; nó phải được đáp lại bằng cách khác.
Cánh tay phải của nàng đang đặt lên hàng lan can phủ nệm trước mặt. Nàng giơ tay, làm một cử động nhẹ rất nhanh về phía phải. Không ai ngoài chàng nhìn về nàng. Mọi người đều đang đổ dồn mắt vào con người trên vũ đài.
Chàng quay lại và bằng những bước đi rắn chắc, nhanh nhẹn chàng băng qua khoảng không gian trống trải. Từng trái tim thắt lại, từng hơi thở phập phồng, từng ánh mắt hút vào chàng. Không hề do dự, chàng bước lại cánh cửa bên phải và mở nó ra.

Bây giờ, mấu chốt câu truyện là đây: ai sẽ bước ra ngoài - con hổ hay cô dâu?
Bạn càng suy nghĩ về câu hỏi này càng thấy khó trả lời. Nó đòi hỏi phải nghiên cứu trái tim con người là cái luôn cuốn chúng ta vào những mê cung rắc rối của những đam mê mà không dễ tìm lối ra. Hãy suy nghĩ chuyện này đi, bạn đọc thân mến, chỉ có điều là giải pháp ở đây không tùy thuộc vào bạn, mà vào nàng công chúa bán khai hừng hực lửa tình, tâm hồn nàng đã bị nung đến cháy đỏ bởi ngọn lửa tuyệt vọng và ngọn lửa ghen tuông. Nàng đã mất chàng, nhưng ai sẽ được chàng đây?
Thường thường, lúc mơ cũng như lúc tỉnh, nàng run lên vì khủng khiếp và lấy tay che mặt mỗi khi nghĩ đến việc người tình của nàng mở cánh cửa nhốt con hổ đói dữ tợn ở trong.
Nhưng thường nàng thấy chàng ở bên cánh cửa khác nhiều hơn! Nàng nghiến răng giật tóc trong những cơn mơ cay đắng thấy chàng run lên mừng rỡ khi mở cánh cửa có cô dâu. Tâm hồn nàng xiết bao đau khổ khi thấy chàng lao đến gặp cô gái có đôi má ửng hồng, cặp mắt long lanh vui sướng vì số phận may mắn của mình; khi nàng thấy chàng dẫn cô gái bước ra, thân thể chàng tràn đầy niềm vui được sống lại; khi nàng nghe những tiếng hò reo hân hoan của đám đông, những tiếng chuông mừng rung vang cuồng nhiệt; khi nàng thấy thầy tư tế cùng đoàn hộ giá tưng bừng bước lại gần đôi trai gái tuyên bố họ là chồng là vợ ngay trước mặt nàng; và khi nàng thấy hai người sánh bước bên nhau trên con đường rải đầy hoa, trong tiếng reo hò vang dội của đám đông nhấn chìm nỗi tuyệt vọng cô đơn của nàng!

Giá như chàng chết ngay đi và đợi nàng ở những miền cực lạc của cuộc sống bán khai ở thế giới bên kia có phải tốt hơn không?
Nhưng con hổ dữ tợn, những tiếng gào rú, máu chảy xương rơi!
Để trả lời người tình nàng chỉ cần một giây, nhưng quyết định của nàng đã được đưa ra sau nhiều ngày đêm suy tính trong đau khổ. Nàng biết là nàng sẽ được hỏi, nàng đã quyết định câu trả lời cần thiết, và không mảy may do dự nàng đã khẽ cử động tay phải.
Câu hỏi về quyết định của nàng công chúa là câu hỏi không thể xem xét qua loa được, và tôi không có quyền tự nhận mình là người duy nhất có khả năng trả lời được nó. Vì thế tôi xin dành cho các bạn quyền trả lời: Ai sẽ bước ra vũ đài - cô dâu hay con hổ?

NGÂN XUYÊN dịch từ tiếng Anh
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeThu Jan 09, 2020 8:50 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 9k=

Trùm Móc Túi
- Pierre Joli 
 

Toa hạng nhất chẳng có mấy hành khách. Pierre Joli chọn cho mình một cupe trống. Hắn hy vọng sẽ được ngồi một mình, không ai quấy rầy trong suốt cuộc hành trình. Thế nhưng khi tàu bắt đầu chuyển bánh thì cửa cupe bật mở và một cô gái tóc vàng lịch sự, tay xách chiếc va-li da, bước vào. Cô ta cố kiễng chân nâng chiếc va-li lên giá để hành lý, tuy nhiên việc đó rõ ràng là quá sức đối với cô. Pierre đứng dậy nhiệt tình giúp cô gái.
- Rất cám ơn! - Cô mỉm cười và trong một thoáng, mắt họ gặp nhau. Ánh mắt của cô gây cho hắn cảm giác rằng cô có ý ve vãn đôi chút. Nhưng nếu quả như vậy thật thì cô đã không gặp may.
Sau một ngày khá nặng nề, hắn đã mệt rã rời và chỉ mong ước một điều duy nhất: Chợp mắt vài tiếng để trước khi tàu đến Lyon có thể lấy lại sức lực và chỉnh đốn tư thế. Hắn hy vọng Virginia sẽ ra tận ga đón. Đã 5 năm trời họ không gặp nhau và trong suốt thời gian đằng đẵng đó, hắn đã buồn nhớ cô biết bao.
Cô gái tóc vàng ngồi xuống, châm thuốc hút và rút từ túi ra một cuốn sách. Hắn thầm nhận xét rằng cô ta có đôi chân thật đẹp và rõ ràng cô ta cũng rất ý thức được điều đó. Lát sau, hắn cố thu xếp chỗ ngủ sao cho thật thoải mái, đoạn tắt đèn nhỏ đầu giường mình và thiếp đi.

Khi hắn tỉnh dậy, cô gái tóc vàng vẫn ngồi và đang tuyệt vọng lục lọi, tìm kiếm chiếc túi xách của mình.
- Ôi thật kinh khủng, - cô thốt lên, - tôi bị mất ví rồi! Biết làm sao đây? Bây giờ tôi không còn một xu nào hết, mà tôi cần phải có 200 phờ-răng để mua vé máy bay.
Cô gái nhìn vào mắt hắn:
- Anh có thể cho tôi vay 200 phờ-răng được không? Cô hỏi thẳng thừng, ráo hoảnh cứ như đang hỏi xin vài que diêm vậy. Dù thế nào thì tiền nong trong người Pierre giờ đây cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Và tất cả những gì hiện có trong ví hắn, hắn đã phải khó nhọc tích cóp trong suốt 5 năm trời.
- Không, đáng tiếc là không có, - vì thế hắn trả lời.
Cô gái nở một nụ cười quyến rũ:
- Đưa tôi 200 phờ-răng, anh sẽ dễ dàng thoát thân.
Hắn nhìn cô không hiểu:
- Tôi sẽ dễ dàng thoát thân? Cô ngụ ý gì vậy?
- À, đơn giản là tôi muốn nói rằng tôi cần phải kiếm được 200 phờ-răng trước khi tàu chúng ta tới Dijon. Nhưng, có lẽ anh không có đủ 200 phờ-răng.
- Ô không, cô nói gì vậy, - Pierre gật đầu - tất nhiên là tôi có. Nhưng tôi hoàn toàn không biết cô là ai! Thậm chí cô cũng chưa tự giới thiệu. Mà đây là cả một việc...

Thoáng vài giây cô gái ngồi im, không nói lời nào. Sau đó cô hơi cúi người về phía trước, cố nắm bắt ánh mắt của hắn. — Anh hãy thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra, nếu như bây giờ tôi bắt đầu gào lên, giật cần hãm “đề phòng sự cố” và kể với trưởng toa rằng anh định cưỡng hiếp tôi. Bởi vì trước đây đã từng có những trường hợp các hành khách đàn ông đi đêm một mình trong cùng cupe với phụ nữ trẻ đã giở những trò như thế. Tất cả những chuyện đó sẽ đưa lại cho anh nhiều điều khó chịu đấy. Nào là cảnh sát đường sắt ư, nào là hỏi cung ư, rồi lại còn các nhà báo đang khao khát những tin giật gân nữa chứ! Để thoát khỏi một vụ bê bối kiểu như thế, tôi nghĩ, anh sẽ không tiếc 200 phờ-răng đâu.
- Tôi nghĩ rằng, với tôi, vở diễn đấy của cô sẽ không thành đâu, cô bạn quý mến ạ, - hắn thờ ơ nói và rít thuốc.
- Anh hãy nghe đây này, - cô gái mỉm cười tự tin, - tôi có cảm tưởng anh chưa tính được rằng tôi hoàn toàn không có ý định đùa đâu nhé. Nếu tôi làm bù đầu tóc lên, xé toạc áo ra, rồi chạy ra hành lang gào ầm lên, thì anh sẽ rất khó thuyết phục những người khác rằng anh không dính dáng gì đến chuyện này cả. Mà như tôi được biết, ở đất nước này, người ta trừng phạt rất nghiêm khắc những ai có những hành vi vô lại đối với phụ nữ!
- Cô quả là đê tiện hết sức...
Cô gái cắt ngang lời hắn:
- Chẳng lẽ không đáng trả 200 phờ-răng để thoát khỏi tất cả những điều khó chịu đó sao! Tôi nhìn thấy anh đeo nhẫn cưới. Vợ anh sẽ nói gì khi cô ấy đọc trên báo rằng chồng cô ấy đã...
- Cô thật là ghê tởm.
Cô gái mỉm cười:
- Ồ không hẳn vậy đâu! Tôi rất hiền lành với anh đấy. Bởi tôi chỉ đòi anh vẻn vẹn có 200 phờ-lăng thôi, phải vậy không? Có những trường hợp tôi còn moi được nhiều hơn gấp bội cợ Chẳng hạn 500, 1.000, đôi khi thậm chí còn xoay được vài nghìn ấy chứ! Các chính trị gia với tiếng tăm không mấy trong sạch thường vui lòng “ứng” cho tôi những khoản tiền không nhỏ để phòng ngừa những vụ xì-căng- đan. Tôi thường bao giờ cũng nhắm trước cho mình con mồi. Tôi đánh giá anh khoảng 200 - 300, thậm chí có thể tới 500 phờ-răng, nhưng tôi chỉ xin anh có 200 thôi.
- Cô thôi đi được rồi đấy! - Pierre đứng dậy chụp lấy va-li của mình và muốn nhanh chóng thoát khỏi cupe.
- Hãy ngồi xuống đấy! - Cô gái ra lệnh và ngay tức khắc quay ra ngáng đường hắn, - hay là để tôi kêu lên bây giờ! Trong chuyện này thì tôi lão luyện lắm. Anh hãy tin rằng tôi rất lành nghề trong công việc của mình!
Pierre quẳng va-li xuống ghế và ngồi phịch xuống. Hắn tin rằng cô ta rất dám thực thi những lời đe dọa đó nếu như hắn mưu toan chống lại cô ta. Liếc nhìn sang, hắn thấy trên cườm tay cô ta những đồ trang sức đắt tiền. Đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy cô ta không hề cường điệu khi nói rằng cô ta rất lão luyện trong nghề.
Cô gái ngó nhìn đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình.
- Còn năm phút nữa chúng ta sẽ tới Dijon, mà tôi thì phải xuống bến đó, - cô nói bằng một giọng hết sức lạnh lùng sự vụ, - tôi cho anh đúng một phút nữa để quyết định. Phanh hãm phòng sự cố nằm ngay dưới cửa cupe đây. Tôi chỉ cần vài giây là đủ để xé áo, vò tóc mình, cào mặt anh và kêu cứu. Tôi có thể gào chói tai đến mức...
- Còn tôi thì sẽ lập tức kể với mọi người sự việc trên thực tế ra sao và cô là kẻ lừa bịp thế nào. Cô đừng tưởng rằng...
Cô gái phì cười khinh bỉ:
- Những kẻ cưỡng dâm bao giờ chẳng nặn ra những điều thanh minh ngu xuẩn, nhưng ai mà tin chúng được. Nhất là trong những trường hợp nghiêm trọng như thế này!

Pierre nhổm dậy, dụi đầu thuốc lá vào chiếc gạt tàn và sau vài giây lưỡng lự tiến đến trước mặt cô gái. Cô ta vẫn đứng chắn ngang cửa, một tay nắm lấy cổ chiếc áo sơ mi trắng của mình để sẵn sàng xé toạc nó trong chớp mắt. Những móng tay nhọn hoắt sơn đỏ của cô ta, rõ ràng chỉ cần vài giây là đủ để làm biến dạng khuôn mặt hắn - để “tự vệ” mà.
- Thôi được, - hắn nói, đồng thời nhún vai khuất phục, rút từ ví ra mấy tờ giấy bạc, - nhưng để bù lại khoản này tôi đề nghị phải trả lại tôi lãi suất bằng hiện vật.
- Bằng hiện vật? Thế nghĩa là thế nào?
- Tôi đề nghị cho phép tôi hôn cô, để sau này còn có thể vỗ ngực khoe khoang rằng đã được hôn một nữ quái tống tiền trâng tráo nhất thế giới! Cô sẽ nhận 200 phờ-răng, còn tôi thì được cái hôn. Như vậy theo tôi, có lẽ công bằng hơn. Cô thấy thế nào, hay là cô có ý kiến khác?
Cô gái tóc vàng thoáng chút lưỡng lự. Sau đó cô chụp lấy mấy tờ giấy bạc, còn hắn thì kéo cô về phía mình, ôm hôn say đắm. Đó là một chiếc hôn rất dài.
- Thôi đủ rồi, - cô gái thốt lên rồi quẫy ra. Đúng lúc đó đoàn tàu dừng lại. Cô gái lôi va-li của mình khỏi giá và bước ra.

Pierre đứng ở cửa cupe dõi theo bước chân cô dọc hành lang cho đến khi cô bước ra khỏi toa tàu. Đoạn, hắn trở lại, ngồi xuống chỗ của mình, châm một điếu thuốc mới và rút ra một tờ báo. Đã vài phút trôi qua, đoàn tàu lại chuyển mình đi về hướng Lyon.
- Cô nhóc thật ranh ma, quỷ quyệt, - hắn lẩm bẩm không giấu vẻ khâm phục, - nhưng thật không may cho cô ta là đã gặp phải mình.
Nói đoạn hắn đút chiếc đồng hồ và chiếc xuyến vàng của cô ta vào túi áo. Lật qua mấy trang báo, hắn cẩn thận cắt ra một mẩu tin, trong đó có nói rằng ngày hôm nay, sau khi hết hạn 5 năm tù, trùm móc túi Pierre Joli vừa được phóng thích.  
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeMon Feb 03, 2020 8:52 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 2-35

Chuột đồng
– Melker Inge Garay


Melker Bent-Inge Garay là nhà văn Thụy Điển, một bậc thầy về thể loại truyện cực ngắn. Bài viết của ông xoay quanh các chủ đề về thần học, hiện sinh và triết học.
Ông là tác giả các cuốn: Những ghi chép bí mật của người gác nhà thờ (2008), Josef Kinski và Cái Chết (2009), Những bản viết lúc hoàng hôn (2010), Đối thoại (2011), MCV (2014), Những truyện ngắn bù nhìn hoàng hôn (2015).
Cuốn The Verge, tức Những ghi chép bí mật của người gác nhà thờ, là tác phẩm đầu tay của ông, đã từng được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 1-3

Một hôm chuột đồng thức giấc và nhận thấy mình đã biến thành con người. Nó ngồi ngắm cái cơ thể mới của mình hồi lâu. “Chắc đây là mơ” – hắn nghĩ. Nhưng không, đó không phải là mơ. Không phải mơ mà là thực.
Nó đứng lên và quyết định đi vào thành phố. Sau khi trải qua một ngày ở giữa mọi người chuột đồng rút ra kết luận là nó thông minh hơn họ. Nó cho rằng con người rất ù lì. Còn chuột đồng thì ngược lại. Chúng luôn thận trọng, linh hoạt, nhanh trí. Nó nghĩ về chúng. Chắc chúng cho là nó đã chết. Nhưng không, nó không chết.

Khi hoàng hôn buông xuống, nó đi về phía công viên và đến ngồi trên một cái ghế dài. Nó cứ ngồi như thế một lúc, sau đó nó để ý thấy có bầy chuột đồng lông màu hạt dẻ đang đứng và tò mò nhìn nó. Thoạt đầu nó thậm chí không biết phải làm gì, nhưng rồi nhớ ra trong túi nó đang có mẩu bánh mì. Nó thận trọng lấy mẩu bánh ra và để xuống đất. Nó không phải chờ lâu – bầy chuột nhanh chóng đến gần mẩu bánh hít hít. Nhưng thay vì ăn bánh chúng vẫn nhìn nó như cũ. Thấy vậy nó cúi người xuống và chìa lòng bàn tay phải ra. Nó làm thế là để mời gọi một con chuột nào đó ngồi lên tay nó. Và rồi một con chuột trong bầy đã ngồi lên tay nó. Nó chầm chậm đưa tay lên và ngửi ngửi con vật. Khoảnh khắc ấy nó hiểu rằng bầy chuột đứng nhìn nó là bạn nó. Và nó thấy là chúng yêu nó.
Nó âu yếm vuốt ve con chuột, sau đó thả xuống đất. Rồi nó đứng lên và đi ra khỏi công viên. Nó không phải là chuột. Bây giờ nó đã là con người. “Nhưng mình sẽ làm gì giữa mọi người?” – nó tự hỏi. Bởi họ chỉ ngủ và nhìn xem cách nào giết hại được bộ tộc chuột họ hàng của mình.

Và đột nhiên – chính nó thậm chí cũng không biết vì sao – nó nghĩ đến Christ. Phải chăng nó chính là Christos? Điều ước đoán này xuyên thấu người nó. Nghĩ mà xem – nó không phải ai khác là Chritos. Một Christos chuột? Nó dừng lại và ngước mắt nhìn trời. Nó thậm chí không tin vào mắt mình – bóng tối đột nhiên ập xuống xung quanh. Nhưng lúc sau nó lại suy nghĩ về việc liệu nó có phải là Christos chuột thật không. Khi đó bầu trời bất ngờ bùng lên một luồng sáng chói lòa. Ánh sáng làm nó quáng mắt và nó nhắm mắt lại. Nó đứng nhắm mắt như thế bao lâu nó không kịp nhớ, nhưng khi mở mắt ra nó lại là chuột. Và vây quanh nó là hàng ngàn con chuột tụ tập lại. Nó đã được phục sinh. Phải, nó đã được phục sinh từ nhân dân.

Bây giờ nó biết rằng nó là Christos thực sự. Không phải là người bị đóng đinh trên cây thập ác, không phải là người bị người ta đối xử như với Christos giả. Không, nó tự nhủ, người ta không hành hình Christ thật. Mà chính nó có thể hành hình tất cả mọi người có ý định giết hại bộ tộc của nó. Bầy chuột kêu lên chít chít vì vui sướng khi chúng nghe thấy điều này. Bởi vì chúng hiểu rằng nó là người được chọn. Và nó luôn là người được chọn. Bởi vì Chúa Chuột đã nói thầm vào tai nó điều ấy khi luồng sáng chói lòa làm quáng mắt nó. Cái luồng sáng bùng ra giữa những bầu trời đêm tăm tối nhất từng đã có lúc trùm phủ lên trái đất.

(Ngân Xuyên dịch từ tiếng Nga theo bản dịch từ tiếng Thụy Điển của Katarina Muradyan)
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeMon Mar 09, 2020 12:05 am

.

Viên đạn lạc
– Gary Brandner


Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 2-46


Triệu Phong dịch từ truyện ngắn The Stray Bullet của Gary Brandner (1939-2013). Ông là nhà văn Mỹ chuyên viết về truyện kinh dị, nổi tiếng với bộ truyện người sói “The Howling” gồm ba cuốn, về sau được đóng thành phim nhiều tập, tổng cộng tất cả tám cuốn phim mang cùng tên.


Trong quán Leo’s, nhiều ghế cao trước quầy rượu vẫn còn trống chỗ bởi hôm ấy là Thứ Hai sau lễ Phục Sinh, tuy vậy cậu thanh niên cứ bám theo Hickman đến tận góc quán và ngồi lên cạnh ông. Bình thường Hickman chẳng quan tâm chuyện có người muốn ngồi cạnh mình hay không, nhưng vào buổi tối Thứ Hai này ông cảm thấy mệt mỏi và muốn được ngồi một mình.

Người thanh niên tuổi vào khoảng hai mươi hai, hai mươi ba, và râu ria trông đến lúc cần phải cạo. Hickman nhích ghế ra xa một chút và ngó chăm vào đôi mắt vô hồn nhìn trừng từ cái đầu hươu treo đằng sau quầy rượu.
“Thật là một đêm yên tĩnh,” cậu thanh niên nói.
“Phải,” Hickman lầm bầm. Ông ra hiệu về phía người pha rượu đang tròng vào đầu cái áo khoác đỏ. “Một ly như thường lệ, Leo nhé.”
Người pha rượu thả mấy viên đá cục vào trong một cái ly thấp cổ rồi đổ uýt-ki lên trên. Ông đặt thức uống trước mặt Hickman, xong quay sang phía người thanh niên.
“Cậu dùng gì nào?”
“Cho tôi một ly bia,” thanh niên đáp.
“Ông Hickman ăn săng-uýt chứ?” người pha rượu vừa hỏi vừa kê ly vào máy để bơm bia vào.
“Không, cám ơn Leo. Tôi muốn giảm cân một chút.”
Người pha rượu vỗ vào bụng mình, nói. “Đó là điều tôi muốn làm nhưng tôi thà mập mà sống vui hơn là gầy thon mà sầu thảm. Miễn sao quí cô đừng phàn nàn là được rồi phải không?”
“Lẽ đương nhiên,” Hickman đáp.
Leo nhặt tiền lên rồi đi về phía cuối quầy, rồi cho vào máy kêu leng keng.
“Đây là lần đầu tiên tôi đến Los Angeles,” cậu thanh niên nói. “Tôi từ Oregon xuống.”
“Tiểu bang ấy đẹp,” Hickman trả lời. “Xanh tươi. Mưa nhiều.”
Cậu thanh niên chồm tới và nhìn chằm vào mặt Hickman. “Tôi kể cho ông nghe một câu chuyện được chứ? Tôi cần phải nói ra cho một ai đó nghe chỉ một lần thôi. Nếu ông có đi săn thì hẳn câu chuyện còn hấp dẫn hơn. Đây là câu chuyện về một viên đạn lạc.

Hickman đưa mắt quan sát người thanh niên một lúc. Anh ta gầy nhom, gần như bạc nhược trong chiếc áo khoác kẻ ô nặng nề. Mái tóc nâu xổ tung và râu ria trông đến lúc cần phải cạo. Đôi mắt y có cái vẻ giằn vặt, xót xa.
“Được rồi,” Hickman nói, “Hãy nghe thử xem sao.”
Người thanh niên ra hiệu cho Leo mang cho mỗi người thêm một phần uống khác nữa, rồi bắt đầu kể với một giọng chắc nịch.
“Tên tôi là Wesley Mize. Tháng Chín vừa rồi tôi làm đám cưới ở Portland với một cô gái tên Judy, người tôi biết từ hồi tiểu học. Tóc nàng vàng với đôi mắt bự xinh màu da trời.
“Tôi làm việc tại một tiệm bán đồ thể thao nên lấy một tuần nghỉ dành cho tuần trăng mật. Hai đứa chỉ dự trù lái đi chơi khắp trong tiểu bang mà thôi. Vào ngày thứ nhì, chúng tôi rời khỏi Eugene trên Xa Lộ 58 đi về hướng Đông. Trong khi đang chạy thì Judy bắt gặp một đường rẽ vào phía rừng dành riêng cho dân đi đốn gỗ. Nàng tin chắc trong ấy có nhiều cây mâm xôi dại, thứ mà nàng yêu thích. Thế là tôi tách khỏi xa lộ rồi lái sâu vào đến khi cây cối trở nên quá rậm rạp.
“Chúng tôi bước ra khỏi xe, quả đúng, mâm xôi dại mọc khắp nơi. Judy cười và nhảy múa như một bé gái. Nàng lấy từ trong xe một cái xô nhựa rồi chạy trước tôi, chất vào xô đầy những trái mâm xôi.
Nàng tiếp tục chạy lên một chỗ cao rồi quay lại vẫy tôi lên theo. Nàng nói, “Lẹ lên Wes, lên đây xem cái em tìm thấy nè.”
“Tôi bắt đầu leo lên chỗ mà nàng đang đứng đợi, nhưng không bao giờ thấy cái mà nàng tìm được. Ngay khi tôi vừa lên đến đỉnh dốc nơi nàng đứng, một viên đạn đi xuyên qua đầu nàng và cướp đi mạng sống của người vợ tôi vừa mới cưới được hai ngày.”
“Chà, kinh khủng thật,” Hickman buột miệng, cảm tưởng như mình cần phải nói một điều gì.

“Tôi trở nên ngây dại,” người thanh niên tiếp. “Tôi không nghe được tiếng súng lấy mất sinh mạng nàng, nhưng rồi lại thêm một loạt ba phát liên tiếp nữa. Tôi không thấy chúng bay trúng vào chỗ nào. Tôi chỉ bắt đầu chạy về hướng tiếng nổ như thể tôi đang chạy đuổi theo con quỉ. Tôi vấp phải rễ cây và té nhào. Chân phải tôi gãy mất hai khúc xương. Bởi lẽ nào đó tôi không hiểu, tôi phải bò trở lại phía thi thể của Judy, vì rằng đó là nơi người ta khám phá thấy tôi trong trạng thái kinh hoàng sáu giờ sau đó. Nếu người cảnh sát tuần tra xa lộ không nhìn thấy tôi rẽ ra khỏi xa lộ rồi chạy theo để điều tra xem chúng tôi làm gì thì hẳn cả hai chúng tôi còn nằm ở đó.
“Đằng nào thì đó cũng là điều may,” Hickman nói.
“Phải thế không?” Wesley Mize buông câu hỏi treo lửng như sương khói giữa chúng tôi. “Trong năm tháng kế tiếp tôi phải nằm lưu lại trong bệnh viện để người ta chữa cho cẳng chân tôi lành lặn trở lại. Không một giờ phút nào của một trăm bốn mươi bảy ngày đó mà tôi không thầm ước phải chi tôi được chết thay cho Judy.”
“Cảnh sát có biết được ai là kẻ bắn những phát súng ấy không?”
“Chả bao nhiêu. Họ biết đạn bắn ra từ một khẩu súng trường 30—06 dùng để săn hươu. Họ còn tìm thấy một chai uýt-ki rỗng nằm gần điểm xuất phát. Họ đoán đương sự nhắm bắn vào một bảng chỉ đường cũ ở chỗ rẽ của con đường. Chỉ là thực tập bắn súng mà thôi. Đương sự bắn trúng vào tấm bảng ấy ba lần. Viên đầu tiên đi lệch khiến Judy mất mạng. Gã không hề biết gã đã bắn trúng một ai cả. Bụi rậm che chắn ở đó khiến không nhìn thấy được cả con đường nữa.”
“Quả là một điều bất hạnh,” Hickman nói. “Thật tệ hại là ít nhất cậu cũng không trông thấy được xe của gã ấy.”
“Ồ có chứ. Không những tôi thấy được chiếc xe, mà còn đọc được bảng số do tiểu bang California cấp nữa, và tôi cũng nhìn thấy cả người đàn ông nổ súng ấy. Tôi thấy luôn bộ mặt mập ú say mèm của gã khi gã ném cái chai ra khỏi xe rồi rồ ga chạy đi. Gã lái đảo qua đảo về trên con lộ. Ngày hôm sau chắc gã chẳng còn nhớ một điều gì đã xảy ra. Tôi chạy đuổi theo chiếc xe trước khi bị vấp té.”
“Vậy thì tại sao cảnh sát không tìm thấy được người đàn ông một khi cậu đọc được bảng số xe và thấy được mặt gã?”
Wesley Mize đứng dậy, dùng tấm khăn ăn để lau miệng. Người thanh niên nói, “Tôi sẽ kể cho ông nghe nốt câu chuyện khi tôi trở lại.”

Khi người thanh niên lảo đảo đi về phía phòng vệ sinh, Leo bước về phía Hickman, chồm người qua quầy rượu.
“Cậu ấy có vẻ càng lúc càng ồn ào,” gã nói. “Hắn có gây rối điều gì chăng?”
“Không có. Theo tôi y chẳng có gì đáng quan tâm. Cậu ta bị căng thẳng về chuyện gì đó xảy ra cho vợ mình. Tôi nghĩ là cậu ấy muốn trút cái tâm sự u uất của mình ra mà thôi.”
“Nếu y bắt đầu đi quá xa thì nhớ ra hiệu cho tôi hay nhé. Tôi nghe là y từ Oregon xuống, mà người trên đó chả ưa gì dân California chúng ta là bao.
Người thanh niên quay trở lại và ngồi lên ghế. Leo trừng mắt nhìn cậu rồi đi về phía cuối quầy.
“Lý do mà cảnh sát không bắt được gã đó,” người thanh niên tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở, “là vì tôi không tiết lộ cho họ hay việc tôi có nhìn thấy người đàn ông.”
“Hành động như thế để làm gì?” Hickman hỏi. “Cậu không muốn gã ấy bị trừng phạt sao?”
“Đó chính là điều mà tôi rất muốn nữa là khác. Tôi muốn hắn phải bị trừng phạt đích đáng, chứ không phải chỉ bị đánh khẽ mà thôi đâu. Với sự nhẹ tay của tòa án ngày nay, chắc họ chỉ cho gã được tự do với một bản án treo mà thôi. Người đàn ông đó hủy diệt cái đẹp đẽ nhất đời của tôi. Chỉ có một sự trừng phạt dành cho điều hắn đã làm. Đó là hắn phải chết.
“Suốt những ngày tháng dài đăng đẳng trong bệnh viện, chỉ có một lý do duy nhất khiến tôi phải sống – là để tìm người đàn ông đã lấy mất mạng sống của vợ tôi... và giết hắn.”
“Ý cậu là cậu tự mình tìm người đàn ông ấy sao?”
“Tôi muốn nói là tôi đã tìm được gã ấy rồi. Dễ thôi. Tôi viết thư cho Nha Lộ Vận hỏi thông tin về bảng số xe. Họ phúc đáp với tên của chủ sở hữu của chiếc xe. Hóa ra gã sống tại đây, ở Los Angeles này.”
Hickman chợt cảm thấy hơi chút sợ hãi. “Cậu có địa chỉ của gã à?”
“Đúng như thế. Tôi đã đến nhà gã hôm nay. Tôi ngồi đợi tới lúc gã ra ngoài để đoan chắc gã chính là người mà tôi kiếm tìm, rồi tôi theo gã đến quán rượu này.”

Hickman nhìn xuống, trông thấy tay cậu thanh niên đang cầm khẩu súng tự động nòng .45, để trên bắp đùi.
“Khoan đã con trai,” Hickman kêu lên, “cậu đang làm điều sai lầm đấy!”
“Không sai lầm gì cả đâu,” người thanh niên đáp.
Khi lời tiếng của họ chợt lớn hơn, Leo vội tiến lại gần. Đến khi gã bước đến chỗ giữa nơi hai người đang ngồi, Wesley Wize nâng khẩu súng bự lên và bắn thẳng vào mặt. Leo ngã nhào vào phía dãy chai rượu bày sau quầy, rồi gã chúi tới trước, va mặt vào quầy trước khi rơi thịch xuống.
Hickman ngồi cứng đơ như bị hàn dính lên ghế. Wesley Mize đặt khẩu súng tự động lên trên mặt quầy ẩm ướt và đẩy về phía Hickman.
“Tôi không cần đến nó nữa,” người thanh niên nói. “Viên đạn lạc nay đã trở về với chỗ của nó.”

Triệu Phong dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeTue Mar 17, 2020 11:42 am

.

Đám cưới không chú rể
– Yang Zhensheng


Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 2-1

Yang Zhensheng (1890-1956), nhà giáo dục Trung Hoa, từng làm viện trưởng đại học Thanh Đảo từ 1930-1932. (Hình : Wikipedia / Thân Tri sưu tầm)

Truyện ngắn “Ðám Cưới Không Chú Rể” phỏng theo một truyện Trung Hoa viết trong thập niên 1930, trong đó một thiếu nữ đã thành goá phụ trước khi về nhà chồng để được làm vợ. Theo tập tục tại một vài vùng của Trung Hoa, nếu một người con gái hứa hôn với một người đàn ông, và người đàn ông chết trước ngày cưới thì người con gái vẫn phải đi qua thủ tục hôn lễ, và vào sống trong nhà người đàn ông suốt đời như một goá phụ.
Cuộc đời của người trinh nữ góa phụ, tuy còn quá trẻ, nhưng rất cô đơn và lặng lẽ, có đáng tiếp tục đến tuổi bạc đầu không?

***

Ngay sau buổi trưa một ngày cuối thu, một vài đám mây lướt trôi ngang bàu trời, và ánh nắng mặt trời hắt sáng trên những đường phố đã được gió quét sạch sẽ rồi. Ðàn bà và trẻ con đứng trước cửa nhà, chuyện trò náo nhiệt. Cơn gió đưa lại tiếng kèn trống, rõ ràng và thê lương.

Một người đàn bà vươn cổ ra nhìn và nói, “Kìa, họ tới rồi.”
Một đám người lô nhô tiến lại gần, vác cờ quạt, đi theo một chiếc kiệu phủ dạ màu xanh. Một bài vị bằng gỗ đặt bên trong chiếc kiệu. Ðằng sau chiếc kiệu này còn một chiếc kiệu nữa, cũng phủ dạ xanh, có một người con gái khoảng 18 hoặc 19 tuổi. Nàng mặc một bộ tang phục. Hai đầu của một giải lụa đen quấn ngang đầu nàng lủng lẳng trên vai. Mặt người con gái xanh tái. Chỉ có đôi môi màu hồng là còn chút huyết sắc. Nàng ngồi im lặng, nhìn thẳng về phía trước, giống như một pho tượng bằng thạch cao.
Một người đàn bà chỉ vào chiếc kiệu thứ hai, và nói với một bà già,
– Ðó là con gái nhà họ Trương. Người ta nói chú rể chết vài tháng sau đám hỏi. Cô ta chưa bao giờ trông thấy chú rể.
– Ái dà, Thật là một cô gái xinh đẹp. Không biết tại sao cha mẹ cô ta lại để cô ta…
Lời bình phẩm của bà già bị cắt ngang vì một con ho.
Một thằng bé ngẩng đầu hỏi mẹ, “Ðám ma phải không má má?”
Bà mẹ vội mắng con, “Câm cái miệng. Người ta rước cô dâu về nhà đấy.”
Thằng bé hỏi tiếp, “Thế chú rể đâu?”
Bà mẹ bực mình rầy con, “Kia kìa, trong cái kiệu thứ nhất đấy.”
Thằng bé ngó nhìn và kinh ngạc. Nó đang định hỏi tiếp thì mẹ nó đã quay sang nói chuyện với người hàng xóm. Nó cúi xuống, trề môi, và lẩm bẩm:
– Chỉ có cái bài vị bằng gỗ thôi.

Khi đám rước dâu tới cổng của một dinh cơ lớn, hai người đàn ông mặc áo choàng dài trên mặc áo chẽn, bước ra và bưng cái bài vị trong chiếc kiệu thứ nhất vào nhà. Hai người đàn bà, mặc tang phục trắng, giúp cô dâu bước xuống. Tất cả thong thả tiến lên, cái bài vị bằng gỗ dẫn đầu, cô dâu đi sau cùng, một giải lụa đen buộc nối bài vị và cô dâu với nhau, cách xa khoảng ba thước. Trong khi ban nhạc thổi điệu nhạc thê lương buồn thảm, cô dâu và chiếc bài vị đứng song song với nhau trên một tấm thảm màu xanh – chiếc bài vị bên trái và cô dâu bên phải – và cùng vái Thiên Ðịa, rồi vái lậy trong nhà từ đường; sau đó vào phòng khách vái chào cha mẹ chú rể. Rồi cùng với bài vị dẫn đường, cô dâu đi theo, vẫn còn nối liền với nhau bằng sợi giây lụa đen, cả hai được dẫn vào phòng tân hôn.
Ngay khi bước vào phòng tân hôn, họ đụng ngay cái bàn thờ. Tấm bài vị của chú rể được đặt thật ngay ngắn trên bàn thờ. Một ngọn đèn dầu lắt lay, tỏa ra một thứ ánh sáng le lói màu xanh, đặt ngay trước bài vị. Một tấm vải trắng phủ cái khung giường bằng đồng bên cạnh cửa sổ. Hai chiếc áo gối thêu hình một con vịt đực và một con vịt cái màu nâu nhạt, theo đúng truyền thống.
Khuya đêm đó khi tất cả đã im lặng, cô dâu ngồi trên một cái ghế bên cạnh tấm bài vị và ngó nhìn chiếc giường. Một cơn gió tây thổi xuyên qua cửa sổ, khiến cho ngọn đèn ngả nghiêng và bốc ra một làn khói đen, bay lên như một cái bóng đen. Bên ngoài, khóm tre xào xạc rên rỉ.

Một buổi chiều vào cuối mùa xuân năm sau, cô dâu bừng tỉnh sau một giấc ngủ trưa, và đi dạo trong hoa viên. Không khí tràn đầy hương thơm của hoa cỏ. Hai đùi nàng cảm thấy êm ái dễ chịu và thoải mái. Những đám lông tơ của cây liễu lăn cuộn lại trên mặt đất thành những trái banh. Những con bướm giật mình bay bổng lên từng đôi từ những bông hoa, và nhởn nhơ trước mặt nàng.
Nàng lơ đãng nhặt vài sợi giây leo của cây liễu, ngồi xuống bên cạnh một tảng đá trong khu vườn để đan kết một cái gì. Nhưng nàng cũng chưa nghĩ là nên đan kết cái gì.
Nàng nhìn những bông hoa mẫu đơn. Những bông hoa này đã rụng phân nửa những cánh hoa rồi. Những cánh hoa còn lại dính hờ hững vào đài hoa, sẵn sàng làm mồi cho bất cứ một làn gió nào. Một đôi chim sẻ gục vào nhau trên những cánh hoa rụng, mổ lông, rồi vừa rỉa lông cho nhau vừa kêu gù gù trong ánh sáng của mặt trời hoàng hôn. Hai con sóc nhảy từ cành xuống, khiến hai con chim bay vùng lên, cánh vẫy tung lên những cánh hoa tàn. Hai con sóc cũng kêu ríu rít nhảy đi nơi khác.
Trở về với thực tại, người con gái thấy nàng đã bẻ vụn mấy giây tơ của cây liễu thành từng mẩu vụn. Những mẩu vụn ấy rơi rải rác trên mặt đất. Nàng đứng dậy, kéo thẳng quần áo, và lơ đãng đi trở về phòng ngủ. Mặt nàng cảm thấy nóng ran. Nàng nhìn vào gương. Mặt nàng hiện lên những chấm trắng và hồng. Hai gò má nàng là hai bông hoa, màu đỏ ửng. Nàng bước lùi lại vài bước, và ngồi xuống một chiếc ghế. Nàng bâng khuâng nhìn lên chiếc bài vị bằng gỗ.

Sáng hôm sau người góa phụ trẻ không bước ra khỏi phòng, ngay cả lúc ánh sáng mặt trời đã rọi lên cửa sổ. Người đầy tớ gái mấy lần bưng nước cho nàng tắm rửa buổi sáng, nhưng phòng nàng vẫn còn khóa kín. Bên trong không một tiếng động. Người tớ gái sinh nghi và nhòm vào qua cửa sổ. Cảnh bên trong khiến người tớ gái hoảng sợ không nói nên lời. Hai mắt trợn trừng, người tớ gái chạy về phòng của Lý phu nhân, mẹ của chú rể đã chết.
Phải mất một lúc người tớ gái mới thốt ra được, “Thiếu nương đã treo cổ tự tử rồi.”

Nguyễn Vạn Lý phỏng dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeFri Mar 27, 2020 10:58 am

.

Đánh cuộc
– Anton Chekhov (1860-1904)

* Triệu Phong dịch


Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 5-14

Anton Pavlovich Chekhov là nhà viết kịch người Nga nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn trên thế giới với thể loại truyện ngắn.
Chekhov sinh ngày 29 tháng 1 năm 1860 (lịch Julian: 17 tháng 1 năm 1860) ở thị trấn Taganrog miền nam nước Nga, nơi cha ông làm chủ một cửa hiệu tạp hóa nhỏ. Năm 1879, ông theo học ngành y tại Đại học Quốc gia Moskva. Ở đây, ông bắt đầu vẽ biếm họa cho một số tạp chí hài để hỗ trợ gia đình. Sau khi tốt nghiệp năm 1884, Chekhov hành nghề y nhưng vẫn tiếp tục sáng tác. Đến năm 1887, văn tài của ông đã được chấp nhận rộng rãi, và việc sáng tác không cho phép ông dành nhiều thì giờ cho y khoa.
Thời kỳ từ 1886 đến 1888 là giai đoạn Chekhov chuyển tiếp từ thể loại truyện ngắn khôi hài dưới 1.000 chữ qua những truyện ngắn dài hơn, có chủ đề nghiêm túc hơn và văn phong chững chạc hơn. Những truyện ngắn trong thập niên 1890 đem lại một cái nhìn rộng lớn về xã hội nước Nga cuối thế kỷ 19, miêu tả sự chính xác về xã hội của cuộc đời những nông dân, trí thức, tư thương, giáo sĩ, phụ nữ và trẻ em trong những bối cảnh có tính phổ cập và bất biến với thời gian.
Chekhov bị bệnh lao, và năm 1897 phải dời đến cư ngụ ở vùng ấm áp Yalta, nằm kề Biển Đen. Năm 1901, ông kết hôn với nữ diễn viên Olga Leonardovna Knipper. Trong thời gian này, sức khỏe của ông đi xuống dần. Ông qua đời năm 1904 ở khu nghỉ mát Badenweiler tại Đức trong khi đang tìm cách chữa trị.
(Theo Wikipedia)



Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 2-24

Đó là một đêm Thu tối thui. Lão chủ nhà băng đi tới đi lui từ góc này đến góc nọ của căn phòng làm việc của lão, hồi tưởng lại buổi tiệc lão thết đãi vào mùa Thu mười lăm năm trước. Trong buổi tiệc có nhiều người thông thái và cuộc đàm luận hết sức hứng thú. Họ bàn bạc đủ thứ chuyện kể cả án tử hình. Khách khứa, không ít học giả và nhà báo, hầu hết không chấp nhận án tử hình. Họ nhận thấy việc ấy đã lỗi thời và thiếu đạo đức, không thích hợp với một xứ sở Ki Tô giáo. Một số nghĩ rằng án tử hình nên được hoàn toàn thay thế bằng án tù chung thân.

“Tôi không đồng ý với quí vị,” gia chủ nói. “Cá nhân tôi tuy chưa từng thọ án tử hình hay chung thân, nhưng nếu có thể xét theo một định kiến, thì theo thiển ý của tôi án tử hình có đạo đức hơn và nhân đạo hơn tù cấm cố. Tử hình làm người ta chết ngay tức khắc, còn tù chung thân thì phải chịu chết từ từ. Ai nhân đạo hơn đao phủ, kẻ làm quí vị chết trong tíc tắc hay kẻ liên tục lấy đi đời sống quí vị, năm này qua năm khác?”
“Cách nào cũng vô lương tâm cả,” một người khách nhận xét, “chẳng qua mục đích của chúng đều giống nhau, đó là tước mất sự sống. Nhà nước không phải là Thượng Đế. Nhà nước không có quyền lấy đi cái mà họ không thể trả lại, nếu họ muốn làm vậy.
Trong số khách khứa có một luật sư, một người đàn ông trẻ, tuổi khoảng hai mươi lăm. Khi được hỏi ý kiến thì gã đáp:
“Tử hình hay chung thân đều vô đạo đức như nhau; nhưng nếu tôi được phép chọn một trong hai, ắt hẳn tôi sẽ chọn cái thứ nhì. Thà được sống như thế nào đó còn hơn hoàn toàn mất sự sống.”
Tiếp đó là một cuộc tranh cãi sôi nổi. Lão chủ nhà băng đột nhiên nổi nóng, đập nắm tay xuống bàn, quay về phía gã luật sư trẻ, hét lớn :
“Đó là sự dối trá. Tôi đánh cuộc anh hai triệu rằng anh không thể ngồi yên trong tù dù chỉ có năm năm.”
“Nếu ông có ý nghiêm túc,” gã luật sư đáp, “vậy thì tôi cuộc rằng tôi sẽ chịu ngồi tù không phải năm mà mười lăm năm.”
“Mười lăm! Vậy là xong!” lão chủ nhà băng hô to. “Thưa quí vị, tôi chịu giá hai triệu.”
“Đồng ý. Ông đặt hai triệu, tôi đặt sự tự do của tôi,” gã luật sư nói.
Như thế cuộc cá cược điên rồ qua đi. Lão chủ nhà băng, kẻ lúc đó tiền của có hằng triệu đếm không hết, trong lúc ăn uống, nói đùa với gã luật sư:
“Hãy lấy lại tỉnh táo trước khi quá muộn. Hai triệu đối với tôi không là gì, nhưng anh phải chịu thiệt mất ba, bốn năm đẹp đẽ nhất của đời anh. Tôi nói ba hoặc bốn vì anh không bao giờ dính vô đó lâu hơn nổi. Cũng chớ quên anh bạn trẻ bất hạnh tôi ơi, rằng cảm giác khi tự nguyện để bị nhốt nặng nề hơn nhiều so với bị bắt buộc phải ở tù. Mãi canh cánh với ý nghĩ rằng mình có quyền trả tự do cho mình bất cứ lúc nào chỉ độc hại thêm cho cuộc đời ở trong khám. Tôi thấy tội nghiệp cho anh quá.”

Giờ đây lão chủ nhà băng rảo bước tới lui từ góc này sang góc kia căn phòng, nhớ lại trọn vẹn câu chuyện và tự hỏi:
Tại sao ta bày ra cái vụ cá cược này? Có lợi chi đâu? Gã luật sư mất mười lăm năm cuộc đời còn ta thì ném hai triệu qua cửa sổ. Việc ấy có thuyết phục được thiên hạ tử hình là tệ hay tốt hơn tù chung thân không? Không, không! Tất cả đều là rác rưởi. Về phần ta, đó là tính thất thường của kẻ dư ăn dư mặc; còn về gã luật sư thì thuần túy xuất phát từ lòng tham vàng tham bạc.
Lão nhớ thêm điều xảy ra sau buổi tiệc tối hôm ấy. Quyết định được đưa ra là gã luật sư phải chịu sự giám sát hết sức chặt chẽ trong thời gian bị giam cầm tại một cánh của khu vườn nhà lão chủ ngân hàng. Thỏa thuận qui định rằng gã luật sư bị tước mọi quyền vượt qua lằn ranh, nghĩa là không được trông thấy cũng như nghe tiếng nói của con người, kể cả nhận thư và báo chí. Tuy vậy gã được phép sở hữu một nhạc cụ, được đọc sách, viết thư, uống rượu và hút thuốc. Theo thỏa thuận, gã có thể liên lạc, nhưng chỉ qua sự im lặng, với thế giới bên ngoài bằng một cửa sổ nhỏ được thiết kế đặc biệt cho mục đích này. Mọi thứ cần thiết như sách vở, nhạc, rượu, gã được phép nhận không hạn chế số lượng, bằng cách ghi các đòi hỏi lên một tờ giấy và chuyền qua cửa sổ. Thỏa thuận nêu tất cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất, khiến cho kiếp cầm cố hết sức quạnh hiu, thỏa thuận bắt buộc gã luật sư phải chịu sự biệt giam đúng mười lăm năm, từ mười hai giờ ngày 14 tháng Mười Một, 1870, đến mười hai giờ ngày 14 tháng Mười Một, 1885. Mọi toan tính tối thiểu về phía gã luật sư nhằm vi phạm các điều kiện, như ra sớm dù chỉ hai phút trước lúc đáo hạn, lão chủ nhà băng coi như không bị bắt buộc phải trả cho gã số tiền hai triệu.

Trong suốt năm đầu tiên, gã luật sư, căn cứ theo những tấm giấy ghi chép ngắn ngủi, đã hết sức khổ sở phải chịu đựng sự cô độc và nhàm chán. Từ phòng giam của gã suốt ngày lẫn đêm vẳng ra tiếng dương cầm. Gã từ chối không nhận thêm rượu và thuốc lá. “Rượu,” gã viết, “kích thích lòng ham muốn, mà dục vọng là kẻ thù chính của một tù nhân; hơn nữa, không gì chán hơn là phải uống rượu ngon một mình, còn thuốc lá chỉ gây thêm độc hại cho căn phòng.”
Cũng trong năm đầu tiên ấy, gã luật sư được cung cấp nhiều sách có tính cách tiêu khiển; các tiểu thuyết với những chuyện tình rắc rối, chuyện tội ác, chuyện thần kỳ, chuyện hài, vân vân.
Qua năm thứ hai không ai còn nghe thấy tiếng dương cầm nữa và gã luật sư chỉ đọc sách loại văn chương cổ điển. Đến năm thứ năm tiếng nhạc lại vẳng ra, và người tù lại đòi rượu. Người canh chừng gã kể rằng suốt năm đó gã chỉ có ăn, uống và nằm. Gã thường hay ngáp và độc thoại một cách giận dữ. Gã không đọc nữa. Đôi khi vào ban đêm gã ngồi vào bàn để viết. Gã viết thật lâu để rồi xé hết tất cả vào sáng hôm sau. Có đôi lần người ta nghe tiếng gã khóc.
Vào nửa cuối của năm thứ sáu, người tù bắt đầu miệt mài học ngoại ngữ, triết và sử. Gã háu đói sách với những đề tài này đến nỗi lão chủ nhà băng không cung cấp kịp. Trong bốn năm, khoảng sáu trăm tác phẩm được đặt mua theo yêu cầu của gã.

Trong thời kỳ của niềm say mê kéo dài ấy lão chủ nhà băng nhận được lá thư từ người tù như sau: “Thưa ông chủ ngục, tôi viết những dòng này bằng sáu thứ tiếng. Hãy đưa cho những người chuyên môn xem. Nếu họ không tìm thấy một lỗi nào, thì tôi xin ông hãy ra lệnh cho bắn phát súng ở trong vườn. Với tiếng nổ ấy tôi có thể biết được mọi nỗ lực của tôi không đến nổi vô ích. Những thiên tài của mọi lứa tuổi và những đất nước nói các thứ tiếng; nhưng trong họ đều cháy bùng cùng ngọn lửa giống nhau. Ôi, ước gì bây giờ ông hiểu được niềm hạnh phúc vô biên của tôi, đó là tôi đã có thể hiểu được họ!” Ước nguyện của người tù được thỏa mãn. Hai phát súng được bắn trong vườn theo lệnh của lão chủ nhà băng.
Sau đó, vào năm thứ mười, gã luật sư ngồi bất động trước bàn và chỉ đọc kinh Tân Ước. Lão chủ nhà băng thấy lạ là một người trong bốn năm từng đọc hiểu rành rẽ sáu trăm đầu sách loại uyên thâm nay bỗng bỏ ra gần hết một năm để chỉ đọc duy nhất một cuốn, loại dễ hiểu, và cũng chẳng có dày gì mấy. Nhưng Tân Ước rồi ra lại được thay thế bằng sách lịch sử tôn giáo và thần học.
Suốt hai năm cuối cùng, gã tù lại đọc một số lượng sách kinh hồn, toàn do chọn lựa ngẫu nhiên. Giờ thì gã chuyên tâm vào khoa học tự nhiên, rồi lại chuyển qua sách của Byron hoặc Shakespeare. Những tờ ghi chép do gã gửi ra thường đòi hỏi gởi cùng một lượt một cuốn về hóa học, một sách giáo khoa về ngành y, một tiểu thuyết, và một số luận thuyết về triết hoặc thần học. Gã đọc như thể đang bơi trong vùng biển giữa các mảnh vỡ, trong ước muốn cứu lấy đời mình bằng sự gom lượm hết mảnh này đến mảnh khác đó.
Lão chủ nhà băng nhớ lại tất cả những điều này, và nghĩ:
Ngày mai vào lúc mười hai giờ gã ấy sẽ nhận lại sự tự do. Theo thỏa thuận, ta sẽ phải trả cho gã hai triệu. Nếu ta trả đủ, thì ta coi như tàn đời. Ta vĩnh viễn trắng tay…
Mười lăm năm trước, lão có quá nhiều tiền triệu, đếm không hết, nhưng giờ đây lão sợ không dám tự hỏi, liệu xem thứ gì lão có nhiều, tiền hay nợ. Chơi trò may rủi với chứng khoán, đầu cơ liều lĩnh, và tật khinh suất mãi không chừa ngay cả vào lúc tuổi già đã dần dần đưa kinh doanh của lão vào sự đình đốn; và con người kinh doanh vốn kiêu hãnh, tự tin, không biết sợ, đã trở thành một lão chủ nhà băng tầm thường, luôn sợ hãi trước mọi sự lên xuống của thị trường.
“Cuộc cá cược đáng nguyền rủa ấy,” lão già đầu óc chìm đắm trong nỗi thất vọng nhủ thầm, “Tại sao gã đàn ông nọ không chết phứt đi? gã chỉ mới bốn mươi. Gã sẽ tước mất đồng xu cuối cùng của ta, lấy vợ, vui hưởng cuộc đời, chơi may rủi với chứng khoán, còn ta sẽ đứng nhìn như một tên ăn xin ganh tỵ và mỗi ngày nghe cùng một giọng điệu từ miệng gã: ‘Vì hạnh phúc của mình, tôi buộc lòng phải gia ơn cho ông. Hãy để tôi giúp ông nhé.’ Không, như vậy là quá đáng! Cách duy nhất để tránh khỏi khánh tận và ô nhục là gã ta phải chết.”

Đồng hồ vừa điểm ba tiếng. Lão chủ nhà băng lắng nghe. Trong nhà mọi người đang say ngủ, nghe chăng chỉ có tiếng rên rỉ của những cây cối giá lạnh bên ngoài cửa sổ. Cố không gây tiếng động, lão lấy từ tủ két ra chiếc chìa khóa của cánh cửa vốn chưa từng được mở trong suốt mười lăm năm, mặc chiếc áo khoác vào, rồi bước ra khỏi nhà. Khu vườn tối và lạnh. Trời đang mưa. Một cơn gió ẩm, xuyên suốt, gào rú trong vườn khiến cây cối không yên nghỉ.
Dù cố nhướng mắt nhìn, lão chủ nhà băng cũng không thể nhìn thấy rõ mặt đất, những bức tượng màu trắng, cánh vườn, và cả cây cối. Đến gần cánh vườn, lão hai lần cất tiếng gọi người canh giữ. Không có tiếng trả lời. Rõ ràng là người canh giữ đã kiếm chỗ núp cái thời tiết khắc nghiệt và giờ đây đang ngủ vùi đâu đó trong bếp hay nhà ươm cây.
Nếu ta có đủ can đảm để thực hiện ý định, lão già nghĩ ngợi, mọi sự nghi ngờ trước tiên sẽ trút hết lên đầu gã canh giữ.
Trong bóng tối, lão lần lên mấy bậc cấp rồi cánh cửa và bước vào hành lang của cánh vườn, rồi mò mẫm đi sâu vào một lối đi hẹp và đánh lên một cây diêm. Không có ma nào ở đấy cả. Một chiếc giường không có khăn trải nằm đó, và một lò sấy bằng sắt thu mình tối tăm trong một góc nọ. Dấu niêm trên cánh cửa dẫn vào phòng tù nhân vẫn chưa hề bị ai chạm đến.

Khi diêm tàn, lão già run rẫy vì khích động, lén nhìn vào bên trong khung cửa sổ bé tí.
Trong căn phòng của tù nhân, một ngọn đèn cầy đang cháy mờ nhạt. Gã tù nhân đang ngồi trước bàn. Chỉ có thể nhìn thấy được lưng, tóc và hai bàn tay gã. Mấy cuốn sách mở sẵn nằm đó đây trên bàn, và trên thảm, hai chiếc ghế được đặt ở cạnh bàn.
Năm phút qua đi mà tù nhân không hề một lần cựa quậy. Mười lăm năm cầm cố chắc đã dạy cho gã cách ngồi bất động. Lão chủ nhà băng dùng ngón tay gõ lên cửa sổ nhưng gã tù nhân không hề đáp lại bằng một cử động nào. Thế rồi lão chủ nhà băng thận trọng xé miếng niêm phong khỏi cánh cửa rồi tra chìa khóa vào ổ. Cái khóa hoen rỉ cất tiếng rên khàn đục, còn cánh cửa thì kêu kèn kẹt. Lão chủ nhà băng đinh ninh sẽ nghe tức thì tiếng kêu kinh ngạc và âm thanh của bước chân. Nhưng ba phút trôi qua mà bên trong vẫn lặng yên như tờ như ban đầu. Lão quyết định bước vào bên trong.
Ngồi trước bàn là một gã đàn ông không giống với một con người bình thường. Đó là một bộ xương, với da dẻ dính sát, mái tóc dài quăn như tóc đàn bà, và một bộ râu lởm chởm. Da mặt gã có màu vàng của đất; đôi má lõm vào, cái lưng dài và hẹp, và bàn tay mà cái đầu với mái tóc rậm của gã đang tựa lên thật gầy guộc trông rất đau lòng. Tóc gã đã chuyển sang màu bạc, và không ai ngay khi nhìn thoáng qua cái vẻ lão hóa hốc hác của khuôn mặt có thể tin rằng gã chỉ mới bốn mươi. Trên bàn, ngay trước cái đầu cúi xuống, có đặt một tờ giấy, trên đó bàn tay bé xíu ấy đã hí hoáy điều gì đó.
Con quỉ đáng thương, lão chủ nhà băng ngẫm nghĩ, gã đang ngủ say và chắc đang thấy tiền triệu trong giấc mơ. Ta chỉ việc quăng cái vật nửa sống nửa chết này lên giường, rồi lấy gối đè lên mặt trong một chốc, thì cho dù sau này người ta có khám nghiệm cẩn thận cách mấy cũng không tìm được dấu vết nào cho thấy cái chết này là bất bình thường. Nhưng trước hết hãy đọc xem gã viết cái gì đã.

Lão chủ nhà băng lượm tờ giấy lên và đọc:
“Ngày mai vào lúc mười hai giờ đêm tôi sẽ lấy lại sự tự do và quyền được hòa nhập với mọi người. Nhưng trước khi rời khỏi căn phòng này để nhìn ánh mặt trời, tôi thấy cần phải nói với ông vài lời. Trước lương tâm trong sáng của tôi và trước Thượng Đế, tôi tuyên bố với ông rằng tôi xem thường sự tự do, cuộc sống, sức khỏe, và tất cả những gì mà sách vở của ông gọi là phúc lành của thế gian.
“Trong suốt mười lăm năm tôi đã miệt mài học hỏi đời sống thế gian. Đúng vậy, tuy tôi không được thấy thế giới và con người, nhưng qua những sách vở của ông tôi đã uống được hương vị của rượu nho, ca những bài hát, đi săn hươu và lợn hoang trong rừng, yêu thương phụ nữ… Và phụ nữ đẹp, như những đám mây trên các tầng trời, tạo bởi phép mầu của những thi nhân thiên tài của ông, đã viếng tôi hằng đêm và thầm thì với tôi những câu chuyện tuyệt vời, làm cho đầu óc tôi cuồng say.
“Qua sách vở của ông, tôi đã leo lên đỉnh của các ngọn núi Elbuz và Mont Blanc và từ đó đã nhìn thấy mặt trời mọc lúc ban mai như thế nào, và vào ban chiều bầu trời, đại dương và các rặng núi, ngập tràn với ánh vàng tím ra sao. Từ đó tôi nhìn thấy phía trên tôi sấm chớp lờ mờ tách chia những đám mây như thế nào. Tôi thấy những cánh rừng, đồng xanh, sông suối, hồ ao, phố thị; tôi nghe tiếng ca của còi hụ, tiếng ngâm những vần thơ pipes of Pan; Tôi đã sờ cánh của những quỉ sứ đẹp đẽ, họ bay đến bên tôi để nói với tôi về Thượng Đế… Trong sách vở của ông, tôi buông mình vào vực thẳm không đáy, tạo nhiều phép lạ, thiêu rụi các đô thị, thuyết giảng các tôn giáo mới, chinh phục toàn thể các xứ sở…
“Sách vở của ông mang lại cho tôi trí huệ. Tất cả tư tưởng mà con người không ngừng sáng tạo qua hằng thế kỷ nay được cô đọng trong một khối u nhỏ trong sọ tôi. Tôi biết tôi thông thái hơn tất cả mọi người các ông.
“Và tôi xem thường sách vở của ông, xem thường tất cả mọi điều sung sướng và kiến thức trần tục. Tất cả đều là trống không, mong manh, hư ảo, và hão huyền như ảo vọng. Dẫu ông có tự kiêu, khôn ngoan và đẹp đẽ, nhưng rốt cùng cái chết sẽ quét ông khỏi bề mặt trái đất như lũ chuột ở dưới hang; và hậu duệ của ông, lịch sử của ông, và sự bất tử của các thiên tài của ông cũng sẽ như những vảy sắt đông cứng, cùng bị thiêu rụi với thế gian.
“Ông điên rồ, và đi sai đường. Ông chọn sự lừa dối thay cho chân lý và sự xấu xa thay cho cái đẹp. Hẳn ông sẽ lấy làm kinh ngạc khi đột nhiên cây táo, cây cam, sinh ra ếch nhái và thằn lằn thay vì quả, trái; và hoa hồng lại bắt đầu tỏa ra mùi mồ hôi ngựa. Vậy thì tôi có kinh ngạc về ông không, người vừa đánh đổi thiên đường cho trần thế. Tôi không muốn hiểu ông.
“Rằng thật sự tôi có thể tỏ cho ông thấy cái sự khinh miệt của tôi về cái cách mà theo đó ông sống, tôi khước từ hai triệu mà tôi từng mơ tưởng như là thiên đàng của tôi, thứ mà ngày nay tôi khinh miệt. Rằng tôi có thể tự mình tước đi cái quyền sở hữu của tôi đối với hai triệu ấy, tôi sẽ bước ra khỏi nơi này năm phút trước thời hạn qui định, và như thế sẽ vi phạm thỏa ước.”

Đọc xong, lão chủ nhà băng đặt tờ giấy xuống bàn, hôn lên đầu người đàn ông lạ, và bắt đầu khóc. Lão bước ra khỏi căn nhà nơi cánh vườn. Chưa bất cứ khi nào, ngay cả sau khi thua xiểng liểng vụ chứng khoán, lão cũng chưa hề tự khinh miệt bản thân mình như lúc này. Về nhà, lão nằm dài xuống giường, nhưng sự rung động và nước mắt cứ làm lão thao thức mãi chưa chợp mắt được…
Sáng hôm sau người canh giữ đáng thương chạy xộc vào tìm lão, cho lão hay rằng họ trông thấy người đàn ông sống trong cánh vườn leo xuống khu vườn bằng lối cửa sổ. Gã đi thẳng ra cổng chính rồi mất hút. Lão chủ nhà băng lập tức cùng đám gia nhân tới khu cánh vườn và làm xác minh sự kiện vượt trốn của tù nhân. Khi trở về phòng, để tránh những dị nghị, đồn đại không cần thiết, lão lấy tờ giấy khước từ đem cất kỹ trong tủ két.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeSun Apr 05, 2020 6:00 pm

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Images?q=tbn%3AANd9GcShwbryKbPL3RY6PlNoEA-auwYTgPivowtn4WvYjZABfQM6q_aZ&usqp=CAU

Sám Hối
– Ray Bradbury


* Nguyễn Thị Hải Hà dịch
Nguyên tác “Bless Me, Father, for I Have Sinned”

Chẳng bao lâu là đến lúc nửa đêm, đêm Giáng-sinh. Linh mục Mellon chợt tỉnh giấc, sau khi chợp mắt chỉ vài ba phút. Ông cảm thấy một sự thúc bách kỳ quặc khiến ông phải đứng dậy, đi ra, mở rộng cánh cửa giáo đường để cho tuyết tràn vào rồi đến ngồi trong phòng xưng tội, chờ đợi.
Chờ chuyện gì? Ai mà biết? Ai có thể nói ra đây? Nhưng sự thúc bách mạnh mẽ quá không thể cưỡng lại được.
“Có chuyện gì xảy ra đây?” ông nói thầm, khi thay quần áo. “Mình có bị điên không đây? Giờ này, đâu có ai cần hay là muốn xưng tội và nếu có thì tại sao lại chọn cái đêm bão tuyết mịt mùng như thế này, liệu mình có nên –”
Thế nhưng ông vẫn thay quần áo, xuống nhà thờ, mở toang cửa rồi đứng nhìn sững sờ vẻ đẹp của đất trời ngoài kia, lộng lẫy hơn bất cứ bức tranh nào trong lịch sử, một tấm thảm kết bằng những sợi đăng ten tuyết đan vào nhau, phủ đầy mái nhà, che khuất những ngọn đèn, và choàng lên tất cả những chiếc xe đang quây quần với nhau bên lề đường, như chờ được ban phép lành. Tuyết rơi đầy trên hè phố, bám vào mi mắt của ông, rồi che phủ tâm hồn ông. Ông thấy mình đang nín thở trước vẻ đẹp huyền diệu này. Sau đó, ông quay người, tuyết bay theo phía sau lưng ông, ông trốn vào trong phòng xưng tội.

Mình đúng là một kẻ ngu, ông thầm nghĩ. Lão già gà chướng. Đi về thôi! Về phòng và lên giường.
Nhưng ông nghe thấy: tiếng động ở cửa, và tiếng bước chân lê trên con đường đá sỏi dẫn vào giáo đường, và cuối cùng là tiếng sột sọat của một kẻ nào đó đã vào phòng xưng tội. Cha Mellon im lặng chờ đợi:
“Xin hãy ban phước lành cho tôi,” giọng người đàn ông nói nhỏ, “bởi vì tôi là kẻ có tội!”
Hơi choáng vì lời thỉnh cầu xảy ra nhanh hơn dự đoán, Linh mục Mellon chỉ có thể hỏi:
“Làm sao mà ông biết nhà thờ mở cửa vào giờ này và tôi sẽ có mặt ở đây?”
“Tôi cầu nguyện, thưa Cha,” người kia trả lời dịu dàng. “Chúa xui khiến ngài đến và mở cửa nhà thờ.”

Dường như không có câu trả lời thích đáng, nên người tu sĩ già, và người xưng tội có giọng nói khàn khàn, ngồi im lặng trong không khí lạnh lẽo khi kim đồng hồ đang nhích dần đến lúc nửa đêm. Rồi thì người trú ẩn trong bóng tối lập lại:
“Xin hãy ban phúc lành cho kẻ có tội, thưa Cha!
Thay vì nói ra những lời trơn tru quen thuộc, khi Giáng-sinh đang vội vã đến trong cơn bão tuyết, Linh-mục Mellon nghiêng người về cửa sổ được làm bằng những thanh gỗ mỏng bắt tréo vào nhau như mắt lưới, im lặng một hồi lâu:
“Có lẽ tội lỗi của ông quá to lớn khiến ông phải đi xưng tội trong thời tiết khắc nghiệt nửa đêm như thế này. Một công việc khó khăn đến độ chỉ có thể thực hiện vì Chúa đã nghe lời cầu xin của ông nên đẩy tôi ra khỏi giường.”
“Tôi có rất nhiều tội được viết thành một danh sách rất dài. Thưa Cha, rồi ngài sẽ thấy!”
“Thế thì ông hãy nói đi, kẻ có tội,” Linh mục nói, “kẻo chúng ta sẽ đông thành đá mất.”
“Thưa Cha, chuyện như thế này.” – Giọng nói run rẩy như tiếng gió lạnh thầm thì phía sau tấm vách mỏng. “Sáu mươi năm trước...”
“Nói to lên chút nữa đi! Sáu mươi năm?!” Vị linh mục hỏi nhanh có vẻ ngạc nhiên. “Chuyện xưa đến ngần ấy à?”
“Sáu mươi năm!” Sau đó là khoảng thời gian im lặng kéo dài như tra tấn.
“Tiếp tục nói đi,” linh mục nói, dường như hổ thẹn vì đã ngắt lời người nói.
“Sáu mươi năm, cũng vào tuần Giáng sinh, lúc ấy tôi được mười hai tuổi,” giọng nói người già nua lên tiếng, “tôi đi mua sắm với bà của tôi ở một thành phố nhỏ miền Đông. Chúng tôi phải đi bộ cả hai lượt đi và về. Vào thuở ấy mấy người được có xe để mà đi?  Chúng tôi đi bộ, mang về nhà những món quà đã được bao gói lại. Chẳng nhớ bà tôi rầy tôi cái gì đó, tôi nổi giận nên bỏ chạy trước, chạy tránh cho xa bà. Thật xa, tôi nghe tiếng bà gọi rồi bà khóc, giọng bà đầy lo lắng. Bà gọi tôi quay lại, quay lại, nhưng tôi không thèm nghe. Bà khóc thành tiếng, nên tôi biết là tôi đã làm bà sợ hãi và lo lắng. Điều này làm tôi cảm thấy mạnh mẽ hơn, khoái chí hơn, và tôi chạy nhanh hơn, xa hơn, vừa chạy vừa cười, về nhà trước bà. Khi bà tôi về tới nhà, thở hào hễn, khóc nước mắt nước mũi chèm nhèm, như thể bà không hề ngưng khóc. Tôi cảm thấy xấu hổ và tôi chạy trốn....”
Tiếp theo là cơn im lặng rất lâu.
Vị tu sĩ nhắc nhở, “Chỉ có thế thôi sao?”
“Còn nhiều chuyện lắm,” giọng nói đầy vẻ than thở ở bên kia tấm vách mỏng.
“Tiếp tục nói đi,” vị tu sĩ nói, mắt nhắm lại.
“Tôi cũng làm những chuyện như vậy với mẹ tôi, trước ngày Tết. Mẹ tôi làm tôi giận nên tôi bỏ chạy. Tôi nghe tiếng mẹ tôi kêu đằng sau lưng. Tôi mỉm cười và chạy nhanh hơn. Tại sao? Tại sao, Ôi Trời ơi, không hiểu tại sao tôi lại làm như vậy?”
“Chỉ có thế thôi, phải không?” vị tu sĩ nói nhỏ giọng thầm thì, thấy có vẻ lạ vì bỗng dưng tu sĩ có cảm tình với ông lão đang ngồi ở bên kia tấm vách ngăn.
“Một ngày vào lúc mùa hè,” giọng nói cất lên, “tôi bị vài đứa trẻ bắt nạt, chúng đánh tôi. Khi bọn chúng bỏ đi rồi, trên bụi cây tôi thấy có hai con bướm đang quấn quít nhau rất đáng yêu. Tôi bỗng đâm ra ghét cái hạnh phúc của chúng. Tôi chộp lấy chúng, bóp nghiến cho đến khi chúng vỡ vụn tan tành như bụi đất. Ôi, thưa Cha, thật là đáng tội!”

Ngọn gió bỗng thổi tung cánh cửa nhà thờ ngay lúc ấy. Cả hai cùng liếc nhìn về phía cửa để xem bóng ma tuyết của Giáng sinh bước qua thềm cửa rồi lả tả rơi xuống thành một lớp tuyết phủ đầy vệ đường.
“Còn một chuyện nữa, chuyên cuối cùng, rất tồi tệ,” ông lão nói, giọng tràn ngập hối hận. Rồi ông bắt đầu kể:
“Khi tôi mười ba tuổi, chuyện cũng lại xảy ra vào tuần lễ Giáng sinh. Bo, con chó của tôi bỗng dưng bỏ trốn, và tôi thất lạc nó suốt ba ngày đêm. Tôi yêu “thằng bé” này hơn bất cứ thứ gì trong cuộc đời. Nó rất đặc biệt, dễ thương, khôn ngoan vô cùng. Bỗng dưng, nó biến mất và cùng với nó tất cả cái đẹp niềm vui của cuộc đời cũng biến mất. Tôi chờ nó về. Tôi khóc. Tôi lại tiếp tục chờ. Tôi nguyện cầu. Tôi cố nén những lời kêu than la hét. Tôi biết nó sẽ chẳng bao giờ trở về! Rồi bỗng dưng vào lúc hai giờ sáng một ngày trước đêm Giáng sinh, trời lạnh đến độ băng đóng cứng trên đường và băng nhủ treo lòng thòng từ mái nhà, và tuyết đang rơi, tôi mường tượng nghe tiếng kêu trong lúc tôi đang ngủ. Tôi thức giấc nghe tiếng móng chân cào sột sọat trên cửa! Tôi nhảy phóc ra khỏi giường, nhanh đến độ suýt tí nữa là tôi ngã vỡ đầu mà chết! Tôi mở toang cửa. Ngay trước mặt tôi là chú chó khốn khổ của tôi, run rẩy, vui mừng, mình nó bám đầy bùn tuyết nhão.
Tôi la hét vì vui mừng, kéo vội nó vào nhà, đóng cửa lại, quì xuống, ôm lấy nó, và nước mắt tôi chảy ràn rụa. Thật là một món quà tuyệt vời! Tôi gọi tên nó lập đi lập lại, và nó cũng khóc với tôi, bằng tiếng kêu úng ắng như bị đau đớn vì quá vui mừng. Rồi tôi ngưng lại. Cha có biết tôi đã làm gì không? Cha có thể nào đoán được hành động tồi tệ này không? Tôi đánh “thằng bé.” Vâng, tôi đánh đập nó thậm tệ. Tôi đấm, tôi tát, tôi bại tai, và tiếp tục đấm nó. Vừa đánh vừa khóc: Tại sao mày dám bỏ tao, tại sao mày dám bỏ trốn, tại sao mày dám đối với tao như thế? Sao mày dám thế này? Sao mày dám thế kia? Và tôi đánh nó, đánh nó, mãi cho đến khi tôi mỏi rã tay, và tôi khóc nức nở, tôi phải ngừng tay để nhìn lại hậu quả việc tôi đã làm. Nó chỉ đứng đó và hứng chịu cơn lôi đình của tôi như thể nó biết là nó có lỗi và nó đáng bị đòn như thế; nó đã phụ bạc tấm lòng của tôi và đến phiên tôi phụ bạc tấm lòng của nó. Tôi ngừng tay và nước mắt ràn rụa trên mặt tôi, tôi cảm thấy nghẹt thở, và tôi ôm chầm lấy nó nhưng lần này tôi chỉ khóc: Xin tha lỗi cho tao, Bo, xin hãy tha lỗi cho tao. Ôi Bo ơi, xin lỗi xin lỗi....

“Nhưng, thưa Cha, “thằng bé” không thể tha thứ cho tôi nữa. Nó là cái gì chứ? Một con thú, con chó, loài vật, tình yêu mến của tôi. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt đen, tối sâu thăm thẳm đến độ khóa chặt trái tim tôi và khóa mãi cho đến ngày hôm nay một nỗi hổ thẹn khôn nguôi. Tôi không thể nào tha thứ lỗi lầm của tôi. Mấy chục năm nay, kỷ niệm về tình yêu của tôi và tôi đã phụ bạc tình yêu này như thế nào, rồi cứ mỗi tuần lễ Giáng sinh, không phải suốt năm, nhưng chỉ vào đêm Chúa giáng trần, bóng ma của “thằng bé” lại về, tôi lại nhìn thấy con chó, tôi lại nghe tiếng đánh đập, tôi biết sự thất bại hư hỏng của tôi. Ôi, Trời ơi!”
Ông lão chợt im lặng, rơi nước mắt.
Hồi lâu, linh mục cất tiếng: “Và đó là lý do khiến ông phải đến đây?”
“Vâng, thưa Cha. Điều này thật là xấu xa phải không? Kinh khủng quá phải không?”
Người tu sĩ không thể trả lời, bởi vì nước mắt đã chảy dài ràn rụa trên mặt. Ông cũng cảm thấy như nghẹt thở.
“Chúa có thể tha tội cho tôi không, thưa Cha?” Ông lão hỏi.
“Có chứ.”
“Thế Cha có tha tội cho tôi không, thưa Cha?”
“Có. Nhưng để tôi kể cho ông nghe chuyện này. Chuyện này xảy ra khi tôi lên mười. Bố mẹ tôi, dĩ nhiên, và lúc ấy – con chó của tôi, niềm yêu mến của đời tôi, đã bỏ tôi đi và tôi đâm ra ghét nó thậm tệ vì nó đã dám bỏ rơi tôi.  Khi nó trở lại, tôi cũng đã đánh đập nó tàn tệ, sau đó lại yêu thương nó. Cho đến đêm nay, tôi chưa hề kể với người nào. Nỗi hổ thẹn này đã ở trong lòng tôi suốt hằng bao nhiêu năm nay. Tôi đã từng xưng tội với tất cả những vị linh mục bề trên. Nhưng chưa bao giờ tôi thố lộ tội lỗi này. Vì thế - ”

Cả hai cùng im lặng một lúc lâu.
“Rồi sao nữa, thưa Cha?”
“Chúa ơi, Chúa, ông bạn thân mến, Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta. Tuy đã giấu nhẹm bao nhiêu năm, nhưng cuối cùng rồi tôi cũng dám xưng tội. Còn tôi, tôi sẽ tha thứ cho ông. Nhưng bây giờ thì – ”
Người linh mục già không thể nói tiếp bởi vì những giọt nước mắt khác lại tiếp tục chảy dài trên mặt ông.
Ông lão bên kia vách dường như đoán được điều này nên cẩn thận hỏi dò, “Cha có cần được tôi tha tội cho cha không, thưa Cha?”
Vị linh mục im lặng, gật đầu. Có lẽ ông lão nhìn thấy cái bóng của linh mục gật đầu, nên ông ta nói nhanh, “A, tội được tha rồi đấy.”
Rồi hai người ngồi yên đó rất lâu trong bóng tối cho đến khi một bóng ma tuyết khác lướt vào cửa rũ xuống một đống tuyết rồi bay đi.
“Trước khi ông ra về,” vị tu sĩ nói. “Mời ông uống với tôi một ly rượu vang.”
Cái đồng hồ to tướng ở quảng trường đối diện với nhà thờ gõ chuông báo hiệu đã đúng nửa đêm.
“Giáng sinh rồi đó, thưa Cha,” giọng nói bên kia vách vang lên.
“Một đêm Giáng-sinh đẹp nhất từ trước đến nay. Tôi nghĩ thế.”
“Đúng là đêm Giáng-sinh đẹp nhất.”
Vị linh mục già đứng dậy bước ra ngoài phòng xưng tội.

Ông đứng một lúc, chờ được nghe tiếng di chuyển từ phía đối diện với phòng xưng tội.
Không một tiếng động.
Chau mày, vị tu sĩ đưa tay mở cánh cửa phòng thú tội và nhìn vào bên trong.
Vắng tênh, không có ai.
Ông há hốc. Tuyết bay lạnh rợn tóc phía sau gáy của ông.
Ông đưa tay ra mò mẫm trong bóng tối.
Phòng thú tội không có người.
Quay người lại, ông nhìn chằm chặp ra hướng cửa và vội vàng chạy ra ngoài cửa, nhìn.
Tuyết rơi cùng tiếng đồng hồ đổ chậm trong giờ cuối cùng của một ngày. Con đường vắng tênh.
Quay trở lại bên trong, ông nhìn thấy tấm gương cao, dựng đứng gần bên cạnh cửa nhà thờ.
Có một ông lão đứng nhìn trong đó, chính là ông, hình ảnh vị linh mục phản chiếu trong tấm gương lạnh lẽo.

Hầu như không cần phải suy nghĩ, ông đưa tay làm dấu thánh giá. Cái bóng trong tấm gương lập lại y như hành động của ông.
Vị tu sĩ già, lau nước mắt, quay lại một lần nữa và đi tìm chai rượu vang.
Bên ngoài, Giáng sinh, và tuyết, bao trùm khắp nơi.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeFri Apr 17, 2020 7:05 am

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 9k=

Ngày xưa vui thế
- Isaac Asimov

Dịch giả: Bùi Nghĩa,
dịch theo nguyên tác “The Fun They Had.”


Buổi tối hôm ấy, Mây gõ nhẹ trên bàn phím của máy điện tử. Em viết nhật ký. Ở đầu trang, có đề ngày 17/05/2157. Mây viết:
– Hôm nay, anh Thông có tìm ra một cuốn sách thật sự! Một cuốn sách thật cũ, cũ ơi là cũ!’. Mây còn nhớ ông Nội có kể rằng ngày xưa, khi ông còn bé, ông Sơ có nói rằng những câu truyện cổ tích hay những truyện tiểu thuyết đều được in trên giấy.

Hai đứa lật từng trang sách, những tờ giấy vàng cũ kỹ và nhăn nhó. Thật là ngộ nghĩnh khi nhìn thấy chữ viết đứng yên rõ nét, không như lúc chúng nó đọc trên màn ảnh, chữ viết lúc nào cũng run run. Lạ hơn nữa là khi lật ngược để xem lại những trang vừa đọc, cũng vẫn thấy những hàng chữ viết đó, không có một chữ nào thay đổi cả.
– Ôi chao!’ Thông nói:
– Phí quá hở? Khi mình đọc xong là có thể vứt quyển sách này đi. Đúng là như thế. Không như màn ảnh của máy điện tử, có cả hàng trìệu câu truyện mà vẫn còn thừa chỗ. Không thể nào mình muốn quăng bỏ máy hết.’.
– Em cũng nghĩ như thế.’ Mây nói. Mây mới có 11 tuổi nên chưa đọc được nhiều sách điện tử như Thông. Về phần Thông, nó được 13 tuổi. ‘Anh tìm ra quyển sách này ở đâu?’
– Trong nhà anh.’ Nó chỉ tay nhưng mắt còn nhìn trang sách vì nó đang chăm chú đọc.
– Ở trên gác thượng đó!’.
– Quyển sách nói gì hở anh?’
– Về trường học.’
Mây chu miệng khinh bỉ,
– Về trường học sao? Người ta nói gì về trường học?’ Mây ghét cay ghét đắng trường học, nhất là lúc này. Người máy thầy giáo cứ cho nó bài kiểm này đến bài kiểm nọ về môn địa lý, và Mây cứ làm trật hoài làm cho má nó nổi giận lên, la nó và đem nó đến gặp ông Thanh tra vùng.

Ông ta mập, lùn với khuông mặt đỏ hồng. Bên cạnh ông có một hộp có đầy mặt số và giây điện. Ông ta mỉm cười với Mây và đưa nó một trái bôm, rồi mang thầy giáo ra một bên. Nhìn ông ta khiêng thầy giáo, Mây cầu khẩn ông ta không sửa chữa được. Nhưng chừng một tiếng đồng hồ sau, ông ta cho biết rằng máy đã chạy tốt. Thầy giáo là một máy móc rộng, vuông và xấu xí với màn ảnh lớn trên đó, là nơi hiện ra những bài học và câu hỏi. Đúng ra, không phải cái gì cũng xấu hết đâu! Nhưng phần Mây ghét nhất là cái khe hở, chỗ nó phải nhét bài làm và những tờ giải đáp. Thường thường nó phải viết với dạng mã từ khi nó được 6 tuổi; Rồi từ những dạng mã ấy, người máy thầy giáo tính điểm một cách nhanh chóng.
Ông thanh tra mỉm cười. Sau khi sửa xong xuôi rồi ông ta xoa đầu nó. Ông ta nói với má nó: ‘Mây không có lầm lỗi gì hết, Bà Bốn à. Tôi nghĩ rằng phần địa lý đã được thảo quá cao. Chuyện đó cũng thường xảy ra. Tôi làm cho phần ấy được chậm lại rồi, cho hợp với lứa 10 tuổi. Bây giờ tất cả biểu hình tượng trưng cho sự phát triển của con bà trở thành tốt.’ Rồi ông lại xoa đầu Mây một lần nữa.

Mây thất vọng lắm. Vì nó hy vọng rằng họ sẽ dẹp thầy giáo ra một bên. Có lần họ lấy đi thầy giáo của Thông trong vòng một tháng vì tất cả phần lịch sử bị hư.
Nó lại hỏi Thông: -Thế tại sao có người viết về trường học?’
Thông nhìn nó với vẻ người lớn,
– Tại vì không cùng loại trường học như bây giờ, cù lần ơi là cù lần! Đây là một thể trường học rất xưa, cả mấy trăm năm nay rồi.’. Với vẻ hãnh diện, nó nói gằng từng chữ một
– Hằng thế kỷ đã qua rồi đấy nhé!’.
Mây cảm thấy bị đụng chạm,
– Hứ, mà khi xưa là loại trường học nào?’ Mây nhón người ráng đọc quyển sách qua vai của Thông. Một lát sau, nó nói
– Dầu sao đi nữa, tụi nó cũng có thầy giáo.’
– Dĩ nhiên là có thầy giáo rồi, nhưng không phải là một thầy giáo thông thường đâu nhé! Mà là một người ta.’ ‘Một ông thầy giáo à? Làm sao người ta có thể làm thầy giáo được?’
– Phải, ông ta giảng dạy và cho bài tập, rồi khảo bài từng đứa.’-‘Nhưng mà một người làm sao có đủ kiến thức để giảng dạy được?’
– Có chứ sao không? Ba của anh có nhiều hiểu biết như một thầy giáo.’
- Sao có được? Người ta không thể nào có nhiều và đủ kiến thức như một thầy giáo được.’
– Có chứ, cá không?’
Mây không muốn cãi vã, nhưng nó lại muốn nói thêm
– Mà em không thích một người lạ ở trong nhà để giảng dạy em.’
Thông cười ngất
– Quê quá đi thôi, không biết gì hết. Khi xưa thầy giáo không có ở trong nhà. Họ có cơ sở riêng và các học trò phải đến đó để học.
- Rồi tất cả học trò đều phải cùng học một bài à?’
– Dĩ nhiên, nếu tụi nó có cùng một lứa tuổi với nhau.’
- Nhưng Má em có nói rằng mỗi thầy giáo phải biết dạy dỗ uyển chuyển theo trình độ của mỗi học trò và mỗi đứa trẻ phải được chăm sóc một cách riêng biệt.’
- Thì họ có phương pháp giảng dạy như thế nhưng… À, không phải hoàn toàn như vậy. Nếu em không thích thì đừng đọc cuốn sách này.’
– Ơ kìa, em đâu có nói rằng em không thích đâu.’ Mây trả lời một cách nhanh chóng, thật sự là nó muốn đọc cuốn sách để biết được những điều vui thú khi xưa.
Hai đứa chưa đọc được phân nửa thì má của Mây gọi
– Mai, vô học đi con.’
Mây trả lời
– Chút nữa đi Má!.’
– Không, ngay bây giờ! Và chắc cũng là giờ học của Thông rồi đấy.’
Mây nói với Thông ‘Cho em đọc quyển sách sau giờ học nha!’
– Có thể.’ Thông nói một cách ưỡm ờ. Nó vừa quay đi vừa huýt sáo, cuốn sách đầy bụi bặm được cặp dưới nách nó.

Mây đi vào phòng học cạnh phòng ngủ của nó. Người máy thầy giáo đã sáng đèn lên và đang chờ nó. Cứ mỗi ngày trừ thứ bảy và chủ nhật, sự việc xảy ra như vậy, vì má nó bảo rằng học có giờ giấc thì mới có kết quả tốt.
Màn ảnh bật sáng và cho biết ‘Hôm nay, học về môn số học, bài học về tính cộng của các tỷ số. Hãy nhét vào khe hở, bài làm của ngày hôm qua.’
Mây vừa nhét bài vừa thở dài. Em đang nghĩ đến trường học khi xưa, lúc ông Sơ còn là một thằng con nít bé tí teo. Những đứa cùng xóm cặp sách đến trường. Tiếng cười, tiếng đùa náo nhiệt, rộn rã trong sân trường. Trong lớp, đứa này ngồi cạnh đứa kia rồi cùng nhau tung tăng về nhà lúc tan học. Học cùng chung một bài vở; Đứa này, đứa nọ chỉ bài lẫn nhau rồi bàn tán với nhau về bài vở.
Và thầy giáo là một con người…

Trên màn ảnh của người máy thầy giáo, hàng chữ nhấp nháy ‘Khi ta cộng thêm 1/4 vào tỷ số 1/2…’
Mây nghĩ đến những điều vui thú mà những đứa trẻ được hưởng khi xưa. Em tự nói với mình:
– Chao ơi! Ngày xưa sao vui thế!’.

(The Boys and Girls Page, 1951)
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeWed May 20, 2020 7:29 pm

.

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Corona-inline2

BUỔI SÁNG NGÀY CÁCH LY
- Trương Văn Dân


Khi nhìn một đóa hoa trôi theo dòng nước, thi hào Nguyễn Du đã viết:
Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.

Thì hôm nay nhìn đường phố trước nhà quạnh hiu như sa mạc thì có lẽ tôi cũng có thể nói là mình vừa nhìn thấy giai đoạn chuyển tiếp cuả một thời.
Ý nghĩ ấy chợt lóe lên trong tôi, như một cách trả lời cho Vivian, mấy hôm trước đã gọi điện thăm và nửa đùa nửa thật: “cậu sẽ nói với con gái đầu lòng của cháu, 8 tháng tuổi, thế nào về corona và cuộc sống?”.
Tôi sẽ nói với Olivia: có lẽ cháu sẽ không còn thấy cái thời đại an lành mà loài người vô tư sống, thoải mái hưởng thụ và ít khi nghĩ đến ngày mai!

Tôi vừa trở lại Milano, sau một chuyến hành trình gian lao, vất vả và đầy nguy hiểm. Milano là một thành phố đẹp, phát triển vào bậc nhất nước Ý và được nhiều du khách trên thế giới yêu thích. Đó là kinh đô của thời trang, của design, của các hội chợ quốc tế, là thành phố từng mang tặng thế giới nghệ thuật trong đó có cả ăn ngon và mặc đẹp. Thế nhưng trong những ngày này, nó còn là kinh đô Âu châu của bệnh dịch Coronavirus, một thành phố thuộc “top” đỉnh cao văn minh của nhân loại, giờ đây đã bị đánh quỵ. Sân thánh đường Duomo ở Milano - nơi hàng triệu du khách khắp nơi đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp độc đáo, chụp ảnh kỷ niệm với chim bồ câu, nay chết lặng, không khí tang thương.
Ngày tôi về đến Ý thì đã có gần 100.000 người bị lây nhiễm và hơn 10.000 người chết. Cái tỉ lệ chết chóc 10% đang làm thế giới rùng mình và kinh hãi. Những cỗ quan tài chen chúc xếp thành hàng trong các nhà thờ vì nhà xác không còn chỗ chứa.
Các dịch vụ công cộng địa phương khủng hoảng, thiếu khả năng ứng phó với số người chết quá nhiều. Các linh mục bật khóc khi mỗi chiều mở cửa nhà thờ nhìn những đoàn xe quân sự vận chuyển thi thể đến các địa điểm hỏa táng ở rất xa thành phố.

Những người chết đó, họ là ai? Phần lớn đều là người lớn tuổi, sinh ra trong thập niên 1930 hay 1940 của thế kỷ trước, nghĩa là trước hay sau thế chiến thứ hai. Tôi gọi đó là thế hệ vàng của nước Ý, những con người bất hạnh sinh ra trong nghèo khổ và lớn lên trong tan hoang, tuy không có điều kiện học hành, nhưng với quyết tâm và lòng yêu nước họ đã làm việc và dựng nên một nước Ý hùng cường và thịnh vượng.
Từ nhỏ, tôi đã thường có những gắn bó với những người lớn tuổi. Không hiểu sao, với họ tôi thường có mối quan hệ mật thiết hơn là với những người đồng tuổi.
Tôi còn nhớ đến thời 19 tuổi, qua Ý chỉ chừng vài tháng. Tiếng Ý nói chưa rành. Một hôm đi dạo, tình cờ gặp một người đàn ông tuổi xấp xỉ 60. Khi biết tôi là người Việt Nam ông liền ôm chầm lấy. Việt Nam! Việt Nam! Đất nước anh hùng, dám chống Pháp để giành độc lập. Sau đó ông mời tôi về nhà ăn cơm. Rất bất ngờ vì tôi biết người Ý thường mời bạn ăn Pizza chứ ít khi mời bạn về nhà. Trong bữa ăn, ông liên tục nói với các con: Nhìn đi, ông bạn trẻ này, đến từ đất nước xa xôi học đại học để sau về tái thiết quê hương. Các con nên lấy đó làm gương, cố gắng học hành.
Cuộc gặp gỡ đầy kỷ niệm với ông Vittorio ấy không ngờ kéo dài đến mấy mươi năm, dù sau này tôi đã dời về thành phố khác, cho đến ngày ông mất.

Một thế hệ vàng đã mất. Họ đang chết hay chết dần trong các bệnh viện. Những con người đã chịu đựng, trải qua bao khó khăn, lúc về già chỉ ước được vui cùng con cháu. Họ nằm đó, không người thân, có ngày cả ngàn người chết cô đơn trong sợ hãi, ra đi mà chẳng một lời từ biệt!
Thật không thể nào tin được!
Lòng tôi nhói đau khi nghe xe cứu thương hụ còi trong thị trấn buồn hiu, hay trĩu buồn trong những buổi chiều nghe tiếng chuông nhà thờ từ phía sau nhà vọng lại, âm thanh rạc rời, chậm rải như lời nguyện tiễn hồn về cõi vô cùng.
Có ai đó đã nói: khi một người già mất đi thì giống như một thư viện bị đốt cháy, thế thì một phần ký ức của nước Ý đang bị biến thành tro bụi.

Bây giờ, trong lúc này đây, tôi nhìn ra cửa sổ, chênh chếch đối diện về phía bên kia đường, nơi cửa hàng thực phẩm của mấy người Ai Cập nhập cư, trước đây vắng vẻ lúc này có cả một hàng dài người đứng xếp hàng. Người này đứng cách người kia chừng một mét. Ai nấy đều mang khẩu trang, có người còn cẩn thận mang cả găng tay, nhưng cũng có vài người tạm che mũi miệng bằng chiếc khăn foulois mỏng dính. Một chiếc khẩu trang, món hàng bình thường vô nghĩa mà giờ đây quý như vàng. Nhiều người có tiền mà không mua được!
Kỳ lạ cái thế giới này! Con người đã bay lên sao Hỏa mà không xây được cái đập chắn thủy triều để nước khỏi ngập tràn thành phố. Mỗi vài tháng xuất xưởng đủ kiểu điện thoại đời mới, TV tân kỳ, xe hơi tốc độ mà không may được khẩu trang. Sân bay nào cũng tràn ngập nước hoa, mỹ phẩm đủ loại mà chai nước rửa tay diệt khuẩn thì vô cùng khan hiếm.

Sau hơn 2 tuần tự cách ly ở nhà, tôi báo với vợ rồi mặc đồ, mang khẩu trang ra ngoài. Đi vài chục mét tôi đến nối đuôi vào cái hàng duy nhất trên đường phố. Tôi kín đáo nhìn mọi người, đàn ông và đàn bà, khuôn mặt ai nấy đều có vẻ đăm chiêu. Bên trên những chiếc khẩu trang tôi còn nhìn thấy tia nhìn của họ giống tia nhìn của những đứa bé vừa bị tước mất đồ chơi.
Phần lớn người trong hàng đều thuộc lứa tuổi trên dưới 60, thuộc hàng con cháu của ông cụ Vittorio, lớn lên sau chiến tranh, học hành, thành đạt. Họ thuộc về giới trung lưu, sung túc, công ăn việc làm ổn định, đầu ít khi nhìn xuống.. thế mà, đùng một cái, tất cả đều không hẹn mà gặp nhau ở một cửa tiệm nhỏ, ngoan ngoãn đứng sắp hàng, người này cách người kia hơn 1 mét, để chờ mua vài ổ bánh mì!
Tôi và họ cùng thế hệ, tuổi trẻ của họ cũng là tuổi trẻ của tôi, chỉ khác biệt là thời du học, chúng tôi chỉ là những sinh viên xa nhà, khốn khó. Những thứ bảy, chủ nhật chúng tôi cặm cụi học hành, đi làm để kiếm sống còn họ thì có những chương trình hội họp, vui chơi. Cha mẹ họ, cái thế hệ đã hy sinh, chịu gian khổ để bù lại cho các con bằng vật chất và thú vui mà đời mình chưa bao giờ được hưởng. Đời sống và việc học hành của lớp con này dễ dàng, tốt nghiệp, thăng tiến trong công việc, vị trí càng lúc càng cao, trách nhiệm tương xứng với điều mà họ cống hiến.

Họ sống tốt, có trình độ và sở hữu nhiều thứ, nhưng có lẽ thiếu một thứ: khả năng thích ứng. Họ chưa bao giờ bị gọng kềm chiến tranh chạm đến, hiếm khi bị những khó khăn từ sự sống còn quật ngã và không bao giờ hỏi mình là ai trong vũ trụ này. Họ hồn nhiên và vô tư sống, ít nhiều cũng đã góp phần vào một lối sống tiêu thụ vô tội vạ và tạo nên một hệ thống kinh tế thực dụng, không cần biết đến ngày mai. Nghĩ đến họ tôi không thể không liên tưởng đến những thanh thiếu niên thế hệ 8x, 9x ở quê nhà.
Và lúc này, ở tuổi 60, bụng đã to và tóc đã bạc, họ đang đứng sắp hàng để mua vài ổ bánh mì!
Trong đám người ấy chắc cũng có một vài du khách đến Milano du lịch hay tham dự tuần lễ thời trang rồi bị kẹt vì lệnh phong tỏa. Do những tình cờ trớ trêu của định mệnh mà họ phải chia sẻ nỗi lo với người Ý trong mùa đại dịch.

Tôi đứng chờ cho đến khi mọi người đã mua được thứ mình cần, hàng chỉ còn 1, 2 người đứng sau tôi và lúc ấy có một chiếc xe của sở y tế địa phương chạy đến để phun thuốc tiệt trùng. Mua hàng xong tôi trở về nhà và ngồi vào bàn viết.
Hơn mười nghìn người chết, hàng trăm nghìn người lây nhiễm… tôi nhớ lại những khuôn mặt đăm chiêu và chợt nghĩ là cái thế hệ có thể nói may mắn của Âu châu giờ này đang là chứng nhân cho một thời sắp đi qua, và họ đã bắt đầu già để có thể hy vọng vào một điều gì sắp đến.
Nhưng tôi biết là họ sẽ không gục ngã. Điều tôi băn khoăn và muốn biết là những xáo động và đổi thay trong lòng họ. Dù muốn hay không họ cũng sẽ nhìn lại những gì đã làm, đã sống như thế nào khi chứng kiến những ngày này rồi có thể tự hỏi sẽ nói gì với các con mình. Tôi mong là họ sẽ dạy con và cháu nên sống và làm việc thế nào để bầu không khí trong lành, biển sẽ trong xanh, ai nấy đều tôn trọng thiên nhiên, chăm lo đến sức khỏe của mình và biết quan tâm đến người khác. Lòng nhân từ, bác ái phải là các đức tính căn bản để xây dựng một xã hội văn minh.

Tôi mong là họ sẽ nói với các con là một nền kinh tế không phải chỉ nhắm đến tăng trưởng, mà phải hướng về sự an toàn và hạnh phúc của con người.
Vì tất cả chúng ta đều thực sự liên đới với nhau, ít nhất theo nghĩa là cùng sống chung trong một môi trường, cùng hít thở một bầu không khí.
Hiểu được thế thì cũng là cách tri ân hàng nghìn người già vừa ra đi trong thầm lặng. Rằng cái chết của một thế hệ đã không vô nghĩa khi đã góp phần vào việc nhắn gửi thông điệp chung của Thiên Nhiên để thức tỉnh lương tâm con người!
Một thời sắp qua, và một thời khác sẽ bắt đầu. Giá trị nào rồi cũng sẽ thay đổi khi con người nhận ra mình là nạn nhân vì hành động của chính mình.
Tất cả chỉ do một con Virus bé tẻo teo.

Chỉ còn gần 2 tuần nữa là đến lễ Phục Sinh. Tôi sẽ nói với cháu Olivia là tuy coronavirus đang gây họa lên toàn thế giới nhưng trước hay sau gì thì con người cũng tìm ra được vắc xin để tự bảo vệ mình. Thế giới rồi cũng sẽ hồi sinh.
Nhưng vấn đề không chỉ là coronavirus! Để cuộc sống của tốt đẹp con người cũng cần chống lại những loài virus khác, như tham lam, đố kỵ hay ngu dốt… mà từ mấy nghìn năm nay chưa ai tìm ra loại vắc xin nào!
Những người cùng thế hệ tôi giờ này đều đã trở về nhà, đã tháo khẩu trang và nhốt cả bầu trời vào trong phòng vì lệnh cách ly. Nhịp sống của họ chậm lại. Dịch bệnh vẫn chưa có dấu hiệu nhưng rồi sẽ giảm.
Ngày mai… và có lẽ còn nhiều ngày nữa, chắc tôi vẫn còn thấy họ đứng sắp hàng để mua thực phẩm.

Milano 30-3-2020
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeFri May 22, 2020 10:10 pm

.

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế 26724492._SX540_
Sławomir Mrożek, nhà văn Ba Lan (1930-2013)


Sławomir Mrożek, tác giả tập truyện ngắn Con voi, là một người viết truyện, một kịch tác gia và một nhà hí hoạ. Ba tính cách này của ông được nối kết lại bằng nét hài hước hoặc trào lộng mà đối tượng là những chuyện rởm đời, «phi lý» dưới mọi vùng khí hậu, nhất là ở Ba-lan.

Ông sinh ở Borzecin, gần Cracovie, Ba-lan, năm 1930. Ông rời Ba-lan năm 1963, trước tiên qua Ý, rồi qua Pháp nơi ông đã lưu lại từ 1968 đến 1989 trước khi (cùng với bà vợ người Mễ) qua sống bảy năm ở Mễ-tây-cơ. Ông trở lại Ba-lan năm 1996.
Năm 2002, ông bị đột quỵ và tạm thời không nói, không viết được, phải mất ba năm để điều trị. Ông còn đủ thời gian để hoàn thành cuốn tự truyện (– Baltalzar, 2006), mà ông đã khởi công từ năm 1989, lúc sống tại Mexico. Năm 2008, ông quay về Pháp sống và qua đời tại Nice vào tuổi 83. (2013).

Về kịch, con số kịch bản của Mrożek lên tới ngót bốn mươi vở! Vở kịch nổi tiếng nhất của ông trước khi ông ra nước ngoài, là Cảnh sát (hoặc Công an, 1958). Thời gian ông lưu lạc, một số vở thường được nhắc tới: Tango (1964), Các di dân (1974), Ông đại sứ (1982). Đặc biệt, trong những năm 1990, ba vở mới của Mrożek: Yêu ở Crimée (1993), Cảnh đẹp và «Các Đấng» (2000) cho thấy những mối quan tâm của ông đối với thực tại thế giới và Ba-lan. Các kịch bản của Mrozek được dịch ra khoảng 12 thứ tiếng và được trình diễn thường xuyên ở Ba-lan và trên các sân khấu thế giới. Người ta rất chú ý tới vở Lịch sử nước cộng hòa nhân dân Ba-lan của Mrożek mà đạo diễn Jerzy Jarocki đã đưa lên sân khấu Ba-lan ở Wroclaw năm 1998.

Về truyện, cùng với tập Con voi, Mrożek đã viết tất cả là tám tập truyện ngắn và hai cuốn tiểu thuyết. Ngoài ra ông còn viết hai tập tùy bút (trong đó có Nhật ký ngày trở về) và là tác giả ba kịch bản cho điện ảnh.
Các bức hí hoạ của ông, từng làm say mê công chúng Ba-lan trong những năm 1950, nay (kể từ 1997) lại được tiếp tục xuất hiện trên tờ Gazeta Wyborcza, nhật báo lớn nhất của Ba-lan, cùng với những cột «phim» của ông…
(Diễm Châu biên soạn)


TÊN LỖ MÃNG
- Slawomir Mrozek


Nhân viên văn thư vào báo cáo với tôi.
– Ngoài phòng đợi có một người khách đang ngồi, nom lạ lắm. Gã không yêu cầu cho vào gặp giám đốc, cũng không phàn nàn tại sao chúng ta giải quyết công việc chậm chạp thế. Tôi phải làm gì bây giờ đây?
– Gã đợi lâu chưa? – tôi hỏi.
– Ngồi khoảng hai tiếng đồng hồ rồi, chẳng yêu cầu gì hết.
Cứ để cho hắn ngồi thêm một tiếng nữa, rồi hắn sẽ sốt ruột. Sau một giờ nhân viên văn thư lại vào, tay anh chàng run run.
– Chưa bao giờ lại thấy như vậy, – nhân viên văn thư nói. – Gã ngồi điềm tĩnh, đọc đi đọc lại tờ báo phải đến ba lần, lịch sự đến độ kinh tởm!

Tôi thân chinh đi ra phòng đợi. Đúng là có một người đang ngồi, gã nhìn qua cửa sổ, mỉm cười. Tôi hỏi gã như chưa hề biết gì cả.
– Anh phải đợi hơi lâu nhỉ?
– Không sao, – gã đáp một cách thô lỗ.
Tôi bực mình.
– Anh muốn vào gặp giám đốc chắc? Có việc quan trọng phải không?
– Chuyện vặt, – gã nói.
Tôi đâm ra khó xử. Tôi chạy vào phòng giám đốc báo cáo. Giám đốc lệnh cho anh ta vào.

Gã hơi cự tuyệt, nhưng tôi cùng nhân viên văn thư nắm lấy tay gã rồi dắt vào phòng. Giám đốc nói với gã gay gắt:
– Anh không thấy là tôi đang rất bận hay sao?
– Thì tôi lại đợi tiếp, – gã đáp một cách lỗ mãng và định bước ra ngoài.
– Đứng lại! – giám đốc hô. – Anh nộp đơn đi.
– Muộn hơn có được không? – hắn đáp một cách vô liêm sỉ.
– Không có muộn miếc gì hết! – giám đốc quát, mặt đỏ phừng phừng. – Hoặc là anh nộp đơn ngay, hoặc là tôi giải quyết tuốt tuột cho anh mà không cần đơn từ gì hết!
Lúc này gã nhìn ra cửa sổ và nói:
– Thôi, có lẽ để dịp khác vậy, vì bây giờ trời cũng đã tạnh rồi. Tôi vào đây chỉ để trú mưa. Chào các ông.

Và gã bước ra ngoài. Đúng là một tên lỗ mãng.

Chuyển ngữ: Lê Bá Thự

.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitimeTue Jun 16, 2020 7:15 pm

.
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Raymond-carver

CHÚNG NÓ ĐÂU PHẢI LÀ CHỒNG CỦA EM
- Raymond Carver


Chuyển ngữ – Hoàng Chính

Lời người dịch: Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).

Truyện ngắn “Chúng Nó Đâu Phải Là Chồng Của Em” Hoàng Chính dịch từ “They are not Your Husband” trích từ tập “Short Cuts” một tuyển tập chín truyện ngắn và một bài thơ được chuyển thành phim năm 1993.
Ngày 2 tháng Tám 1988, Carver qua đời ở tuổi 50 vì ung thư phổi.

***

Làm nghề đi chào hàng nhưng bây giờ hắn đang thất nghiệp. Vợ hắn thì vẫn làm bồi bàn ca đêm tại một quán cà phê mở cửa 24 tiếng một ngày ở ven biên thành phố. Một đêm nọ, trong lúc đang nhấm nháp ly rượu, hắn nảy ra ý định ghé quán cà phê chỗ vợ làm để kiếm món gì ăn. Hắn muốn xem chỗ vợ làm việc, và cũng muốn kiếm món gì ăn mà không phải trả tiền.
Hắn ngồi ở quầy, chăm chú đọc tờ thực đơn.
“Anh làm gì ở đây vậy?” vợ hắn hỏi lúc trông thấy hắn.
Cô đưa mảnh giấy đặt món ăn cho người đầu bếp. “Anh tính gọi món gì?” Cô nói. “Mấy đứa nhỏ sao rồi?”
“Tụi nó ô-kê,” hắn nói. “Cho anh một ly cà phê và một miếng bánh mì kẹp số hai kia.”
Vợ hắn ghi xuống giấy.
“Có hy vọng là... em biết mà?” hắn nói và nháy mắt với vợ.
“Không,” cô ta nói. “Đừng nói chuyện với em bây giờ. Em đang bận.”

Hắn uống cà phê và chờ bánh mì. Hai gã đàn ông mặc áo vét, cà vạt nới lỏng, cổ áo tháo cúc, ngồi xuống bên cạnh hắn và gọi cà phê. Lúc vợ hắn đi về phía bình lọc cà phê, một gã nói với bạn, “Coi cái mông con nhỏ kia. Hết biết luôn!”
Gã kia cười, “Tôi đã từng thấy những cái ngon hơn thế nhiều.”
“Thì ý tôi nói là vậy đó,” gã thứ nhất nói. “Nhưng có nhiều thằng ngốc lại thích những cái mông mũm mĩm.”
“Không có tôi trong đó,” gã kia nói.
“Tôi cũng không,” gã thứ nhất nói. “Ý tôi muốn nói vậy đó.”
Vợ hắn đặt miếng bánh mì xuống trước mặt hắn. Bên cạnh miếng bánh mì còn có khoai tây chiên, cải muối, dưa leo chua.
“Cần gì nữa không?” cô nói. “Một ly sữa nha?”
Hắn lặng thinh. Và khi thấy vợ vẫn đứng đó, hắn lắc đầu.
“Để em lấy thêm cà phê,” cô nói.
ại mang theo bình cà phê, rót thêm cà phê cho hắn và hai gã đàn ông. Rồi cô lấy một cái đĩa và quay đi để lấy kem. Cô cúi xuống tủ đá đựng kem, dùng cái muôi múc kem lên. Cái váy màu trắng vướng ở hông và chuồi lên khỏi bắp chân cô. Lộ ra chiếc váy lót màu hồng, và khoảng đùi nhăn nheo xám ngoắt lưa thưa những sợi lông, cùng với những đường gân xanh chạy ngoằn ngoèo.
Hai gã đàn ông ngồi bên cạnh hắn nhìn nhau. Một gã nhướng cặp lông mày. Gã kia nhe răng cười và tiếp tục nhìn lướt qua ly cà phê đến chỗ cô đang rưới sô-cô-la lên kem. Khi cô bắt đầu lắc cái bình để trộn kem, hắn đứng dậy, bỏ đĩa đồ ăn, bước ra cửa. Hắn nghe vợ hắn gọi, nhưng hắn vẫn tiếp tục đi.
Hắn kiểm soát bọn trẻ rồi đi vào phòng ngủ và cởi bỏ áo quần. Hắn kéo chăn lên người, nhắm mắt, suy nghĩ lông bông. Cái cảm giác lan tràn trên mặt hắn lan xuống bụng và chân hắn. Hắn mở mắt lăn qua lăn lại trên gối. Cuối cùng hắn nằm nghiêng và chìm vào giấc ngủ.

Buổi sáng, sau khi cô vợ đã chuẩn bị chu đáo cho bọn trẻ đi học, cô đi vào phòng ngủ và vén tấm mành. Hắn đã thức rồi.
“Em nhìn em trong gương đi,” hắn nói.
“Cái gì?” cô hỏi. “Anh nói cái gì vậy?”
“Thì cứ nhìn em ở trong gương mà xem,” hắn gằn giọng.
“Anh muốn em thấy cái gì?” cô nói. Nhưng rồi cô cũng quay lại nhìn vào tấm gương ở trên tủ áo và vén tóc ra khỏi bờ vai.
“Đấy?” hắn nói.
“Đấy cái gì?” cô nói.
“Anh ghét phải nói ra,” hắn nói, “nhưng anh nghĩ em nên thử kiêng ăn xem sao. Anh nói thật đấy. Anh nghĩ em nên giảm đi vài cân. Đừng có nổi nóng.”
“Anh nói cái gì vậy?” cô nói.
“Anh vừa nói rồi đấy. Anh nghĩ là em nên giảm đi vài cân. Vài cân thôi,” hắn nói.
“Trước đây có bao giờ anh nói gì đâu,” cô nói. Cô vén áo ngủ lên ngang hông và xoay người nhìn bụng mình trong gương.
“Trước đây anh nghĩ nó không quan trọng,” hắn nói. Hắn cố tìm chữ cho phù hợp.

Chiếc áo ngủ vẫn vén quanh hông cô, cô xoay lưng lại tấm gương và ngoái cổ lại nhìn. Cô nâng một bên mông trong lòng bàn tay và buông cho chảy xệ xuống.
Hắn nhắm mắt. “Vậy chắc là anh nói sai,” hắn nói.
“Em nghĩ em có thể giảm cân được. Nhưng cũng hơi khó,” cô nói.
“Em nói đúng, không phải là chuyện dễ,” hắn nói. “Nhưng anh sẽ giúp em.”
“Có thể là anh nói đúng,” cô nói. Cô buông cho chiếc áo ngủ thụng xuống, nhìn hắn, rồi cởi áo ngủ ra.
Họ nói chuyện về vấn đề kiêng ăn. Họ bàn về những thực đơn ăn kiêng có chất đạm, những thực đơn thuần rau cỏ. Nhưng họ quyết định là họ không đủ khả năng để mua thứ thịt bò mà thực đơn ăn kiêng có chất đạm đòi hỏi phải có. Và cô nói cô không thích những món ăn toàn rau với quả. Đồng thời cô cũng không thích nước ép trái bưởi cho lắm, thành ra cô không biết mình sẽ làm gì với thứ thực đơn ấy.
“Ô-kê, quên nó đi,” hắn nói.
“Không, anh nói đúng,” cô nói. “Em sẽ thử cái gì đó.”
“Hay là tập thể dục?” hắn nói.
“Làm ở chỗ em còn gấp cả chục lần thể dục,” cô nói.
“Hay là đừng ăn nữa,” hắn nói. “Chừng vài ngày thôi.”
“Cũng được,” cô nói. “Em sẽ thử. Vài ngày thì em sẽ thử. Anh đã thuyết phục được em rồi đó.”
“Anh chứ đâu phải đồ bỏ,” hắn nói.

Hắn tính nhẩm số tiền còn trong nhà băng, rồi lái xe tới tiệm bán hạ giá mua một chiếc cân trong nhà tắm. Hắn nhìn lướt qua cô gái tính tiền trong lúc cô ta đẩy cái cân qua máy.
Về nhà hắn bảo vợ cởi hết quần áo ra và bước lên cái cân. Hắn cau mày khi nhìn thấy những đường gân xanh. Hắn rà ngón tay dọc theo sợi gân xanh mọc tủa lên phía trên đùi của vợ.
“Anh làm gì vậy?” cô hỏi.
“Không làm gì hết,” hắn nói.
Hắn nhìn cái cân và viết con số xuống một mảnh giấy.
“Được rồi,” hắn nói. “Được rồi.”
Ngày hôm sau hắn đi vắng gần hết buổi chiều để dự phỏng vấn. Chủ hãng, người đàn ông to con bước đi khập khiễng chỉ cho hắn coi những bộ phận ống nước trong nhà kho, và hỏi hắn có thể đi xa được không.
“Dĩ nhiên là được chứ, tôi đang rảnh mà,” hắn nói.
Người đàn ông gật đầu.
Hắn mỉm cười.

Hắn nghe được tiếng máy truyền hình trong nhà trước khi mở cửa bước vào. Bọn trẻ không ngước lên nhìn khi hắn đi qua phòng khách. Trong bếp, vợ hắn, mặc đồ sẵn để đi làm, đang ăn trứng tráng và thịt heo muối.
“Em làm gì vậy?” hắn nói.
Cô ta tiếp tục nhai thức ăn, căng phồng hai má. Nhưng ngay lập tức cô nhổ tất cả đồ ăn trong miệng ra chiếc khăn giấy.
“Em nhịn không nổi,” cô nói.
“Cà chớn,” hắn nói. “Ngon mà, cứ ăn đi!”
Hắn đi vào phòng ngủ. Đóng cửa lại, và nằm trên tấm khăn trải giường. Hắn vẫn nghe được tiếng máy truyền hình. Hắn gối đầu lên hai cánh tay và nhìn đăm đăm lên trần nhà.
Cô vợ mở cửa.
“Em sẽ bắt đầu lại,” cô nói.
“Ô-kê,” hắn nói.
Hai hôm sau cô gọi hắn vào nhà tắm, “Coi nè,” cô nói.
Hắn đọc con số trên mặt chiếc cân. Hắn mở ngăn tủ lấy mảnh giấy và đọc con số trên cân trong khi cô mỉm cười.
“Giảm được ba phần tư pound rồi đấy,” cô nói.
“Ít ra cũng có giảm,” hắn nói và vỗ nhẹ lên hông cô.

Hắn đọc trang Rao Vặt. Hắn đến văn phòng tìm việc của tiểu bang. Cứ ba đến bốn ngày hắn lại lái xe đến nơi nào đó để dự phỏng vấn, và đêm xuống hắn ngồi đếm tiền tip của vợ. Hắn vuốt từng đồng tiền cho phẳng phiu trên mặt bàn và chồng những đồng năm xu, mười xu, hai mươi lăm xu thành từng cụm mỗi cụm một đô la. Mỗi sáng hắn bắt vợ đứng lên bàn cân.
Trong hai tuần lễ vợ hắn mất ba pounds rưỡi.
“Em bỏ ăn,” cô nói. “Em nhịn đói suốt ngày, ở chỗ làm cũng không ăn. Nhờ vậy đó.”
Nhưng một tuần sau, cô mất năm pounds. Tuần sau đó chín pounds rưỡi. Áo quần cô lỏng lẻo. Cô phải trích tiền thuê nhà ra để mua bộ đồng phục mới.
“Ở chỗ làm của em người ta xì xào,” cô nói.
“Xì xào cái gì?” hắn hỏi.
“Trước tiên là em xanh xao quá,” cô nói. “Trông không còn nhận ra em nữa. Họ sợ là em bị giảm cân nhiều quá.”
“Giảm cân thì sao?” hắn nói. “Em đừng để ý đến chúng nó. Bảo chúng nó lo chuyện của chúng nó đi. Chúng nó đâu phải là chồng của em. Em đâu có phải sống với chúng nó.”
“Nhưng em làm chung với họ,” vợ hắn nói.
“Đúng vậy,” hắn trả lời. “Nhưng chúng nó đâu phải là chồng của em.”

Mỗi sáng hắn theo cô vào nhà tắm và chờ cô bước lên bàn cân. Hắn quỳ xuống một tay cây bút chì, một tay mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy ghi đầy ngày tháng, và những con số. Hắn đọc con số trên bàn cân, nhìn qua mảnh giấy, và hoặc là gật gù hoặc dẩu mỏ ra.
Dạo này vợ hắn nằm miết trên giường. Cô vào giường ngủ sau khi sửa soạn cho bọn trẻ đi học, cô ngủ trưa trước khi đi làm. Hắn giúp đỡ việc vặt trong nhà, xem ti vi, và để cho vợ ngủ. Hắn lo luôn chuyện chợ búa, và thỉnh thoảng đi dự phỏng vấn tìm việc làm.
Một đêm kia cho bọn nhỏ đi ngủ xong, hắn tắt ti vi, và quyết định đi kiếm cái gì uống. Khi quán rượu đóng cửa, hắn lái xe đến quán cà phê.
Hắn ngồi chờ ở quầy. Hắn nhìn cô đi qua đi lại phía sau quầy. Sau cùng hắn gọi một cái cheeseburger. Cô đưa mảnh thực đơn cho người đầu bếp và đi tiếp khách ở bàn khác.
Một cô hầu bàn khác đem bình cà phê lại, rót đầy ly hắn.
“Bạn của em là ai vậy?” hắn hỏi cô gái và hất đầu về phía vợ hắn.
“Nó tên là Doreen,” cô hầu bàn nói.
“Trông cô ta khác hẳn lần trước tôi đến đây,” hắn nói.
“Em chẳng để ý,” cô hầu bàn nói.

Hắn ăn cái burger và uống cà phê. Khách hàng liên tục ra vào chỗ quầy hàng. Vợ hắn tiếp hầu hết khách hàng ngay tại quầy, thỉnh thoảng cô hầu bàn kia mới lại phụ tiếp khách. Hắn nhìn vợ và chăm chú lắng nghe. Hai lần hắn phải đứng dậy đi tiểu. Mỗi lần đi hắn đều lo là sẽ nghe hụt mất chuyện gì đó. Khi trở ra lần thứ nhì, ly cà phê của hắn đã bị dẹp mất và có người ngồi ở chỗ của hắn. Hắn kéo cái ghế, ngồi ở một đầu quầy kế bên một người đàn ông mặc áo sơ mi sọc.
“Anh muốn gì nữa?” vợ hắn hỏi khi trông thấy hắn. “Giờ này còn chưa chịu về nhà nữa à?”
“Cho anh chút cà phê,” hắn nói.
Người đàn ông ngồi kế bên hắn đang đọc báo. Ông ta ngước lên nhìn vợ hắn lúc cô rót cà phê cho hắn. Ông ta liếc theo cô lúc cô bước đi. Rồi ông ta quay về tờ báo.
Hắn nhấp một ngụm cà phê và chờ người đàn ông nói câu gì đó. Hắn liếc trộm ông ta. Người đàn ông đã ăn xong và đẩy cái đĩa qua một bên. Ông ta mồi điếu thuốc, gấp trang báo lại trước mặt và tiếp tục đọc.
Vợ hắn bước lại đổ thêm cà phê cho người đàn ông và lấy cái đĩa dơ đi.
“Ông thấy được không?” hắn vừa nói với người đàn ông vừa hất đầu về phía vợ hắn đang đi về cuối quầy. “Cũng ngon chứ hả?”
Người đàn ông ngẩng đầu lên. Ông ta nhìn vợ hắn rồi quay qua nhìn hắn và lại cúi xuống tờ báo.
“Nào, ông thấy sao?” hắn nói. “Tôi hỏi ông. Coi được hay không? Nói cho tôi biết.”
Người đàn ông giũ tờ báo.

Khi vợ hắn bước ra, hắn thúc vào vai người đàn ông và nói, “Tôi nói cho ông nghe này. Nghe đây. Nhìn cặp mông cô ta kìa. Nhìn đây nhé. Em cho anh một ly kem sô-cô-la.” Hắn nói vọng về phía cô.
Cô dừng lại trước mặt hắn và buông ra một tiếng thở dài. Rồi cô quay lưng lấy một cái đĩa và cái  muỗng múc kem. Cô khom người xuống tủ đá, nhấn cái muôi vào kem. Hắn nhìn người đàn ông và nháy mắt về phía chiếc váy của vợ hắn đang bị tốc lên phía trên đùi cô. Nhưng con mắt người đàn ông bắt gặp tia nhìn của cô hầu bàn khác. Rồi người đàn ông kẹp tờ báo dưới nách và thọc bàn tay vào túi.
Cô hầu bàn ấy đi thẳng đến chỗ vợ hắn. “Thằng cha mắc dịch nào vậy?” cô ta hỏi.
“Ai?” vợ hắn nói và đảo mắt nhìn quanh với đĩa kem trên tay.
“Thằng cha đó đó,” cô hầu bàn nói và hất đầu về phía hắn. “Thằng cha đó là ai vậy?”
Hắn cố cười thật tươi. Và giữ nụ cười ấy trên mặt. Giữ cho đến khi mặt hắn méo xệch đi.

Thế nhưng cô hầu bàn kia chỉ nhìn lướt qua hắn, còn vợ hắn thì khe khẽ lắc đầu. Người đàn ông đặt tiền lẻ lên bàn rồi đứng dậy, tuy nhiên ông ta cũng chờ để nghe câu trả lời. Cả ba người đều nhìn hắn chằm chặp.
“Anh ấy là dân chào hàng. Anh ấy là chồng tôi,” sau cùng vợ hắn nói, và nhún vai. Rồi cô đặt dĩa kem ăn dở dang trước mặt hắn và trở lại quầy để tính tiền cho hắn.

.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế   Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Thế Giới: Sau ngày tận thế
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến