Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
linh hoang chuyen phung tran Saigon quynh music Nghin quang mien ngam Nhung Trung dino quốc GIFT nguyet luong quan Chia Nguyen không Mộng thụy ngắn
Latest topics
April 2021
MonTueWedThuFriSatSun
   1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeMon Apr 30, 2012 11:45 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Z

Trăng Nơi Đáy Giếng

- Trần Thùy Mai


"Tôi xin mình, mình dẹp giùm tôi mấy cái bàn thờ này đi. Chuyện mê tín dị đoan, đâu hay ho gì".
Giọng thầy Phương vẫn từ tốn như thường lệ, nhưng đôi bàn tay liên tục gõ xuống bàn chứng tỏ tâm trạng thầy đang bức xúc. Cô Hạnh chỉ lặng lẽ nhìn: người đàn ông này đã là người cô thương yêu, tôn thờ cho đến nửa đời người. Trước đây, mỗi cái nhìn của ông là mệnh lệnh đối với cô, vậy mà nay cô phải trái ý ông. Ý nghĩ đó làm cô rơm rớm nước mắt.

Hơn mười mấy năm, họ đã sống chung nơi căn hộ bé nhỏ này. Mỗi sáng, người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng. Những hôm mưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu. Thầy Phương người nho nhã, mảnh mai, trắng trẻo. Vốn là con nhà dõng dõi, lại được cưng từ nhỏ nên thầy kén ăn, phải chăm từng li từng tí.
Nói là kén ăn, không phải là thầy đòi hỏi cao lương mỹ vị, mà chỉ cần những thứ đơn giản thôi, nhưng phải biết ý mới chiều được. Bữa ăn không cần thịt cá, đôi khi chỉ cần đĩa bông bí chấm nước tôm kho đánh, nhưng nước tôm phải thật sánh, thật thơm, đỏ rực. Thịt bò thì nhất định phải nấu canh với hoa thiên lý, tô canh dìu dịu mùi hương ngọt ngào. Đêm khuya ngồi đọc sách, chỉ cần ăn củ khoai bồi dưỡng, nhưng khoai phải ngọt, dẻo, hấp với lá dứa. Chiều thì vài lóng mía tiện thật sạch sẽ, ửng màu đỏ cầm rượu.
Căn nhà nhỏ không có đồ đạc gì xa hoa, nhưng sạch như lau như li. Tính thầy Phương rất sợ bẩn. Trong bếp, phòng tắm, những cái chậu đủ màu được cô Hạnh đặt đúng vị trí của chúng, tất cả đều khô ráo, sạch sẽ. Cái chậu rửa mặt ấy còn tinh tươm quá, này coi chứ chứ... chậm con là vì quá sạch đấy" - các bà hàng xóm đùa. Trong khu tập thể này, các bà đều là cán bộ, việc cơ quan, việc nhà cứ ùn lên, ai cũng bết bát, chẳng có thời giờ nào mà chiều chồng. Các ông chồng trong xóm nào là chẻ củi, đi chợ, đón con, chẳng từ một việc gì, chỉ riêng thầy Phương được hưởng ngoại lệ. Thực ra, đâu có phải vì thế mà hơn mười năm không có con. Cô Hạnh thừa biết điều đó nên nghe người ta đùa, cô chỉ cười...

Ở đầu ngõ, ngay cổng vào khu tập thể là nhà bà Thu, thư ký Công đoàn trường Thuận Đạt. Ngày ấy, bà Thu hội ý xong với Ban chấp hành Công đoàn trường và quyết định đến thăm chính thức cô Hạnh. Vì lý do tế nhị của cuộc thăm viếng, bà đã cẩn thận chờ cho đến lúc thầy Phương đạp xe ra khỏi, bà mới vào. Bà tìm cách nói với cô Hạnh: "Cô Hạnh này, người ta đồn anh Phương có vợ nhỏ, Công đoàn và Đảng uỷ đã tiến hành kiểm tra, thật đáng tiếc, việc này hoàn toàn chính xác". Cô Hạnh nghe, ngồi nhìn thẳng vào mắt bà Thu, không tỏ vẻ ngạc nhiên. Trái lại, bà Thu kinh ngạc đến hụt hẫng trước vẻ bình thản của người vợ bất hạnh: bà cứ tưởng cô Hạnh sẽ ngất đi, hoặc ít ra cũng níu lấy bà mà hỏi vặn đủ điều. Nhưng không, cô cứ lặng lẽ, dịu dàng, dường như cố nén nỗi khó chịu vì bị quấy rầy!
Chờ mãi không nghe nói gì, bà Thu phát cáu: Chuyện đến thế, chị tính sao? Chị phải có thái độ đi chứ? Hay chị là Phật đất? Cô Hạnh thở dài: Hoàn cảnh em không có con, dù anh ấy có thế, em cũng chẳng oán trách. - Nói thế nghĩa là chị biết anh ấy phản bội chị mà cố tình giấu giếm tổ chức? Anh ấy không phản bội tôi - cô Hạnh ngẩng phắt lên. Vâng, dù rằng ông Phương đã có một người đàn bà khác, có một đứa con không do cô sinh ra, ông vẫn là vị Thánh sống đối với cô. Cô không cho phép ai nặng lời khi nói về ông ấy. Bởi tất cả những chuyện này là do cô: cô đã tự tay sắp đặt, chỉ vì không chịu nổi vẻ buồn thầm lặng trên khuôn mặt ông.
"Không phải dễ dàng mà thuyết phục được anh ấy - Bởi vì anh ấy quá thương tôi. Hơn nữa, là người có chức trách, anh không dám. Tôi phải năn nỉ, ép uổng, hứa giữ bí mật cho anh ấy..." Bà Thu cau mày: "Sao chị lại làm thế? Chị có biết như vậy là phong kiến cổ hủ không? Chính chị đã đẩy anh ấy vào con đường hủ hoá!"
Cô Hạnh khóc. "Vâng. Có thể là như vậy, nhưng lúc ấy tôi không nghĩ gì hết. Tôi chỉ muốn anh ấy sung sướng". Vâng, khi người ta thực lòng thương yêu nhau, có điều gì mà không thể hy sinh. Một cô gái quê bỗng chốc được cô Hạnh chăm lo từng li từng tí: từng chục trứng gà, từng chai mật ong được chuyển về làng để tẩm bổ cái thai mới thành hình. Rồi đến ngày cô được đền bù: Đứa con trai ra đời, cô Hạnh bế lấy nó, đỏ hỏn trong lớp tã. Ông Phương quàng vai cô, vỗ về: Con của em đó. Nghe chồng nói, cô ứa nước mắt vì sung sướng...

Nhưng giờ đây, ngồi trước mặt bà Thu, cô mới thấy chuyện đời không đơn giản. Sắp đến kỳ bầu tín nhiệm hiệu trưởng rồi... Ông Phương bảo: Chức hiệu trưởng là cái gì... Bỏ, bỏ hết. Với tôi, chỉ cần mình vui lòng. Tôi chấp nhận mất tất cả. Ông nói thế, nhưng rồi không giấu được vẻ buồn. Lại cái vẻ buồn trầm lặng làm xót lòng cô. Cả đời ông sống nghiêm nghị, không để ai nói tiếng nặng tiếng nhẹ bao giờ. Giờ đây, tưởng tượng tới khuôn mặt những người lâu nay vẫn đố kị với ông... Họ sẽ hả hê biết bao trước cái tội lỗi rành rành của vị Thủ tướng đáng kính. Họ sẽ rung đùi, cười khẩy chờ ông đứng lên nhận tội... Để rồi khoái trá xúm lại tổ khổ ông, như bầy sói túm lại xé con mồi...
Quả thật, cái tin "ông Phương hai vợ" vừa được tung ra, đã có vài ba người rắp ranh ngắm nghé cái ghế ông đang ngồi. Cuộc bầu tín nhiệm được tổ chức vào đầu tháng 3, được dự kiến như là ngày chôn vùi luôn sự nghiệp của ông hiệu trưởng nổi tiếng quản lý giỏi, đã đưa trường Thuận Đạt thành một trường tiên tiến dẫn đầu tỉnh trong hơn năm năm. Người ta chờ ông Phương đứng dậy rút lui và tự kiểm điểm, nhưng sao lâu quá chẳng thấy động tĩnh gì... Sốt ruột quá, một vị đứng dậy cắt ngang lời ông Phương khi ông còn đang trình bày "chương trình hoạt động" mà ông dự kiến sẽ thực hành trong thời gian tới.
Chuyện năng lực của anh Phương thì còn gì phải bàn nữa, dài dòng làm chi mất thời gian. Chỉ có điều, dư luận đang râm ran chuyện gia đình anh, anh em tui rất hoang mang. Vì, lãnh đạo thì không chỉ có tài mà phải có đức...
Ông Phương không nói, chỉ lặng yên bình thản nhìn kẻ địch thủ đang hân hoan, đắc thắng, rồi lại bình thản nhìn cái vẻ hân hoan, đắc thắng đó xẹp xuống, nhăn nhúm lại như một quả bóng xì xuống thất vọng. Bởi vì cô Hạnh đã đứng dậy đưa ra trước Hội đồng tờ giấy chứng nhận ly hôn giữa cô và ông Phương cùng tờ giấy đăng ký kết hôn giữa ông Phương với vợ mới. Lúc đó cả hội trường mới biết rằng, trên pháp luật, ông Phương chẳng có lỗi gì... Nghĩa là cái chức hiệu trưởng của ông, lấy búa tạ mà nện cũng không thể nào rung rinh nổi.
Không rung rinh nổi, nhưng người ta vẫn cứ tìm cách nện. Lòng người đầy ham muốn, đâu có buông tha cho ông Phương qua cửa ải một cách dễ dàng như thế. Vì vậy, trọn năm sau, ông Phương quả là lao tâm khổ tứ, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
Lại một lần nữa, bà Thu phải đến thăm riêng cô Hạnh. "Khổ thân chị, tôi tìm mọi cách trấn an dư luận để bảo vệ chị, nhưng mà người ta không thể thông cảm như tôi. Nói chị đừng buồn, hoàn cảnh chị rất gay. Chị đã phạm pháp mà không biết: sống chung như vợ chồng với chồng của người khác! Cô Hạnh sững sờ. Giờ đây ông Phương có còn là chồng của cô nữa đâu? Cô nhìn thằng bé đang thiêm thiếp ngủ trong tay run rẩy. Cô biết, người ta đang lôi tuột ông ra khỏi tay cô. Cô sẽ phải xa ông, bất giác, cô ôm chặt lấy cu Nhứt, như cố níu giữ cái phiên bản của người đàn ông mà cô tôn thờ...
 
***

Lại một lần nữa, tôi phải năn nỉ anh. Tôi không đành lòng thấy anh cứ gầy rộc đi, mắt hõm, râu mọc xanh cả cằm. "Quân tử ứ hự đã đau, Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không". Anh vẫn thường nói thế. Con người anh tinh tế, tự trọng, chịu sao nổi bao nhiêu lời ong tiếng ve. Đành lòng dốc hết tiền của góp trong người mười mấy năm mua một căn nhà ở ngoại ô cho anh ấy đưa cô Thắm lên. Lúc ấy, Thắm lại đang có thai. Thương tôi, anh ấy không chịu rời đi, tôi phải cắn răng làm mặt giận, cấm lửa nhịn đói suốt mấy ngày...
Anh đi rồi, căn nhà trống đến khủng khiếp. Đi làm về, tiếng mở cửa tiếng bước chân tôi cứ vang lên lạnh lẽo như từ thế giới nào. Vào đến gian bếp, nhìn thấy chiếc may ô của anh còn sót lại trên dây phơi, tôi sụp xuống, nức nở khóc...
Thỉnh thoảng anh cũng về thăm tôi. Nhưng anh về một chút rồi lại đi. Tôi không dám trách. Sắp đến đại hội chi bộ, phải giữ gìn. Anh có muốn nấn ná tôi cũng giục anh đi cho được. Anh bảo: "Mình đừng buồn. Tôi nói với mình đinh ninh từ khi chưa ly hôn. Nay cũng thế, tôi ở bên ấy nhưng thực ra chỉ có mình mới là vợ của tôi". Tôi nghe, chỉ biết khóc. Vợ chồng mà gặp nhau lén lút như thế này, cái số tôi sao mà trớ trêu?
Có hôm bị bệnh nằm một mình không dám nhắn chồng, tôi đành nhắn người mời bà đồng Thơi đến chích lễ giải cảm. Bà Thơi vừa nặn máu cho tôi vừa bảo: "Khí đen tụ ở giữa hai chân mày. Cái uất nén trong lòng mà thành bệnh". Tôi lắc đầu: "Tôi không uất, không phiền. Chỉ vì mệt mỏi quá". Cô Thơi sửa lại áo khăn thắp nén hương giữa trời. Hôm ấy rằm, trăng sáng. Cô Thơi niệm khấn rồi cầm chén nước trong bảo tôi uống. "Để tôi xin cho chị một quẻ Thánh". Cô Thơi xủ quẻ rồi nói: "Quẻ của chị là quẻ lộng giả thành chân. Đêm trăng nơi đáy giếng, thấy bóng chẳng thấy hình. Cứ theo quẻ này giả hoá thực, thực hoá giả, giả thực thực giả khó lường". Tôi cũng không tin mấy, chỉ cảm thấy dễ chịu vì có người quan tâm. "Việc gì thực hay giả, mà giả thực liên quan gì đến bệnh cảm của tôi?". Cô Thơi nghiêng đầu như làm duyên, cặp môi son hé cười: "Lời Thánh sâu xa, nhiều khi đến việc mới hiểu".

Đại hội Chi bộ đã qua, anh lại được tín nhiệm cao. Tôi mừng. Tôi nhắn Thắm chăm sóc anh cho chu đáo. Không có ai khó chăm như anh. Cái gì cũng phải sạch, phải tinh tươm. Áo quần gấp xong nhớ đặt vào tủ, ngay ngắn, bộ nào sắp mặc thì đặt cuối giường chứ đừng đặt đầu giường. Chỗ anh ấy ngồi viết thì phải tinh tấn, ngăn nắp, đừng qua lại nhiều làm phiền anh. Tôi dặn gì, Thắm cũng nhất nhất vâng dạ. Thấy Thắm ngoan, tôi mừng.
Tết đến, tôi lo mua nếp gói bánh. Năm nay nhà đông phải gói nhiều. Đang loay hoay tìm mua lá dong, chợt nghe nói bà Thu sắp có dịp về quê, tôi lật đật sang nhờ bà ấy mua giúp. Vào đến cửa, tôi chững lại khi nghe tiếng anh Phương, rồi tiếng Thắm. Một giỏ quà, ý chừng đồ đi tết, đang nằm trên ghế. Bà Thu cười: Không có tôi thì anh chị còn mỗi người một nơi đến bao giờ? Nhưng mà nói vậy chứ không nhận quà này nhé. Bày vẽ làm gì, cái tình với nhau là chính". "Ấy, chút quà xin chị nhận cho, của thảo lòng thành". Tôi rụng rời, không nhận ra được giọng cô gái quê thơ ngây chất phác sáu năm về trước... Bà Thu ngọt ngào: "Cái cô Thắm này khéo thật, chả trách bà Hạnh cất công tìm tòi chọn lựa mãi". Tiếng Thắm cười: "Chị ấy tưởng thế thôi chứ thực ra trước khi bà thím giới thiệu với chị thì anh Phương đã gặp em mấy lần khi về quê ăn giỗ". "Quả là chồng khéo vợ khéo, trách gì chẳng thành đôi". Họ cười, tiếng cười vui vẻ râm ran trong đêm yên ả...
Tôi rút lui, suýt ngã khi xuống thềm. Rồi cứ đi trong đêm như người ngây, mãi đến lúc bước vào một ngôi nhà, ngửi thấy mùi nhang trong không gian, và nhận ra mình không hiểu từ lúc nào đã đến nhà cô đồng Thơi. Tôi ngồi sụp xuống nền nhà mà khóc, nhớ lại lời cô nói với tôi đêm trăng hôm nào. "Nín đi em. Em giỏi nín đi. Rồi cô soi cho, cho thấy hết tiền oan nghiệp chướng". Cô cứ tỉ tê khóc, cô nạt: "Sao lại khóc? Mất gì đâu mà khóc. Cái mất, thực ra đã mất từ lâu rồi. Chừ còn ôm huyễn mộng mà kêu trời như con đười ươi ôm cái ống tre rỗng mà cười một mình giữa núi". Lời cô Thơi làm tôi tỉnh ra. "Tôi sai rồi, còn oán ai. Người ta là vợ chồng, đã có con cái. Còn tôi... tôi chỉ là một vật thừa..." Cô Thơi hứ một tiếng, đỏng đảnh: "Đã thương thì thương cho trót, đã vót thì vót cho tròn. Đã giữ thì giữ riết luôn, đã cho thì cho đứt". Tôi bỗng ngượng ngùng, không khóc được nữa. Ừ, đã cho thì cho đứt luôn, sao tôi đã nói hy sinh mà còn tiếc nuối. Nhưng là người có máu có thịt, làm sao bỗng chốc cắt lìa? Tôi đâu có phải Thánh mà một phút dứt bỏ nửa cuộc đời... Không, không phải nửa cuộc đời, anh là cả cuộc đời tôi...

Tết năm ấy, tôi sốt li bì, suốt ba tuần rụng gần nửa đầu tóc. Chiều mồng ba tết, mở mắt ra, thấy anh Phương và Thắm ngồi trước giường. Tôi thở dài, se sắt. Tôi mong gặp một mình anh, một lần. Để tôi mơ ước được mạnh trở lại, được để dành cho anh cái thau sạch, cái khăn sạch, lựa cho anh củ khoai thật bùi thơm ăn khuya, đọc sách. Nhưng anh không dám đến đây một mình... Tôi ứa nước mắt nhìn hai vợ chồng - vâng, họ mới là hai vợ chồng. "Tôi hiểu cả rồi. Hai người không phải lo cho tôi. Cho thằng cu sang đây với tôi là đủ. Có nó là tôi sống được". Thắm giặt khăn lau mặt cho tôi. Anh Phương không nói gì, cũng chẳng dám tỏ thái độ gì. Tôi cố bình thản che nỗi xót xa. Tôi mất anh rồi, sự thực đã như thế từ lâu mà giờ này tôi mới bẽ bàng nhận ra...
Tháng sau, Thắm sinh con thứ hai, lần này là con gái. Cu Nhứt về ở với tôi, thằng bé bồng theo một con chó con. Căn nhà tưng bừng lên vì tiếng trẻ con cười, tiếng chó gâu ăng ẳng. Tôi như người sống lại. Thằng bé gọi tôi là mẹ Cả. Tiếng gọi thật ngọt ngào. Tôi rất muốn thằng bé gọi tôi chỉ là "Mẹ" thôi. "Như thế thì cu lầm với mẹ hai. Ba bảo cu: Mẹ cả, mẹ hai, hai mẹ đều là mẹ cả, mà!". Tôi bật cười. Cu Nhứt thông minh y như ba nó. Cái mắt sáng, cái da trắng, cái chân mày nét ngang, tất cả đều là của anh. Mặc thằng bé gọi tôi bằng gì đi nữa, nó vẫn là con tôi. Tôi lại trồng khoai, lại nuôi gà, lại để dành từng quả trứng. Thằng bé ăn, tôi thấy ngon. Đêm nó ngủ dụi đầu vào lòng tôi. Tôi đã có con, tạ ơn trời, giờ đây tôi không cần gì hơn nữa...
Lại tháng chạp, tôi đến cô Thơi xin cho cu Nhứt cái bùa đeo cổ để đeo đi chơi tết. Cô Thơi mới tạc pho tượng ông hoàng đứng trên mây, vừa rước lên bàn, thắp nhang xong thì quay ra thấy tôi. Đưa bùa cho tôi xong, cô bấm quẻ dịch rồi bảo: Chiều lòng chị thì rước cho chị, chứ chị xin nhằm giờ không vong, vật tuy có nhưng mà vô dụng.

Tôi băn khoăn về nhà. Ngày xưa, anh Phương thường trách tôi mê xem bói. Anh không biết đó là chỗ dựa tinh thần của những người đàn bà hay bối rối như tôi... Đến cửa, tôi giật mình khi thấy Thắm. Cu Nhứt quấn mẹ đẻ, cười rúc rích. Thắm khẽ khàng thưa gửi:
- Trình chị, em đã cai bú cho bé, nay xin chị cho cu Nhứt về nhà ăn tết với em.
Tôi khựng lại, đau đớn. Một lát sau tôi đeo cái bùa vào cổ cho cu Nhứt:
- Đeo cho em kẻo đi đường gió máy. Mà ăn tết xong mồng mấy mới cho em về?
Thắm không nói gì, chỉ nhìn tôi, một cái nhìn khó hiểu.
Thằng bé đi rồi, còn lại con chó con luẩn quẩn với tôi. Đã một năm, giờ nó đã choai choai, láng mượt. Cu Nhứt dặn: "Mẹ cả nuôi cẩn thận cho cu". Bao nhiêu thứ dành cho thằng bé, giờ xẻ hơn nửa cho nó. Thui thủi vào ra, chỉ có nó và tôi.
Từng ngày, tôi chờ con trở về, càng ngày càng trông càng ngóng. Nhiều hôm, nghe tiếng thằng Tèo nhà bên cạnh gọi: "Mẹ ơi!" giọng trẻ con sao mà giống nhau, tưởng con về, đang làm gì tôi cũng vứt hết chạy ra. Chỉ thấy sân hiên vắng lặng, không một bóng người...
Rằm tháng giêng. Con chó đột nhiên bỏ đi đâu mất. Tôi tìm ngất ngơ quanh xóm chẳng thấy. Lòng cồn cào lại càng nhớ, càng thương cu Nhứt. Góp được một chục trứng gà, tôi lững thững đạp xe đi thăm con. Lâu lắm mới đến nhà mới, tôi ngạc nhiên vì nó lạ hẳn so với cái thời hai vợ chồng đến mua. Cây cỏ mọc xanh trong sân, một mái hiên rộng được cơi thêm ra, thoáng mát. Tôi từ từ bước, phân vân như đi vào một ngôi nhà lạ.

Cu Nhứt đang chơi ở hiên sau. Vừa đùa với quả bóng, thằng bé vừa hát: "Trên trời cao, có muôn ngàn ánh sao... Nhưng mặt trời chỉ có một mà thôi. Và mẹ em chỉ có một trên đời. ..". Thấy tôi, thằng bé reo lên, chạy ùa vào lòng tôi... Nhưng nó bỗng khựng lại, đưa mắt nhìn vào trong, rồi cầm tay, thỏ thẻ: "Mẹ Thắm bảo con, thời này mà còn mẹ cả, mẹ hai, nghe cổ hủ lắm. Vậy con gọi bằng gì?". Tôi ôm cái đầu nhỏ bé vào lòng, chỗ có trái tim phập phồng đau đớn. "Thôi thì... Con hãy gọi bằng bác... Bác tệ quá, hôm qua đã làm mất con chó Cún của con". "Ồ, không mất, bác ơi, nó đây này!". Con cún từ sau vườn chạy tới, nhảy lon ton, vẫy đuôi rối rít. Ôi, cả con chó cũng bỏ tôi tìm về đây mất rồi! 
Bàng hoàng, tôi đứng dậy, bước đi. Rỗi bỗng quay lui, tôi dạo một vòng sau nhà, như muốn nhìn tận mắt cái thế giới đang hút về tất cả những gì yêu quý nhất của một đời tôi...
Sau sân, anh Phương ngồi bên vòi nước, đang lúi húi giặt một đống quần áo đủ loại, đánh đánh chà chà trên sân xi măng. Chưa bao giờ thấy anh trong tư thế như vậy nên tôi sững sờ, ngẩn cả người không sao nói một lời. Không hiểu sao đã chịu đựng bao nhiêu điều nặng nề, mà giờ đây tôi lại không kham nổi cái cảnh tượng hết sức bình thường thế này? Thắm đang ngồi dỗ con, thấy tôi vào chỉ cười, hất hàm về phía đức ông chồng: "Làm trai, học sẩy học sàng. Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn". Tôi ngẩn ngơ như người mất hồn, lẩn thẩn nói: "Ngày trước ở với tôi, anh ấy chẳng phải động tay tới việc gì. Tôi đi vắng mà trời mưa, anh ấy cũng chỉ lôi giùm tôi cái áo trên dây phơi, chứ cái quần để mặc cũng không hề đụng đến". Thắm khủng khỉnh: "Em thấy chị cũng sạch chứ đâu có bẩn. Mà người quân tử có sợ bẩn thì dùng khoèo mà khoèo, rồi dùng xà phòng mà rửa khoèo cũng được chứ sao? Tôi cảm thấy như có quả đấm giáng vào giữa mặt, lảo đảo, trời đất chung quanh tối sầm. Cố gắng về đến nhà, tôi lăn ra mà khóc, khóc thảm thiết. Láng giềng nghe tiếng hờ trời hờ đất chạy sang hỏi: "Ai chết thế?". Tôi không nói được gì, không nghĩ được gì, trong tâm trí chỉ có mỗi một hình ảnh: thần tượng của tôi, vị thánh sống của tôi ngồi chò hỏ giặt đồ bên bể nước. Những bọt trắng xà phòng bay, bay tấp tới, nhận chìm tôi, tức tưởi, mê man...
Lại một lần nữa, tôi ốm nặng, tóc rụng lả tả trên gối, nhưng không báo với ai để khỏi ai bận lòng.
Đấy là chuyện đời chồng trước của tôi...

***

Người trong xóm cứ tưởng cô Hạnh phen này chết vì mấy lần cô bắt chuồn chuồn, cấm khẩu. Họ ngạc nhiên khi thấy cô không thuốc men gì mà lại đi đứng như thường. Cô xin về hưu non, cuốc đất, làm vườn, lại sống cái đời cần cù và đạm bạc như thuở nào. Sáng sáng, họ lại thấy cô mua bún bò, bưng vào ngược con ngõ, những bữa trời mưa lâm thâm cô kéo chiếc nón che tô bún, quên cả che đầu.
Rồi trước hiên nhà lại xuất hiện những cái áo nho nhỏ màu đỏ, màu xanh phơi trên dây. Ai đi ngang hỏi, cô cười hiền lành: Áo thằng cu. May cho cu mặc tết".
Nếu ai tò mò đi theo cô vào căn nhà vắng lặng, có thể thấy ngay giữa nhà là một bàn thờ đồ sộ mà cô gia công trang hoàng như một cung điện rực rỡ vàng son. Giữa bàn thờ là tượng một người đàn ông đẹp đẽ phương phi, tay cầm kiếm, chân đạp lên mấy tầng mây. Có hỏi thì cô thì thầm: "Ông Hoàng Bảy, trấn thủ tỉnh Thừa Thiên".
Rằm, mồng một, cô chất hương hoa đầy thánh điện của cô, rồi ra nhà bà đồng Thơi lễ bái. Nghe đâu bà đồng Thơi bảo rằng số cô Hạnh không theo ông Phương được trọn đời vì người âm ưng, mà người âm này vai vế lớn lắm, con thứ bảy của Đức Mẫu, quyền sinh sát cả một giang sơn. Lâu nay, ông với cô Hạnh đã được một con trai ở cõi vô hình, mà cô Hạnh đâu có hay.
"Nhờ có Thánh cứu, chứ không thì mấy trận đau, hắn đã chết trọc óc chứ mô còn tới chừ". Bà Thơi nói. Cô Hạnh cười, vẫn cái cười dịu dàng, không còn buồn thảm như xưa, mà phảng phất một vẻ mơ màng - vẻ mơ màng thường thấy trên gương mặt những người lãng trí. "Sắp tới tháng Ba rồi, phải không chị? Tháng Ba ni chị cho em đi về chầu điện Hòn Chén". Bà Thơi nghe cô Hạnh nói, hài lòng gật đầu. "Ừ, tháng Bảy giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ. Lễ hội tháng Ba này em cũng nên về chầu Đức Mẫu cho phải đạo dâu con".

Đầu tháng Ba, ông Phương bỗng về thăm vợ cũ. Từ đó, người ta thấy ông qua lại luôn. "Năm lần bảy lượt tôi nói với mình, mình dẹp cái trò mê tín đó đi giùm tôi. Vì cái chuyện đồng bóng lễ bái của mình mà tôi mang tiếng nhiều lắm rồi, dù gì thì mình cũng là vợ cũ của tôi, một hiệu trưởng, một đảng viên...". Cô Hạnh chẳng nói gì, đang lo đặt đĩa khoai luộc nóng hổi lên bàn thờ. Trông dáng vẻ cô ân cần chẳng khác gì trước đây chăm chút cho ông. Cử chỉ đó làm ông Phương thêm bực tức. "Mình muốn trách khéo tôi phải không? Mình biết là đâu phải tôi muốn thế, chính mình đã muốn hy sinh cho tôi... Tôi xin mình, hãy vì tôi lần nữa...".
Cô Hạnh đã đặt xong đĩa muối chấm khoai, thủng thỉnh ngồi xuống, nhìn ông Phương với đôi mắt rộng lượng như thể từ trên cõi tiên nhìn xuống thế giới nhỏ bé của loài người. "Hôm qua ông đã gặp bà Thơi phải không? Thảo nào bà ấy bảo tôi có muốn quay về với ông thì để bà ấy xin cho cái lễ chẻ đôi chiếc đũa đồng tiền, li dị với ông Hoàng...".
"Mình đừng giận tôi, thuở ấy người ta còn khắt khe, mình cũng biết hơn ai hết. Giờ đây quan niệm về đời tư cũng cởi mở hơn trước, thỉnh thoảng tôi lại về thăm mình. Để mình thui thủi thế này tôi cũng chẳng đành lòng".
Cô Hạnh nhìn ông Phương một lát rồi cười. Cái cười mơ màng lâu nay vẫn ẩn hiện trên gương mặt cô. "Ông à, thực ra tôi không giận ông. Nhưng chuyện ông nói thì không thể được. Tôi đã vì ông đến nửa đời người, nay ông yên phận rồi, hãy để cho tôi yên phận tôi. Xưa tôi là vợ mình, chỉ biết có mình, nay đã là vợ ông Hoàng, chỉ biết có ông Hoàng. Tôi đã nói với bà Thơi, tôi không cúng, không chẻ đũa, bẻ tiền chi hết, tôi không bỏ ông Hoàng vì ông ấy đỡ đần tôi khi thập tử nhất sinh, ông ấy không bỏ tôi, không ruồng rẫy tôi bao giờ...".
"Nhưng làm gì có cái gọi là ông Hoàng, làm gì có cái bóng ma ấy, nó chỉ có trong trí tưởng tượng của bà thôi, bà có biết không?". Ông Phương phát thịnh nộ, không tự chủ được nữa, đập mạnh tay xuống bàn mà nói như quát. Cô Hạnh đứng bật dậy, run bần bật như bị xúc phạm nặng nề. Hai hàm răng cô đánh lập cập vào nhau, rồi bỗng cô thình lình vớ lấy cả cái khay ấm chén trước mặt, ném vào người chồng cũ. Đến lúc ấy ông Phương vẫn không nhận ra rằng từ khi bị cô Hạnh bắt gặp ngồi giặt đồ bên bể nước, trong mắt cô, ông chỉ còn là một tượng thần đã mất hết linh thiêng.

Người trong xóm thấy ông Phương phóng xe ra ngược con ngõ, áo và tóc ướt từng vạt nước trà vàng vàng, mặt bừng bừng lửa giận. Hai hôm sau, việc đến tai bà Thu. Bà lắc đầu an ủi: "Chị ấy tốt bụng nhưng lý trí không vững nên tâm nó loạn. Trước đã bày ra chuyện phong kiến cổ hủ, nay lại sinh ra trò mê tín dị đoan. Thôi thì mặc ý chị ấy, tôi cũng hết phép".
Cô Hạnh chẳng quan tâm đến ai, cứ vào ra trong ngôi nhà vắng tanh với nụ cười mãn nguyện của một người đàn bà hạnh phúc. Chiều hôm ấy cô thung dung đi chợ chọn mua vải may chiếc áo dài mới để tháng Ba này ngược sông Hương trảy hội mùa xuân.

(*)
Tác Phẩm đã được chuyển thể thành phim năm 2008. 
Đạo diễn: Nguyễn Vinh Sơn
Biên kịch: Châu Thổ
Phim Trăng Nơi Đáy Giếng đã đạt được giải thưởng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất năm 2008 tại LHP QT Dubai, Cánh Diều Bạc cho thể loại phim truyện nhựa, Cánh diều vàng cho vai Nữ chính, kịch bản và họa sĩ xuất sắc nhất tại LHP TQ năm 2008. 
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeThu Jul 11, 2019 10:20 am

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 2Q==

Thương Nhớ Hoàng Lan
- Trần Thùy Mai


Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: "Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót?" Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: "Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại". Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi.

Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được.
Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: "Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ?" Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: "Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H" Rồi bà cười ha hả: "Đi tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da". Tính mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vao đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm...

Cô ruột tôi giận lắm, bảo: "Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng." Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói "Đừng". Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?
Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. "Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni."
Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn...
Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: "Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?" Tôi chỉ lắc đầu...
 
Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am - am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: "Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác".
Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: "Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh?" Thầy hỏi: "Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong." Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì.
Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: "Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng". Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: "Này, đừng nghịch". Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. "Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan". Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: "Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy". Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: "Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử?" Tôi cự: "Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ".
Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước giò. Lan phụng phịu: "Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có". Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ. "Vậy tôi đặt cho cô một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi".
Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: "Không can gì". "Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?" Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. "Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó". Tôi động lòng, hỏi: "Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong". Thầy cười: "Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín rầng mây". Tôi vái thầy mà thưa: "Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa."
Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. "Anh không thích phong lan nữa sao?". "Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan". Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: "Thích ghê, em chưa thấy bao giờ". Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương...

Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. "Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường".Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: "Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng". Tôi hãi hồn, vội nói: "Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây". Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: "Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa".
Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt...
Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán.
"Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà". "Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó". "Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức". Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: "Khó tin". "Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra - bạn tôi nói, vẻ ông cụ non - Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn".
Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: "Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi". Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: "Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu."...
Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: "Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi". Quay sang Lan, tôi nạt: "Đi về!" Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi...

Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: "Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?" Tôi cau mặt: "Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?" "Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến". "Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn". Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. "Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không?" Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời.
Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa... "Em có thích nghe chuyện cổ tích không?" "Thích". Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: "Sao có người làm được như thế?" Tôi gật đầu: "Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời: "Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua".
Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. "Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?" Tôi bảo: "Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con". Lan cười... Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. "Thôi, về đi em". Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật...

Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: "Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu". "Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên". Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: "Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao?" Quả là chuyện không thể cười mà xong.
Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.
"Con ma nữ" đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: "Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con". Tôi cuống quýt: "Bác bảo con làm sao được?" "Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra". Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: "Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng". Tôi thở dài: "Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám". Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi...
Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: "Sao con bỏ học?" Tôi nói: "Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng". Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: "Bạch thầy". Thầy tôi bảo: "Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn." Tôi nói: "Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An". Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: "Tâm không an, có cầu cũng vô ích". Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. "Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn?" Thầy nhìn vào mắt tôi: "Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình." Tôi lắc đầu: "Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuống núi".

Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã úa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.
Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: "Chú Ninh!" Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. "Bác lên chùa cầu cho em đi bình an..." Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt. Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan:
"Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan...
Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi..."

Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. "Cứ khóc đi con" - Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt - "Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ".
Tôi nức nở: "Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không?"
Thầy bảo: "Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?" Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống.
Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.
Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 673
Join date : 25/04/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Jul 14, 2019 3:50 pm

.
https://www.youtube.com/watch?v=betdNdSbvfY
Tình Ca (Nhạc khúc trong phim: "Trò Chơi Bị Cấm")
Romance (La Ballade Des Jeux Interdits)


Trò Chơi Cấm
- Trần Thùy Mai


Rượu đã hết, nhưng cuộc vui vẫn còn. Lúc này ai nấy đều nhìn nhau như qua màn sương mờ ảo. Riêng ông Thanh, chủ nhân bữa tiệc vẫn tỉnh táo, dù đã phải tiếp khách từ chín giờ sáng cho đến bây giờ, khi trời đã sẫm chiều.

Như mọi năm, đúng vào ngày một tháng giêng, ông Thanh tổ chức sinh nhật của mình trong ngôi nhà vườn ở làng quê. Khu vườn bên kia sông Bao Vinh, đầy những lá nhãn xanh um. Không bao giờ ông gửi thiệp mời cho ai. Nhưng như một tập tục, bạn bè ông cứ đúng ngày là đến. Ngày ông còn tại chức, có năm cả trăm người đến mừng sinh nhật. Từ lúc về hưu, mỗi năm người đến một thưa vắng, nhưng vẫn còn vài chục người. Ðó là những người thực sự thân tình: ông biết, ông sẽ không bao giờ mất họ. Trong số đó có cả ông Phi ở cạnh nhà: một ông già hiền lành, chuyên làm cai gian trong các đám tang. Ông Thanh giới thiệu với mọi người: "Ðây, ông cai gian của tôi, chẳng bao lâu nữa sẽ là người chôn tôi đấy". Ðáp lời ông, ông Phi chỉ cười. Nụ cười móm mém chân chất của ông làm người ta nghĩ đến hình ảnh hiền hậu nhất của cái chết.
Hôm nay ông Thanh vừa đúng bảy mươi tuổi. Vào buổi tiệc ban trưa, ông đã ký những giấy tờ phân chia gia tài cho bốn đứa con trai trưởng thành. Ông có một gia sản không lớn nhưng cũng cần phải thu xếp ổn thỏa. Nhìn về phía vợ, ông hỏi: "Nào, mình có đồng ý với tôi không, hở mình?" Vợ ông rơm rớm nước mắt vì xúc động. "Ông ơi, sao ông lại hỏi thế, có bao giờ tôi không nghe lời ông?"
Ðúng, bốn mươi năm qua, lúc nào bà cũng mãn nguyện làm cái bóng của ông. Suốt đời, ông đã làm lụng, đã đem lại danh giá cho bà. Bốn đứa con, đó là kết quả cuộc chung sống lâu dài và êm ấm giữa hai người. Bây giờ, chúng đã lớn, được ăn học, thành đạt, đã kiếm được những người vợ tốt; tất cả đang ngồi kia, nhìn về hai ông bà, cảm động và yêu thương. "Ba, ba vội quá, ba còn sống với chúng con rất lâu, vậy mà..."

Ông Thanh đẩy hết bút giấy ra xa, như vừa dứt khoát làm xong một công việc nặng nề. Ông nói mà không nhìn ai cả:
- Từ giờ phút này, ba đã xong hết mọi công nợ với cuộc đời. Ba có thể thanh thản yên nghỉ được rồi. Nhưng trong khi chờ đợi, ta cứ vui phải không các bạn?
Nói xong, ông cao hứng uống cạn ly, hát một bài hát vui. Ai nấy đều hát theo ông, tiếng hát tưng bừng xóa tan ngay không khí có phần ngậm ngùi của mấy phút trước. Còn bây giờ, trời đã tối. Ông Thanh tự cho phép uống nhiều hơn, vì vậy men rượu bắt đầu giăng một màn sương trước mắt ông.
Thật kỳ lạ, vào giờ phút ấy, ông chợt thấy phía cuối bàn một người phụ nữ, không biết ngồi đấy từ lúc nào. Hình như người ấy vừa đến, và cả bàn tiệc không ai ngạc nhiên vì mọi năm cũng thế rất nhiều người đến vào phút chót. Chỉ có ông Thanh bỡ ngỡ, không thể nhớ ra người ấy là ai. Tay cầm ly rượu, ông đến gần người khách lạ. Dù ai đi nữa, đó cũng là một người đã nhớ đến ông trong ngày này. Hơi rượu chếnh choáng làm ông không nhận ra người phụ nữ này bao nhiêu tuổi xưng hô thế nào cho phải. Vì thế, đáp lại nụ cười của nàng, ông chỉ biết nắm lấy bàn tay, siết chặt.
- Thưa ông - Người khách mới đến nói giọng hơi ngập ngừng - Hôm nay là ngày sinh nhật của ông, tôi muốn đem đến cho ông một món quà.
Nói xong, nàng đưa mắt nhìn quanh. Thấy chiếc đàn ghita trên vách, nàng ra hiệu nhờ lấy giúp. Rồi nàng so dây, và bắt đầu khúc nhạc của mình.
Tiếng đàn buông từng nốt nhạc rời, chậm, lãng đãng tiếp theo nhau; một thứ giai điệu kỳ lạ. Bỗng nhiên, giữa đêm đẹp trời, ông Thanh tưởng mình nghe tiếng mưa. Mưa mùa thu, dìu dặt và nhẹ nhàng như không buồn đậu xuống đất mềm.
Bất chợt, ông kêu lên một tiếng. Men rượu tan biến trước mắt ông. Ông đã nhớ ra! Khuôn mặt này, nụ cười này. Và tiếng đàn này. Tất cả đã từ lâu ngủ yên trong ký ức ông. Nhưng còn nàng, nàng từ đâu hiện về?

***

Khi gặp ông, nàng cũng như thế này. Tóc nàng dài, phủ kín hai vai. Lần đầu nàng ngước lên nhìn ông, trong đôi mắt nâu hiện ra một vầng sáng dịu. Quán cà phê Mimôsa khuất sau dốc đồi. Vào thời ấy, người ta xem việc uống cà phê buổi sáng là một thứ xa xỉ phẩm. Dưới lùm cây xanh và những vầng sương mù dày đặc, cái quán nhỏ âm thầm giấu mình như một thứ tội phạm dễ thương. Và nàng, cũng thế.
Thành phố cao nguyên đẹp nhưng quá buồn, nhất là với một người đàn ông xa gia đình. Những bực bội phiền toái trong mỗi ngày làm việc khiến buổi chiều trở thành khoảng thời gian tự do và vô vị. Một tuần hai lần, ông đến quán Mimôsa để giải khuây. Thiếu phụ áo tím ngồi sau quầy, những bông Muguet cũng mầu tím. Và rất nhiều âm nhạc. Ở đó, lần đầu ông đã nghe bản giao hưởng số 6 của Beethoven - bản giao hưởng định mệnh.
Thiếu phụ người Huế. Chồng ở Mỹ, đang làm thủ tục bảo lãnh cho nàng. Giấy tờ quá phức tạp, rắc rối. Trong khi chờ đợi, nàng giết thời giờ bằng quán Mimôsa. Nàng nói với ông nàng nhớ Huế, nhớ mùi rau diếp xanh trong vườn mẹ. Một lần, ông Thanh về phép. Khi trở lại, ông mang cho nàng một chậu nhỏ trồng đầy rau diếp xanh. Rau diếp mới ăn rất hăng nồng, nhưng lâu ngày thành nghiện. Dần dần, có lúc buồn bực, ông ra khỏi cơ quan, đầu óc căng thẳng, bước đi không định hướng. Mãi đến khi trước mắt hiện ra giàn hoa lấm tấm vàng, cái nhà gỗ thu mình sau hoa lá, ông mới biết đã đi đến chốn về của mình. Nàng đón ông ở cửa, nụ cười lặn sâu trong mắt. Lúc ấy ông Thanh đã nghĩ cả nhân gian là quán trọ, chỉ có nơi này là quê nhà của mình.
Tối hôm ấy, ông ở lại. Ðêm cao nguyên lạnh dịu dàng. Ðến lúc đó, ông mới hiểu nàng thuộc vào loại đàn bà mà người đời vẫn bảo là có bùa mê. Thật ra, đó là một năng lực kỳ bí cho tất cả phụ nữ từ thuở cổ sơ. Nhưng dần dà, người ta giấu giếm nó đi, và quên mất nó. Còn nàng, nàng không quên, không mất, vẫn mãi mãi như thế: một dòng suối hồn nhiên mê đắm.

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, ông Thanh nghe những âm thanh dìu dặt, lãng đãng rơi dần từng giọt, từng giọt quanh giường. Cựa mình, ông nói khẽ, như người nói mê:
- Trời mưa, em ạ.
Nàng xoay mình, áp đầu xuống vai ông:
- Không đâu anh... Ðó là tiếng nhạc. Bài Jeux interdits, nghĩa là Trò chơi cấm.
Ông Thanh tỉnh hẳn. Ông nhìn thấy đĩa nhạc đang quay, những tiếng đàn êm ái như mưa. Và bàn tay nàng đậu trên vai ông, cũng mềm như tiếng nhạc. Trò chơi cấm kéo dài bao lâu, ông không còn nhớ. Trong thời gian ấy, ông chỉ nghĩ đến một người là nàng. Một người duy nhất, có người ấy thế giới này chợt rộng lớn và vang ngân. Mọi điều ta trải qua, ta thấy, ta nghe đều day dứt, ngọt ngào vô kể.
Rồi đến một ngày, ông quyết định ra đi. Con người thật kỳ lạ, luôn muốn phiêu lưu nhưng không dám vượt ra ngoài những rào cản của cuộc sống bầy đàn. Vả lại, ông nhớ ra, rồi sẽ đến lúc nàng đi xa. Bởi đau lòng hoặc bởi hiếu thắng, ông chọn đi trước để khỏi bị nàng bỏ lại.
Nàng có một trực giác kỳ lạ, hiểu ngay những dự định của ông. Ngày trở về Huế, ông đến chia tay với nàng, như mọi lần về phép. Khi ông hôn nàng, nàng thì thầm:
- Em biết, đây là lần cuối.
Không! Ông kêu lên, siết chặt lấy nàng: Bao giờ cũng thế, mỗi lúc giữ trong vòng tay thân thể dịu mềm của nàng, bản đàn Jeuinterdit lại vang lên bên tai ông. Ông đã không nói dối: đó không phải là lần cuối. Rất nhiều năm sau, thỉnh thoảng ông vẫn được gặp và hôn nàng như thế - Trong giấc mơ.

***

Bây giờ nàng ở lại đây, bên ông. Năm tháng qua, nhưng sao nàng quá trẻ. Nàng còn trẻ hơn thuở gặp ông, như một thiếu nữ mới lớn. Ông Thanh run chân, chăm chăm nhìn. Nàng vẫn đàn. Ngày xưa, ông không thấy nàng chơi đàn. Nhưng cũng những âm thanh thế này: chậm - rời, dìu dặt như tiếng mưa.
"Trò chơi cấm". Ông Thanh nói rất khẽ, nhưng người đàn bà vẫn nghe. Dường như nàng chỉ chờ có vậy. Bản nhạc viết về một cuộc chơi, một trò đùa thần tiên đến nao lòng. "Vâng, vậy là ông đã nhớ ra".
Ông Thanh thốt lên:
- Em tưởng là tôi có thể quên sao? Cả bàn tiệc dồn mắt về hai người. Người khách nữ treo đàn lên vách, rồi trở lại đứng trước ông Thanh. Ánh đèn tỏa sáng trên người nàng... đây thực sự là một cô bé. Một cô bé giống nàng như tạc.
- Mẹ cháu bảo cháu đến đây, và đàn cho ông nghe khúc nhạc này.
- Mẹ cháu... vừa từ nước ngoài trở về? - Ông Thanh hỏi, môi run run.
- Không. Mẹ cháu đã không đi. Vì có cháu.
Cô bé vừa trả lời vừa nhìn ông Thanh như chế giễu sự chậm hiểu của ông. Trên khuôn mặt trẻ thơ đó là đôi mắt của ông, vẻ nhìn của ông. Cô bé đó giống nàng, và cũng giống ông, giống hơn tất cả những đứa con ông đã có.
Sững sờ, ông Thanh ngồi lặng trên ghế. Cô bé ngồi cạnh ông. Cả hai người, không ai nói gì nữa. Hình như tiếng nói đã trở thành vô nghĩa lúc này.

Cũng như mọi năm, bữa tiệc dứt lúc trăng lên đầu ngọn cau cuối vườn. Nhưng lần này người ta không nghe tiếng cười nói xôn xao từ trên đường tiễn khách ra bến đò để qua sông về thành phố. Cả đoàn người lặng im theo sau ông Thanh và cô gái, như trong một đám rước kỳ dị, bởi ai cũng linh cảm thấy điều bí ẩn nào đó đang đè nặng tâm hồn mình.
Con thuyền đến. Cô gái quay đi. Chợt ông Thanh giữ lấy cô bé:
- Con!
Cô bé quay lại, mắt lóng lánh nước:
- Ba?...
Hai cha con ôm nhau. Mọi người đứng quanh cúi đầu, như trước một cuộc hành lễ. Ðiều bí ẩn đã rõ. Cuối cùng, ông Thanh đã thừa nhận bản thân mình - một thứ mà ông đã chối bỏ từ lâu.
"Hãy ở lại với ba. Ba chưa làm được gì cho con cả. Ba không còn gì cả, nhưng ba vẫn còn sống, ba sẽ làm mọi điều ba có thể, vì con..." Ông Thanh nói dồn dập. Rất nhiều năm rồi, ông mới nghe tim mình đập như thế.
"Không, con không đến để đòi nợ ba đâu. Con đến để nhìn lại cội nguồn của mình. Và cũng để làm đúng ý nguyện của mẹ con, gửi cho ba món quà sinh nhật". Khuôn mặt trẻ thơ đang lóng lánh nước mắt, chợt rạng rỡ một nụ cười... Rồi cô bé cương quyết xuống thuyền. Bên kia bờ, trong bóng đen sâu thẳm là những ngọn đèn của phố Bao Vinh lung linh trên nước. Giữa sông, trên con thuyền chông chênh dưới trăng, ông Thanh vẫn nhìn thấy con gái mình, rạng rỡ, sáng láng: một món quà sinh nhật quá tuyệt vời.
Ông khóc, im lặng. Nó đã đến, và đã đi. Con của ông. Một đứa trẻ cô đơn, nhưng không hề buồn thảm. Ông không còn gì cho nó, ngoài những lời nguyện cầu. Cầu cho nó cứ mãi đi trên đời như thế, cầu nước sâu cạn dưới chân nó, gió dữ tan trên đầu nó. Cầu Thượng đế hãy phù hộ cho nó, như vẫn phù hộ cho những đứa con sinh ra từ tình yêu.

Trở về nhà, không ai, kể cả vợ con ông Thanh, dám hỏi han gì ông, vì thấy ông trong trạng thái như đi giữa mây mù. Lúc bấy giờ ông không nghĩ tới ai cả không nhớ điều gì cả, ông đã thanh thỏa với cuộc đời ở đây. Bây giờ trong tâm trí ông chỉ có hình ảnh một túp nhà ở nơi rất xa, ẩn sau khóm mimosa hoa vàng. Nơi đó có một người đàn bà lặng lẽ sống, cưu mang và hoài niệm. Sự im lặng ấy phải chăng là chịu đựng hy sinh, hay cũng là một trò chơi ngông cuồng của nàng?
Ông phải gặp nàng, phải hỏi nàng điều đó, và nàng sẽ phải trả lời ông, với nụ cười bí ẩn lặn sâu trong mắt. Ngay trong đêm, ông thu dọn chiếc va ly nhỏ. Ông sẽ đi, ngay ngày mai. Ðã mười tám năm, nhưng ông cứ tin rằng nàng vẫn thế, ngôi nhà ấy vẫn thế, nho nhỏ, ngậm ngùi dưới những cơn mưa mù sương. Ðó vốn là nơi trở về của ông. Ðã đến lúc ông phải quay về. Ông còn phải sống, sống rất dài lâu, vì ông chưa hết nợ với thế gian này.

Sáng hôm sau, lúc mở cửa phòng, người ta thấy ông nằm, mắt mở. Tim ông đã ngừng đập vào lúc còn say sưa nghĩ đến chuyến đi. Có lẽ vào giây phút ấy bên tai ông vẫn vang lên những nốt nhạc lãng đãng, dịu dàng đến mê người, những ảo thanh của một cơn mưa không dứt.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeTue Jul 30, 2019 12:36 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Images?q=tbn:ANd9GcSjl0ns29lMmM9TUlwpXnCrVpCK-T3WjKLeH6_-cuvaMZoD3A_f

Nơi Gió Phải Đến
- Trần Thùy Mai


Năm nay mùa đông lạnh hơn hẳn mọi năm. Gió cao nguyên cứ tràn qua, tràn qua từng đợt, những bông quỳ chấp chới vàng như sóng. Quỳnh bảo tôi: Gió ở đây một đi không trở lại, khác ở Huế. Gió từ sông Hương thổi lên là gió rất đa mang, thổi tà áo bay dùng dằng, như trong câu hát ngày xưa "Gió bay từ muôn phía...".  
Tôi bảo Quỳnh: "Em không nhắc Huế một ngày, chắc là không ngủ yên một ngày. Huế của em mà, chẳng nơi nào có được". Quỳnh chống chế: "Còn anh, ngày nào cũng phải châm chọc người ta vài câu thì ăn cơm mới ngon phải không?"

Nhà Quỳnh ở đầu thung lũng, khuất sau rặng hoa vàng. Tôi dừng xe đứng ngần ngừ, muốn tiến vào nhưng còn ngần ngại. Nàng mở cánh cổng gỗ thông, bảo tôi:
- Vào đây một chút đã anh.
Tôi dắt xe qua sân. Căn nhà gỗ nhỏ nhắn và sạch sẽ. Bộ bàn ghế bằng mây với bình hoa gốm cắm mấy chùm hoa sao lấm tấm tím trắng. Cách đây hai năm, khi Quỳnh vừa chuyển công tác lên đây, chính tôi đem bình hoa gốm này đến cho nàng. Căn nhà lúc đó trơ trọi, chưa có gì. Những gói hành lý của nàng nằm bệt trên sàn. Mấy cái áo mắc trên lưng ghế. Một thùng giấy lớn vừa khui xong, miệng mở rộng, bên trong một lũ thú nhồi bông bồng bế quấn quýt lấy nhau. Tôi tặc lưỡi:
- Tuổi em mà còn chơi những thứ này à? Cả một thùng cồng kềnh, chở đi cũng hết hơi.  
Quỳnh cầm lên một con chó bông trắng, tần ngần: - Mỗi năm vào sinh nhật em, Minh lại tặng một con thú bông. Em đem đi đủ hết, không sót con nào - Nói rồi nàng lôi ra từng con một đặt lên cái giường còn trống trơn. Tôi đếm: có tất cả mười con, đủ màu, đủ kiểu. Vậy là họ quen nhau đã mười năm... Vì sao Quỳnh lên đây? Bỏ xứ mà đi, chắc là có nỗi buồn. Chẳng tiện hỏi, tôi gần xa:
- Người ta bảo những người yêu thú bông thường là những người nhân hậu và mềm mỏng.
- Đúng rồi. Minh hiền lắm, năm mười tám tuổi đi học ngành thú y chỉ vì thích chơi với chó mèo.
"Một gã chán phèo." Tôi thầm nghĩ. Mặt Quỳnh đầy vẻ trìu mến. Hình như nỗi nhớ đang hành hạ người ra đi, chỉ khi nhắc đến Minh, đến Huế nàng mới tươi lên một chút. Tôi thôi không hỏi nữa, chỉ lặng lẽ đóng đinh, kê đồ đạc giúp nàng. Thời gian là thuốc thần diệu nhất, trước sau rồi nàng cũng nguôi ngoai đi thôi.  

Bây giờ, Quỳnh không nhắc đến Minh nữa. Nàng cũng phải nể nang tôi một chút chứ, không có tôi ai chịu khó đưa nàng về sau những đêm sinh hoạt văn nghệ khuya khuya như đêm này... Nhà Quỳnh yên tĩnh, xinh xắn, nhưng hơi lạnh. "Quỳnh ở một mình vầy không sợ ma sao?". Quỳnh đặt tách trà trước mặt tôi: "Ma có quấy quả chi mình mô. Chỉ sợ người. Nói thiệt với anh, lúc nãy em cố tình mời anh vô nhà đó. Để cho mấy gã tà quanh xóm thấy có bóng đàn ông, đỡ quấy nhiễu".
À, thì ra vậy. Thì ra nàng chỉ cần tôi có thế thôi: một thứ bù nhìn để dọa chim trời. Tôi hơi phật lòng. Nhưng nghĩ cũng tội, đàn bà con gái ở một mình khó mà yên thân. Tôi đùa: "Anh phải làm vệ sĩ thường xuyên túc trực, chứ ngồi đây năm mười phút thì ăn thua gì."  
Quỳnh nghe tôi bóng gió, chỉ thở dài. Lúc tiễn tôi ra cổng, nàng nói:
- Quỳnh cũng nghĩ nhiều lắm, nhưng khó quá anh à! Tôi quay nhìn vào nhà. Mười con thú bông vẫn còn đó, trên chiếc giá gỗ dài ở lưng chừng vách.
Về sau có lần tôi đường đột hỏi Quỳnh vì sao nàng lại lên sống ở đây, bỏ Minh ở lại. Quỳnh nhăn mặt:
- Anh có để cho em yên không?
Tôi không chịu thôi. Tôi có lý do để mà đường đột. Quỳnh trả lời, miễn cưỡng:
- Đâu phải chỉ có hai đứa sống trên đời. Dư luận. Gia đình. Tương lai, nghề nghiệp... Em đã tính đương đầu, nhưng rồi đuối sức.  
Nàng càng nói tôi càng rối mù, chẳng hiểu gì. Chỉ lờ mờ cảm thấy một bi kịch. Chẳng ai muốn nhắc những ngày bi thảm của mình, cũng như tôi, nếu ai hỏi tôi vì sao Ngà bỏ đi, vì sao hơn năm năm tôi vẫn phải ăn ở quán Bà Rơi cơm bụi, chắc chắn tôi cũng gắt lên: "Để cho tôi yên!"
Năm năm rồi, tôi chưa thấy mình gắn bó với ai, cũng chẳng thấy mình cần thiết cho ai.

Nửa đêm, tôi giật mình tỉnh dậy. Chuông điện thoại réo liên hồi. Giọng Quỳnh như hụt hơi: "Anh đến chỗ Quỳnh gấp". Tôi nhìn đồng hồ, đã hai giờ sáng. Đường khuya lạnh buốt không người, sương mù trắng cả lối đi, tôi suýt không nhìn ra cái giậu hoa vàng trước ngõ. Cánh cổng gỗ thông đã mở sẵn, tôi chỉ hẩy nhẹ một cái là tung ra. Tôi hoang mang dắt xe vào cổng, chợt nghe tiếng Quỳnh thì thào đâu đó như rất gần:
- Anh Tùng, cẩn thận...  
Tôi đang còn định vị xem nàng đang ở đâu trong vườn thì chợt mùi rượu theo gió tạt vào mặt. Tôi bỏ xe, thận trọng vòng ra cửa sau. Hai bóng đen đang châu đầu vào cánh cửa khóa kín. Tôi lùi lại thủ thế, nhưng rồi bình tĩnh lại khi nhận ra đó chỉ là hai thằng say rượu túy lúy, chân cẳng đã quàng xiên, chỉ còn đủ sức để dọa đàn bà con gái.
Tôi tống cổ hai thằng say ra khỏi cổng, đóng chốt lại, nhìn quanh xem Quỳnh ở đâu. Vừa lúc nãy tôi nghe tiếng nàng gần lắm kia mà. Chợt có tiếng sụt sịt khóc từ cái lỗ gắn thông gió vang ra. Hóa ra Quỳnh ở trong nhà, nấp dưới cái thông gió. Gió quạt tiếng nàng ra như ở bên tai tôi. Tôi đập cửa:
- Đừng sợ, anh đuổi tụi nó đi hết rồi.  
Cửa mở, Quỳnh hiện ra với đôi mắt sưng húp. Bao giờ cũng thế, như con chim sau cơn bão. Bất giác tôi ôm lấy nàng. Lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác mình cần thiết cho một ai đó. Tôi đỡ Quỳnh ngồi xuống chiếc ghế mây rồi xuống bếp tìm chút gì cho nàng uống. Căn bếp tinh tươm, gọn ghẽ, làm tôi nhớ lại căn phòng nhếch nhác của tôi. Trong đầu tôi bỗng một tiếng nói vang lên như búa bổ: "Thật ngu ngốc, thật ngu ngốc!".
Nàng hớp cốc trà nóng mà tôi vừa pha, hai bàn tay nắm chặt cái cốc sành, vẫn còn run vì xúc động. "Thật ngu ngốc." Tôi bất giác thốt thành lời. "Ai ngốc hở anh?" "Cả anh, cả em". Quỳnh ngơ ngác rồi chợt hiểu ra. Trong mắt nàng thoáng hiện cái vẻ như một con thú nhỏ đang chùn lại, bỡ ngỡ và xót xa, vẻ nhìn đó làm mềm lòng tôi, khiến tôi nói ra hết những lời lâu nay ngại nói...  

Cái tin hai đứa tôi đính hôn làm cả Hội bất ngờ. Lâu nay, sau nhiều công sức gán ghép vô hiệu, ai cũng nghĩ Quỳnh và tôi thuộc vào týp không còn khả năng yêu. Tôi đã trải qua một lần, đủ để không kỳ vọng quá nhiều vào hôn nhân. Với tôi bây giờ, hôn nhân nghĩa là chấm dứt những bữa cơm bụi và nhiều buổi tối câm lặng không có ai để nói nửa lời. Chỉ đơn giản có thế, tôi không đòi hỏi nhiều ở Quỳnh. Một phụ nữ dễ thương, tốt bụng, nấu ăn ngon, thế là đủ lắm rồi, ngoài sức tôi mơ ước.  
Tuy đã định làm đám cưới rất giản đơn nhưng cũng không thể bỏ qua lệ tục, tôi cùng ông chú về Huế gặp gia đình Quỳnh. Ấn tượng đập vào tâm trí tôi trong lần gặp gỡ đầu tiên là ông anh cả của nàng, một người đàn ông vạm vỡ, lông mày dựng ngược với những sợi lông sắc và cứng. Quỳnh đã nói trước với tôi: "Ông anh em hơi khó. Có gì anh đừng chấp nghe". Tôi lo lắng: "Khó đến cỡ nào?" Quỳnh trấn an: "Là hơi dữ tính ấy mà, cái gì cũng nhất nhất phải theo ý anh ấy. Hồi em nhỏ, trái ý một chút là bị đánh thẳng tay. Vậy nhưng anh ấy thương em lắm".
Đã chuẩn bị tinh thần đối phó nên khi giáp mặt, tôi bị bất ngờ đến hẫng đi. Tiếng cười ha ha và vẻ vồ vập thái quá của ông bỗng gây ra một tác dụng ngược, thay vì mừng vui, tôi thấy lòng mình chùn lại. Tôi là người đàn ông đã có vợ một lần, trong khi Quỳnh chưa hề kết hôn, theo thói thường thì nhà gái đâu dễ đón nhận cuộc hôn nhân ấy, vậy mà....
- Cậu tính cưới ở đâu? Ở trên đó à, ừ được, tôi cho phép, khỏi bày biện ở đây làm gì.  
Nhà gái dễ dàng như thế thì càng thuận lợi cho tôi, nhưng không hiểu sao tôi không mừng mà nản. Tôi thấy rõ ý định của ông anh: chỉ mong cô em gái sớm lấy chồng cho xong.
Nói chung đàn ông, dù là týp đàn ông ít tham vọng như tôi, không ai ưa những chiến thắng dễ dàng. Bỗng nhiên tôi cụt hứng. Những xúc cảm lãng mạn vừa khơi gợi trong tôi dường như xẹp xuống, thay vào đó là sự e dè, ngần ngại. Mặc dù Quỳnh thì vẫn là Quỳnh như tôi đã biết, chẳng có gì khác. Mùa hoa quỳ đã qua, khi tôi trở lại căn nhà nhỏ trên cao nguyên thì nàng đang nhặt những lá héo ra khỏi lùm cây rậm rạp. Bỗng dưng tôi thấy tiếc. Tiếc cái gì không rõ. Có lẽ là một chút men say vừa dấy lên đã tan. Hai chúng tôi ngồi đối diện qua chiếc bàn song mây, dáng vẻ Quỳnh hiền hậu và nghiêm túc, có lẽ tôi cũng nghiêm túc không kém. Buồn cười thật, thế này thì chẳng có vẻ gì là một cặp uyên ương sắp kết hôn. Tuy vậy, tôi cũng lấy quyền một vị hôn phu để vòi vĩnh tí chút:
- Trưa nay anh ở lại ăn cơm nhé!  
Quỳnh cho tôi ăn món bún bò Huế, không quên thêm vào một tí vị ngọt, bớt đi một tí vị cay cho hợp với khẩu vị miền của tôi. Có tiếng chim bồ câu gù gù ở mé hiên nhà. Cảm giác tôi bỗng dịu lại, êm đềm. Tôi tự nhủ mình còn đòi gì nữa, một người vợ hiền hậu, một ngôi nhà yên ấm, một cuộc sống an lành được những người chung quanh vun vén. Cái gọi là tình yêu tuyệt đối phải chăng cũng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các nhà tiểu thuyết? Tôi đã qua cái tuổi viễn vông rồi, giờ đây với tôi hạnh phúc có nghĩa giản dị là một cuộc sống chung bình yên.  
Ăn xong món tráng miệng, tôi hút thuốc, đọc báo rồi tháo giày, tất định đi nghỉ. Quỳnh dọn hết chén bát xuống bếp rồi trở lên, cầm chiếc khăn bông lớn:
- Để Quỳnh lau yên xe cho anh rồi hãy về, xe để ngoài hiên ướt cả. 
Vậy là ý nàng không muốn tôi ở lại. Tôi lại mang tất, xỏ giày. Ngước nhìn lên, lưng chừng vách, mười con thú bông đang nhìn xuống. Hai mươi con mắt nhìn tôi. Con thỏ hồng thơ ngây. Con nai vàng khờ khạo. Con sóc nâu trân trối nhìn, như muốn bảo: Đây là chỗ của tôi, chỗ của tôi.
Quỳnh trở vào, bắt gặp tôi đang nhìn trừng trừng vào quá khứ của nàng. Lầm lì, tôi bảo:
- Mình sắp cưới nhau rồi mà.
Quỳnh điềm đạm trả lời:
- Em biết rồi. Làm sao đi vào chặng đường mới với hành trang cũ được.
- Vậy thì... ?!
- Nhưng vứt đi thì không đành. Thật đấy. Anh trách, em cũng chẳng biết làm sao.
"Tùy em thôi." Tôi nói, giận dỗi đứng dậy. Quỳnh chợt bật cười, chạy theo níu tôi lại, vẻ như muốn dàn hòa:
- Anh hiểu lầm rồi. Em không vứt nhưng cũng đâu có giữ lại. Khi nào cưới, có người lên đây, em sẽ gửi hết về dưới đó.  
Tôi nghĩ thầm trong bụng: "Gì mà nhiêu khê thế, đem ra ngoài vực ném cả xuống là xong". Nhưng tôi không đủ thô bạo để nói được như thế, cũng không đủ bồng bột nồng nàn để liều mạng tự tay ném tan tác cái sở thú nhỏ xinh xinh kia. Đành phải nhượng bộ nàng thôi, bởi vì nàng cũng đang nhượng bộ tôi: Lẽ nào nàng không sợ cô độc, sợ những thằng say xỉn liên tục quấy rầy, sợ cái danh xưng "bà cô" đang chờ gắn vào số phận nàng?

Sau nhiều lần chuyển, áo xống và đồ dùng của tôi đã về hết nhà Quỳnh. Ở trụ sở Hội, mỗi đêm nằm quấn mình trong chăn, tôi bỗng cảm thấy mình như con nhộng nằm trong chiếc kén rỗng, đã sẵn sàng phá vỡ kén để chui ra.
Còn những lúc đến nhà Quỳnh tôi lại có cảm giác như mình là kẻ lấn chiếm. Cái giá áo, cái tủ sách, giàn vi tính của tôi cứ từng món, từng món một tiếp theo nhau chen vào những góc trống trong nhà Quỳnh. Một buổi trưa tôi đến ăn cơm, thấy lũ thú bông đủ màu của nàng đã rời tấm giá gỗ ở lưng chừng vách. Thay vào chỗ của chúng là những cuốn sách của tôi. Khỏi phải nói, chẳng có hình ảnh nào làm tôi hài lòng hơn nữa. Cuộc lấn chiếm của tôi đã hoàn tất. Lũ thú bông lại bồng bế nhau vào nằm trong một cái thùng giấy to giữa sàn - Chính là cái thùng ngày nào đã đưa chúng đến đây. Tôi đến gần. Miệng thùng chật chội chưa đóng lại, một con gấu trắng như tuyết thò đầu ra nhìn tôi, đôi mắt buồn thiu. Gài vào cổ nó là con lừa khù khờ màu xanh dương, cái mõm màu tím nhe ra như đe dọa, như tự vệ... Tôi bảo: "Để anh giúp em một tay". Tôi đè mạnh cả bầy thú xuống để đậy miệng thùng.
Quỳnh nhăn nhó, trông mắt nàng tôi đoán chừng nàng đang nghe cả bầy thú bông đang kêu thét lên, đau đớn. Nàng nắm lấy tay tôi:
- Thôi anh, cứ để đó cho Quỳnh. Chiều ni em gái Quỳnh lên đây rồi. Nếu túi xách lớn thì cũng không cần phải đóng thùng làm chi. Có lẽ nàng hy vọng rằng nằm trong một cái túi mềm, tụi thú bông sẽ dễ chịu hơn. Thôi, mặc kệ nàng, tôi bỏ đi xuống bếp, lấy búa, đinh ra đóng thêm những cái đinh trên vách, treo vào đấy những bức tranh mới. Ít ra, cảnh tượng mới sẽ nhắc Quỳnh nhớ ra, mình đã quyết tâm bước vào một chặng đời khác. 
Em gái Quỳnh không giống chị cho lắm, có thể nói là rất khác. Người cao, gầy, dài ngoằng, hơi lộc ngộc. Chỉ có đôi mắt là giống Quỳnh, to và sâu long lanh. Cô ta mang lên thêm hai con thú bông nữa. Một con khỉ và một con khủng long, vẻ mặt quằn quại. Tôi nhớ ra, Quỳnh lên đây đã hai năm. Phải chăng hai con thú này đến từ người đàn ông tên Minh, vẫn tiếp tục mua cho nàng vào ngày sinh nhật, dù nàng không về nữa? Phải chăng em gái nàng là sứ giả của người đàn ông giấu mặt? Ruột gan tôi bỗng cồn cào vì những dự cảm chẳng lành... Trong bữa cơm tôi gượng gạo hỏi thăm và làm thân với cô em vợ nhưng chỉ nghe những câu trả lời nhát gừng. Không hiểu hai người đã nói gì với nhau trước khi tôi đến, chỉ biết giờ này mắt cô em lầm lì đầy bóng tối, còn mắt Quỳnh thì đỏ hoe. Chợt nhớ đến ông anh vợ "quyền huynh thế phụ" đã gặp ở Huế, tôi thầm nghĩ: "Gia đình Quỳnh toàn những người kỳ lạ".  

Chiều ấy ở văn phòng Hội, tôi ngồi thừ ra, mân mê mấy gốc râu.
Phi Phi, cô kế toán của Hội trêu:
- Còn hai hôm nữa cưới vợ rồi, mừng quá hay sao mà ngẩn cả người ra vậy, ông anh?
Tôi thở dài:
- Không biết nữa, sao mình thấy lo lo.
- Lo cái gì, chị Quỳnh hiền và dễ thương như vậy, anh vớ bở lắm rồi.
- Ừ, nhưng mình đã biết gì nhiều về cô ấy đâu.
- Kệ đi anh, có nhắm mắt nhắm mũi một chút mới yêu nhau được. Tỉnh táo quá thì ai mà dám yêu nhau, lấy nhau.  
Tôi lại thấy vững tâm. Dù sao đi nữa, giấy đăng ký kết hôn đã xong. Đạn đã lên nòng rồi, gạo cũng sắp thành cơm. Bằng giá nào tôi cũng không muốn ăn cơm bụi bà Rơi thêm một ngày nào nữa.
Ông anh vợ xuống xe, trong đám đông người ông không lẫn vào đâu được bởi ông nổi bật lên với khuôn mặt vuông vức thô tháp và đôi lông mày chổi sể. Thấy tôi ông vẫy tay, mặt hể hả lạ lùng. Mà cũng phải, đi dự đám cưới em gái, ai mà không vui. "Chuẩn bị xong cả chưa?". Hỏi xong, như thói quen ông cười ha ha một lúc, tràng cười không có ý nghĩa gì, như một loại phản xạ. "Xong cả rồi anh, chỉ chờ đến giờ mở sâm banh nữa thôi".  
Tôi đưa ông về nhà Quỳnh. Thì ra hai năm rồi từ lúc Quỳnh lên đây ông chưa hề có dịp lên thăm em gái. Đẩy cánh cổng gỗ thông vừa được sơn quét lại, ông liếc nhìn một vòng ngôi vườn xanh um gật gù: - Được, được lắm... Bây giờ chắc nó mới biết ơn tôi hồi đó đã một hai bắt nó đi xa.

Nhà khóa cửa. Lạ thật, hai chị em đi đâu? Quỳnh biết thừa là tôi sẽ đưa ông anh về giờ này mà. Mâm cơm đã chuẩn bị sẵn, nồi xúp còn nóng trên bệ bếp, một chai whisky nằm ngay ngắn trên bàn, thứ dành riêng cho hai người đàn ông chúng tôi... Trong khi ông anh tắm rửa và thay áo, tôi ngồi một mình, nhìn quanh, chợt thấy căn phòng hình như là lạ...
"Quái, đã dặn trước rồi, sao hai chị em lại còn đi đâu?"
- Hai chị em? Ông anh Quỳnh ngạc nhiên.
- Thì cô Út...
"Tụi tôi có cô em nào nữa đâu? Hay là... Thôi rồi, hay là con Xuân Minh?".  
Tôi ngẩn người. Ông anh lật trong sổ tay, lôi ra một tấm hình chụp nhiều người, trong đó có một cô gái cao, gầy, dài ngoằng, với đôi mắt to đen. Trên khuôn mặt cô gái, có ai dùng bút bi đỏ gạch một dấu chéo thật to, như đánh dấu tội phạm. - Trời ơi, con Minh! Hai đứa nó theo nhau từ thời còn đi học. Buộc lòng tôi phải tống con Quỳnh lên đây để cách ly. Ai ngờ nó lại tìm lên tận đây.
Tôi ngồi lặng. Nhìn kỹ mâm cơm, đúng là Quỳnh chỉ đặt hai cái bát, hai đôi đũa. Không có Minh và Quỳnh. Họ đã quyết định đi, đi đâu? Tôi không biết. Lũ thú bông cũng đi cùng với họ, mười hai con thú, mười hai năm, mười hai ngày sinh nhật. Một lá thư nằm lấp ló dưới mâm cơm: "Anh Tùng. Quỳnh xin lỗi anh. Quỳnh cũng mong sống bình yên, nhưng rồi không thể..."
"Vô lý! Vô lý đến thế là cùng!" Ông anh vợ hụt của tôi gầm gừ, tức giận muốn phát điên. "Đồ khốn nạn! Tùng à, cậu đừng buồn, thế nào tôi cũng kiếm cho ra chúng nó, tôi vặn cổ con kia, đem vợ cậu về cho cậu. Yên tâm đi!".  
Tôi ngồi thừ trên ghế mây nhìn qua cửa sổ. Ông anh Quỳnh lắc lắc người tôi: "Thế bây giờ... Cậu tính sao?". Người đàn ông bặm trợn, hung hăng ấy bỗng rụt rè, thiểu não, hình như ông xem tôi là cái phao cứu sinh cho gia đình ông, và rụng rời khi thấy nó sắp vuột mất.
Tôi lắc đầu. Mơ hồ, tôi nghĩ đến Quỳnh, đến Minh, đến những con thú bông với đôi mắt khắc khoải câm lặng. Có tiếng gọi nào trong ánh mắt ấy, tôi không rõ, một tiếng gọi tha thiết và nung nấu từ trong bản thể đã khiến họ chấp nhận bước lên con đường đầy bất an và đau đớn. Và tôi, dù không hiểu hết điều bí ẩn, cũng chẳng bao giờ đủ nhẫn tâm làm họ đau đớn thêm.  

Thôi, để Quỳnh đi. Nàng cần một không gian rộng hơn để sắp đặt thứ hạnh phúc ngoại khổ của nàng. Tiến đến bên cửa sổ, tôi nhìn xuống con dốc xa, chìm trong sương muối lạnh giá. Gió cao nguyên cứ tràn qua, một đi không trở lại.  
Gió về nơi gió phải đến. Trước mắt tôi, những rặng quỳ không hoa cứ mãi oằn mình vươn về phía lũng sâu.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 614
Join date : 13/03/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeMon Aug 05, 2019 10:32 am

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 134732

Mưa đời sau
- Truyện Ngắn Trần Thùy Mai


Những chiều đầu hè tôi thường ngồi một mình trong sân vắng. Lúc hoàng hôn xuống tiếng ễnh ương ran lên như giàn hợp xướng của ao hồ. Chu thường về muộn, buổi chiều anh đi uống với bạn. Từ lúc Nhím đi, chỉ còn tôi với những khóm tầm xuân đầy hoa tím mà ngày nào con bé đã trồng. Đã đi xa mấy năm, mỗi lần email về cho tôi, nó luôn nhắc: Mẹ ơi, nhớ tưới giùm con những cây tầm xuân.  
Từ năm 40 tuổi, những lúc ngồi dựa vào gốc cây bạch mai nhìn ra hồ, tôi thường thấy những ảnh ảo hiện ra, lôi kéo tâm trí tôi. Tôi lại thấy Nhím khi còn nhỏ, đi học về dưới mưa phùn mùa xuân. Tôi mắng con: "Sao con không mặc áo mưa". Nhím nũng nịu: "Con thích cho tóc ướt". Và, mười lần như một, con bé ào vào, thấm khuôn mặt lấm tấm nước vào áo tôi. Hai mẹ con cười rúc rích...  

Rồi trí nhớ tôi lùi xa hơn, tôi thấy lại Tuấn dưới những tàn cây muối. Tôi đi học về trong chiếc áo dài trắng, tóc và má lấm tấm mưa. Tuấn hỏi: "Em quên đem áo à? Anh đã dặn trăm lần". Tôi vịn vai Tuấn, nhón chân vênh mặt gần mũi anh: "Anh không thấy mưa thơm sao?" Tuấn cười, anh dúi mặt tôi vào vai áo, vai anh thấm hết những giọt mưa. Cả hai đứa, bao giờ cũng thế, chẳng ai có lấy một mẩu mùi soa nhỏ...
Sau này khi Nhím lớn lên, có lần tôi kể về Tuấn. Nhím hỏi: "Về sau tại sao me lại gặp ba?" Tôi cố nhớ lại: "Có lẽ là do cái óc khoa bảng của người Huế. Cái nghiệp âm nhạc của chú Tuấn nó bấp bênh, ông ngoại con không yên lòng". Năm đó Nhím mới mười sáu tuổi, vậy mà nó nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ: "Sao thế, mẹ không có ý kiến riêng à?" "Ông bà đã sinh ra mẹ". "Nhưng chính mẹ mới sống cuộc đời của mẹ chứ".
Bây giờ thì có lẽ con gái tôi cũng định nói như thế, "Chính con sẽ sống cuộc đời con". Cuộc điện của Nhím từ Schiltigheim làm tôi choáng váng. Rồi sẽ nói thế nào với Chu? Mới tuần trước, khi nghe con gái đã tốt nghiệp sắp về nước, anh vui sướng, mãn nguyện bàn với tôi: “Dịp này vợ chồng ta sẽ tổ chức lễ bạc”. "Lễ bạc?", tôi ngạc nhiên. Có bao giờ Chu nhớ ngày kỷ niệm cưới đâu. Vả ngày ấy qua đã lâu, từ tháng 2 âm lịch. Chu bảo: "Cần gì đúng ngày". "Thế thì tổ chức để làm gì?", "Đi dự bao nhiêu lễ vàng lễ bạc của người ta, nay phải có cái gì đáp lại chứ. Mình lấy nhau hai mươi lăm năm, sống yên ổn, con cái thành đạt. Không đáng cho thiên hạ trông vào à?" Tôi ngần ngừ, thoáng mỏi mệt. Ngày xưa, hồi mới cưới, thầy bói bảo số chúng tôi khắc khẩu. Hai mươi lăm năm chung sống, chưa bao giờ Chu và tôi cãi nhau quá hai câu. Thực ra lời tiên đoán không sai, chúng tôi khắc khẩu trong lặng lẽ.
"Con nhớ hầu như ba mẹ chỉ cãi nhau một lần, lúc con sắp đi". Năm ấy là năm cuộc sống của tôi hoàn toàn đảo lộn. Trong một đêm văn nghệ sinh viên, Nhím gặp Kim, nhân viên của một hội nghiên cứu châu Á ở Pháp. Kim bảo: "Cô là một tay piano đầy triển vọng. Cô muốn sang Pháp học nhạc không? Tôi sẽ giúp cô". "Với điều kiện?" "Tôi đang tìm hiểu về nhạc Việt. Cô sẽ ký một hợp đồng với Archipel Adigo, theo đó cô phụ tá cho tôi. Bằng cách đó cô sẽ có tiền, có chỗ ăn ở và... ". Nhím nhăn mặt: "Sợ không đủ khả năng". "Xưa nay tôi chưa đánh giá sai bao giờ. Vả lại... ". Kim nói một câu làm Nhím quyết định: "Vả lại, khả năng đến sau, cơ hội đến trước".

Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.
Chu bứt tóc: "Tốn bao nhiêu công sức nó mới thi đậu vào trường Y. Sao bây giờ thả mồi bắt bóng?" Anh giận điên khi thấy tôi năn nỉ cho Nhím. "Bà cứ tưởng đi Tây là sướng sao? Phiêu lưu!". Chu nguyền rủa Kim như người ta nguyền rủa quỷ sứ. "Bao giờ dân xứ này mới bỏ được hội chứng mê Việt kiều? Mới nghe hú một tiếng, thế là bỏ tất cả chạy theo nó". Tôi không biết làm sao giải thích cho anh hiểu, không phải vì Kim mà Nhím ra đi. Tiếng gọi mà Nhím nghe thấy không phải từ một người đàn ông, nó đã bắt nguồn từ những chiều yên tĩnh xa xưa, khi Nhím còn rất nhỏ, học bấm những gam đầu tiên trong hiên vắng, có tôi luôn ngồi bên, lắng nghe. Chu bảo: "Học chơi cho biết thôi, đừng nên đam mê. Cái gien đàn ca này, con giống ai?" Tôi biết. Nhím cao dong dỏng, đến mười chín tuổi mà thân hình còn dài ngoằng chưa nẩy nở, nhưng con bé có đôi mắt to mơ mộng và cái nhìn như lửa cháy. Thân thể, thịt da nó là của Chu, nhưng đôi mắt và tâm hồn con bé là của tôi, nó khao khát những gì tôi khao khát.
Khi Nhím ra sân bay, Chu không đi tiễn. Một giờ trước khi lên đường, con bé bỗng ngã lòng: "Mẹ ơi, con không đi nữa". Một giờ đồng hồ sau Nhím đã nín khóc: "Con nhớ lại rồi, không có ai dễ thuyết phục như ba. Mẹ nhớ giúp con, bảo rằng con rất yêu ba, con sẽ về". Con bé bắt đầu tươi lên: "Bao giờ cũng thế, con sợ ba nhưng ba thì sợ mẹ". Tôi lườm con và tiếp lời: "Còn mẹ thì lại sợ con".
Khi tôi từ sân bay về, Chu đang khóc. Anh cảm thấy bất lực, hụt hẫng, anh nuôi nấng một con sơn ca mà chưa bao giờ kịp nghĩ đến ngày nó sẽ vuột bay đi. Tôi dỗ dành anh: "Nhím rất yêu anh, nó sẽ về". Chu lắc đầu: "Nếu nó yêu tôi thì đã nghe lời tôi".

Nhím đi rồi, khoảng trống giữa tôi và Chu bỗng như vô tận. Anh luôn nói: "Mình đã mất đứa con". Tôi không cảm thấy mất con, mà thấy mình đã mất mình...
Nhím lên Paris, nạp đơn thi vào nhạc viện. Con bé viết thư về: "Con mới đàn thử cho thầy nghe lần đầu, thầy lắng nghe rất kỹ rồi khen "Joli". Mẹ đừng ngạc nhiên, đó là thầy khen tiếng đàn, chứ không phải khen con". Tôi khấp khởi mừng, trong khi Chu vẫn hy vọng con sẽ bỏ cuộc. Anh bảo: "Từ nhỏ nó đã bao giờ có đến một ngày chịu cực đâu". Nhưng rồi Nhím thi đậu, được học bổng của nhạc viện. Chu tuyệt vọng. Con gái sẽ không về.
Người quen đến thăm, ai nghe Nhím bỏ trường Y cũng chắt lưỡi tiếc rẻ. Chu càng đau hơn. Nhưng rồi những lời tiếc rẻ cũng thưa dần đi, nhất là khi phong trào du học rần rần nổi lên. Cuối cùng Chu cũng đã bị thuyết phục. Giờ đây đi đâu anh cũng khoe con gái anh tháo vát, can đảm. Anh thay đổi cả cách nhìn về Kim. "Nhím có nói gì với em về thằng Kim? Sao không thấy nó xin cưới?". Tôi bật cười: "Anh đào đâu ra cái ý nghĩ ấy? Giữa chúng nó chỉ có công việc". “Hừ, anh không tin". Lần này, Chu có lý. Cuối năm Nhím thư cho tôi: "Anh Kim ngỏ lời với con. Con bảo con không yêu, anh ấy trả lời y chang hồi nào: "Tình yêu đến sau, cơ hội đến trước". Con dị ứng, bảo: "Không giống như chuyện công việc. Bốn năm qua, tình yêu đã không đến thì mãi mãi sẽ không đến".

Tôi mỉm cười. Sao tôi lại đặt tên con là Nhím nhỉ? Nó luôn luôn xù lông. Ai có thể vuốt ve con Nhím ấy mà không bị thương? Ngày xưa, người chấm tử vi đã báo trước: cô bé này cao số. Tôi lo sợ e nó không lấy được chồng.  
Nhưng bây giờ, Nhím đã gọi điện cho tôi để xin kết hôn. Chú rể không phải là Kim, mà là một người đàn ông bốn mươi bảy tuổi... Giờ đây con người ấy đang ngồi trước mắt tôi. Theo lời Nhím, ông ta lớn hơn tôi hai tuổi. Tại sao Nhím lại không có mặt ở nhà khi ông ta đến? Con bé không muốn nhìn thấy sự lúng túng của cả tôi và cả ông ta? Cả Chu cũng không có mặt. "Anh mệt mỏi lắm rồi, vả lại chiều nay, anh có cuộc họp quan trọng". Anh thắt cà vạt và đi. "Nói con bé chọn đi, hoặc là cha mẹ hoặc là con người đó".
Tôi biết tính Nhím. Nó không phải là người không dám chọn lựa. Nhưng nó sẽ không chọn lựa, bởi với Nhím, thật điên rồ khi bi kịch hóa mọi chuyện. "Con yêu ba mẹ và con cũng yêu ông Lãm, hai điều đó không loại trừ nhau". Tôi giận dỗi hỏi con: "Trên đời hết đàn ông rồi sao?" Nhím mở to mắt như muốn soi thấu cả tim can tôi: "Mẹ đã biết, nhân loại rất đông nhưng chẳng có ai thay thế được ai".

Bây giờ, dưới gốc cây bạch mai hoa trắng, tôi ngồi đối diện với người khách lạ. Lặng yên một lúc, cuối cùng tôi đành thú nhận sự lúng túng: "Không biết gọi anh bằng gì". Người đàn ông không bối rối như tôi, anh ta mỉm cười chững chạc: "Chị đừng băn khoăn. Tiếng xưng hô chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài quan hệ". Anh ta tiếp lời: "Qua Thể Tú, tôi biết chị là người nhạy cảm. Thật đáng tiếc vì tôi đã làm chị buồn lo, nhưng không thể khác".
Thực kỳ lạ, ông ta lại là người an ủi tôi. Lớn hơn tôi hai tuổi nhưng trông ông trẻ hơn, vẻ đi đứng nói năng cũng nhanh nhẹn hơn. Tuy vậy cũng chỉ là một người đàn ông rất bình thường. Một người như thế mà con tôi phải đi hàng ngàn dặm mới gặp được sao? Tôi thấy xót.
"Tôi là thầy dạy của Thể Tú. Tôi sống ổn định nhưng không giàu có. Con người tôi, ngoài âm nhạc, chẳng có gì đáng nói. Cả đời tôi chưa hề quan tâm đến hôn nhân, rồi khi gặp Thể Tú, tất cả đều khác đi".
"Nhưng nó còn nhỏ quá". Tôi chỉ thốt ra được có thế và không cầm được nước mắt.
"Tôi đã nói với Thể Tú rồi, rằng tôi sẽ chết trước cô ấy rất lâu, không thể sống trăm năm cùng già như mong muốn của người Việt Nam mình... Nhưng chị là người sinh ra Thể Tú, chị cũng biết tính cô ấy".
“Tôi biết. Con tôi rất khác tôi. Nó sẽ lập lại mãi cái điều nó đã nói: Nếu phải chọn giữa một hạnh phúc mong manh và một bất hạnh vững bền, nên chọn cái gì hơn?

Trời âm u, chuyển mưa. Vài hạt nước rơi từ cao, làm rụng xuống giữa chúng tôi những cánh bạch mai trắng nõn. Vài giọt rơi xuống khu vườn, rồi cơn mưa sa xuống trên cây cỏ. Tôi đứng dậy đi vào hiên, ông Lãm đi sau tôi. Cả hai chúng tôi ngồi yên lặng.
"Mẹ ơi!". Nhím đã về, con bé đi vào, gọi tôi. Tóc và áo Nhím lấm tấm ướt, chắc trên đường về nó đã chạy đua với cơn mưa bóng mây.  
Tôi vội lau nước mắt, sợ con nhìn thấy. Bất giác tôi đưa mắt nhìn ông Lãm như cầu cứu, ông ta hiểu ngay, tiến đến trước Nhím, vóc dáng vững chãi của ông che khuất tôi. Ông ta lau tóc và áo cho con tôi, như tôi vẫn làm cho nó ngày xưa. "Em không bao giờ biết phòng xa" - giọng người đàn ông trầm và âu yếm. Nhím cười hồn nhiên: "Mưa mùa này rất hiền. Anh không thấy mưa thơm mùi cỏ cây sao?". Ngược với ảnh ảo về một Nhím trẻ thơ trong tôi, Nhím bên cạnh người đàn ông trông cao lớn, mảnh mai với gương mặt ửng hồng rạng rỡ. Con gái tôi đang sống trong mùa đẹp nhất của một đời, lúc mọi cảm xúc được khơi dậy với những khả năng kỳ lạ, khiến cơn mưa chợt có mùi thơm và màu trời buổi chiều cũng có độ sâu như tiếng nhạc.
Trời vẫn mưa, rất nhẹ. Tôi rùng mình. Cơn mưa vẫn muôn đời bao dung. Cơn mưa uyên ương một đời tôi đã quên, mong manh mà vĩnh cửu. 
 
Đêm xuống, khi chỉ còn mình Nhím với tôi, tôi lưỡng lự bảo con: "Nhím này, mẹ nghĩ rằng có lẽ... khi nói với ba, con nên nói giảm tuổi của ông Lãm xuống chừng mười tuổi. Ông ấy trẻ hơn tuổi nhiều mà". Nhím ôm lấy cổ tôi, reo lên: "Nghĩa là mẹ đã bằng lòng? Mẹ ơi, mẹ có tin con sẽ hạnh phúc không?". Tôi ngập ngừng không nói. "Thế tại sao mẹ chấp nhận?"
Tôi không biết. Có một lực hút mãnh liệt cứ kéo tôi về phía Nhím.
Đêm ấy, khi tôi vào phòng, Chu nằm khoanh trên giường với đôi mắt đỏ. Tôi bỗng thương anh. Anh luôn hụt hẫng trong mọi chuyện. "Thằng cha ấy bằng tuổi anh. Lố bịch quá, anh không thể nào chịu nổi". Tôi lạnh người. Nhím đã không nghe tôi, nó đã không nói dối. Vậy là gánh nặng trên vai tôi không hề giảm nhẹ. Nhím đã tin, cũng như mọi lần, tôi sẽ thuyết phục được Chu.
Chu quay quắt trông tội nghiệp. Tôi nhẹ nhàng xoa trán và lưng anh để anh dịu lại. Tôi đang phải thuyết phục anh, vì Nhím. Bỗng nhiên tôi thấy một cảm giác chán nản vu vơ. Cảm giác ấy, gần hai mươi lăm năm nay vẫn hiện ra trong tôi, mỗi khi chiều xuống, nhất là khi trời chuyển mưa, cơn mưa thơm nồng mùi cỏ cây.
Giờ đây, cũng với cảm giác ấy trong tim, tôi dự tính những gì mình sẽ nói. Tôi biết mình sẽ phải gợi cho Chu tiếp tục nghĩ đến dự định tổ chức lễ bạc, rồi việc thừa nhận Lãm trong ngày đó với tư cách chồng chưa cưới của Nhím. Một việc lố bịch mà Chu sợ hãi. Nhưng tôi phải vì Nhím. Phải vì Nhím mà vội vàng. Lãm bảo tôi: "Nếu Nhím ở lại Việt Nam sáu tháng nghĩa là tôi cũng sẽ thu xếp để về Việt Nam sáu tháng. Tôi biết có thể chúng tôi sẽ không ở bên nhau lâu dài, nên bao lâu còn có nhau chúng tôi sẽ không rời nhau".
Tôi đứng dậy vào góc phòng, lấy chiếc giá đèn bằng bạc. Chiếc giá đèn này là của Tuấn để lại cho tôi trước khi ra đi.
Tuấn là người không bao giờ đổi ý. Sau khi tôi nói lời tạm biệt, anh không hề quay lại. Bao nhiêu năm nay, tôi không rõ anh ở đâu, chỉ biết rằng anh đã để tôi sống bình yên với sự lựa chọn của mình. Hàng năm, chiếc giá nến này vẫn nằm trong góc, chỉ được cắm nến và thắp một lần vào đêm đầu năm dương lịch. Đây là lần ngoại lệ đầu tiên. 


Giữa đêm mưa, tôi cắm hai ngọn nến. Một ngọn để cầu cho niềm tin của Nhím và một ngọn cho sự bình yên cuối đời của tôi. Hình như những ngọn nến cũng có số phận, ngọn lửa của Nhím cháy bùng lên rực rỡ mà sao ngọn của tôi cứ leo lét bập bùng. Hơn hai mươi năm qua, tôi luôn mơ hồ nỗi sợ của người vượt trùng khơi trên chiếc tàu rệu rã, luôn nơm nớp lo một đợt sóng lớn ập tới, đập vỡ con tàu thành từng mảnh nát tan.
Chỉ vì may mắn mà sóng dữ đã không đến. Giờ đây tôi đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, được thời gian đóng dấu son chứng nhận. Nhưng chỉ mình tôi biết, thật ra con thuyền của tôi chưa cập bến bao giờ.  
Tôi nằm xuống bên Chu, cố hình dung ra bữa tiệc vui tươi của ngày lễ bạc.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 673
Join date : 25/04/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeFri Aug 09, 2019 4:56 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Y-nghia-hoa-thach-thao-11

Giông Mùa
- Truyện Ngắn Trần Thùy Mai


Một ngày trước đám cưới, anh tẩu thoát khỏi cô dâu trẻ, gõ cửa căn hộ của chị với một câu hỏi quyết liệt.
Chị hét lên "Không!". Anh quay đi, mười lăm phút sau quay lại với cái đầu trọc tếu: dù chị nói thế nào, anh cũng không mặc cái bộ veste mới cứng dành cho chú rể. Chị òa lên khóc rồi lau nước mắt, chấp nhận biến mình thành tấm bia chịu đạn.

Hai năm sau đó họ biến thành cái đích của mọi lời chửi rủa. Chị lớn hơn anh mười sáu tuổi, điều đó thách thức một định kiến khó dời chuyển trong tâm trí nhiều người, định kiến về trật tự. Lúc ấy, chị vừa là biên đạo vừa là vai nữ chính của nhiều điệu vũ. Suýt nữa tai tiếng đã làm chị phải chia tay với nhà hát, nếu bà vũ đoàn trưởng không khăng khăng rằng trong vũ đoàn không ai thay được chị.
Sau lễ Giáng sinh, anh đến ở hẳn trong căn hộ tầng hai của chị và lập tức ném hết các tặng vật của những người đàn ông quen chị vào lửa. (Ở đó có một lò sưởi nhỏ kiểu xưa, chị đã cố giữ lại sau nhiều lần sửa chữa căn phòng). Dù phản đối kịch liệt, cuối cùng chị cũng tha thứ.
Chiều cuối năm dương lịch, khi ra phố mua sắm về, chị thấy những bông hoa thạch thảo màu đỏ như một bó lửa cháy rực giữa gian phòng. Chị không tin ở mắt mình, vì ngoài màu vàng, tím và trắng, chị chưa hề biết hoa thạch thảo có thêm màu gì khác. Một tặng vật lãng mạn nhất, anh đem về cho chị sau mươi cây số xa thành phố, từ một hẻm núi mà anh đã khám phá nhờ những chuyến lang thang thời trai trẻ. Tối hôm đó chị pha hai ly cocktail đỏ, họ chúc nhau năm mới hạnh phúc, lặng lẽ, không một ai chứng kiến.
Và họ đã hạnh phúc. Một thứ hạnh phúc đầy thương tích, bởi dường như thế giới xung quanh không bao giờ để cho họ yên. Nhưng họ dần quen với những lời đàm tiếu, giống như dân du mục quen với cuộc sống lều trại. Người ta bảo đó là một cuộc tình không có tương lai. Cả chị cũng thế, khi chạm cốc mừng năm mới với anh, chị đã nghĩ: có thể sang năm, khi ngày đầu năm trở lại, thì anh đã ra đi.
Vì sống trong ý nghĩ sẽ sớm chia tay, những ám ảnh về tương lai đôi khi không khỏi làm chị buồn rầu. Chị hiểu rằng do tính hay xúc động mà mình đã hành động dại dột, rằng những người đàn bà khôn ngoan chỉ bông đùa các chàng trai ít tuổi, chứ không gắn bó cuộc đời với họ. Nhưng sau thời gian sống cùng anh, chị hiểu ra tại sao trước đây không thể hạnh phúc với những người đàn ông lớn hơn mình. Từ trong vô thức hình như chị dị ứng với các biểu hiện của oai quyền, có thể là do những ám ảnh về người cha cay nghiệt. Mấy mươi năm sau khi đã sống tự lập, thỉnh thoảng chị vẫn còn mơ thấy mình ở tuổi lên mười, quỳ trên đất, khóc nức nở trong tiếng quát mắng giận dữ. Khi tỉnh dậy, chị mừng rỡ vì nhớ ra mình đã lớn.
Từ đó, mỗi năm, đến ngày Tết Dương lịch, anh lại hái tặng chị một bó thạch thảo lớn màu đỏ thắm. Họ lại uống cocktail dâu và đến tối sẽ đến câu lạc bộ hội Múa. Họ có cảm giác năm tháng không qua đi: hoa thạch thảo vẫn nở trong khe núi, đêm đầu năm mới sẽ mãi mãi ngọt ngào. Niềm tin đó quả thật cũng có chút sức mạnh phép lạ: Nếp nhăn mờ ở cổ chị như dừng lại, không dài thêm, không sâu hơn, dường như sắp biến mất. Khi người ta hạnh phúc, người ta không cảm thấy mình đang trên đường đi đến cõi chết. Về sau, chị hiểu ra tại sao người xưa cho rằng ở trên trời thời gian trôi rất chậm, đến nỗi dưới trần gian đã ba năm thì trên ấy mới có ba ngày. Ý tưởng ấy khiến chị lao vào thiết kế một điệu vũ mới. Ngày như đêm, chị vùi đầu vào việc tập luyện và dàn dựng, tin chắc rằng khi xem Tìm lại Thiên đường của chị, bà vũ đoàn trưởng sẽ một lần nữa ôm hôn tác giả chùn chụt và nhắc đi nhắc lại: "Tôi đã bảo mà, chưa hề có ai thay được cô".

Sáu năm trôi qua. Chính chị cũng không ngờ, họ đã sống bên nhau chừng ấy năm, chừng ấy tháng, chừng ấy ngày, và giờ đây đã có thể nói là sẽ sống cùng nhau mãi mãi... Cả hai người đều cảm thấy mối quan hệ này rất giòn và dễ vỡ, nhất là khi phải luôn chịu sự va đập của thế giới quanh mình. Nhưng họ cũng dễ nhận ra: đôi khi những món đồ bằng pha lê, rực rỡ và mong manh như bọt nước, lại có tuổi thọ dài lâu hơn những vật cứng hơn nó rất nhiều, bởi chúng luôn được gượng nhẹ nâng niu.
Ngày vừa tẩu thoát khỏi đám cưới, anh bảo chị: từ khi bãi bỏ chế độ nô lệ, không có lệ người sở hữu người. Nhưng giờ đây anh bắt đầu nảy sinh ý muốn xác lập quyền sở hữu của anh. Anh không cho chị múa đôi với ai, không muốn chị về trễ nhiều, không muốn chị đi lưu diễn dài ngày. Anh mong ước chị sinh con, có con chị sẽ ngồi lâu hơn trong tổ ấm. Những dự tính của anh làm chị buồn rầu. Chị hàm ơn anh vì anh đã sống bên chị như một nguồn cảm hứng, chứ không phải là một ông chủ. Nhưng ngày gặp chị, anh là một chàng trai hai bốn tuổi, còn nay anh đã là một người đàn ông ở tuổi ba mươi.
Đêm ấy chị không ngủ được. Anh nằm yên, thở đều và mạnh, trán kê vào dưới vai chị. Khi ngủ mặt anh rất đẹp, không có vẻ cau có thấp thoáng của ban ngày. Nhưng chị không nhìn anh, chị ngoảnh mặt về phía cửa sổ, nhìn vầng trăng trơ trọi trên trời. Trăng đang từ tròn chuyển sang khuyết. Chị nghĩ: Vậy là trên thiên đường thời gian không đứng lại.

Cuối năm ấy, phóng xe về lại khe núi ngày trước, anh ngỡ ngàng. Một con đường thênh thang tráng nhựa chạy dọc sát khe núi. Người ta đã làm đường cao tốc nơi đây, biến một vùng hoang vu thành xa lộ. Nơi khe núi xưa, dãy quán hàng vừa mọc lên. Một cô bé ngồi nướng mực bên chậu than hồng, mùi thơm của biển lan tỏa trong không gian núi. "Hoa đỏ à, còn nhiều lắm bên kia khe". Cô bé dẫn anh đi, luồn lách theo những đường mòn đầy gai sau dãy đồi. Trên đường về, chợt tiếng sấm ầm ì vang lên trong mây. Cô bé kêu: "Mưa giông. Kỳ quá ha, sao mùa xuân mà có giông?". Một tiếng sét dữ dội cắt đứt lời cô bé. Cả hai cúi rạp xuống, chạy thi với cơn mưa. Nhưng cuối cùng mưa vẫn bắt kịp. Về đến quán bên đường, họ ướt sũng.
Bà chủ quán cười: "Giông sớm thiệt. Trời đất đảo lộn hết rồi". Cô bé thay áo sau bức màn, nói vọng ra: "Sớm chi nữa?". "Đầu xuân đã có giông, không sớm à?" Tiếng cười giòn tan lẫn trong tiếng áo ướt kéo qua da thịt: "Con đợi giông từ tháng năm tới chừ, trễ quá rồi". Anh cởi áo hơ bên chậu than hồng, tủm tỉm cười vì ý nghĩ ngộ nghĩnh của cô bé. Ừ, nếu đây là cơn giông của mùa hè năm trước thì quả là muộn lắm. Cô bé ngồi trước mặt anh, tóc rối, mảnh dẻ, ướt át. Trong một phút anh liên tưởng đến cô dâu bé bỏng mà anh đã bỏ lại năm xưa trong một cơn đam mê như bão. Ý tưởng của anh nhảy cóc từ kỷ niệm này sang kỷ niệm khác, cuối cùng là kỷ niệm về cái đầu trọc tếu. Anh bật cười. Một kỷ niệm lớn trong đời anh. Mưa đã tạnh, anh vội vã quay về với bó hoa dành cho phút giao thừa.

Chị chờ anh trong căn hộ ấm áp; chiếc áo mặc nhà hở vai lấm tấm hoa tím trắng làm chị có vẻ nhẹ nhõm tươi vui, nhưng nơi đáy mắt chị ẩn núp một nỗi hoang mang. Chiều hôm nay, chị đã bị cơn giông trái mùa cầm chân lại trên thềm nhà hát. Ngồi chờ mưa tạnh, bà vũ đoàn trưởng tâm sự với chị vài nỗi lo âu, rồi cả hai bỗng cao hứng rủ nhau gọi taxi đến thăm một nhà chiêm tinh nổi tiếng mới ghé qua thành phố. Trong không gian âm u của ngôi nhà rường cổ, nhà chiêm tinh nhìn lên khuôn mặt tươi tắn của chị, nói rằng khí sắc của chị đang báo điềm không tốt.
"Đâu có!". Chị phản đối. Chị đang cảm thấy rất hạnh phúc, chị làm việc hết sức mình, chị đang yêu và được yêu. Bàn tay gầy khô đưa ngọn nến trên bàn đến sát mặt chị: "Có vết đen mờ hiện ra nơi trán. Những ngôi sao của cô đang bị mây che, nguồn lực của cô đang giảm dần". Chị cười, không mấy tin.
"Một năm sau, tôi sẽ quay lại đây. Khi đó, nếu cô cần tôi giúp...". Ông ta vụt im bặt, những nếp nhăn trên mặt co rúm lại.
Đã bảy giờ tối, chị nôn nóng ra về. Chị trang hoàng lại bàn ăn, treo những chiếc rèm cửa mới, đặt sẵn bộ váy đẹp nhất lên giá áo. Đêm nay, lúc tiếng nhạc Happy New Year vang lên trên đường phố, anh sẽ cùng chị đến Câu lạc bộ hội Múa, như mọi năm. Bỗng nhiên chị hắt hơi dữ dội liền mấy cái. Một linh cảm mơ hồ đè nặng lên tim chị. Nhưng anh đã về, tay ôm bó thạch thảo ướt sũng. Chị cảm động. Dưới ánh nến, những nhánh hoa đọng nước trông rực rỡ hơn bao giờ hết.

Nhưng một năm sau đó đã trôi qua với âm điệu khác. Bà vũ đoàn trưởng vẫn tin yêu chị, những vở múa của chị vẫn được tán thưởng. Mối quan hệ với chàng trẻ tuổi lâu ngày đã thành quen trong mắt người xung quanh, không còn là một thách thức với xã hội nữa. Vũ khúc Tìm lại Thiên đường mỗi năm vẫn được tái hiện trong những chương trình lớn. Nhưng chị đau lòng, chị vốn nhạy cảm, không chịu nổi khi thấy nhiều học trò bỗng nhìn chị với ánh mắt khác đi. Những cô bé học trò ngày nào lúng túng, vụng về, nay đã trở thành những cô gái sắc sảo và xinh đẹp. Chị hiểu: Chị đã cản đường họ. "Chưa đến thời của họ đâu". Lời nói chắc nịch của bà vũ đoàn trưởng làm chị yên tâm, chị nỗ lực nhiều hơn nữa để chứng minh rằng mình xứng đáng. Càng đắm mình vào công việc, chị càng cần dựa vào anh, như cái cây cần tưới nước để đâm hoa trổ lá. Nhưng anh dường như ngấm ngầm bất mãn. Anh cảm thấy tổn thương vì chị không chịu lệ thuộc vào anh. Năm ấy là một năm đầy day dứt, giống như một ngày xấu trời trong mùa thu đẹp.
Cuối năm chị được mời dự lễ hội nơi một thành phố biển. Chị rủ anh cùng đi, nhưng anh từ chối. Thật ngạc nhiên, vì anh chưa bao giờ từ chối chị điều gì. "Anh chỉ muốn đón Tết Dương lịch như mọi năm". Lâu nay anh chuyển cách xưng hô từ gọi tên sang anh, em, chị thấy xưng hô như thế có phần ngược ngạo nhưng cũng chiều anh, như chiều theo sở thích khùng điên của một đứa trẻ.

Ước muốn có một đêm cuối năm mới mẻ với chuyến du lịch nơi xa đã không thành, vậy hãy tìm một cách khác thổi sinh khí vào những thói quen cũ... Ý nghĩ ấy làm chị nhớ tới lời dặn dò của nhà chiêm tinh: "Nguồn lực của chị đang giảm dần... Hãy thu lại những điện năng đã mất". Chiều hôm ấy chị một mình đến ngôi nhà rường trong khu thành cổ. Có tất cả ba gói nhỏ. Một gói bên ngoài ghi chữ "Gối". Gói này sẽ được đặt vào dưới chỗ kê đầu. Một gói ghi chữ "Tắm". Chất bột trong gói sẽ hòa vào nước tắm mỗi ngày của chị. Một gói ghi chữ "Ngải". Gói này sẽ hòa vào ly của anh. Chất bột trắng này sẽ như một cái xiềng êm ái mãi mãi buộc anh vào với chị. Nhà chiêm tinh dặn: "Không ai đủ mạnh để mãi mãi tin ở mình, chỉ có bùa thiêng là vô địch và vĩnh viễn".
Chiều cuối năm không mưa. Chị thay những chiếc vỏ gối mới rồi đi tắm, ngâm mình trong thứ nước thần kỳ; Anh không phải chỉ là tình yêu, anh là sự sống của chị, không có anh, chị sẽ không có những điệu múa, nghĩa là không còn gì hết: vẻ trẻ trung bên ngoài, sự nể nang của đồng nghiệp, lòng tin cậy của bà vũ đoàn trưởng... Chị muốn làm mọi cách để anh luôn là anh của một mùa đông cách đây bảy năm, chị sẽ có anh không phải chỉ để thương yêu, mà là để sinh tồn. Vì sự khao khát sinh tồn mà chị đã vô tình phản bội lại nguyên tắc của ngày đầu, nguyên tắc của Tự do.
Anh vẫn chưa về. Chị mắc sẵn chiếc áo vũ hội trên vách. Gói bột ngải hòa vào ly nước dâu đỏ óng ánh. Chị kiên nhẫn chờ, trong khi chiếc đồng hồ "Coucou" treo trên vách cứ vang lên từng tiếng tanh tách, tanh tách phát ra từ chiếc kim giây.

Sau này anh nghe những người hàng xóm kể lại: chị rời căn hộ vào khoảng 6 giờ chiều, tay xách vali, không chào ai cả nhưng đã ghé vào thăm bà bảo vệ nghèo có đứa con đau ốm, cho đứa bé một số tiền, rõ là chị có ý đi xa dài lâu. Đó là chuyện về sau anh mới biết, còn tối hôm ấy, thấy bàn tiệc đã sửa soạn sẵn, anh đoán rằng chị chỉ đi đâu một lát. Anh tự cắm bó hoa thạch thảo đỏ vào chiếc lọ sứ trên bàn rồi tìm cốc nước dâu thường lệ, nhưng cái ly lớn trên bàn rỗng không với chút cặn ở đáy ly, hình như có ai đã uống trước. Anh nhăn mặt, mở tủ lạnh tìm một cốc nước lọc. Trời càng tối anh càng băn khoăn, đây là đêm cuối năm đầu tiên chị bắt anh phải chờ. Cũng như chị, anh muốn thử thổi sinh khí vào những thói quen cũ: thay vì đến câu lạc bộ như mọi năm, anh định cùng chị dự giao thừa ở đại sảnh một khách sạn lớn trong thành phố. Người ta đã gửi anh hai vé với lời mời nhiệt tình. Vì đã lỡ hứa, giờ đây anh quá nóng lòng, chỉ lo đến trễ.
Mười giờ đêm. Anh nhảy bổ vào phòng tắm để thay áo. Chính lúc đó anh nhìn thấy chiếc áo vũ hội hàng năm của chị, cái dáng vắt vẻo như bị ruồng bỏ của nó khiến anh nhận ngay ra có gì đó bất thường. Anh chạy quanh hỏi những người hàng xóm, biết rằng chị đã ra ga.
Chuyện gì xảy ra vậy? Anh định chạy ra ga, nhưng đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ Coucou gõ vang lên. Nửa đêm rồi, năm cũ đã giã từ. Không còn thời gian nữa.
Vội vã lên xe, anh đến khách sạn một mình.

Tàu đã rời ga từ lâu. Chị ngồi yên, mắt mở tỉnh táo nhìn ra cửa sổ: những con đường, những ngã tư, những mái nhà. Rồi đồng trống mênh mông và những trụ điện xa xa ven con đường cao tốc chạy song song với đường tàu. Điện thoại trong túi áo trên ngực chị rung lên.
Tiếng của bà vũ đoàn trưởng. Cuộc giao lưu đầu năm mang lại nhiều cơ hội cho hoạt động vũ đoàn trong năm tới nên bà không muốn vắng chị. Nghe chị trả lời, bà thét lên: "Tôi đã bảo rồi, vẫn chưa ai thay thế cô được!". Chị cười, nước mắt trào ra. Không, đừng chui đầu xuống cát, đã đến lúc tôi phải đi rồi và cả bà, bà cũng phải đi rồi. Ngoài kia, dưới ánh trăng non, những nghĩa trang xa thành phố với những nấm mộ không hàng lối lũ lượt trải dài. Ở dưới đó là những con người đã từng không ai thay thế được. Ý nghĩ ấy làm chị mỉm cười lạnh lẽo, quyết định tắt hẳn máy trước khi cho vào túi.
Tối nay, khi chờ anh trở về, chị đã lấy chiếc áo dạ hội ra mặc thử và kinh hoàng nhận ra, chị không thể mặc vừa nó nữa! Chất bột trong nước tắm chẳng giúp được gì ngoài việc làm các vòng của chị bung phá nhanh hơn. Trong chốc lát chị nhận ra sự vô vọng. Cầm lấy ly nước dâu, chị chạy ra hiên, tưới nó xuống chậu cây...
Sau này vì đã đi rồi, chị không biết chiều hôm ấy mình đã thoát được một trọng tội. Những dây vạn niên thanh trồng trong chậu chẳng bao lâu đã úa vàng rồi héo khô, rễ chúng đã bị chất bột phù thủy làm cho chết úng giữa mùa xuân.

Giao thừa đêm ấy, anh một mình tiến vào đại sảnh của khách sạn. Vũ hội đã bắt đầu, những sắc áo lộng lẫy, những bó hoa rực rỡ đó đây, trong đó có rất nhiều thạch thảo đỏ. Từ lúc người ta xẻ đường lấn sát vào chân núi thì thạch thảo đỏ không còn là một phát hiện của riêng anh nữa, nó đã trở thành thời trang mới của những shop hoa trong thành phố. Màu đỏ rực rỡ và tê tái một thoáng làm buốt tim anh. Nhưng đúng lúc đó, một cô gái trẻ từ đám đông bước đến. Cô gái trẻ ở vũ đoàn, người đã gửi cặp vé cho anh tối nay. Cô đã thầm mong anh sẽ đến một mình. Giờ đây sự xuất hiện đơn độc của anh đối với cô thực đầy ý nghĩa, khiến cô xúc động muốn khóc. "Sao anh đến muộn thế, bản Paso khai mạc đã qua rồi. Nhưng không sao, vẫn còn bản Tango và bản Valse, anh sẽ dành cho em nhé?". Dù còn chìm trong nỗi u sầu, anh vẫn gật đầu, như không thể nào khác.
Vẻ nhiệt thành và thơ ngây của cô, đôi chân búp măng dưới tấm váy giản dị đột ngột làm bừng lên trong anh tiếng sấm, ánh chớp, tiếng vải ướt kéo qua da thịt: ấn tượng về cơn giông mùa xuân trong thung lũng.

Anh tiến thẳng vào giữa đại sảnh đông người. Giàn nhạc bắt đầu bản Tango. Anh quay lại, đối diện với thiếu nữ. Lúc ấy anh biết mình đã thực sự ra khỏi huyền thoại của một tuổi thơ nối dài. Một huyền thoại mà nhiều năm sau anh sẽ còn nhớ, nhưng giờ đây không thể không chấm dứt.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 614
Join date : 13/03/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeMon Aug 19, 2019 10:20 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 9k=

Thập Tự Hoa

- Trần Thùy Mai


Khi bước vào căn gác nhỏ, điều đầu tiên đập vào mắt anh là chiếc cửa sổ nhỏ xíu có vòm cong sát trên mái ngói. Căn gác đơn sơ không có vật gì đáng giá, trừ chiếc dương cầm khá cổ xưa, nơi cô bé học trò của anh loay hoay với các nốt nhạc.
“Chú Thắng biết không, mỗi vật trong nhà mẹ cháu đều đặt cho một cái tên. Cây đàn này là Suối, cái nệm kia là Êm Êm”. “Còn cái cửa sổ tí hon này là gì?”. “Mẹ cháu gọi nó là Mắt Bão”. Thắng nhìn qua khung cửa sổ nhưng anh chỉ thấy bầu trời bình an. Dáng vẻ cô bé khi bấm các phím đàn giống như nghịch vọc những hạt cườm hay vỏ ốc: lơ đãng, nghịch ngợm.
Đó là chuyện của hai năm trước, khi Thắng mới bắt đầu dạy nhạc nơi đây. Bây giờ bé Mi mười hai tuổi. Khuôn mặt đã thoáng ửng một vẻ đẹp digan với đôi mắt có lông nheo đen mướt và đôi môi dày thơ ngây. Ngược lại, người đàn bà mẹ đứa trẻ này dường như ngày một lặng lẽ, đằm thắm hơn, mặc những chiếc áo sẫm màu hơn. Rồi dường như Thắng chỉ còn nhìn thấy chị mặc một màu áo đen. Những chiếc áo đen cổ trái tim với cây thánh giá bạc dưới ngấn cổ xanh. Một người đàn bà cô quạnh, sống đạm bạc, lại dám mua đàn dương cầm và mời thầy về dạy cho con như một đại gia quý tộc. “Hồi nhỏ tôi không được học nên tôi trở thành người mù nhạc, vậy mà trớ trêu thay tôi lại thèm nghe nhạc vô cùng. Điều tâm nguyện của tôi là cậu làm sao giúp bé Mi sau này sung sướng hơn tôi”. Thắng hiểu vẻ bùi ngùi sau lời nói của người đàn bà: chị muốn con gái mình sẽ giàu có hơn chị bây giờ, nên đã chuẩn bị cho con đôi cánh để bay từ căn gác hẹp ra ngoài thế giới.

***

“Chú Thắng ơi, chú dạy cháu đàn bài này nghe. Cháu thích”.
Thắng nhìn theo ngón tay nhỏ trên trang sách đầy nốt nhạc. “Chú chưa dạy sao Mi biết mà thích?”
“Không phải Mi, mà mẹ. Thỉnh thoảng mẹ vẫn hát cho cháu nghe”.
Aventura, nghĩa là lãng du. Tự nhiên Thắng mỉm cười. Bài ca nói về những cuộc phiêu lưu, trong khi người đàn bà luôn tự giam mình trong một góc, bên cái khuôn dập tranh nho nhỏ. Chung quanh chị đầy những bức tranh lụa xinh xắn mà cứ hai tuần một lần, người buôn tranh lại đến nhận và trả cho người vẽ những đồng tiền bèo bọt. Có lần Thắng đi lên lăng Tự Đức và thấy những bức tranh bày bán la liệt bên cổng lăng. Nét chấm phá thật có duyên trong mắt những du khách chỉ đến một lần. Nhưng tại đây, trong căn gác này, bên lọ mực và khung dập ngổn ngang, trông chúng mang cái vẻ bùi ngùi và nhàm chán của sự mưu sinh.
“Đấy, cậu xem, lui tới vẫn thế, mục đồng và trâu, cô dâu và chú rể, Thiên Mụ và Tịnh Tâm. Tất cả là theo đơn đặt hàng, mỗi mẫu hàng ngàn bức y hệt nhau. Bây giờ tôi phát sợ vẽ, nhưng không thể ngừng lại.”
Người đàn bà lôi dưới hộc tủ ra một bức tranh cũ trên lụa. “Chỉ riêng cái này là tôi đã vẽ ra mà không bao giờ bán đi”. Trên nền trắng ngà giản đơn, một con mèo đang uốn mình, trong bụng là hai mảng âm dương màu xám lam và đỏ thẫm. “Tôi vẽ bức tranh này khi đang mang thai cháu. Tôi tuổi Mão, con mèo là tôi đó. Còn cháu chính là vũ trụ mà tôi mang trong lòng”. Khi người đàn bà nói, trên khuôn mặt thấp thoáng vài nét hằn của thời gian là nét cười buồn trẻ thơ khiến mũi Thắng chợt cay cay. Anh cảm thấy sợ và vội vã xua đi cái cảm giác yếu đuối đó đi bằng cách quay về chỗ của mình bên đứa trẻ.
Bé Mi quay sang ôm lấy vai anh, thì thầm: “Chú Thắng ơi, có chuyện này chú phải giúp cháu”. “Chuyện gì?” “Bí mật, cháu sẽ nói, nhưng chú phải hứa sẽ nhận lời”. “Cái gì? Có phải là chuyện liên quan đến bài Aventura không?”. Bé Mi phá ra cười: “Sao chú biết?”.
Thắng làm ra vẻ ghê gớm:
- Tại vì, chú có tài đọc được ý nghĩ của người khác.

***

Buổi chiều, người đàn bà đi bộ đến trường tiểu học. Hai mẹ con dắt tay nhau đi thong thả ngược con dốc cao. Gió chiều mơn man mái tóc của đứa trẻ.
- Mẹ ơi, hôm nay mẹ vẽ những gì?
- Sông Hương và núi Ngự, Thiên Mụ và Tịnh Tâm, với mẹ ngày nào chẳng thế.
Người đàn bà trả lời, như tự chế giễu mình. Những công thức của sinh kế, đó là vòng tròn khép kín khóa chặt cuộc đời và tâm hồn chị.
- Sao mẹ không vẽ biển? Con chưa bao giờ thấy biển. Các bạn con bảo là biển đẹp và rộng vô cùng.
- Khi nào mẹ cũng nghĩ về biển, nhưng chẳng có ai đặt hàng tranh vẽ biển. Mẹ biết làm sao được.
- Có phải hiện giờ ba con đang đi ngoài biển không? Trên một chiếc thuyền thật lớn có lá buồm xanh?
Người đàn bà gật đầu. “Sao mẹ không cho con đi với ba? Con thích đi xa, thật nhiều nơi. Bao giờ thì ba lại về hở mẹ?”
“Bao giờ...” Người mẹ lúng túng. Chị tìm cách lảng tránh câu hỏi của con. “Bé Mi à, con có biết ngày mai là ngày gì không?” Bé Mi sung sướng reo lên:
- Mẹ ơi, con nhớ. Mai là sinh nhật của mẹ. Con chờ từ lâu rồi, mẹ biết không?
Hai mẹ con đã lên hết chiếc cầu thang gỗ và giờ này đang cùng ngã lăn trên tấm nệm có tên là Êm Êm. Người mẹ nằm ôm con, mắt nhìn lên cao, cười mãn nguyện. Đã lâu rồi, không ai nhớ ngày sinh của chị. Nhưng bây giờ, con chị đã lớn, đã biết yêu chị, và chị dường như không lẻ loi. Đôi mắt chị mơ màng dạo quanh căn gác, đậu lại trên bó hoa khô trên ngăn tủ. Bó hoa đã nằm đấy từ lâu rất lâu, trong chiếc bình gốm cũ, những chiếc lá cứng xốp và hoe vàng, còn hoa thì giòn và khô như những phiến đá mỏng. Tuy vậy, vẫn là những dáng hình của hoa, đẹp và khô lạnh.

Đó là bó hoa người đàn ông đã đem đến cho chị vào ngày sinh nhật thứ hai mươi sáu. Người đàn ông đã ra đi, không phải trên một con tàu biển như nàng đã kể với đứa bé, mà trên những hoang tưởng về tương lai. Từ ngày đó nàng biết rằng trong tình yêu đàn ông rất khác đàn bà. Đàn ông khởi đầu một cách điên cuồng rồi dịu đi trong hèn nhát, còn đàn bà càng lúc càng giam mình trong kỷ niệm, ngu dại và xót xa.
Bây giờ bó hoa khô đã nằm trên bàn tiệc nhỏ. Trên chiếc bàn vuông phủ khăn trắng, người đàn bà đặt đĩa bánh, đĩa trái cây, món xôi xéo và bánh gấc mà con nàng ưa thích. Giữa những màu xanh đỏ tươi sáng của món ăn, bó hoa khẳng khiu như bàn tay gầy guộc của quá khứ. “Mẹ ơi, con không thích”. Đứa bé nhăn mặt nũng nịu, không muốn năm nào cũng nhìn mãi một vẻ đẹp khô gầy. Người mẹ an ủi con:
- Những vật cũ đều có linh hồn, mẹ rất sợ phải vứt chúng đi.
Đứa bé không hiểu câu trả lời của mẹ, chỉ biết rằng những sắc màu thắm tươi, nhất định hấp dẫn và dễ thương hơn màu nâu khô của dĩ vãng. Ngọ nguậy một cách bất mãn trên chiếc ghế nhỏ, bé Mi nhìn quanh như tìm kiếm vô vọng một điều gì, rồi quay về khung cửa và đôi mắt digan bướng bỉnh chợt mở to ra, sững sờ hạnh phúc. Thắng đang ở trên ngưỡng cửa, trong tay anh có một bó hồng đỏ tươi.
“Ôi, tuyệt vời!” Bé Mi hét lên, vui sướng, ôm choàng lấy cổ Thắng. “Chúc mừng ngày sinh của chị”. Người đàn bà cầm lấy tặng vật bất ngờ, cố giấu mặt mình sau mùi thơm của những đóa hoa.

Chiều xuống trong niềm vui thơ ngây của đứa trẻ. Đối với bé Mi, một bữa tiệc nhỏ như thế này là một dịp lễ hội trong chuỗi ngày tháng lúc nào cũng mờ mờ như bóng mây. “Mẹ ơi, hôm nay con sẽ tặng mẹ một món quà. Chú Thắng ơi, giúp cháu đi. Con sẽ đang cho mẹ nghe bài Aventura, bài mà mẹ thích”.
Anventura, nghĩa là lãng du. Người đàn bà mỉm cười nhìn Thắng: con chị đã muốn chị ra đi, đi khỏi cuộc sống nhỏ hẹp này.
Nhưng bản đàn khó lắm mà đứa bé còn non dại. Thắng ngồi bên cạnh đứa bé, rồi cuối cùng anh xốc bé lên lòng mình, hai tay anh cầm lấy hai bàn tay bé nhỏ. Tiếng đàn và tiếng cười trong veo. Aventura. Những tiếng nhạc vươn dài, xuyên qua Mắt Bão. Cơn mưa và màn đêm cùng ập xuống. Người đàn bà quay đi rồi trở lại với ngọn đèn cầy trên chiếc giá nến cũ. Đứa bé đã thiu thiu ngủ trong lòng chàng trai. Anh đặt bé xuống giường và nhìn khuôn mặt thiên thần bình yên dưới ánh nến.
Người đàn bà ngồi xuống. Màu áo đen của nàng làm nổi bật những chấm hoa hồng đỏ. Trên cổ nàng, một chiếc thánh giá bạc. Dường như cảm thấy ánh mắt chàng trai đậu trên ngực áo nàng, nàng nói, vừa như giải thích, vừa như thổ lộ:
- Tôi không phải là giáo dân, nhưng tôi thường nghĩ rằng mỗi đời người đều có một cây thập tự phải mang.
- Đó là tại chị. Chị đóng đinh đời chị vào dĩ vãng. Còn tôi, tôi thích nghĩ tới tương lai.
- Bởi vì cậu còn quá trẻ. Còn tôi, tôi đã sống như người ẩn tu từ lâu lắm rồi, hình như ngày hôm nay tôi đang từ trên núi cao đi xuống giữa phố.
Nàng vừa nói vừa đưa mắt nhìn bức tranh con mèo mang vũ trụ trong lòng. Trong ánh nến, dường như nó đang sống lại, với đôi mắt long lanh ướt. Đôi mắt nàng đã long lanh ướt như thế vào cái ngày người đàn ông đặt cả vũ trụ vào lòng nàng rồi ra đi. Đó là một mùa hè chói rực lộng lẫy trên những triền cát vàng tươi dưới trời xanh. “Em nhìn đi, không nơi đâu có những cồn cát nổi sóng như ở đây”. Người đàn ông bảo nàng. Nàng nhìn, và mãi mãi thu vào trí nhớ những gợn cát uốn lượn hình sóng nước: dấu vết của gió và của năm tháng trên một vùng hình như khô nhất thế gian. Nàng đã đem cả bó hoa ngày sinh nhật vào căn lều nhỏ. Bây giờ, trong những cánh hoa đã chết vẫn còn dư âm của hơi thở, những lời thì thầm, và cát.
Hồi ức của người đàn bà nhỏ giọt, nhỏ giọt như những hạt nước, thấm qua lời kể trên đôi môi khô, mỏng manh, đôi mắt nhắm nghiền như mắt những người đang cầu kinh trong thánh đường. Đêm im lặng trong tiếng mưa. Thắng khẽ lay người đàn bà như muốn thức tỉnh nàng từ giấc mộng, nhưng nàng mở mắt ra mà không tỉnh, nàng không nhìn thấy anh, nàng đang ở trên những sóng cát.
“Anh đừng đi”. Nàng nói như khẩn cầu, đôi môi lạnh run rẩy. Hai tay nàng nâng niu âu yếm phủi những hạt cát lấm lem tưởng tượng trên người đàn ông đang cúi xuống. Thắng định gỡ tay nàng, nhưng anh không thể. Anh khóc. Trong tay anh, một thân thể ấm mềm như con mèo âm dương uốn mình trong tranh. Con mèo có đôi mắt long lanh nhắm nghiền mê man hạnh phúc. Còn anh, anh đang cố sức giật nàng ra khỏi thập giá.
Aventura. Tiếng đàn câm im lặng thổn thức dập dềnh giữa hai lồng ngực. Bên ngoài khung cửa sổ, gió thổi da diết trên những vòm cây. Gió thổi hoài, xuyên suốt cả đời người.
Sớm hôm sau, đứa bé tỉnh giấc. Cơn mưa đã dứt, ngày lễ hội đã qua. Bé dụi mắt và kêu thét lên khi thấy mẹ đang nghiêng người qua khung cửa nhỏ, đưa bó hoa ra trước gió. Gió thổi, cuốn bay từng cánh, từng cánh, cho đến khi chỉ còn lại một bó xương gai.
“Mẹ, mẹ làm gì thế?” Bé Mi chạy đến, ôm lấy mẹ. “Mi ơi, nếu mẹ giữ nó lại, thì một ngày kia, cũng sẽ chỉ là một bó hoa khô”.

***

Thắng không dám quay lại căn gác cũ trong một thời gian dài, bởi một điều day dứt khó tả. Một điều gì đó làm anh nao lòng, và anh sợ phơi bày lần nữa sự yếu đuối của mình.
Khi trở lại, anh không còn thấy hai mẹ con trong căn gác nhỏ. Mắt Bão đã đóng kín. Tất cả lặng lẽ đến bàng hoàng, những giai điệu bản đàn cũ như dâng lên giữa trời chiều.
Thắng không biết ở một nơi rất xa, cô bé đang đứng bên mẹ, nơi một bãi vắng nhìn ra khơi. Người đàn bà đã đưa con về vùng đồi cát năm xưa, và giờ đây nàng đang vẽ biển. Biển mênh mông và xanh. “Mẹ, mẹ ơi, mẹ sai lầm lắm vì đã đi quá vội vàng. Con biết chú Thắng sẽ đi tìm con, nhưng làm sao chú biết được mình đã đi đến tận đây”.
Người đàn bà lắc đầu:
“Con ạ, chú ấy đã lên một con thuyền lớn, và sẽ đi xa, rất xa”.
“Con không tin!” Đứa bé phụng phịu kêu lên, và người đàn bà bối rối. Huyền thoại đã cũ, nhưng tiếc thay là một huyền thoại có thực. “Con biết không, mỗi người đàn ông đều có con thuyền và giấc mơ của mình, họ đến bến để rồi lại đi, mẹ không muốn ngăn cản những chuyến đi ấy bao giờ”.
“Còn con, con thì khác. Nếu con thương yêu ai, con nhất định sẽ giữ lại bên con”. “Có lúc nào đó, con sẽ như mẹ, cảm thấy sợ giữ lại bên mình những cuộc đời bị giam hãm. Vả lại...”
Người đàn bà nghẹn ngào không nói được. Vả lại, người ta bảo sai lầm của mẹ là luôn thấy những người đàn ông đều tốt. Có thể người ta nói đúng, nhưng mẹ không thể khác đi, mẹ luôn nghĩ mọi người đều tốt. Thắng à, Adventura, đối với cậu là một dự phóng, còn đối với tôi chỉ là một ước mơ hoang tưởng mà thôi.
“Mẹ ơi, dù sao đi nữa, lớn lên con sẽ đóng một con thuyền, con sẽ đi và tìm ra con thuyền của chú Thắng”. Người mẹ thoáng cười. “Biển mênh mông, chẳng ai tìm ra dấu tích của ai. Mà dù gặp, con đã là thiếu nữ, chắc gì chú ấy nhận ra con”.
- Không, chú sẽ nhận ra. Vì con sẽ hát cho chú nghe bài hát Lãng du.
- Sóng lớn lắm, nghĩa lý gì tiếng hát.
Đứa trẻ khăng khăng:
- Con sẽ hát to, át cả tiếng sóng.

Người đàn bà mỉm cười. Bỗng nhiên nàng thấy như tâm hồn yếu đuối của mình đang dựa vào niềm hy vọng của đứa trẻ. “Bé này, con nhìn đây, ngày trước con cứ thích mẹ vẽ biển. Bây giờ mẹ đang vẽ biển cho con”. “Ôi thích quá, mẹ ơi! Mẹ cho con vẽ chiếc thuyền của con, mẹ nhé!”
Bé Mi nhúng cọ vào những đĩa màu và vẽ lên bức tranh một con thuyền, dáng nguệch ngoạc nhưng rất chói chang, một con thuyền có lá buồm màu hoa hồng đỏ. Con thuyền chở ngọn lửa của trái tim non dại khơi từ những giấc mơ tro vùi của mẹ.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeFri Aug 30, 2019 8:02 am

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 9k=

Sao La
- Trần Thùy Mai


Khách sạn nằm trên đỉnh Ngựa Trắng, ngày xưa là biệt thự nghỉ mát của một người Pháp thời thuộc địa. Buổi chiều khi Huân đưa Lisa đến, cô rất thích khoảnh sân rộng chênh vênh, trông như một bao lơn chồm ra trên thung lũng ngập mây. Thật thú vị nếu sớm mai được ngồi đây, nhìn mặt trời lên từ vũng sương dưới núi.
Nhưng chỉ mới đầu đêm, Lisa đã trở dậy, lục đục một lúc rồi khoác ba lô đi về phía trạm kiểm lâm ở đầu con dốc.  
Biệt thự đã được sửa chữa thành khách sạn, nhưng rõ ràng là rất vắng khách. Người quản lý làm việc cũng không tốt, mùi khăm khẳm của mốc meo phảng phất khắp các căn phòng. Thấy Lisa quay lại, người kiểm lâm ngạc nhiên.  
- Thà cứ ở đây còn hơn - Lisa nói.  
Huân bối rối. Trạm kiểm lâm có vài phòng dành cho khách, nhưng trang bị rất đơn sơ. Ở núi Ngựa Trắng, kiểm lâm làm luôn nhiệm vụ của tour guide, Huân biết nhu cầu của khách phương Tây. Làm sao cô ta chịu được cái giường chỉ trải có chiếc chiếu.  
- Nếu nệm mà có mùi, thì chiếu còn tốt hơn - Lisa nói.  
Huân lúng túng. Thấy vậy, Lisa trấn an:  
- Tôi không buồn ngủ. Anh đi nghỉ đi, tôi thích ngồi đây ngắm rừng.  
- Lính kiểm lâm mà ngủ giờ này sao? Tôi còn phải đi tuần tra.  

Ý tưởng đi vào rừng trong đêm làm Lisa hào hứng. Trong rừng Ngựa Trắng có một người đàn ông biết nói tiếng loài vật. Không biết từ đâu thông tin này đã lọt vào tai ông chủ nhà xuất bản nơi cô làm việc, để rồi chuyến thực địa của Lisa phải gánh thêm một mục nữa: thu nhặt chi tiết bổ sung vào cuốn cẩm nang du lịch châu Á mà nhà xuất bản đang thực hiện cho một công ty du lịch lớn ở châu Âu.  
Những cuốn sách. Chúng vừa là món quà vô giá, vừa là nỗi ám ảnh kinh hoàng của Lisa. Ông chủ Ove Stivenson có mái tóc bạc sớm và chứng đau lưng kinh niên, cũng chỉ vì những cuốn sách. Hơn ba mươi năm ông cặm cụi với chúng, tỉ mỉ, hối hả, mỗi thứ hai ông không quên nhắc nhân viên của mình những deadline - hạn chót - cho mỗi công việc. Deadline, nghĩa đen là vạch chết. Cuộc sống của mình, trớ trêu thay, luôn hối hả chạy theo những vạch ấy. Tất cả nhân viên trong nhà xuất bản đều tự nguyện làm việc mười hai giờ mỗi ngày. Trong cuộc đua toàn cầu này, mọi thứ đều nằm trong tốc độ chung của một guồng quay, những cuốn sách cũng không ra ngoài guồng quay ấy.  
Nhưng bây giờ cô đang đi giữa rừng, dưới ánh trăng. "Cô nghĩ gì vậy?". "Tôi tự hỏi anh cầm đèn pin theo làm gì. Trăng đủ sáng". "Chỉ để phòng xa thôi, cũng như khẩu súng tôi mang đây. Cả những đêm không trăng, tôi cũng không hề bấm đèn". "Sao vậy?". "Quen rồi. Với lại, trong rừng nguyên sinh, tụi tôi hết sức hạn chế gây tiếng ồn, ánh sáng. Bọn thú rừng sẽ sợ. Tôi muốn cho chúng thật yên ổn trong giang sơn của mình". 
 
Tiếng nước róc rách. Một dòng suối với những ghềnh đá xám bạc. Trên mặt suối, trăng sáng lóa vỡ vụn ra. Có tiếng khịt khịt, rồi một cái bóng nhỏ đen lao ra từ bụi rậm. Lisa giật mình nhảy lùi một bước; nhưng rồi cô chống nạnh hai tay, nhìn thẳng vào khối đen đang thập thò múa may trong bụi cỏ: một đôi mắt lập lòe sáng.  
- Một con thú gì đó - Lisa nói.  
- Con rái cá. Con này rất nghịch, thấy người là nhảy ra dọa.
- Anh có vẻ quen với nó?
- Bạn tôi đấy mà.
Huân tủm tỉm cười, anh nghĩ thầm: "Con gái phương Tây gan dạ thật". Lúc con rái cá vừa nhảy ra, thấy Lisa hoảng hốt anh đã tưởng thế nào cô cũng hét lên và ôm chầm mình. Như thế anh sẽ ngửi được mùi gây gây khó tả từ thân thể cô. Chiều nay khi đến trước sân trạm kiểm lâm, cô đã đứng trước cơn gió ngược, gió phả vào khứu giác anh một mùi rất lạ. Một cô gái da trắng. Với chàng lính rừng thính mũi, trong cái mùi lạ đó hàm chứa rất nhiều: những thứ nàng ăn, bầu không khí nàng hít thở, cuộc sống ở một nơi xa rất xa. Dạo này khách du lịch đến thăm Ngựa Trắng cũng nhiều, người Hàn người Thái người Âu..., những kiểu cách áo mũ khác nhau nhắc Huân nhớ bên ngoài thế giới rừng của anh còn có cả trái đất bao la.
 
"Tối nào tôi cũng phải đi một vòng. Xem có ai đốn cây, bắt thú hay không. Canh kỹ vậy mà thỉnh thoảng vẫn có người đốn trộm cây, bẫy trộm sao la.
- Sao la là gì?
- Là một loài nai nhỏ, chỉ có ở rừng này thôi. Lisa nhìn anh, dưới ánh trăng mắt cô ta có cái vẻ lạc loài như mắt những con sao la còn non.
- Người ta bảo anh biết nói tiếng loài vật. Thật không?
- Cô tin?
- Tất nhiên rất khó tin.
- Nếu tôi gọi một con sao la ra đây thì cô nghĩ sao? Lisa cười phá lên. Người châu Á quả có lối nói phóng đại đượm màu huyền thoại. Gọi được thú rừng tức là biết nói tiếng thú rừng sao? Mà nghĩ lại cũng đúng, tiếng kêu của thú rừng sao lại không thể xem là một thứ ngôn ngữ.  
- Đùa thế thôi - Huân nói - Vào ban đêm dù cô tôn xưng tôi là thần là thánh gì đi nữa tôi cũng không khua động rừng núi ở đây đâu.
- Vậy bao giờ tôi mới được nghe?
- Sáng sớm mai, lên đỉnh Ngựa Trắng với tôi. Khi mặt trời mọc.

Lisa trằn trọc mãi trên chiếc chiếu. Xương hông, xương vai cô đau nhói. Cô len lén dậy, qua căn phòng lớn. Vách đá xám lạnh gợi nhớ đến một ngôi tháp châu Âu thời trung cổ, nơi thường dùng để giam người. Nhưng khung cửa sổ với mái vòm uốn cong lại mở rộng trước cảnh quan bát ngát của rừng nhiệt đới. Lisa trèo lên bệ cửa, ngồi thõng hai chân ra ngoài. Một đám mây nhỏ đang bay vào cửa sổ, phả vào mặt Lisa một làn hơi mát lạnh. Dưới kia, rừng cây trùng trùng những cụm bạc dưới trăng.  
Lisa thấy dễ chịu. Đang mùa thu, nhưng từ lúc đặt chân đến xứ này lúc nào cô cũng thấy nóng. Cái lạnh của chóp núi cao hôm nay thật tuyệt vời. Có những con thú lớn bé đang ngủ yên dưới những lùm cây dưới kia. Một giấc ngủ chung của vạn vật. Lisa mỉm cười: chỉ có mình đang thức, và nghe được hơi thở của muôn loài trong giấc ngủ.  
Có tiếng sột soạt phía dưới. Trong vùng tối của bóng ngôi nhà đổ xuống, có một người đang động đậy.  
- Anh không ngủ à?  
- Tôi biết cô không ngủ được với cái giường cứng, nên ra đây làm cái này...  
Lisa cúi nhìn kỹ, Huân đang phủ một tấm vải mềm lên một đống gì đấy trong hiên. - Cỏ tươi ở mé rừng. Vừa cắt cách đây hai hôm. Cô tạm ngả lưng được rồi. May mà mấy hôm nay trời không mưa, không sợ vắt. Tối mai thì khách sạn đã kịp làm vệ sinh phòng, cô đừng lo.  
- Tôi chẳng lo gì cả - Lisa bảo - Bỗng nhiên cô thấy lạ. Chẳng lo gì cả. Mình vừa nói câu đó, thật hồn nhiên. Như trẻ con. Lâu lắm rồi, lúc nào cô cũng hối hả, cũng có chuyện để lo. Dễ đến vài năm nay cô đã cố tình quên cả kỳ nghỉ hè.  
Bây giờ không có deadline nào trước mặt. Lisa quăng mình vào giữa đống cỏ. Êm ơi là êm. Trên kia, một vòm trăng sáng lóa. Trăng làm mi mắt cô nhíu lại, rồi nhắm luôn êm ái. Huân trèo lên bậc cấp cao, vào trong nhà, lại ngồi vào đúng chỗ Lisa vừa ngồi trên bệ cửa.
- Đi ngủ đi - Lisa gọi với lên.
- Tôi thức quen rồi. Canh cho rừng ngủ.
Lisa cười.
- Tối nay anh có thêm một con thú rừng để bảo vệ đấy nhé.
- Tôi biết mà.
- Anh thấy tôi giống con gì?  
Huân thoáng rùng mình, anh nhớ tới đôi mắt to sóng sánh nâu. Sao la.
  
Gần sáng Huân đánh thức Lisa dậy. Anh không dám cúi xuống bên cô, chỉ đứng đút hai tay vào túi, thọc mũi giày vào dưới đống cỏ lay lay nhẹ. Lisa mắt nhắm mắt mở.  
- Còn sớm mà.  
- Bốn giờ sáng rồi. Mình đi bộ lên đến đỉnh núi là vừa mặt trời mọc.   Lau lách và dương xỉ chen dày bên đường đi. Rồi hiện ra một cái nhà nhỏ cũ kỹ với những cửa sổ lớn mở toang ra bốn phía.  
- Đây là Hải Vọng Đài, từ đây mình có thể nhìn thấu biển.  
Huân giải thích. Lisa gật gật đầu, lấy sổ tay hí húi ghi chép. Mặt trời đỏ au đang lên giữa vũng mây, nổi bật trên dáng nét mờ mờ của những hòn đảo ở chân trời.
Huân nhìn xuống thung lũng. Đưa hai bàn tay khum khum lên miệng, anh bắt đầu phát ra một thứ tiếng kỳ lạ.  
- To hoo, to hooo...  
Một lát sau dưới lũng sâu có một thứ tiếng giống hệt đáp lại. Những tiếng hú nhẹ nhàng ngắt quãng. Lisa có thể nhận ra vẻ vui mừng, thân thiện và chờ mong.
- Tôi đang chào buổi sáng với mấy con vượn.
Lisa thích thú.
- Anh chào lại đi! Cô mở máy ghi âm, thầm nghĩ: Ông Ove sẽ không còn chê công việc của mình vào đâu được. Suốt đêm qua, Lisa cảm thấy mình tự do và thư giãn đến tột cùng, mãi đến lúc rút chiếc máy ghi âm ra, ám ảnh về áp lực công việc mới trở lại với cô.  
- Cô thích nghe tiếng gì nhất?  
Chắc chắn là tiếng chim rồi. Tiếng chim vào một buổi sớm mai yên tĩnh và trong veo như thế này.  
- Ở rừng Ngựa Trắng này, có nhiều loại chim không đâu có. Con Khát nước, con Gầm ghì, con Chích chập má vàng. Mỗi loài có tiếng kêu khác nhau. Bây giờ tôi gọi con Cu rốc cho Lisa nghe nhé.  
Huân đưa hai bàn tay lên môi. Lisa nhìn, thoáng nghĩ: tay và môi Huân mềm dẻo và điêu luyện hơn bất cứ nghệ sĩ khẩu cầm.
Từ màu xanh dưới kia đã có tiếng chim cu đáp lại. Huân nói với Lisa:  
- Chim Cu rốc sống rất tình cảm... Tụi nó sống thành đôi và thương nhau lắm. Buổi sáng, con trống hót tán tỉnh con mái. Bây giờ Huân sẽ giả vờ chọc cho nó ghen để râm ran lên cho vui.  
Huân bắt chước tiếng kêu tán tỉnh của con chim. Từ giọng điệu trầm trầm êm ái, chú chim trống dưới thung lũng chuyển giọng, tiếng kêu tức tối của con trống sợ mất bạn tình. Lisa phá ra cười, cô vội dừng ghi âm.
- Anh Huân cũng có vợ chứ?
- Chưa. Còn Lisa?
Lisa nhún vai. Ở thành phố cô sống, có một nửa là chủ nhân những căn hộ độc thân. Đã từ lâu phụ nữ không còn băn khoăn: lấy chồng chưa, bao giờ đám cưới...  
Thấy Huân tiếp tục chọc giận con chim trống, Lisa kéo áo anh:  
- Thôi đủ rồi. Để chúng nó hạnh phúc với nhau đi anh.  
Mặt trời đã vượt hẳn khỏi những đám mây trên biển. Gió sớm mai mát rượi trên đỉnh núi. Một lần nữa, Lisa lại đứng ngược gió.  

***

Trên thác Đỗ Quyên, điện thoại di động trong túi Lisa chợt reo lên.
- Ủa, trên núi này đã có sóng rồi sao?
- Mới hơn một tuần.
- Chết tiệt!
Lisa thầm nghĩ. Chỉ có thể là ông Ove, không ai khác. "Lisa, tôi vừa ở Thổ Nhĩ Kỳ về, trong hội nghị gặp nhiều người thật tuyệt, và chúng ta có thể kiếm được nhiều dự án rất triển vọng. Tôi muốn cô trực tiếp thực hiện...". "Nhưng từ nay đến cuối năm tôi đã bận rộn vì quá nhiều deadline rồi. Tôi không thể...". Lisa nhăn mặt. Ôi, ông Ove thân mến, công việc đối với ông ấy đã thành một niềm đam mê đầy tính hủy diệt. Lisa nói nhanh: "Tôi đang ở vùng núi, sóng rất yếu và khó nghe, chúng ta sẽ bàn chuyện này sau nhé!".  
Ngày ấy giờ ấy, trên bờ thác Đỗ Quyên, một ý nghĩ đầy ngẫu hứng chợt đến với Lisa: thật thú vị nếu mình biến khỏi đống công việc của ông Ove, nếu mình đến ở luôn nơi này, dưới bầu trời này. Mình sẽ lập một hiệp hội bảo vệ thú rừng, được lắm chứ. Mình sẽ học nói tiếng loài vật, sẽ bạn bè với những con thú đáng yêu. Trời, Lisa nhớ ra hồi nhỏ mình đã yêu quý những con chó con mèo như thế nào. Lẽ ra lớn lên mình phải thành bác sĩ thú y hơn là thành biên tập viên nhà xuất bản.
Bỗng có tiếng nổ nhẹ, tiếng một viên đạn chì.  
Huân lao đi tức khắc. Lisa chạy theo. Trên đỉnh thác, nước chảy thành nhiều vũng lớn, cô phải tháo giày, chạy chân trần trên những mô đá. Một mỏm rêu khiến chân cô trượt dài, Lisa té xuống hốc nước. Cơn đau xuyên qua cổ chân cô.  
Không nhúc nhích được nữa, Lisa nằm im bám lấy mô đá, chịu đựng cơn đau chờ Huân trở lại.  
Gần một giờ kiên nhẫn đợi, Lisa bặm môi không kêu rên. Nhưng khi Huân trở về với bộ mặt bơ phờ, Lisa đã bật khóc với cái tin anh đem lại. Một kẻ săn trộm vừa đột nhập khu rừng. Con Cu rốc trống đã chết.  

***  

Rất may Lisa chỉ bị bong gân nhẹ. Cô khóc mãi trong lúc Huân cõng về trạm. Trong khi nằm chờ trên đầu thác, cô đã ngâm chân xuống nước. Nước làm mềm chỗ sưng, giờ đây với một nắm muối trong chậu nước ấm, Huân có thể giúp cô xoa bóp chỗ đau.  
- Cảm ơn anh nhiều lắm.  
Ngồi trên đống cỏ, Lisa đưa tay nắm lấy tay Huân. Bàn tay anh đang nắm lấy cổ chân cô. Một hơi ấm mạnh mẽ từ lòng bàn tay anh truyền vào chỗ đau, làm nó dịu hẳn đi. Huân ngồi xếp bằng, đôi mắt nhắm nghiền. Lisa lay lay:
- Anh sao thế?
Huân mở mắt, không vội trả lời, anh hít thở một lúc rồi mới từ từ mở miệng:
- Tôi muốn dùng khí để giúp cô đỡ đau.
- Khí là gì?
Huân lúng túng. Mặc dù nghề tour guide cho anh vốn tiếng Anh khá tốt, Huân cũng không biết phải giải thích thế nào. Lisa cười:  
- Tôi hiểu rồi. Một điều gì đó rất mầu nhiệm.  
- Không hẳn thế, nó cũng là một cái gì đó rất bình thường, như là bàn tay tôi, bàn chân cô thế thôi...  
Lisa cười. Huân đang cố gắng diễn tả. Khuôn mặt anh như trẻ thơ. Một khuôn mặt trẻ thơ lẫn lộn vui buồn. Lisa nắm chặt tay anh:
- Tôi rất tiếc về người bạn mới mất của anh.  
Huân gật đầu, anh nhìn khóe mắt Lisa
- vẫn còn dấu vết của nước mắt. Hai người lặng yên san sẻ nỗi buồn, bỗng nhiên thấy lòng mơ hồ dịu lại.
Mặt trời đã lặn hẳn vào vực sâu dưới núi.  
Huân cúi xuống. Lisa lăn vào lòng anh: thân thể anh rắn chắc và êm mượt, êm hơn cả đống cỏ mịn dưới lưng. Anh hít thật sâu đầy phổi cái mùi hai hôm nay vẫn ám ảnh anh trong những cơn gió ngược. Một mùi gây gây như sữa tỏa ra từ làn da trắng mỏng. Đám cỏ tươi nẩy bật êm ái dưới lưng Lisa, cô cố gắng mở to hai mắt để nhìn khuôn mặt người con trai trong lúc ấy, nhưng rồi cảm xúc cứ cuộn xoáy mãnh liệt níu hai mí mắt cô nhắm nghiền. Lisa cong người ngả đầu ra sau, bất giác thốt lên một tiếng kêu dài. Tiếng kêu của cô dội vào đêm, trong cái yên tĩnh của rừng nguyên sinh.  

***  

Sáng sớm trời chuyển mưa. Huân buộc võng vào cửa sổ. Đủ cho hai người nằm lắc lư bên nhau. Từ cái võng, họ nói về đủ thứ dự định. Sẽ bảo vệ thú rừng. Sẽ sống trong thiên nhiên. Sẽ... Lisa cười khoan khoái: sẽ thoát khỏi ông Ove, khỏi đi hớt hải vội vàng qua những trạm xe, chúi mũi cả đêm trên máy tính, cột sống luôn bị đe dọa vôi hóa... Giờ đây cô muốn sống với cây rừng, những đám mây nghịch ngợm giăng quanh cửa sổ, tiếng chim, nước suối trong... "Ôi, ông Ove, tôi đã quyết từ giã những vạch chết của ông, giờ tôi phải nhảy qua vạch sống!".  
Quái gở, điện thoại di động lại reo. Chắc chắn là ông ấy rồi. Lisa rút máy ra, trong khi Huân ghìm một bàn chân xuống nền cho chiếc võng thôi dập dềnh. Lisa hôn vào má anh, thì thầm:
- Đợi chút nhé, Lisa sẽ tắt máy ngay.  
Quay đi hướng khác, cô gào lên như đánh vật với sóng điện từ đang lào xào: Ông Ove! Sau chuyến này, tôi không làm thêm bất cứ vụ nào nữa!   Nhưng chợt cô giật bắn người, nhảy nhổm ra khỏi chiếc võng, ngồi bệt xuống sàn nhà suy nghĩ.  
- Sao vậy? Có tin gì không vui sao? - Huân lo lắng hỏi.
Lisa thần mặt ra, nghĩ ngợi.
- Không, tin rất tốt. Người ta đang muốn bán căn hộ mà em đang thuê. Đây là một dịp... Một cơ hội. Nếu cố gắng một chút em có thể mua...  
Lisa cười, ngượng ngùng:
- Em chưa hề nghĩ em có thể mua được căn hộ ấy.
Huân lặng im, vẻ mặt buồn rượi. Như hiểu ý, Lisa nhảy thót lên võng, ôm lấy đầu anh:  
- Em sẽ đi Thổ Nhĩ Kỳ, sẽ hoàn thành dự án, sẽ mua căn hộ, sẽ bán nó, sẽ lấy tiền hoạt động bảo vệ thú rừng...
- Em sẽ trở lại chứ?
Huân hỏi. Đối với anh, chỉ điều đó là quan trọng thôi.
Lisa vừa hôn anh vừa gật đầu lia lịa:
- Có chứ, có chứ...

***

Chiều hôm ấy Lisa đi, chân còn hơi cà nhắc. Trong ba lô là chiếc máy ghi âm đầy những cuộc trò chuyện giữa Huân với loài chim. Mình sẽ cố gắng thêm một chút. Nghĩa là thêm một số công việc nữa, một số deadline nữa.
Mùa hè qua, mùa thu qua. Khách du lịch người Thái, người Hàn, người Âu... vẫn đến thăm rừng Ngựa Trắng, từng đoàn. Thường họ chỉ dừng một lúc ban trưa rồi xuống núi.  
Thỉnh thoảng sau chuyến tuần đêm, Huân lên đỉnh Hải Vọng Đài ngắm mặt trời. Chim kêu, vượn hú. Xa xa mờ mờ là biển. Bên kia biển là những xứ sở nào, bến bờ nào. Con sao la chân mảnh bây giờ ở đâu. Có thể giờ này lại đang vội vàng bươn bả trên những chuyến xe điện, những chuyến máy bay, chạy như con thoi giữa nhà in và tiệm sách, lún sâu vào guồng quay và cuộc đua đến mức không có nổi thời giờ cho một bức thư.  
Mùa đông tới, mưa lâm thâm rỉ rắc suốt ba tháng. Không ai đến nữa. Huân không lên Hải Vọng Đài, và anh cũng không còn đợi. Giờ đây anh biết mỗi người đã được bắt vít vào một số phận riêng, và những giấc mơ không tưởng khó mà dài hơn thời gian ngắn ngủi của một đêm trăng.  
Gió thổi. Không có người mà vẫn có mùi da thịt gây gây phả vào ngược gió. Huân bất giác đưa tay lên môi, bắt chước tiếng chim. Tiếng chim gọi bạn, từng hồi tha thiết trong khoảng vắng. Cũng là tiếng anh gọi Lisa. Cô đã hứa sẽ quay về.  
Có tiếng động như ai gõ trên lớp kính cửa. Huân giật mình.  
Một tràng tiếng chim thống thiết vang lên. Con Cu rốc mái đập cánh sàn sạt ngoài kính cửa. Tội nghiệp, nó tưởng là tiếng con trống trở lại. Điên cuồng, nó đập cánh, lao đầu vào kính, hết lần này đến lần khác.
Huân mở rộng cửa. Chim bay vào, đôi chân mảnh run run đáp xuống, cái đầu nhỏ xơ xác. Cuống quýt một lúc, nó lại bay ra, đậu trên khóm tùng trước sân.  

Trời lạnh buốt. Con chim vươn cổ, không ngừng hót, đôi mắt tròn hết nhìn ra lại nhìn vào, ngơ ngẩn tìm.  
Huân cũng không ngừng tiếng kêu của chim trống.  
Bản đối ca giữa chim và người cứ thế ngân dài trong khoảng núi vắng không...
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 673
Join date : 25/04/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Sep 08, 2019 12:05 am

.

Cánh Cửa Thứ Chín
- Trần Thùy Mai


Nghề nghiệp của anh buộc anh phải đi rất nhiều nơi, còn cuộc sống của tôi lại luôn ở đây: những ngày rất dài trong khu vườn lặng lẽ.
Một ngày, một giờ, một khoảnh khắc nào đó, đột nhiên hai cuộc đời riêng rẽ bỗng đi chéo qua nhau. Đó là một ngày cuối năm, ngày khởi đầu của tiết lập xuân. Anh gọi điện nhầm đến nhà tôi. Mặc dù biết đã nhầm, anh không gác máy. Và chúng tôi nhận ra nhau.

Sau đó ít lâu, chồng tôi bảo: "Bệnh của Quyên dạo này khỏi rồi sao?". Tôi chỉ cười lặng lẽ. Chứng thống kinh hành hạ tôi hơn hai năm nay. Những cơn đau khiến cơ thể tôi lạnh giá. Sau nhiều tễ thuốc đắng không chút kết quả, ông lang già cuối cùng đã khuyên tôi tìm tới sự tập luyện của tâm linh.
Buthayoga, đó là thứ nghệ thuật làm nóng cơ thể từ sự khởi động của cái tâm thường bị vùi sâu che khuất. Trong bốn bức tường rêu này tôi có đủ thời gian và sự tĩnh lặng để làm việc đó. Nhưng linh hồn tôi không tĩnh, tôi không phải là đạo sĩ. Tôi chỉ là một người đàn bà.
Giờ đây, tôi dần dần ra khỏi cơn đau. Nhờ một sự tình cờ. Một giọng nói. Đó là anh.
Có lần nào đó, tình cờ anh nhắc đến ngày lập xuân ấy. "Quyên có biết vì sao anh không gác máy không? Vì bỗng nhiên anh nghe trong giọng nói tưởng như bình thường của em một điều gì đấy, giống như tiếng kêu cứu của một người tù".
Còn tôi, ngược lại. Từ giọng nói anh, tôi thấy mầu xanh và những đám mây. Sau này tôi mới nhớ ra, đó là cảm giác khi thấy đường chân trời. Tôi đã có cảm giác ấy một lần, thuở còn bé, khi về thăm quê ngoại.

°°°
A lô, Quyên đấy hả? Này, có phải em thường nghe người ta tả mặt trời mọc trên biển không? Vậy mà bây giờ anh đang nhìn thấy mặt trời lặn trên biển "Sao thế? Vậy là mặt trời lặn ở phía đông?".
"Không... - Anh cười, như thể đang nhìn thấy vẻ mặt ngơ ngác của tôi. - Chỉ vì hôm nay anh đang ở Hà Tiên. Nơi đây biển ở phía tây đất liền, thế thôi". Trong tiếng anh cười, như có tiếng sóng biển, có ánh hoàng hôn cháy rực trên sóng và phản quang của một vùng đất xa rất xa - Nơi tôi chưa từng thấy bao giờ.
Tôi có thể thấy gì, ngoài khu vườn nhỏ bị che kín. Nhưng ở đây, mặt trời, biển và sóng đang hiện ra trong bốn bức tường của tôi: Tôi đi bên anh, trên bờ cát. Nắng buổi chiều rất tươi đổ bóng chúng tôi trên những làn sóng mịn. Rồi cả hai cùng ngồi trên chiếc thuyền con, rẽ sóng về phía hòn Phụ Tử. Tóc tôi bay rối tung, trong khi anh chỉ cho tôi những hòn núi đá nhấp nhô trong vịnh Thái-lan. Tất cả đều nhuốm mầu mặt trời chiều, mặt trời đỏ au đang từ từ lặn sâu vào sóng biển.

Ngoài cổng, Hòa đã về. Tôi ra mở cửa cho chồng. Chiếc Chaly trắng nổ máy xành xạch. Như mọi lần đi làm về, Hòa hỏi, giọng bình thản:
- ở nhà có việc gì không?
Cũng như mọi lần tôi trả lời:
- Không, chẳng có việc gì.
Tôi lấy nước cho Hòa rồi vào bếp sửa soạn bữa cơm. Hòa thả người xuống xích đu đọc báo. Làm sao Hòa biết, tôi vừa từ vịnh Thái-lan trở về, và giờ này trong tâm trí tôi vẫn chói rực một mặt trời trên biển tây.
Anh là người đầu tiên giúp tôi biết người ta có thể sử dụng điện thoại để san sẻ cuộc sống với nhau, chứ không phải chỉ để trao đổi những thông tin ngắn gọn. "Hôm nay Quyên có gì vui không?". Tôi cố lục tìm trong ngày dài của mình một điểm sáng nào đó. Những cuộn len. Những tấm áo đan dở. Sự mưu sinh tủn mủn...".
A, nhớ ra rồi, trước nhà em có một cái ao, sáng nay có một bông súng hồng vừa nở". "Hôm nay, người hàng xóm đến cho một con mèo mầu lam đẹp lắm. Anh có tin có một con mèo mầu lam không?". Có hôm anh gọi cho tôi đúng vào lúc nấu xong bữa ăn chiều. "Quyên vừa nấu những gì, nói cho anh biết, cho anh thèm". Tôi kể cho anh nghe: canh mít nấu tôm, cá bống kho tiêu, rau muống luộc...
Anh hít hà trong điện thoại. Tôi rủ: "Đến đây ăn cơm". "ừ, nhớ để phần anh nghe".

Dần dần tôi bắt đầu tập cách thổ lộ những gì đã nén quá sâu trong tâm trí, điều trước đây tôi chưa hề quen. Tôi nói với anh về thời thơ ấu, khi mẹ đã bỏ đi và cha tôi đùm bọc đàn con trong một tình thương mà tôi linh cảm có lẫn lộn cả oán thù. Mỗi lần có lỗi, tôi bị đánh mà không được khóc. Giờ đây trước những nỗi đau, tôi đã quen với lối khóc không trào lệ.
Tôi đã câm nín như thế cả vào ngày đứa con trai lên mười được người em chồng đưa về San Diego làm con nuôi. Tôi ôm con vào ngực trước khi trao cho Hoành, bây giờ ngực tôi còn mãi hơi ấm nóng của đứa trẻ, khiến những phần còn lại của cơ thể tôi mãi mãi lạnh giá. Chồng tôi thỏa mãn. Một căn nhà hương hỏa, một công việc ổn định, một người vợ hiền, một đứa con trai may mắn được đỡ đầu và chắc chắn sẽ thành đạt.
Hòa bảo tôi: "Vợ chồng mình sẽ sinh thêm đứa nữa". Nhưng tôi không sinh nở. Chứng thống kinh hành hạ tôi. Mỗi tháng một lần, cơn đau bắt tôi cắn răng, không rên rỉ. Mỗi lần ngồi tập môn Buthayoga, tôi thành khẩn nguyện cho mình khỏi bệnh. Những ngón tay, theo đà thúc đẩy của một thứ ký ức siêu nhiên nào đó cứ xoa mãi trên bụng, trên thắt lưng tôi. Nhưng cánh cửa tâm linh không hề mở. Những ngón tay chịu không chạm nổi vào những vùng khuất trong tôi.

Nhưng bây giờ, trong bốn bức tường rêu đã có cả biển trời. Những cơn đau đã dịu xuống. Đã dứt.
"Alô, Quyên đó hả? Hôm nay có gì vui?".
"Hôm nay là ngày rằm, người ta gánh hoa sen đến bán. Quyên mua hai bó hoa vừa trắng vừa hồng. Mua hạt sen để trưa nay nấu cháo chay".
"Ngày rằm, Quyên ăn chay, còn anh đang ở rừng Xuyên Mộc. Người ta làm thịt thú rừng chiêu đãi, giết hai con nhím, một con cheo".
"Ghê quá!".
"Ừ, lúc nãy sắp bị giết, con cheo cứ ứa nước mắt. Nhìn thấy thương quá, không ăn được miếng nào. Thôi, Quyên hãy tới đây đi. Ở đây có một dòng suối nước nóng, ngâm chân xuống thì uống bao nhiêu rượu cũng không say. Anh sẽ chỉ cho Quyên cây dầu lớn, có hoa rụng trắng xóa cả bãi cỏ".
Tôi cùng anh lang thang trên bãi hoa dầu trắng phau, rồi đi ra suối Bang mắc võng trên dòng nước. Tiếng suối chảy lúc trong vắt, lúc trầm đục đủ cung bậc. Trên đầu tôi, trời cao và xanh bao la.
"Quyên ơi, em đã đến đây thì cũng có thể bay lên trời với anh được". Chợt tôi thấy mình vút lên trời xanh. Tôi thấy anh ở bên tôi. Chúng tôi đang bay lên, và đang lơ lửng trước vực thẳm.

°°°
Đó là ngày anh không chịu dừng lại ở tưởng tượng để chỉ đòi ăn canh mít non và cá bống kho tiêu qua đường điện thoại. Anh nói với tôi huyền thoại về chín cánh cửa.
"Ngày xưa có người lạc vào sơn động và kết duyên với chúa Tiên. Một hôm chúa Tiên đi chầu Trời, giao cho chàng một xâu chín chiếc chìa khóa và dặn chàng mở cửa nào tùy thích, chỉ trừ cánh cửa thứ chín. Trong tám ngày chàng lần lượt mở tám cửa, mỗi khung cửa dẫn vào một cảnh giới tuyệt vời như trên thiên đường... chỉ còn cánh cửa thứ chín, chàng trai tự nhủ, mình không mở ra. Nhưng...".
Cánh cửa thứ chín. Cánh cửa biết mở ra là tai họa mà mọi người cuối cùng đều đã mở. "Quyên ơi, Quyên hiểu anh muốn nói gì không?". "Em hiểu. Em thấy sợ".
"Tại sao?". Tôi không biết làm sao giải thích nỗi sợ hãi của mình. Dường như đã đến lúc tôi có thể nhận diện thứ tình cảm trong lòng mình: Đấy chính là tình yêu đang mỗi lúc một lớn lên, và tôi linh cảm cuộc đời tôi sẽ sụp đổ dưới sức nặng của tình yêu ấy.

Một ngày cuối hè, anh lại đi qua phố cổ. Anh muốn gặp tôi. Tôi ấp úng, cố gắng diễn tả cho anh biết rằng người ta thường khuyên đừng đùa với lửa. Đùa với lửa, sẽ bỏng tay, và tôi tự biết mình không chịu nổi xót xa. Nhưng anh hứa không làm tôi bỏng. Không phải những hồi chuông điện thoại làm rối tâm tư tôi. Làm rối linh hồn tôi, chính là nỗi khát khao được nhìn thấy, dù trong một chút, cuộc đời bao la mà trước nay tôi mới chỉ nhìn trong tưởng tượng.
Chín giờ tối, đúng vào đêm hạ chí, tôi ra khỏi nhà, qua cánh cổng gỗ cũ xưa, rồi đi men theo bờ hồ trước mặt. Hoa sen cuối mùa lan tỏa mùi thơm trong ánh trăng. Anh đang chờ tôi bên kia hồ, dưới gốc cây xà cừ. Bóng đêm lẫn bóng trăng bao trùm thân thể tôi. Hai chân run run, tôi lúng túng, hoảng hốt, cảm thấy thất thố vì đã đến một nơi quá bất lợi cho mình. Nhưng ngay lúc ấy tôi cũng không kiềm chế được mong muốn lao sâu vào khám phá một thế giới - Anh, anh cũng là một thế giới.
Anh bước lại bên tôi, hay tôi đang chạy đến với anh, tôi không biết nữa. Rồi tôi cảm thấy tay anh, mắt anh, môi anh, tất cả rất giản dị, rõ nét và rất giống hình ảnh trong trí tưởng tượng của tôi. Anh rất ấm, và rất dịu dàng. Đúng như lời hứa, anh đã không làm tôi bỏng. Tôi không bỏng. Tôi cháy.

°°°
Lúc tôi trở về nhà, cánh cổng nặng khép hờ rên rỉ dưới tay tôi. Hòa đã ngủ say, tờ báo rơi trên ngực. Suốt đêm tôi như đang nằm duỗi trong một đám sương mù, lâng lâng, êm ái. Cũng trong đêm ấy, ước mơ được rực cháy suốt quãng đời còn lại chợt như một ám ảnh điên rồ thiêu đốt tâm trí tôi.
Trời mờ sáng, tôi ra sân, đi lảo đảo như người mộng du. Vượt qua cánh cổng, vượt qua cây xà cừ, vượt qua con đường sương trắng, tôi như người điên đập cửa căn phòng lạ.
Người đàn ông của tôi hiện ra trước mặt.
Trong lúc đi trên đường, bên tai tôi cứ lùng bùng những điều định nói cùng anh. Tôi sẽ nói rằng tôi không thể tiếp tục sống trong bốn bức tường lạnh lẽo. Tôi sẽ nói muốn cùng anh đi vớt mặt trời trên biển tây. Tôi sẽ chịu bỏng, chịu cháy, để được đau đớn, được yêu thương. Tôi muốn chịu đựng mọi thứ trên đời, ngoại trừ sự tẻ lạnh.
Nhưng lúc này, dưới ánh sáng quá rõ của ban ngày, anh hiện ra rất xa lạ với hình ảnh anh trong bóng trăng. Một người đàn ông đến từ một cõi đời khác... Tôi thấy mình đứng trên hành lang, trước người đàn ông này một cách vô lý, ngớ ngẩn và trơ tráo. Kêu lên một tiếng, tôi đâm đầu chạy ra đường. Có tiếng xe đâu đó thắng gấp...

Không hiểu sao lúc đó tôi không biết sợ. Mãi đến lúc ngồi trên xích lô qua đường phố dài, cả người tôi mới bắt đầu run lên, cơn run rẩy không cưỡng được của người suýt chết. Hòa đang cho chim ăn trước hiên nhà. "Em đi đâu sớm thế?". Giọng Hòa bình thản như mọi câu nói vào mọi giờ, mọi ngày khác. Tôi gắng gượng thốt lên một lời nói dối qua loa rồi bước vào nhà.
"Sáng nay anh đi làm sớm, em cho anh ăn mì với hai quả trứng". Hòa bảo, không ngoái lại. "Vâng, bánh mì với hai quả trứng". Tôi vào bếp với đôi chân chưa hết run. Hòa không biết nấu ăn, cũng không hề có thói quen ăn tiệm. Anh không thể nào xoay xở được nếu không có tôi. "Ngày mai là ngày hiệp ky, nhớ chuẩn bị đồ lễ đưa sang từ đường". "Vâng, em nhớ". Tôi trả lời, những câu trả lời như tiếng vang không âm sắc.
Khi chiếc Chaly trắng xành xạch đi rồi, tôi để rơi mình xuống ghế. Cơn đau chợt quặn thắt, mồ hôi rịn ra ướt cả hai tay tôi. Một hồi chuông reo.
"Quyên ơi, em nghe đây: một người tù hèn nhát thì sẽ mãi mãi là một người tù".
Tôi không dám nghe. Tay tôi run rẩy tháo rời dây điện thoại. Anh đã nói đúng, nhưng rất có thể chính anh cũng có bốn bức tường, hai cánh cổng ở đâu đó, và dù đi khắp nơi trên thế gian anh cũng không ra khỏi những thành trì, như tôi...
 
Cả tuần sau, máy điện thoại tắt ngấm. Tôi hiểu thế nào là sự trống rỗng của lặng im. Căn phòng lạnh, yên lặng đè lên tim tôi như một khối nặng trịch vô hình. Sự yên lặng khắc khoải, đau nhói âm thầm trong lúc đi, đứng, nói cười, cố sống cuộc đời bình thường. Vẫn biết chân trời là nơi không đến được, nhưng dù sao tôi cũng phải có một chân trời.
Đến ngày thứ tám, tôi nối lại đường dây. Nhưng chiếc máy không hoạt động nữa. Chồng tôi đã trả số thuê bao. "Anh thấy nó chẳng có lợi lộc gì mà nhiều khi lại thêm mất ngủ. Chưa bao giờ anh thấy khỏe như tuần qua, khi máy hư". Tôi lặng lẽ nhìn chồng tôi với đôi mắt của người chết đuối. Cơn đau hành hạ tôi.
Tôi âm thầm chịu, không rên rỉ. Đêm ấy tôi nằm mơ thấy một con nai trúng tên, nằm khắc khoải chờ chết trong một xó rừng.
Sáng sớm hôm sau, trong lúc tập Buthayoga, hai tay tôi chợt rời thắt lưng, tự hướng về phía đầu, xoa mãi vào huyệt bách hội. Chợt như có dòng nước lũ xoáy mạnh làm vỡ cả con đập chắn ngang. Hoàn toàn không ngờ trước, tôi bỗng òa khóc, khóc tức tưởi, không sao cưỡng được. Những giọt lệ trào ra từ khóe mắt, những cơn rền rĩ thoát ra từ lồng ngực. Tôi khóc to, khóc thảm thiết, một thứ khóc vô thức kỳ lạ, giữa lúc tâm trí phiêu bồng như đang chìm giữa sương mù.
Cơn khóc dừng khi tôi chìm vào giấc ngủ mê. Khi tỉnh dậy, tôi biết Buthayoga lần đầu tiên đã chạm đến điều gì trong linh hồn tôi.
 
Chứng thống kinh của tôi đã dứt.
Những hồi chuông điện thoại đã tắt. Không còn mây trời, biển và rừng trong bốn bức tường xây kín. Không còn gì nữa, và tôi cũng không còn đợi.
Tôi cam tâm dừng mình lại trong hai cánh cổng: Cánh cửa thứ chín của mỗi đời người.
Tối hôm sau, trong bữa ăn, chồng tôi bảo:
- Sáng hôm qua mình tập cái môn dưỡng sinh quỷ quái gì mà cứ rền rĩ y như có ai chết không bằng.
Tôi lặng yên. Làm sao nói cho Hòa hiểu được, một thế giới vừa bị lấp vùi. Tôi đã tự chôn mình cùng với thế giới ấy, và giờ đây tôi đang khóc tôi.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 614
Join date : 13/03/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeTue Sep 17, 2019 6:15 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 2Q==

Một Chút Màu Xanh  
- Trần Thùy Mai


Anh chị dọn về đây từ hồi mới cưới nhau. Căn phòng xinh xinh, quét vôi xanh nhạt, trang nhã và sạch sẽ.
Trên vách, chị treo chiếc gương soi hình trái tim, viền ruy-băng hồng thắt thành nơ - đó là quà kỷ niệm cưới của hai người. Trên đầu tủ đặt chiếc giỏ tre đan, bên trong thường cắm một bó cúc tím nho nhỏ, hoặc hoa bươm bướm vàng. Vào những ngày trọng đại của hai vợ chồng - sinh nhật chị chẳng hạn - anh còn đi kiếm cả hồng nhung, và cái tổ ấm cỏn con như sáng hẳn lên, xinh tươi, ấm cúng.

Bây giờ, chiếc giỏ tre đan vẫn ở đấy. Nhưng những bông hoa không còn. Quanh đây chẳng ai trồng hoa hoét gì, phải đạp xe hai ba cây số mới tìm được một chùm cúc hay tử vi, mà cũng chỉ nửa buổi là tàn ngay trong sức nóng hun đốt của bốn bức vách, dưới nắng trời tháng sáu. Trong tấm ảnh ở đầu giường, chị vẫn mỉm cười duyên dáng với đôi mắt lấp lánh, nhưng lắm lúc từ lớp học trở về, anh gặp vợ ngồi xổm trên nền nhà, mặt dính nhọ, loay hoay sửa bếp dầu. Có hôm chị đội nón, lúi húi thổi cái bếp củi ngoài hiên, nước mắt chị ràn rụa vì khói, và chị gắt lên cả với anh:
- Này, ở đâu mà trưa nửa ngày mới lò dò về đây… chẻ cho người ta ít củi khô nhanh lên!
Anh im, vào nhà, thay áo vội vàng rồi lấy rựa ra sân, lẳng lặng làm nhiệm vụ.
Buổi trưa trôi qua, cơm nóng, canh nóng, căn phòng cũng nóng. Sao trời nắng như đổ lửa thế này nhỉ? Cơm nuốt chẳng muốn trôi. Anh đề nghị:
- Này, mai em làm bún xáo ăn đi. Ăn cơm chán quá.
- Chà! Chị ngắt lời. Anh thì chỉ được cái… ăn cho sướng vào để rồi treo niêu đấy hẳn… Nói phiền lắm!
- Thì anh nói thế, không ưng thì thôi, có gì mà phiền! Anh bực mình, cố dịu giọng.
Chị nghe giọng anh hơi bực bội thì nhận ra ngay lỗi của mình nhưng vẫn không chịu thua:
- Anh bao giờ cũng thế, nhiều chuyện lắm chứ không phải chỉ chuyện này đâu?
- …
Anh định cãi, nhưng rồi lại im lặng. Chẳng hiểu sao hồi này chị hay cáu gắt thế nhỉ. Anh thấy vợ uể oải, phờ phạc ra. Vì lo lắng cho gia đình, hay vì chưa quen với nơi ở mới? Căn phòng hơi tù túng, thiếu thoáng khí. Lúc nghĩ tới điều đó, anh thương vợ, nhưng khi phải chịu đựng những câu cáu bẳn ngang phè phè của cô anh không thể không nhăn mặt khó chịu, muốn đạp hết cho rảnh. Còn chị, mỗi lần cằn nhằn với chồng xong, chị ngồi yên, mơ hồ thấy buồn: chị thấy mình đâm ra xấu tính, nhăn nhó như bà già, chị ngượng với chồng và … Thật bực mình, chẳng hiểu tại sao.

Đêm đến, trời vẫn nóng hâm hấp. Cái nóng râm ran như còn tích tụ trong từng viên ngói trên mái nhà. Hai vợ chồng xoay lưng vào nhau mà ngủ. Lát sau chị tỉnh giấc, quay lại. Dưới ánh đèn chong, anh nằm ngoẹo đầu, một dòng nước bọt chảy xuống gối. Với tay, chị lấy chiếc khăn ở đầu giường lau nhè nhẹ cho chồng.
Anh cựa mình, ngáp dài ngái ngủ rồi quờ quạng nắm lấy tay vợ. Tay chị nóng hâm hấp như da gà. Bất giác, chị thở dài, bảo chồng:
- Mình phải cố tậu cái quạt máy, anh ạ. Nóng quá chịu không nổi.
Anh “ừ” rồi nửa mê nửa tỉnh, quàng tay lên vai chị. Chị mỉm cười… Đêm yên ắng lạ lùng. Một con thằn lằn ở đâu đó chợt tắc lưỡi trong bóng tối.
Phải có một chiếc quạt, cả hai anh chị đều đồng ý như thế. Còn phải chuẩn bị để lỡ ra thai nghén, sinh đẻ nữa chứ. Đến lúc sinh con, ai mà nằm mãi cả ngày trong cái hộp này nổi.
Quạt chưa có nhưng anh đã kiếm gỗ đóng một cái ghế nhỏ, sơn trắng muốt, để dành cho nó. Từ khi vừa bắn tin, đã có bao nhiêu người giới thiệu quạt cũ muốn bán lại, còn hai vợ chồng thì tích cực để dành tiền và tích cực đi xem. Nhưng hai tháng trôi qua, vẫn chưa kiếm được cái nào vừa ý. Cái thì thực tốt, mới tinh, nõn nà, có lồng bảo hộ, có “tuốc năng” hẳn hoi mới mua từ Nga về, nhưng giá tiền đắt quá. Cái thì vừa giá, lại vừa tươm tất, nhưng phải xài điện 220 mới được, mà ở đây khu tập thể lại dùng điện 110. Quanh đi, quẩn lại, hai anh chị quyết định gửi mua một cái quạt Hà Nội. Có mấy trăm thôi mà vừa gọn, vừa bền, chạy khỏe.
- Phải đấy anh ạ, ta chỉ cần cho không khí nó thoáng một chút. Dùng quạt lớn thì tốt đấy nhưng phung phí cả tiền, mình còn sắm lắm thứ nữa.
Chị bảo anh như thế. Anh cười:
- Thì hẳn thế… Nhưng mua quạt mậu dịch thì chờ mãi cửa hàng mới bán, mà ở nhà thì thêm mỗi ngày là mỗi ngày hết chịu nổi.
- Thì mình cũng đã chịu đựng bao nhiêu ngày rồi, làm cái gì mà như chết đến nơi thế.
Anh cười làm lành:
- Thôi thì tùy cô… Ăn thua ở cô đấy miễn là cô giữ được tiền đến khi người ta bán cho.
- Chà, đừng có lo cho em, lo cho anh đấy. Thuốc lá nhiều vào! Anh “hừm” một tiếng, nửa cáu, nửa đùa. Anh là tay hút nghiện, hồi trước hôm nào không có thuốc thì nhức đầu, chóng mặt. Từ ngày cưới nhau, chị kèm riết không cho hút, đến khi bắt đầu tích lũy tiền để sắm thứ nọ, thứ kia thì lịnh cấm càng ngặt nghèo hơn. Anh biết ơn vợ đã kiềm chế được mình, nhưng mỗi lần nghe những lời đay đá của cô nàng, anh cứ muốn cãi lại.

Trời càng lúc càng nắng gắt. Hai vợ chồng sống với nhau qua mùa hè dưới mái ngói râm ran. Dường như họ gặp nhau ở đây để ngủ và ăn cơm, còn thì suốt ngày chị chạy về nhà mẹ, anh lên ngồi thư viện. Kiếm một chỗ mát mà làm việc, chứ giam mình ở đây mà chết thiêu à? Thường thường buổi trưa, chị về sớm, nấu cơm, chùi nhà. Ban đầu thì phân công mỗi người phụ trách mỗi ngày; nhưng dần dà do phân công tự nhiên và do sự vụng về của anh, việc hậu cần lại về cả chị. Anh lại có tính đãng trí, hay về trễ. Nhiều hôm chị dọn cơm ăn xong đi nghỉ rồi, anh mới mò về lục bát chén. Những lần như thế, anh lặng lẽ ăn xong, rửa dọn lấy, rồi đến ngồi ở mép giường; biết vợ chỉ vờ ngủ để nén giận, anh chỉ ghé lưng nằm ở mép chiếu, thiếp đi. Khí trời bức bối làm anh mệt nhừ, uể oải.  
Cũng có lúc anh đưa tay nắm tay vợ tức thì bị hất ra tàn nhẫn. Nước mắt chị ứa ra, tủi thân:
- Có bữa cơm nhà, anh cũng quên!
- Nào anh cố ý về trễ đâu… Ngồi ở thư viện, đang đọc sách thì thằng Sơn rủ đi uống ly cà phê đá. Ngồi ở câu lạc bộ thể thao, gió thổi mát quá, hứng chí nói đôi ba câu chuyện rồi quên…
- Thì đúng là quên! Chị vừa nói vừa khóc thút thít, khóc nhỏ nhỏ chứ không dám nấc to vì sợ hai phòng bên nghe tiếng. Thế là mất luôn giấc ngủ trưa… Đến khi ngoài cổng cơ quan đã có tiếng kẻng báo hiệu giờ làm việc, chị uể oải ngáp dài, úp mặt vào ngực anh:
- Anh ạ, em chỉ mong cho xong cái mùa hè chết tiệt này cho rảnh.
- Ừ, thì anh cũng chỉ mong thế!

Rồi mùa hè chết tiệt ấy trôi qua. Mùa đông đến. Trời lạnh, mưa nhiều nhưng dù sao cái rét vẫn dễ chịu cho những cặp vợ chồng mới cưới hơn. Vào khoảng tháng 11, cửa hàng có về một loạt quạt máy, nhưng đúng dịp ấy anh phải về Quy Nhơn thăm ông cụ ốm nặng. Chị phải chuẩn bị tiền cho anh về nhà, thêm nữa trời đang rét thì nhu cầu quạt cũng chưa cấp bách lắm, vay mượn làm gì cho phiền ra.
Mùa xuân. Những con én thỉnh thoảng bay về làm tổ dưới mái ngói đỏ. Rồi hết mùa, chim bay đi. Lại những đêm nóng râm ran, lại tiếng thằn lằn chắt lưỡi trên đầu tường. Lại mỗi lần từ lớp học về, anh gặp vợ quần xắn móng lợn, tóc túm một túm sau gáy, hí hoáy ngồi thổi lửa ngoài sân nắng.
Chiếc ruy băng hồng lồng quanh khung kính trái tim nay đã bị bụi đóng, bẩn quá nên chị rút ra và định thay bằng sợi khác nhưng tất bật những việc gì rồi chị cũng quên đi. Chiếc giỏ tre xinh xinh cũng mốc và gãy nan rồi anh đã cho nó vào bếp. Thời gian qua cái gì chẳng hư, chẳng cũ. Âu đó cũng là quy luật bình thường!
Chỉ có một vật y nguyên như cũ: chiếc ghế nõn nà ngày nào anh đóng để dành cho chiếc quạt tương lai. Nó vẫn đứng đó trống trải và kiên nhẫn.
Những cơn giận hờn trẻ con đã qua dần. Bây giờ sau mỗi lần gây gổ, chị không còn khóc thút thít rồi áp má xuống lồng ngực nhớp nháp mồ hôi của anh nữa. Chị ra vẻ ta đây, nín thinh, khinh khỉnh. Cái im lặng ngột ngạt như trời trước cơn giông. Chuyện đó cũng trở thành bình thường, bình thường đến nỗi nhiều khi anh cũng không buồn để ý xem chị giận gì.

Câu chuyện chỉ trở thành bất bình thường vào một buổi trưa, khi chị từ hàng thịt trở về với giỏ giò sườn lủng lẳng trước ghi đông. Anh còn lo sửa cái bếp dầu - cái bếp dầu quỷ quái, cứ không chịu bắt lửa cho! Đang loay hoay thì anh nghe vợ la thất thanh:
- Trời ơi, giờ này mà anh còn sửa bếp dầu! Sao không bắc bếp củi cho rồi làm thế này đời nào mới có cơm.
- Thì thong thả nào, muốn củi thì có củi, làm gì mà như chết tới nơi!
- Tôi cũng sắp chết đói đây, anh tưởng sắp hàng từ năm giờ sáng đến giờ này còn khỏe lắm chắc? Biết thế anh đi mua cho rảnh, để tôi nấu nướng cho xong. Cứ giành ở nhà, bây giờ đổ vạ ra đấy!
- Này, vừa vừa chứ, thấy người ta nhịn lại cứ làm tới…
Anh càu nhàu, ngước lên nhìn vợ thấy chị phờ phạc, tóc bơ phờ vì gió, nước da rám nắng, trông thật nản. Chị cũng nhìn anh: dường như trong mắt anh có một thoáng gì gớm ghiếc, bất mãn, đố kỵ; chị nhớ ra là mình đã tàn phai đi so với ngày mới về đây… và chị cay xè hai mắt. Tự nhiên, chị thốt ra những lời cay độc:
- Thôi, không cần! Anh bây giờ còn xem tôi ra gì, để thời giờ, tâm tư mà o bế cô này, cô nọ, chứ tôi là cái gì!
- Ơ cái cô này hay nhỉ? Anh quắc mắt. Cô nói cô này cô nọ là nói quạnh nói khóe những chuyện gì đây? Đừng có hàm hồ, ăn nói vô căn vô cớ…
Trong óc chị hiện ra những hình bóng đàn bà đâu đâu đã đi qua đời anh từ cái thuở xa xăm xa tít nào. Cơn đồng bóng chợt nổi lên, chị vùng vằng ném giỏ thịt xuống đất.
Không may cho chị. Chị có định ném vào anh cho cam? Nhưng đúng lúc đó, anh đang ngồi xổm trên nền nhà chợt đứng vụt dậy, hứng trọn cả giỏ sườn, mở, thịt làm hoen cả chiếc áo trắng. Trời, tai vách mạch rừng, ở khu tập thể này làm gì dấu được ai một ly. Chỉ mấy hôm sau, cô Diệu ở bếp ăn đã đi kháo với tổ cấp dưỡng:
- Này, cái nhà chị Loan ở nhà D1 trông vậy mà đáo để lắm cơ. Đổ cả rổ thịt lên đầu chồng… cái ông Tuấn cũng tốt nhịn thật!
- Thực hả cô; đầu đuôi ra sao? Mấy cô gái trẻ đang nhặt rau ngẩng lên, hiếu kỳ. Thế là cả tuần sau cả khu tập thể đều hay. Ông Nghĩa khét tiếng sợ vợ, cũng lắc đầu bảo bạn:
- Thằng Tuấn dở. Cãi cọ thế nào mà để vợ đổ ụp cả rổ lòng heo nhoe nhoét lên đầu. Vợ tôi mà thế thì thôi, bãi!
Cả hai người cười ngất khi tưởng tượng ra hình ảnh Tuấn với những mảnh tim, gan, phèo, phổi bê bết trên đầu, trên tóc. Trong khi mọi người cười đùa, thì chị cụp mặt xuống. Chị ngượng. Chị không dám nhìn ai nữa. Chị thương chồng, ngượng với chồng, rồi phát tức lên với chồng. Chị không bao giờ nhìn anh bằng con mắt như xưa nữa!

Bây giờ thì chị ngồi đây, trước chiếc va ly đã sửa soạn xong. Đêm qua, anh đã lẳng lặng xếp hết áo quần, vật dụng vào đó, trong lúc chị nằm dài trên giường, lơ đãng xem mấy hình hoạt họa trong tờ tạp chí tiếng Nga. Ngày mai anh sẽ lên đường chuyển công tác vào Quy Nhơn. Từ khi anh viết đơn cho đến khi được chấp thuận chuyển, chị không hé răng can thiệp một lời nào. Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, nhìn nhau đã thấy hết tốt, hết đẹp thì còn đeo đẳng nhau làm chi nữa? Mấy hôm nay bạn bè đến tạm biệt anh, kẻ thì rủ đi nhậu người gửi thức này, thức nọ. Anh tiếp bạn bè vui vẻ, bình tĩnh, lúc hứng chuyện lên anh cười ha hả vô tư. Nghe tiếng, cười, chị thấy se se lòng… Nhưng rồi chị gạt đi, cứng rắn nghĩ thầm “mình chỉ được cái tình cảm vớ vẩn, hão huyền! Y làm gì mặc xác y chứ!”
Chiếc va ly nằm đây. Lần đầu tiên trong đời, anh tự xếp hành trang, không cần nhờ đến chị. Vĩnh viễn anh không cần đến chị nữa. Hơn một năm nay, chị để ý thấy mỗi lần đi công tác xa về, sắc mặt anh hồng hào tươi tỉnh hẳn lên. Rõ ràng căn phòng này chỉ còn là một cái nhà giam ngột ngạt đối với anh. Căn phòng này, cuộc sống này, và chị…
Hôm nay, trước mặt chị, chiếc ghế đẩu trắng xinh xinh vẫn còn đó, trống trơn, lạc lỏng như một giấc mơ không thành. Chị nhếch mép cười: bao nhiêu năm qua, tiền tiêu phí vào những việc đâu đâu mà vẫn không sắm nổi chiếc quạt máy. Không, không phải chỉ là chuyện chiếc quạt, mà còn là ý muốn thiết tha tạo điều kiện để sống hạnh phúc với nhau. Chẳng biết nếu những mùa hè đừng nóng nực, bữa cơm ngon ngọt hơn, hay có thêm chiếc quạt máy, thì cái gia đình nhỏ này sẽ ra sao? Chà, thôi hơi đâu mà nghĩ vớ, nghĩ vẩn nữa, chuyện gì đã qua, cho nó trôi qua, tiếc nuối làm gì?

Tiếng động ở cửa làm chị sực tỉnh. Anh bước vào, cùng với một người bạn. “A, anh Sơn!”
- Sơn đấy. Ngày mai tôi đi, anh ấy rủ đi ăn tối cho vui. Anh bảo vợ, vừa nói vừa liếc nhìn vẻ mặt chị.
- Ừ, thì đi. (Trong bụng chị thầm nghĩ: vô tình vô nghĩa đến thế thì thôi, còn có hôm cuối cùng, cũng bỏ đi ăn nơi khác!) Đi cho vui chứ còn có một hôm nay, anh em chưa chào hết. Mua được vé tàu chưa?
- Rồi. Phờ cả người, vào ngồi chơi tí đã Sơn. Ngồi một lát cho khỏe rồi lại đi, chứ ở đây nóng lắm.
Sơn bước vào ngồi cạnh bàn, uống nước, nhìn quanh:
- Chỗ này đã lấy gì làm nóng. Chung quanh thoáng, có đâu như bên nhà mình bị cả dãy buynh đinh chắn ngang thành ra cả ngày không được tí gió nào.
Chị lắc đầu, pha thêm nước vào bình trà:
- Anh cứ thử ở đây ít hôm, rồi biết mùi cái mái ngói với bốn bức vách này.
- À, đó là lỗi tại hai ông bà chứ. Đây nóng là tại xáp nắng. Trồng ít cây xanh hay hoa leo là nó mát ngay chứ gì.
Chị đưa mắt nhìn anh, và bắt gặp mắt anh nhìn chị. Thực đơn giản. Nhưng lâu lắm rồi, anh chị chẳng nhớ ra điều đó.
“Này nhé, trước sân kia, trồng vài cây vũ sữa hay trứng gà gì đấy thì tha hồ mà mát, lại có chỗ mắc võng. Vài năm là có bóng râm ngay thôi. Không thì xuống nhà mình, bứng lên vài mụt hoa giấy…”
Chị lại nhìn anh, và vẫn gặp mắt anh nhìn chị. Một phút trôi qua, anh nhìn đi nơi khác. Sau một thoáng xao xuyến, họ lại trở về với vẻ lạnh lẽo mọi ngày.
Chị cúi đầu, im lặng, rồi khe khẽ bảo:
- Có lẽ bây giờ mà trồng thì muộn mất rồi, anh Sơn ạ. Vô ích.

Sáng hôm sau anh đi. Chị cũng tiễn anh tới sân ga.
Khi còi tàu rít lên và những khung cửa sổ dần dần dang xa khỏi tầm mắt, chị trở về, nằm dài trên chiếc giường nhỏ. Một cảm giác lạ lùng dâng lên trong tim chị, không rõ là buồn hay vui, trống trải hay là thanh thản. Căn phòng bây giờ như khác đi. Lúc trước, chị thấy nó chật chội, tù túng, còn bây giờ thì rộng và nhạt nhẽo. Hơi nóng râm ran vẫn quyện lấy bầu không khí nho nhỏ giữa bốn bức tường xây và mái ngói.
Ôi, cái nóng, cái nóng vẫn đeo đẳng chị từ lúc về đây cho tới lúc chia lìa.
Vươn vai, chị kẹp lại tóc, bước ra hiên. Trong khu tập thể, mọi người đã về, ai nấy lo sửa soạn bữa cơm, tiếng cười đùa vang lên, huyên náo. Với tay lấy chiếc gáo, chị múc nước định rửa mặt cho đỡ nóng.
Chợt chị dừng lại.
Trước hiên, chẳng biết ai đã giăng mấy sợi dây thép mỏng mảnh từ mái nhà xuống tận thềm. Mấy mụt hoa giấy yếu đuối, xanh xanh đang dựa vào đầu giây, ẻo lả. Ai đó đã trồng ở đây một hàng cây non từ sớm tinh mơ…
Ngẩng lên, chị thấy một mảnh giấy gấp tư giắt ở cái mắc áo mưa trước cửa. Hồi hộp, chị mở bức thư:
“Loan,
Có lẽ đã xa lắm rồi, cái thời mà người ta có thể sống không cần chút tiện nghi nhỏ nào. Nhưng bây giờ anh mới sực nhớ ra, điều quan trọng không phải là mình không có chiếc quạt máy. Điều quan trọng là mình đã nghĩ đến nhau quá ít… Anh cũng nghĩ như em, bây giờ mà làm một cái gì thì đã quá muộn. Nhưng có lẽ, muộn còn hơn không.
Anh đi, hy vọng giữa chúng mình vẫn còn một cái gì đó tươi xanh, và mong có bóng mát cho em trong cuộc sống - chút bóng mát đủ cho mình có thể nhìn vào mắt nhau… nếu một ngày kia anh còn trở lại…”
“Không, không…” Chị run lên. Nước mắt ràn rụa trên hai má, chị thấy mơ hồ quanh mình hình ảnh căn phòng ngày nào, nho nhỏ, sạch sẽ. Chiếc gương soi thắt nơ trên vách, chiếc giỏ tre xinh xinh đầy hoa. Rồi chị tưởng chừng bên tai tiếng còi tàu rít lên, và những khung cửa sổ dần dần dang xa, dang xa…
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 673
Join date : 25/04/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeMon Sep 23, 2019 9:50 am

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Images?q=tbn:ANd9GcSHWZvXphHnNNJ17y4Qz_V7eab8RDFgsShde2wOhSnMruQpuJnt

Chiếc nhẫn ngọc lục bảo
- Trần Thùy Mai


Tuấn bước lên sân thượng khách sạn. Người đàn bà đang ngồi chờ anh. "Tên tôi là Manuelle, người ta thường gọi là Manu".
Làm việc với khách sạn hơn sáu năm, Tuấn đủ kinh nghiệm trong ngành du lịch để nhận biết khá nhanh về nhân thân của người khách lạ. Người đàn bà này lịch lãm, quen tiếp xúc với nhiều người. Tên tuổi như vậy, nói tiếng Pháp chuẩn như vậy, nhất định là dân Pháp. Nhưng mái tóc đen như thế thì người Pháp không có. Cũng không phải người Việt, người Việt không có đôi mắt này. Đôi mắt tỏa sáng huyền bí như mắt người Ấn hay người Mã Lai... Tuấn phân vân, nhưng anh không hỏi. Du khách đến khách sạn giống như đoàn lữ hành qua sa mạc, đến và đi với gió, họ thường không thích lưu lại dấu chân mình trên cát.
"Các bạn gái tôi giới thiệu anh. Họ bảo anh dễ mến lắm. Tôi đến đây chỉ có một mình".
Tuấn hiểu. Anh là một nhân viên khách sạn đẹp trai và khá khôn lanh. Nhiều nữ du khách đã trở nên thân thiết với anh sau một lần lưu trú. Anh luôn tìm hết cách để chiều lòng họ, và anh chẳng thiệt thòi gì. Nhưng hôm nay e phải chối từ: Mai là lễ ăn hỏi của anh. Sáng nay anh đã xin nghỉ, nhưng đúng một phút trước khi rời khách sạn thì nhận được tấm danh thiếp của người đàn bà lạ.
Tuấn nghĩ cách từ chối mà không phải nhắc đến vị hôn thê của mình. Anh là người sành tâm lý phụ nữ. Đàn bà, họ luôn muốn độc tôn, dù là trong mắt một người đàn ông xa lạ. Vả lại, Festival còn kéo dài đến hết tuần, mà đến ngày kia anh đã có thời gian rồi. "Thưa bà...".

Nhưng cũng đúng lúc đó người đàn bà mở miệng nói, nên theo phép lịch sự anh phải nhường lời cho phụ nữ. "Hôm nay tôi muốn đi một chuyến về phía tây. Các bạn tôi bảo anh có xe riêng rất tốt, phải không?".
Đúng vậy, anh đã mua xe để thêm thuận lợi trong công việc, cũng vì chiếc xe mà hiện nay anh còn mắc nợ ít nhiều. Anh rất muốn nhận chuyến đi này, nhưng không thể được. Liên rất hay hờn, vẫn thường giận dỗi bảo anh chỉ biết tham công tiếc việc, chẳng dành đủ thời giờ cho nàng. Anh đã lao đao nhiều lần suýt vuột mất cô bạn gái xinh xắn bé nhỏ, nếu bà mẹ nàng không luôn miệng bênh vực và tán dương ông con rể tương lai .
"Tôi sẽ không quên công anh". Manu nói, bà cử động hai bàn tay đang nắm lấy nhau trên mặt bàn, một cử động hết sức uyển chuyển làm nổi bật lên chiếc nhẫn ngọc xanh biếc. Theo Tuấn, cử chỉ ấy mang một ngụ ý khá rõ rệt. Thấy ánh mắt chàng trai, Manu hỏi rất tự nhiên:
- Anh có thấy chiếc nhẫn này đẹp không?
Tuấn gật đầu. "Ngọc lục bảo phải không?". Anh hỏi. Người đàn bà im lặng mỉm cười. Tuấn buột miệng:
- Phải đến ba nghìn đô-la?
Nói xong Tuấn chợt thấy ngượng, anh nhận ra mình đã có câu nói hớ hênh, không thanh lịch chút nào. Thật tầm thường, mình đã mở miệng hỏi giá tiền trong khi lẽ ra phải tán dương vẻ đẹp của nó. May sao Manu không có vẻ gì phản cảm với anh, bà ta chỉ vỗ vai chàng thanh niên với một vẻ bao dung:
- Anh sành giá cả như thế, nhất định biết rất rõ các thứ ngọc quý.
Tuấn lấy lại tự tin. Không biết tự lúc nào, anh đã quên mất lời cáo từ.
Tuấn cho xe lướt rất êm. Manu ngồi bên cạnh, cặp mắt sâu và đen nhìn đăm đăm về phía núi xanh trước mặt.

Điện thoại di động trong túi Tuấn rung nhẹ. Chắc chắn là Liên. Tuấn hơi bối rối, nhưng rồi anh quyết định để nó rung thoải mái cho tới khi tắt. Anh nhủ thầm sẽ cố xong mọi việc với Manu để về sớm, còn lý do để giải thích với Liên thì khi nào cũng sẵn có trong đầu anh, ngại gì. Tự thu xếp với mình như vậy, anh thấy yên tâm, nhận ra Manu đang hướng anh đi theo con đường dẫn lên A Lưới. Không sao, đường này anh cũng đã đưa du khách đi nhiều lần, khách nước ngoài rất thích du ngoạn những vùng đất hẹp trong sơn ao. "Chị muốn xem những vùng có người dân tộc phải không? Mình phải kịp về trước khi trời tối, ban đêm ở vùng cao không an toàn đâu. Tôi đã nhận trách nhiệm với khách sạn phải đưa chị đi về an toàn".
Anh đã nói dối, thói quen nói dối trơn tru không cần suy nghĩ. Đêm vùng cao ở đây chẳng có gì nguy hiểm cả, chỉ có điều anh đang cần về sớm. Manu xem chừng chẳng bận tâm mấy đến lời hăm dọa của anh, bà ta bảo:
- Tôi có bản đồ đây, tôi sẽ chỉ đường cho anh - Thấy Tuấn chưng hửng, Manu mỉm cười giải thích: Tôi là biên đạo múa ở Nhà Hát Trẻ thành phố S... Tôi đang dựng một vũ kịch trong đó nhân vật chính là cô bé Kalang - Nga, người Tà Ôi.
- Sao lại người Tà Ôi?
- Đúng vậy. Ở Pháp không có dân tộc ít người. Những đề tài về các dân tộc miền núi làm người ta quan tâm.
- Làm sao chị biết về người Tà Ôi, từ tít bên kia?
Manu cười, đưa bàn tay có chiếc nhẫn, lật cuốn sổ có một trang ghi chú những con đường núi với những cái tên Tà Ôi đã phiên âm. Viên ngọc trên bàn tay phản chiếu ánh mặt trời, xanh biếc. "Có nhiều cách. Thư viện. Cộng tác viên. Và cả trí tưởng tượng nữa".

Manu quây kính xe lên, lập tức phía bên kia Tuấn cũng quây kín cửa lại cho khỏi gió. Người đàn bà cởi áo khoác. Đôi vai trần nâu mịn hiện ra trước mắt anh trên chiếc áo hai dây. Từ đôi vai anh có thể tưởng tượng ra cơ thể mảnh mai lạ thường mà phụ nữ trung niên thường không có. Có cảm giác như vừa uống một ly bia, anh bốc lên, dận ga cho xe lao rất nhanh trên đường đèo. Manu đặt một tay lên vai anh, như muốn bảo anh chậm lại. Hơi ấm từ bàn tay xuyên qua lần vải áo. Điện thoại đúng lúc ấy lại rung khẽ trong túi anh. Những hồi rung kéo dài, nối tiếp nhau, dai dẳng, như muốn níu giữ anh lại. Nhưng xe đã tiến lên dốc đèo Aco, ra ngoài vùng phủ sóng.

***

Sau gần sáu mươi cây số chạy xe và hơn một giờ đi bộ, họ tới nhà mộ Tà Ôi giữa thung lũng hoang vắng. Tuấn phải rút dao nhíp cắt bớt những nùi dây leo cuống quýt bít lối đi để đưa Manu vào đến tận nơi.
Mặt trời nghiêng xuống chiếu vào cây cột lớn trong nhà mồ, rọi những tia dữ dội lên hình mặt người khắc trên cột. Phía sau cột cái, một dãy quan tài nằm cạnh nhau, mỗi quan tài là một thân cây đẽo vuông vức. Manu đến chỗ quan tài lớn nhất, đặt lên đấy bó hoa hồng trắng. Bó hoa đã hơi ủ rũ sau nửa ngày đường, nhưng vẫn rất thơm, thơm ngát.
Hoa hồng trắng của một người phương Tây nơi nhà mộ hoang vu này... Tuấn thầm nghĩ. Manu lấy ra một gói lớn, bà ta trầm tư một lát rồi mở gói, đặt lên nắp quan tài những nén bạc lớn. Tuấn đếm được tất cả ba mươi nén bạc.
Họ liên quan gì đến nhau, Manu và những người chết ở đây? Tuấn nghĩ thầm nhưng không dám hỏi. Manu đã xăm xăm trở ra giữa hai bờ cỏ tranh. Tuấn chăm chú nhìn vào mái tóc quăn cuốn cao trên cái ót đầy đặn. Anh chăm chú quan sát vẻ mạnh mẽ uyển chuyển kỳ lạ trong từng cử chỉ của người đàn bà: Vẻ bí ẩn bao quanh bà ta giống như một thứ men rượu, kích thích và gieo vào anh một sự hưng phấn mãnh liệt.

Trời đã sẫm chiều. Khi ra đến chỗ để xe hơi, Manu ngồi bệt xuống vệ cỏ. Tuấn trải tờ báo ra, bày mấy thức ăn khô có sẵn trong xe. Manu uể oải nhai mẩu bánh mì với một lát xúc xích. Phần Tuấn đã đói cồn cào, anh ngốn hết những thứ đã mang theo. "Manu, mình về thôi". Manu nhìn lên, mặt tái xanh. Lúc đó Tuấn mới nhận ra dưới vẻ mạnh mẽ và tự kiềm chế, người đàn bà đang xúc động cực độ. Anh hốt hoảng: "Manu, chị cần phải nghỉ một chút. Tôi đưa chị vào làng nhé?". Nghe câu nói của anh, Manu giật mình: "Khỏi cần, tôi không vào đâu, trên xe được rồi".
Tuấn lật ghế xuống, tạo thành hai cái giường song song. Manu ngả lưng xuống băng ghế sau, vẻ như kiệt sức. Tuấn giúp Manu kê đầu lại cho ngay ngắn, cởi giúp bà ta đôi giày đang bó chặt lấy cổ chân. Anh do dự không biết có nên giúp Manu nới những cái móc, cái cúc tế nhị hơn không. Rồi có lẽ được cảnh hoang vắng chung quanh khuyến khích, anh ôm choàng lấy Manu, ngực sát vào ngực người đàn bà. Hai bàn tay anh vuốt từ dưới gáy đến đôi vai, rồi dọc theo lưng, bằng cách đó anh làm cho người đàn bà thư giãn và tỉnh táo lại sau cơn xúc động. Mặt bà ta hồng lên, mắt mở. Tuấn cúi xuống, những lọn tóc rũ trước trán khiến khuôn mặt anh mang một vẻ buông thả mê muội.
"Xem kìa, Tuấn, sao vậy?". Manu hỏi. Tuấn nói, không quanh co:
- Tôi thích chị.
Manu ngồi dậy, nói như hụt hơi:
- Cảm ơn, nhưng tôi không thể... Tôi lại có cảm tưởng như ở trong lễ pok ruông. Tôi sợ đến không thở được.
Tuấn bóp trán Manu, vầng trán giờ đây lạnh buốt, anh phải cố cho hơi ấm trong tay anh thấm vào. "Đừng sợ, chị sẽ dễ chịu lại ngay thôi mà".
Trong tay anh, mạch cổ tay của Manu dần đập đều trở lại. Tuấn lấy tấm chăn có sẵn trong xe phủ lên người Manu. "Anh muốn biết pok ruông là gì phải không? Cứ ngồi với tôi một chút, tôi sẽ kể cho anh nghe".
Tuấn là người phóng túng, nhưng khi cần anh biết kiềm chế bản thân. Thôi không quấy Manu nữa, anh ngoan ngoãn ngồi bên bà ta trong tấm chăn ấm. Bên ngoài, sương xuống ướt ròng trên kính xe, chung quanh trời đất tối mịt thành một khối đen vô tận.

***

Kalang Nga vừa đi vừa thút thít khóc. Lúa đã về nhà rồi, chỉ còn nửa con trăng nữa là đến Tết. Tế thần Yang Tro xong, cả nhà sẽ được ăn cơm mới. Nhưng năm nay thì không được rồi. Nhà Aviet đã giục đón dâu, chỉ năm sáu bữa nữa là phải ra đi.
Kalang Nga mười hai tuổi. Cả bản làng khen cô đẹp, phơi phới như lúa đầu mùa. Những người già nói Kalang Nga giống mẹ. Mẹ chỉ còn là người đàn bà đen đúa, gầy còm sau nhiều năm vất vả. Vậy mà ngày còn trẻ mẹ Kalang Nga nổi tiếng đẹp nhất vùng, có tài dệt thổ cẩm rất khéo, cha Kalang Nga đã phải đi vay ở nhà Aviet để nạp tiền "văn" - tiền thách cưới - mới đủ. Vì món nợ ấy, Kalang Nga vừa lọt lòng đã được chủ nợ đặt cọc. Bây giờ, mẹ Kalang Nga đã chuẩn bị cho con váy, áo và chiếu nằm. Kalang Nga bứt tóc van vỉ. "Cho con ăn cơm mới ở nhà ". Mẹ Kalang Nga lắc đầu:
- Không được đâu. Nhà trai đòi đón dâu từ hồi con năm tuổi. Khất nhiều nhiều rồi, không khất thêm được đâu.
Cha Kalang Nga thì trừng mắt bảo con:
- Mày làm dâu nhà Aviet là có phước lắm rồi, làm dâu nhà sang, được đeo dây Katteng ngàn sợi, không hơn ở nhà khó quanh năm ăn củ nưa à.
Người lớn đã nói vậy, Kalang Nga chỉ còn biết nuốt nước mắt thôi. Bên nhà Aviet đã nối thêm gian mới. Aviet Khất giàu có, nhiều vợ, nhiều con cháu, nhà dài đến chín gian. Kalang Nga chưa đến gần bao giờ, nhưng cô bé sợ ông ta, sợ lắm. Aviet Khất là người thợ săn hùng mạnh và cũng rất hung dữ. Một lần khi lên tám tuổi, Kalang Nga đã nhìn thấy người vợ thứ ba nhà Aviet bị xử tội. Người đàn bà bị buộc vào sau ngựa và bị kéo lê đi khắp xóm, thân hình đầy máu.

Một hôm trước ngày đón dâu, cô bé đã chạy đến nhà Pasieng Rêm, người lái buôn thường về xuôi buôn bán sau mùa gặt. "Bác Rêm, cháu có nhiều đồ quý, bác bán giùm cháu được không?" Cô bé vừa hổn hển nói vừa quỳ xuống, buông vạt váy mà cô đang lật lên, khư khư bụm lấy trước bụng. Một mớ hòn cuội trong, nhẵn bóng đổ ra trên sàn. Đó là tất thảy những viên cuội đẹp nhất mà cô bé Kalang Nga nhặt được trong những lần đi cõng nước ngoài suối trong suốt năm năm.
Pasieng Rêm ngạc nhiên. "Mày muốn gì?". Kalang Nga năn nỉ:
- Cháu nghe nói bác về xuôi, đem vật quý của rừng về đổi gạo, muối, bạc. Cháu muốn nhờ bác đổi những thứ này lấy bạc.
- Những hòn cuội, người Kinh họ không thích, mày cất đi mà chơi. Vả lại mùa này ta không đi buôn, đã có ông bạn người Kinh đây đem saphia, nồi đồng, thanh la, muối lên cho ta rồi.
Hy vọng tiêu tan, Kalang Nga rã rời quỳ phục trên sàn, không đứng dậy nổi. Cô không biết rằng trong tư thế ấy trông cô rất đẹp, tấm zèng ngắn quàng từ ngực xuống đầu gối co lên để lộ đôi chân tròn và bóng mượt như thân chuối non. Nước mắt cô chảy từ cằm xuống vành ngực bầu bĩnh sau đường hoa văn căng tròn trên tấm thổ cẩm. Người lái buôn miền xuôi ngồi bên gùi hàng nhìn cô đăm đăm...
Khi Kalang Nga lượm lại những viên sỏi, buồn bã xuống đến chân cầu thang, một bàn tay giữ bờ vai cô lại.
"Tội nghiệp em. Em đừng sợ, tôi thương em lắm".
Trong bóng tối, trên bàn tay người đàn ông hiện ra một vật lấp lánh sáng. Một chiếc nhẫn màu xanh. "Ngọc đấy".

Lần đầu tiên cô bé thấy một vật quý như vậy. Hai mắt cô không thể rời khỏi ánh xanh huyền ảo của nó. "Em ra gặp tôi ở bờ suối ngoài bìa rừng. Tôi sẽ giúp em".
Kalang Nga đã nghe dân làng nói về saphia và ngọc. Chúng rất quý, chỉ những nhà rất giàu mới có được. Nhưng cô bé cũng hiểu, lời hẹn ngoài rừng có nghĩa là gì. Cô run lên, giọng khàn đi:
- Tôi sợ lắm.
- Đừng sợ. Tôi thương em lắm mà. Từ chiều mai em có thể trả cho Aviet Khết gấp bốn gấp năm lần tiền "văn", còn phải sợ ai nữa.
Kalang Nga vã mồ hôi ra, em không biết luật tục sẽ xử trí như thế nào trong trường hợp này. Em muốn về nhà hỏi mẹ, nhưng không thể được, viên ngọc xanh như có sức thôi miên. Cô bé đờ đẫn bước đến gần, mắt dán vào chiếc nhẫn.
Kalang Nga ra bìa rừng. Người đàn ông chờ cô bên bờ suối. Cô bé sợ hãi và đau rát. Dù xinh đẹp phổng phao, nhưng cô cũng chỉ là một đứa trẻ. Một đứa trẻ đã biến thành đàn bà. Từ nay cô là một dạng trẻ con - đàn bà; đàn bà vì hai lẽ, cô đã biết đàn ông và đã có nữ trang.
Nhưng món nữ trang không dễ bán. Pasieng Rêm lầm lì cầm chiếc nhẫn, soi trước ngọn lửa, rồi bảo:
- Mày ngu quá. Đây không phải ngọc, chỉ là viên ve chai thôi. Tao trả mày ba đồng xu thôi.
Kalang Nga kêu lên thất thanh: "Không, nó là ngọc mà" "Tao đã bảo là ve chai" Pasieng Rêm giận dữ quắc mắt, nắm chặt nó vào bàn tay lão. Kalang Nga cũng không chịu thua, cô bé lăn vào, mắm môi, giật bằng được chiếc nhẫn. Cô quay mình, chạy băng băng xuống cầu thang, đuổi theo người đàn ông miền xuôi.
Ở cuối bản làng, gã miền xuôi đang buộc hai gùi hàng vào hông xe máy, chuẩn bị lên đường. Kalang Nga đâm bổ đến, tóc cô rũ rượi. "Pasieng Rêm bảo tôi, đây là chiếc nhẫn giả". Người đàn ông tức giận:
- Pasieng Rêm nói gian. Cái nhẫn đó quý lắm.
Kalang Nga lắc đầu, nước mắt đầy mặt:
- Tôi chỉ cần ba mươi nén bạc trắng thôi. Ông mua cái nhẫn cho tôi đi.
Gã lái buôn biết, cứ đôi co thế này thì dân trong bản sẽ đổ ra, tai họa sẽ ập xuống đầu cả hai. Bỗng một thoáng, trong óc người đàn ông lóe lên một ý nghĩ táo bạo, hắn ta xốc Kalang Nga lên, đặt ngồi lên xe trước mặt hắn và rồ máy...
Kalang Nga bị bắt cóc khi chưa về nhà chồng. Cha mẹ cô bé chẳng bao giờ có đủ tiền để trả của cho nhà Aviet.

***

Manu dừng kể. Trong đêm vắng, Tuấn nghe tiếng sương rơi lộp bộp trên trần xe.
"Rồi họ ra sao? Người Tà Ôi xử sự với họ như thế nào?"
"Luật Tà Ôi với tội bội hôn rất nghiêm khắc. Dù nhà gái có chạy đến góc biển chân trời nào cũng khó mà thoát, nhất định phải đền của cho nhà trai... Có khi còn bị chém giết... Pok ruông là như thế đấy". Cái rùng mình của Manu sát bên Tuấn khiến bất giác anh cũng thấy sởn gai ốc, cảm thấy như uy lực của ngôi nhà mồ Tà Ôi đang ngự trị đâu đây sát bên anh, trong bóng đêm.
"Còn Kalang Nga? Cô ta sau này ra sao?"
"Nhiều chuyện xảy ra với con bé, kể thì dài lắm. Cuối cùng, nó được đưa vào cô nhi viện của các nữ tu dòng Mến Thánh Giá. Sau đó thì được một người Pháp nhận làm con nuôi".
Bên ngoài xe, bóng đêm loãng dần, tiếng sương rơi thưa đi. Những rặng cây xa xa lờ mờ hiện ra trước một quầng sáng đang ửng lên: Mặt trời sắp mọc.

"Kalang Nga lớn lên ở Paris, được học hành tử tế. Nó dần dần quên hẳn quá khứ. Khi mọi chuyện đã vượt quá sức một người, người ta chẳng còn cách nào hơn là quên đi để sống lại một đời khác. Nhưng rồi sau nhiều năm, Kalang Nga bắt đầu có những thông tin từ nguồn cội của mình. Aviet Khết đã không giết và cũng không đòi nợ cha mẹ nó. Hóa ra ông ta không hoàn toàn khủng khiếp như nó tưởng. Trước chủ làng, ông ta nói họ không có tội".
"Kalang Nga kể với chị như thế sao?"
- Vâng. Theo tôi, ông ấy đã có suy nghĩ vượt hẳn những người cùng thời trong bộ tộc, ông đã phát hiện cái mà bây giờ ta gọi là trách nhiệm cá nhân.
Tuấn gật gù, không nói.
"Từ đó Kalang Nga không hề ngủ được, tâm thức Tà Ôi sống dậy trong nó. Nhiều đêm nó mơ thấy mình bị chủ làng kéo lê trên mặt đất trong lễ rửa nhục. Anh biết đấy, người Tà Ôi không chịu ảnh hưởng đạo Nho như các anh, họ không có những quan niệm về lễ giáo. Với họ điều quan trọng là luật tục. Kalang Nga không thể sống yên khi chưa đền cho Aviet Khết ba mươi nén bạc trắng..."
- Còn chiếc nhẫn? Nó là giả hay thật?
Manu đưa bàn tay ra. "Anh nhìn xem. Nếu quả thực nó chỉ là một hòn thủy tinh, thì có thể nói Kalang Nga là một con ngốc không?"
- Không những ngốc mà là điên! Nhưng dù sao cũng hiểu được, vì đấy chỉ là một cô bé miền núi chất phác, trong một hoàn cảnh rất bức bách.
"Còn anh?" Manu tủm tỉm cười.
Tuấn không hiểu người đàn bà muốn nói gì, anh hơi ngỡ ngàng. Nhưng đúng lúc đó, điện thoại di động trong túi anh rung lên, những hồi rung dài, nối tiếp nhau, dai dẳng và khắc khoải.

Bên ngoài xe, trời đã sáng bạch. Tuấn nhớ sực ra, giờ này chắc Liên đang cuống cuồng đi tìm anh. Đã sáu giờ sáng. Tuấn bứt tóc: "Trời ơi, mình điên, điên thật rồi". Giờ nạp lễ được ấn định là chín giờ. Từ đây về thành phố phải mất bốn giờ, nghĩa là anh đã cầm chắc trễ. Nhưng thôi hãy gắng một lần, nếu chạy xe nhanh, thật nhanh...
Anh không lý giải được vì sao ở ngoài vùng phủ sóng mà điện thoại anh lại bỗng dưng bắt được tín hiệu. Về sau Tuấn mới biết: Thật may mắn, ngày hôm ấy là ngày sóng di động bắt đầu được phủ rộng trên vùng rừng núi phía tây. Đã bốn mươi năm qua từ câu chuyện của Kalang Nga đến câu chuyện của anh, nhưng sức thôi miên của chiếc nhẫn màu xanh thì vẫn không hề khác.

***

Liên gần như bật khóc khi vào phút cuối Tuấn lao mình vào nhà, tóc tai phờ phạc vừa đúng lúc họ nhà trai đang tiến vào cổng nhà gái chuẩn bị nạp lễ. Suýt chút nữa thì đám hỏi đã được hoãn lại, nếu cha của chú rể không liều mạng nhất quyết cử hành, với niềm hy vọng ông con trai quý hóa sẽ về vào phút chót.
Mấy hôm sau, Tuấn đi làm. Manu đã rời Huế đi Hà Nội. Người quản lý chuyển cho Tuấn chiếc phong bì và một cái hộp nhỏ. Trên phong bì là tên người gửi: Nghệ sĩ múa Manuelle Hardy, nghệ danh Manu le Cygne. Tuấn nhíu mày: le Cygne trong tiếng Pháp chính là Kalang Nga trong tiếng Tà Ôi, nghĩa là con ngỗng trời.
Trong hộp là chiếc nhẫn màu xanh. Tuấn nhìn kỹ nó, nhưng thật lạ, không có vẻ huyền ảo như lần đầu anh nhìn thấy, hôm nay trông nó trơ trụi và thô thiển hơn nhiều lắm.
Anh mở phong bì, đọc thư:
"Đêm qua tôi đã ngủ được một giấc ngon lành, hơn mười năm nay tôi mới được ngủ như thế. Anh thực sự là một người bạn đường dễ mến, vì vậy tôi rất cảm ơn anh và muốn nhờ anh một việc nữa. Tôi gửi lại anh chiếc nhẫn này. Sau khi sang Pháp tôi vẫn khư khư giữ nó, rồi khi lớn lên, khi đã biết chắc mười mươi chỉ là một hạt ve chai, tôi vẫn không thể vứt đi được. Có lẽ tôi đã trả cho nó một giá quá đắt nên không thể chấp nhận cái ý nghĩ rằng nó là một vật vô giá trị. Anh hãy làm việc đó giùm tôi nhé".
Tuấn cầm chiếc nhẫn lên, đeo vào tay, không thấy nó phát ra ánh xanh lấp lánh nữa. Hóa ra vẻ huyền ảo ma quái ấy có nguồn gốc từ sự tham muốn trong anh, chứ không phải từ chính nó.

Anh về nhà, lúc đi ngang hòn non bộ trong sân, anh dừng lại. Manu không biết rằng anh cũng suýt trả cho nó một giá đắt, vì thế giờ đây cầm nó trên tay anh cũng lưu luyến một cách vô cớ. Nhưng phải nhận lời ủy thác của Manu thôi. Tuấn mỉm cười, thả chiếc nhẫn xuống chân hòn non bộ.
Lắng sâu vào lớp rêu, nó chỉ còn là một viên bi ve lấp lánh vừa đủ để cho lũ cá vàng ngắm nghía mỗi lúc lượn qua.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 614
Join date : 13/03/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Oct 20, 2019 9:12 pm

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Images?q=tbn:ANd9GcTB8kRgThfEoi0w6iMfxUqHtPCegTd9wndTWiC6tzzDq0-3Cv7G


Giáng Kiều 
- Trần Thùy Mai


Tối thứ bảy cuối tuần, Phương tuyên bố:- Tuần sau anh bắt đầu viết tập hai bộ tiểu thuyết của anh Nhớ đừng huy động vào việc gì hết đấy nhé...
Lan, vợ Phương, đang đạp xành xạch ở bàn máy khâu ngửng đầu lên, hơi nhíu mày một lát. Bắt đầu sáng tác... Như thế có nghĩa là trong căn hộ này sắp xuất hiện một Đỗ Thế Phương đăm chiêu, lầm lì, ngồi viết một chốc lại chắp tay sau lưng đi lui đi tới trên nền xi măng vẫy đầy tàn thuốc, sẵn sàng cau có với bất cứ ai vô tình đến quấy rầy... Dường như đoán được ý nghĩ của vợ, Phương vội nói:  
Anh không viết ở nhà đâu. Anh đăng ký một phòng ở nhà sáng tác rồi.
«Thế à?» Lan hỏi. Đã từ lâu theo nhận xét của Phương, vợ anh có vẻ am hiểu về quy chế tính tiền nhuận bút hơn là ý đồ sáng tác của chồng. Vì vậy, để trả lời câu hỏi của Lan, anh huýt sáo và tiến ra bao lơn, ngước nhìn lên bầu trời đầy sao. Tiếng dế vang lên «tic tic...» từ ngoài vườn, và Phương vừa cố lắng tai nghe, vừa khó chịu vì tiếng máy khâu xành xạch... xành xạch cứ vọng ra liên tục.  

Sáng thứ hai, tuy đã xin được miễn công tác. Phương vẫn phải làm cái việc thường ngày: đưa cậu quí tử đến trường (Lan đi làm sớm, nên bao giờ cu cũng ăn trước và lên đường trước). Khi dắt xe ra cổng, tự nhiên mi mắt bên trái của anh giựt giựt. Giụi giụi mắt, Phương cười nói với thằng cu Bi đang lễ mễ vừa ôm cặp vừa khiêng cái bụng tròn chạy theo: "Chà, chắc sắp có sự kiện gì đang chờ bố đây, cu ơi!".  
Quả nhiên là, có sự kiện ấy thật.  
Vừa mở cửa căn phòng, cái đập vào mắt anh là một quả đu đủ vàng tươi nằm chễm chệ trên bàn cạnh mấy bông đồng tiền đỏ thắm. Phương ngạc nhiên mất một lúc, và mi mắt anh lại giật giật. Kỳ thật... Cửa phòng còn khóa, mà mấy bông hoa còn tươi, chứng tỏ ai đó đã đặt lên cách đấy không lâu. Phương đến gần, ngắm nghía mấy thứ trên bàn. Không một dấu vết nào giúp đoán ra được chủ nhân của món quà vô danh.  
Phương đặt cặp xuống ghế. Mình có mở khóa nhầm phòng không đấy? Nhưng anh chợt nhớ ra vào thời gian này chỉ có mình anh đăng ký sáng tác ở đây. Phía sau tòa nhà là chỗ ở của gia đình chị Trúc bảo vệ. Biết đâu chị ấy bỏ quên? Nhưng khi Phương hỏi thì chị chỉ ngơ ngác:  
Hôm qua tôi có lên phòng quét mạng nhện và đặt bộ ấm chén cho chú, mà có thấy gì đâu?  
Mặc dù hết sức ngạc nhiên, Phương vẫn không quên bổ quả đu đủ và chia cho bầy con của chị Trúc. Khi trở về phòng. Phương vẫn còn băn khoăn... Ai? Ai đã làm cái hành động bí mật? Và bằng cách nào đột nhập được vào phòng? Chắc chắn không phải chị Trúc. Anh thoáng nghĩ đến cô con gái lớn mười sáu tuổi của chị Trúc, lúc nãy vừa cầm miếng đu đủ từ tay anh vừa vênh mặt lên một cách nũng nịu. Cô gái nhỏ trẻ trung và nhí nhảnh này rất có thể là tác giả một hành động tương tự. Nhưng nghĩ cho cùng nó có hề biết mình là ai, đã gặp gỡ quen thuộc bao giờ đâu?  

Phương soạn xấp bản thảo lở dở ra và chuẩn bị viết. Nhưng đến lúc ấy anh mới nhận ra mình đang ở tình trạng "tâm bất tại". Không lẽ trong bốn bức vách của căn phòng này có một nàng Giáng Kiều ẩn nấp? Trời, quỷ thật. Chợt thấy mấy bông đồng tiền nằm bên góc bàn, Phương gác bút, đứng dậy tìm một vật gì để cắm vào. Những bông hoa này sẽ rất phù hợp với một cái lọ gốm nhỏ thon thon, cao cao. Không thể có ngay cái vật dụng cần thiết ấy. Phương đành đặt mấy bông hoa đã ngắt bớt cuống trong một cái ly uống nước, sau khi dùng sỏi chêm cho chúng khỏi đổ nghiêng về một phía. Trưa nay về, kể lại với cả nhà, chắc vợ anh phải trợn tròn mắt lên... Hừ, có nên kể cho Lan nghe điều này không nhỉ? Phương thấy như thoáng hiện ra trước mắt cái nhíu mày hoài nghi của Lan. Chắc chắn từ một chuyện, cô ấy sẽ suy ra đủ thứ. Thôi, khôn ngoan nhất là đừng nên kể cho vợ nghe. Vả lại, có gì quan trọng đâu? Chỉ là chuyện vớ vẩn,... Phương nghĩ thầm bất giác khẽ huýt sáo.  

***  

«Một hôm, đi chơi về. Tú Uyên thấy trên bàn đã có sẵn mâm cơm ngon ngọt. Hôm nào cũng vậy... Chàng ngạc nhiên, rắp tâm rình xem thì thấy từ trong bức tranh tố nữ trên tường, một người con gái bước ra, nhẹ nhàng thu vén đồ đạc trong nhà. Uyên mừng quá chạy vào, níu lại... Thiếu nữ cho biết nàng là Giáng Kiều, tiên nữ ở Bồng Lai»...  
«Xoảng!» Mải nhìn vào trang sách, Phương vô tình gạt điếu thuốc vào cái ly ở cạnh bàn làm nó lăn lông lốc rồi rơi xuống đất vỡ tan. Lan từ dưới bếp đi lên, nhăn nhó:  
- Lại sững rồi. Thỉnh thoảng lại đập một thứ... Hừ, tưởng gì, «Chuyện cổ nước Nam» cuốn đó mới mẻ gì mà anh mê đọc dữ vậy?  
- Anh đọc để kiếm một chi tiết viết văn.  
Phương nói rồi mới ngạc nhiên về câu nói của mình. Tại sao phải biện bạch? Đọc chuyện cổ đâu phải là một chuyện gì kỳ lạ... Vả lại, cuốn tiểu thuyết anh đang viết lại lấy đề tài công nghiệp, dính gì đến cổ tích. Nhưng cũng chẳng sao: Lan đâu có biết anh đang viết cái gì. Đã xa lắm rồi cái thời cô ấy đọc say sưa từng tác phẩm của chồng, chăm chút cho chồng từng li từng tí trong thời gian công tác. Bây giờ, Lan quan tâm tới quá nhiều chuyện, và Phương cảm thấy hình như cô thích thú nhất là những buổi thảo luận hàng giờ với các bà hàng xóm về những đề tài như:   - Tủ gỗ lên giá bao nhiêu rồi?  
- Làm thế nào để chữa cái van bảo hiểm của nồi áp suất?
- Có nên nuôi vịt bầu không?  
Vân vân và vân vân...  

Trong căn hộ, Phương đặt một cái bàn ở phía trong cùng, bên cạnh góc học tập của cu Bi, treo đầy tranh màu đủ loại. Đó là chỗ anh ngồi viết. Nhưng cứ mỗi lần ngồi xuống đấy và bắt đầu tập trung tư tưởng là lại phải nghe, phải trả lời, phải nghe, phải trả lời... Tất nhiên anh rất ao ước được như Lev Tolstoy: mỗi lần ông ngồi viết, bà vợ đều dặn gia nhân phải lặng yên, đi nhẹ chân để khỏi khuấy động...
Nghe chuyện đó, Lan cười:  
- Hì hì... Nhưng đó là nhà văn... Lev Tolstoy! Nhà ổng có nhiều gia nhân, nên vợ phải dặn. Còn nhà này thì chỉ có em là gia nhân, quần quật từ sáng đến tối, thỉnh thoảng có chuyện vui chuyện buồn phải cho người ta nói chứ!  
Hôm nay, từ nhà sáng tác trở về Phương đã thấy hơi mệt và đói bụng. Vừa đá mấy mảnh thủy tinh vỡ vào gầm bàn trước cặp mắt kinh ngạc của vợ - Phương vừa càu nhàu:  
- Đói bụng... Nhà mình lúc nào cũng ăn trưa quá.  
- Ai mà chẳng đói... Nhưng mấy con heo cứ gầm lên trong chuồng. Lợn đói một bữa bằng người đói nửa năm mà anh.  
- «Đã bao nhiêu lần, anh xin em đừng có nuôi heo nữa. Minh đâu có thì giờ. Bà chẳng biết thương tôi…»
Phương bảo. Lan bĩu môi:  
- Tôi không thương anh! Xà! Tôi không thương thì ai thương anh vào đấy? Đã lo cho từng li từng tí...  
- Chưa chắc à nghe... Phương cười mỉm, trả lời vợ. «Coi bộ bà còn quí mấy con heo hơn tôi, nuôi mấy con heo còn kỹ hơn tôi…»  
- Chứ còn sao nữa? Lan nói, dõng dạc. - Mình có nuôi heo đâu, heo nó nuôi mình đấy chứ!  
Nói xong, Lan sấp lưng đi xuống bếp. Phương nằm lăn ra sập, thở dài ngao ngán. Trong trí anh, tự nhiên cái dáng mảnh mai xinh xinh của mấy bông đồng tiền đỏ thắm chợt hiện ra, dịu dàng, mát rượi. Anh thấy thèm không khí yên tĩnh trong căn phòng nhỏ…

***

Phương đã quyết tâm không thắc mắc về sự xuất hiện kỳ bí của quả đu đủ và mấy bông hoa, nhưng rồi cũng không được: ngày mai lại, trên bàn anh lại hiện ra mấy quả cam, và cứ tiếp diễn như thế mãi, không hôm nào đến đấy mà anh không nhận được một món quà bồi dưỡng. Có hôm anh giật mình sau khi ăn xong mấy quả chuối: ngộ nhỡ trong này có thuốc độc thì sao... Cái nghề viết văn, kẻ yêu mình cũng lắm mà người ghét mình, chửi mình cũng nhiều. Nghĩ rồi anh bật cười: đến hôm nay mà mình chẳng chết, chắc là không phải người ta «mưu sát» mình đâu!  
Có lẽ người ấy phải là một trong những người quý mến anh. Giả định như thế hình như có lý hơn. Từ ngày xuất bản tập tiểu thuyết viết về phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên Huế, anh nhận được khá nhiều thư. Có thư viết để khen tác giả, có thư lại hỏi về số phận về sau của các nhân vật. Những bức thư lúc có tên, có lúc vô danh, đã đem tới cho anh bao nhiêu niềm phấn khởi, chắc chắn người ấy đã đọc và đã cùng vui buồn, xúc động với anh qua tác phẩm. Nhưng người ấy là ai: làm cách nào để vào phòng anh? Và tại sao không cho anh gặp? Toàn những điều bí mật!  
Một buổi chiều, tạm nghỉ viết, Phương đi quanh bàn, quan sát các góc phòng. Cạnh bàn có một cửa sổ, lâu nay vẫn đóng kín để tránh tiếng ồn ào từ ngoài lộ. Trong lúc tìm kiếm điều bí ẩn Phương vô tình ẩy tay vào và lúc bấy giờ mới thấy cái chốt đã lờn từ hồi nào. Cánh cửa bật tung, và! Phương hiểu ngay người ấy đã làm cách nào để đặt những món quà bé bỏng lên mặt bàn. Khi đi vòng ra phía ngoài cửa sổ, một sự kiện nữa lại chứng minh điều phát hiện của anh: chỗ đất sát móng-tường có một lớp rêu đóng, trên lớp rêu còn dấu một vết chân nho nhỏ... Một dấu giày, phía sau nhỏ và in đậm xuống, chứng tỏ là dấu giày phụ nữ. Đúng! cái cử chỉ quan tâm và dễ thương này chắc chắn không thể có ở nam giới, khi mà đối tượng tiếp nhận lại thuộc giới tu mi nam tử như anh.

***

Không hiểu từ bao giờ Phương không còn thói quen đem những trái cây nhận được xuống chia cho mấy đứa con chị Trúc nữa. Hình như anh đã cảm thấy tất cả sự trìu mến ân cần trong tặng phẩm, và rõ ràng là để đáp lại một tình cảm chân thành như thế, thì sự quảng bá ồn ào của anh có vẻ vô tâm và phũ phàng. Nếu nhỡ người ấy vẫn ở đâu đó quanh đây thì sao? Phương đâm ra mất tự nhiên, lúc nào anh cũng có cảm tưởng có đôi mắt của ai đó chăm chăm nhìn theo mình. Nhất là khi ngồi một mình trong phòng. Có hôm anh thấy mỏi, vươn vai, định gác chân lên ghế nhưng cái chân vừa co lên đã vội thụt xuống như sợ ai phê bình «bất lịch sự». Chợt nhận ra chỉ có mình trong phòng, anh bật cười vì sự lẩn thẩn rất là thơ mộng ấy. Mình mà cũng đâm giàu tưởng tượng, đúng là một chàng Tú Uyên thứ thiệt!  
Căn phòng đối với Phương dần dần trở thành một thế giới bé nhỏ, dịu dàng. Anh thấy, mình tràn trề một thứ sinh khí kỳ lạ. Ở nhà, anh chỉ toàn bị phiền nhiễu vì những chuyện phức tạp. Còn ở đây, anh cảm thấy mình được tôn trọng, được yêu thương. Có một cái gì cứ đẩy anh tới trước, anh muốn sống, muốn đi, muốn gặp gỡ mọi người, muốn trò chuyện, muốn viết tràn thật nhiều, thật nhiều trang mới...  

Một buổi sáng, Phương cố tình đến rất sớm, dựng xe đạp vào hành lang phía trong của nhà sáng tác. Xong, anh đến trước cửa phòng của mình. Sự tò mò thôi thúc anh và anh nhất định khám phá ra con người bí ẩn. Anh tra chìa khóa vào ổ...  
Đúng lúc đó, có tiếng động vọng ra. Đúng là tiếng ai đẩy nhẹ cửa sổ. Rồi một tiếng cười khúc khích khe khẽ... Tiếng cười trẻ trung và dễ thương làm sao... Chỉ còn đẩy cửa ra thôi, anh sẽ thấy nàng tiên thầm lặng của mình... Anh tưởng thấy trước mắt một bóng dáng mảnh mai đang nghiêng người qua cửa sổ, với tay đặt lên mặt bàn mấy bông hoa xinh xắn.
Nhưng không hiểu sao Phương không dám đẩy cửa vào cái giây đã rắp tâm chờ đợi ấy. Cái phút Tú Uyên gặp Giáng Kiều. Bởi vì, đúng lúc đó anh chợt thoáng nghĩ: so sánh như thể có khập khiểng lắm không? Anh đứng im, nghĩ ngợi và chợt thấy hoảng. Một lát sau, khi vào phòng, tất cả đã đâu vào đấy: Nửa nải chuối lùn mập mạp đang nằm vuông vức trên bàn viết.
Chiều hôm ấy, Phương không viết chữ nào. Lúc sắp về, anh tần ngần đến bên cửa sổ và im lặng chốt cái then lại. Anh nghĩ đến nỗi thất vọng của nàng tiên bé nhỏ vào sáng mai, khi những ngón tay mảnh dẻ cố gắng kéo chiếc cánh cửa ra nhưng không thể được. Anh tưởng tượng đến đôi mắt thất vọng và trách móc của nàng. Đôi mắt mỗi sáng sớm vẫn nhìn vào đây, trải ra một cái nhìn âu yếm dịu dàng, cái nhìn như bóng mát...  
Không, thực sự anh đâu cần phải làm như thế. Thực sự thì anh luôn luôn thấy thiếu một cái gì đó - Một sự quan tâm mật thiết và đầy thông cảm. Để đáp lại những ước vọng tinh tế của tâm hồn anh, vợ anh chỉ có tiếng cười “hì hì” cố hữu. Nghĩ cho cùng anh chẳng có lỗi gì nếu cứ sống song song trong hai thế giới, thế giới thực tế của Lan và thế giới lãng mạn của người thiếu nữ vô danh. Nhưng anh sợ không dừng lại ở đó được. Đúng, cái khuynh hướng tiến tới làm anh đâm ngại cả chính mình. Chà! Đúng là gay go... Phương ngáp dài, đội mũ, thu xếp nốt mấy vật dụng trên bàn và chuẩn bị đi đón cu Bi.

***

Sáng hôm sau, đến nhà sáng tác, Phương đối diện với mặt bàn trống lạnh. Không vội viết tiếp, anh châm thuốc hút. Vĩnh biệt! Anh nói với người không có mặt. Chà chà, sao mình lại xúc động thế này nhỉ?  
Trưa lại, thực sự đói bụng và mệt, Phương vừa dắt xe vào nhà vừa cau có - giải tán một tiểu đội nhóc con đang chơi ầm ĩ trước cửa. Ủa... Chết chưa! Trên cái bàn, trong góc sáng tác của anh, một quả đu đủ chín ửng đang nằm cạnh mấy bông đồng tiền đỏ đã hơi heo héo. Không lẽ nàng tiên: có phép thăng thiên, độn thổ, lúc nào cũng có cách đón trước anh hay sao? Nhưng đấy là nhà anh... Nếu Lan thấy, thì cô ấy nghĩ thế nào?
Phương còn đang sửng sốt thì Lan ở dưới bếp lên:
- Gớm làm gì mà đóng cửa kỹ thế... Phí của mấy bông đồng tiền hồi sáng còn tươi, giữ đến trưa héo cả.
- Hả?
Phương ngẩn người, rồi chợt thấy đôi giày của Lan nằm ngay ngắn dưới gầm giường, trên mũi dày đính một vệt rêu. Cái quần mầu kem vắt trên lưng ghế cũng mang một vệt bẩn xanh xanh nơi đầu gối. Lan nhìn theo mắt chồng “Cứ tưởng như mọi khi, ẩy một cái, ai ngờ trượt chân ngã lăn ra... Bắt đền, trưa nay nhà văn phải chia phần đu đủ bồi dưỡng nghe”.
- Ra là em đấy à? Phương hỏi. Đất dưới chân anh sụt lở hết.
- Chứ còn ai vào đấy? Lan trả lời chồng với một cái nhếch mép hơi mỉa mai, mắt vẫn không ngừng quan sát vẻ mặt khi xanh khi đỏ của Phương.
“Trái cây mua sáng sớm dọc đường vừa tươi vừa rẻ. Hôm đầu, em định đem vào gởi ở chị Trúc nhờ chị đem lên cho anh, nhưng dắt xe đi ngang cửa sổ chợt thấy cánh cửa đập đập nhẹ vì gió lay... May mà em, chứ gặp kẻ trộm thì...”
Bây giờ Phương mới hiểu vì sao lâu nay Lan không cho chàng đem quần áo hay bất cứ một thứ vật dụng gì xuống nhà sáng tác. Chà… cái cô vợ này thật, anh vẫn tưởng tính tình cô thuộc vào loại bộc toạc không ngờ lại «thâm hiểm» thế, cứ im im như không, định cho người ta đi tàu bay giấy chắc! Té ra ăn một mâm, nằm một chiếu, ở một nhà đã bảy tám năm trời mà không biết hết nhau, cũng lạ thật.  
Phương đánh trống lảng, tránh cặp mắt của vợ bằng cách đứng dậy tìm con dao gọt trái cây. «Sao mà hồi này bà quan tâm tới tôi quá thế? Hả»? «Vậy chớ hồi nào em không quan tâm tới anh? Không quan tâm mà phải đầu tắt mặt tối từ sáng đến chiều, đến nỗi không có thời giờ đọc một cuốn sách giải trí, thậm chí cũng chẳng biết trong đầu chồng mình nghĩ gì? Lan vừa trả lời, vừa sấp lưng đi xuống bếp. Giọng cô có vẻ chua chát, nhưng lại được tiếp theo bằng một tiếng cười... Lần đầu tiên từ rất lâu, Phương nghe trong tiếng cười của vợ một âm vang trong, vui, hóm hỉnh. Thì ra cũng chính cái tiếng cười ấy hôm qua... Cũng là may, lẽ ra thì cô ấy phải nổi tam bành lục tặc lên mới phải. Chợt nhớ đến cái then cài chặt của cánh cửa sổ, Phương vụt hiểu: anh tưởng tượng ra vẻ mặt của Lan sáng nay, khi kéo cánh cửa sổ ra và nhận thấy nó không còn để ngỏ như mọi ngày.

Anh sắp đu đủ lên dĩa, để giành cho cu Bi một phần, rồi bưng xuống bếp. Lan đang xới cơm, mặt nhăn lại trên làn hơi nóng ngùn ngụt. «Này đền cho cái ngã hồi sáng đây. Ngã sung sướng, ngã hí hửng, chứ đau đớn gì mà bắt người ta đền nhỉ? lẽ ra hôm nay anh phải được hưởng gấp hai mới đúng!». Lan thọc cùi chỏ vào sườn anh:
- Đừng có tưởng ngon à nghe...
Hai thế giới đã nhập vào một, Phương thầm nghĩ khi đi lên nhà. Bây giờ anh là người vừa được, vừa mất. Dù sao, điều may mắn nhất là giữa chính cuộc đời phiền tạp này anh vẫn có một Giáng Kiều - mà từ trước đến giờ có khi nào anh nghĩ tới đâu?
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 673
Join date : 25/04/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Oct 27, 2019 2:46 pm

.

Suối Bạc
- Trần Thùy Mai


Một tay ôm bức tranh cuốn trong chiếc ống tre, một tay xách va li, anh bước xuống xe. Sau dốc đồi, một vùng cây xanh mênh mông. Hình như giờ đây cây nhiều hơn, những tàn lá mượt mà hơn. Cũng lâu lắm rồi, hơn mười năm, giờ anh mới quay về.
Bé Bi từ trên dốc cao chạy xuống, hai tay đưa ra, chiếc khăn quàng lụa trắng bay phơ phất. Gió nhiều quá, cũng y như ngày xưa. Hai tay đều bận nên anh lúng túng chẳng biết làm sao ôm con vào lòng. Vì vậy anh đứng ỳ ra, để mặc con bé vòng hai tay quanh cổ anh mà hôn vào cái cằm có những sợi râu tua tủa. Khi bé Bi bắt đầu cười ríu rít và kéo anh đi, đôi mắt đen, trong rơm rớm lệ thì anh mới bắt đầu rủa mình, sao mình có thể chậm chạp đến mức không biết ném cái va li xuống đất để ôm lấy con. Nghĩ ra thì đã muộn, phút đầu gặp gỡ đã qua rồi. Đành vậy, anh nhủ thầm như biện bạch: Tình cảm là cái ở sâu trong lòng, chứ đâu phải là thứ bộc lộ hoa hòe ở ngoài miệng lưỡi. Trước kia anh thường nói với nàng như vậy. Còn nàng thì thường trêu anh: vào những phút lẽ ra người ta phải sủi bọt như sâm banh thì anh cứ lờ đờ như một ly trà nguội.

"Mợ Minh và em Huy có khỏe không ba?" Bé Bi hỏi, tay đỡ lấy bức tranh trên tay anh. "Cả nhà khỏe cả, cảm ơn con". Gọi bé Bi là theo cách quen miệng từ mười năm trước. Chứ bây giờ, con bé đã lớn tướng, có lẽ chỉ còn thiếu mấy phân là cao bằng anh rồi. Con bé mảnh khảnh, trắng xanh, giống như nàng. Cũng giống nàng ở cái mùi thơm gây gây từ mái tóc dài, gió làm cho những đuôi tóc cứ quấn quýt lấy vai anh trong khi hai cha con đi theo con đường rải sỏi dẫn vào cái quán trà cũ xưa, với những bức vách sụt lở phủ đầy rêu và lá vạn niên thanh.
Hồi ấy chính anh đã vẽ ra phác thảo trang trí cho cái quán này. Phác thảo của anh dựa theo ý tưởng của nàng: một khu phế tích đầy cây xanh. Đấy là một không gian vừa phố thị vừa hoang vu, với những bộ bàn ghế bằng tre thu mình bên những góc vách lộ thiên phủ đầy cây tầm gửi và dây cát đằng hoa tím. Những giọt nước trong rỉ ra từ các khe nứt trên vách. Thuở ấy, anh và nàng đã mơ ước sống một đời bình thường, nàng pha trà còn anh chọn nhạc, một cuộc sống đầm ấm và giản dị như cỏ cây. Bây giờ quán trà vẫn còn đó, mọi thứ gần như y nguyên vị trí cũ, bàn ghế, góc vách, đèn hoa. Nhưng bàn ghế tre đã thay bằng đồ nhựa màu, nhiều ngọn đèn đã mất đi chao lụa, vách tường thì chỗ quá um tùm, chỗ quá khô trọc bày cả thớ gạch bên trong. Quán trà ngày trước vẫn còn, nhưng linh hồn của nó không còn nữa.
Giản, em trai nàng, dẫn anh vào trong. Cả hai đi xuyên qua quán nhỏ. Trong buổi chiều im mát thật đẹp mà chỉ có mấy người khách ngồi lác đác. Giản bật đèn, chỉ lối đi vào nhà vệ sinh, chỉ khăn tắm, bồn rửa mặt, vẻ ân cần như một chủ nhà hiếu khách. Như thể anh là một người lạ chứ chưa từng có thời gian làm chủ ngôi nhà này...
Ừ, thời đó xa lắm rồi. Thuở còn phiêu lưu qua những xứ lạnh giá, anh đã nhìn thấy những dòng sông đang chảy miệt mài bỗng âm thầm quánh lại, từng ngày, từng ngày rồi bất ngờ đóng băng sau một đêm. Giữa anh và nàng cũng thế. Vì sao? Thật ít khi cả hai có thời gian để nghĩ cặn kẽ vì sao. Nghĩ về nàng lúc nào anh cũng có cảm giác là nàng ở bên anh mà rất xa. Quái quỷ, cảm giác ấy đeo dính vào hồn anh như một cái bã kẹo cao su, không sao giẫy ra được.

Bé Bi chạy vào phòng, cầm cái khăn tắm to bằng vải bông vẽ hình con gấu. "Ba ơi, ba tắm đi, rồi ra ăn cơm với hai cậu cháu". Giọng con bé trong, vui nhưng không giấu được chút rụt rè. Biết làm sao được, nó đã không lớn lên bên anh.
"Khoan đã, con gái". Anh kéo nó ngồi xuống bên mình, bàn tay anh chạm vào mấu xương đòn gánh trên bờ vai mảnh dẻ. "Con có đi với ba không?". Bé Bi bỗng trở nên tư lự:
- Ba và mợ đã có em Huy rồi mà.
- Em Huy cũng là em con.
Cô bé im lặng một giây, rồi quàng hai tay lên cổ anh và lại hôn một cái rõ to lên cái cằm có những sợi râu cứng. "Thôi, chuyện đó để nói sau đi ba". Giọng nói này anh đã quá quen. Một giọng âu yếm và lảng tránh. Giống hệt như nàng. Anh cầm cái khăn đi vào phòng tắm thầm nghĩ: "Tại sao? Mình đã làm gì?" Anh biết thời gian về sau nàng đã nhận ra anh không muốn ở gần nàng nữa. Cuộc sống chung trở thành một thứ trách nhiệm ngột ngạt trong lặng lẽ. Nước từ vòi sen lăn theo từng chân tóc, anh cảm thấy dễ chịu dần.
Ngày xưa, từ phòng tắm này vào phòng ngủ, anh thường đứng một lúc nhìn nàng nằm cuộn mình trong chăn nệm, đôi mắt lim dim lơ mơ ngủ. Anh rất thích để cho ánh trăng hắt lên người nàng, nhưng lúc nào trước khi đi nằm nàng cũng đóng kín cửa sổ. Nàng sợ mùi hoa quỳnh từ ngoài vườn, bởi thói quen dị ứng với những mùi thơm quá ngạt ngào. Có lần nàng bảo mùi hoa quỳnh là mùi ma, mặc dù anh phản đối quyết liệt tính mê tín vớ vẩn. Đêm nào cũng vậy, ngay từ tối tân hôn, sau phút nồng nàn bao giờ nàng cũng nhanh chóng vuột mình ra khỏi vòng tay anh, rồi xoay lưng về phía anh mà ngủ say. Cái thế nằm ấy làm tổn thương anh, một người chồng cục mịch nhưng nhạy cảm. Có lần anh cố ý giữ nàng quay mặt về phía mình và nàng nằm yên như thế, thiu thiu ngủ. Nhưng chẳng mấy chốc, trong giấc mơ, nàng lại xoay mặt về phía khác, bỏ mặc anh nằm ngửa mặt ngó lên đình màn như một người chiến thắng và cô đơn.

Giản chờ anh trong phòng ăn, mâm cơm có cà mắm, tôm chua, dưa giá. Giản cười: "Nghe chị nói ngày trước anh thích những món này phải không?" "Ừ, cá thịt gì ăn cũng chán rồi, chỉ có mắm muối là còn hấp dẫn". Anh vừa trả lời vừa ngồi xuống. "Bé Bi đâu?" Anh nhìn ra ngoài nhà. Con bé đang tìm cách mở ống tranh anh đem theo. "Đừng, con không biết cách tháo đâu. Để đấy rồi ba sẽ mở". "Ba ơi, sao ba lại đặt tên bức tranh này là "Suối Bạc"?.
Bức tranh ấy anh vẽ nàng từ hồi mới chia tay, vẽ theo trí nhớ. Anh đã tưởng tượng lại hình ảnh nàng nằm lơ mơ trong chăn nệm, vẻ mặt trắng xanh trong một phối cảnh màu ngân nhũ và tím biếc. Tại sao tên nó lại là Suối Bạc? Đó là cái hình ảnh mà anh nhớ về vợ mình trong những năm tháng khủng hoảng của đời anh. Người ta bảo suối vàng, cõi chết, là nơi âm dương cách biệt. Anh với nàng vẫn ở trong cõi dương, nhưng cũng không bao giờ nhìn thấy nhau nữa. Vì vậy, với anh nơi nàng ở là suối bạc, nơi mà người ta chỉ đến trong những giấc mơ.
Mặt hơi cau lại, anh quyết định nháng nhát búa vào vách, đóng vào đấy cái đinh dài. Treo bức tranh lên, anh thầm ước tính: Nơi này gần cửa sổ, những đêm rằm ánh trăng sẽ hắt bóng đến tận đây.
Suối Bạc sẽ nằm đây, có lẽ tốt nhất nên như thế. Từ lâu, với anh, thời khủng hoảng đã qua. Nơi căn nhà anh đang ở, đứa con trai anh đang lớn lên. Mọi thứ ở đó đều thuộc về hiện tại. Còn Suối Bạc chỉ thuộc về quá khứ mà thôi. Tuy vậy, anh chẳng đành lòng hủy nó đi.

Sau lưng anh dường như có ánh mắt ai đang nhìn. Anh quay lui: Bé Bi đang ngồi trên giường, cười tủm tỉm khi thấy anh đứng nhìn sững bức tranh.
Anh bước tới ngồi bên con gái. "Ba vẽ theo trí nhớ, hồi mới rời căn nhà này. Con thấy sao?"
Bé Bi lắc đầu: "Ba vẽ sai rồi. Khi nằm một mình mẹ không bao giờ quay mặt vào vách".
"Vớ vẩn. Ba biết rõ mẹ con mà".
Bé Bi ngước nhìn anh, vẻ bỡ ngỡ. "Mẹ bảo con, từ nhỏ, lúc nào mẹ cũng nằm quay lưng vào vách. Có thế mẹ mới yên tâm ngủ say".
"Sao vậy?"
"Vì bà ngoại mất sớm, từ nhỏ mẹ ngủ một mình. Mẹ rất sợ ma, lúc ngủ mẹ tựa lưng vào tường. Lúc ấy mẹ cứ nghĩ nếu có gì nguy hiểm hiện ra thì nó sẽ đến từ phía bên ngoài, và mẹ quay về phía đó bởi vì ít nhất sau lưng cũng đã có bức tường che chắn".
"Ba luôn nhìn thấy mẹ quay lưng về phía ba".
"Vì lúc đó, ba là chỗ dựa, là một chỗ che chắn tốt hơn".
Một cảm giác như là say sóng đột ngột chiếm lấy anh. Bé Bi nằm xuống: "Ba thấy buồn cười phải không? Khi nghe mẹ nói con cũng đã cười mẹ là trẻ con quá đi mất. Ấy vậy mà giờ, mẹ mất rồi, con cũng bỗng nhiên thành thói quen, nằm giống y như mẹ". Con bé kéo tấm drap mỏng đắp lên ngực và nằm quay lưng vào vách, mặt hướng về phía anh.

Anh bỗng ước ao con bé xoay lưng về phía mình. Nhưng anh chỉ ngồi lặng yên không nói. Chẳng còn gì có thể nói về quá khứ, bởi giờ đây nàng không còn nữa. Anh không biết vào giờ phút cuối gương mặt nàng như thế nào, nhưng anh hình dung nàng lúc ấy cũng như thế, cái đầu nhỏ nhắn, những sợi tóc mềm lả trên gối và cái nhìn lúc nào cũng hướng về một phía mà anh cứ nghĩ là không có anh.
Anh vuốt mái tóc mềm của bé Bi, cố gượng nhẹ để khỏi làm con thức giấc. Đêm qua đi, và anh ngồi như thế cho đến lúc ánh bình minh dần dần soi sáng ngoài kia, trên khu phế tích đầy cây xanh.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Nov 03, 2019 12:08 am

.


Bức Tranh Cuối Cùng
- Trần Thùy Mai


Căn phòng vẽ của anh hồi ấy chỉ có mình anh ra vào. Mỗi lần bước ra, anh lại khóa chặt cửa. Sở dĩ như thế là vì anh ngấm ngầm giận tôi. Suốt đời tôi sống nhẫn nhịn, vâng lời chồng, cưng con, chiều lòng được cả họ. Vậy mà hôm ấy, tôi đã đánh thằng Hân gãy một cây roi dâu.
- Tôi vừa đánh con vừa khóc như điên dại.
"Có gì nghiêm trọng vậy?". Khi trở về, nhìn những dấu roi trên tay thằng con, anh hỏi. Sau vườn nhà có một bọng đất sét, thằng Hân đã lấy nặn thành tượng một người nữ lõa lồ, giữa hai bắp vế đầy vun nó còn cẩn thận nhét vào một nắm tóc rối. Tôi mắng con "mất dạy!". Hân mếu máo: "Con thấy sao thì làm lại y như vậy mà. Sau lưng nhà mình có mấy cô chiều nào cũng xuống bến sông tắm". Tôi nghẹn lời. Nó mới mười ba tuổi. Nhìn những mảnh tượng vỡ, anh bảo: "Con rất có hoa tay. Nó còn nhỏ, biết gì là tốt xấu. Sao mình nặng tay như vậy". "Động trời như thế mà anh còn xem là nhẹ?". Tôi không hiểu vẻ mặt tôi lúc đó thế nào mà anh quay người, bỏ vào phòng vẽ đóng sập cửa. Tính anh vẫn vậy, giống như sấm sét, khi bùng lên thì không sao dập tắt nổi.

Thực ra đã lâu rồi, hai vợ chồng rất ít nói với nhau. Tối đến, trước khi đi ngủ, tôi niệm kinh trước bàn Phật, những lời nguyện cứ kéo dài ra, khi tôi vào phòng thì anh đả ngủ. Hồi mới cưới, anh thường trêu tôi, bảo tôi trông giống cô bé không thuộc bài phải lên bục giảng. Sau này, mỗi lần cố thức đợi tôi, anh không còn nụ cười âu yếm chế giễu ấy nữa. Vẻ chịu đựng của tôi cuối cùng đã làm anh tự ái. Sau chuyện cái tượng của thằng Hân, anh rút về bên phòng vẽ, ngủ luôn bên đó. Sau đó, chúng tôi đã trở lại hòa thuận, nhưng anh cũng không quay về nữa. Tôi một mình, nước mắt nhiều đêm chảy ướt gối. Tôi không hiểu điều gì đã xảy ra. Tôi yêu chồng, một lòng tận tụy với chồng. Vậy mà mỗi lúc anh gần tôi, một nỗi ghê sợ tự thâm tâm làm tôi chùn lại, như con ốc thu mình vào vỏ...
Hai vợ chồng riêng giữ hai phòng đã là chuyện bình thường trong suốt năm sáu năm. Thế rồi, một tối mùa đông, bỗng anh vào phòng tôi. Đã lâu tôi quen với những đêm thanh tịnh, nên thấy anh bước đến ghé nằm vào bên giường, tôi lùi lại, cảm giác như người ăn chay lâu ngày ngửi thấy mùi tanh thịt cá ở miệng chén. "Ba nằm đây thì để em ra phòng khách ngủ". Nghe nói thế, anh níu tay tôi: "Đừng, đừng, ngồi lại với anh một chút". Anh phều phào nói.
Lúc ấy tôi mới thấy bàn tay anh lạnh ngắt, và mặt anh đỏ tía, mắt lạc thần. Tôi kêu thét lên. Những dấu hiệu của một cơn đột qụy. Vậy là cuối cùng anh đã quay về với tôi, không phải để sống, mà để chết.

Đêm cuối cùng trước cửa phòng cấp cứu hồi sức, tôi đứng lặng, gió lạnh phả từng cơn vào mặt. Gió buốt thấu xương, chẳng biết từ đâu thổi lại? Hình như cơn gió này đã theo tôi suốt một đời rồi. Bạn bè, bà con đến. Tôi bảo: "Anh khá rồi, không sao". Con trai tôi ngạc nhiên: "Bác sĩ bảo ba con đã trụy mạch rồi. Mẹ không nhớ à?". Tôi trào nước mắt, úp mặt vào vai con: "Con đừng hỏi, mẹ xin con, để mẹ yên... Mẹ sợ lắm!".
Tôi sợ. Anh đã quay về với tôi. Điều đó đối với tôi có ý nghĩa lớn lắm. Tôi không muốn ai biết giờ chót của anh, sợ e có người nào sẽ đến... Linh cảm đàn bà mách bảo cho tôi những điều chẳng lành... Đúng như vậy, con trai tôi quay ra phía sau bệnh viện để lo thủ tục, quay ra bảo tôi: "Ai vừa vào thăm ba?". Tôi giật mình."Ai?". " Con thấy một người quàng khăn đen che gần hết mặt bước ra". "Sao mẹ không thấy?". "Mẹ quên à, phòng này còn có cửa sau".
Anh trở về nhà trong chiếc quan tài phủ kín hoa. Người ta lấy hết những bức tranh còn lại treo quanh chỗ anh nằm. Hân nhắc tôi: "Mẹ à, trong phòng vẽ của ba chắc còn vài bức nữa". Tôi nhớ, nhưng căn phòng đã khóa. Nhiều người khuyên phá khóa ra. Tôi bảo: "Đừng". Căn phòng đó là thế giới riêng của anh, tôi đã cách ly nó với toàn bộ ngôi nhà khi anh còn sống. Giờ đây anh vừa nhắm mắt, tôi sợ kinh động đến nó. Dường như tự thâm tâm, tôi sợ nó sẽ nhập vào ngôi nhà, sẽ giành lại anh, anh giờ đây đã quay về với thế giới của tôi...
Trong ba hôm, những vòng hoa ngập căn phòng lung linh ánh nến. Sao những bông hoa này cũng tươi như hoa cưới của tôi ngày xưa? Anh đang nằm đây, sát bên tôi, im lìm và thanh khiết, không gây cho tôi cảm giác như khi ngửi chiếc chén của người ăn mặn. Qua tấm kính, khuôn mặt anh hướng về tôi, mắt nhắm, thanh thản lạ lùng...
Tôi đưa anh đi. Trầm nhang xông ngát cả khu vuờn trước khi đám giàn cai vào rước anh. Hình như chưa bao giờ tôi cảm thấy rõ ràng tôi là vợ anh bằng lúc này, cái cảm giác mà khi anh còn sống tôi đã không hề cảm thấy. Ngoài bờ rào, một người đàn bà bồng một đứa trẻ đang hướng về phía tôi. Cô ta đang nhìn anh lần cuối, cũng như tôi, khuôn mặt dày nước mắt. Tôi run lên, vịn tay vào vai con trai, bước đi. Cùng lúc hai nỗi đau trùm lên tim tôi. Cô ta không quàng khăn che mặt nữa, khuôn mặt như phơi ra trước những đôi mắt nhìn soi mói. Đứa trẻ trong tay cô ta ngước đôi mắt thơ ngây nhìn ra chung quanh, chân tay nó khua khoắng không ngừng trong lòng mẹ. Một tiếng "choang" vang lên, người ta đã đập vỡ cái bình gốm thô. Tiếng đập ấy nhằm báo hiệu cho linh hồn biết chẳng còn gì để lưu luyến nữa, và báo hiệu cho tất cả những người sống biết từ đây cuộc đời đã chuyển sang một chặng khác rồi...
Ngoài bờ rào, người đàn bà và đứa bé vẫn đang nhìn về phía tôi. Tôi cảm thấy rất rõ nỗi tủi hổ của họ. Cô ta đã xin bịt khăn tang, nhưng con trai tôi từ chối. Cô ta không có vị trí nào trong gia tộc của chúng tôi. Tôi quay đi. Tôi đã ngậm đắng nuốt cay, nhẫn nhịn gần nửa cuộc đời chỉ để hôm nay đứng ở vị trí này, danh chính ngôn thuận đưa chồng đi lần chót.

Một năm sau, khi nhận được giấy tòa án mời đến, tôi mới biết Thảo đã đưa đơn xin truy nhận cha cho con mình. Thần kinh tôi vừa mới tạm dịu xuống chợt như đột ngột hoảng loạn. Bên tai tôi đột ngột nghe tiếng "xoảng" khủng khiếp, tiếng xoảng xua đuổi linh hồn, tiếng của chiếc bình vỡ tan.
Tôi chạy vào phòng mình, trùm chăn kín mặt, nghẹn ngào lẩm bẩm: Anh đã quay về rồi mà? Anh đã quay về, ghé lưng nằm trên chiếc giường này, anh là của tôi. Điều đó đối với tôi có ý nghĩa lớn lắm... Con trai tôi đến ngồi bên tôi: "Mẹ nghĩ sao". Tôi run run; " Con cứ bàn với luật sư, mẹ không có can đảm nhắc tới chuyện này nữa".
Tôi không ra tòa. Tôi biết Thảo bồng con đến tòa nhiều lần, nhưng vẫn chưa toại nguyện... Luật pháp đòi hỏi phải xét nghiệm ADN, mà muốn con trai tôi chấp nhận thử ADN cùng với đứa bé thì phải có bằng chứng cụ thể thuyết phục được quan tòa... Nhưng sẽ không bao giờ có bằng chứng cụ thể... Chồng tôi không lưu lại một dấu tích gì nói lên ý nguyện của anh về đứa bé...
Năm này tiếp năm khác trôi qua. Trên bàn thờ anh, những cây thần tài trong lọ sứ đã vươn cao, xanh ngắt. Năm tháng làm lòng tôi dịu lại. Con trai tôi đã thi đậu kỳ thi công chức. Sáng sáng, tôi ủi sơ mi và cà vạt cho con đi làm, nóng lòng mong con sớm có người chăm sóc. Một đời nữa sẽ sống trong ngôi nhà này... Từ khi anh mất đi, các gallerie càng ráo riết tìm mua tranh của anh, dường như những bức tranh ấy là một gia tài mà anh đã để lại để chuộc những nỗi đau anh đã không tránh được cho chúng tôi khi còn sống...

"Con nghĩ là trong phòng vẽ vẫn còn một số tranh nữa" - con tôi nói. Không còn cách gì hơn là phá ổ khóa, bởi chìa khóa đã mất tăm không ai tìm được. Cánh cửa rít lên mở ra nơi ẩn náu cuối cùng của anh, với những đồ đạc trong phòng: chiếc ghế đẩu mà anh ngồi vẽ, chiếc sofa đơn độc mà anh nằm năm xưa. Cả giá vẽ cũng phủ đầy bụi... chừng mười bức tranh còn nằm trên vách, trong những bức tranh ấy, những người đàn bà hiện ra với hoa trái và chim câu, với sông với suối... rất nhiều người nữ nhưng chỉ có một khuôn mặt. Trên giá vẽ vẫn còn bức tranh cuối cùng. Cũng khuôn mặt người nữ ấy, trong trạng thái nguyên sơ, với thân thể mịn màng sáng chói giữa hai bên là mặt trăng, mặt trời tỏa rạng. Da thịt ấy được thể hiện như suối như đồi, từ đó mọc lên những cây xanh đầy hoa trái... Một thứ ánh sáng rực rỡ và huyền nhiệm phủ khắp trên bức tranh, khiến sự trần truồng không hề mang vẻ dung tục, mà chứa đầy sức cuốn hút từ cội nguồn sự sống.
Tôi khựng lại, từ từ ngồi xuống chiếc sofa. Tôi nhìn xuống tấm thân mảnh khảnh của mình, bỗng như thấy lại những tháng ngày rất xa, xa lắm, khi anh còn nhìn tôi bằng ánh mắt âu yếm chế riễu và bảo tôi là cô bé trả bài chưa thuộc... Trời cho tôi không ít hơn cho những người đàn bà khác, vậy mà tôi lại để hoang hóa cánh đồng của mình đến suốt một đời. Đâu phải lỗi tại tôi, mà tại một mặc cảm gì đó sâu thẳm lắm đã ở trong tôi từ thời thơ dại...
Hân đến ngồi bên tôi. Tôi mở mắt, bảo con:
- Những bức tranh này không phải của mình, rồi có ngày mẹ và con sẽ đem vào trong ấy cho cô Thảo.
Hân ngạc nhiên:
- Việc gì phải thế. Cô ấy chẳng có quyền gì cả!
Tôi nhẹ nhàng, xót xa:
- Nếu không có người đàn bà này, ba con có vẽ được không? Hân quay lại, phóng một ánh mắt ghê sợ lên bức tranh khỏa thân. Tôi chợt nhớ tới pho tượng đất năm nào nó nặn ra mà tôi đã đập tan. Có phải khi tôi còn thơ ấu cũng đã có ai gieo vào lòng tôi nỗi ghê sợ truyền kiếp đối với xác thịt con người?

Mùa hè năm sau, thấy khỏe trong người, tôi vào Sài Gòn chơi, nhân dịp thăm Thảo. Hai mẹ con Thảo sống trong căn phòng chung cư nhỏ trên tầng năm. Tôi đến rất sớm vào sáng chủ nhật, đứa trẻ còn ngủ. Một đứa con gái chừng lên sáu, có vầng trán cao với đôi lông mày thanh thoát. Trông đứa bé nằm, khuôn mặt ngăm ngăm, mái tóc quăn quăn, cái cằm và đôi môi ngang ngạnh, tôi bỗng nhớ đến cảm giác mỗi lần nhìn anh nằm ngủ - như sấm sét còn ngủ trong lòng đất.
Tôi ngồi bên Thảo. Hai chúng tôi đều muốn nói nhưng chẳng biết nói gì. Tất cả đã qua rồi... Không còn gì thay đổi được nữa. Không, có một điều: Tôi nói với Thảo, tôi đã khuyên con tôi đồng ý cho thử ADN.
Trái với điều tôi chờ đợi, Thảo nín lặng một giây, rồi bảo tôi:
- Cảm ơn chị. Ngày ấy em đã vội vã quấy rối cuộc sống của chị. Lẽ ra em phải để cho chị được yên, như ý nguyện của anh lúc còn sống...
Tôi cúi xuống, không muốn Thảo nhìn thấy đôi mắt đỏ. Nhưng Thảo không nhìn tôi:
- Lúc ấy em cứ vội vì sợ cháu sẽ đứt lìa với nguồn cội của mình... Nhưng bây giờ thì em nghĩ lại rồi, không cần phải thử ADN nữa!
Tôi giật mình. Điều gì đã xảy ra? Thảo hiểu ý, bảo tôi:
- Vì cháu đã bắt đầu vẽ.

Cô kéo tấm màn che vội ở cuối giường, để tôi thấy những bức vẽ màu nước nhỏ ngổn ngang trên nền gạch cũ mòn vẹt. Những bức tranh với màu sắc rực rỡ và mạnh mẽ. Thảo đã tin ở điều gì, tin rằng những bức tranh này chứng minh với người đời rằng nhưng gien của anh đã truyền qua đứa bé ? Hay tin là rồi đứa bé lớn lên sẽ tự làm lấy cuộc đời mình, không cần ấn chứng? 
Tôi cúi nhìn khuôn mặt thơ ngây và hai bàn tay nhỏ mở ra trong giấc ngủ. Những vân hoa hiện rõ trên tay đứa bé, cũng như trên tay con tôi ngày xưa. Ngày xưa...
Tôi thở dài, đã bao nhiêu nước chảy qua cầu từ hai tiếng ngày xưa, ngày mà tôi còn có anh.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeFri Nov 08, 2019 10:27 am

.
thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng 9k=

Lửa Hoàng Cung
- Trần Thùy Mai

Năm ấy nhà vua đã gần sáu mươi tuổi. Hàng ngày, cung tần mỹ nữ vẫn được tuyển thêm. Ròng rã hơn mấy mươi năm, tháng nào hậu cung cũng có một hoàng nam hay một công chúa mới ra đời. Tính đến năm thứ hai mươi bốn trị vì, nhà vua đã có đến ba mươi tư con trai và sáu mươi chín con gái.

Quỳnh Thơ là con thứ ba của Hoàng Quý Phi, lớn lên trong cung Trùng Hoa cùng với hai chị là Quỳnh Bôi, Quỳnh Tiên. Hoàng Quý Phi bị vua lãnh đạm từ lâu, ít khi được gặp vua trong nội tẩm. Ba nàng công chúa nhỏ hầu như chỉ thấy phụ hoàng từ xa, trong những ngày gia lễ, khi ngài đi thoáng qua thềm các cung viện để nghe lời chúc tụng thành khẩn từ những bà vợ bị bỏ quên của mình. Hình như Quỳnh Tiên, là trưởng nữ, đã từng được nhà vua bế lên tay một lát trong ngày chúc thọ bát tuần Thái hoàng Thái hậu. Thái hoàng Thái hậu mất đã lâu rồi và Quỳnh Tiên cũng không còn nhớ rõ kỷ niệm huy hoàng thời thơ ấu. Các nàng công chúa trong cung suốt năm chỉ mơ đến những ngày lễ Tết, ngoài những ngày vui nhộn nhịp ấy, cuộc sống lại tĩnh mịch, ngày nào cũng như ngày nào. Các phu nhân đến hầu Hoàng Quý Phi, ngón tay trơn nhẵn vì lật qua lật về quá nhiều lần những quân bài tứ sắc, đám thị nữ từ sáng đến chiều hết hái hoa, tưới hoa lại đập rũ những chăn màn bám bụi. Thế giới của đàn bà, nhỏ nhặt, nhàm chán, và lặng lẽ.
Năm Quỳnh Thơ mười hai tuổi, hoàng cung tổ chức lễ nguyên tiêu rất lớn. Những mâm bánh măng, bánh phục linh đủ màu sắc cao chất ngất. Ðèn lồng lấp lánh giăng khắp các ngọn cây trong vườn thượng uyển. Ðến giờ tý, tất cả các cuộc vui dừng lại, đèn đuốc trong nội cung tắt ngấm. Cung nga thể nữ lũ lượt mang lồng ấp sang điện Càn Thành, nơi vua ở, xin lửa.
- Thưa mẹ, tại sao phải tắt lửa đi, rồi lại đi xin những mẩu than này, hở mẹ? Quỳnh Thơ hỏi.
Hoàng Quý Phi vừa về đến cung, hai thị nữ theo sau mang lồng ấp đan hình chim phụng. Cả ba người kính cẩn đặt vào đấy mấy mẩu gỗ trầm, mùi hương toả lan ấm cúng trong đêm lạnh, rồi lửa bùng lên, những ngọn đèn lại được thắp sáng.
- Con biết không, đấy là tục lệ do các tiên hoàng đặt ra. Lửa là khí dương. Trong cung điện này tất cả chúng ta là đàn bà, thuộc về khí âm, chúng ta có được hơi ấm và sức sống là từ ngài ngự. Hoàng Quý Phi trả lời con với vẻ thành kính, còn Quỳnh Thơ chỉ hiểu lờ mờ lời mẹ nói. Lời giải thích của Hoàng Quý Phi đã để lại trong tâm trí nàng công chúa nhỏ những nỗi thắc mắc không thôi về mối liên hệ giữa âm và dương, giữa mặt trăng và mặt trời.

Khác với Quỳnh Tiên, Quỳnh Bôi dịu dàng, ngoan ngoãn, nàng công chúa Quỳnh Thơ út luôn là mối lo lắng của Quý Phi. Theo bà, ở người con gái, trí thông minh và sự tò mò chẳng bao giờ là ưu điểm cả, nó chỉ là điềm báo những tai hoạ. Quỳnh Thơ mười ba, rồi mười bốn tuổi. Năm nào lễ nguyên tiêu cũng tới, năm nào những phiến than hồng cũng nhen nhóm ngọn lửa mong manh nơi các cung phòng, năm nào vua cũng ban hơi ấm và sự sống cho tất cả vợ con đông đúc của ngài, mà năm nào những kiếp người trong cung cấm cũng vẫn cuộc sống buồn tủi, tẻ nhạt, lạnh lẽo. Trong ngày tháng thầm lặng giữa bốn bức tường gấm, Quỳnh Thơ đã bắt đầu cảm thấy tù túng, chật hẹp. Chiều, cô bé trèo tít lên gác cao nhìn ra xa. Sau Tử Cấm Thành là Hoàng Thành, rồi đến lớp thành ngoài cùng, nơi có ngựa xe, nhà cửa, phố phường đông đúc. Rồi tới dòng sông, rồi tới núi xa xa. Mỗi ngày mặt trời đều đến đó rồi mất hút. Mặt trời đi đâu để sáng mai lại hiện ra nơi mái lầu ngọ môn rực rỡ? Quỳnh Thơ thầm tự hỏi, những câu hỏi không một ai trong cung có thể trả lời.
Rồi một ngày, nhũ mẫu mách với Hoàng Quý Phi: - Chiều nào Quỳnh Thơ cũng ngồi hàng giờ nhìn về phía mặt trời lặn. Trong mắt nàng công chúa nhỏ, nhũ mẫu lo lắng nhận ra vẻ ngây dại, sững sờ và nhũ mẫu quyết chắc rằng công chúa đã bị tà ma ám ảnh. Ðiều kinh khiếp hơn nữa, nhũ mẫu hạ giọng nói nhỏ: "Một hôm công chúa đã hỏi tiện tỳ, "Vú có biết các hoàng tử thuở còn bé tí vẫn chơi với ta nhưng sau khi rời cung cấm, đã ở đâu? Vú có biết thế nào là một người đàn ông không?".
Ðúng là trong nội cung chẳng có cái gì giúp người ta hình dung ra một người đàn ông. Bọn thái giám với ria mép nhẵn nhụi, dáng đi uốn éo và giọng đàn bà the thé tất nhiên không thể là một ví dụ... Vẻ bí mật và lo âu hết sức quan trọng của vú làm Quỳnh Thơ ngày càng lúng túng sợ hãi, cuối cùng thì nàng đổ bệnh thật, nằm liệt một góc giường.  

Một buổi sáng, thị nữ đỡ Quỳnh Thơ ngồi dậy, nhẹ nhàng thay xống áo cho nàng và dìu nàng ra nằm trên chiếc sập gụ lót đầy gối thêu. Trước sập, một bức màn gấm dày buông chấm đất.
- Có việc gì đây, hở các em? Công chúa hỏi đám thị nữ, - tất cả các thị nữ đều lớn tuổi gấp đôi Quỳnh Thơ.
- Bẩm công nương, hôm nay quan thái y đến thăm mạch.
Ả thị nữ vừa nói vừa quấn quanh cổ tay Quỳnh Thơ một băng lụa mỏng. "Lát nữa công nương thò tay ra khỏi màn, quan thái y chỉ cầm qua lớp lụa này mà xem bệnh tình. Công nương cứ yên tâm đừng sợ". Quỳnh Thơ mỏi mệt lắc đầu. Cơn sốt, những bức màn, những người hầu vây quanh, những dải băng quanh cổ tay làm nàng ngạt thở.
"Các em hãy cho ta lên lầu, ngồi một mình nhìn dòng sông ngoài kia! Ta muốn tháo tung tất cả những thứ chán ngán này, chúng làm ta chết mất!".
- Không được đâu công nương. Quan thái y là đàn ông mà, làm sao có thể cầm vào tay công nương được? - À ra thế. Một người đàn ông sẽ đến đây.
Một lát sau, có tiếng chân đĩnh đạc đến sau bức màn. Những tiếng chân ấy vang lên rất lạ, không giống bất cứ tiếng chân nào Quỳnh Thơ đã từng nghe trong cung cấm này. Các thị nữ xúm xít quanh giường, rồi một ả nắm tay Quỳnh Thơ đưa nhẹ qua màn. Một bàn tay lạ nắm lấy cổ tay công chúa qua lần lụa mỏng. Bất giác cô gái nhỏ đỏ bừng mặt vì một cảm tưởng kỳ lạ. Quỳnh Thơ ngồi dậy. Các thị nữ lo lắng nhìn theo, rồi họ chợt kêu rú lên, có người luống cuống đâm đầu chạy. Công chúa Quỳnh Thơ mười bốn tuổi vừa làm một việc kinh thiên động địa chưa bao giờ từng xảy ra trong cung cấm: Công chúa đã vén bức màn lên nhìn thẳng vào người đàn ông trước mặt.

Nửa giờ sau, cả hoàng cung đều biết câu chuyện điếm nhục đó. Hoàng Quý Phi khóc ròng rã ba ngày đêm, ba ngày liền các thị nữ cung Trùng Hoa cũng vì vậy mà bỏ ăn bỏ ngủ. Bà Kính Phi, người đang ở ngôi vị thứ hai trong cung, đã đem ngay cái tin này đến tai vua. Hoàng Quý Phi bị truất vì lỗi dạy con không nghiêm. Nhũ mẫu bị đuổi ra khỏi cung Trùng Hoa và sung làm thợ cắt cỏ ở vườn ngự. Quỳnh Thơ được chữa lành bệnh và sau đó bị nhốt vào lãnh cung.
Trong cung lạnh, nơi đoạ đày những cung nga xấu số, Quỳnh Thơ bàng hoàng nhớ lại... Lúc đầu nàng khóc sướt mướt khi nghĩ đến những nhục nhã mình đã gây ra cho mẹ, nhớ những cung phòng đẹp đẽ nơi ngày ngày vẫn đá kiện hay đổ xâm hường với các chị em trang lứa. Mãi sau khi đã quen với cuộc sống ở lãnh cung và nguôi dần niềm thương nhớ những người thân, Quỳnh Thơ mới biết đọng lại trong tâm hồn, đau đớn và thấm thía nhất, là hình ảnh người đàn ông lần đầu tiên nàng thấy: Một ông già khô quắt, râu tóc bạc phơ, cái miệng khắc nghiệt, với hai gò má nhăn nheo lấm tấm vết đồi mồi. Quỳnh Thơ rùng mình, không dám hồi tưởng lại. Nàng đã trả giá đắt bao nhiêu cho một điều hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì!  

Rồi một hôm, lại đến tiết nguyên tiêu. Trời rất lạnh, các đèn lồng đều tắt. Ðêm Hoàng cung lạnh ngắt, đen mù như trong đáy vực. Xa xa, Quỳnh Thơ thấy ánh sáng hừng hực hắt lên từ điện Càn Thành. Giờ này cung nga, thể nữ chắc chen nhau đến lấy lửa ấm. Nhưng ở đây, nơi của những người xấu số, không ai nhớ đem lại cho họ dù chỉ một tàn than. Bất giác Quỳnh Thơ tủi thân ôm mặt khóc.
Giữa lúc đó chợt có tiếng thét vang rền từ xa vọng lại. Tiếng người nhốn nháo, tiếng chân rầm rập, tiếng hô lệnh xung phong vang lên giữa đêm thâm u. Rồi những ánh lửa xuất hiện như sao sa, những bóng người ngựa lao tới, những ánh kiếm rực lên trong đêm. 
Có biến! Trống ở ngọ môn điểm cấp tập liên hồi. Không phải nhịp trống uể oải thườngngày, đây là tiếng trống từ một bàn tay dũng mãnh. Dân phu đang xây lăng ở phía tây kinh thành đã nổi dậy. Họ đang tràn vào cung, mở cửa các nhà giam. Quỳnh Thơ nép vào một góc nhà ngục. Chiếc xiềng sắt khua loảng xoảng rồi rơi xuống. Cửa phòng giam bật mở.
Một tráng sĩ vừa xuống ngựa, tay cầm bó đuốc nhìn vào.
Lửa, lửa dữ dội, rực rỡ chiếu phòng giam lạnh lẽo.
"Hết canh tư này, nghĩa quân sẽ rút đi. Chúng ta đã phóng thích hết tù nhân trong kinh thành. Nàng hãy mau tìm đường thoát". Quỳnh Thơ ngước nhìn. Trong phút chốc, nàng nhận ra trong mắt người nghĩa sĩ một ánh lửa rực rỡ và hiểu rằng chàng đã đến từ nơi mặt trời ẩn náu.
Tráng sĩ đưa tay cho Quỳnh Thơ, nàng nắm lấy tay chàng; nàng đã mười sáu tuổi và lần đầu tiên trong đời nhìn thấy một người đàn ông đích thực. Tráng sĩ đỡ Quỳnh Thơ ngồi lên ngựa và chỉ một khắc sau cả hai đã lao theo dòng thác người đang cuốn về cổng hoàng cung, trong tiếng chiêng báo động vang trời.

Nhiều thập kỷ sau, dân cư ở quanh vùng vẫn kể câu chuyện nàng công chúa cùng chàng dũng sĩ trên lưng con ngựa trắng phóng như bay về phía rạng đông. Không ai biết chính xác họ đi đâu, nhưng tất cả đều tin họ đã cùng sống ở một nơi nào đấy tràn trề ánh lửa. Niềm tin ấy chẳng phải là vô căn cứ, vì hiện nay nhiều dòng họ ở lân cận thành cổ vẫn tự nhận mình là con cháu của hai con người gan dạ và hạnh phúc đã ruổi ngựa đi đón mặt trời vào một đêm đầu xuân.
Còn sáu mươi tám nàng công chúa khác trong cung thì sách vở còn chép rõ về cuộc đời của họ. Có ba mươi nàng được gả cho những ông phò mã lọm khọm với tấm lưng dài cong gập trong chiếc áo the. Còn ba mươi tám nàng thì chết già trong cung, nhiều nàng chết lúc còn rất trẻ vì buồn chán những đêm nguyên tiêu lạnh.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeSun Feb 23, 2020 8:56 am

.


Chị Hai Ơi  
- Trần Thùy Mai


Hè năm ngoái, từ Sài Gòn về, tôi ngạc nhiên: ra mở cửa không phải mẹ tôi mà là một thiếu phụ có cặp mắt to đen láy. Chị nhanh nhẹn đỡ lấy cái túi Air VN tôi đang mang:
- Út Hiệp đây phải không, chao, lớn ghê!
Tôi hơi phật lòng vì cái lối chào hỏi dành cho trẻ con. Đã hai mươi mốt tuổi, sắp tốt nghiệp Đại học Sư phạm, tôi đâu có phải là con nít.
Đến bữa cơm, mẹ tôi bảo:
- Má vừa có con gái, từ rày, con phải gọi nó là chị Hai.  

Khi chỉ có hai mẹ con với nhau, mẹ tôi mới thăn thỉ kể: Chị Trúc là người ở Lăng Cô, vợ chồng bỏ nhau, nhà cửa thân thích không có. "Tội nghiệp, má đào phận bạc vậy đó con. Cho nó ở đây sớm hôm với mẹ cho vui khi con vắng nhà".
Có chị Trúc mẹ tôi đỡ vất vả. Mẹ tôi bày ra nuôi gà vịt, làm ruốc biển... Toàn là việc mệt nhọc mà các chị tôi đều đã lấy chồng, chẳng ai san sẻ được.
Suốt ngày tôi càu nhàu: "Thằng Tí con chị Hai nó quậy phá, ồn ào con chịu hết nổi". Mẹ tôi an ủi:
- Kệ, chịu khó đi con, rồi má biểu con Hai không được thả cu Tí vô chơi trong buồng con là yên.
Chị Trúc biết nỗi khó chịu của tôi nên cố gắng vừa cặp con vừa làm việc nhà. Quần áo tôi thay ra, vứt giữa giường, chị vuốt lại phẳng phiu rồi treo lên móc. Vẻ nhẫn nhịn của chị làm tôi áy náy cảm thấy mình giống như một tên... bạo chúa. Một hôm, thấy chị tay ôm con, tay giã ruốc, tôi ngượng ngùng cười cười dỗ đứa bé:
- Ơ... Để cậu bồng chơi, cho mẹ đỡ mỏi, nghe cu Tí. Thằng bé bạo dạn, nó ngả vào tay tôi ngay. Chị Trúc ngước lên nhìn tôi, cái nhìn biết ơn từ đôi mắt đen láy. Tôi ôm đứa bé mà không hiểu sao không thể nào đứng dậy nổi! Nhưng thằng bé lại nhào qua lòng mẹ, quờ tay với vào đôi bầu ngực phập phồng dưới chiếc áo cánh lụa.
Vội vàng, tôi phải bế nó đi...

Từ đó thỉnh thoảng chị Trúc lại nhờ tôi bế cu Tí. Mỗi lần tôi tung hứng thằng bé, khiến nó cười vang khoe hàm răng sữa ngây ngô, chị lại ngước lên nhìn tôi biết ơn. Cái nhìn xoáy buốt làm tôi nhận ra chị thật đẹp, khuôn mặt trái xoan, nước da rời rợi trắng. Không hiểu sao người như thế mà chồng chị lại nỡ lòng chê bỏ?  
Những lúc rảnh rỗi, chị ôm con ngồi trên bậc cửa, mắt nhìn mông lung về phía xa. Chắc chị đang nhớ đến căn nhà hạnh phúc ngày xưa của mình. Có hôm chị tâm sự:
- Hiệp biết không, chị học tới lớp đệ nhị thì mẹ mất. Không còn ai nữa, đành lấy chồng sớm để nương tựa. Tưởng yên thân, ai dè ông chồng phi công của chị đã có vợ trước rồi! Vậy là bồng con đi liều vào trong này mong nhờ bà con, nhưng bà con cũng hắt hủi. Nhiều lần chị đã nghĩ tới chuyện chết...
Chị không khóc mà mắt tôi đỏ. Tôi an ủi:
- Đừng buồn chị Hai. Hổng cần chồng, hổng cần bà con. Chị cứ ở đây với mẹ con Hiệp, cũng vui chán. Câu nói ngớ ngẩn làm chị bật cười. Nụ cười với cái răng khểnh mới thơ dại, tươi tắn làm sao. Năm ấy chị hai mươi bảy tuổi, lẽ ra là những năm đẹp nhất đời người.
Một buổi chiều, tôi vác đàn ra sân hát nghêu ngao:
Cây trúc xinh... (tang tình là) cây trúc mọc
(Qua lối nọ í như) sân đình
Chị Hai xinh... (tang tình là) chị Hai đứng, đứng một mình (qua lối í như) cũng xinh.
Chị Trúc đang giặt áo quần, liếc nhìn tôi rồi nguýt một cái sắc như nước. Từ đó chị đâm cảnh giác với thằng em. Làm gì chị cũng lầm lì, tìm cớ tránh xa tôi.
Tôi thì như thằng khùng, cứ đeo theo chị như bóng với hình. Gặp lúc vắng, tôi kéo tay chị, chị rãy ra dẫy nẩy như đỉa phải vôi:
- Này, cậu tưởng chị Hai là mẹ mìn, thích bắt cóc trẻ con hay sao. Đi mà tán các cô hàng xóm ấy!  
- Chị ơi, nhưng Hiệp hổng nằm mơ thấy mấy cô ấy. Hiệp cứ nằm mơ thấy chị Hai thôi. Chị Hai không thương Hiệp, hết hè Hiệp không thèm đi học nữa.
- Chưa thấy ai lì như cậu. Buông ra cho chị đi, không má thấy thì chết. Chị giật áo ra, không thèm ngó cái mặt si dại của tôi. Tôi phát giận, không thèm ăn cơm mấy bữa liền.

Mẹ tôi sợ quýnh, mua thuốc giải cảm, mua dầu cù là Mac Phsu, mua chuối tiêu hột gà. Rồi mẹ lại còn sang ông lang cắt mấy thang thuốc bổ. Tôi phát ngượng, đành phải ra ăn cơm. Đến tối, mỏi lưng quá, mẹ tôi ôm cu Tí nằm ngủ, giao siêu thuốc cho chị Trúc.
Đêm khuya, nằm trong phòng, tôi ngửi thấy mùi thuốc bắc lan tỏa khắp nhà. Mùi vị đắng đắng, ngọt ngọt vừa nôn nao vừa dễ chịu. Tiếng than dưới đáy siêu reo lách tách... Rồi mùi thuốc dịu xuống, lửa tàn, tiếng than im bặt.
Một lát khá lâu sau, tôi mới nghe tiếng chị Trúc khẽ khàng:
- Hiệp ơi, ra uống thuốc. Tôi lặng im không ư hử. Chị Trúc lại gọi, tiếng chị hơi run run.
Mãi không thấy tôi ra, chị đành bưng bát thuốc vào. Chỉ chờ có thế, tôi vùng lên ôm đại lấy chị. Chị hốt hoảng, thuốc đổ tung toé xuống giường: - Hiệp, buông ra không chị la lên cho má đánh chết.
Tôi cứ giữ rịt lấy chị. "Đố chị có gan la lên. Má đánh chết Hiệp không lẽ chị không thương tí nào sao?" "Đồ quỷ, không thấy ai liều như cậu". Hai tay chị ra sức vả vào mặt tôi nhưng chẳng ăn thua.
Rồi hai tay và cả thân mình chị đã bị tôi giữ chặt. Tôi vùi đầu vào vai chị, hít mãi mùi cơ thể chị nồng mặn và ngọt ngào, mắt tôi nhắm lại, mê man... Bất chợt tôi mở choàng mắt, vai nhói đau, rụng rời. Chị đang ngóc đầu lên, lấy hết sức lực cắn thật mạnh. Hàm răng chị dứt da dứt thịt tôi. Tôi bặm môi chịu đau chứ không chịu buông. "Chị cứ cắn đi, rồi ít bữa chị nhớ đưa Hiệp đi chủng ngừa". Chị Trúc không trả lời, răng vẫn nghiến chặt. Đau hết chịu nổi, tôi đành buông chị ra. Vai tôi ứa máu. Chị Trúc vùng dậy, hốt hoảng vừa xoa vết thương cho tôi, vừa mếu máo:
- Trời đất, có sao không, Hiệp ơi!
Lúc ấy, toàn bộ sinh lực trong người tôi đang dồn ứ bỗng tiêu tan. Tôi rã rời như một cái thây ma, chỉ còn sức gạt mạnh tay chị: "Thôi đi đi! Mặc xác tôi!"

Đến mai, vai tôi sưng vù, nhức nhối. Lần này tôi sốt thật sự nhưng vẫn phải ra ăn cơm uống nước kẻo sợ mẹ tôi hỏi han. Khốn khổ, trời Nha Trang tháng sáu nóng như thiêu như đốt nhưng trưa nào tôi cũng mặc áo sơ mi nghiêm chỉnh để che cái dấu răng thật đáng ngờ. Mười ngày sau, vết thương lành, để lại một vết lũm sâu tròn. Dấu chiếc răng nanh mọc khểnh của chị. Da thịt lành nhưng tâm hồn tôi nặng trĩu. Điều làm tôi lo lắng nhất là dường như sinh lực của tôi đã ra đi hẳn, không bao giờ trở lại nữa, thân xác tôi hoàn toàn nguội lạnh.
Chị thì ngược lại. Hình như có điều gì đấy đã vùi chôn giữa thất vọng, muộn phiền và những công việc buồn tẻ thường ngày, nay chợt thức dậy, nhuộm trên toàn thân chị một vẻ gì khó tả. Dường như vóc dáng chị mượt mà hơn, mắt nhìn da diết hơn...
Rồi một hôm rằm, mẹ tôi đi chùa, dẫn cả cu Tí đi theo. "Nó đã lên ba rồi, cho nó quy y để phật phù hộ cho nó". Còn lại có hai người, chị Trúc có vẻ sờ sợ, ra ngoài sân xắt chuối cho vịt ăn, không dám vào nhà. Thật ra lúc ấy tôi buồn rười rượi như cơm nguội, đâu có gì đáng cho chị sợ. Chợt giữa đàn vịt con đang ăn lúp súp, một chú vịt nhỏ bỗng quay đơ ra đất, giãy đành đạch. "Chắc là nó bị dịch, đang giãy chết" nghĩ vậy tôi phóng ra, chị Trúc cũng chồm tới, cùng đưa tay nắm lấy con vịt. Kỳ lạ thiệt, chú nhóc chỉ lảo đảo vì... nghẹn có một lúc rồi lại tươi tỉnh, còn tay chúng tôi lúc nãy cầm con vịt thì bây giờ lại cầm lấy tay nhau...
Như sực tỉnh, chị Trúc rụt lại, nhưng tôi đã giữ lấy bàn tay chị:
- Chị đừng sợ, Hiệp chẳng làm gì chị nữa đâu. Tôi cũng muốn thổ lộ nỗi lo lắng của tôi cho chị nghe nhưng xấu hổ không sao nói được. Chẳng hiểu từ lúc nào, hai chúng tôi đã ở trong tay nhau. Chị vừa phục tùng, vừa dẫn dắt tôi. Cơ thể tôi dần dần hồi sinh trở lại... Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thân thể một người đàn bà. Trưa hôm ấy trời nắng, ngoài cửa sổ phòng tôi có lùm cây nhỡn xanh ngắt rung rinh, tiếng ve râm ran thật gần, có lúc lũ ve vùng kêu to làm Trúc giật mình, tôi phải ghì thật chặt để chị khỏi rời tôi...

Những ngày sau đó tôi tươi như cây khô gặp mưa. Chiều chiều, tôi lại vác đàn ra ngõ hát vang:
Cây trúc xinh, (tang tình là) cây trúc mọc
(Qua lối nọ í như) sân chùa
Chị Hai không yêu, (tang tình là) tôi đây cũng bỏ đạo bùa (Qua lối nhỏ í như) cùng yêu...
"Mày hát cái gì đấy, hở út?" Tôi giật mình quay lại.
Chị Ba Thìn, chị ruột tôi sang chơi từ sáng, đang đứng tỉa rau dền trong sân mà tôi đâu có hay. Tôi ấp úng:
- À... Em hát... hát dân ca.
Chị Ba trừng mắt lên:
- Dân ca à? Dân ca cái con khỉ!
"Thiệt là bà chằn, người ta hát mắc mớ chi tới mình?" Tôi lầm bầm. Chị Thìn về, tôi chẳng nhớ, cũng chẳng thắc mắc gì thêm. Lúc đó tôi có để ý gì đâu, tôi chỉ thấy trời đất thật đẹp, tiếng ve thật du dương, tôi ước sao mùa hè dài vô tận. Trúc cũng vậy, chị đẹp ra trông thấy, má đỏ và mắt cứ ướt long lanh. Chị không ngồi bậc cửa và trông xa vời về phía quê nhà nữa...  
Một hôm, cây hoa râm nở thơm ngát, tôi hái một chùm, chạy xuống bếp đưa lên mũi Trúc. Chị đang rửa bát, né người qua bên, nhìn quanh rồi thầm thì:
- Khi nào cô Ba đến, thì Hiệp phải ý tứ nghe.
- Mình việc gì phải sợ. Khi chị Ba lấy anh Hải, cả nhà phản đối, riêng Hiệp còn ủng hộ nữa.
- Hai chuyện khác nhau lắm, Hiệp nói dở òm.
- Khác gì mà khác. Rồi đây mình cũng cưới nhau thôi, để chị Ba khỏi thắc mắc lộn xộn.
Trúc giật mình, tôi phải chộp lấy cái chén trên tay chị để cho khỏi rơi. "Không được đâu Hiệp ơi!" Trúc vừa nói vừa rưng rưng rưng nước mắt. "Được! Nhất định được!" Tôi vừa ôm chị vừa nói như rìu chém xuống đá. Nước mắt chị tuôn chảy trên vai tôi, nước mắt hối tiếc, nghẹn ngào. Lát sau, chị kéo áo lau mắt trấn tĩnh lại:
- Nói bà xàm. Ai thèm lấy đồ con nít.
Tôi tức mình: "Con nít được à? Từ nay phải gọi Hiệp bằng anh".
- Gọi không được, khó gọi vậy lắm Hiệp ơi - Chị thật thà bảo tôi.
- Ít nữa thì phải gọi nhau bằng tên, không được xưng chị với Hiệp nữa. Tôi bắt chị thay đổi cách xưng hô cho được. Cuối cùng rồi chị cũng ngoan ngoãn nghe lời tôi. "Nhưng Hiệp phải giữ gìn làm sao cho má và cô Ba đừng ghét Trúc đó nghe". Nước mắt đã ráo, Trúc cười, mặt ánh lên niềm vui thơ dại. Có lẽ Trúc đã dần dần tin rằng chúng tôi sẽ ở bên nhau mãi mãi.  

Hôm sau tôi nói với mẹ: "Má ơi, con muốn lấy vợ". Mẹ tôi vừa cơm nước xong, thủng thỉnh vừa xỉa răng vừa nói vần:
Nực cười cái chuyện ó đâm
Trai tơ đòi vợ khóc rầm cả đêm
Dỗ hoài mẹ phải mắng thêm
Vợ đâu mà cưới nửa đêm cho mày!
Chị Ba tôi phá ra cười nghiêng ngả. Trúc ở dưới bếp thất kinh, đưa tay ra dấu cho tôi đừng nói nữa. Tiếng cười của chị Ba làm tôi tự ái. Tôi quyết định không cần nói thêm gì hết. Hè đã sắp qua, tôi sẽ vào trường, học thật giỏi, sẽ có nghề, sẽ tự lập, sẽ lấy vợ, và gia đình phải nghe tôi...
Vào Sài Gòn, tôi cắm đầu cắm cổ học. Nhưng mới vừa được một tháng, nhớ Trúc quá, tôi vội vã về thăm nhà.
Ra mở cửa chỉ có mình mẹ tôi, dáng gầy mệt mỏi vì một mình lam lũ với bao công việc. Trên dây phơi, những cái áo cánh, những cái quần nhỏ xinh xinh của cu Tí không còn nữa.
- Má ơi sao không thấy... - Tôi run run không hỏi được hết câu, vì mẹ tôi đã nghiêm ngay nét mặt:
- Lại còn hỏi à, tao đuổi nó đi rồi! Mày tưởng qua mặt được tao sao?
- Trời ơi, đi đâu? - Tôi sững sờ.
- Đi đâu mặc xác! Tao đã thương mà chứa chấp, không biết ơn lại rù quyến con tao, thì tao bỏ hẳn, cho nó chết cho biết thân! Tôi thả cái xách rơi xuống đất. Muốn khóc mà không dám khóc! Mẹ tôi hiền hậu là vậy, mà bây giờ mặt đanh lại, mắt long lên, như dáng vẻ con gà mái bảo vệ bầy con trước nanh vuốt lũ diều. Mẹ ơi! Mẹ làm sao hiểu, có bao giờ Trúc quyến rũ con đâu?  

Tết năm ấy, tôi nói dối là ở lại Sài Gòn học thi, đi ra tận Lăng Cô xa xôi, tìm xem Trúc có ở quê hay không? Chuyến tìm kiếm vô vọng, tôi về Sài Gòn, người gầy rộc đi như que củi.
Đến hè, tôi lại một lần nữa ra Lăng Cô, theo lời chỉ dẫn của người làng tìm đến Huế, gặp người chồng cũ của Trúc. Ông này đang sống yên ổn với vợ con, không biết mà cũng không muốn nhắc đến số phận của con người từng là nạn nhân của mình. Ông ta nhìn tôi như thể nhìn một thằng nhóc bị bệnh tâm thần, đã cất công lặn lội chỉ vì một chuyện vớ vẩn.
Tôi nghẹn ngào ra đi, đầu óc hoang mang không sao hiểu nổi: tôi còn chưa vợ, Trúc không có chồng, vậy mà sao chúng tôi không được sống với nhau?

Trúc đi hẳn. Không âm vang, không tin tức. Nhưng mấy mươi năm qua rồi, trên vai tôi vẫn còn một vết sẹo, dấu của chiếc răng khểnh. Bây giờ nhớ lại, tôi biết mình đã may mắn hơn nhiều bạn trai cùng lứa tuổi. Bài học vỡ lòng về điều bí ẩn của tồn sinh, tôi đã không phải học với những cô gái làng chơi gian dối, mà trong vòng tay ấm áp của một người đàn bà dịu dàng, chân thật và thương yêu tôi.
Chẳng biết bây giờ Trúc ở đâu, còn sống hay đã chết. Cứ mỗi lần sờ tay trúng vết sẹo trên vai, tôi lại nhớ mùa hè ngây dại của tuổi hai mươi, có lùm cây che khuất cửa sổ, có tiếng ve râm ram giữa trưa hè. Bất giác tôi nhắm mắt lại gọi thầm: "Chị Hai ơi!"
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 595
Join date : 23/08/2012

thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitimeThu May 07, 2020 8:30 pm

.

Cha Nuôi

- Trần Thùy Mai


Cuối tháng, Tiến chưa lãnh lương mà Ni lại không muốn ngồi nhà. Vét hết túi hai đứa còn được năm ngàn, Ni vào mượn dì Ba thêm một ngàn mà dì nhất định không cho. "Cả một bành đồ siđa mới khui ra chưa bán được cái mô. Tiền chưa vô là nhất định không cho tiền ra, biết không?" Ni tiu nghỉu. Nhưng rồi hai đứa cũng ra ngồi ở quán bên sông, uống một ly nước chanh, một ly trà loãng. Tiến nói: "Dì Ba mê tín khiếp". Ni buồn buồn: "Không phải đâu, vì dì không ưng Ni quen Tiến nữa". Tiến bặm môi, ngơ ngẩn ngó ra sông.
Hai năm trước, khi Tiến bắt đầu thường xuyên đến nhà, dì Ba mừng ra mặt. Vậy là đứa cháu mồ côi sắp có người rước đi rồi. Ni ở căn chái phía sau, gần bếp. Đi học về, Ni nấu ăn, rửa chén, giặt giũ. Dì Ba có ba con, cộng cả nhà sáu người, áo quần quăng ra mỗi ngày một chậu giặt có ngọn, Ni giặt đến nửa chậu đã hùi hụi thở. Từ khi Tiến được phép lui tới thì Tiến giặt giúp cho Ni. Tiến khoẻ lắm, chỉ vèo một chút là xong.

Hồi Ni học thi đại học, Tiến vẫn đến ngày ngày, dì Ba càm ràm: "Tổ cha tụi bây, mai thi rồi mà ngày ni còn kè kè". Không phải đâu, Tiến chở Ni ra quán cho Ni ngồi nhìn sông một chút cho dịu bớt cơn nhức đầu. Chỗ Ni ngồi học nóng thế, gặp lúc bếp dầu hư, khói xông vào rất ngạt. Ngồi bên Tiến cơn đau đầu của Ni dịu lại. Tiến nói: "Tiến nghe nói con mèo đen có chứa điện năng lớn, nuôi một con mèo đen trong nhà, sẽ giảm được những chứng như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt". Ni cười: "Khỏi cần, Tiến là con mèo đen của Ni rồi".
Ni thi đậu vào đại học, đúng điểm chuẩn, không dư một ly. Thế cũng may rồi. Kể từ đó, cuộc đời Ni rẽ ngoặt qua một đoạn khác, nói như dì Ba là: Từ nay mới bắt đầu "mọc mũi sủi tăm". Dì Ba bỗng cưng Ni thấy rõ. Dì không nói đến chuyện trông Ni sớm lấy chồng để đập căn chái của Ni, nới rộng phòng dì nữa. Cái bếp dầu cổ lỗ đã chui vào nằm trong gác, thay bằng bếp ga Rinnai. Tiến cũng không phải giặt đồ giùm Ni nữa, máy giặt Sanyo mỗi ngày quay vi vút, mới sáng sớm sân phơi đã giăng kín mấy dãy áo quần thơm phức mùi Comfort.
Một chiều Tiến ghé vào, Ni vội vã lôi ra sau bếp, thì thào: "Tiến ơi, Ni đã có ba". Tiến sững người. Ba mẹ Ni đều mất đã lâu, ai cũng biết mà! Ni cười: "Đây này, Tiến đọc đi". Tiến cầm lấy tờ thư, chỉ có mấy dòng. "Tiếng Pháp, dượng Ba giảng cho Ni thế này...". Thì ra là thư của một người Pháp tên là Jacques Hardy nhận làm cha nuôi của Ni, hàng tháng sẽ gửi tiền về nuôi Ni cho đến khi hết đại học.
Vậy là Ni xem như hết khổ. Ni đã có người bao bọc, đỡ đần. Bất giác Tiến hơi buồn. Cái buồn ích kỷ: trước kia chỉ một mình Tiến tốt với Ni, nay có đến hai người. Ni nhìn mặt Tiến, hiểu ngay, nói như dỗ dành: "Cha nuôi đâu đã biết Ni tính tình mặt mũi ra sao. Chẳng qua là người ta làm từ thiện thôi". Miệng nói vậy nhưng Ni có vẻ sung sướng không giấu được. Mà cũng phải, từ nhỏ Ni không cha, không mẹ, bây giờ đột nhiên có người gọi là con. Dì kể công: "Cũng nhờ dượng quan hệ rộng, bạn bè bên nước ngoài người ta giới thiệu cho, chớ tiền đâu có trên trời rớt xuống".

Hàng tháng, Ni viết thư cho cha nuôi, kể chuyện học hành, sức khoẻ... Ban đầu dượng Ba dịch cho, sau Ni học thêm tiếng Pháp, tự viết. Dượng Ba đọc lại, cười: "Sai bét nhè, nhưng thôi, có vụng về vậy mới thật, mới dễ gây xúc động". Tiến nhìn qua cửa sổ. Nghĩ cũng kỳ, cái thật, cái xúc động mà cũng phải cần đến kỹ xảo!
Lâu lâu, Ni có quà xa gửi về. Thuốc bổ, kẹo... Các con dì Ba chia nhau hết. Ni cũng mặc, bảo Tiến: "Ăn một cái kẹo của cha gửi là hạnh phúc lắm rồi. Hồi Tiến nhỏ, ba mẹ Tiến có mua kẹo cho Tiến không?". Tiến nghe mà thương Ni quá. Bỗng Tiến lo lo, hỏi Ni: "Lỡ ra sau này cha nuôi muốn đem Ni về Pháp, chắc Ni bỏ Tiến mà đi". Ni lắc đầu: "Làm chi mà có chuyện đó. Người ta làm từ thiện, lòng tốt cũng có hạn thôi". Cặp mắt ướt của Ni thoáng buồn, rất buồn...
Tưởng chỉ có thế. Nhưng chẳng bao lâu, Tiến chưng hửng. Ni bảo Tiến: "Cùng một dòng máu đằng ngoại mà sao dì lúc nào cũng nghĩ khác em. Tiến xem đây này". Tiến nhìn, lại một bức thư tiếng Pháp nữa, lần này ký tên ông Nélig Picquier. "Cũng là nhận bảo trợ em làm con nuôi?". "Dạ. Dì bảo em viết thư cảm ơn y như lần trước. Em thấy kỳ quá". Dì Ba từ đâu bỗng đột ngột bước vào: "Có cái chi mà kỳ với không kỳ. Cha này hay cha khác thì cũng ở tít bên Tây. Có phải ở chung một làng đâu mà sợ tranh giành?". Ni thở dài với Tiến: "Ni chỉ muốn có một cha nuôi thôi. Nhưng làm sao cãi dì".

Dượng Ba đúng là có tài tháo vát. Khi Ni học đến năm thứ hai thì đã có đến năm cha mẹ nuôi, có ông người Pháp, có bà người Mỹ, cuối tháng Ni viết thư đừ cả người, cuối cùng thì nảy ra sáng kiến viết một lá rồi sao ra làm mấy bản. Dần dần, Ni quen đi, không buồn, không áy náy nữa. Khi dượng Ba móc thêm được ông bố nuôi thứ sáu người Mỹ gốc Việt, Ni chẳng quan tâm đến tên tuổi cùng gốc gác của ông, chỉ bảo: "Vậy là dì có thêm trăm đô mỗi tháng".
Cuối năm, dì Ba cho xây lại ngôi nhà, thành một toà nhà hai tầng khang trang. Ni đã trở thành con gà đẻ trứng vàng. Hôm dọn vào nhà mới, Tiến đang hì hục vác giùm các thứ chợt nghe tiếng dì nói thầm với dượng: "Con Ni không biết kén. Sau này vợ đại học, chồng trung cấp, có phải vậy là nhà bếp cao hơn nhà trên, có khó coi lắm không?".
Từ đó, Tiến không đến thăm Ni nữa. Ni đạp xe về nhà Tiến: "Sao Tiến không tới nữa?" Ni trách, rồi kể lể với Tiến: Ông Picquier không đỡ đầu nữa, bà Jeanne cũng vậy, ông Jacques cũng rút êm. Lý do là quả đất rộng thế nhưng lại tròn, các ông bà này mỗi người ở mỗi nơi nhưng lại đi du lịch Thụy Sĩ cùng một tours. Trong câu chuyện vui ai cũng đem chuyện cô con nuôi dễ thương ra khoe, và đều té ngửa trước những bức thư giống nhau như hệt. Ni bảo: "Hú vía, may sao dì dượng đã xây xong nhà". Nói rồi Ni than phiền: "Nhà xây rồi nhưng phòng Ni vẫn lẹt đẹt sau phòng dì, lẽ ra phải cho Ni cái phòng phía trước mới phải".
Tiến nhìn Ni, cảm thấy Ni dường như khác trước, khác nhiều lắm... Bỗng nhiên lòng nguội lạnh, Tiến thừ người nhìn ra vườn. Khu vườn nhỏ có cây khế đang ra hoa lấm tấm hồng... Ni lay lay vai Tiến, phụng phịu: "Nãy giờ Ni nói chuyện với ai, với cục đất à?". Tiến cười khùng khục: "Tiến nhìn cây khế ngoài vườn. Ước chi có con phượng hoàng bay xuống cho Ni may túi sáu gang". Ni rụt ngay bàn tay đang đặt trên vai Tiến, môi mím lại. Từ đó hai đứa hai đường. Mỗi lần nghĩ đến Ni, Tiến chỉ còn một cảm giác nghèn nghẹn trong cổ, thế thôi.

Phương Ly, cô bạn cùng học ở lớp tại chức kinh tế, có hôm hỏi Tiến: "Mục đích học của anh là gì? Tính lên chức, vô ngạch, hay xin tăng lương?". Tiến tự xét nét tâm tư, thấy cái gì trong bản liệt kê ấy cũng không đúng với ý nguyện của mình. Vậy thì mình đi học để làm chi? Mãi rồi mới nhận ra, mình đi học là để chống lại cái cảm giác nghèn nghẹn trong cổ từ ngày ấy, thế thôi. Vớ vẩn thế thì làm sao trả lời cho Phương Ly hiểu được, Tiến đành cười trừ.
Có lần Ly nhờ chở về, Tiến chở ngang nhà Ni . Ngôi nhà hai tầng bề thế vậy mà thắp có mỗi một ngọn nêông ở gian giữa, tiết kiệm điện đến thế thì thôi. Tiến ngỏng cổ nhìn lên. Bỗng nhiên cảm giác nghẹn trở lại, Tiến húng hắng ho, tay lái chao đi. Phương Ly lo lắng: "Tiến làm sao thế?". Tiến lắc đầu: "Không sao, con phù du bay vào mắt".
Mấy hôm sau, mẹ Tiến hỏi: "Lâu nay không gặp con Ni à? Bữa qua hắn tới, hỏi thăm con ốm mập ra sao. Mạ nói con đi làm vắng, để chủ nhật rồi bác biểu hắn qua thăm cháu". Hình như cái số Tiến và Ni đến hồi này là số xa cách, Tiến vừa vào đến cổng thì dì Ni nhìn ra. Dì đang vui, vui đến nỗi thấy Tiến dì cũng không cần tỏ ra lạnh nhạt như xưa nữa. "Tiến à, dì nói để con mừng cho em Ni, ngày mai là cha nuôi Ni ghé thăm đó. Mấy bữa nay dì dượng dọn dẹp nhà cửa mệt phờ cả người". "Cha nuôi nào hở dì?". "Thì ông Lê Vy đó, ông hứa bảo trợ cho em Ni qua Mỹ học tiếp. Nếu xin được visa không trở ngại chi thì mùa thu này là em qua bên đó rồi".
Tiến khờ mặt ra, muốn chờ Ni về hỏi thêm cho rõ, nhưng tuy mặt mũi dì tươi vui đon đả vậy, dì cứ đứng chắn ngang cửa, rõ ra ý không muốn để Tiến vào nhà. Tối hôm ấy ở lớp, Tiến chẳng ghi được chữ nào. Phương Ly lo lắng nhìn: "Tiến trúng gió à, để Ly ghi giùm cho nghe?".
Từ đó, mỗi lần Phương Ly nhờ Tiến đưa về, Tiến đều đi đường vòng, tránh qua nhà Ni. Có bữa Phương Ly hỏi sao không đi đường gần, Tiến cười cười: "Đường vòng dài hơn, đi với Ly được lâu hơn". Nói xong chợt cảm thấy mình có chút gì giả trá, vội đính chính: "Sợ đi ngang nhà người cũ". Thật thà khai báo thế mà Ly không giận...

Mùa hè tới, lớp học đêm cũng nghỉ. Tối rảnh chẳng biết đi đâu, Tiến ra quán chơi game. Lòng Tiến giờ dửng dưng, không thương ai nhớ ai.
Hết hè, lớp học đêm lại mở. Đêm đầu khai giảng, Tiến đứng trên hành lang, chợt thấy trống vắng giữa đám người đông xôn xao. Không biết Phương Ly đã đến chưa?
Bỗng Ni hiện ra trong sân với tập vở ôm trước ngực. Tiến giật mình, tưởng mắt mình bị loá vì đèn. Nhưng mà Ni thật rồi, ánh mắt và nụ cười Ni lúc này thật khó tả, vừa vui sướng, vừa đau khổ.
"Ni ra trường rồi, xin việc khó quá nên tính học thêm một bằng đại học nữa cho chắc".
"Còn việc đi du học?". "Sao Tiến biết?". "Tiến nghe dì nói mà". "Tiến có đến à?". Ni ngẩn ra một lúc rồi thở dài: "Ni không đi đâu Tiến ạ". "Sao uổng vậy? Được đi du học, nằm mơ cũng không thấy". Ni lắc đầu: "Ni cũng nghĩ vậy. Người ta ai chẳng muốn vươn lên, Tiến có thông cảm với Ni không?".
Tiến ngập ngừng... "Nhưng ông Lê Vy không chịu bảo lãnh Ni đi theo diện du học, mà theo diện kết hôn". Tiến trợn mắt, ấp úng hỏi: "Sao lại kết hôn với con nuôi được?". "Ni nghe dì nói, luật bên đó không cấm". "Thế Ni...". Ni nhìn Tiến nảy lửa rồi bặm môi, nói một hơi rành rọt: "Tiến đừng ngố nữa, túi của Ni cùng lắm là bốn gang thôi chứ không đến sáu gang như Tiến nghĩ đâu".

Lúc hai đứa dứt chuyện thì mọi người đã vào lớp, nhìn quanh chỉ còn hai đứa trên sân vắng. "Hay mình tự cho phép cúp cua một bữa mừng hội ngộ đi Ni". Ni ngồi xuống gốc cây bàng. Tiến níu Ni gượng lại, lấy khăn tay trải cho Ni ngồi, còn Tiến lót dép ngồi bên cạnh. "Chuyện việc làm, bây giờ Ni tính sao?". "Ni xin vài nơi rồi chưa được. Trước mắt chắc phải tìm chỗ dạy kèm, rồi kiếm chỗ ở". Tiến ngạc nhiên: "Chỗ ở á?". "Thì mấy hôm nay dì lại đòi đập căn phòng của Ni để nới rộng phòng dì...". Ni nói, mắt ầng ậng nước. Tiến nắm chặt tay Ni. "Đừng sợ, Ni ơi, có Tiến rồi mà".
"Nếu có ước muốn trong cuộc đời này, xin hãy ước cho thời gian trở lại". Xa xa vọng lại tiếng hát từ một quán nhạc đâu đó ven đường - Hình như là cái quán ở ven sông mà ngày nào hai đứa vẫn ngồi bên nhau.
.

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng   thụy - Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Trần Thùy Mai: Trăng Nơi Đáy Giếng
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến