Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
chuyen quang ngam Nghin nguyet GIFT Mộng phung quốc mien Chia ngắn linh hoang dino music luong quan Saigon không thụy tran quynh Trung Nguyen Nhung
Latest topics
September 2020
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930    
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeFri Apr 27, 2012 6:04 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 2Q==

Chân dung một cô gái Việt Nam
- Tâm Thanh


Căn phòng nằm trên bờ con sông con Askerelva chảy qua trung tâm thủ đô Oslo. Qua cửa kính ra ban-công, Diễm nhìn những cây phong lá úa vàng soi bóng trên nước, tưởng tượng nếu đây là một căn phòng trong ký túc xá sinh viên, với người yêu bên cạnh, thì thơ mộng biết bao. Nhưng bây giờ trước mặt nàng là ông cảnh sát di trú và bên phải là một người con gái, cỡ tuổi Diễm. Cô xin tầm trú. Trước khi lên đây, một bà cảnh sát đã khám xét người và hành lý của cô. Bà muốn tìm biết cô gái thật sự là ai, tên tuổi thật là gì, nhà cửa thật ở đâu. Trong ba bốn năm gần đây, nẩy ra một hiện tượng mới là mỗi năm có vài chục người Việt Nam tới xin tầm trú tại Na-uy, không một người nào là... người thật. Báo chí Na-uy gọi họ là ingen person, tương đương với nobody, Diễm và các đồng nghiệp thông dịch viên dịch đùa từng chữ là ‘vô nhân’. Trong cái túi xách nhỏ, có hình hai bàn chân, bà cảnh sát chỉ moi ra được một cái quần tây, một áo thung, một xú-chiêng, hai xì líp, một típ kem đánh răng, một bàn chải. Chân dung thật của cô gái không nằm trong cái túi xách.

Bây giờ Diễm dịch cho ông cảnh sát thẩm vấn.
“Cô tên gì?” ông cảnh sát hỏi, sau khi bật máy PC.
“Nguyễn Thị Vân.”
“Ngày sanh?”
“25.12.1988”
“Như vậy là cô sanh vào lễ Giáng Sinh và năm nay cô 16 tuổi?” ông cảnh sát chiếu ánh mắt nghi ngờ trên cô gái ngồi trước mặt. Diễm đoán người đồng hương này nếu không già bằng Chúa Cứu Thế thì ít nhất phải hai mươi lăm tuổi. Nàng biết theo luật lệ hiện hành, trẻ vị thành niên được nhiều đoàn thể can thiệp và bảo vệ, và nếu được chấp thuận tị nạn thì có thể kéo thêm cha mẹ, em út. Nhưng Diễm đoán lầm về vụ kéo thêm cha mẹ:
“Tên cha?” ông cảnh sát hỏi tiếp.
“Nói chung... Tôi không có cha.”
“Tên mẹ?”
“Tôi không có mẹ.”
“Ít nhất cũng có một người sanh ra cô chớ?”
“Tôi mồ côi từ nhỏ, không biết gì cả...”
“Cô có giấy tờ gì không, như sổ thông hành, căn cước chẳng hạn?”
“Không.”
“Không có giấy thông hành, làm thế nào cô có thể đi ra khỏi Việt Nam, và qua bao nhiêu biên giới tới đây được?”
“Không biết. Người ta đưa tôi đi.”
“Người ta là ai?”
“Nói chung nà người giắt đi đấy.”
“Có khi nào họ đưa qua trạm kiểm soát biên giới không?”
“Tôi không biết đâu là biên giới.”
“Cô rời khỏi Việt Nam bao giờ?”
“Không nhớ.”
“Cô nói phỏng chừng cũng được,” ông vẫy vẫy những ngón tay như con chim bay “một năm, một tháng, hay một tuần?”
“Khoảng một tháng.”
“Cô nhớ đã đi qua một thành phố nào đặc biệt, ví dụ Paris, Berlin, Bắc Kinh?”
“Không nhớ. Không biết.”

Suốt hai tiếng đồng hồ với hàng trăm câu hỏi, người cảnh sát chỉ nhận được một câu trả lời rất ư thoải mái “không biết.” Chạm phải những lời nói dối quá xấc xược, ông đỏ gay mặt như người bị xúc phạm nặng, nhưng lấy lại bình tĩnh, gõ vào máy vài dữ kiện vu vơ. Thấy hồ sơ sơ sài quá, ông ta cố gắng nhắc lại lần thứ ba một câu hỏi:
“Cô nói lại tôi nghe, cô từ Việt Nam tới Na-uy bằng phương tiện gì?”
Cô gái chắc đã được học tập kỹ, dư biết rằng ông cảnh sát muốn truy ra hãng máy bay chuyên chở để qui trách nhiệm, nên quay sang thông dịch viên nói:
“Chị lói với ló nà em đi bộ từ Cao Bằng sang Trung Quốc đấy, dzồi từ Trung Quốc đi bộ sang Nga, từ Nga sang đây bằng xe thùng đấy... Ðã lói mí ló dzồi mà cứ hỏi mãi thế!”
Diễm dịch lại câu nói, bỏ câu ‘chị lói với ló’ đi - vì nàng biết nó ngắn ngủi thế mà không tài nào dịch hết ý được. Ông cảnh sát ghi vào hồ sơ lời khai, chẳng cần biết đoạn đường từ Cao Bằng sang Nga dài bao nhiêu dậm, đi bộ mấy năm. Rồi ngẩng đầu lên hỏi theo đúng thủ tục:
“Cô muốn gì tại Na-uy?”
“Xin tị lạn.”
“Lý do tị nạn?”
“Nói chung nà ở Việt Nam đói quá.”
“Tại sao lại chọn Na-uy làm nơi tị nạn?”
“Nói chung nà nghe người ta bảo ở La-uy sướng thì trả tiền cho đường giây đưa đi.”
“Cô phải trả bao nhiêu tiền?”
“Lăm ngàn đô.”
“Số tiền này từ đâu cô có, nếu cô đói?”
“Có cái ông gần nhà thấy tôi khổ thương hại cho tiền đi.”
“Ông ấy tên gì?”
“Không biết.”
“Ðịa chỉ?”
“Bên cạnh nhà tôi.”
“Hồi nãy cô nói vô gia cư, từ nhỏ sống ở ngoài đường?”
“Thì ở gần nhau ngoài đường.”
Diễm nghĩ bụng nếu có một nơi mà người vô gia cư có nhiều tiền như thế và hảo tâm như thế nhất định nàng sẽ tới đó xin tị nạn. Nhưng ông ta khoanh tay, ngả lưng ra đằng sau như muốn thư dãn, rồi bấm nút ‘print’ vào máy PC. Bên ngoài ban-công một con bồ câu đáp xuống, thấy bóng nhiều người, lại bay đi.

Ông cảnh sát đưa cô gái xuống phòng căn cước dưới tầng trệt để chụp hình, lăn tay, làm thẻ căn cước tạm. Diễm cũng là dân tị nạn - mệnh danh là ‘thế hệ thứ hai.’ Thấy cảnh này, Diễm nhớ lại những câu chuyện gian truân, bi hài mà ‘thế hệ thứ nhất,’ cha mẹ nàng, kể về chuyến vượt biên hai mươi sáu năm về trước, lúc nàng chưa sanh ra. Nhiều người hỏi tại sao phải liều mạng như vậy? Cha mẹ có một câu trả lời khá đặc biệt, tương đối khiêm nhường hơn phần đông - khát khao tìm một mảnh đất có thể lương thiện mà sống. Ông bà đã tìm được một mảnh đất như thế và sanh ra Diễm trên mảnh đất như thế. Diễm thừa hưởng tấm lương thiện như suối nhận nước mạch từ đỉnh núi cao tinh tuyền. Diễm không biết nói dối - gần như. Nói ‘gần như’ là để trừ những lần như mẹ hỏi có bồ chưa nói chưa, bố hỏi mua cái cà-vạt cho bố bao nhiêu nói nửa giá, bạn trai hỏi em giận cái gì, nói không có gì cả...
Ông cảnh sát cầm từng ngón tay của cô gái lăn trên tấm kính đục, khi hình dấu tay hiện rõ nét và đầy đủ trên màn ảnh máy vi tính, với tín hiệu ‘Ready’, ông nhấn bàn đạp. Diễm nhìn những ngón tay thon khá đẹp của cô gái, tự hỏi tại sao cô có thể nói dối một cách tự nhiên như thế. Và Diễm cảm thấy một nỗi chán nản xen lẫn hổ thẹn về người cùng màu da.

Một chiều đầu mùa đông. Trận tuyết đầu tiên trong thành phố khiến đường xá hỗn loạn vì tai nạn xe cộ. Diễm rút trong cặp đi làm ra tờ báo cũ đọc lại, cho qua thời gian trôi rất nhanh mà xe buýt chạy rất chậm, và bụng bắt đầu đoi đói. Tin có nghi vấn ông Arafat chết vì bị đầu độc; tin tuyết lở ở Miền Tây khiến 60 chiếc xe bị kẹt giữa đường; tin cảnh sát bắt được chín người trong một băng ăn cắp toàn người Việt Nam, hoành hành từ nhiều năm trên toàn quốc. Số thiệt hại cho các cửa tiệm lên đến nhiều chục triệu. Các mặt hàng được băng đảng này ưa chuộng là dao cạo Gillette, mỹ phẩm L’Oréal, nhất là thuốc quệt lông mày và tô mắt, có cả dầu cá. Chưa bắt được người đầu sỏ của tổ chức, nhưng trong số những người bị bắt có một người đàn bà tầm trú can dự vào 19 vụ có tang chứng, người này đã có bốn tiền án ăn cắp. Chuông điện thoại reo. Cảnh sát di trú cần Diễm đi thông dịch gấp. Cảnh sát hẹn mang xe đón đường xe buýt để rước Diễm đi ngay. Diễm moi gói bánh mì ăn dở ra ăn; nếu không bị kẹt xe, giờ này nàng đang ăn cơm với cha mẹ ở nhà, mẹ nói hôm nay sẽ làm món canh bí rợ.
Cô cảnh sát di trú mặc thường phục chiều nay sẽ gặp một người đàn bà trong tù để thông báo lệnh trục xuất. Khi người tù xuất hiện trước cửa phòng tiếp khách, Diễm thấy mặt quen quen. Người thiếu phụ nặng nề ngồi xuống ghế bành, một tay đặt lên bụng lớn. Diễm để ý đến sự kiện nhỏ là trong căn phòng bây giờ có ba người đàn bà. Cô cảnh sát tự giới thiệu xong, mỉm cười hỏi cô tù, Diễm dịch lại:
“Cô khỏe không?”
“Khỏe.”
“Bao giờ sanh?”
“Hai tháng nữa.”
Cô hắng giặng:
“Hôm nay tôi đến đây để nói về một việc khác, không liên quan gì tới việc trộm cắp,” cô cảnh sát nói trong khi mở một cái kẹp hồ sơ bằng nhựa trong, lấy ra một tờ giấy. “Tôi đến để báo cho cô biết về lệnh trục xuất.”

Người thiếu phụ mang bầu mặt không biến sắc, bàn tay vẫn để trên bụng, cánh tay kia vẫn để xuôi theo đùi trên ghế da. Cô cảnh sát đưa cho Diễm tờ quyết định của bộ Nội Vụ, bảo dịch miệng cho đương sự.
Diễm dịch xong, đưa tờ giấy cho người con gái tên Vân ký tên. Bây giờ nàng đã nhớ ra đây là cô gái xin tầm trú vào đầu mùa thu. Nàng nhớ ra bàn tay đang đặt trên bụng kia đúng là bàn tay đẹp đặt trên tấm kính mờ để lấy dấu. Bàn tay táy máy trong bốn tháng nay làm điêu đứng các siêu thị và cửa hàng khắp nước. Lại cùng một cảm giác gờm nhớm len vào lòng Diễm.
Cô cảnh sát cất tờ quyết định vào kẹp. Lấy một tờ giấy khác, cầm bút như sẵn sàng ghi chép.
“Xin cô nghe đây,” cô cảnh sát mở đề cho một cuộc thẩm vấn cuối cùng. “Cô không đủ lý do xin tị nạn, cộng thêm việc phạm pháp, cô không có con đường nào khác ngoài đường trở về nơi cô đã ra đi.”
“Thế thì trả tôi về Ðức.”
“Tại sao lại Ðức? Cô đi từ Việt Nam mà!”
“Tôi từ bên Ðức sang...”
“Trong hai lần thẩm vấn trước đây cô nói từ Việt Nam, đi bộ sang Trung Quốc rồi sang Nga. Bây giờ lại nói từ Ðức sang. Lời nào là thật?”
“Cái thai lày của một thằng Ðức.”
“Nhiều lần chúng tôi đã hỏi cha của thai nhi là ai, cô đều nói là không biết.”
“Không biết... thật đấy. Nói chung nà đêm không thấy mặt.”
“Dù cô không biết gì hết, không biết mặt người ngủ chung, không biết mình là ai, không biết cha mẹ là ai, không biết từ đâu tới, chúng tôi vẫn có cách tìm ra cô là ai. Và chúng tôi sẽ liên lạc với tòa đại sứ Việt Nam cấp giấy cho cô về Việt Nam.”
“Lói thật cũng chết, lói dối cũng chết...” người tù nói nhanh, rồi lại vội nói “Chị đừng dịch cho ló nghe nhá!”
“Cô ấy nói gì?” thấy Diễm không dịch câu nói của người đối thoại, cô cảnh sát hỏi.
“Cô ấy đổi ý, không muốn tôi dịch câu vừa nói.”
Cô cảnh sát nhỏ giọng nói với người đàn bà mang thai:
“Xin cô cộng tác với chúng tôi để tiến hành cho sớm việc hồi hương, tránh cho em bé khỏi sanh ra trong tù.”
“Tôi cũng không muốn sanh con trong tù...”
“Vậy tên thật cô là gì? Ðịa chỉ?...”

Người tạm gọi là ‘Vân’ không trả lời. Diễm bỗng thấy nét mặt của Vân mềm ra, như có một lớp sáp vừa tan để lộ cảm giác - khuôn mặt của một con người. Bất cứ tên tuổi cô là gì, đây là một người mẹ. Người mẹ đặt cả hai tay lên bụng, cúi xuống lẩm bẩm:
“Con tôi sinh trong tù à?”
Rồi im lặng. Diễm cảm thấy xót xa trong lòng. Cảm giác gờm nhớm từ bốn tháng nay biến thành một cảm giác ân hận. Diễm nghĩ đến thân phận chính mình - sở dĩ mình sống nhởn nhơ được, buổi sáng đứng bán nhà thuốc tây, buổi chiều đi nhảy aerobic, lâu lâu đi thông dịch lấy ngoại tài mua son phấn không cần ăn cắp... là vì cha mẹ mình đã chọn được con đường đúng ý nguyện: tới một nơi có thể lương thiện mà sống được. Không, không phải cha mẹ chọn. Ðó là Trời ban. Ba chục năm nay, bây giờ ‘Kho Trời’ đã khóa. Nếu cha mẹ nàng chậm chân, không chừng giờ này Diễm cũng là một người mở miệng bằng câu không biết, và không từ làm bất cứ việc gì để sinh tồn.

Lợi dụng lúc cô cảnh sát nói chuyện với bà gác tù, Diễm phá chút qui củ thông dịch, đưa tay bắt bàn tay mềm và ẩm của Vân, chúc may mắn và ai ủi vài câu. Vân tỏ ra cảm động. Cuối cùng, nghĩ tới mai mốt Vân lên máy bay về Việt Nam, Diễm ái ngại hỏi:
“Liệu người lương thiện có sống được ở Việt Nam không?”
“Nương thiện nà cái gì?
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 597
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeSat May 16, 2020 5:37 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Images?q=tbn%3AANd9GcQXZVKXpDdtUbwZV6ZVhK85qa49HqXwFjBt0s7ov28QITdoeufe&usqp=CAU

Đời đổi thay biết bao lần
- Trương Văn Dân


Buổi sáng “cafe liên lục địa”, anh Đặng Châu Long cao hứng ngâm bài thơ “nhật ký Chinese Virus” của nhà thơ Nguyên Cẩn vừa sáng tác, ngôn ngữ như vẽ lên một bức tranh buồn và đầy lo ngại trên toàn thế giới:

… nhưng từ Milan qua Teheran chưa qua ngày u ám,
gió đưa mùi cồn hay tử khí bay xa.
khi bình yên là từ ngữ của hôm qua,
Cali hay New Delhi nỗi sầu lại mọc.
không thấy bóng trẻ thơ trên đường đi học.

Thì Ngọc Anh bất chợt hỏi:
... Khi bình yên là từ ngữ của hôm qua..., thế thì những ngày tới sẽ ra sao?
Câu hỏi trống không, nhưng tôi biết là cô em này đang muốn tôi trả lời.

Tôi ngồi trầm ngâm và nghĩ, thế giới đã thay đổi bao lần và sau mùa dịch chắc chắn cũng sẽ thay đổi nữa. Tất cả chúng ta rồi sẽ phải thích ứng với một cách sống khác, thay đổi cách nhìn, sản xuất hay làm việc. Tất nhiên, đây đó vẫn còn người tin rằng là khi mùa dịch đi qua thì rồi mọi thứ sẽ trở lại “bình thường”.
Nhưng bao giờ hết dịch? Chưa ai nói được điều gì và những con số lây nhiễm, chết chóc ở mọi  nơi trên thế giới mỗi ngày mỗi tăng, như bản tin trong thời chiến.
Khi nhìn những con số, tôi cảm giác như mình đang ở trong thế chiến thứ ba: cuộc chiến chống lại một kẻ thù bé tí. Chiến tranh vi trùng: Chỉ trong vòng 2 tháng mà đã có 1 tỷ người bị cách ly, bị vô hiệu hóa trên toàn thế giới!
Nhiều người đã chết mà không có cái ân huệ là phút cuối được nhìn mặt người thân. Họ cô độc đi từ giường bệnh đến lò thiêu, có khi trên những chiếc xe quân đội!
Tất nhiên, ai rồi cũng phải chết. Nhưng đứng trước cơn đại dịch mạng người quá mong manh bởi một kẻ thù nhỏ bé, và điều này chắc sẽ làm chúng ta nhìn lại thái độ sống và ý thức của mình về những giá trị mà mình từng theo đuổi và chắc rồi cũng sẽ ngộ ra: không có gì quý hơn mạng sống, tình gia đình và tình đồng loại.

Tôi vừa từ Sài Gòn về trong tâm dịch vào những ngày toàn quốc cách ly ở Ý, trao đổi với bạn bè qua điện thoại và hiểu ra đang có một sự thay đổi tận gốc trong tâm họ. Hình như ai cũng biết là phải can đảm nhận lấy hậu quả của những sai lầm về một lối sống phản thiên nhiên. Sau bài học về Coronavirus chúng ta không thể nào quay về lối sống tiêu thụ vô tội vạ, gây ô nhiễm môi sinh và phung phí tài nguyên. Xưa nay chúng ta thường tự phụ, rằng con người là thượng đẳng,  nên tha hồ hủy hoại thiên nhiên, giết chóc mọi loài hay giết chóc lẫn nhau. Nhân tai đã khiến vô số loài tuyệt chủng và trớ trêu thay, số phận giống loài "cao cấp" nhất hôm nay cũng đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề sinh tử.
Con người đã từng muốn thay đổi thế giới ư? Giờ là lúc vỡ lẽ là thế giới sẽ thay đổi con người. Và nếu không thay đổi, thiên nhiên sẽ mệt mỏi vì chúng ta. Trái đất sẽ nóng lên. Băng tan. Nước biển dâng. Hạn hán. Cháy rừng. Bão tố. Động đất. Dịch bệnh.
Vũ trụ, tự nhiên luôn có sự cân bằng hoàn hảo. Ai phá vỡ sự cân bằng đó đều phải trả giá. Từ xa xưa, triết gia Socrate cũng đã từng khẳng định: tất cả cái gì không cân bằng thì đều sụp đổ! Nhiều người biết, mà chẳng mấy quan tâm!
Những cường quốc số một số hai thế giới, vũ khí đầy kho, bạc tiền rủng  rỉnh, tưởng hiểu biết về khoa học của mình là vạn năng, hôm nay đang ngỡ ngàng và bó tay  trước một đối thủ vô cùng bé nhỏ. Nó, con Coronavirus có phải là giống loài đáng sợ? Không đâu, vì giống loài đáng sợ nhất chính là con người, là cái lòng tham vô đáy mà đạo Phật đã từng cảnh báo và đặt làm hàng đầu trong 3 vấn nạn: Tham, Sân, Si. Chỉ vì vô minh  mà con người tàn phá mọi giống loài, hủy hoại nơi mình sống và tiêu diệt đồng loại.

Khi chị Hạnh nói  hình như hiện nay cách duy nhất để cứu mình, cứu người là phải tự cô lập, giữ khoảng cách xã hội mới có thể ngăn chặn dịch. Nhưng về lâu phương thức này sẽ  làm sụp đổ hệ thống y tế và nền kinh tế thế giới.
Giữa bốn bức tường nhà mà chúng ta phải tự cách ly, sau những phút chùn chân cuồng cẳng thì cuối cùng chúng ta cũng phải làm quen với hiện thực mà ta đang đối mặt. Và cái khái niệm “bình thường” rồi cũng phải thay đổi. Có thể nhờ tự nhốt mà chúng ta học được sự cảm thông, có thời gian dành cho người thân, lắng nghe những vấn đề, tâm sự về những điều quan tâm với các thành viên trong gia đình, thố lộ về những điều mà mình lo lắng hay hoảng sợ.
Chưa ai biết con coronavirus đến từ đâu. Nhưng, tôi nghĩ là nó không đến đây vì sự một tình cờ. Và không phải cái xấu nào cũng đều có hại.
Thế giới luôn chuyển biến và đó là quy luật. Chúng ta không thể biết hết tất cả các yếu tố tác động lên hành tinh, nhưng điều rõ nhất là dịch bệnh không phải là thiên tai như sóng thần hay động đất mà bởi chính bàn tay của con người. [1]

Chỉ mới sáng nay thôi, trên  báo Coriere della sera  có đưa tin là tại Venezia, thành phố đông khách du lịch nhất của Ý, trước đây bị than phiền là nước trong kênh ngầu đục thì giờ đây dòng nước xanh trong đã hiện ra, nhìn thấy đáy và từng đàn cá tung tăng bơi lội. Một tin khác là sau một thời gian đóng cửa các nhà máy, bầu trời Vũ Hán cũng đã trong xanh không còn smog hay đen kịt vì bụi khói.
Thế giới mà con người đang sống bị ô nhiễm trầm trọng.
Thời Colombo khám phá ra châu Mỹ, người ta có thể uống nước từ bất cứ dòng sông nào, và nếu chúng ta cũng sống như dân da đỏ thì nguồn nước đến giờ vẫn còn trong sạch. Vì Nước và Không khí đối với họ là thiêng liêng. Họ biết là khi nước và khí quyển bị xâm phạm thì trái đất sẽ phản ứng.
Nếu nhìn qua một góc khác, thì Coronavirus cũng có thể nhìn như một thiên sứ hơn là một kẻ thù. Nó đến để giúp con người nhận ra bài học mà họ cần phải học.
Khi mà những kỳ thị chủng tộc, những tính ích kỷ và lòng tham của con người còn trỗi dậy thì virus sẽ còn ở lại. Và nếu cái phương thức sản xuất và tiêu thụ phản thiên nhiên chưa dừng lại thì con virus này chưa chịu để ta yên, nó sẽ còn nhân rộng để đạp đổ cái  xã hội thuần kinh tế  mà chúng ta đã tạo ra.
Chỉ khi nào chúng ta hiểu được “sứ mệnh” đó thì tự khắc virus này sẽ  trở về nơi xuất phát.
Như thế coronavirus không phải là kẻ thù. Nó là một đồng minh, giúp chúng ta nhận thức và cho chúng ta sức mạnh để mang lại quân bình cho cái hệ thống mà chúng ta đã phá vỡ.

Ngọc Anh ơi, em hãy nhìn cao. Trên bầu trời không có chiếc máy bay nào và hãy cảm ơn bầu không khí trong lành mà ta đang hít thở. Hãy nhìn các hàng cây, nhìn ra biển, nhìn những dòng sông, em có nhận thấy là tất cả đang bắt đầu phục sinh đấy sao?
Không ai có thể sống an lành hay khỏe mạnh trong một môi trường bệnh hoạn!
Và anh tin rằng khi cơn bùng phát dịch này chấm dứt, loài người  sẽ thoát ra thiện lành hơn vì ý thức được  sự mỏng manh và yếu đuối của mình. Anh tin là loài người sẽ biết cách phân biệt điều gì quan trọng với những gì phù phiếm. Vì, sớm hoặc muộn gì thì cũng có lúc chúng ta phải tự hỏi và tự trả lời vì sao  xưa nay mình đã sống như thế, vì sao phải từ bỏ hay thỏa hiệp hay đã không dám sống một cuộc đời mà mình thực sự là mình.
Và anh tin rằng khi tình trạng nguy hiểm trôi qua, nếu còn sống sót và có thể tung tăng trên đường chúng ta sẽ thấy mình để sống với những điều đơn giản và thấu hiểu ý nghĩa của tự do.
Khi tôi nói ra những ý nghĩ ấy thì Ngoc Anh đã lạc quan hơn: Em mong là cơn bão này sẽ qua nhanh, con người sẽ tồn tại, chúng ta sẽ sống sót nhưng trong một thế giới mà mọi ngươi đều biết tôn trọng và thương yêu trái đất.

Tôi không nói gì thêm, chỉ nhớ là khi ngồi trên máy bay về Ý đã có lúc mình nghĩ về ý tuởng của Erich Fromm về những thay đổi xã hội mà loài người rất cần. Chính nhà phân tâm học và triết học xã hội người Đức này đã đưa ra khái niệm về tự do và nhấn mạnh là xã hội ngày nay chỉ dựa vào kỹ thuật: lạnh lùng, vô cảm và không hạnh phúc.
“Sản xuất kinh tế không thể chỉ có mục đích cho chính nó mà phải là phương tiện để mang đến một cuộc sống nhân bản hơn. Trong xã hội đó con người phải sống có phẩm giá chứ không phải là sở hữu hoặc tiêu thụ nhiều hơn."
Ngọc Anh à, một ngày nào, khi dịch bệnh kết thúc, chúng ta sẽ dành nhiều thời gian cho nhau vì đã bao lâu rồi mình không được nắm tay nhau?

Milano 25/3/2020

[1] Một tài liệu của WWF, https://www.wwf.it/perdita_biodiversita.cfm ,  cho rằng rừng là một vành đai chống Virus tự nhiên mà loài người đang hồn nhiên tàn phá!
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 590
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeWed May 20, 2020 9:34 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Z


CHIẾC KHẨU TRANG VÀ ĐÀN CHIM ÉN
- Trương Văn Dân

 
Đã mấy tháng qua chúng ta buộc phải mang chiếc khẩu trang, và cái thế giới nhìn qua chiếc khẩu trang cũng đã thay đổi.
Chiếc khẩu trang xuất hiện như một nốt nhạc lạc điệu trong đời sống bình thường. Nó không những làm ta khó chịu mà còn mang ý nghĩa tiêu cực, sợ hãi và lo lắng. Thế nhưng chúng ta không thể buông bỏ, dù biết nó không ngăn đại dịch, nhưng giúp chúng ta an tâm, giảm đi nỗi sợ.
Nhìn thế giới qua chiếc khẩu trang ít nhiều đều để lại dấu ấn trong tâm trí chúng ta: "Mọi thứ đã thay đổi". Thế giới như xưa sẽ không trở lại!
Và nhận thức của chúng ta về cuộc sống cũng không còn như cũ.

Khi có chiếc khẩu trang trên mặt thì nhịp sống của chúng ta chậm lại, các cuộc ngao du bị hủy bỏ vì không có chuyến bay, làm việc tại nhà, học cách “biết đủ” và ý thức hơn về một cuộc sống nhẹ nhàng. Bỗng nhiên các sô thời trang trông thật kỳ quặc và xa lạ, các quảng cáo xa xỉ xuất hiện đường đột và lố bịch, các dự án mua villa sát biển, tậu căn hộ trong khu nghỉ dưỡng xa hoa bỗng thật phù phiếm và lửng lơ: liệu chúng có thực sự quan trọng? Rồi từng ngày, từng ngày cách ly tại nhà, chúng ta bắt đầu quen, và bất giác nghi ngờ cái hệ thống kinh tế chủ yếu là tiêu thụ và khoe khoang rồi tự nhiên cân nhắc về cách tiêu dùng, nghĩ ngợi về những nhu cầu thực sự.
Xưa nay, trong nhịp sống hối hả, có khi chúng ta sống và làm việc như người máy. Chúng ta bị chìm ngập dưới lượng thông tin khổng lồ, những thứ bận tâm hoàn toàn vô nghĩa, khiến chúng ta đánh mất sự an bình. Các thông tin vớ vẩn và vô ích, kiểu hoa hậu ăn gì, ca sĩ mua chi, tôi thích ăn mặc hở hang miễn là thoải mái… chẳng những đã làm nhiễu và che khuất các thông tin giá trị mà còn làm tê liệt nền văn hoá sống động, biến ta thành những ‘sinh thể robot’.

Kinh tế suy giảm, sau đại dịch chắc chắn chúng ta sẽ nghèo đi, nhưng bù lại chúng ta sẽ được nhiều hơn là mất: suy nghĩ và đánh giá lại những thói quen, nhìn lại cuộc sống mà trước đây có lẽ chúng ta không mấy hài lòng mà chưa biết làm sao khắc phục. Còn bây giờ chúng ta sẽ có 2 thứ: Thời gian. Thứ trước đây luôn thiếu. Để sống. Để dành cho bạn bè. Cho gia đình, con cái. Thứ hai là suy tưởng và tình thân. Khám phá ra là chúng ta có một gia đình, con cái, và dưới mái nhà không chỉ là nơi để ngủ mà còn có đối thoại, tương tác và cảm thông.

Nhịp sống chậm còn giúp chúng ta tái khám phá tình thân với những người xung quanh. Hiểu thêm giá trị của tình bạn, thứ quan hệ mà chúng ta nuôi dưỡng từ lâu để không cô độc. Hiểu được sự quan trọng của một tin nhắn hỏi thăm, qua điện thoại ban bè tâm sự hằng giờ về cuộc sống, thao thao nói mà không muốn dừng lại. Niềm vui của ta đơn giản như vào buổi sáng nhận được một “tin nhắn café” của một người nào ở xa nửa vòng trái đất, hỏi đêm qua bạn ngủ có ngon không. Hiểu là cuộc sống có một giá trị to lớn chúng ta không có quyền phung phí.


Buổi sáng lúc tôi mở cửa bước ra ban công thì có một đàn chim sẻ bay lên.
- Ciao Truong, thức dậy sớm thế?
Từ cửa sổ tầng trên, bà cụ Giuseppina 90 tuổi, ló đầu ra hỏi.
- Dạ, cháu thường dậy vào khoảng này.
- Cho hỏi nè, sao lũ chim thường tụ tập ở nhà cháu vậy?
- Dạ ngày nào tụi cháu cũng bỏ một ít thức ăn và các vụn bánh mì ngoài ban công. Thói quen được mẹ cháu dạy từ nhỏ là không được bỏ thức ăn thừa vào thùng rác.
- Ồ, cháu có bà mẹ tuyệt quá!
- Dạ, cảm ơn bác. Mấy hôm nay bác khỏe không?
- Khỏe. Cháu có biết là bác làm gì cả tuần nay không? Bác và con gái, thỉnh thoảng đến mang thức ăn cho bác và hai mẹ con may được hơn 200 cái khẩu trang để tặng cho thị trấn.
- Hay quá! Một việc làm hữu ích và đáng trân trọng.
- Cảm ơn cháu. Bác muốn sống có ích cho đến cuối đời.
Nói xong bà vẫy tay chào “thăm Elena nhé!” rồi khép cửa sổ.

Tôi nhìn theo bà cụ và nghĩ rằng, cuộc sống này sẽ tươi đẹp biết bao nếu chúng ta đều có ý thức cộng đồng và học theo bà cụ. Mỗi người đều góp phần bé nhỏ của mình, nhỏ thế nào cũng được nhưng tất cả cùng làm thì sẽ tạo nên những thay đổi lớn cho môi trường sống. Nghĩ ngợi thế, tôi chợt nhớ đến chuyện một con chim ruồi kiên nhẫn giải thích cho sư tử hiểu giọt nước mà nó đang ngậm trong mỏ là quan trọng thế nào trước khi mang đến để thả trên đám cháy.

 
Bây giờ là mùa xuân, trời đang rực sáng. Thiên nhiên vô tư ban tặng cho ta nắng ấm và không khí trong lành.
Những buổi sáng nằm trên giường tôi thường nghe tiếng chim hót và khi mở cửa tôi thường nhìn xuống vuông sân nhỏ. A đây rồi! Một, hai, ba, năm, bảy… hôm qua tôi thấy những nụ hoa vàng la đà trên mặt cỏ và hôm nay đã vươn mình đứng dậy.
Tôi thích thú, mỉm cười. Hoa mang đến sắc màu nhưng không phải là điều tôi đang tìm. Cả tuần nay tôi thường ngước lên bầu trời, như kẻ tình rập và chờ đợi. Tiếng chim kêu rộn ràng trên cao như báo cho tôi biết là đàn én đã về. Chúng đã đến và đang lả lướt bay lượn như nhảy múa trên cao.
Từ ban công tôi nhìn chúng, ngẩn ngơ. Chúng đang vui mừng bay liệng giữa trời xuân như chiếc thoi đưa ngày tháng, giữa vũ trụ vô thuỷ vô chung. Hình ảnh ấy đang ban tặng cho tôi một cảm giác yên bình.

Đôi khi chỉ cần vài cành hoa dại, vài con én tung tăng bay lượn trên trời để nhắc cho chúng ta nhớ là chúng ta đã sống như thế nào, từ đâu đến rồi sẽ về đâu.
 
Milano 25-4-2020
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 590
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeTue May 26, 2020 2:38 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 2Q==

Đọc truyện Đám Mây Bên Kia: Hồ Mjoesa của Tâm Thanh
- Trọng Đạt


Cách đây khoảng mười năm, Tâm Thanh gửi tặng tôi tập truyện mới in Thiên Hương Về Trời. Tôi vô tình nói thật lòng mình về nhận xét không thuận lợi cho đoản thiên chính Thiên Hương Vê Trời của anh, lạ thay Tâm vẫn vui vẻ bảo:
“Ừ cậu nói đúng đấy”
Tôi đọc tiếp những đoản thiên khác, nhưng khi tới truyện Đám Mây Bên Kia Hồ Mjoesa tôi dừng lại và đọc mấy lần rồi hỏi Tâm:
- Tôi thấy truyện này hay nhất, lạ và phảng phất không khí áng văn từ một xứ sở xa lạ bên trời Âu bạn ạ. Tôi muốn đưa cho mấy tờ báo bạn phổ biến được không?
Tâm Thanh đồng ý ngay, anh còn nói đùa:
- Nếu cậu cho thêm vài dòng giới thiệu thì tôi sẽ nổi tiếng như sóng cồn!
Làm cho bạn vui là được rồi, ít ra cũng bù đắp lại sự vô ý vô tứ của mình hôm nọ.

Đây là truyện tình buồn nhẹ nhàng thơ mộng như đám mây lờ lững bay qua hồ, cũng là một bi kịch đầy nước mắt của mối tình phu thê Âu-Á. Nó cũng biểu hiện lòng chung thủy của người vợ Việt Nam, bị phụ tình nhưng vẫn trọn đạo phu thê, tình nghĩa vợ chồng.
“Tuy bị ruồng rẫy mẹ định để tang chồng ba năm. Trong thời gian để tang, mẹ không son phấn, và rất giữ gìn trong việc giao thiệp với đàn ông”
Người phụ nữ Việt ở đây vẫn chung thủy quì trước bàn thờ cầu nguyện ơn trên phù hộ hàn gắn gia đình khỏi cảnh phân ly đổ vỡ. Thật tội nghiệp cho người đàn bà Á đông dù trong hoàn cảnh bi thương vẫn hy vọng, vẫn sống trong mơ tưởng:
“Suốt thời gian ly thân, mẹ như sống trong mơ, cứ tưởng ba sẽ đổi ý. Lâu lâu mẹ lấy quần áo sạch của ba đem giặt, ủi, xếp ngay ngắn. Mẹ làm chả giò bỏ tủ đá chờ ba về bất ngờ. Đêm mẹ không khóa cửa, ngày đi làm để chìa khóa nhà trong thùng thư. Mỗi tối mẹ bắt tôi quỳ trước bàn thờ cầu nguyện, xin Chúa can thiệp soi lòng soi dạ cho ba hồi tâm. Nhưng ba không quay lại”.

Kết thúc đoản thiên có hậu ở một truyện tình kéo dài đến một phần tư thế kỷ, lại thêm một truyện tình éo le chung thủy.
“Tôi định bỏ vào bếp thì bị mẹ kéo lại ngồi kề bên. Miễn cưỡng tôi phải ‘làm chứng’ cho một lời tỏ tình:
- “Tôi sắp về hưu,” ông ngập ngừng. “Ước nguyện duy nhất của tôi là được nắm tay bà đi vòng quanh thế giới những năm còn lại.”
Tôi nhìn hai bàn tay ông đan nhau để trong lòng, và mường tượng hai mươi lăm năm trước chúng đan "cái giỏ thơm" để chờ đợi. Tưởng chờ vài tiếng mẹ đi học về đã đủ, lại chờ một phần tư thế kỷ. Bây giờ ông vẫn đan tay chờ đợi.

Bằng lối hành văn nhẹ nhàng êm dịu như một bản tình ca không thấy trong văn chương Việt Nam. Độc giả có cảm tưởng như một áng văn từ một chân trời xa lạ miền Bắc Cực xa xăm, nơi mà dân Việt tỵ nạn đã một thời được người Na Uy quí hóa như vàng: cho tiền trẻ con, cho người lớn đi xe công cộng miễn phí.
Tâm Thanh như dẫn người đọc tới xứ sở thần tiên bằng một bài thơ kỳ diệu, có lẽ đây là đoản thiên thơ mộng và tuyệt vời nhất của tác giả, cũng đồng thời xứng đáng được coi như một trong những kiệt tác của nền văn chương Việt Nam Hải ngoại, xin mời quí vị cùng đọc dưới đây

Trọng Đạt
Viết để tưởng nhớ một người bạn cũ Arlingtton Texas đầu tháng 3-2020



Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 43802325

Đám mây bên kia hồ Mjoesa

- Tâm Thanh


Tôi không dám nhìn lâu vào đôi mắt khẩn khoản của Gunnar. Tôi phải nhìn sang bên kia hồ Mjoesa, nơi có dẫy núi phủ mây trắng, dường như quanh năm; nơi mỗi lần có điều khó nghĩ tôi thường nhìn sang, dù đó là điều khó nghĩ của đứa bé bảy tuổi không biết viết thư cho Ông Già No-en phải gián tem bao nhiêu, có bớt giá cho con nít không hay điều khó nghĩ của một đứa con gái dậy thì nên mua cái áo hở ngực tới đâu, và giờ đây phải trả lời với người yêu ra sao. Gunnar tình cờ ngồi đúng cái ghế da mà ba tôi ngồi hôm đó, và tôi thì lại tình cờ ngồi đúng cái ghế da chị Lên ngồi, cái hôm kỳ cục đó.

Chị Lên là con lớn của dì Hoa, em ruột mẹ tôi. Chị có thân hình như một nữ lực sĩ bơi lội. Mỗi lần chị theo dì Hoa, cậu Dựng tới thăm gia đình tôi, chị thường “chào” tôi bằng cách nâng tôi lên trời ba lần. “Nữa đi!” tôi cười khanh khách nói. Và chị tung ba lần nữa. Sau đó chị lên phòng khách ngồi nói chuyện với ba trong khi mẹ và dì Hoa vào thẳng bếp chuyện trò và nấu phở. Những người khác, như cậu Dựng và mấy anh chị lớn, ngồi trong phòng TV nói chuyện, uống bia, uống nước ngọt, trước cái tivi mở không. Tôi nhảy vào lòng chị Lên, hóng chuyện, mặc dù không hiểu lắm ba và chị Lên nói gì. Thì thường là chuyện học hành và tập aerobic của chị Lên, chuyện báo đăng chó sói ăn thịt cừu, chuyện một tên cướp ngớ ngẩn, đánh cắp bưu điện để người ta tóm cổ tại chỗ. Có lần hai người tranh luận con bò có răng hay không, ba nói bò không răng, chị Lên nói có răng… Tôi thầm đồng ý với chị Lên rằng con bò có răng mới gặm cỏ được, nhưng tôi im lặng, nghe sau lưng thân hình nẩy nở và rắn chắc của chị, khác hẳn thân hình nhỏ và mềm của mẹ. Trong số những người bà con bên mẹ tôi, ba tôi không thích nói chuyện với ai cả; ba chê họ nói tiếng Na-uy dở quá, mà lại hay nói to, điếc cả tai; ba chỉ thích nói chuyện với chị Lên. Tôi để ý lúc nói chuyện với chị, ba tươi tỉnh khác thường. Chị Lên hay vuốt tóc khiến tôi buồn ngủ, tai lơ mơ nghe tiếng nói đều đều của hai người xen kẽ với tiếng cười vang trong lồng ngực to của chị Lên.
Hôm đó tôi nghe loáng thoáng ba đề nghị để ba tập lái xe cho chị Lên, và chị rất hào hứng, hai người hẹn ngày giờ nơi chốn. Rồi ba khen chị Lên đẹp. Chị nói chị chẳng có cái gì đẹp. Ba nói bữa nào đi hồ tắm với ba, ba sẽ chỉ cho coi chị đẹp chỗ nào. Chị cười khanh khách nói “Có vợ rồi mà còn nói nhảm.” “Mặc kệ, giết vợ để lấy Lên tôi cũng sẵn sàng,” ba trả lời. Tôi nói hôm đó là cái hôm kỳ cục là vì thế.

Sau đó, chị Lên có đi hồ tắm với ba và có đi học lái xe với ba hay không, tôi không rõ. Chỉ biết có lần dì Hoa cậu Dựng tới nhà nói chuyện gì có vẻ rất trầm trọng. Mẹ và dì Hoa to tiếng với nhau rồi cùng khóc. Tôi chỉ hiểu một chút tiếng Việt, và chỉ nghe người lớn nhiều lần nhắc tên “con Lên” và chữ “ông ấy” mà tôi hiểu là ba. Từ đó chị đi biệt tích. Gia đình dì Hoa không tới nhà tôi nữa. Tôi nhớ chị lắm, ngày tôi chịu phép Thêm Sức chị không tới dự, tôi hỏi chị đâu thì người lớn trả lời chị đang ở bên Mỹ. Nhiều năm về sau, khi bắt đầu có bạn trai, tôi mới tình cờ biết rằng chị Lên đi Mỹ thật, nhưng chỉ chừng nửa năm lại quay về, sau lấy một người Thổ. Chị sang Thổ-nhĩ-kỳ ở một năm, được một đứa con trai, bị ngược đãi, phải nhờ tòa đại sứ Na-uy can thiệp giải cứu về lại Na-uy. Cũng nhờ tòa đại sứ can thiệp chị mới mang được cả đứa con về. Khi tôi gặp chị trên xe điện với một đứa con trai tóc quăn tít và ngổ ngáo, chị kể chuyện về mười năm luân lạc, nhiều lần bi thảm hơn những điều tôi đã nghe qua dì Hoa hoặc người ngoài. Thấy tôi chăm chú nhìn vào cái bụng dềnh dàng, chị cho biết bây giờ chị đang ở với một ông người Bosnia cư trú bất hợp pháp; cái bầu là của ông này. Chị không nhắc gì tới ba. Tôi cũng không hỏi hôm đó tại sao mẹ và dì Hoa khóc, cũng như ngoài thằng bé tóc quăn đang ngồi bên cạnh và đứa con trong bụng, chị còn đứa con nào nữa không. Về nhà thấy ba mẹ vẫn sống chung, ăn uống chung, đi xe chung… không nói làm gì – thấy ba làm như mọi sự bình thường, thì tôi thấy lợn cợn trong lòng. Trong trái tim tôi.

“Cecilia! Em có nghe anh nói không?” Gunnar kéo tôi về thực tại.
Tôi rời ánh mắt khỏi dẫy núi bên kia hồ, quay lại nhìn Gunnar. Anh vẫn nhìn tôi chờ đợi.
“Dạ, em nghe,” tôi trả lời.
“Sao em không đáp?”
Phải, lẽ ra tôi phải vui mừng đáp “Dạ” ngay khi Gunnar ngỏ lời hỏi có bằng lòng cưới anh không. Chúng tôi quen nhau từ cuộc cắm trại chuẩn bị lễ Thêm Sức, rồi thân thiết trong nhiều năm; trong bụng tôi vẫn mong chờ giờ phút anh ngỏ lời. Nhưng tại sao khi nó xảy đến, lòng tôi không thể vui mừng như mong đợi?
“Gunnar! Em bối rối lắm,” tôi đáp. “Anh tha lỗi cho em, em không trả lời bây giờ được.”
“Tại sao? Có điều gì trở ngại?”
“Dạ không, hoàn toàn không.”
“Em có yêu anh không, Cecilia?”
“Anh biết là em yêu anh.”
“Vậy tại sao em không trả lời ngay mà lại bắt anh chờ đợi?”
“Em cần thời gian suy nghĩ.” Tôi vớ được một lý lẽ xem ra vững chắc. “Chúng ta phải xét xem hai đứa đã sẵn sàng kết hôn chưa.”
“Chỉ cần em hứa một lời, rồi bao giờ đám cưới cũng được,” Gunnar nói xong, ngả người ra sau. Mái tóc nâu vàng tươi của anh chạm vào chùm hoa hồng vân trắng, loài hoa mà mẹ lấy giống từ Pháp về và đặt tên là hoa ti-gôn. Bạn bè Việt Nam của mẹ có vẻ thích cây hoa này lắm; còn ba thì cười vì mấy bà trọng hóa cái hoa vô danh đó. Anh nghiêng người về phía trước, cầm ly cà-phê.
“Cà-phê nguội rồi,” tôi nói. “Để em rót mới cho anh!”
Anh không từ chối. Tôi vào bếp đổ cà-phê cũ và rót mới cho anh. Anh uống một hớp nhỏ, hình như nóng quá, đặt tách xuống nói, giọng trở lại bình thường:
“Mình đi dong thuyền buồm nghe em?”
Tôi nhìn ra ra hồ nói thẫn thờ
“Hôm nay sao nhiều buồm vậy?” Rồi tôi lẩm bẩm “Tình yêu không thể coi thường được.” Anh ngơ ngác, vì không nghe hoặc nếu nghe thì không hiểu hai câu nói không ăn nhằm gì với nhau và không trả lời vào câu hỏi của anh như thế. Hồi này tôi hay như vậy, anh cũng biết.

Bề ngoài tôi chỉ có vài nét giống mẹ – vành môi chúm và ngón chân cái to khác thường, ngoài ra tâm hồn tôi có nhiều nét giống mẹ. “Nó Việt Nam lắm,” mẹ khoe. Còn tôi lại lo sợ về cái ‘giống’ đó. Sợ nhất là con đường tình cảm của tôi sẽ như mẹ, nghĩa là cúi đầu chịu đựng. Dì Hoa kể mẹ tôi là cô gái đẹp nhất trong số những người tị nạn Việt Nam đầu tiên tới Na-uy. Mẹ đẹp và dễ thương tới nỗi có một ông thuyền trưởng ngày nào cũng mang quần áo, thực phẩm tới trại tạm cư để được nhìn mẹ, nói vài câu tiếng Pháp với mẹ. Hôm nào mẹ đi học tiếng Na-uy về trễ, ông cứ ngồi trong phòng khách, bồn chồn chờ đợi. Có lần cô giáo đưa cả lớp đi coi nhà bảo tàng rồi đi picnic, ông chờ lâu quá, buồn tay, đem cái giỏ mây của mẹ đan giở ra đan.
Bây giờ mẹ và dì Hoa cứ còn tiếc nuối cái thời người Na-uy quí người tị-nạn Việt Nam như vàng, con nít ra đường họ cho tiền, người lớn lên xe công cộng đôi khi họ cho đi miễn phí, các hội từ thiện thay phiên nhau tới ủy lạo. Ông thuyền trưởng buồn tay đan hết mấy cái giỏ mây mà hội Hồng Thập Tự bày ra cho các bà các cô trong trại làm để có thêm chút tiền túi; bắt đầu bằng cái giỏ của mẹ, rồi sang mấy cái của các bà khác. Các bà về thấy thế, cười ré lên, các cô hát bài “Anh là thủy thủ”. Ông không hiểu tiếng Việt nhưng biết bị chế diễu, mắc cỡ, nói với nhân viên trực trại “Xin lỗi, tôi quên!” Các bà các cô chưa tha, hỏi “Quên cái gì?”, rồi lại cười ré lên. Nhưng không bao giờ ông quên mẹ. Sau khi mẹ lấy ba, ông vẫn chưa lấy vợ. Vài người quen Việt Nam tò mò hỏi, ông trả lời thẳng “Tôi chỉ yêu Hương thôi.” Hương là tên mẹ tôi. “Vậy chứ sao hồi đó ông không nói sớm?” một người cắc cớ hỏi ngay trong đám cưới mẹ. Ông trả lời “Tôi tưởng tình yêu không cần nói bằng lời.” Lại có người hỏi “Hồi đó sao ông biết cái giỏ nào là của Hương?” Ông trả lời “Biết chứ, nó thơm và đẹp.” Vậy mà hai người không lấy được nhau – chỉ vì một người ít lời một người giữ ý.

Ba thì dư lời. Ba tôi gặp mẹ lần đầu khi mẹ đi lãnh tiền ở ngân hàng mà quên đem căn cước. Mẹ đứng năn nỉ với cô nhân viên ngân hàng “Bây giờ tôi về lấy giấy căn cước trở lại thì ngân hàng đóng cửa mất tiêu rồi. Xin cô tin tôi một lần đi. Tôi là người lương thiện mà!” Sự kiên nhẫn của cô ngân hàng chỉ làm cho cuộc nói chuyện kéo dài thêm, chớ không cho phép cô vượt qua thể lệ. Bỗng một người đàn ông từ văn phòng đi ra, thấy mẹ, dừng lại nghe cuộc đối thoại. “Ông ơi!” mẹ kêu cứu. “Có việc gì vậy, thưa cô?” ông hỏi. Mẹ nói “Ông! Ông làm ơn bảo đảm cho tôi là người lương thiện được không?” Ông mặc đồ lớn đó nghe mẹ nói, bật cười, đưa bút ký tắt vào ô “Căn cước” trên tờ ngân phiếu. Mẹ lãnh tiền xong, nhìn vào trong, thấy ông mặc đồ lớn còn đứng ở cửa văn phòng nhìn ra, gật đầu mỉm cười. Tình cờ, trong một buổi tiệc hội Lion khoản đãi người tị nạn Việt Nam, ông giám đốc ngân hàng gặp lại “cô gái lương thiện” lộng lẫy trong chiếc áo dài. “Trên đời tôi chưa thấy ai đẹp như cô. Tôi muốn cưới cô,” ba nói sau nửa giờ nói chuyện.

Sau khi chị Lên bỏ nhà ra đi một thời gian ngắn, lúc đó tôi bắt đầu học lớp năm tiểu học, ba tôi quen bà Bodil mà ba bảo tôi phải kêu bằng tata. Không có một thỏa thuận nào, dù thầm kín, nhưng tôi vẫn coi những buổi đi chơi nhà tata là việc hoàn toàn riêng tư giữa ba con tôi với tata, không liên quan gì tới mẹ, không cần kể với mẹ. Nhà tata lại hấp dẫn hơn, sẵn đồ chơi, nhiều phim hoạt họa, và có con chinchilla. Khi tata mua thêm con nữa thì hai con làm chuyện trống mái tự nhiên. Một lần, vuốt ve bồng bế con chinchilla mềm mại lù đù mãi cũng chán, tôi định xin ra ngoài đạp xe với lũ trẻ trong xóm. Mở cửa phòng ngủ, tôi thấy ba nằm chung giường với tata. Tata một tay kéo mền che ngực, tay vẫy tôi lại, mi một cái, rồi xua ra ngoài. “Người lớn không khác gì mấy con chinchilla,” tôi nghĩ trong khi thả xe phăng phăng xuống giốc.
Khi tôi lớn ba ít rủ tới chơi nhà tata, nhưng tôi biết hai người vẫn đi lại mật thiết. Tôi cũng bắt đầu cảm nhận ra rằng mối liên hệ giữa ba và tata là một việc thầm lén, nhưng không có cam đảm mách mẹ, sợ mẹ rầy sao không nói sớm. Tôi bỏ qua câu chuyện một bên luôn. Ông nội tôi rất giầu, có để lại cho ba một hòn đảo riêng, trên có hai cái nhà nghỉ mát, có bến tầu riêng. Ba nói sẽ chia đôi, cho tôi một nửa, một nửa cho hai người anh cùng cha khác mẹ của tôi. Mùa hè năm đó, ba hỏi mẹ có ra đảo chơi không, mẹ bận đi ăn thôi nôi con một gia đình Việt Nam. “Vậy anh đi với con Cecilia,” ba nói, và sửa soạn lên đường ngay. Ba hối hả quẹo xe lên đón tata cùng đi. Tôi thấy tata làm tóc mới và diện quần áo đẹp, trông trẻ trung như một cô gái. Đi hơi vội, nên mặc dầu mẹ có chuẩn bị đồ ăn cho cha con, nhưng lại quên nhét theo cái áo thung của mẹ. Tôi có cái tật phải kề mũi vào cái áo thung có hơi mẹ mới ngủ được, dù đã mười lăm mười sáu tuổi đầu. Tối hôm đó, không có cái áo thung, tôi nằm trằn trọc hoài, nghe con thuyền va kềnh kệch vào cầu tầu. Mặt trời không chịu lặn, mấy con hải âu cũng không chịu đi ngủ, cứ kêu réo ngoài ghềnh. Cuối cùng tôi nghĩ ra một điều: tôi đổi sang cái phòng ngủ bữa trước mẹ nằm, có thể còn hơi mẹ. Phòng này sát vách phòng ba và tata. Qua vách gỗ, tôi nghe rõ hai người trửng dỡn bên kia và trong những lời trửng dỡn có câu nói của ba “Giết vợ để lấy em, anh cũng sẵng sàng!” Tôi giật mình.

“Nếu không lấy được em, anh thà chết dưới hồ này!” Gunnar cột giây buồm, lại ngồi bên tôi, nói.
Hai người đàn ông quan trọng nhất trong đời tôi, người thì đòi giết vợ để đi phiêu lưu, người thì đòi chết nếu không được gắn bó. Bề nào chăng nữa, tình yêu của họ là giông bão, hủy diệt. Lòng tôi không yên ổn. Một lần nữa tôi trì hoãn:
“Vậy mình sang bên kia hồ đi, Gunnar nhé!”
Tôi nhích sang bên, nhường tay lái cho anh. Dẫy núi bên kia thấp nhô trên đám mây như con tầu khổng lồ trôi trên sóng bạc.
Thuyền buồm băng qua hồ và trở về bình an; như thường lệ. Sự bình an này trước nay tôi không để ý. Thấy tôi về mẹ ôm chầm lấy mà khóc:
“Con đi đâu vậy? Ba bị bệnh vô nhà thương rồi!”
“Ba bị gì vậy, mẹ?” tôi hoảng hốt.
“Mẹ không biết. Ba mẹ đi phố về, ba kêu mệt đi nằm. Mẹ làm bếp xong vào phòng coi ba thì nghe ba ú ớ, rồi im luôn, mẹ hỏi, lay không trả lời. Mẹ kêu xe cứu thương…”

Chúng tôi vào nhà thương, thấy ba đã tỉnh, nhưng sút hẳn người đi, như bệnh từ nhiều tháng nay. Mẹ khóc, vuốt vuốt những chấm đỏ trên mu bàn tay ba, nói:
“Bác sĩ nói sao, ông?”
“Ung thư máu.”
“Ông ơi! Ông đừng chết nghe!”
Nhìn ánh mắt mẹ khi đút xúp cho ba, nhìn nụ cười của mẹ khi cắt móng chân cho ba và đưa bàn chân ông lên mũi hửi, tôi thương mẹ quá, và hối hận xưa nay coi bà Bodil là tata.
Bà Bodil cũng biết tin dữ. Bà ngang nhiên vào thăm ba như một người thân. Mẹ hỏi ba:
“Ai vậy, ông?”
“Người quen.”
“Quen ra sao? Sao chưa bao giờ tôi gặp mặt?“
Mặt ba sượng trân, trông rất kỳ cục, tránh nhìn mẹ, quay sang tôi, như cầu cứu. Tôi không hiểu sự cầu cứu đó có nghĩa gì – tôi nói ra sự thật giùm ba hay giấu biệt. Cuối cùng, chán ngán sự giả dối, tôi kể hết sự thật cho mẹ nghe khi chỉ có hai mẹ con ở nhà. Mẹ nghe một cách bình tĩnh khiến tôi phát sợ. Tôi giấu không nhắc câu nói “Giết vợ để lấy em anh cũng sẵn sàng”. Bởi vì tôi biết nếu tôi nói ra mẹ có thể chết được, không cần ai giết.
Hôm sau chúng tôi lại chạm mặt bà Bodil trong nhà thương. Mẹ nhịn nhục không nói gì.
Ngược lại bà Bodil còn khiêu khích:
“Ở đây dư một người đàn bà!”
Mẹ không mau mồm miệng như người ta, không biết trả lời sao cả. Lúc đó bà Bodil ngồi trên ghế kê sát giường bệnh, mẹ đứng cuối giường, tay xách giỏ đồ ăn. Tôi nắm tay mẹ để xác định vị trí của mình, nói:
“Người dư là bà!”
Mẹ xiết chặt tay tôi hơn nữa. Bodil không ngờ phản ứng của con bé mà lâu nay bà tưởng đặt lòng trung thành nơi ‘tata’ hơn người mẹ ngoại quốc.
“A! Thì ra rau nào sâu nấy!” Bodil nói giọng khinh khỉnh, tay nắm tay bệnh nhân, tay vuốt mái tóc hoa râm của ông.
Tôi cho rằng chỉ mẹ tôi mới có quyền vuốt tóc ba. Tôi định tiến tới kéo tay Bodil ra, nhưng mẹ biết ý, trì tay tôi lại, nói:
“Để cho ba con yên!”
Rồi mẹ kéo tay tôi ra ngoài hành lang, ngồi chờ. Chờ cho tối mịt bà Bodil vẫn không ra, mẹ xách giỏ cơm đi về.

Sáng hôm sau, xảy ra một điều không bao giờ mẹ chờ đợi — ba yêu cầu mẹ ký giấy xin ly dị.
Mẹ và tôi theo Công giáo, ba theo Quốc giáo Tin lành. Hơn nữa mẹ tôi là người đàn bà Việt Nam xưa cũ. Tôi biết rằng mẹ dễ dàng chấp nhận cái chết nhưng không bao giờ chấp nhận và tưởng tượng có ngày mình phải ly dị. “Chồng bỏ mình cứ bám lấy, bỏ được sao?” Mẹ lý luận như thế đó. Mặc dù thống kê nói cứ một trăm cặp lấy nhau thì có gần năm chục cặp thôi nhau, mẹ thường nói rằng năm mươi phần trăm đó rơi béng đi nơi khác, không bao giờ rơi vào giữa mẹ với ba.
“Ly dị à?” mẹ ngẩn ngơ. “Sao ông không chờ khỏe đã?”
“Bà thông cảm cho tôi,” ba thiểu não.
Mẹ cầm cây bút có huy hiệu quen thuộc ngân hàng của ba.
“Mà tôi đã làm gì nên tội?” mẹ khóc.
Tôi cực kỳ bối rối. Vừa thương mẹ vừa thương ba. Nhưng hình như tôi lo sợ ba chết quá đến nỗi quên nỗi đau đớn của mẹ, quên tức cho sự khờ dại nhu nhược của mẹ. Và dường như chính mẹ cũng quên nỗi đau đớn của mình, hoặc không lường được tầm quan trọng của ngòi bút sắp sa xuống. Như một cái máy, mẹ nức nở đặt bút xuống tờ giấy:
“Xưa ông đã ký bảo đảm cho tôi là người lương thiện!”
“Kìa ba! Kìa má!” tôi rên rỉ, trong tuyệt vọng.
Ba làm như không nghe, không thấy. Ba quay mặt vào tường. Dường như ba cũng đau lòng, nhưng không đau lòng đủ để đổi ý, cản má lại. Tôi tưởng tượng nếu bây giờ má đau lòng mà chết, ba cũng lừng lững mà đi con đường của mình. Có phần nào thật trong câu nói ghê gớm của ba. Của đàn ông!
Má ký xong, oà khóc chạy ra ngoài, tôi theo dìu má ra xe.
“Mẹ để con lái xe cho,” tôi nói.
Trên đường về, tôi cứ bị ám ảnh vì câu nói của ba “Giết vợ để lấy em anh cũng sẵn sàng”. Người như ba, nhu nhược ngay trong tình yêu, chắc không giết ai được; nhưng ông giết niềm tin của tôi vào tình yêu.

Suốt thời gian ly thân, mẹ như sống trong mơ, cứ tưởng ba sẽ đổi ý. Lâu lâu mẹ lấy quần áo sạch của ba đem giặt, ủi, xếp ngay ngắn. Mẹ làm chả giò bỏ tủ đá chờ ba về bất ngờ. Đêm mẹ không khóa cửa, ngày đi làm để chìa khóa nhà trong thùng thư. Mỗi tối mẹ bắt tôi quỳ trước bàn thờ cầu nguyện, xin Chúa can thiệp soi lòng soi dạ cho ba hồi tâm. Nhưng ba không quay lại. Ba nhất định ly dị.
Ly dị xong, ba làm lễ cưới với Bodil liền. Trên giường bệnh. Lễ cưới xong, Bodil không tới nhà thương nữa.
Một tuần sau, ba chết trong tay mẹ.
Bà quả phụ Bodil chỉ xuất hiện để nghe luật sư công bố chúc thư. Theo di chúc, hòn đảo của gia đình chia hai, một nửa phía nam với nhà nghỉ mát trên đó thuộc hai người anh cùng cha khác mẹ với tôi, nửa phía bắc cũng có nhà nghỉ mát và bến tầu thuộc về người vợ chính thức hiện tại, Bodil. Biệt thự mà ba mua để ở với Bodil trong những tháng cuối đời thuộc về bà, đương nhiên, vì đứng tên bà. Mẹ con tôi được tiếp tục ở và làm chủ ngôi nhà bờ hồ.
Ba mất được ba tháng thì bà Bodil đi lấy chồng khác, nghe đâu hôn lễ cũng cử hành trên giường bệnh. Người hằng ngày ra thắp nến trước mộ ba là má. Tôi giận ba không thắp nến, má nói “Ở Trên Đó cái lòng người ta không như dưới dương thế này nữa đâu con ơi.” Tuy bị ruồng rẫy mẹ định để tang chồng ba năm. Trong thời gian để tang, mẹ không son phấn, và rất giữ gìn trong việc giao thiệp với đàn ông. Mỗi lần ông thuyền trưởng tới, mẹ bắt tôi ngồi cạnh. Lần đầu tiên thấy mặt người đã đeo đuổi mẹ mình trước khi mình ra đời, tôi có cảm giác rất lạ. Như là tôi nằm trong bụng mẹ mà dòm ra thế giới. Lạ lùng hơn nữa là tôi thấy gần gũi ông ngay, như một người cha.

Tôi bưng cà-phê ra, ông nhìn một cách thân ái, nói cám ơn. Cái nhìn của ông dành cho tôi khác hẳn cái nhìn trước đây ba dành cho chị Lên, mặc dù tình cờ ông ngồi đúng cái ghế da ba ngồi. Còn mẹ ngồi trên cái ghế chị Lên ngồi hôm đó. Tôi định bỏ vào bếp thì bị mẹ kéo lại ngồi kề bên. Miễn cưỡng tôi phải "làm chứng" cho một lời tỏ tình:
“Tôi sắp về hưu,” ông ngập ngừng. “Ước nguyện duy nhất của tôi là được nắm tay bà đi vòng quanh thế giới những năm còn lại.”
Tôi nhìn hai bàn tay ông đan nhau để trong lòng, và mường tượng hai mươi lăm năm trước chúng đan ‘cái giỏ thơm’ để chờ đợi. Tưởng chờ vài tiếng mẹ đi học về đã đủ, lại chờ một phần tư thế kỷ. Bây giờ ông vẫn đan tay chờ đợi.
Mẹ lặng đi hồi lâu, mặt đỏ hồng không son phấn. Tay mẹ vò chéo áo không vắt xổ. Mẹ cố lấy giọng bình thản:
“Ông đi đây đi đó cả đời chưa thỏa sao?”
“Đi một mình có tới đâu đâu…”

Thấy câu chuyện tới hồi đậm đà, tôi gỡ tay mẹ, khoác áo ra khỏi nhà. Tôi xuống bờ hồ ngồi trên tảng đá quen thuộc nhìn sang bên kia. Đám mây thiên thu như xây bằng cẩm thạch.

Tâm Thanh
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 649
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeThu Jul 23, 2020 12:28 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 2-3

Ngôn Ngoại

- Tâm Thanh


Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một truyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu 'Cứ yên tâm'.

Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói 'bả không phải vợ tôi'? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.
- Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!
'Chát!' Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời 'vu cáo' trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:
- Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

Được dịp 'đáp lễ' sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:
- Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.
Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:
- 'Toa với lết'. 'Lết' đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà 'lết'.
Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:
- Bà có biết đọc... xa tới đằng kia nổi không?
- Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!
- Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà... đái.
Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:
- ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!
Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận 'tội ác' của mình, chỉ giúp bà mở khóa  dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:
- Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.
Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:
- Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?
Tôi tính nói 'bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu', nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:
- Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?
Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lệ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:
- Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!
Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:
- Ông bà tình ghê!

Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ. Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:
- Bà ơi! Đằng này nè!
Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:
- Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.
Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố 'ly dị' ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi 'eau de Cologne' pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.
- Bà đi máy bay lần đầu?
- Chớ lần mấy?
- Bà đi đâu ạ?
- Phần-lan.
- Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?
- Bà con hồi nào? Theo chồng.
- Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?
- Chả người Phần-lan...
Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, 'cái đầu xồm không nhúc nhích' và 'cái môi đỏ chót liếm lia'. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước  xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:
- Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi - ai lấy kỳ vậy?

Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp măng đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất... bạo - so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:
- Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?
Bà cười khinh khích:
- Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.
- Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?
- Lấy đủ công mình thôi chớ.
- Rồi sau đó?
- Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng... Rồi chả đòi lấy tui.
- Ý! Chết mẹ người ta chưa!
Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng.  Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.
- Xin lỗi nhé!
- Lỗi gì?
- Dạ, không.

Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.  Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:
- Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy... mẹ!
Bà nhìn tôi, cau mặt:
- Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.
Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:
- Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có... ẩu tả.
- Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?
- Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.
- Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó... Tôi ngạc nhiên, tại sao mới 'thằng chả' thân mật đã lên cấp 'thằng khốn nạn'?
- Bà nói ai... khốn nạn?
- Thằng chồng của má tui.
- 'Chồng của má', tức thị là cha ?
- Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.
- Sao vậy?
- Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần lưu ly vật. Tui... tui không cố ý. Ông tà cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả. Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:
- Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa. Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:
- Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.
- Thằng Mẫn là ai?
-  Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.
- Cha em là ai?
- Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?

Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:
- Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy... miệng lạt nhách. Bà nói xong than:
- Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.
- Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.
Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ. Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.

Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn. Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:
- Bà không ngủ?
- Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.
Tôi ngạc nhiên:
- Trên máy bay, làm gì có gà kìa?
Bà không do dự:
- Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.
Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.
- Tại sao ông không về Việt Nam... rước dâu?
- Chú đừng kiêu ngạo tui... Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.
Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:
- Bà đan áo cho ông?
- Bển nghe nói lạnh lắm.

Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng 'ổ gà trời', hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa. Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:
- Cái gì vậy?
- Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.
- Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.
Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà  tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:
- Bà có chắc ông sẽ ra đón không?
- Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.
Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói 'Thày đây, đừng sợ'. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói 'Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày'. Chúa phán 'Con lại đây!'. Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu 'Cái đồ yếu lòng tin!'.

Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi 'Liệu ông chồng có tới đón không?' chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.
Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:
- Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.
- Chả biết mà... Cái gì chả cũng biết hết đó.
'Cái gì chả cũng biết', đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà  đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:
- Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu ...

Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.
- Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.
Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:
- Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.
- Biết đâu thằng chả.
'Biết đâu thằng chả', thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.
- Hèn gì.
- Chú lẩm bẩm cái gì?
- Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.
Tuy  nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:
- Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.
Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:
- Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?
Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :
- Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!
Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ. Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:
- Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.

Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể 'chả biểu, chả nói', nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự... hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:
- Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?
Bà xăng xái:
- Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì. Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.
Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu 'con mẹ' với 'cái đách' là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là 'có' và lắc đầu là 'không', hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết 'gật đầu' và 'lắc đầu'. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.

Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi.
Cứ yên tâm.

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 649
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeSat Aug 22, 2020 3:36 pm

.
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 2Q==

TẬP TỄNH LÀM NGƯỜI
- Nguyễn Nguyên An


Vợ gã bỏ gã theo người khác, để lại cho gã một gia tài rách bươm xơ mướp.
Gã buộc phải làm anh gà trống vụng về chăn dắt đàn con dại!
Nỗi sầu tình, sầu đời gọt gã héo cả người. Cảnh khốn cùng phủ chụp xuống đời gã ngắc ngứ, thừa sức công phá gã hóa rồ.
Ngày lại ngày - gã đạp xe thồ khi cuối chợ, đầu ga; khi lang thang chở gió rã rượi cả hai chân. Ít ai dám lên xe một gã mặt mày khổ não, râu tóc hoang dại.

Đêm nay, như mọi đêm - gã dựng xe dưới mái hiên ga chờ chuyến tàu khuya.
Dáng người gã cùng bộ áo công nhân cũ mèm, hòa trong vũng nhờ nhờ của ngọn đèn điện sân ga, nom như khối giẻ cũ biết nhúc nhích.
Tiếng còi tàu ré lên tha thiết như mũi âm thanh xuyên bóng đêm yên tĩnh rồi oà ra the thé âm u.
Gã lật đật đứng dậy, phóc lên xe, đạp vội ra ghi Nam, chực khách. Ở đó, có năm sáu đồng nghiệp gã đứng chờ.
Theo quy ước dân xe “ai đến trước có quyền giành trước”, gã chỉ dám chú ý đến thiếu phụ bồng con lủi thủi đi ra. Chị ăn mặc nhếch nhác nghèo khổ. Đám xe thồ không ai muốn giành chị vì vẻ cơ hàn hiện rõ trong dáng luộm thuộm kia. Chị lách qua đám người lộn xộn rồi lầm lũi đi… Chị đi đâu với đứa con nhỏ trong đêm khuya? Lòng gã dấy lên mối thương cảm, định bụng chở giúp chị một cuốc xe:
- Chị ơi chị, đi xe thồ không, tôi không lấy…
Thiếu phụ sùm sụp chiếc nón lá vẻ không nghe. Gã cứ đạp rề rề theo. Chị ngoảnh nhìn. Chạm vào vẻ đẹp đàn bà - gã bàng hoàng, giọng chùng xuống:
- Chị lên xe tôi chở giúp một đoạn.

Thiếu phụ dừng chân trước cột đèn. Đứa bé trong bọc nỉ cựa mình khóc: “Oe… oe…”. Nghe chị dỗ bé với âm giọng cùng xứ và thái độ ngượng ngập mới làm mẹ làm gã có thiện cảm.
Chị ngước nhìn gã, rõ cái mặt thảm hại của ông xe thồ cứ dai dẳng đòi chở giúp. Chạm vào sự bần hàn của nhau, họ bỗng cảm thấy đồng cảm. Hơn nữa chị thấy ông xe thồ này khác với những ông xe thồ bặm trợn khác, thường eo giá từng hào.
Thiếu phụ nở nụ cười đẹp mê hồn. Nụ cười tan hết nỗi phiền muộn trên khuôn mặt chị, đến nỗi gã chưa tin chị có nụ cười “ác liệt” thế.
Gã xao động! Chị ngồi lên yên bọc mút phía sau xe gã:
- Anh chở tui đi đường ni.
Gã chống chân dừng xe trước ngôi biệt thự, mặt tiền lát đá granite, cổng xây màu vàng óng dưới vùng sáng xanh của đèn cao áp hắt tới.
Gã rất ngạc nhiên khi thiếu phụ dừng trước ngôi nhà to lớn.
Chị đi đâu về? Làm gì? Hay người giàu thường giả vờ là nghèo khổ khi đi xa?
Thiếu phụ nhoẻn miệng cười và giúi vào tay gã xấp tiền:
- Cám ơn ông… nhà tôi đây rồi.
- Tôi, tôi… không nhận đâu!
Nói xong, gã đạp xe vù chạy cùng với nỗi băn khoăn…

Nhà gã nằm cuối con hẻm. Chiếc xe đạp xóc tưng tưng vì ổ gà, băng qua những ngôi nhà kiên cố. Đàn chó hai bên hẻm túa ra sủa ầm ĩ.
Từ lâu, gã khoái sự tiếp đón chân thành đến náo động của đàn chó:
“Ừ nhỉ, chỉ có đàn chó công nhận sự có mặt của gã trên đời. Chúng không sáo rỗng, không bọc nhung lịch sự trên những cái mõm oang oang dài ngoẵng ấy”.
Gã khoái chí cười khan một mình. Gã cười với bóng đêm, cười với những con chó nhiệt tình, với mớ hận đời... rối bòng bong trong lòng gã.
Đến nhà, gã thả chiếc xe đạp tựa vào tường bờ-lô trần, hé cánh cửa gian chính lách người vào. Trong nhà gã độc nhất ngọn đèn ngủ tỏa ánh sáng mờ mờ.
Gã lần mò bưng xoong cơm và chén xì dầu, nhúm dưa cải, mấy tép khuôn đậu chiên qua dầu mè, do đứa con gái đầu mới tám tuổi của gã vừa nội trợ vừa chăm sóc ba đứa em, để dành cho gã. Gã ngồi nhai cơm lép nhép, trệu trạo.
Nhai bóng đêm, nuốt bóng đêm, ôm khối cô đơn đầy góc nhọn, chia chỉa vào tim gã nhức buốt. Cả nhà gã ăn chay.
Hôm đi khám bệnh, bà bác sĩ bảo:
- Người trên bốn mươi tuổi như chiếc xe đạp rơ vít, ốc, lỏng lẻo dần hết thảy. Huyết áp anh mười bốn, cao hơn bình thường, thấp so với người bệnh cao áp huyết
Bà bác sĩ coi phim, tiếp
- Người uống rượu nhiều như anh, gan bị nhiễm mỡ là phải rồi. Trên thế giới người ta đang đau đầu về bệnh tim mạch, không trị được từ gốc, chỉ có thuốc hạ áp huyết. Theo em, anh nên ăn nhiều rau, tập thể dục, nếu ăn chay được, rất tốt.

Đúng ra, gã tin vào lời dạy của thầy. Thầy gã là một Tỳ-kheo tu Tịnh độ, hiện làm giáo thọ ở nước ngoài. Được quen với thầy trong một cuốc xe trưa, gã nói chuyện với thầy:
- Hồi thanh niên con ăn cơm gạo lứt muối mè được ba năm. Hồi nhỏ con đòi đi tu, cha mẹ con không cho đi vì con là con trai trưởng, chừ mới khổ như ri, thầy ạ.
- Tu thì tuổi nào cũng tu được. Vào quán cơm chay tôi mời anh một bữa.
Vào quán cơm, gã kể hết chuyện đời gã cho thầy nghe.
Ăn xong, thầy hẹn khi nào đi làm việc thiện thầy sẽ gọi và cho gã một tờ giấy có ghi lời KHAI THỊ của Đại sư Ấn Quang:
🙏 Không luận xuất gia, tại gia - đều phải trên kính dưới hòa, nhẫn điều không thể nhẫn, làm việc người không thể làm, chịu thay khổ nhọc, thành tựu việc tốt cho người.
🙏 Ngồi yên thường xét lỗi mình. Luận bàn đừng chê kẻ khác.
Đi đứng nằm ngồi ăn cơm mặc áo, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, một câu niệm Phật hoặc niệm ra tiếng hoặc niệm thầm, không cho gián đoạn. Ngoài niệm Phật ra không khởi niệm khác.
🙏 Thường luôn hổ thẹn, sám hối lỗi lầm. Dù có tu trì vẫn thấy mình khiếm khuyết. Không được kiêu căng, chỉ xét lỗi mình, không vạch lỗi người, chỉ nhìn cái hay, không tìm điều dở.
🍀 Luôn nghĩ:
Tất cả đều là BỒ-TÁT.
Chỉ ta là kẻ phàm phu.

Từ đó, thầy và gã thiết lập tình thầy trò. Cách nhau biên Thái Bình Dương nhưng thầy luôn gửi thư về dạy gã tu hành, tập làm người tốt. Gã cũng tin lời dạy của Đức Đạt-lai Lạt-ma về việc loài người nên ăn chay, vì không có răng nanh và đường ruột không dài như loài ăn thịt. Đức Phật không nhấn mạnh việc ăn chay, nhưng Ngài bảo đừng sát sanh, có lòng từ bi với tất cả chúng sanh…

Gã dẹp bữa ăn tẻ nhạt, nhích các con để kiếm một khoảng trống đặt lưng xuống. Chuông chùa ngân vang du dương.
Đã ba giờ rưỡi.
Gã dã dượi dắt xe ra khỏi nhà. Sau cuộc xe chở khách quen, tới tháng lấy tiền, gã sực nhớ thiếu phụ bồng con hồi khuya. Tự dưng bụng gã nóng ran, như có linh tính thúc giục.
Gã đạp xe đến ngôi nhà đáng tò mò đó. Mặt gã bị hút vào bọc nỉ quen thuộc, dù gã mới thấy cái bọc ấy lần đầu, nhưng tình tiết đặc biệt đã khắc sâu vào tâm gã. Cái bọc nỉ nằm lù lù trước cổng sắt khép kín. Trên vòm cổng là một giàn hoa giấy um tùm.
Tiếng mở cửa "kin… kít”. Một thanh niên mặc quần soóc trắng, áo may-ô ba lỗ, chân mang giày Adidas đi ra cổng.
Thấy bọc nỉ, anh ta nhảy lui một bước nhanh gọn như sóc. Khi đã ổn định tinh thần, anh lấy mũi giày lừa nhẹ lớp vải nỉ đang phủ hờ trên mặt em bé.
Một thoáng sững sờ, rồi anh ta bước ra đường dáo dác nhìn quanh. Đường vắng người. Anh ta trở lui túm nhẹ bọc nỉ và vừa đi vừa quan sát hai bên đường, mắt len lén.
Gã từ con hẻm đối diện ngôi nhà đạp xe chầm chậm theo sau. Gã rùng mình khi thấy anh ta thả gói nỉ vào trong thùng rác công cộng.
Anh ta chạy thể dục. Gã đạp xe đến thùng rác đang tỏa thán khí như lớp sương đục mỏng, bồng đứa bé lên xe về nhà.
Các con gã ùa ra đón gã, chúng mừng vui khi thấy gã về sớm, lại thêm bọc nỉ, chúng tưởng có quà. Sau mới ngã ngửa - ra là đứa bé.

Chúng lại cười toe toét, đua nhau giành bé. Đứa bé khóc khan khản - Gã luống cuống lục trong bọc nỉ và mắt sáng lên khi thấy sẵn một bình sữa đầy. Có lẽ thiếu phụ đã chuẩn bị cho con trước đó.
Gã tìm được một mảnh giấy trong áo bé, nét chữ ngoằn ngoèo:
“… Đây là giọt máu tội lỗi của anh, vì nó mà tôi phải trốn chui trốn nhủi trên vùng kinh tế mới để đẻ nó cho khỏi bẽ mặt. Tôi trả lại cho anh, nếu anh sợ vợ anh thì anh nhờ mẹ anh nuôi giúp, dù sao cũng là cháu đích tôn của mẹ anh. Tôi phải làm lại cuộc đời.
Địa chỉ của tôi, Huỳnh Thị Phương Đ… ấp... xã…”.

Từ khi nhà có thêm thằng cu sơ sinh, gã búi việc hơn. Hình như trời cũng cảm động - từ dạo có thằng bé, gã chạy xe liên tục. Và, không biết gã tán dẻo thế nào với các bác sĩ bệnh viện khoa Sản, gã được họ giới thiệu với các sản phụ tốt bụng, con họ dùng không hết, cho gã sữa.
Ngày hai bữa gã đạp xe tạt qua viện, lấy sữa vào chai thủy tinh rồi treo lủng lẳng trước ghi-đông xe về cho thằng bé bú.
Tin gã nuôi con mọn lan ra cả xóm. Bà Bẽo bán tạp hóa, bà Miên buôn trầm, chị Nguyệt có chồng lái xe và các bà rỗi việc thường túm tụm với nhau buôn dưa lê.
Thấy gã hăm hở xin sữa về cho thằng bé, các bà cười rung rúc. Có lần bà Bẽo chặn gã:
- Chu choa, chú xin sữa đâu nhiều vậy?
Gã dừng lại, mặt ngời ngời khoe:
- Dưới khoa Sản chị ạ, họ nặn cho tui đó.
Các bà hùa nhau nói:
- Không ai tốt như anh, khi không…
- Anh thiệt nhân đức!
Gã tở mở mặt mày, cáo từ các bà về cho cu Lượm bú, kẻo con tới cữ rồi.
Bà Bẽo nhìn theo:
- Coi kìa, nghe tụi mình khen mặt hí hửng chưa kìa.
- Rước của nợ về trong khi các con hắn đói xanh mặt.

Nhờ trời, gã bỏ được nghề chạy xe thồ, xây qua nghề chụp ảnh dạo.
Số là nhờ anh em bên họ mẹ gã bán mảnh đất gần trung tâm thị xã. Mẹ gã được hưởng vài cây vàng tình thân ruột rà. Mẹ gã mua cho bà một chiếc áo quan để dành, còn bao nhiêu phân phát cho con cái.
Gã mua chiếc máy ảnh, tự học nghề chụp ảnh dịch vụ. Nhờ chiếc máy ảnh, nhà gã khá dần. Thằng cu Anh và cu Lượm được đến trường học. Năm tháng dần trôi…

***

Một bữa, gã ngồi ngáp vặt trước cổng chùa Liên Hoa chờ khách. Mắt gã sáng lên khi thấy một chiếc xích-lô chở một người đàn bà sang trọng chạy vào chùa.
Gã đứng dậy vuốt lại tóc, xốc lại áo sơ-mi, lôi máy ảnh trong túi xách ra đeo trước ngực và tròng lên mắt hơi lồi một cái kính cận 0,50 đi-ốp cho ra dáng nghệ sĩ nhiếp ảnh.
Thói đời là vậy, người ta thích tin vào vẻ ngoài, chứ không thấy đức tính tốt bên trong của một người lùi xùi. Gã bước xuống bậc cấp:
- Xin mời bà viếng cảnh chùa và chụp ít kiểu ảnh kỷ niệm.
Bà xua tay với ý “xin miễn” và nở nụ cười buồn.
Nụ cười mê hồn và âm giọng cùng xứ của bà làm gã lặng đi!? Hình như gã gặp nụ cười này đâu đó rồi? Phải rồi, thiếu phụ ôm bọc nỉ đi giữa canh khuya năm nào.
Sau phút ngần ngại, gã lên tiếng:
- Bà chụp vài bức ảnh dưới tượng Đức Phật Quan Âm. Chiều có ảnh, tôi đưa về khách sạn cho bà.
Ngước nhìn tượng Phật bằng xi-măng trắng nổi lên thiêng liêng giữa vòm cây lá xanh, người đàn bà nói:
- Ông chụp cho tôi vài “pô” cũng được.
Chụp xong, gã lấy sổ bút ghi biên lai:
- Xin bà cho biết quý danh, địa chỉ để tôi trả ảnh.
- Huỳnh Thị Phương Đ… ở… trong Nam mới ra…
- À… đúng rồi! Đúng là chị đêm đó rồi! Có phải cách đây bảy năm chị bồng con đi chuyến tàu đêm...?
Người đàn bà “A!” lên sửng sốt! Gã hỏi tiếp:
- Chị có phải ở ngôi nhà đó không?
- Nhà chồng tôi đấy. Ảnh đi xuất cảnh rồi.
Người đàn bà bỗng khóc. Nước mắt chảy loang vệt phấn.
Gã nghiêm mặt:
- Xin lỗi, bà đừng nói dối tôi.
Chủ nhà ấy là một thằng khốn nạn, không phải chồng mà là người tình phụ của bà. Chính hắn đã vất con bà vào thùng rác, tui nhặt về nuôi…
Người đàn bà hét lên: “Trời! Con tôi còn sống!”. Rồi bà lảo đảo quỵ xuống. Gã vội xáp tới đỡ lấy người đàn bà, nghe bà ấy thều thào:
- Anh, anh… làm ơn cho tôi gặp con tôi…

***

... Mười ngày sau - gã tiễn thằng cu Lượm và người đàn bà lên tàu vào Nam. Người đàn bà tháo tất cả nữ trang bà đang đeo trên người trao cho gã. Nhưng gã chỉ nhận mảnh giấy con con ghi địa chỉ của người đàn bà và hứa có dịp vào thăm cu Lượm.
Tàu chạy. Trên đường trở về, gã tưởng như vừa mất một vật gì rất quý giá. Đến con hẻm, các bà túa ra tranh nhau hỏi:
- Người ta trả công nuôi con cho anh bao nhiêu?
- Tôi không nhận! - Gã thật thà đáp.
Nguyệt trề môi:
- Công anh bắt tép nuôi cò.
Cò ăn cò béo cò giò lên non.
Gã đạp xe chạy nhanh nhanh để tránh những tiếng cười dè bỉu. Ôi chao - người đời ơi là người đời…

.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 597
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitimeYesterday at 8:30 pm

.

Con chim nhỏ trong lồng
- Elena Pucillo Truong


L’UCCELLINO IN GABBIA
Bản dịch của Trương Văn Dân

Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam 18090403_hinh%201a
Tranh của họa sĩ Đinh Cường
 
Ngồi lên cạnh giường, đôi mắt tôi hết nhìn bàn tay khẳng khiu đặt trước bụng đến nhìn chiếc va li nhỏ mà trong đó phải bỏ vào tất cả đời mình.
- Má chọn những thứ cần đem theo, còn việc khác cứ để con lo! Trong tai tôi còn lùng bùng giọng nói thiếu thân thiện, ngạo mạn và không chút kính nể của đứa con dâu lúc mang chiếc vali để tôi thu xếp những thứ cần thiết trước khi dời đến nhà mới.


Vậy là tôi phải vĩnh viễn rời bỏ căn nhà rộng rãi và thoáng mát, nơi mà tôi từng sống như một người vợ được yêu thương và hạnh phúc. Được yêu thương... cho tới lúc chồng còn sống... Còn sau đó... thì tôi sống mà như đã chết... sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình vì đứa con dâu mới thật là bà chủ, là người quyết định, và bằng thủ đoạn tàn nhẫn và nham hiểm nó còn cướp mất lòng yêu thương của đứa con trai rồi từng ngày, từng ngày nó còn xéo nát từng mảnh tim tôi.
Khó nhọc đứng lên, tôi bước đến chiếc tủ quần áo, cảm giác như vừa mở ra cuốn album với những tấm ảnh vàng vọt bởi thời gian. Bao nhiêu là quần áo  Treo, móc đó mà bấy lâu nay tôi chưa bao giờ đụng tới! Đây rồi, hai chiếc áo sơ mi, hai chiếc quần, một bộ đồ, vài mảnh đồ lót... chỉ có thế mà chiếc vali đã đầy ứ rồi, tôi còn có thể bỏ thêm gì vào nữa?
Nhưng thực ra tôi có cần gì những thứ áo quần! Cái mà tôi cần chính là chiếc khung hình đặt trên chiếc bàn nhỏ bên giường. Bao năm rồi tôi chưng khung hình lên đó để nó là hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy trước khi ngủ và cũng là hình ảnh đầu tiên khi tôi vừa tỉnh dậy. Đứa con dâu khốn nạn có thể lấy đi hết thảy, nhà cửa, quần áo, vàng bạc, con trai... nhưng không thể cướp đoạt những giây phút hạnh phúc của tôi và chồng đứng ôm nhau quay lưng về phía biển trong một buổi sáng rực rỡ ánh mặt trời.

Một khoảnh khắc tuyệt vời đã được giữ lại, mãi mãi, và gợi nhớ biết bao kỷ niệm.
Bao nhiêu say mê, bao nhiêu tình yêu đã từng có trong đời tôi! Tôi nhìn tôi trong tấm kiếng khi đóng lại cửa tủ, tuổi trẻ đã đi qua và mái tóc bồng bềnh như mây của tôi cũng đã điểm bạc hồi nào không hay. Trên khuôn mặt nhăn nheo chỉ còn lại đôi chút dấu vết của thời gian đó, màu biển trong mắt, nhưng khi mở ra trước sự thật tôi chỉ thấy bóng tối của nỗi cô đơn.
Hai hốc mắt của tôi vẫn còn xanh nhưng không có chút ánh sáng. Sự thiếu thốn tình cảm đã và đang dồn ép tôi vào giữa những bức tường quen biết ở nhà mình. Không ai đoái hoài gì đến tôi, chẳng ai thèm hỏi ý kiến và chẳng có ai bận tâm là tôi sẽ khổ sở biết bao khi phải sống trong căn hộ của một chung cư mà chỉ vừa nghĩ đến tôi đã thấy mình ngộp thở

*

Và đúng như vậy, chỉ sau một tháng tôi đã thấy đời sống ở căn hộ ở tầng thứ 15 thật ngột ngạt. Với tôi, đời sống chỉ có ở bên ngoài cửa sổ, dưới đó tôi được nhìn những con người và đồ vật liên tục chuyển động giống đàn kiến hấp tấp, vội vã trước cơn mưa chiều.
Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước những nỗi đau của tôi.

Chẳng biết có chuyện gì xảy ra mà tôi thấy khó thở và không ngủ được. Nhiều đêm tôi mò mẫm đi dọc theo tường nhà, như muốn tìm một lối thoát không hề có. Sự khiếp đảm và kinh hoàng đẩy tôi qua lại giữa những chồng gạch xây cao, như con chim bị nhốt trong lồng đang tuyệt vọng tìm cách vượt qua những chấn song để tìm tự do.
Cũng như chim, ý thức về sự bất lực của mình, tôi đành phải qui hàng, rồi thẫn thờ và mệt nhọc quay lại giường ngủ. Mở to mắt, tôi trừng trừng nhìn bóng đêm rồi nước mắt cứ trào ra, ướt gối. Bằng những ngón tay run rẩy tôi siết chặt cái kho tàng của mình, phút giây chớp nhoáng của niềm hạnh phúc, như thể nó sẽ giúp tôi thoát khỏi nơi đây, giải phóng khỏi những niềm đau.

Bởi tôi chẳng còn gì khác. Đứa con dâu đã vứt bỏ tất cả những gì còn lại trong căn nhà, quần áo, vật dụng, cuộc đời... và sự phiền hà duy nhất mà tôi mang lại cho cô ấy chỉ là một bát cơm... nhưng tôi cũng chẳng còn muốn nuốt... Rồi mọi ngày đều trở nên nhọc mệt, hơi thở mỗi ngày mỗi ngắn, như có ai hay có cái gì đang thít họng, may mà có một ngụm không khí từ cửa sổ tràn vào, tôi nhìn thấy những con người và mọi vật chuyển động như đàn kiến cuồng nhiệt trước cơn mưa, hơi thở mới thoát trong một cơn khò khè.
- Đủ rồi! Con không thể nào sống như thế này được! Con còn phải đi làm và cần phải ngủ! Má phải bỏ cái tật đi lung tung khắp nhà như một mụ điên!
Thằng con trai của tôi đã hét lên như thế.
Giống tiếng kẽo kẹt từ mấy khúc xương sắp xụm, tôi ngã xệp lên chiếc ghế, toàn thân như bị băm vằm vì lời lẽ nhọn hoắc như những nhát dao. Biết bao đau đớn tôi đã sinh ra nó, một đời thương yêu và chăm sóc... thế mà giờ nó không chịu được tôi, xem như một sự phiền hà cần phải loại bỏ. Đó là lỗi tại tôi cưng chiều quá, và giờ thì tôi hiểu là mình vẫn còn có thể làm thêm một điều nữa cho nó. Và có lẽ cũng là làm cho chính mình.

Từ vài ngày qua tôi cảm thấy mình vui, đi đứng bình thường hơn giữa những bức tường và chiếc giường. Thỉnh thoảng trên môi tôi còn nở một nụ cười, nhất là lúc tôi nhớ lại những giai điệu của một bài hát tình yêu cũ... Lâu lắm rồi, tôi không còn nhớ trọn lời ca, chỉ mang máng nhớ điệp khúc nói là mùa xuân đang trở lại... và tôi cũng ước muốn có một mùa xuân mới.
Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường. Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây.

Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười, thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác.
 
Elena Pucillo Truong

.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam   Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn: Chân dung một cô gái Việt Nam
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến