Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  GalleryGallery  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
hoang phong không nguyet Chia luong quan Nghin chuyen mien ngam tuan Nhung music quốc Mộng phung GIFT quang tran Nguyen quynh thụy Saigon Trung linh
Latest topics
July 2020
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


 

 Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel

Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeWed Oct 04, 2017 12:20 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Images?q=tbn:ANd9GcTG7oNV-0MVXlcAtpFRFTVuji-JokuwxxqsjhYgt5LhTgkxw9SV1Q

NGƯỜI GÁC ĐÈN BIỂN

Henryk Sienkievich
(Nobel 1905)


Truyện ngắn này viết dựa theo một chuyện có thật mà J. Horain đã kể trong một bức thư gửi từ Mỹ về.
 
Một lần xảy ra chuyện người gác đèn biển ở Axpinoan - một nơi không xa Panama - bị mất tích. Chuyện đó xảy ra trong cơn bão nên người ta cho rằng có lẽ kẻ xấu số nọ đã bị sóng cuốn đi khi lần ra mép nước của đảo đá đặt tháp đèn. Điều đó càng có vẻ có lý, vì ngày hôm sau người ta không tìm thấy chiếc xuồng con mà ông ta vẫn thường xuyên buộc ở kẽ đá. Cần phải tìm ngay người thay chân gác đèn bị khuyết, bởi ngọn đèn biển này có ý nghĩa không nhỏ đối với giao thông trong vùng cũng như đối với tàu bè chạy từ New York đến Panama. Vịnh Muỗi vốn lắm doi cát và bãi cạn, tìm luồng lạch ban ngày còn khó, huống hồ ban đêm, nhất là giữa những lớp sương mù thường bao phủ vùng biển nhiệt đới bị mặt trời liên tục hun nóng nơi đây. Khi ấy đối với số đông tàu bè, ngọn đèn biển trở thành người chỉ đường duy nhất. Mối lo tìm người gác đèn thay thế đổ xuống đầu viên lãnh sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ở Panama, mà đó là mối lo chẳng nhỏ nhoi gì, bởi lẽ thứ nhất là phải tìm bằng được người thay thế trong vòng mười hai tiếng đồng hồ, thứ hai, người thay thế phải là người đặc biệt mẫn cán, không phải ai cũng có thể nhận được, và sau nữa, hiện chẳng có ma nào tình nguyện ứng cử vào chân ấy. Cuộc sống trên tháp đèn vô cùng khắc khổ, chí ít cũng chẳng hấp dẫn gì đối với dân miền Nam rỗng tuếch vốn ưa thích phiêu lãng tự do. Người gác đèn biển chẳng khác chi tù nhân. Trừ chủ nhật, anh ta không được phép rời khỏi cái đảo đá của mình.

Mỗi ngày một lần, thuyền từ Axpinoan chở ra đảo lương thực và nước uống rồi lại rời đi ngay, và khi ấy, cả cái đảo đá rộng chừng một mẫu [1] ấy không còn có một bóng người nào khác. Người gác đèn sống ngay trong lòng tháp đèn và tự lo liệu lấy. Ban ngày trông theo phong vũ biểu mà treo cờ hiệu các màu để báo thời tiết, ban đêm thì đốt đèn. Kể ra, đó cũng không phải là công việc nặng nhọc gì, nếu như không phải ngày vài lần leo những hơn bốn trăm bậc trên cái cầu thang cao ngất trôn ốc lên đỉnh tháp. Nói chung, đó là cuộc sống như trong tu viện, mà còn tệ hơn cả tu viện, bởi lẽ người gác đèn chỉ trần mỗi một thân một mình.
Vì vậy, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ngài lãnh sự Fancônbritgiơ lo nghĩ không biết tìm đâu cho ra người gác đèn thay thế cho kẻ bạc phận, và cũng dễ hiểu niềm vui sướng của ngài khi ngay trong ngày hôm ấy tự nhiên có một người tìm đến xin nhận chân gác đèn. Đó là một ông lão tuổi ngoại bẩy mươi, song nom vẫn quắc thước khoẻ mạnh, lưng vẫn thẳng, dáng dấp có vẻ con nhà binh. Tóc ông lão đã bạc trắng, nước da bánh mật như người Krêôn [2] song cứ theo màu đôi mắt mà suy thì chắc chắn, ông không phải là người phương Nam. Vẻ mặt ông trầm ngâm, đầy u ẩn, song trung hậu. Thoạt trông, ngài Fancônbritgiơ đã thấy hài lòng, song ngài vẫn có nhiệm vụ thẩm tra người xin việc, vì vậy đã diễn ra cuộc đối thoại sau đây:
- Quê ông ở đâu?
- Thưa, tôi người Ba Lan.
- Từ trước đến nay ông làm nghề gì?
- Thưa ngài, tôi đi tìm việc.
- Người gác đèn phải là người thích ngồi yên một chỗ kia đấy.
- Thưa, chính tôi cũng đang cố tìm một chỗ yên thân.
- Ông đã đi lính bao giờ chưa? Ông có chứng nhận phục vụ trung thành với Chính phủ chứ?
Ông lão rút từ trong hầu bao một mảnh lụa nhàu nát, nom như một mẩu cờ cũ kỹ. Lão vừa mở ra vừa nói:
- Thưa, chứng nhận đây ạ. Huân chương chữ thập này tôi được thưởng năm ba mươi. Cái thứ hai là huân chương của Tây Ban Nha, tôi được thưởng trong cuộc chiến tranh Caclixtô. Cái thứ ba là huân công của Pháp, cái thứ tư tôi nhận được ở Hunggari. Rồi tôi đánh nhau ở Hoa Kỳ chống lại các bang miền Nam, nhưng ở đó người ta không tặng huân chương, chỉ phát có mẩu giấy này.
Fancônbritgiơ cầm lấy tờ giấy và bắt đầu đọc.
- Hừm, Xkavinxki? Họ của ông đấy à?... hừm. Tự tay đoạt được hai lá quân kỳ trong một trận đấu lê… ông đã từng là một người lính dũng cảm!
- Tôi sẽ là một người gác đèn mẫn cán, thưa ngài!
- Ngoài ấy phải leo lên tận tháp đèn ngày một vài lần cơ đấy, liệu chân ông có còn đủ cứng không?
- Thưa, tôi đã từng đi bộ qua cả miền đồng bằng.
- All right! Ông có biết qua loa nghề biển chứ?
- Tôi đã làm việc ba năm liền trên tầu săn cá voi, thưa ngài.
- Ông qua cũng nhiều nghề gớm nhỉ?
- Thưa, tôi chỉ chưa tìm được chốn yên thân.
- Sao vậy?
- Cái số tôi nó thế...
- Theo tôi, để làm nghề gác đèn thì ông hơi quá già đấy.
- Sir - ông lão chợt thốt lên bằng giọng đầy xúc động - Tôi đã mệt mỏi, đã chịu đựng nhiều quá rồi. Ngài cũng thấy đấy, đời tôi đã trải qua bao lận đận. Giờ tôi chỉ mong sao có một chỗ yên thân. Tôi già rồi, tôi chỉ cần yên tĩnh! Tôi muốn được tự nhủ với mình rằng: mày sẽ ngồi yên tại chốn này, đây đã là bến cảng của mày. Ôi, sir, việc này chỉ phụ thuộc vào mỗi một mình ngài mà thôi. Khó lòng có cơ hội thế này lần nữa. May mắn làm sao đúng lúc này tôi lại có mặt ở Panama kia chứ... Tôi van ngài... Thề có Chúa lòng lành, tôi như con tàu sẽ bị đắm chìm nếu không tìm được vào bến cảng. Xin ngài rón tay làm phúc cho thân già này… Xin thề với ngài là tôi ngay thực, nhưng... tôi ngán cảnh lang thang lắm rồi...
Đôi mắt xanh của ông lão biểu lộ lời khẩn cầu tha thiết đến nỗi ngài Fancônbritgiơ - vốn có tấm lòng nhân hậu và chất phác - cũng xúc động.
- Well - ngài nói - tôi đồng ý nhận ông vào chân gác đèn.
Nét mặt ông lão bừng lên lòng biết ơn khôn tả.
- Xin đa tạ ngài.
- Thế liệu hôm nay ông đã có thể ra tháp đèn được chưa?
- Thưa, đã.
- Vậy thì Good-bye! À, thêm một điều nữa, chỉ cần trễ nải một lần là ông sẽ bị thải hồi ngay đấy!
- All right!

Ngay chiều hôm đó, khi mặt trời chìm vào làn nước biển, đêm sập xuống sau một ngày đầy nắng gần như không hề trải qua hoàng hôn, người gác đèn mới đã nhận việc, ngọn đèn biển đã lại chiếu ánh sáng chói lọi trên sóng nước. Đêm vô cùng thanh tĩnh, một đêm điển hình của vùng nhiệt đới, đầy ắp sương mù màu sáng, làm thành một chiếc quầng rộng rực sắc cầu vồng với đường viền mềm mại không rõ nét chung quanh mặt trăng.
Chỉ riêng biển là xôn xao bởi thuỷ triều dâng lên mạnh. Ông lão Xkavinxki đứng trên ban công, ngay cạnh ngọn đèn to tướng. Trông từ phía dưới lên, nom ông lão như một chấm đen bé xíu. Ông đang cố gắng tập trung suy nghĩ về tình cảnh mới của mình, song những cảm xúc mãnh liệt chưa cho phép ông nghĩ suy mạch lạc. Ông lão có cảm giác của một con thú bị săn đuổi, cuối cùng đã tìm được một chỗ náu thân trong một khe đá hay một cái hang nào đó, nơi không một ai tới được. Thế là rốt cuộc thời yên tĩnh cũng đã tới với ông. Cảm giác của sự an toàn khiến tâm hồn ông lão tràn ngập một niềm hoan lạc không thể diễn tả thành lời. Vậy là rốt cuộc, trên cái đảo đá này, ông có thể quên đi cuộc sống lang bạt đã qua, những nỗi bất hạnh, những thất bại của ngày qua. Ông lão giống như một con tàu bị bão tố bẻ gẫy cột buồm, xé rách tả tơi cánh buồm, dứt đứt tung dây leo, ném từ cao mây trời xuống tận đáy vực sâu, con tầu bị những làn sóng sủi tung bọt trắng đánh cho tơi tả, song cuối cùng cũng tìm được vào bến cảng. Bức tranh của cơn bão tố lướt nhanh qua đầu óc ông, đối lập với tương lai yên ả sắp bắt đầu. Thực ra ông lão mới chỉ kể cho Fancônbritgiơ nghe một phần nhỏ những bước đường trôi nổi của mình, bỏ qua hàng ngàn nỗi thăng trầm khác. Bao giờ ông cũng chỉ gặp toàn bất hạnh. Cứ mỗi lần ông hạ trại, nhóm lửa lên ở một nơi nào đó với ý định sinh cơ lập nghiệp lâu dài tại đó, thì y như rằng gió bão lại nổi lên, giật tung cọc trại, thổi tan tành đống lửa, xô đẩy ông bước tiếp vào chốn phong trần.

Giờ đây, từ ban công đèn nhìn xuống những làn sóng loang loáng ánh sáng ông lão bồi hồi nhớ lại những gì đã trải qua. Ông đã từng đánh nhau khắp bốn phương trời, và trong cuộc đời phiêu bạt của mình đã thử làm qua hầu như tất cả mọi nghề để kiếm sống. Cần cù và trung thực, hơn một lần ông dành dụm được chút vốn liếng, nhưng chỉ để rồi sau đó lại bị mất trắng, mặc dù đã hết sức thận trọng đề phòng.
Ông đã từng đào vàng ở Ôxtralia, tìm kim cương ở châu Phi, làm xạ thủ ở Đông Ấn. Đã có thời ông lập nông trại ở California, song lại bị hạn hán khiến cho phá sản. Ông cũng đã từng thử nghề buôn bán với các bộ lạc nguyên thuỷ sống sâu trong vùng lục địa Braxin, song chiếc bè của ông bị vỡ tung trên sông Amazôn, còn ông - gần như trần truồng, không hề có lấy một tấc  sắt trong tay - phải lần mò suốt mấy tuần liền trong rừng thẳm, sống cầm hơi bằng quả dại, bao phen suýt làm mồi cho thú dữ. Ông đã từng mở xưởng rèn ở Hêlena, ở Arcanxôx, song rồi xưởng bị thiêu trụi trong một nạn cháy lớn bao trùm cả thành phố.
Sau đó ông bị rơi vào tay dân Idian trong rặng Thạch Sơn, và có lẽ chỉ nhờ một phép mầu nhiệm nào đó ông mới may mắn được các xạ thủ Canađa cứu thoát. Ông cũng đã từng làm thuỷ thủ trên chiếc tầu thuỷ chạy tuyến Bahia - Boocđô, rồi lại làm thợ săn trên tầu đánh cá voi, song cả hai chiếc tầu đều gặp nạn. Ông đã từng là chủ một nhà máy xì gà ở La Habana, để rồi bị kẻ chung lưng cuỗm mất tất cả vốn liếng đúng vào lúc ông phải nằm liệt giường vì bệnh vômitô. Cuối cùng ông phiêu dạt tới Axpinoan, và nơi đây hẳn sẽ là ranh giới chấm dứt những chuyện không may của ông. Liệu có còn gì có thể theo đuổi ông ra tận cái đảo đá này nữa cơ chứ? Cả nước, cả lửa, cả con người! Thật ra, nói cho cùng, thì từ phía con người ông lão Xkavinxki cũng không phải nhận quá nhiều điều bất hạnh. Trong đời, ông đã gặp được nhiều người tốt hơn kẻ xấu.
Ngược lại, dường như tất cả bốn thứ hung thần của thiên nhiên đều thi nhau săn đuổi ông. Những người quen biết ông lão đều nói rằng ông không có phúc, họ dùng điều ấy để giải thích mọi nỗi bất hạnh của ông. Bản thân ông rốt cuộc cũng đâm ra hơi mê tín. Ông tin là có một bàn tay độc ác và hằn thù nào đó cứ bám theo ông khắp nơi, trên mọi vùng đất, mọi vùng biển. Song ông không thích nói đến chuyện ấy. Thảng hoặc, khi có người hỏi xem đó là bàn tay kẻ nào, ông lão chỉ trỏ tay kín đáo về phía sao Bắc đẩu, ra hiệu là nó từ phía ấy đến...

Quả thực, những điều không may của ông lão xẩy ra thường xuyên đến lạ lùng, dễ khiến cho người ta thoái chí, nhất là những kẻ đã từng phải nếm trải chua cay. Song ông có được sức đề kháng lặng thầm nhưng mạnh mẽ bắt nguồn từ lẽ phải của con tim, cùng tính kiên nhẫn của người Idian. Hồi ở Hunggari, ông đã từng bị chọc mười mấy nhát lê cũng chỉ vì không thèm bám lấy cái bàn đạp chân được người ta ném cho để xin cứu mạng mà lại kêu lên: Pardon! Cũng tương tự như thế, ông không chịu hàng phục những tai ương của cuộc đời. Nhẫn nại như một con kiến, ông cứ bò dần lên. Một trăm lần bị đạp nhào xuống, ông lại bình thản leo tiếp lần thứ một trăm lẻ một. Ông lão là một loại người kì dị theo một kiểu riêng biệt. Người lính già ấy, người mà hoạ chỉ có Chúa mới hay, đã từng bị thiêu trong bao nhiêu ngọn lửa, đã từng tôi luyện trong bao nỗi cơ hàn, đã từng bị đánh đập và cùm kẹp, song vẫn mang một trái tim con trẻ. Trong thời gian bệnh dịch hoành hành ở Cuba, ông bị nhiễm bệnh cũng chỉ vì đã nhường toàn bộ số thuốc kí ninh khá nhiều của ông cho những người bệnh, chẳng giữ lại cho mình lấy một mảy may.
Ở ông lão còn một điều kỳ lạ nữa là sau ngần ấy chuyện đau lòng, ông vẫn không bị mất hi vọng, vẫn tràn đầy niềm tin rồi đây mọi sự sẽ tốt đẹp hơn.
Cứ khi mùa đông đến, ông lại hoạt bát hẳn lên, và háo hức đón đợi những sự kiện trọng đại, những sự kiện mà ông hằng trông ngóng, hằng sống cùng chúng suốt những năm tháng dài đằng đẵng... Song những mùa đông cứ nối nhau trôi đi, ông lão chỉ thu được mỗi một điều là mái tóc dần bạc trắng. Ông già đi và mất dần sinh lực. Tính kiên nhẫn của ông ngày càng gần với sự nản lòng. Sự bình tâm xưa nay ngả dần thành khuynh hướng tự thương thân, và người cựu chiến binh phong trần nọ biến thành một kẻ mau nước mắt, có thể xúc động vì bất cứ cớ gì. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ông lão lại bị dày vò bởi một nỗi hoài vọng sâu thẳm được gợi lên chỉ do những khung cảnh không đâu: một cánh én chao ngang, một đàn chim lông xám trông giống chim se sẻ, một làn tuyết trên đỉnh núi hay chỉ một âm điệu thoáng qua nghe tựa như làn điệu mà ông lão nghe từ thủa nào...

Cuối cùng, chỉ còn một ý nghĩ duy nhất chế ngự ông lão, ý nghĩ về sự yên nghỉ, ý nghĩ đó chiếm lĩnh ông lão một cách hoàn toàn, nó cuốn hút mọi ước muốn và hi vọng khác. Kẻ lang thang vĩnh hằng ấy không còn khát vọng nào mãnh liệt và nhiều ý nghĩa hơn là tìm được một cái xó yên ả nào đó, nơi có thể nghỉ ngơi mà chờ đợi kết cục cuối cùng. Có thể một sự kì lạ nào đó của số phận đã ném ông qua hết thảy mọi đại dương và mọi miền đất, không cho ông kịp nghỉ lấy hơi, để giờ đây ông cho rằng đối với kiếp sống con người không có niềm hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc không phải phiêu bạt.
Quả thực, ông hoàn toàn xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, song vốn đã quá quen với những điều không may, ông chỉ dám nghĩ về niềm hạnh phúc ấy theo kiểu người ta ước đến một điều gì không sao đạt tới. Thậm chí, ông lão không dám ước điều đó nữa, ấy thế mà, đột nhiên, chỉ trong vòng mười hai tiếng đồng hồ, ông lão tìm được chính việc làm mà dường như ông đã chọn cho riêng mình trong số tất thảy mọi công việc trên cõi đời. Vì vậy, không có gì lạ, là khi đêm xuống, đốt ngọn đèn biển lên rồi, ông lão vẫn cứ bàng hoàng tự hỏi: phải chăng đây là sự thật? Và vẫn chưa dám khẳng định: phải, đó là sự thật! Trong khi đó thực tế thuyết phục ông bằng những chứng cớ không bác bỏ nổi. Và thế là giờ nọ nối giờ kia trôi qua, ông lão vẫn cứ đứng thần người ra trên ban công. Ông nhìn ngắm, tận hưởng và tự thuyết phục mình hãy tin vào sự thật. Dường như đây là lần đầu tiên được trông thấy biển, bởi lẽ những chiếc đồng hồ lớn ở Axpinoan đã điểm chuông nửa đêm từ lâu mà lão vẫn chưa chịu rời cái cao nguyên trên không trung của mình, vẫn đứng nhìn ngắm mãi. Biển ầm ì dưới chân ông. Thấu kính của ngọn đèn pha quét vào đêm những luồng sáng khổng lồ, bên ngoài những luồng sáng ấy mắt ông lão ngập chìm trong một chốn thăm thẳm tối tăm, đầy những điều huyền bí khủng khiếp.
Song dường như chốn xa thăm thẳm kia cũng đang chạy dần về phía ánh sáng. Những làn sóng dài từ trong bóng đêm nhô ra, réo lên ầm ì, ùa vào chân đảo, và lúc ấy có thể nhìn rõ những cái bờm đầy bọt của chúng lóng lánh sắc hồng trong ánh sáng ngọn đèn pha.
Thuỷ triều lên cao mãi, nhấn chìm dần những doi cát. Tiếng thì thầm huyền bí của đại dương từ khơi xa vọng về mỗi lúc một mạnh lên, ồn ã hơn, lúc nghe tựa tiếng súng đại bác gầm, lúc như tiếng xạc xào của những rừng cây khổng lồ, lúc lại nghe như tiếng huyên náo của bao giọng nói quyện vào nhau. Đôi khi tất cả lại bặt đi. Sau đó vọng đến tai ông vài tiếng thở dài não nuột, tiếng nức nở nghẹn ngào, rồi lại những tiếng nổ dữ dội.
Sau rốt, gió xua tan sương mù, song lại dồn về những đám mây đen rách tả tơi che khuất cả vầng trăng. Gió tây thổi mỗi lúc một mạnh. Những con sóng cuồng loạn nhảy chồm lên bờ đá dốc đứng, bọt liếm mãi lên cả vách tường xây. Cơn giông tố ì ầm phía xa. Trong khoảng không gian tối tăm xao động chợt sáng lên những ngọn đèn mầu xanh lá mạ treo trên đỉnh các cột buồm. Những đốm sáng mầu lục ấy lúc nhô lên, lúc chìm xuống, lúc lắc lư sang trái sang phải. Ông lão Xkavinxki đi xuống căn phòng của mình. Giông tố bắt đầu nổi lên ở ngoài kia, trên những con tầu, con người đang phải vật lộn với đêm sâu, bóng tối, sóng biển, nhưng trong căn phòng này vẫn yên ả và tĩnh mịch biết bao.
Thậm chí, ngay cả hồi âm của cơn giông bão cũng bị yếu đi nhiều khi xuyên qua các bức tường dầy; chỉ có tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ như ru đưa ông lão đã quá mỏi mệt vào giấc ngủ miên man. Giờ tiếp giờ, ngày nối ngày, tuần theo tuần cứ thế trôi đi. Dân biển thường kể rằng, thỉnh thoảng, khi biển cả gầm gào dữ dội, họ nghe như có tiếng ai đó gọi tên họ giữa đêm khuya tăm tối. Nếu cái vô biên của biển cả có thể lên tiếng gọi, thì cũng rất có thể, khi con người già đi, một thứ vô biên khác, tăm tối hơn và huyền bí hơn, cũng đã lên tiếng gọi. Con người càng mệt mỏi vì cuộc đời bao nhiêu thì đối với họ những tiếng gọi kia càng trở nên trìu mến bấy nhiêu. Song để có thể nghe thấy tiếng gọi ấy cần có sự yên tĩnh. Thêm nữa, tuổi già thường thích cô đơn, dường như lúc ấy con người đã cảm nhận được hơi hướng của nấm mồ. Đối với ông lão Xkavinxki, cây đèn biển cũng đã như phân nửa nấm mộ. Không gì đơn điệu hơn cuộc sống ngoài tháp đèn. Nếu có đồng ý nhận việc ấy chăng nữa thì chóng hay chầy những người trẻ tuổi cũng sẽ bỏ mà đi. Chính vì thế, người gác đèn thường là những người có tuổi, trầm lặng và kiệm lời. Giá có phải rời cây đèn của mình ra đi kiếm sống giữa đồng loại, người gác đèn sẽ ngơ ngơ ngác ngác như kẻ mới vừa bị đánh thức giữa giấc ngủ say. Trên tháp đèn thiếu đi mọi thứ ấn tượng vặt vãnh tạo nên vóc dạng của đời thường. Hàng ngày, người gác đèn tiếp xúc với toàn những mông mênh, không hình thù nhất định.

Trời là một, biển là hai, còn ở giữa hai thứ vô biên ấy là một hồn người cô đơn, ấy là kiểu cuộc sống, trong đó sự suy nghĩ biến thành một nỗi trầm tư miên man. Không có gì, thậm chí cả công việc, có thể đánh thức người gác đèn khỏi nỗi trầm tư đó.
Ngày nọ giống hệt ngày kia như hai hạt cườm trong cùng một chuỗi hạt, và sự thay đổi thời tiết là thứ duy nhất đổi thay. Song ông lão Xkavinxki chưa bao giờ thấy hạnh phúc đến thế. Lão thường dậy sớm, điểm tâm, lau chùi thấu kính của ngọn đèn pha, rồi sau đó ngồi mãi ở ban công nhìn đăm đắm ra khơi xa. Ông lão ngắm không biết chán những cảnh tượng diễn ra trước mắt. Trên cái phông màu xanh thẳm của biển cả thường nổi lên hàng đàn cánh buồm no gió phồng căng, chói lọi trong ánh mặt trời, khiến ông lão phải nheo mắt lại. Đôi khi, những chiếc tàu thuận mậu dịch phong giăng thành một dây dài nom giống hệt một chuỗi chim hải âu bay hải bằng.
Những cái phao tiêu màu đỏ đánh dấu luồng lạch khoan thai lắc lư theo sóng. Hàng ngày, vào chính ngọ, giữa những lá buồm, thấp thoáng hiện ra một cột khói khổng lồ màu xám. Đó là chiếc tàu thuỷ chở hành khách và hàng hoá chạy từ New York đến Axpinoan, để lại sau đuôi một dải nước ngầu bọt.
Từ phía bên kia ban công, ông lão Xkavinxki nhìn thành phố Axpinoan rõ như trên lòng bàn tay, với các bến cảng náo nhiệt của nó, với một rừng cột buồm và những tàu thuyền lớn bé. Xa hơn nữa là những ngôi nhà màu trắng toát và các đỉnh tháp nhọn hoắt của thành phố. Nhìn từ đỉnh tháp đèn, những ngôi nhà nhỏ xíu hệt như những tổ chim hải âu, thuyền bè nom như những con bọ sừng, còn người thì giống như chấm nhỏ li ti di động trên mặt đường lát đá màu trắng. Sáng sớm, làn gió đông nhẹ thổi, mang tới tai ông những thanh âm của cuộc sống loài người, trên đó nổi bật lên những tiếng còi tàu trầm bổng... Vào chính ngọ là giờ nghỉ trưa, toàn bộ khu cảng như ngừng hoạt động, những con chim hải âu ẩn vào các hốc đá, sóng yếu đi và trở nên biếng nhác. Vào lúc ấy, trên bờ, trên biển, cũng như trên tháp đèn, bao trùm một giây phút im lặng tuyệt đối. Những bờ cát vàng óng nhô lên khi sóng rút ra xa trông giống hệt như những đồ vật bằng vàng ròng đặt trên mép nước, cột tháp nổi bật trên nền trời màu thanh thiên. Từng luồng ánh sáng mặt trời dội từ trên cao xuống mặt nước, xuống bờ cát và vách đá dốc đứng. Khi ấy, ngay cả ông lão cũng như chìm vào một sự mỏi mệt đầy dịu ngọt. Ông cảm thấy được nghỉ ngơi một cách thật tuyệt diệu, và khi nghĩ rằng cảnh đời ấy sẽ còn kéo dài mãi thì ông chẳng thiết điều gì khác nữa. Ông lão thoả mãn với niềm hạnh phúc của mình. Song bản tính con người thường mau quen với số phận khi nó tốt đẹp hơn, nên lòng tin của ông lão ngày càng lớn lên. Ông nghĩ rằng nếu con người còn biết xây nhà an dưỡng cho các cựu chiến binh thì lẽ nào Chúa chẳng dành cho ông lấy một chỗ? Thời gian trôi đi, ông càng ngày càng tin vào điều đó. Ông sống đằm thắm với cây tháp, với ngọn đèn, với bờ đá dốc đứng, với những cồn cát và với nỗi đơn côi. Ông quen với những con chim hải âu thường chao lượn trên bãi đá và chiều chiều tụ họp trên nóc tháp đèn. Ông lão thường ném cho chúng những mẩu thức ăn thừa, chúng nhanh chóng quen thuộc với ông, đến nỗi về sau, mỗi khi ném thức ăn cho chúng, ông lão như bị vây bọc giữa một cơn bão những cánh chim trắng toát. Lão đi giữa bầy chim như mục đồng đi giữa đàn cừu của mình. Khi thuỷ triều xuống, ông lão thường lần ra các cồn cát để tìm bắt những con ốc biển ngon lành và nhặt những chú trai ngọc bị sóng đánh dạt vào. Ban đêm, dưới ánh trăng và ánh sáng ngọn đèn biển, ông đi kiếm cá vốn rất sẵn ở ven các bãi đá. Ông lão yêu hòn đảo trần trụi của mình, hòn đảo chỉ mọc lưa thưa toàn nhưng loài cây bé nhỏ, thân đẫm nhựa đặc quánh. Sự cằn cỗi của đảo được phong cảnh vùng quanh đấy bù đắp lại.
Vào những giờ ban trưa, khi bầu không khí trở nên trong suốt, từ đây có thể nhìn thấu toàn bộ vùng eo đất hẹp suốt sang tận Thái Bình Dương, một vùng đất trù phú mọc đầy cây cỏ tốt tươi. Những lúc ấy, ông lão Xkavinxki tưởng như trước mắt là cả một khu vườn lớn.
Những chùm dừa và sao sao khổng lồ kết thành những vòng hoa đầy đặn đến ngon lành, nằm ngay tiếp sau các ngôi nhà của Axpinoan. Xa hơn nữa, vùng giữa Axpinoan và Panama có thể thấy cả một khu rừng bạt ngàn, trên đó nổi bật lên những đám mây đỏ rực rỡ vào sáng sớm hay hoàng hôn. Đó là một khu rừng nhiệt đới thật sự, với làn nước lặng lẽ sát bên chân, dây leo quấn chằng chịt, với những cây sứa, cọ, thiết mộc, cao su, phong lan, rì rào không ngớt.
Qua chiếc ống nhòm công vụ của mình, ông lão không chỉ nhìn thấy các thân cây to, những tầu lá chuối rộng bản, mà còn trông thấy hàng đàn khỉ, hàng đàn chim ông lão và hàng đàn vẹt chốc chốc lại đột ngột bay vụt lên như một đám mây ngũ sắc bên trên khu rừng. Ông lão Xkavinxki biết rõ những khu rừng như thế, bởi sau khi chiếc bè của ông bị vỡ tung trên sông Amazôn, ông đã từng lặn lội nhiều tuần liền trong vòm cây cối rậm rì xanh thẳm đó. Ông hiểu rõ biết bao mối nguy hiểm, bao nhiêu cái chết ẩn náu dưới tán lá tuyệt vời trông như tươi cười kia. Trong những đêm lần mò giữa rừng sâu, ông lão từng nghe tiếng vượn hú thảm thiết cùng tiếng heo gầm gào. Ông đã từng gặp những con trăn khổng lồ vặn vẹo thân mình dài ngoẵng trên cây, ông biết rõ những cái hồ vẻ ngái ngủ trong rừng song trong lòng chứa đầy cá sấu và cá đuối điện. Ông lão hiểu rõ lắm kiếp sống cơ cực của con người trong những khu rừng hoang vu thăm thẳm ấy, nơi có những chiếc lá rộng gấp hàng chục lần thân người, nơi dầy đặc những đàn muỗi khát máu, nhung nhúc những con vắt háu đói và những con nhện độc khổng lồ. Chính ông đã từng trải qua, đã từng nếm phải, từng chịu đựng tất cả những thứ đó, nên giờ đây, khi từ trên cao nhìn xuống cái địa ngục ấy, ông cảm thấy niềm sung sướng của một con người có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó mà không bị một mối hiểm nguy đe dọa. Cái tháp đèn bảo vệ cho ông tránh được mọi sự dữ. Cũng chính vì vậy ông chỉ rời khỏi tháp đèn của mình vào sáng chủ nhật mà thôi. Khi ấy ông thắng bộ lễ phục màu xanh thẫm với những chiếc khuy bạc, gắn lên ngực áo các loại huân chương, và mái đầu màu ngà ngẩng cao trong một niềm tự hào.
Khi ra khỏi nhà thờ ông nghe thấy tiếng xì xào tán thưởng của đám người Krêôn: “Chúng ta có một tay gác đèn bảnh thật!”.
“Mà ông ấy chẳng hề ra vẻ chút nào, mặc dù là dân Mẽo”. Sau lễ mi xa, ông lão quay về với tháp đèn, đầy hạnh phúc, bởi ông vẫn chưa dám đặt lòng tin vào đất liền. Cũng thường vào chủ nhật, ông đọc tin tức ở một tờ báo tiếng Tây Ban Nha mua trong phố hoặc tờ Diễn đàn New York mượn của ngài Fancôbritgiơ, và tỉ mẩn dò tìm những mẩu tin về châu Âu. Ôi, trái tim già tội nghiệp! Ở trên ngọn tháp đèn tít tận bán cầu xa xôi này vẫn đập về quê hương... Đôi khi, lúc chiếc thuyền chở thức ăn và nước uống ra đảo cho ông, ông lão từ tháp đèn lần xuống chuyện gẫu với gã Giônx, người canh gác cảng.

Nhưng rồi một thời gian sau đó, ông có vẻ trở nên hoang dã dần đi. Ông thôi không còn lai vãng vào phố, thôi đọc báo chí và cũng thôi những câu chuyện thời thế với gã Giônx. Hàng tuần liền chẳng ai nhìn thấy ông, mà ông cũng chẳng gặp người nào.
Dấu hiệu duy nhất chứng tỏ ông vẫn còn sống là lương thực người ta để lại trên bờ đá cho ông được lấy đi và ánh sáng ngọn đèn biển vẫn được đốt lên một cách đều đặn như mặt trời xứ này đều đặn nhô lên từ mặt biển. Hình như ông đã hoàn toàn dửng dưng với cuộc đời. Nguyên nhân của sự dửng dưng đó không phải là nỗi hoài vọng cố hương, mà ngay cả nỗi hoài vọng kia cũng dần nhuốm màu tuyệt vọng. Giờ đây, đối với ông, cả thế giới bắt đầu và kết thúc chính ngay trên hòn đảo này. Ông vui sướng với ý nghĩ là cho đến lúc chết sẽ không bao giờ phải rời khỏi ngọn tháp đèn, ông hầu như quên hết thảy mọi thứ khác trên đời ngoài tháp đèn của mình. Ông trở nên mê tín, cặp mắt xanh hiền hậu của ông ngày càng giống đôi mắt trẻ thơ, cứ nhìn đăm đắm vào một chốn xa xăm nào đó. Trong cảnh cô đơn triền miên, sống giữa quang cảnh vừa rất mực hoang sơ và vừa vô cùng khoáng đạt, ông mất dần đi cảm giác về bản thân mình, ông gần như thôi không còn tồn tại như một cá thể độc lập nữa, mà ngày càng hoà nhập, ngày càng tan lẫn vào môi trường chung quanh. Thực ra ông cũng chẳng ý thức được điều đó mà chỉ cảm nhận nó, song rốt cuộc, đối với ông, cả bầu trời, mặt nước, hòn đảo đá, ngọn tháp đèn, những cồn cát vàng óng, những cánh buồm no gió phồng căng, cả lũ chim hải âu cùng làn nước thuỷ triều lên xuống... tất cả hoà thành một khối duy nhất, mênh mông, một linh hồn bao la, huyền bí, và chính ông cũng đắm trong cảnh sống đặc biệt ấy, chính trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê ấy, ông lão tìm thấy cho mình một nỗi yên tĩnh vô biên, nỗi yên bình của một kẻ đã gần đất xa trời.

Nhưng rồi sự tỉnh thức vẫn cứ đến.
Hôm ấy, khoảng một giờ sau khi chiếc thuyền chở thức ăn và nước uống cặp đảo, ông lão Xkavinxki mới lần từ tháp đèn xuống lấy hàng, và ông chợt nhận thấy ngoài những thứ thường ngày còn có thêm một cái gói nữa.
Trên mặt vải thô dây bọc bên ngoài có dấu bưu cục Mỹ và nổi bật địa chỉ: “Ngài Xkavinxki”. Ngạc nhiên, ông rọc lần vải bọc ngoài và trông thấy mấy quyển sách. Tay run run, ông cầm lên một quyển nhìn lướt qua rồi lại thẫn thờ đặt xuống. Ông lấy tay dụi mắt, dường như không thể tin vào chính mắt mình, ông ngỡ như mình đang mơ - bởi vì đó là một cuốn sách tiếng Ba Lan!
Chuyện gì thế này? Ai có thể gửi sách cho ông cơ chứ? Thoạt đầu, ông lão không thể nhớ ra được là một lần nọ - ngay từ hồi đầu cuộc đời gác đèn biển của mình - ông đọc trong tờ “Diễn đàn” mượn được, tin về việc thành lập Hội liên hiệp kiều bào Ba Lan tại New York, và ông đã lập tức gửi ngay nửa tháng lương của mình cho Hội (thực ra, ngoài tháp đèn, ông lão cũng chẳng biết dùng tiền vào việc gì). Hội liên hiệp cảm cái ơn ấy nên đã gửi sách biếu ông.
Sách được chuyển theo cách thức thường tình nhất, song thoạt tiên, vì choáng váng, ông lão không nhớ ra chuyện ấy. Đối với ông, những quyển sách tiếng Ba Lan ở Axpinoan, trên cái tháp đèn của ông, trong nỗi cô đơn vô bờ của ông - là một chuyện siêu phàm, một việc thần kỳ nào đó, giống như chuyện cổ tích.
Như những người thuỷ thủ nọ nghe tiếng gọi của biển giữa đêm sâu thăm thẳm, giờ đây ông lão ngỡ như nghe thấy một tiếng nói yêu thương lắm, gần như đã bị lãng quên rồi, lên tiếng gọi tên mình. Ông lão lặng người đi, mắt nhắm nghiền, ông tin chắc rằng khi mở mắt ra thì giấc mơ nọ sẽ tan biến.
Nhưng không. Cái gói bị rọc vẫn đang hiển hiện nguyên vẹn trước mắt ông kia, nhuộm ánh hoàng hôn, và trên đó là quyển sách mà ông đã mở ra.
Giữa sự im lặng mênh mông của chung quanh, ông lão nghe rõ tiếng đập gấp gáp của trái tim mình khi lại chìa tay cầm lấy quyển sách. Đó là một tập thơ.
Phía trên là tiêu đề in bằng thứ chữ lớn, còn phía dưới là tên tác giả, cái tên không hề xa lạ với ông lão Xkavinxki. Lão biết đó là tên một nhà thơ lớn, nhà thơ có tác phẩm mà ông lão đã từng được đọc ở Paris hồi sau năm ba mươi. Rồi sau đó, trong những ngày chiến đấu ở Angiêri và Tây Ban Nha, ông nghe các bạn đồng hương bàn tán về danh tiếng ngày càng lớn của nhà thơ vĩ đại ấy, song hồi đó, tay ông đã quen với khẩu súng đến nỗi ông chẳng hề mó tới sách vở bao giờ. Năm bốn mươi lăm, ông lão sang Mỹ, và trong suốt cuộc đời dọc ngang sau đó của mình gần như ông không hề được gặp một người đồng hương nào, cũng chẳng được thấy một quyển sách Ba Lan nào cả. Chính vì thế, giờ đây trái tim ông đập dập dồn hơn và bàn tay ông càng lẩy bẩy hơn khi lật trang đầu sách. Trên đảo đá cô đơn của ông hình như đang diễn ra một điều gì đó hết sức trọng thể. Giây phút ấy mới thanh bình và yên tĩnh làm sao. Các đồng hồ lớn ở Axpinoan điểm chuông năm giờ chiều. Bầu trời trong sáng không một gợn mây, thoáng vài cánh hải âu chao lượn trong sắc xanh thăm thẳm. Đại dương đưa ru dìu dặt. Những con sóng khe khẽ rì rào lan trải êm dịu theo ven bờ cát. Phía xa nổi bật những ngôi nhà màu trắng chói lọi của Axpinoan và vút cao lên những khóm cọ đẹp tuyệt vời. Quả có một cái gì đó trọng thể, trang nghiêm và lặng lẽ. Giữa cái yên tĩnh của thiên nhiên chợt vang lên giọng run run của ông lão: ông đọc thành tiếng những vần thơ, dường như để có thể thấm thía hơn ý nghĩa của chúng.

Hỡi Litva! Tổ quốc ơi! Người như sức khoẻ,
Ai đánh mất rồi mới hiểu Người quí giá dường bao
Hôm nay con ngợi ca Người, diễm kiều và rạng rỡ,
Con tưởng thấy Người trong nhung nhớ khát khao. [3]
Ông lão Xkavinxki nghẹn ngào. Những dòng chữ nhảy múa trước mắt ông. Trong ngực ông dường như có thứ gì đó chợt bục ra và  một làn sóng từ trái tim như dâng lên, dâng cao mãi, khiến ông nghẹn lời... Mãi một lúc sau ông mới trấn tĩnh lại và đọc tiếp:
Hỡi thánh nữ đồng trinh, xưa Trenxtôkhôva từng che chở,
Và cổng thành Oxtra tùng chiếu sáng khi nao.
Từng bảo vệ cho con dân thành Nôvôgrôt
Như đã cứu đời con thơ ấu thuở nào
(Lúc mẹ mang xác con tới khóc dâng Người,
Thì mắt chết của con chợt mở bừng như phép lạ,
Chân núi bước đi, đến ngưỡng cửa thánh đường Người
Để cảm tạ Chúa Trời, sự sống con đã trả)
Một ngày kia Mẹ cũng sẽ mang con về với lòng Tổ quốc.

Làn sóng cuồn cuộn dâng cao, phá tung đập chắn của ý chí. Ông lão nức lên, ngã nhoài ra đất. Mái tóc bạc của ông xoã lẫn vào với cát. Ngót bốn mươi năm ông không được nhìn thấy đất nước, hoạ chỉ có Chúa mới hay đã bao năm nay ông không được nghe tiếng nói quê hương, ấy thế mà giờ đây, chính tiếng nói ấy lại tự đến với ông, băng qua cả đại dương mênh mông, tìm thấy ông mãi tận tít bán cầu bên kia, ôi tiếng nói yêu thương, thân thiết, tuyệt vời! Trong cơn nức nở rung chuyển cả thân mình ông không hề có nỗi đau, chỉ có một tình yêu vô biên chợt thức tỉnh, bên cạnh tình yêu ấy, mọi thứ khác đều trở nên vô nghĩa... Dường như qua tiếng nức nở ấy ông lão muốn xin Tổ quốc thân yêu xa xôi hãy tha lỗi cho ông, bởi ông đã già đến thế, đã mải vui thú đến thế với hòn đảo đá cô đơn của mình, đã đinh ninh rằng ngay cả lòng nhớ nhung Tổ quốc rồi cũng sẽ bị nhạt đi...
Giờ đây, khi ông lão đã “được trở về bằng một phép nhiệm màu” trái tim của ông chợt lên tiếng nói. Giờ phút nối nhau trôi đi, ông lão vẫn nằm yên không nhúc nhích. Những con chim hải âu bay lượn chao đảo chung quanh tháp đèn kêu lên xao xác dường như lo lắng cho người bạn già của chúng.
Đã đến giờ ông thường ném vụn thức ăn cho chúng nên một số con bay từ đỉnh tháp xuống sát chân ông. Sau đó, chúng kéo tới mỗi lúc một đông thêm và bắt đầu mổ khẽ vào người ông, cánh đập rối rít trên đầu ông lão.
Tiếng đập cánh ồn ào thanh thản và rạng rỡ, đôi mắt ông như tràn đầy cảm hứng. Ông ném cho lũ chim toàn bộ số thức ăn, và mặc chúng tao tác chia nhau, ông lại với lấy quyển sách. Mặt trời đã vượt sang bên kia khu vườn cùng cánh rừng hoang Panama và đang lặn dần sau eo đất giữa đại dương bên kia, song Đại Tây Dương hãy còn ngập tràn ánh nắng, bầu không khí vẫn sáng rực.

Ông lão đọc tiếp:
Lúc này đây xin hãy mang trái tim con khát khao nhung nhớ
Về với những đỉnh núi rừng, những đồng cỏ xanh kia...
Mãi lúc ấy, hoàng hôn mới xoá nhoà dần những nét chữ trên mặt giấy trắng, thứ hoàng hôn ngắn ngủi như một chớp mắt. Ông lão tựa đầu vào một tảng đá, khẽ nhắm mắt lại. Và khi ấy, “Thánh nữ đồng trinh từng bảo vệ Trenxtôkhôva” mang hồn ông về với “những cánh đồng lúa hắc mạch đẹp như tranh”. Trên trời hãy còn lưu lại những vệt sáng đỏ và vàng, ông lão bay theo những con đường ánh sáng ấy về phía phương trời thân yêu.
Ông nghe thấy tiếng rì rào của những rừng tùng bách, tiếng róc rách của những dòng sông quê hương. Mọi vật vẫn giống hệt như ngày xưa. Mọi vật hỏi ông lão: “Ông còn nhớ chứ?”. Ông nhớ chứ! Chính ra, ông vẫn đang nhìn thấy rõ ràng ngay trước mắt này là những cánh đồng ruộng mênh mông với những bờ ruộng dọc ngang, này là những đồng cỏ, những cánh rừng, làng mạc. Đã là đêm rồi ư? Thường vào giờ này, ngọn đèn pha của ông đã chiếu sáng đêm đen trên biển, song lúc này đây ông lại đang ở làng quê ông. Mái đầu già nua gục xuống ngực mơ màng.
Những bức tranh kéo nhanh và khá lộn xộn qua trước mắt ông. Ông không trông thấy mái nhà mình đâu cả, bởi chiến tranh đã khiến nó trụi đi, ông cũng không nhìn thấy mẹ cha, hồi song thân khuất núi khi ông hãy còn là đứa trẻ. Song ông nhìn thấy làng mình rõ như ông chỉ vừa mới rời làng ngày hôm qua mà thôi; một dãy dài những ngồi nhà với các ô cửa sáng đèn, con đập, cái cối xay, hai chiếc ao cạnh nhau đêm đêm vang lên những dàn đồng ca uềnh oàng của lũ ếch nhái.
Đã từng có lúc ông lão thức canh làng ban đêm, giờ đây kỉ niệm ấy chợt sống lại trong một chuỗi hình ảnh. Này đây, ông lại là chàng lính khinh kỵ, trẻ măng đang đứng canh... Từ phía xa, quán rượu mở những con mắt rực lửa, vang tiếng hát ca, tiếng gót giầy nện rầm rập giữa cái tĩnh mịch của đêm thanh, giọng vĩ cầm và baxet nỉ non. “U-ha! U-ha!” Đó là toán lính khinh kỵ, phi ngựa nhanh vun vút lửa toé ra dưới móng, chỉ có ông phải ngồi một mình đến phát ngán trên lưng chiến mã nơi đây! Thời gian biếng nhác trôi đi. Mãi rồi những ánh đèn cũng tắt đi, trước mắt giờ chỉ có sương mù dầy đặc. Hơi nước từ đồng cỏ bốc lên bao trùm gian thế trong một màn mù màu trắng đục. Bạn có thể bảo: trông hệt như đại dương. Song đó chẳng qua chỉ là cánh đồng cỏ thôi, chỉ cần chờ một chút, chim cuốc sẽ lên tiếng kêu trong bóng đêm. Thỉnh thoảng tiếng vạc kêu sương vang lên giữa những nhóm lau lách. Đêm thanh bình và mát lạnh, đêm đích thực Ba Lan! Tuy im gió, nhưng xa xa những rừng thông vẫn xạc xào... như sóng biển.
Chẳng mấy chốc ánh bình minh đã nhuộm sáng phương đông: gà đã cất tiếng gáy vang trong chuồng, con nọ đáp tiếng con kia, lan từ nhà này sang nhà khác, đâu đó tít trên cao, đàn sếu để rớt lại những tiếng kêu than.
Người lính khinh kỵ thấy tỉnh táo và tràn trề sinh lực. Người ta đang kháo nhau chi đó về trận chiến đấu ngày mai. Nào, nếu vậy anh cũng sẽ xông lên như những người khác, cũng thét lên trong tiếng cờ bay phần phật!
Mặc hơi gió đêm se lạnh, dòng máu thanh xuân vẫn sôi lên trong huyết quản như nhịp kèn xuất kích. Nhưng trời đã sáng rồi! Đêm mờ dần, những lùm cây, dãy nhà tranh, chiếc cối xay, những cây bạch dương hiện ra từ trong bóng đêm. Tiếng cần vọt nước ở giếng rít lên như chiếc chong chóng bằng sắt tây trên đỉnh tháp.
Ôi mảnh đất quê hương yêu dấu, Người biết mấy tuyệt vời trong ánh hồng rực rỡ của bình minh!
Ôi mảnh đất quê hương duy nhất, duy nhất của ta!

Khẽ nào! Người lính canh cảnh giác nghe thấy có ai đang đi lại gần. Hẳn người ta đến để bãi gác. Đột nhiên, tiếng ai đó vang trên đầu ông lão Xkavinxki:
- Này! Cụ già! Dậy đi chứ. Cụ làm sao thế? Ông lão mở mắt ra kinh ngạc nhìn người đang đứng trước mặt. Trong đầu lão, những mảnh cuối cùng của giấc mơ đang còn tranh chấp với thực tại.
Cuối cùng, những ảo ảnh mờ đi và tan mất. Trước mắt ông là gã Giônx người gác cảng.
- Sao thế? - gã Giônx hỏi - Cụ ốm à?
- Không.
- Cụ không thắp đèn pha. Cụ sẽ bị đuổi. Một chiếc thuyền từ Ghêrômô bị đâm phải bãi cạn. May không có ai chết đuối, nếu có cụ phải ra toà. Lên thuyền đi với tôi, tới lãnh sự quán cụ sẽ biết nốt sự tình.
Ông lão tái người: đúng là đêm qua ông không thắp đèn pha.

Vài ngày sau, người ta thấy ông lão Xkavinxki trên boong chiếc tầu thuỷ rời Axpinoan đi New York.
Ông lão đáng thương đã bị mất việc. Những chặng đường lang thang mới lại mở ra trước lão; một lần nữa, gió lại dứt tung chiếc lá héo khô, thổi bay qua đất liền và biển cả để thoả sức hành hạ. Trong mấy ngày đó, ông lão già đi, lưng còng xuống, riêng mắt ông vẫn lung linh sáng. Trên những nẻo đường vô định mới của cuộc đời, ông lão mang theo trên ngực quyển sách của mình, thỉnh thoảng ông lại đưa tay ghì chặt lấy như sợ rằng ngay cả nó cũng có thể bị mất đi.

Chú thích
[1] Nguyên văn: rộng khoảng 1 morga. Morga là đơn vi đo diện tích cổ, bằng 5600 mét vuông.
[2] Dòng dõi những người châu Âu di cư sang châu Mỹ La tinh, không lai với người da đen, da trắng.
[3] Đây là tác phẩm "Pan Tadeus" của thi hào Ađam Mixkiêvich (1798-1855) nhà thơ vĩ đại của nhân dân Ba Lan. Tác phẩm thi ca của ông tràn ngập lòng yêu nước.

NGUYỄN HỮU DŨNG dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeTue Oct 10, 2017 12:10 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Maintitle

SERENADE 

George Bernard Shaw
(Nobel 1925)


Kỷ niệm ngày sinh lần thứ 40, tôi tổ chức một buổi diễn kịch, là truyền thống vốn có tiếng từ lâu tại nhà riêng của tôi ở Beckenham. Như lệ thường, kịch bản do tôi tự viết, đó là một câu chuyện cổ tích, gồm ba màn, ý đồ xuyên suốt là tiếng tù và thần diệu của một chàng hoàng tử Ba Tư. Các vở diễn của tôi vốn có tiếng nên cũng không cần phải mô tả tỉ mỉ các diễn biến của chuyện. Tôi chỉ thấy cần phải lưu ý độc giả một chi tiết quan trọng ở màn hai, đó là khi ngày hội bị cắt ngang bởi tiếng tù và của chàng hoàng tử thổi vọng lên từ giữa lòng núi nam châm, nơi chàng bị mụ phù thuỷ gian ác cầm tù. Tôi đã mượn một nhạc công thổi kèn coócnê từ dàn nhạc của tôi đến thổi kèn co thay cho tiếng tù và. Anh ta sẽ được ngồi không phải ở trước sân khấu mà là bên dưới nhà, trong gian đại sảnh, nhằm tạo ra một ấn tượng về một khoảng cách xa xăm.
Cuộc vui bắt đầu khá suôn sẻ. Có thoáng vẻ thất vọng hiển nhiên khi mọi người được biết tôi sẽ không sắm vai trong vở diễn. Nhưng khách khứa cũng vui vẻ thể tất khi nghe tôi trình bày nghĩa vụ hai mang của mình, vừa là chủ nhà lại vừa là đạo diễn.

Chỗ ngồi tốt nhất trong phòng diễn dành cho nàng Linda Fitznightingale kiều diễm. Ghế cạnh đó tôi định để cho mình đã bị chàng Porcharlester êm thấm chiếm mất. Đó là một người đàn ông trẻ nhã nhặn, có chút khiếu của một giọng nam trung yếu nhưng lại không đủ chuyển sang một giọng nam trầm.
Bởi thẩm mỹ âm nhạc của nàng Linđa rất cực đoan nên trong mắt nàng, thành tích ít ỏi của chàng Porcharlester khiến anh ta chiếm được chút ưu thế hơn so với những người đàn ông tử tế và già dặn khác. Tôi quyết định cắt ngang cuộc chuyện trò của họ khi vừa được rảnh rang ít phút. Đã thành lệ là tôi luôn tự mình trông nom quá trình buổi diễn, cho đến khi nào mọi cái đã đâu vào đấy. Đến nỗi cuối cùng cô Waterloo, sắm vai nữ của vở diễn phải cất tiếng phàn nàn rằng sự lo lắng của tôi khiến cô ta cũng thấy bồn chồn lây và van nài tôi hãy lui ra ngoài nghỉ ngơi chút ít. Tôi hăng hái tuân lệnh rồi vội vã sải bước về phía nàng Linda. Thấy tôi lại gần Porcharlester đứng dậy nói: “Tôi vào ngó qua phía trong nhé: biết đâu còn gì chưa...”.
“Ồ, hẳn rồi”, tôi nói, sung sướng đã tống được anh ta đi. “Nhưng xin chớ can thiệp vào đấy nhé. Chỉ một sơ sẩy nhỏ là...”
“Thôi được”, anh ta cắt ngang: “Tôi vẫn biết ông hay cả lo mà. Tôi chỉ một mực đút tay túi quần được chưa?”
“Ông Colonel Green, lẽ ra ông đừng để ông ta nhúng quá sâu vào”. Linda lên tiếng khi chàng kia đã đi khuất. “Tôi chắc thế nào ông ta cũng sẽ bày đủ trò tai quái ở trong ấy.”
“Thôi kệ cho anh ta vui đùa”, tôi đáp. “Cung cách anh ta thật giống y như tướng Johnston, cái ông lão già khụ ấy. Thế việc học nhạc của cô đến đâu rồi?”
“Hiện nay tôi đang ngập đầu với Schubert [40]. Ôi, ông Colonel Green, ông có biết bản Serenade của Schubert không?”
“A! Một bản nhạc mê hồn! Tôi nghĩ đại loại là như thế này: Điđlêđi-đăm, điiđiđlêđi-đăm, điiđăm, điiđlêđai - đây”.
“Phải, cũng có thế thật. Ngài Porcharlester có hát nó không ạ?”
“Ông ta cũng thử đấy. Nhưng ông ta chỉ có ưu thế hát những loại gì đó tầm thường, không đòi hỏi diễn tả những tình cảm nghiêm túc, chiều sâu của cảm xúc, sự cảm thông trọn vẹn, đại để như là...”.
“Vâng, vâng. Tôi biết ông vẫn cho ông Porcharlester là khiếm nhã. Ông có thích bản Serenade không ạ?”
“Hừm! Nhưng mà, cái chính là - cô có thích nó không?”
“Tôi mê mẩn vì nó. Tôi ao ước về nó. Ba ngày gần đây, tràn đầy trong tôi là bản Serenade ấy”.
“Tôi xin thú nhận rằng nó luôn gây ấn tượng trong tôi là một khúc nhạc kỳ diệu. Tôi hy vọng giọng hát tuyệt vời của cô sẽ chứng minh điều đó ngay sau khi vở diễn của chúng ta kết thúc”.
“Tôi hát nó ư! Ôi, tôi đâu dám. A, ngài Porcharlester đây rồi. Tôi sẽ bắt ông ta phải hứa sẽ hát nó cho chúng ta nghe”.
“Green”, Porcharlester cất giọng hài hước xỏ lá: “Tôi không muốn bỗng dưng đến quấy rầy ông; nhưng anh chàng phải thổi điệu tù và thần tiên vẫn chưa đến”.
“Trời hỡi!” Tôi kêu lên. “Tôi lệnh cho anh ta phải có mặt vào đúng bảy rưỡi mà. Nếu anh ta không tới, vở diễn sẽ đi tong mất.” Tôi xin lỗi Linda và nhảy vội xuống đại sảnh.
Chiếc kèn co đã ở đó, nằm trên mặt bàn. Vậy là Porcharlester đã dùng mánh khoé đê tiện này để đẩy tôi đi. Tôi toan quay lên làm cho ra nhẽ thì chợt nhận ra rằng, hoá ra chàng nhạc công để nhạc cụ lại từ buổi diễn tập lúc sáng, còn anh ta có lẽ chưa đến. Nhưng một gã hầu do tôi gọi lại báo với tôi rằng anh ta đã đến đúng vào lúc bảy rưỡi, đã vào phòng ăn thông với gian đại sảnh theo đúng lệnh của tôi, và đã rời khỏi đó với một cốc vang và một cái bánh sănguych.

Vậy là Porcharlester đã lừa tôi. Người hầu trở ra làm tiếp công việc, bỏ lại tôi một mình, đầy tức giận trong gian đại sảnh, sự chú ý của tôi bỗng hiếu kỳ dừng lại ở cái vật thể cong cong màu đồng thau nhạt nằm trên bàn. Giữa đống đồ vật vô tri vô giác bao quanh, chiếc kèn nằm tách hẳn ra, câm lặng và bất động, nhưng dường như căng phồng lên bởi những âm thanh khủng khiếp, đang ý thức chờ dịp để trình diễn. Tôi lén đến bên bàn, lấy ngón tay trỏ thận trọng chạm vào cái van chiếc kèn co. Rồi tôi liều ấn xuống một cái: Nó kêu lên lách cách. Vẻ biết lỗi, tôi lùi lại khi nghe thấy tiếng động bên phía phòng ăn.

Rồi tiếng chuông báo hiệu kêu leng keng, báo cho người thổi kèn co bắt đầu phần diễn của mình. Tôi chờ gã nhạc công xuất hiện với đôi chút bẽn lẽn, hy vọng anh ta sẽ không nhận thấy tôi đã nghịch trộm nhạc cụ của anh ta như một đứa trẻ. Nhưng chẳng thấy anh ta đâu. Nỗi lo vọt tăng. Tôi xô vào phòng ăn. Ở đó, ngay đầu bàn, một gã lính đang ngồi ngủ say như chết: Trước mặt gã la liệt năm cái bình rượu rỗng. Tôi túm cổ áo gã lắc mạnh. Gã làu bàu, ngất ngưỡng giơ quả đấm lên huơ huơ, rồi lại gục xuống bất động.
Tức điên lên, vừa thề sẽ bắn bỏ gã bởi sự quấy phá này, tôi vừa chạy trở lại gian đại sảnh. Tiếng chuông lại vang lên. Hồi chuông thứ hai đòi tiếng tù và. Cả sàn diễn chờ đợi. Cùng quẫn, tôi không nghĩ ra cách gì để cứu vở diễn. Tôi vồ lấy cây kèn co, đặt cái đầu nhỏ của nó lên miệng và thổi phù một cái thật mạnh. Phí cả hơi! Chẳng có tiếng động nào phát ra. Tôi rũ ra vì gắng sức và chiếc kèn đồng tuột khỏi bàn tay ẩm ướt. Tiếng chuông lại vang lên khẩn cấp, phá tan bầu im lặng huỷ diệt. Thế là tôi chộp lấy cây kèn như cái mỏ cặp; căng phồng ngực lên, giúi cái miệng kèn lên môi, lấy răng cắn chặt như muốn nghiến đứt ra, tôi hung hăng khạc mạnh một cái. Kết quả phát ra một tiếng vang khủng khiếp, chói tai, bóng đèn quay vù vù, mũ của khách ngóc lên khỏi giá treo; tôi bịt chặt hai thái dương vừa lúc gã lính nhảy bổ ra, tái mét, như thể tiếng kèn đã dựng gã dậy, lôi gã ra đối mặt với một đám đông các khách mời sửng sốt ùa cả ra cầu thang.

***

Ba tháng sau đó, tôi mời một ông thày lão luyện về để học thổi kèn co. Tôi thấy bất ổn trước bộ dạng trung lưu lớp dưới cùng với cái mánh vặt chán ngắt của ông khi cứ nhắc đi nhắc lại rằng kèn 'o (như cách gọi của ông ta) có lẽ gần với tiếng người nhất trong tất cả các loại nhạc cụ. Nhưng ông thạo nghề và tận tâm, khiến tôi có đủ kiên nhẫn để chịu đựng, bất chấp một vài phản đối từ phía các vị láng giềng.
Cuối cùng, một hôm tôi đánh liều hỏi ông thày, liệu ông có cho rằng tôi đã đủ khả năng biểu diễn sớm cho riêng một người bạn nghe chưa.
“Ồ, ngài Colonel”, ông ta nói, “Nói thật nhé, ngài không có khiếu ấy đâu, ít ra là chưa phải lúc này. Sau nữa, ngài thổi dữ dội quá lắm. Tin tôi đi, thưa ngài, không cần phải vận hết cơ bắp vào đó, nó sẽ làm hỏng giọng mất. Ngài định chơi bản nhạc gì cho bạn ngài vậy?”
“Ông phải dạy tôi cái đó. Bản Serenade của Schubert.”
Ông ta chòng chọc nhìn tôi và lắc đầu: “Bản ấy không viết cho loại nhạc cụ này thưa ngài”, ông nói, “Ngài không chơi nổi đâu”.
“Lần đầu tôi chơi nó không mắc lỗi, ông sẽ được thêm năm ghi nê [41], ngoài tiền công”. Điều này đã đánh át sự do dự của ông ta. Dù tập tành cần mẫn tôi vẫn thấy bản Serenade thật không ổn và khó chơi. Nhưng cuối cùng tôi cũng thổi được tàm tạm.
“Thưa ngài Colonel, nếu tôi ở địa vị ngài”, - ông thầy bảo tôi lúc đút đồng năm ghi nê vào túi, - “Tôi sẽ giữ bản nhạc này lại cho mình và sẽ chơi một bản nào khác đơn giản hơn, cho bạn bè. Sau nửa giờ tập ngài có thể chơi kha khá được ở đây thật đấy; nhưng khi không có tôi bên cạnh, ngài sẽ thấy chẳng có gì chắc chắn đâu”.
Tôi phớt lờ những lời ám chỉ của ông ta, mà về sau mới thấy thật thấm thía. Nhưng khi đó tôi đang một mực ấp ủ ý đồ chơi khúc Serenade tặng nàng Linda. Nhà nàng nằm ngay cuối phía bắc Công viên Park Lane, thật lý tưởng cho ý đồ trên. Và tôi đã mua được một gã hầu để gã cho tôi vào một chỗ khá dễ chịu, nằm giữa ngôi nhà của nàng và con đường.

Cuối tháng sáu, một tối tôi được tin Linda quyết định ở nhà nghỉ sau cơn mệt mỏi nơi giao tiếp. Đó là cơ hội của tôi. Chín giờ tối, tôi đút cây kèn co vào túi du lịch, lên đường đến Marble Arch, đến nơi tôi xuống xe, đi bộ đến chỗ chủ định. Tôi sững lại bởi tiếng gọi của Porcharlester: “Chào ngài, ngài Colonel !” Không muốn bị cật vấn nên tốt nhất là tôi chặn trước bằng cách hỏi anh ta đi đâu.
“Tôi đến cô Linda,” anh ta đáp. “Nàng có nhã ý cho tôi hay tối nay nàng sẽ ở nhà một mình. Tôi không có ý giấu ông chuyện này, thưa ngài Colonel, vì ông là người trọng danh dự và ông thừa biết nàng tuyệt vời như thế nào. Tôi ngưỡng mộ nàng. Nếu tôi biết chắc rằng bản thân tôi chứ không phải đơn thuần là giọng hát của tôi khiến nàng ưa thích thì tôi sẽ là người đàn ông hạnh phúc nhất nước Anh đấy”.
“Tôi tin chắc rằng không phải là giọng hát của ông đâu”. Tôi nói.
“Cám ơn”. Anh ta kêu lên và tóm chặt tay tôi:
“Ông thật tốt khi nói như vậy. Nhưng tôi chẳng dám tự phỉnh mình cho là ông nói đúng đâu nhé. Tôi hầu như nghẹt thở mỗi khi nhìn nàng. Ông có biết rằng tôi đã không tài nào có đủ gan hát bản Serenade của Schubert từ khi nàng ngỏ ý đó là bản nhạc yêu thích của nàng”.
“Sao vậy nhỉ? Nàng không thích ông hát nó sao?”
“Tôi xin nói với ông, tôi không bao giờ dám hát nó trước nàng, mặc dù nàng luôn yêu cầu tôi. Tôi phát ghen lên với cái giai điệu chết tiệt ấy. Nhưng tôi nguyện làm tất cả để nàng vừa lòng và tôi định làm nàng bất ngờ vào ngày mai, tại phòng khách của bà Locksly. Tôi đã học và tập tành cật lực như trâu bò để hát được bản Serenade với phong cách hạng nhất. Nếu có gặp nàng, ông chớ hé môi một lời nào đấy nhé. Đó phải là một điều bất ngờ”.
“Tôi tin chắc ông sẽ làm nàng kinh ngạc”. Tôi nói, hớn hở bởi ý nghĩ rằng anh ta sẽ chậm chân hẳn một ngày. Tôi biết nếu đem so sánh, thì với nét rười rượi ngọt ngào, với sự ngăn đe thẳm tối, với sức mạnh tiềm ẩn sâu xa, thứ nhạc cụ tôi đang mang đây sẽ hơn đứt giọng anh ta và sẽ hứa hẹn là một diễn viên tài ba. Chúng tôi chia tay; tôi thấy anh ta đi vào nhà Linda.

Vài phút sau tôi đã ở trong vườn, quan sát họ từ chỗ của tôi, lúc này đã chìm vào bóng tối. Họ ngồi ngay bên cánh cửa sổ mở toang. Câu chuyện của họ không vọng được đến tai tôi. Tôi cho là anh chàng kia sẽ chẳng bao giờ ra về. Đêm se lạnh; chỗ tôi đứng lại ẩm ướt. Mười giờ - mười giờ mười lăm phút - mười rưỡi - Tôi đã định bỏ ra về. Nếu không có Linda chơi vài bản nhạc làm giảm bớt sự đơn điệu có lẽ tôi đã hết chịu nổi. Cuối cùng họ cũng đứng lên, và lúc này tôi đã có thể nghe rõ tiếng họ.
“Vâng”, nàng nói. “Đã đến lúc ông phải về rồi”. Tôi hết sức đồng ý với nàng! - “Nhưng lẽ ra ông phải hát khúc Serenade mới phải. Tôi đã chơi ba bản nhạc hầu ông còn gì?”.
“Tôi đang bị cảm ghê quá”, anh chàng nói. “Quả thực là tôi không thể. Chúc cô ngủ ngon nhé”.
“Thật vở vẩn! Ông chẳng hề có triệu chứng bị cảm. Thôi không sao! Tôi sẽ chẳng bao giờ yêu cầu ông nữa đâu. Chúc ngủ ngon, ngài Porcharlester”.
“Đừng ác với tôi thế, anh ta nói, “Có lẽ cô sẽ được nghe tôi hát chóng hơn là cô nghĩ đấy”.
“A, ông nói đấy ngụ ý. Chóng hơn là tôi nghĩ! Nếu ông muốn làm tôi ngạc nhiên thì tôi sẽ tha thứ cho ông đấy! Tôi mong sẽ gặp lại ông tại phòng khách nhà bà Locksly ngày mai nhé!”
Anh ta tán thành, rồi vội vã bỏ đi, tôi cho rằng vì anh ta sợ sẽ buột mồm tiết lộ ra kế hoạch của mình. Khi anh ta đi khuất nàng tiến về phía cửa sổ và ngước nhìn lên những vì sao. Chằm chặp ngắm nàng, tôi quên mất cả lòng kiên nhẫn: hai hàm răng bỗng run lập cập. Tôi nhấc cây kèn co khỏi túi xách.

Nàng thở dài; đến sát bên cửa sổ; và buông bức rèm trắng. Chỉ có bóng cánh tay nàng vươn ra như thể nàng làm vậy là để thúc giục tôi thể hiện mau những nỗ lực trước đó của mình. Nàng ngồi xuống để tôi nhìn thấy bóng ngồi nghiêng của nàng. Giờ của tôi đã điểm. Cả Công viên Park Lane tĩnh lặng như tờ.
Những chuyên động từ phố Oxford Street dường như cũng trở nên xa xăm không làm ai rối trí.
Tôi bắt đầu. Vừa nốt đầu tiên tôi thấy nàng đứng dậy và lắng nghe. Khi đoạn nhạc dài đủ khiến nàng nhận ra tôi đang chơi bản nhạc nào, nàng đặt cuốn sách xuống. Miệng cây kèn co giống như băng giá.
Đôi môi tôi buốt lạnh vụng về, đến mức dù chuyên chú hết sức vẫn hơn một lần tôi bị quấy rối bởi những âm thanh ùng ục vụng về mà những nhạc công lão luyện nhất cũng ít khi tránh được. Tuy nhiên, cho rằng căng thẳng, tôi trấn tĩnh lại được chút ít. Tiếp tục một cách tự tin hơn, tôi đã phần nào chuộc lại được sự chệch choạc ban đầu bằng cách chơi những nhịp cuối một cách trịnh trọng, uy nghi, và thậm chí đã đạt được độ rung kha khá ở nốt áp chót.
Khi tôi kết thúc trên đường phố vang lên tiếng cổ vũ, cho tôi thấy một đám đông đã tụ tập ở đó, và việc rút chạy tức thì là đương nhiên rồi. Tôi nhét cây kèn co trở lại túi du lịch và định chuồn khi đám đông vẫn túm tụm. Khi tôi chăm chăm tìm bóng Linda trên bức rèm che thì thấy nàng đang viết. Tôi nghĩ, có thể nàng viết cho tôi chăng? Nàng đứng lên; và bóng tối trùm lên cửa sổ khiến tôi không thể nhìn rõ cử động của nàng. Tôi nghe thấy tiếng chuông reo. Một phút sau cửa nhà bật mở. Tôi lùi vào sau chậu cây lô hội, nhưng nhận ra gã hầu tay trong, tôi khẽ huýt sáo gọi gã. Gã đi phía tôi, tay cầm một phong thư. Trống ngực tôi đập mạnh khi nhìn thấy nó.
“Thôi được, thưa ngài,” gã nói, “Cô Linda sai tôi đưa ngài cái này, nhưng xin ngài hãy mở khi đã về đến nhà”.
“Vậy cô ấy biết tôi là ai sao?” Tôi khao khát hỏi.
“Tôi cho là như vậy, thưa ngài. Khi nghe thấy tiếng chuông cô ấy gọi, tự tôi phải lên ngay đấy. Rồi cô ấy bảo: “Anh sẽ thấy một quý ông ở đâu đó trong vườn. Đưa cho ông ta tờ giấy này; và xin ông ta ra về ngay cho. Ông ta không được đọc thư ở đây”.
“Có đám đông nào ngoài kia không?” “Đi cả rồi ạ, thưa ngài. Chúc ngài ngủ ngon.”

Tôi chạy về con đường Quảng Trường Hamilton, gọi một chiếc xe ngựa. Mười phút sau tôi đã ở trong phòng làm việc của mình. Tay run rẩy tôi mở lá thư. Nó không nằm trong phong bì mà chỉ được gập làm ba và gấp góc lại. Tôi mở ra đọc.

Park Lane, 714, thứ sáu.
“Ngài Porcharlester thân mến”…
Tôi ngừng đọc. Nàng cho rằng buổi trình diễn vừa xong là của anh ta ư? Ngay lập tức, một câu hỏi quan trọng hơn loé lên, là tôi có quyền đọc lá thư không phải gửi cho mình không. Sự tò mò và tình yêu đã thắng thế. Lá thư tiếp tục như sau.
“Tôi thật tiếc rằng ông đã không thấy gì trong trí tưởng tượng của tôi về bản Serenade của Schubert ngoài duyên cớ để nhạo báng. Có thể trí tưởng tượng ấy là thái quá. Nhưng tôi đã không thổ lộ nó với ông nếu như không tin rằng ông có đủ khả năng hiểu nó. Liệu ông có thấy chút gì hài lòng không khi biết rằng ông đã cứu tôi hoàn toàn thoát khỏi cái bản Serenade ấy, xin hãy tin rằng, tôi sẽ không bao giờ nghe lại bản nhạc ấy với một cảm giác pha trộn kỳ quái giữa nỗi đau và sự bỡn cợt như thế này nữa. Tôi không hề biết rằng giọng người thường lại có thể phát ra được thứ âm thanh như vậy; tôi thiển nghĩ khi ông hứa hẹn sẽ cho tôi nghe giọng hát của ông chóng hơn là tôi mong đợi, có nghĩa là ông ngụ ý đến cuộc trình diễn này đây. Tôi chỉ còn biết thốt lên một lời này mà thôi: Adieu! [42]. Tôi cũng không có hân hạnh gặp lại ông vào ngày mai tại phòng khách của bà Lochsly bởi lễ đính hôn của tôi không cho phép tôi có mặt tại đó. Cũng chính vì lý do này tôi cũng chẳng còn cơ hội nào tiếp kiến ông trong mùa diễn này.
Người bạn chân thành của ông.
Linda Fitznightingale.

Tôi cho rằng nếu chuyển lá thư này cho Porcharlester chỉ càng làm cho anh ta thêm đau khổ một cách vô ích. Tôi cũng cảm nhận rằng ông thày kèn co của tôi thật có lý, tôi không có chút khiếu nào trong cái khoản kèn co Pháp này. Thế là tôi bỏ luôn.

Linda giờ đây đã là vợ tôi. Thỉnh thoảng tôi có gạn hỏi nàng, vì sao cứ một mực cắt đứt quan hệ với chàng Porcharlester đến vậy, dù anh ta cam đoan lời thề danh dự của một sĩ quan, một gentleman, rằng không mảy may có ý làm phiền lòng nàng.

Linda luôn từ chối thoả mãn tính hiếu kỳ của tôi.

LINH TÂM dịch.

[40] Schubert (1797-1828) - Nhà soạn nhạc Áo.
[41] Guinea: tiền vàng Anh cổ = 21 silinh.
[42] Tiếng Pháp - Vĩnh biệt!

** Nana Mouskouri - Serenade de Schubert
https://www.youtube.com/watch?v=5mLh-du29Oc

** Dạ khúc (SERENADE - Franz Schubert) - Thái Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=sDR-HxMAVXg
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeWed Oct 25, 2017 12:24 am


Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel P_89065188169.white
Patrick White (1912-1990) là người Úc đầu tiên được trao giải Nobel Văn học (1973) vì những tác phẩm có nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc và bút pháp sử thi, nhờ đó đã mở ra một châu lục văn chương mới.
Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “The Tree of Man”, “The Vivisector” và “Voss”… Trong đó, tiểu thuyết Voss (1957) được đánh giá là tác phẩm hay nhất của P. White, thông qua cái chết của một nhà thám hiểm nói về cuộc vật lộn giữa lòng kiêu hãnh và sự nhẫn nhục của con người.

Đồng Dollar bất hạnh _ Audio Truyện Ngắn Chọn Lọc
https://www.youtube.com/watch?v=I3m3ar8Cy9Q

ĐỒNG ĐÔLA BẤT HẠNH
Patrick White
(Nobel 1973)


Tôi gọi điện thoại cho Hâysen Kinchơ xem có phải ông ta định đi vào thành phố không.
- Có, sẽ đi! Ông ta trả lời với một giọng khô khan, lạnh lùng.
- Tôi có việc cần phải giải quyết ngoài ấy. - Tôi trả lời và tỏ ý cho ông ta biết là tôi sẽ rất thích nếu được đi cùng xe với ông ta.
- Được ta có thể đi cùng.
Tôi biết Hâysen Kinchơ sẽ chẳng bao giờ đồng ý đi với bất kỳ ai quanh đây và chịu chấp nhận một điều gì tương tự như thế.
- Mười phút nữa tôi sẽ có mặt ở chỗ anh.
Tôi vội vàng mặc quần áo và chạy tới nhà ông ta.

Mùa đông năm nay ở chỗ chúng tôi lạnh khủng khiếp. Từ cửa sổ của nhà tôi có thể nhìn rõ cái vịnh lớn của con sông đóng băng trải dài mười ba dặm, từ phía nam lên phía bắc. Mọi người có thể đi xe trượt trên mặt sông đã đóng băng tới những đảo xa. Ô tô đuổi nhau trên con đường trước kia tàu thuỷ vẫn chạy. Tuyết trắng phủ kín hai bờ sông. Chỉ có màu xám của cây cối nổi bật trên nền trắng của một miền tuyết phủ.

Như tôi đã nói, xung quanh đây có lẽ chẳng ai được Hâysen cho đi nhờ xe bao giờ. Thậm chí trên thế giới này cũng chẳng có ai bao giờ được hưởng một cử chỉ thân thiện nào của ông ta. Đó là một người keo kiệt và cô độc hiếm có. Loại người như ông ta có lẽ chẳng bao giờ có chỗ đứng trong một xã hội công bằng.

Nhưng Hâysen Kinchơ không những sống đầy đủ, mà có thể nói, ông ta chết đuối trong sự giàu có của mình. Cũng chính vì thế mà tôi muốn biết rõ hơn về ông ta. Ông ta có một sức hấp dẫn kỳ lạ, một sức mạnh đặc trưng cho những người dũng cảm đi trên dây qua sông Nilagara hay nhào lộn trên không.

Những người mà ngắm nhìn họ, chúng ta thấy sợ hãi đến tim ngừng cả đập, chúng ta lo sợ cho cuộc sống của họ và không muốn nhìn thấy họ rơi xuống chết. Đôi khi tôi có cảm tưởng là Hâysen đoán biết được những ý nghĩ của tôi về ông ta. Chẳng có bằng cách nào, ông ta trông có vẻ chân thành một cách trơ tráo, có lẽ quan hệ của tôi với ông ta đã làm ông phấn khởi chăng? Tôi cho rằng tôi là người duy nhất trên thế giới này được ông ta tin như thế.
Hâysen là người đã có tuổi, thấp và gầy đét.

Tôi tới đúng lúc ông ta thắng yên cương cho ngựa trong chuồng. Đó là một con ngựa cái nhanh nhẹn và tuyệt đẹp nhưng nó rất sợ ông chủ và căm thù ông ta nữa. Tôi nhận thấy điều ấy qua ánh mắt dè chừng của nó. Không nhìn tôi, Hâysen nói to:
- Đóng cửa lại. Không thấy lạnh à? Đồ quỷ tha ma bắt!
Tôi đóng cửa và nhìn thấy trong chuồng cũng khá ấm áp.
- Tuyết sẽ rơi đấy, - tôi nói - Tôi tin rằng với thời tiết như thế, chắc anh sẽ không đi vào thành phố nữa chứ ông ta cười nhếch mép và cắt ngang lời tôi:
- Chẳng lẽ tuyết làm thay đổi thời tiết sao? Làm sao anh biết là tuyết sắp rơi?
- Trời tối sầm lại và có vẻ ấm lên chút ít...
- Tôi không chịu thua tuyết đâu. - ông ta cười mỉa mai. Tôi có cảm giác là ông ta đang theo dõi nét mặt của tôi. - Mở hộ tôi cái cửa!
Ông ta dắt ngựa ra rồi dựng lại trước bếp.
- Ta vào trong uống chút gì cho ấm người đã.
Tôi đi theo Hâysen vào bếp. Ở đó vợ và con của ông ta đang quấn quýt bên nhau. Người vợ là một phụ nữ có thân hình thon thả, nước da tai tái và sợ chồng đến chết khiếp. Các điền chủ xung quanh đây vẫn kể với nhau rằng Hâysen lấy bà về để bù vào món nợ mà bố bà ta không trả được.
“Lần ấy tôi hiểu rằng đó là thời gian tốt nhất để lấy vợ,” Hâysen vẫn thường nói như vậy.

Đứa con trai nhỏ ngồi trên sân. Người vợ chuẩn bị nước giải khát bằng sữa, trứng và rượu rum. Khi chúng tôi uống xong, Hâysen quỳ xuống trước mặt đứa con. Trong mắt đứa bé toát lên cái gì đó có vẻ căm thù. Đấy là một đứa bé tàn tật. Hàng xóm vẫn bàn tán thà rằng nó chết đi có lẽ đỡ khổ hơn. Nhưng Hâysen yêu con một cách đặc biệt. Ông ta âu yếm bế con trên tay. Thằng bé chỉ trợn tròn đôi mắt nhìn, rồi khóc ré lên khi người mẹ tiến đến gần.
- Cút đi! Cô đừng có quấy rầy chúng tôi...
Người vợ lùi lại và Hâysen chỉ tay vào đứa con, nói một cách huênh hoang:
- Một thằng bé tuyệt diệu, phải không?
Chẳng có ai trả lời ông ta. Hâysen gầm gừ cái gì nghe không rõ trong cổ họng và chơi với con một lúc nữa. Sau đó ông ta đặt con xuống nhà và ra lệnh cho vợ:
- Cô trông lấy nó !
Người vợ gật đầu một cách sợ hãi, đôi mắt lộ rõ nỗi đau khổ và khuất phục.

Chẳng thèm chia tay vợ, ông ta đi ra khỏi bếp.
Tôi theo Hâysen ra ngoài. Chúng tôi ngồi vào xe trượt và lấy chăn trùm lên người. Phía trước chúng tôi là chặng đường khá dài, những sáu dặm trên tuyết. Cơn bão tuyết tới gần.
Hâysen lập tức hiểu ngay tôi nghĩ gì khi thấy tôi nhìn ông ta:
- Bão tuyết tôi cũng không sợ, - ông ta nói khẽ và nhếch mép cười.

Tôi biết rõ rằng chả mấy chốc bão tuyết sẽ đuổi kịp chúng tôi. Tiếng rạn nứt lạo xạo của mặt tuyết đã đóng băng đổ dài theo vó ngựa. Xe trượt lướt trên mặt băng phát ra những âm thanh kỳ quặc.
Chúng tôi đi vòng quanh hàng rào rồi hướng về phía thung lũng đằng xa. Chúng tôi dừng lại trước cửa ngôi nhà cũ của Râyboóc cho ngựa nghỉ ngơi. Ngôi nhà đã lâu không có người ở, cửa khoá chặt. Những cánh cửa sổ được giữ chặt bằng các thanh gỗ đóng đinh chắn ngang.
- Đó là một gia đình xấu xa, bỉ ổi và ngu ngốc. - Hâysen gầm gừ giơ roi ngựa chỉ vào ngôi nhà.
Con trai cả của gia đình Râyboóc thì tôi biết. Đó là một con người tuyệt diệu. Một lần vào mùa thu, anh ta thu hoạch táo chẳng may bị ngã từ trên cây xuống chết. Vợ anh ta muốn làm ăn tiếp tục nhưng đã không cẩn thận vay tiền của Hâysen. Nhờ thế mà ông ta chiếm được cả trang trại này. Tất nhiên đấy không phải trường hợp tội lỗi duy nhất của Hâysen chứ.

Gió đã bắt đầu rít lên. Trên đường xuất hiện thêm nhiều đống tuyết bị đóng băng. Khi đi qua một đống tuyết to lên đến đỉnh thì chiếc xe bị nghiêng và cả hai chúng tôi ngã xuống. Con ngựa sợ hãi hí lên, nhưng Hâysen vẫn cầm chắc dây cương. Chúng tôi rũ tuyết, kéo xe trượt từ trong đống tuyết ra, thắng ngựa, rồi tiếp tục lên đường. Gió rét nổi lên mạnh hơn nữa. Mặt trời lúc nãy còn chiếu, giờ đã bị mây đen che kín.

Trước khi đi tiếp, Hâysen tiến lại gần con ngựa. Thông thường khi giận dữ người ta đánh hay mắng con vật. Nhưng Hâysen thì khác hẳn. Ông ta nắm chặt hai tai ngựa xoáy mạnh làm con vật đáng thương vặn cả người và cúi đầu sát tận đất. Đặc biệt ông ta không hề nói một câu nào.
Con ngựa vùng vằng giận dữ. Lúc này Hâysen mới lấy roi quấy túi bụi vào đầu gối con vật. Sau đó ông ta lại túm lấy tai ngựa vặn và nói:
- Bây giờ chắc mày sẽ không đi nhầm đường nữa. Nói xong ông lên ngồi cạnh tôi. Tôi im lặng. Tôi có thể can thiệp, nhưng có gì đấy nhắc tôi không nên dính vào. Con ngựa đi có vẻ khập khiễng. Song Hâysen thúc nó đi không thương tiếc. Càng bị thúc ngựa càng đi chậm, nên khi chúng tôi tới được văn phòng của Hâysen thì tuyết đã rơi phủ kín mọi nơi.
Tôi chia tay với Hâysen trên bậc thềm rồi đi vào phố giải quyết việc riêng.

Đi một quãng xa tôi nghe thấy Hâysen nói to:
- Ba giờ quay lại đây nhé!
Tôi gật đầu, tuy biết rằng ngày hôm nay chúng tôi không thể quay trở về được. Giải quyết xong mọi việc, tôi đi đến chuồng ngựa của nhà trọ xem tình hình con ngựa. Máu chảy ri rỉ từ chỗ sưng phồng ở đầu gối nó. Bên cạnh bão tuyết nổi lên càng mạnh hơn. Chủ nhà trọ nhổ nước bọt và nói:
- Chân ngựa sưng to lắm. Ngày hôm nay chắc chắn các anh không về nổi đâu.
- Tôi biết thế - tôi trả lời.
- Đồ man rợ - chủ nhà trọ chửi đổng, nhưng tôi biết là ông ta ám chỉ Hâysen.

Trước ba giờ, tôi đã có mặt ớ văn phòng của Hâysen. Đó là một căn phòng sát mái, tối tăm và lạnh lẽo. Ở vào địa vị như thế, Hâysen thừa khả năng có một địa điểm xứng đáng hơn. Khói từ lò sưởi bốc lên mù mịt đến khó thở. Trong phòng chẳng có gì để thông gió. Đồ đạc trong phòng chỉ có một cái bàn, hai cái ghế tựa và một cái két sắt chắc chắn đứng ở góc nhà. Hâysen tin rằng cất tiền ở đây là chắc chắn, còn tôi thì nghĩ chỉ cần tuốcnơvít thông thường cũng mở được.
Tôi gặp Hâysen ở bậc thềm. Nhận ra tôi, ông ta càu nhàu vẻ khó chịu:
- Tôi đi gọi điện thoại một tí. Đường nghe đâu không thể đi nổi.
Hâysen không có điện thoại trong phòng. Mỗi khi cần, ông ta lại xuống nhờ máy của cửa hiệu ở tầng mặt đất. Ông ta giữ thói quen ấy và chẳng bao giờ chịu thay đổi.
- Tôi sẽ đợi trong văn phòng. - Tôi trả lời Hâysen.
Vừa bước vào phòng, tôi vội đến che miệng lò sưởi và tìm cách thông gió. Nhưng chiếc cửa sổ duy nhất đã được đóng chặt bằng đinh. Một lúc sau Hâysen quay lại ...
- Quỷ tha ma bắt những đống tuyết ấy đi? - Hâysen nói với giọng bực tức. - Đường dây không liên lạc được.
- Đường dây nào?
- Điện thoại. Tới trại...
- Anh muốn báo tin rằng...
- Rằng ngày hôm nay tôi không trở về nhà được. Anh sẽ ngủ lại khách sạn.
- Còn anh thì không ư?
- Tôi ngủ ở đây. - ông ta cắt ngang.
Tôi nhìn lại căn phòng một lần nữa. Giường không có, chỉ có hai chiếc ghế tựa. Hâysen đoán được ý nghĩ của tôi.
- Tôi vẫn thường ngủ ở đây, tất nhiên là trên sàn.
Quan tâm đến suy nghĩ bên trong của Hâysen, tôi hỏi:
- Anh định báo cho vợ biết là anh không về chứ gì?
- Ồ, đời nào. Tôi muốn hỏi xem sức khoẻ của thằng bé ra sao...

Có tiếng chân bước thận trọng lên cầu thang.
Hâysen theo dõi và căng mắt nhìn ra cửa. Người đi lên đứng lại trong hành lang tối, chắc là đang tìm nắm đấm cửa. Cánh cửa bỗng mở, và Đin Mácsay bước vào. Nhà của ông ta nằm bên cạnh trại của Hâysen. Đin sống với vợ và năm đứa con trong một ngôi nhà nhỏ được ngăn cách với chuồng ngựa bằng hàng rào gỗ. Gia đình ông ta nghèo và sống vô cùng vất vả, mặc dầu phải làm việc từ sáng đến tối. Đin gầy như cò hương, cổ dài ngoẵng, hai gò má nhô cao, bộ ria phủ kín cả môi trên. Ông ta có đôi mắt chân thành, thật thà nhưng mệt mỏi.
Đin dừng lại trước cửa, hai mắt nhấp nháy, từ từ cởi chiếc khăn quàng cổ đã rách ra. Hai tay đi găng vẫn để nguyên.
- Vào nhanh lên ! Anh nghĩ tôi có lò sưởi ở đây để sưởi ấm cho cả thành phố chăng?

Đin đập đập gót chân vào nhau và đóng cửa lại.
- Xin chào ông Kinchơ, - ông ta cười gượng gạo và sợ hãi nhìn chủ trại.
- Anh muốn gì? - Hâysen hỏi, không thèm chào lại - Anh muốn trả tiền lãi hả?
- Vâng, thưa ông Kinchơ. Nhưng bây giờ tôi không thể trả hết được.
- Lại vẫn bài hát quen thuộc! Thế thì bao nhiêu? - Hâysen hỏi một cách giận dữ.
- Mười một đô la và năm mươi xu...
- Anh nợ hai mươi cơ mà!
- Tôi sẽ trả nốt khi nào gà nhà đẻ trứng.
Hâysen phá lên cười mỉa mai:
- À? Thế là quá kéo dài. Nếu như trang trại của anh đáng giá vài đồng tiền rách thì tôi đã tống cổ anh ra khỏi đó từ lâu rồi, thằng già đểu cáng ạ.
- Xin ông rủ lòng thương, ông Kinchơ. Tôi sẽ trả đến đồng xu cuối cùng. Đin trả lời một cách van xin, cầu khẩn.
Hâysen đặt tay xuống mặt bàn:
- Đồ nói dối! Nào hãy đặt lên bàn xem có bao nhiêu. Cuối tháng này là anh phải trả hết nợ.
Mácsay tiến lên gần bàn. Tôi ngồi cạnh lò sưởi.

Đôi mắt cận thị của Mácsay nhìn Hâysen rồi nhìn tôi. Dễ thấy là ông ta toàn thân lạnh cóng. Ông ta tháo găng tay, và lúc đó hiện rõ đôi tay sần sùi tím ngắt.
Đặt găng tay lên bàn, Mácsay rút từ túi chiếc áo khoác rách ra cái túi nhỏ đựng thuốc lá. Lắc lắc trong túi, Mácsay móc tiền ra. ông ta vừa đặt hai đồng năm mươi xu lên bàn là Hâysen lập tức vồ lấy ngay. Từ trong túi rơi ra một cái gì đấy. Chắc chắn là tờ giấy bạc. Tôi muốn nhắc cho Mácsay biết thì Hâysen đã dùng lòng bàn tay che lại rồi từ từ kéo về phía mình. Khi Hâysen nhấc tay lên thì tờ giấy bạc cũng không còn ở đấy nữa.
Mácsay móc những tờ giấy bạc cũ nát còn lại đưa cho Hâysen, Hâysen tính rất nhanh:
- Mười một đô la và năm mươi xu, đúng rồi. Đợi tí, tôi sẽ viết giấy chứng nhận cho anh. Đừng quên là anh phải trả hết nợ cuối tháng đấy nhé ...
Mácsay thẫn thờ nhìn Hâysen viết giấy chứng nhận. Cất túi thuốc lá vào túi áo khoác, Mácsay đứng chờ. Hâysen xé đôi tờ giấy đưa cho con nợ một nửa.
- Cám ơn ông, - Mácsay khẽ nói.
Hâysen gật đầu.
- Đừng có quên đấy nhé. - Hâysen nhắc lại lần nữa.
- Tôi sẽ cố gắng, thưa ông Kinchơ.
Mácsay quay người đi ra.

- Anh ta đánh rơi cái gì trong túi ra đấy? - Tôi hỏi.
- Một đô la. Thằng ngốc, nó mất một đô la...
- Anh có trả lại cho anh ta không ?
Hâysen cười ngất:
- Sao? Của cải của mình mà không biết giữ gìn, tôi phải trả lại cho nó ấy à? Nó sống khốn khổ như vậy là vì thế...
- Nhưng đồng đô la ấy là của anh ta.
- Hắn nợ tôi nhiều hơn thế nhiều.
- Thế cũng được, nhưng anh sẽ ghi thêm một đô la vào số tiền trả rồi.
- Thế anh cho tôi là thằng ngu à?
- Anh ta có thể buộc anh vào tội ăn trộm, - tôi nói mặc dù biết sẽ chẳng làm cho Hâysen nao núng.
Tôi thấy rõ tôi đã đem lại niềm vui cho Hâysen khi tôi tỏ ý kinh tởm về ông ta.
- Nếu như hắn không là thằng ngốc thì hắn đã không trả tám mươi đôla tiền lãi hàng năm vì nợ bốn trăm đôla. - Hâysen trả lời với giọng kẻ chiến thắng.
Tôi tò mò không hiểu anh ta có quay lại không khi biết mất tiền.
- Ngoài ra, hắn còn nói dối tôi nữa. Hắn nói có mười một đô la và năm mươi xu thôi mà. - Hâysen tiếp tục. Sau đó Hâysen cúi xuống viết cái gì đó trên bàn.

Tôi vẫn ngồi chăm chú theo dõi. Bỗng tôi nghe tiếng chân trên cầu thang.
Mácsay bước vội vào phòng với nét mặt hốt hoảng, ông ta chăm chú nhìn lên sàn, nhìn tôi, nhìn lên bàn rồi nhìn Hâysen.
- Tôi đánh mất một đôla, - ông ta nói. - Chắc chắn là tôi đánh rơi nó trong phòng này.
Hâysen cau mặt.
- Rõ ràng anh chỉ có mười một đôla và năm mươi xu.
- Đó không phải là đồng đôla của tôi...
- Anh nghĩ là tôi tin anh à? Ai có thể đưa cho anh một đôla? Có nghĩa là lúc nãy anh lừa dối tôi?
- Không phải tiền của tôi. Mácsay nhắc lại. Tôi phải mua thuốc hộ người khác.
- Thế anh nghi cho tôi ăn cắp của anh phải không?
Mácsay buông thõng tay một cách bất lực.
- Không, không, làm sao tôi dám nghi như thế được - Mácsay nhìn quanh một lúc rồi lắp bắp. Có thể là tôi đánh rơi ở chỗ khác...
Mácsay quay người và cúi đầu ủ rũ đi ra. Hâysen nhìn tôi, nở nụ cười đắc thắng.
- Anh đã thấy chưa ? - Ông ta nói.

Tôi rời khỏi văn phòng đi về khách sạn. Dọc đường tôi ghé qua hiệu thuốc mua ít thuốc ngủ.
Mácsay đang đứng cạnh quầy nói chuyện với người bán thuốc.
Bỗng tôi nghe thấy người bán hàng trả lời:
- Tôi không thể giúp anh được đâu, Mácsay ạ. - Bao nhiều lần anh không trả tiền tôi rồi...
- Biết làm thế nào bây giờ khi anh không tin tôi.
Mácsay buồn rầu nói rồi bỏ đi.

Nằm mãi trong khách sạn, tôi không tài nào ngủ được Tôi luôn nghĩ đến Hâysen.
Sang ngày thứ ba, bão tuyết đã tan. Tôi gặp Hâysen ở bưu điện.
- Chúng ta đi chứ ? - Ông ta nói.
- Có đi nổi không?
- Chắc chắn là có. - Ông trả lời và cười vui vẻ.
- Tại sao anh lại vội vã như vậy?
- Chẳng sao cả. Tôi nhớ thằng bé quá.

Khi chúng tôi lên đường thì con ngựa vẫn còn khập khiễng. Nhưng đi được chừng hai ba dặm, nó bắt đầu phi nước đại. Như mọi lần, sau cơn bão tuyết mặt trời chiếu sáng. Ánh sáng chiếu xuống nền tuyết trắng xoá phản chiếu lại chói chang. Cành cây hàng rào, đường dây điện... tất cả đều phủ một lớp tuyết mỏng. Rừng thông dưới thung lũng xanh thẫm, trông từ trên cao xuống giống như một bàn cờ tây ô trắng ô đen chen nhau. Dọc đường, Hâysen kể nhiều về đứa con. Còn tôi chỉ im lặng.

Khi dừng lại trước nhà, Hâysen vui vẻ mời tôi.
- Nào, chúng ta hãy vào nhà làm miếng gì cho ấm người đã. Để xem chàng công tử của tôi đang làm gì.
Tôi theo Hâysen vào nhà.
Mùa đông, bếp của Hâysen cũng là nhà ăn, và phòng ngủ, vì ông ta rất tiết kiệm củi đốt lò sưởi.

Bước vào nhà thì thấy vợ Hâysen từ giường nhổm dậy. Tôi không thể nhận ra chị ta nữa. Trông chị ta thiểu não, rũ rượi đau khổ.
- Chúng ta đã ở nhà. Con đâu? - Hâysen nói giọng oang oang.
Vợ nhìn chồng và bỗng môi rung rung. Chị mơ mộng mấp máy không ra lời rồi lại mím môi lại.
Cố gắng lắm mãi sau chị Mácsay mới nói được.
- Con... chết rồi...
Trong bếp sự sống như ngưng lại. Tôi nhìn lên thân hình thấp lùn của Hâysen, lúc này tôi có cảm giác là ông ta còn lùn thêm nữa. Mặt ông ta xám ngắt như người chết. Chỉ có các thớ thịt trên má khẽ động đậy.
- Con đâu! - Hâysen hỏi với giọng người cúm.

Người vợ nhìn lên giường. Hâysen nhìn theo vợ.
Bước mấy bước loạng choạng tới gần giường chúng tôi nhìn thấy thân hình co quắp của đứa bé. Chắc chị ta nằm ôm sưởi ấm thằng bé cho tới tận lúc chúng tôi về. Chiếc giường ngổn ngang chăn gối nhàu nát, chứng tỏ chị ta đã trải qua một tấn thảm kịch lớn.
Hâysen ngắm nhìn con, nhưng không động vào người nó. Ông ta giận dữ nhìn vợ.
- Em đã làm tất cả những gì em có thể.
- Cô đã làm những gì? - Ông ta hỏi.
- Con bị ho, - người vợ trả lời. - Em biết là con bị sưng phổi. Anh còn nhớ... em đã bảo anh mua thuốc cho con, nhưng anh nói là không cần, rồi con sẽ khỏi. Người vợ tiến tới cửa sổ.
- Em đã nhờ vợ Mácsay giúp đỡ. Cách đây không lâu con chị ấy cũng bị sưng phổi. Chồng chị ấy có việc phải đi vào thành phố. Chị ấy hứa là sẽ mua hộ thuốc. Em không dám nói là cho con chúng ta. Vì như thế chắc họ sẽ không mua hộ. Em có đưa cho chị ấy một đôla. Ngày hôm qua Mácsay trở về. Lúc đó tình hình của con đã rất nguy kịch. Em tới ngay nhà họ hỏi thuốc, Mácsay chỉ nhìn em rồi nói là không có.

Người vợ im lặng một chút rồi nói tiếp:
- Khi Mácsay trở về cũng còn chưa muộn lắm, nhưng sau đó thì không còn kịp nữa rồi...
Trông Hâysen như hoá đá. Ông ta đờ đẫn nhìn căn phòng, sau đó dần dần hồi tỉnh lại. Chắc là ông ta đã cảm thấy mối liên quan gì đó.
- Tại sao hắn không mang thuốc về? - Hâysen hỏi thầm.
- Bác sĩ không muốn bán chịu cho anh ta.
Nét mặt của Hâysen trở nên nhúm nhó, hai tay giơ lên, Hâysen thét to:
- Còn tiền? Chuyện gì đã xảy ra với đồng đôla?
- Mácsay nói rằng anh ta... đánh mất... trong phòng của anh.

Lão keo kiệt loạng choạng ngã dựa vào bức tường.
Da ông ta trông như da ngỗng, và trên mặt ông ta in rõ những nét nhăn nhó kinh khủng. Ông ta mở to mồm và rú lên khủng khiếp.

ĐINH VIỆT TÚ dịch.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSat Oct 28, 2017 10:36 pm


Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 20596221_images1050775_Reymont-1
Wladyslaw Reymont (1867-1925), nhà văn Ba Lan được trao giải Giải Nobel Văn học 1924. Trước khi trở thành nhà văn, ông từng làm nhiều nghề khác nhau để sống: diễn viên sân khấu, phụ thợ may, công nhân, gác ba-ri-e đường sắt, thậm chí đã gọt tóc đi tu nên ông hiểu biết rất nhiều về những người cùng khổ trong xã hội.

SỐ PHẬN
Wladyslaw Reymont
(Nobel 1924)

 
Trời cuối thu, ẩm ướt và u buồn. Bầu trời thấp tè bởi những đám mây đen cuồn cuộn, giăng màn tang ảm đạm, nặng nề. Ngày tháng mười u ám, mịt mờ, run rẩy vì khổ đau; nỗi thất vọng nấc lên trong tiếng rít của gió, còn tiếng mưa tựa hồ tiếng rơi của những giọt nước mắt tuôn trào, không sao cầm nổi. Bởi bất kỳ nơi đâu trong tầm mắt ta chỉ nhìn thấy cảnh hoang tàn của làng quê, những vết tích tang thương của những cánh rừng bị tàn phá, những nhà thờ đổ nát, những gọng xương đen của những vườn cây ăn quả bị đốt trụi. Chiến tranh đã chà bàn chân sắt của nó lên khắp đất nước, khiến cho mọi miền trở thành một nghĩa địa khổng lồ, đây đó trồi lên những ống khói màu đỏ, nom y như những tấm bia mộ còn rỉ máu tươi. Thậm chí vẫn còn đó những bãi chiến trường nhơ nhuốc, tiêu điều, ngổn ngang những tàn dư ghê tởm của những cuộc giết chóc, những trận tàn phá và những đám cháy. Ngay cả đến khí trời cũng nồng nặc mùi xác thối và lửa thiêu. Trên xác người và trong cảnh hoang tàn cái chết đang cất lên bài ca đắc thắng của sức mạnh. Ở phía đằng đông vẫn còn thấy những cột khói đen ngòm cùng những ngọn lửa đỏ của những đám cháy. Những làng quê, những thành phố, những lâu đài ở nơi đó đang bị lửa thiêu và gió đưa về tiếng gầm mờ ảo, đơn điệu và ghê rợn của những cỗ đại bác dữ dằn. Còn trên con đường rộng chạy ngoằn ngoèo qua những cánh đồng mờ sương, những đoàn người hốt hoảng đang chạy trốn, nom tựa hồ một dòng bùn đen đang tuôn chảy. Người ta kéo những cỗ xe chất đầy đồ đạc và trẻ thơ, những con bò cái dắt theo bằng dây chão rống oang oang và những con chó lạc đường sủa não nùng. Dòng người chảy đi từ vùng ven, từ những bãi tro tàn và gạch vụn, từ những cánh rừng và những ngôi nhà ổ chuột, trông y như một đám rước dài vô tận, họ trốn đi mọi ngả, miễn sao chạy thật xa. Chốc chốc lại một đội kỵ binh phi ngựa vu vơ ập vào dòng người. Chốc chốc lại một chiếc xe ô tô vụt qua đường gầm rú điên loạn. Dân chúng chạy tản ra mọi hướng và lát sau, hiểm nguy qua đi, họ lại tiếp tục đi về phía trước. Họ còng lưng vác những bao đồ, họ mệt bơ phờ, họ rách, họ đói, họ bước đi trong cái im lặng ghê rợn, thê lương. Mặt  họ đanh lại vì mệt mỏi và tuyệt vọng. Có những con người chạy trốn đã hàng tuần nay mà chưa hề được nghỉ ngơi chốc lát, đầu óc họ chẳng còn tỉnh táo. Họ ngủ trong những hầm hào bỏ không, họ ăn bất cứ thứ gì ăn được, khi thì chút lương thực dự trữ còn lại, khi thì xác súc vật vừa tìm được, còn thường thì họ ăn những củ khoai tây hà thối, bới lên từ đất cóng.
 
Cơn lốc chiến tranh đã quét họ khỏi những căn nhà truyền đời và như những chiếc lá khô họ bị xua chạy về phía trước trong hoảng loạn vì sợ hãi. Bỗng nhiên, chừng như thây kệ làn sóng người không gì chặn nổi, một con chó to bự, to như chó sói, nom y hệt một con chó sói, lông màu hung, mịn màng, nanh to và đầu nhọn hoắt, vụt chạy khỏi đội hình đoàn người đang chạy trốn, nó sủa liên hồi, đoạn chạy ngược trở lại, người ta tưởng tự dưng nó sinh dữ tợn.
 
Chẳng ai biết con chó, chẳng ai giữ nó lại. Nó là con chó bị lạc, chẳng hiểu từ đâu. Mấy con chó khác rượt theo sau nó, nhưng một lát sau ngoan ngoãn quay trở lại. Còn nó lao đi như điên loạn. Một nỗi nhớ mạnh hơn tất cả mọi thứ đang kéo nó đi. Nó lao đi tìm làng quê của mình, chuồng của mình và những người chủ của mình. Chạy được một hồi nó ngồi lên ven đường, đôi mắt ngầu đỏ của nó ngó nhìn chung quanh. Mọi thứ đều lạ lẫm đối với nó: những cánh đồng nhơ bẩn xa lạ, những đống tro tàn và gạch vụn xa lạ, và bất thần nó vụt đứng dậy, chúi mũi xuống sát đất, lao thẳng về hướng đông, về nơi có chiến trận, từ đó tiếng đại bác vang vọng về và dân chúng vẫn đang đổ ra đi. Nó chạy ngang qua những cánh đồng mờ ảo, mịt mù.
 
Và ngày lại ngày nó uổng công đánh hơi tìm kiếm. Nó lùng sục khắp cả một vùng bán kính rộng tới vài dặm, nó bước chân trên mọi nẻo đường, nó đánh hơi ở mọi làng quê bị thiêu đốt, nó nhập vào những đoàn người đang đóng trại ở trong rừng, nó lang thang ở khu gần trại, nó đánh hơi khắp bãi chiến trường, nó bị ù tai vì tiếng đạn nổ và tiếng hô, tiếng thét, nó coi thường mọi hiểm nguy. Thảng hoặc một bàn tay nhân hậu bớt cho nó một mẩu bánh mì, còn thường thì nó bị người ta đá cho nó một phát khi nó sủa xin ăn. Nó gầy đi đáng sợ, nó trở nên man rợ, và vì đói lòng nó không chê bất cứ thứ gì ăn được.
 
Người ta đã nom thấy nó uống máu người, và do vậy thiên hạ nghĩ rằng, chắc còn ối chuyện khủng khiếp hơn thế, cho nên hễ nó toan xán lại gần người là gạch đá chào đón nó, gạch đá bay theo nó. Bởi thế nó khinh thường họ, nó tránh xa những làng quê thoát nạn. Nó chẳng buồn đến với lũ trẻ con gọi nó. Nó chỉ còn mải miết đi tìm chủ của mình. Và rồi nó bắt gặp dấu vết quen thuộc, nó nhận ra chính nó đã đi trên con đường này, đã chạy theo dân chúng, làng nó mạn trên, cách đây vài dặm. Nó sủa mừng và dồn hết sức lực còn lại lao đi. Nó nhớ trong đầu ngay phía bên kia quả đồi là làng của nó. Nó nhớ ở ngã tư đường có cây thánh giá dưới gốc mấy cây đại thụ, còn phía đằng sau là những dãy nhà màu trắng. Thế là nó lao về chỗ cánh đồng và ngồi ngẩn ra bên cây thánh giá: chẳng còn thấy cánh rừng bên kia sông, chẳng còn thấy ngôi nhà to cao giữa làng, thậm chí chẳng còn thấy những ruộng đồng nghiêng xuống lòng sông – chỉ thấy những đống gạch vụn, những bờ cát vàng dài vô tận, những vũng bùn, những ngọn cây trơ trụi trong những vườn cây ăn quả bị lửa đốt, gạch vỡ của những ống khói bị gẫy gục và bầy quạ đang nhẩy nhót trên những bãi hoang tàn và đổ nát. Những làn sương ẩm tựa hồ những mảnh giẻ rách quện chặt mọi thứ và rồi mưa đổ rào rào không ngớt. Dẫu mọi vật đã hoàn toàn đổi khác song con chó vẫn nhận ra làng của nó. Nó lùng sục từng xóm nhỏ, nó đánh hơi, nó sủa đổng, nó tìm kiếm trong những đống gạch vụn, ở từng góc sân, trong từng cái hố, nó lần theo từng dấu vết của con người mà vẫn không tìm ra chỗ từng có ngôi nhà chủ của mình. Cả làng tan hoang, đổ nát như vừa qua một trận động đất. Đâu đâu cũng thấy hàng dãy chiến hào sâu thẳm, những lưới dây thép gai, những đống gỗ, những đống gạch, những đống rơm mục nát, những dãy mồ nhấp nhô, những cây thánh giá màu trắng, những lò lửa đã lịm tắt từ lâu, những mảnh giẻ rách và những mảnh sắt kinh khủng còn dính máu người.
 
Nhưng chẳng ở đâu thấy dấu vết có người, ngay cả dấu vết của hầm trú ẩn cũng không. Con chó hoảng hồn. Nó ngồi cong lưng, chống hai chân, lông dựng đứng, đuôi khoanh tròn và sủa. Nó sủa dai não nùng và ghê rợn. Nó lao xuống bùn, bới đất bằng móng vuốt và nó rên ư ử vì nỗi đau không rõ nguyên do. Mấy con quạ theo dõi nó, khi thấy nó kiệt sức nằm thừ ra như đã chết chúng liền rời khỏi cây quệt mỏ, cất tiếng kêu, nhẩy về phía con chó.
 
Chúng chĩa mỏ nhọn, từ từ vây quanh con chó, nom chúng rất dữ tợn. Mấy con quạ bạo gan nhất giương móng vuốt bay lên; đàn quạ cánh đen, loài chim ăn thịt mỏ cong lúc này đã vây kín con chó; những tiếng quà, quà cụt lủn, khàn khàn mỗi lúc càng sát gần con chó bạc mệnh. Bỗng nó bật dậy và vụt chạy tới ngã tư có cây thánh giá, có những bụi cây gai và cỏ khô. Lũ quạ bay đuổi theo nó, rồi đậu trên cây thánh giá và những ngọn cây, kiên nhẫn đợi chờ. Con chó nằm sóng soài, kiệt sức và dường như nó khóc khi nó sủa nấc lên từng tiếng từ cổ họng. Một nỗi tuyệt vọng ngân lên trong tiếng sủa lúc này của nó. Nó chẳng thể lết đi được nữa, cái đói đang cào xé ruột gan nó. Nó chẳng còn nơi nào để mà tìm.
 
Thần chết đang lởn vởn trên đầu nó, cả đàn quạ đã đậu kín mấy bụi cây gai.
 
Những giờ đồng hồ dài dằng dặc đã trôi qua như vậy và khi thình lình có mùi nhà và mùi người bay vào mũi nó, nó nhẩy ra mặt đường, đoạn nó bò theo hướng có hơi người. Nó bắt gặp ở giữa làng, dưới đống gạch của bức tường nhà thờ bị đổ có mấy người nghèo đang nằm nghỉ. Một đống lửa lớn đang cháy ở đằng trước túp lều áp vào tường rào, dựng bằng những thanh gỗ và cành cây. Khoai tây nướng bốc mùi. Trên chiếc đệm rơm mấy đứa trẻ đang ngồi ôm lấy nhau, mấy người đàn bà ngồi quay mặt vào đống lửa, và một ông già đang dùng que sắt bới ra khỏi đống lửa những củ khoai tây nướng, đoạn lão quẳng cho mấy đứa trẻ và cả lão nữa cũng ăn ngấu nghiến. Con chó bò lại chỗ đống lửa, sủa nhỏ nhẹ.
-  Cút đi! - lão già quát lớn, giương cao thanh sắt dọa con chó.
 
Con chó nhảy sang bên, tuy nhiên cái đói cồn cào ruột gan và yêu cầu không cưỡng nổi là được đến với con người kéo nó trở lại. Thậm chí nó chẳng sủa, con chó ứa lệ van xin cho nó một chỗ bên đống lửa, van xin một lời nói ân huệ của con người. Lúc này lão già nhìn con chó bằng cặp mắt lạ kỳ đến nỗi khiến nó đứng sững lại, rồi nhìn thẳng vào mắt lão với vẻ nghi ngờ.
-  Này, chú chó cưng của ta ơi. Đừng sợ, đồ ngu – lão nói vỗ về, đoạn quẳng cho con chó miếng mồi khoai tây, cùng lúc đôi mắt đói của lão nhìn vuốt theo tấm lưng to của con chó. Chừng như thấu hiểu cái nhìn thèm thịt của lão, con chó từ từ lùi ra khỏi đống lửa.
-  Các con ơi, gọi nó đi! Con chó mới khôn làm sao! – Và lão gọi theo nó, ra sức vuốt ve mồi chài nó.
 
Tuy nhiên, những lời dỗ dành chẳng ăn nhằm gì. Con chó thở hổn hển, sùi bọt mép, miệng nó run cầm cập, người nó run bắn, nhưng nó vẫn phải canh chừng. Những cặp mắt kia đang dõi nhìn như muốn nuốt tươi nó và những cánh tay kia dường như đang muốn tóm lấy họng nó. Thế rồi lão già bất thần nện thanh sắt vào lưng nó, trước khi lão kịp đập thêm cú nữa con chó vùng chạy, kêu ăng ẳng vì đau đớn.
 
Đàn quạ bay đuổi theo con chó, rồi đậu trên những bụi gai dưới cây thánh giá, chỗ con chó lẩn trốn và tắt thở trong đau đớn.
 
Mưa vẫn rơi, mưa quất vào cành cây, nước mưa tuôn chảy dọc cây thánh giá. Đức Jesus bằng tôn, đầu đội vòng gai, lõa lồ, trên thân mình đầy những vết thương còn mới do đạn súng trường và đạn đại bác bắn vào, dường như đang giương mắt nhìn vào thế gian sầu thảm, rỉ máu, hoen ố vì những cuộc chém giết và thầm gọi:
- Hỡi Đức Cha, hỡi Đức Cha! Sao Người nỡ bỏ con?
 
Từ những miền xa xăm tiếng đại bác vẫn không ngớt vọng về - tựa hồ những chiếc búa đang nện không thương xót vào quan tài của mỗi sinh linh.

Lê Bá Thự dịch
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSat Nov 04, 2017 4:44 pm

.

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Yasunari-kawabata

Kawabata Yasunari (1889-1972) là nhà văn Nhật bản đầu tiên nhận giải Nobel văn chương năm 1968. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Kawabata nổi tiếng với các tiểu thuyết “Xứ Tuyết”, “Ngàn cánh hạc”, và “Tiếng núi”, nhưng ông cũng viết nhiều truyện rất ngắn - loại truyện mà ông gọi là tanagokoro no shôsetsu (truyện ngắn trong lòng bàn tay). Những truyện này ít có cốt truyện, mà miêu tả những cảm xúc và trải nghiệm tức thời có những ý nghĩa lớn. Khi bạn đọc truyện sau đây, được viết năm 1945, khi vừa kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, hãy thử nghĩ về từng chi tiết nhỏ có ý nghĩa gì với nhân vật chính, Kimiko.



TRÁI ĐẤT
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


"Người phụ nữ khoác mặt trời, đi dép mặt trăng, và đội trên đầu chiếc vương miện mười hai ngôi sao: và với một đứa trẻ nàng gào khóc đau đớn trong cơn sinh nở và nỗi đau được giải thoát".

"Trước khi tôi biết nó, một nhà thờ Công giáo nhỏ đã được xây dựng bên cạnh con đường chạy dọc theo guồng nước, con đường nơi trước đây khá lâu tôi đã từng vui vẻ đi bộ. Ngoài ra, những bức tường đẹp đẽ bằng gỗ dài vô tận của nhà thờ đã bị đen lại bởi muội than, dưới bước chân, tuyết phủ kín mái". Đây là những dòng đã được viết trong một tác phẩm của Hori Tatsuo. Mái của nhà thờ thánh Paul được lợp ván, bên trong nó giống như những bàn tay đang cầu nguyện. Tất nhiên, thánh giá trên bệ thờ cũng được làm bằng gỗ.

Giờ đây, khi những dòng Hori Tatsuo viết đã được hai mươi lăm năm, một chàng trai trẻ và một cô gái đang đi dạo trong những bộ quần áo mà người ta sẽ nhìn thấy ở Karuizawa trong suốt những ngày giữa hạ.
Lúc đi qua phía trước nhà thờ này, mẹ anh đã nói một chuyện khủng khiếp. - Chàng trai dừng bước và nhìn nhà thờ khi anh nói với cô gái trẻ.
Cô cũng nhìn nhà thờ rồi nhìn vào mặt chàng trai.
- Nhưng anh tin mẹ anh. Bởi vì anh tin mẹ anh nên anh có một người cha rõ ràng.
Chàng trai không nói gì.
- Em là một đứa bé không cha, kẻ không có cách nào để tin tưởng mẹ cô ta được - một đứa trẻ hoàn toàn không cha. - Cô đi tiếp.
- Không có vẻ như em có thể biết cha em bởi vì tin tưởng vào mẹ mình.

Nếu người cha không tin người mẹ, nếu cha em cũng nghi ngờ mẹ em, khi ấy sự ngờ vực sẽ không có kết thúc.
- Nhưng, chẳng hạn, cứ cho là anh nghi ngờ, thì anh cũng đã có một người cha, người mà anh có thể nghi ngờ. Em không có cha thậm chí cả trong ảo tưởng. Em tự hỏi không biết có phải bản thân nhà tù chính là cha em không.
- Anh không có một điểm nào giống cha mình.
- Được rồi. Anh không. Và anh cũng không giống cả mẹ anh chút nào nữa.
- Tại sao lại thế?

"Nó không phải là con tôi. Ai mà biết một đứa trẻ như thế lại có thể là con tôi".
Những từ khủng khiếp đó mẹ của chàng trai nghe được từ chồng mình khi bà thông báo rằng mình đã có thai. Họ đã đi dạo trước nhà thờ hơn hai mươi năm trước.
Người phụ nữ trẻ, người biết duy nhất một người đàn ông, đã vượt qua cú sốc và sự sợ hãi. Cô thậm chí còn không thể tìm được sức lực đâu để mà thề thốt về lòng chung thủy của mình. Nếu chồng cô bác bỏ sự chứng minh của cô, thì cô không biết trông cậy vào đâu cả.
Như một bằng chứng, người phụ nữ trẻ mang đứa bé mà mình mới sinh đến nhà chồng để cho anh ta xem.
"Nó không phải là con tôi. Ai biết được một đứa trẻ như thế lại là con tôi". Anh ta lại không nhận đứa trẻ. "Nó là đứa con của tội ngoại tình".
Người phụ nữ trẻ mất hết lý trí và lao đến đâm đứa bé bằng một con dao đi rẫy đang nằm cạnh đó. Người đàn ông chụp lấy đứa con từ vợ mình và ngáng chân cô. Cô đâm vào chồng.
Ngay lúc đó hình ảnh của một bức tranh lóe lên trong tim người phụ nữ trong sạch, như thể được rọi sáng bởi một ánh chớp. Đó là một bức tranh tường trong một nhà thờ kính cổ xưa nhỏ bé, bức tranh cảnh cáo chống lại tội ngoại tình. Hai con rắn trắng treo trên ngực một người đàn bà, đang cắn họ. Một cây thương đâm xuyên qua vú một người phụ nữ vào trong ngực cô ta bởi bàn tay của Chúa: Chúa đã giết đàn bà bằng một cây thương. Cô gái kêu gào.
Vết thương của người chồng thật trầm trọng. Thay vì tha thứ cho cô, anh ta và gia đình đã tường thuật lại mọi chuyện. Vì thế người phụ nữ bị bắt.

Trong khi cô gái đang ở cùng các tù nhân trong nhà tù, thiên đường đã mở ra và cô nhìn thấy hình ảnh của Chúa.
Khi cô ở trong tù, một phụ nữ trẻ khác cũng bị đưa vào; người phụ nữ trẻ này đã giết người yêu của mình trong một cơn ghen. Khi cô ta biết được cô gái này đã có một đứa con, cô ta tỏ ra vô cùng ghen tỵ.
- Tôi muốn có con với anh ấy, nhưng bây giờ thì không thể nữa rồi - tôi đã giết anh ấy. - Cô ta níu lấy cô và khóc. - Tôi không thể. Cả đời tôi không bao giờ. Tôi không thể có bất kỳ một đứa con nào. Tôi sẽ phải ở tù cho tới khi quá già để có con. Đó là hình phạt chết người đối với người phụ nữ. Khi nghĩ đến điều đó - tôi muốn có một đứa con - đứa con với bất kỳ người nào, bằng bất cứ cách nào có thể.
- Bằng bất cứ cách nào có thể?
- Đứa con với bất kỳ ai.
- Thật chứ? Nếu thật thế, tôi sẽ làm cho chị có một đứa con nhé?
- Cô là đàn bà cơ mà?
- Tôi sẽ ra khỏi đây sớm. Đợi đến khi ấy. Tôi sẽ làm cho chị có một đứa con.

Sau khi được giải thoát khỏi nhà tù, cô quay trở lại thăm người phụ nữ hãy còn ở trong đó.
Người phụ nữ trong tù bắt đầu có thai.
Điều này gây ra một sự náo động mạnh mẽ khắp nhà tù: người phụ nữ sẽ không thú nhận cha đứa trẻ là ai. Không có cách nào để cô thậm chí có thể bắt đầu cố làm điều đó. Tất cả những người cai ngục và những người đàn ông khác trong tù bị thẩm vấn, nhưng những người cai ngục cho nữ tù nhân cũng đều là đàn bà. Không có người đàn ông nào đến gần họ được. Và cũng không có cách nào để cô có thể trốn khỏi nhà tù.
Bà xơ, người là giáo sĩ trong trại đã không nói đó là một phép màu, hay thần thánh ma quỷ, hay con trai của Chúa sẽ được sinh ra.
Tràn đầy hạnh phúc, người phụ nữ nuôi bé gái trong tù. Cô viết một lá thư để cảm ơn người bạn của mình.
Người phụ nữ không quay lại gặp cô lần thứ hai.

Bé gái được nhận làm con nuôi và lớn lên hạnh phúc. Cô là cô gái giờ đây đang đi dạo trước nhà thờ thánh Paul. Bất cứ lúc nào cô muốn, cô đều có thể đến gặp mẹ đẻ của mình, người hiện nay đã được ra tù. Cô cũng đã được nghe kể câu chuyện về sự chào đời của mình phía sau song sắt.
Chàng trai đang đi dạo với cô gái là đứa trẻ mà mẹ nó đã cố giết. Cha anh cuối cùng cũng đã tha thứ cho mẹ anh. Họ đã giảng hòa và vẫn sống với nhau.
- Vậy thì người đã bảo vệ anh và bản thân bị thương chính là cha anh? - Chàng trai đăm chiêu.
- Đúng thế. - Cô gái gật đầu. - Và em, một đứa trẻ không cha, sẽ sinh ra một đứa con có cha.
Chàng trai cũng gật đầu khi họ đi xuống con đường phía trước nhà thờ.

Và con rồng phun nước ra khỏi miệng nó như một dòng lũ cuồn cuộn phía sau người đàn bà, nó có thể khiến cô bị cuốn vào cơn lũ. Và trái đất đã giúp đàn bà, mẹ đất há miệng nuốt chửng cơn lũ mà con rồng đã phun ra khỏi miệng.


(1963)
ĐÀO THỊ THU HẰNG dịch

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Quote-cosmic-time-is-the-same-for-everyone-but-human-time-differs-with-each-person-time-flows-yasunari-kawabata-45-0-080
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeThu Nov 09, 2017 6:34 pm

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 5918892
Naguib Mahfouz (1911 – 2006) nhà văn Ai Cập
đã được trao giải Giải Nobel Văn học năm 1988.

THIÊN ĐƯỜNG TRẺ THƠ
Naguib Mahfouz
(Nobel 1988)


- Bố ơi...
- Gì thế?
- Con và bạn Nađia bao giờ cũng ở cạnh nhau.
- Tốt lắm.
- Cả ở trong lớp, cả trong giờ chơi, cả ở nhà ăn.
- Rất tuyệt. Bạn ấy đáng yêu và ngoan ngoãn.
- Nhưng trong giờ thần học, con lại vào một lớp, bạn ấy vào lớp khác.
Người bố đưa mắt nhìn vợ đang thêu một tấm khăn thì thấy vợ mỉm cười:
- Và chỉ riêng trong giờ thần học thôi.
- Nhưng tại sao lại thế hả bố?
- Vì con theo một đạo, còn bạn ấy theo đạo khác.
- Thế là sao ạ?
- Con là tín đồ đạo Hồi, còn bạn ấy là tín đồ Thiên Chúa.
- Tại sao hả bố?
- Con còn nhỏ, bao giờ lớn, con khắc hiểu.
- Con lớn rồi.
- Chưa, con còn nhỏ.
- Nhưng tại sao con lại là tín đồ đạo Hồi?

Đến đây, người lớn phải kiên nhẫn và thận trọng để khỏi vi phạm các phương pháp giáo dục hiện đại.
- Bố theo đạo Hồi, mẹ theo đạo Hồi, nên con cũng là tín đồ đạo Hồi.
- Còn Nađia thì sao ạ?
- Bố mẹ bạn ấy theo đạo Thiên Chúa. Bởi vậy bạn ấy cũng theo đạo Thiên Chúa.
- Đó là tại vì bố bạn ấy đeo kính?
- Không, đeo kính không liên quan gì đến chuyện này. Chẳng qua ông của bạn ấy cũng theo đạo Thiên Chúa.
Anh sẽ kể về ông bà, cụ kỵ và tổ tiên xa nữa, xa mãi để con gái anh phát ngán mà nói sang chuyện khác. Nhưng nó đã hỏi:
- Thế theo đạo Hồi tốt hơn hay theo đạo Thiên Chúa tốt hơn hả bố?
Suy nghĩ một chút, người bố đáp:
- Cả hai đều tốt.
- Nhưng phải có một đằng tốt hơn chứ ạ?
- Cả hai tôn giáo đều tốt.
- Hay là con cũng theo luôn đạo Thiên Chúa, để con và Nađia không bao giờ phải tách rời nhau?
- Không, không được. Ai cũng phải theo tín ngưỡng của cha mẹ mình.
- Nhưng tại sao ạ?

Giáo dục hiện đại quả không phải dễ!
- Con không muốn lớn lên cái đã rồi hãy hỏi ư? - Anh trả lời bằng một câu hỏi:
- Không ạ.
- Thôi được rồi. Thế con có biết mốt là gì không ? Đó, người theo mốt này, người thích mốt khác. Theo đạo Hồi là mốt mới nhất. Bởi vậy, con vẫn phải theo đạo Hồi.
- Nghĩa là Nađia không còn hợp mốt?
Thật chẳng ra làm sao! Có lẽ anh đã phạm một sai sót nào đó. Bây giờ làm sao gỡ ra được đây?...
- Đó là vấn đề thị hiếu, nhưng ai cũng phải theo tín ngưỡng của bố mẹ.
- Con sẽ bảo bạn ấy rằng bạn ấy đã không còn hợp mốt, còn con đang theo mốt mới nhất, được không ạ?
- Tín ngưỡng nào cũng tốt, - người bố vội ngắt lời con, - cả tín đồ đạo Hồi, cả tín đồ đạo Thiên Chúa đều tin vào Thượng Đế.
- Nhưng tại sao họ lại tin trong những căn phòng học khác nhau ạ?
- Vì mỗi người tin theo cách riêng của mình.
- Theo cách riêng là thế nào ạ?
- Điều đó thì sang năm hoặc sang năm nữa con sẽ biết. Còn bây giờ con chỉ cần biết rằng tín đồ đạo Hồi tin ở Thượng Đế và tín đồ Thiên Chúa cũng tin ở Thượng Đế!
- Thế Thượng Đế là ai hả bố?

Tới đây thì người bố lúng túng. Sau đó, cố giữ bình tĩnh, ông hỏi:
- Thế ở trường cô giáo nói những gì về chuyện này?
- Cô đọc kinh Côran, và chúng con học thuộc các câu kinh nhưng con chẳng hiểu gì cả. Thượng Đế là ai hả bố?
- Là người sáng tạo ra tất cả mọi thứ trên thế giới này, - người bố ngập ngừng một chút rồi nói.
- Tất tần tật hả bố?
- Ừ tất tần tật.
- Thế Đấng sáng tạo nghĩa là gì hả bố?
- Nghĩa là người làm ra tất cả.
- Làm bằng cách nào ạ?
- Bằng ý chí vô biên của mình.
- Thế Thượng Đế sống ở đâu ạ?
- Ở tất cả mọi nơi trên thế giới.
- Nhưng khi chưa có thế giới thì Thượng Đế ở đâu?
- Ở cao lắm, tít trên kia.
- Trên trời ấy ạ?
- Ừ.
- Con muốn nhìn Thượng Đế một cái.
- Không thể được.
- Nhìn qua ti vi cũng không được ạ?
- Ừ.
- Thế tại sao bố lại biết Thượng Đế ạ?
- Là vì đúng như thế.
- Ai là người đầu tiên biết Thượng Đế ở trên kia.
- Các nhà tiên tri.
- Các nhà tiên tri ấy ạ?
- Ừ, ví dụ nhà tiên tri Muhamét chẳng hạn.
- Làm cách nào ông ấy biết được hả bố?
- Vì ông ấy có một sức mạnh đặc biệt.
- Mắt ông ấy rất tinh ạ?
- Ừ.
- Tại sao vậy hả bố?
- Vì Thánh Alla làm mắt ông ấy tinh.
- Nhưng tại sao mới được chứ, hả bố?

Mất hết bình tĩnh, anh đáp:
- Bởi vì Người có thể làm tất cả những gì Người muốn.
- Thánh là người thế nào hả bố?
- Thánh, rất hùng mạnh, rất khoẻ khoắn, có thể làm được mọi việc.
- Giống như bố ấy phải không bố?
Anh cố nén cười:
- Không ai bằng được Người.
- Thế sao Người lại phải sống ở trên kia?
- Vì đối với Người, mặt đất bé qua. Nhưng Người trông thấy tất cả mọi điều.
Cô bé ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Nhưng bạn Nađia bảo Người đã từng sống trên mặt đất.
- Đó là vì Người biết hết những gì xảy ra trên mặt đất, chẳng khác gì Người sống ở đây.
- Nhưng bạn ấy nói rằng một bọn đã giết chết Người?
- Nhưng Người vẫn sống mãi và không bao giờ chết.
- Nhưng Nađia nói Người đã bị giết chết?
- Không phải đâu con ạ, chúng tưởng chúng đã giết chết Người, nhưng Người không chết, Người vẫn sống.
- Thế ông nội con vẫn sống?
- Không, ông mất rồi.
- Ông bị một bọn giết chết ạ?
- Không, ông tự chết thôi.
- Tại sao ạ?
- Ông bị ốm, cho nên ông chết.
- Thế em gái con cũng sẽ chết chứ ạ, vì nó đang bị ốm kia kìa?
Anh cau mày, trông thấy cử chỉ tức giận của vợ.
- Không, em con sẽ khỏi, chắc chắn như vậy.
- Thế tại sao ông lại chết hả bố?
- Vì ông ốm yếu và già cả.
- Bố cũng sẽ ốm yếu và già cả, tại sao bố không chết?

Người mẹ mắng cô bé, cô bé ngơ ngác không hiểu ra sao. Nó băn khoăn
nhìn mẹ rồi nhìn bố.
- Chúng ta chết là theo ý của Thượng Đế, khi nào Người muốn thế, - cuối cùng người bố đã tìm ra cách trả lời.
- Thế tại sao Người lại muốn chúng ta chết ạ?
- Mọi chuyện đều là do ý của Người.
- Thế chết là tốt hả bố?
- Không đâu, con.
- Vậy tại sao Thượng Đế lại làm điều không tốt?
- Người mà đã muốn, thì ai cũng phải chết thôi.
- Nhưng, chính bố vừa nói rằng chết là không tốt cơ mà?
- Bố lầm, con ạ.
- Thế tại sao mẹ lại tức giận khi con nói rằng bố sẽ chết?
- Vì Thượng Đế còn chưa muốn như vậy.
- Bao giờ Người muốn ạ?
- Người gửi chúng ta xuống thế giới này, rồi Người lại gọi về.
- Để làm gì?
- Để chúng ta ở đây làm những điều tốt, chừng nào chúng ta còn chưa phải rời bỏ thế giới này.
- Nhưng tại sao chúng ta không ở lại?
- Nếu mọi người không rời bỏ mặt đất, thì sẽ không đủ chỗ.
- Tất cả những gì tốt đẹp chúng ta sẽ để lại đây hả bố?
- Chúng ta sẽ đi tới một chỗ còn tốt đẹp hơn nữa.
- Tới đâu ạ?
- Lên trên kia.
- Lên với Thượng Đế?
- Ừ. Và chúng ta sẽ trông thấy Người?
- Ừ.
- Và như vậy là tốt hả bố?
- Tất nhiên.
- Vì vậy chúng ta mới cần phải đi khỏi đây?
- Nhưng chúng ta còn chưa làm tất cả những điều tốt mà chúng ta có thể làm.
- Còn ông nội, ông đã làm tất cả rồi?
- Ừ.
- Thế ông đã làm được những gì ạ?
- Ông đã xây dựng được một ngôi nhà và trồng được một khu vườn.
- Thế thằng Tutu, em họ của con bị chết hồi nọ thì đã làm được những gì ạ?

Người bố tuyệt vọng ném ánh mắt về phía người mẹ để cầu cứu. Sau đó
anh nói:
- Nó cũng đã xây dựng được một ngôi nhà nhỏ trước khi nó ra đi.
- Còn thằng Lơlu ở bên cạnh nhà mình cứ đánh con luôn và chẳng làm điều gì tốt cả.
- Nó là đứa hư.
- Và nó sẽ không chết chứ ạ?
- Nó sẽ chết khi nào Thượng Đế muốn.
- Mặc dù nó không làm được điều gì tốt?
- Mọi người đều chết cả. Nhưng ai làm được điều tốt sẽ được lên chỗ Thượng Đế, còn ai làm điều xấu sẽ bị thiêu trong lửa.

Cô bé buông một tiếng thở dài, im lặng vài phút.
Còn anh, anh cảm thấy mệt rã rời. Anh trả lời con gái anh có đúng không?
Nhưng vừa lúc ấy, cô bé đã lại nói:
- Con muốn lúc nào cũng ở bên cạnh Nađia.
Anh đưa mắt ngỡ ngàng nhìn con, cô bé liền giải thích rõ - Kể cả trong giờ thần học.
Anh cười vang lên. Người mẹ cũng cười.
- Anh không nghĩ rằng có thể bàn luận những vấn đề như thế với các con, - anh nói với vợ.
Người vợ đáp:
- Khi nào con gái mình lớn, anh có thể nói hết với nó những mối hoài nghi của anh.

Anh ngoảnh mặt về phía vợ, cố hiểu xem chị nói câu đó là nói thật hay nói đùa, nhưng anh thấy chị đã lại cúi xuống khung thêu.

VŨ ĐÌNH BÌNH dịch

Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSat Nov 18, 2017 9:30 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Philosophy-of-education-existentialism-29-638

Kẻ phản bội hay một linh hồn bối rối
Albert Camus
(Nobel 1957)


“Đầu tôi rối mù cả lên! Cần phải lập lại trật tự trong đó. Từ khi họ cắt đứt lưỡi của tôi, hình như lại mọc thêm một cái lưỡi khác thì phải, tôi không biết nữa. Một cái lưỡi khác vẫn không ngừng quay trong đầu tôi, một thứ tiếng nói, không biết của cái gì hay của ai, đang nói đột nhiên ngừng bặt rồi lại tiếp tục nói và tôi nghe thấy những điều mà tôi không thể nói ra, quả là rối rắm và mỗi khi tôi mở miệng thì chỉ thành tiếng sỏi đá đập vào nhau khi bị lắc trong bị. Phải có trật tự, phải có kỷ cương, cái lưỡi đó nói, đồng thời nó nói thêm nhiều thứ khác nữa. Đúng thế, tôi rất thèm trật tự, ít nhất thì một điều đã rõ ràng: Tôi đợi cha truyền giáo đúng ra sắp phải đến thay chân tôi. Tôi đang ở đó, trên con đường, cách thị trấn Taghasa một giờ đường, nấp sau một đống đá lở, ngồi trên một khẩu súng cũ. Trời bắt đầu hửng sáng trên sa mạc. Vẫn còn rất lạnh. Chỉ lát nữa thôi trời sẽ nóng khủng khiếp, kiểu nóng làm tôi phát điên, từ bao nhiêu năm rồi, chính tôi cũng không sao đếm xuể... Không, tôi phải gắng sức thêm một lần nữa! Cha truyền giáo thế nào cũng phải đến, hoặc sáng nay hoặc chiều nay. Tôi nghe nói ông ta đến cùng với một người dẫn đường. Rất có thể hai thầy trò chỉ có một con lạc đà. Tôi sẽ đợi. Tôi đợi và chỉ cái lạnh mới làm được tôi run rẩy. Hãy kiên nhẫn thêm nữa, hỡi tên nô lệ bẩn thỉu!

Tôi đã quen kiên nhẫn từ lâu lắm rồi. Hồi tôi còn ở nhà, trên cao nguyên của dãy núi Trung Tâm, cha tôi thô lỗ, mẹ tôi dốt nát, ngày nào cũng vẫn món xúp thịt mỡ, đặc biệt là món rượu vang, chua và lạnh. Và mùa đông dài dằng dặc, gió lạnh thổi, những cây dương xỉ đáng ghét, bấy giờ tôi thèm ra đi dứt bỏ tất cả những thứ đó ngay một lúc rồi bắt đầu một cuộc sống dưới ánh mặt trời với làn nước trong vắt. Tôi đã tin lời ông cha cố, ông kể tôi nghe về trường dòng. Ngày nào ông cũng chăm lo cho tôi, ông có nhiều thời gian rảnh rỗi trong cái vùng Tin Lành này, nơi ông lướt đi sát những bức tường khi phải qua làng. Ông cha cố kể với tôi về một tương lai có ánh mặt trời. Đạo Thiên Chúa chính là vầng Thái dương, ông nói và ông dạy tôi đọc sách. Ông đã đem trở lại thứ tiếng La Tinh vào cái đầu đần độn của tôi. “Thằng bé này thông minh nhưng giống con lừa”. Cũng cần nói rằng cái sọ của tôi cứng đến nỗi suốt cả cuộc đời, qua bao nhiêu lần ngã, vậy mà đầu tôi không rớm máu lần nào. “Đầu của con bò cái”. Cha tôi cũng chỉ là thứ con lợn, vậy mà nói về tôi như vậy. Tại trường dòng tất cả bọn họ đều kiêu căng. Tuyển được một tên lính mới trong xứ sở Tin Lành ấy quả là một chiến công. Họ thấy tôi đến mà tưởng như nhìn thấy mặt trời mọc trên chiến trường Austerlitz [52]. Một mặt trời nhợt nhạt, đúng thế, bởi hơi men. Họ thì chỉ uống thứ rượu vang chua còn con cái họ đều hỏng răng, ha ha, phải giết lão linh mục thôi, đúng là phải như thế, nhưng không nguy hiểm gì hết. Đúng thế. Hắn ta xung vào chân truyền giáo vì ông ta chết từ lâu rồi, rượu vang chua loét đã ăn thủng dạ dày của hắn ta, cho nên hắn chỉ còn mỗi một việc là giết cha truyền giáo.

Tôi có món nợ cần thanh toán với hắn ta và với những thầy của hắn, những kẻ đã đánh lừa tôi, với cái châu Âu bẩn thỉu, toàn thế giới đều đã đánh lừa tôi. Sứ mệnh truyền giáo, họ vẫn chỉ có mỗi mấy chữ ấy trên môi, đến nơi dân cư man rợ và nói rằng “Đây là thượng đế của ta, các người hãy nhìn vào đó. Thượng đế của ta không đánh ai, cũng không giết ai. Người bảo ban bằng giọng nói dịu dàng, ai tát Người má này thì Người chìa má kia ra. Thượng đế của ta là vị thượng đế vĩ đại nhất trong các thượng đế, hãy chọn ngài, các người thấy đấy. Thượng đế của ta đã làm cho ta tốt đẹp hơn. Các người hãy thử xúc phạm ta đi, các người sẽ thấy.”
Đúng thế, tôi tin và tôi cảm thấy mình cao quí hơn, tôi trở nên cao to hơn, gần như điển trai, tôi mong được kẻ khác xúc phạm. Trong lúc tôi bước, ken chặt hàng ngũ và trong bộ áo chùng màu đen, mùa hè dưới cái nắng của xứ Grenoble, và khi đoàn chúng tôi gặp những đứa con gái mặc áo dài mỏng, tôi không cần ngoảnh mặt đi, tôi khinh bỉ chúng, tôi mong chúng xúc phạm tôi và đôi khi chúng cũng cười giễu chúng tôi. Khi đó tôi nghĩ; “Giá như chúng đánh mình và nhổ nước bọt vào mặt mình thì tốt”, nhưng tiếng cười của chúng, đúng thế, giống hệt như những cái miệng lởm chởm răng và những đầu nhọn đâm vào da thịt tôi. Sự sỉ nhục và nỗi đau đớn mới dễ chịu làm sao! Vị hiệu trưởng trường dòng đã không hiểu tôi khi tôi đau đớn, dằn vặt: “Trong con có điều lành!” Điều lành! Hoạ trong bụng tôi có rượu vang chua thì đúng hơn, nhưng như thế càng hay bởi vì nếu chưa xấu thì làm sao tốt lên được, tôi hiểu được điều đó trong toàn bộ những gì họ dạy dỗ tôi trong trường dòng. Bấy giờ tôi chỉ hiểu được có thế, một ý tưởng duy nhất và con lừa thông minh, tôi đã đi tới tận cùng, tôi đến trước bục sám hối, tôi đọc kinh nhật tụng, cuối cùng tôi muốn trở thành mẫu mực, để người ta nhìn tôi trở thành người tốt đẹp, và qua tôi người ta cúi đầu trước đấng thượng đế của tôi.

Vầng mặt trời man rợ! Mặt trời lên, thế là sa mạc đổi hẳn bộ mặt, không còn cái mầu xiclamen của những ngọn núi, ôi ngọn núi của tôi, ôi, tuyết mềm hiền dịu, không, đó là một kiểu màu vàng hơi xám, thời điểm khó nhìn, trước khi bừng lên sự chói loà vĩ đại. Chưa, chưa có thứ gì trước mặt tôi, từ đây cho tới tận chân trời, nơi cao nguyên mất hút trong một quầng màu sắc sặc sỡ dù vẫn còn mờ nhạt. Phía sau tôi, con đường trải dài tới tận cồn cát che lấp thị trấn Taghasa, cái tên gợi sắt thép ấy vẫn ong ong trong đầu óc tôi suốt bao nhiêu năm nay. Người đầu tiên nói đến cái tên ấy với tôi là ông linh mục già mắt thong manh sống ẩn dật trong nơi về nghỉ của ông ở nhà tu kín. Nhưng tại sao lại là người đầu tiên ? Ông ta là người duy nhất, và tôi, đấy không phải là dẫy phố bằng muối, những bức tường trắng dưới mặt trời đổ lửa đã làm tôi kinh ngạc trong câu chuyện kể của ông ta, không, mà là sự độc ác của dân chúng man rợ, và thị trấn đó đóng chặt cửa với tất cả những người xứ lạ, chỉ một người duy nhất đã tìm cách lọt vào, người đó mới có thể kể về những gì ông ta đã nhìn thấy tại đó. Dân chúng ở đó đánh đập và đuổi ông ta ra ngoài sa mạc sau khi xát muối vào những thương tích trên người ông ta, và nhét muối vào miệng ông ta. May thay ông ta đã gặp những kẻ du mục thương hại ông ta còn tôi thì từ ngày đó, tôi ngẫm nghĩ về câu chuyện của ông ta, về ánh lửa từ muối và từ vầng mặt trời, về căn nhà đặt linh vật và về những kẻ tín đồ nô lệ của linh vật đó. Người ta có thể tìm ra nơi nào man rợ hơn, đúng thế, đấy là sứ mạng của tôi, và tôi có bổn phận phải tới đó và chỉ cho dân chúng man rợ ấy thấy Đấng thượng đế của tôi.

Trong trường dòng người ta giảng giải cho tôi để can ngăn tôi, làm tôi nhụt chí, bảo rằng cần phải chờ đợi, rằng đây không phải là nơi có thể truyền giáo được, rằng tôi còn non nớt, tôi phải được huấn luyện một cách đặc biệt, phải biết tôi là ai và phải thử thách nhiều trước khi xem xét. Nhưng cứ chờ đợi mãi hay sao? Không. Còn nếu phải huấn luyện một cách đặc biệt và qua những thử thách thì cũng được thôi, nếu như những thứ đó được tiến hành ở thành phố Alger và lại giúp ích tôi tiếp cận gần đó thêm. Nhưng còn cái khác thì tôi lắc cái đầu bướng bỉnh của tôi và nhắc đi nhắc lại vẫn cái câu ấy: Tôi phải đến với cư dân man rợ, sống cuộc sống của họ, thuyết phục cho họ thấy ngay tại nhà của họ, thậm chí ngay cả trong căn nhà đặt linh vật, rằng chân lý của Đấng thượng đế của tôi mới là chân lý mạnh mẽ nhất. Dân chúng tại đó sẽ hành hạ tôi, sỉ nhục tôi, chắc chắn là như thế, nhưng tôi không sợ bị hành hạ, sỉ nhục. Đấy là thứ cần thiết để tôi chứng minh, và bằng những cách tôi nắm được, tôi sẽ khuất phục những kẻ man rợ ấy như vầng mặt trời hùng mạnh. Hùng mạnh, đúng thế, chính đấy là cái từ tôi nghiền ngẫm trên đầu lưỡi tôi. Tôi ước mơ đạt được quyền lực tuyệt đối, cái quyền lực bắt mọi kẻ khác phải quỳ gối, bắt đối thủ phải quy hàng, cuối cùng tôi cải đạo cho họ. Đối thủ càng mù quáng, càng tàn bạo, càng tin chắc vào bản thân nó, càng bị vùi trong một niềm tín ngưỡng bao nhiêu thì nó lại càng sớm thừa nhận quyền hành của kẻ khiến nó thất bại bấy nhiêu. Cải đạo cho những con người ngay thẳng chỉ hơi bị lầm lạc chính là lý tưởng tầm thường của những vị linh mục của chúng ta. Tôi khinh bỉ họ là giỏi giang nhường ấy mà làm được kết quả chẳng là bao. Họ thiếu niềm tin, nhưng tôi thì có. Tôi muốn cả những tên đao phủ cũng phải thừa nhận tôi, muốn bắt chúng phải quỳ gối và nói; “Hỡi thượng đế, đây là chiến thắng của ngài !”. Tôi muốn chỉ dùng lời lẽ mà chiếm được quyền lực trước một đạo quân những kẻ dữ tợn. Ôi, tôi đã quá tin vào lý lẽ của mình, chưa bao giờ tôi tự tin đến thế, khốn nỗi một khi tôi đã có một ý tưởng, tôi không thể rời nó ra được nữa. Đấy là sức mạnh của tôi, đúng thế, cái sức mạnh của tôi mà tất cả bọn họ đều phải thương hại.

Mặt trời vẫn lên cao thêm, trán tôi bắt đầu nóng giẫy. Những tảng đá xung quanh tôi nứt răng rắc rất khẽ, chỉ riêng nòng khẩu súng của tôi là còn mát, mát như cánh đồng cỏ, như trận mưa buổi tối, ngày xa xưa, khi nồi xúp trên bếp chín dần, cha và mẹ tôi đợi tôi về và đôi khi cười với tôi. Có lẽ hồi ấy tôi cũng có yêu quí cha mẹ. Nhưng thế là hết, một tấm màn nóng bỏng bắt đầu dâng cao lên từ mặt đường. Hãy đến đây đi, cha truyền giáo, tôi đợi cha, bây giờ tôi đã biết phải đáp lại lời kêu gọi kia như thế nào rồi. Các chủ nhân mới của tôi đã dạy cho tôi bài học và tôi hiểu rằng họ đúng, cần phải thanh toán món nợ tình cảm ấy. Hồi tôi trốn khỏi trường dòng ở thành phố Alger, tôi hình dung họ rất khác, những con người man rợ ấy. Trong toàn bộ mơ màng của tôi bấy giờ, chỉ đúng duy nhất có một điều, họ tàn ác. Bản thân tôi, tôi đã ăn trộm hòm tiền để dành, và vứt bỏ áo chùng, đã lặn lội qua dãy núi Atlas [54], những cao nguyên và sa mạc, người tài xế lái xe trên đường vượt sa mạc Sahara đã chế giễu tôi: “Ông đừng đến nơi đó?” Sao mà bọn họ nghĩ giống nhau đến thế. Những cồn cát như sóng biển kéo dài mấy trăm cây số, đỉnh cồn bù rối, chúng tiến lên rồi lại lùi xuống theo chiều gió thổi, rồi lại đến núi, nhọn hoắt như mũi giáo đen sì, sườn núi sắc như bằng gang và sau chặng đường ôtô ấy, lại cần đến một người dẫn đường để đưa tôi ra biển, nơi có những viên cuội màu nâu, trải dài đến vô tận dào dạt toả nắng, cháy thành muôn vàn ngọn lửa phản chiếu như qua những tấm gương soi, cho mãi đến ranh giới giữa miền đất da trắng và da đen, nơi hiện lên thị trấn bằng muối. Rồi món tiền mà tên dẫn đường cướp đi của tôi, tôi khờ dại đem khoe với hắn, nhưng hắn đã bỏ mặc tôi giữa đường, ngay đúng chỗ ngày đây, sau khi đánh tôi: “Đồ chó, đây là con đường mà tao hân hạnh qua lại. Mày cứ đi, đi nữa, và chúng sẽ dạy cho mày!”

Và họ đã dạy cho tôi thật. Ôi, họ y hệt như mặt trời, không bao giờ ngừng, trừ ban đêm, giáng xuống sức nóng và sự kiêu hãnh, lúc này họ cũng vừa mới đánh tôi dữ dội bằng những mũi giáo nóng bỏng đột nhiên xuất hiện từ dưới đất, được giấu trong tảng đá to kia, đúng thế, cho đến khi mắt tôi hoa lên và tôi không biết gì hết.
Bóng đêm nơi này đâm ra lại tốt. Làm sao có thể sống được trong thị trấn bằng muối, dưới lòng cái chảo lớn chứa đầy hơi nóng trắng bạch. Trên mỗi bức tường trắng đứng, được đẽo bằng mác và bào sơ sài những chỗ nhô lên do lưỡi mác để sót lại, ánh lên những ánh chói loà, cát vàng rải rác khiến những bức tường hơi vàng đi đôi chút, trừ phi có gió mạnh thổi qua quét đi những hạt cát đó và những bức tường lại trắng toát lên sáng chói, dưới một bầu trời cũng được quét sạch, trơ ra một màu xanh biếc. Tôi thành mù, trong những ngày đó, khi đám cháy bất động nổ lách tách hàng giờ liền trên mặt những sân trời trắng toát, cũng hoà lẫn vào mọi thứ khác, y hệt như một ngày nào đó, xa xôi lắm rồi, họ cùng tấn công vào ngọn núi muối, đầu tiên san nó thành bằng địa, sau đó khoét chúng thành đường phố, nhà cửa, hoặc như, hơn thế nữa, họ rạch địa ngục trắng của họ bằng cách dùng một đám vòi nước nóng bỏng đốt, để chứng minh rằng nơi không ai dám đến ở thì họ ở được, không phải chỉ trong ba chục ngày, nơi sức nóng buổi giữa trưa ngăn cản mọi sự tiếp cận giữa con người với con người bằng những hàng rào lửa vô hình và những tinh thể nóng bỏng. Nơi những cái lạnh giá ban đêm tiếp liền ngay. cái nóng lại buộc họ đứng bất động, cách xa nhau, trong những vỏ sò bằng muối mỏ, những dân cư trên một băng đảo khô khốc, những cư dân Esquimaux [55] đen đủi run rẩy trong những tảng băng dài vuông vắn. Đen ư? Đúng thế, bởi họ đều mặc áo choàng dài chấm gót bằng vải đen và muối lọt vào tận móng tay họ, họ nhai và nhăn mặt lại trong giấc ngủ địa cực. Muối mà họ uống cùng với nước lấy từ một khe suối duy nhất nứt ra giữa đá muối lóng lánh, để lại trên áo quần mầu sẫm của họ những đường trắng ngoằn ngoèo giống như những vết bò của loài ốc sên để lại trên tàu lá sau cơn mưa.
Mưa, ôi Thượng đế! Chỉ có thứ mưa đáng gọi là mưa, đó là trận mưa dài dằng dặc, tàn nhẫn, của bầu trời của Ngài. Rồi sau đó thị trấn như bị gặm nhấm, từ từ sụp đổ, tan hoàn toàn trong làn nước đặc sánh trôi theo những cư dân ác thú ra tận bãi cát. Chỉ một trận mưa duy nhất, hỡi thượng đế?

Nhưng thượng đế nào cơ chứ? Bởi họ chính là thượng đế của chính họ. Họ ngự trị trên những ngôi nhà khô cằn của họ, trị vì những tên nô lệ da đen mà họ bắt phải chết trong mỏ và mỗi vạt muối lại đòi một mạng người trong những xứ sở phương Nam.
Họ đi lặng lẽ, trùm những tấm mạng để tang, trong màu trắng của quặng muối trên các đường phố và khi màn đêm buông xuống, khi toàn thể thị trấn chỉ là một bóng ma đục sữa, họ khom người bước vào những ngôi nhà mà tường lấp lánh muối. Họ ngủ, giấc ngủ chập chờn, để sáng mai thức dậy họ lại tiếp tục ra lệnh và đánh đập. Họ nói rằng họ chỉ là một dân tộc, rằng thượng đế là có thật và cần phải vâng lệnh Ngài. Đấy là những chủ nhân của tôi. Họ không hề biết đến lòng thương và cũng như mọi ông chủ khác, họ muốn chỉ có mình họ, muốn tiến lên mình họ, muốn ngự trị mình họ, bởi vì chỉ họ mới đủ dũng cảm khoét muối thành cái thị trấn nóng như lửa này. Còn tôi…

Khi mặt trời lên cao, đầu tôi ong ong, mồ hôi toát ra như tắm, nhưng họ thì không sao. Giờ đây bóng đêm cũng hừng hực như lửa đất, tôi cảm thấy mặt trời đang ngự trị bên trên tảng đá trên đầu tôi. Và nó đánh xuống như búa, giáng lên tất cả các tảng đá và tạo nên một bản nhạc. Bản nhạc rộng lớn của buổi giữa trưa. Không khí run rẩy và những tảng đá lắc lư trên hàng trăm cây số, giống như ngày xưa tôi nghe thấy sự im ắng. Đúng thế. Đấy cũng chính là sự im ắng đó, đã tiếp đón tôi khi đám lính canh dẫn tôi lần đầu tiên đến trình diện họ, dưới ánh nắng gay gắt, tại giữa bãi rộng trung tâm thị trấn, từ đó nhìn ra, những dãy nhà xếp thành vòng tròn đồng tâm cứ cao dần lên đến bờ chiếc chảo mà vung là bầu trời xanh khô khốc. Tôi ở đó, bị họ hất cho ngã quỳ xuống, đúng giữa rốn của cái khiên trắng toát ấy hai mắt cay nhức bởi những tinh thể muối bay vào và hơi nóng từ các bức tường phả ra. Mặt tôi tái nhợt vì mệt, tai rỉ máu do bị tên lính canh đánh và họ đứng đó, to lớn, đen sì, nhìn tôi lặng lẽ.

Lúc đó đúng giữa trưa. Mặt trời hắt lửa, cả bầu trời phản chiếu xuống, những tấm tôn bị nung trắng. Vẫn là thứ im ắng ấy và họ nhìn tôi. Thời gian tiếp tục trôi nhưng họ vẫn nhìn tôi mãi. Phần tôi, tôi không chịu nổi những luồng mắt ấy, tôi mỗi lúc một thở hổn hển. Rồi đột nhiên, không nói một lời, tất cả bọn họ quay lưng, cùng bỏ rơi tôi và đi về một hướng... Tôi quỳ gối và chỉ nhìn thấy những chiếc dép đỏ và đen, nhưng bàn chân của họ mũi nhấc hơi cao, gót đập xuống đất, và khi bãi trống không còn ai nữa, bọn lính canh giải tôi về căn nhà thờ linh vật.
Ngồi xổm, cũng như lúc này núp bên dưới tảng đá và lửa nóng vẫn xuyên qua tảng đá xuống tôi, tôi đã bao nhiêu ngày sống trong bóng tối của căn nhà thờ linh vật, hơi cao hơn các nhà khác, bao bọc một hàng rào bằng muối, nhưng không cửa sổ, tối đen, với những ánh lấp lánh của tinh thể muối.

Nhiều ngày như thế. Họ cho tôi mỗi ngày thột thìa nước mặn và ít hạt ngũ cốc vất xuống đất như cho gà để tôi nhặt lấy ăn... Ban ngày cửa vẫn đóng kín, tuy vậy bóng tối cũng giảm đi đôi chút, như thể ánh nắng vẫn thấm qua được lớp muối. Không có đèn, tôi dò dẫm theo các bức tường, đụng vào những lá cọ khô khốc trang trí dính vào tường. Tôi lần vào sâu bên trong và thấy một cánh cửa, tôi sờ được thấy then. Rất nhiều ngày sau đó, nhiều lắm, không thể đếm xuể cũng như không đếm xuể giờ giấc.

Nhưng họ đã vứt những hạt ngũ cốc vào cho tôi thế là mười lần và tôi đào một cái hố để đại tiện. Tôi đã đậy nhưng mùi uế khí vẫn nồng nặc, đúng là một cái hang hốc của loài thú vật. Cuối cùng đến một hôm cửa mở ra và họ bước vào. Tôi ngồi xổm trong một góc nhà. Một người trong bọn họ bước đến gần tôi. Tôi thấy má tôi áp vào bức tường muốn nóng bỏng, mũi tôi ngửi thấy mùi lá cọ khô và mắt tôi nhìn người đó. Y dừng lại cách tôi chừng một mét, lặng lẽ nhìn thẳng vào mắt tôi, rồi ra hiệu cho tôi đứng lên. Cặp mắt y ánh lên như kim loại, không biểu lộ gì hết, mặt y màu nâu như mặt ngựa, rồi y giơ cao tay. Vẫn thản nhiên như trước, y véo vào môi dưới của tôi vặn từ từ tới lúc môi tôi bị rách ra, rồi vẫn không nhẹ bớt gọng kìm, y dùng mấy ngón tay đó vặn mạnh bắt tôi phải quay người lại và từ từ bước ra giữa phòng. Y giật mạnh môi tôi, buộc tôi phải quỳ xuống. Môi tôi đã toé máu. Sau đấy y buông tôi, quay lại đám người của y đang ngồi dọc theo bức tường. Họ nhìn tôi rên rỉ trong luồng ánh sáng sáng rực lọt qua ô cửa mở. Trong phòng không còn một góc nào tối. Trong luồng ánh sáng ấy xuất hiện tên phù thuỷ, tóc xoã, mình mặc một chiếc áo tết bằng ngọc trai, hai chân để trần ló ra khỏi chiếc váy tết bằng rơm, đeo mặt nạ bằng những ống sậy ghép vàonhau bởi sợi dây thép, trổ hai lỗ hình vuông để nhìn.

Gã phù thuỷ vào, theo sau là những nhạc công và đám phụ nữ mặc những chiếc áo màu sặc sỡ, rộng thùng thình, không thể đoán được vóc người bên trong của họ ra sao. Họ nhảy múa trước ô cửa bên trong, những động tác thô thiển, hơi thành nhịp một chút, trông như chỉ động đậy uốn éo thế thôi.
Cuối cùng gã phù thuỷ mở cửa sau lưng tôi. Đám chủ nhân của tôi vẫn ngồi đó, chỉ nhìn tôi và không nhúc nhắc gì hết. Tôi quay lưng lại và nhìn thấy linh vật hai đầu như hai lưỡi rìu, mũi là một sợi dây thép uốn cong như con rắn.

Họ nhấc tôi đến trước bệ thờ linh vật, bắt tôi uống một thứ nước đen sì, rất chua, chua loét, khiến đầu óc tôi nóng ran như lửa đốt. Thế là tôi cười vang: vậy là tôi đã được sỉ nhục, được hành hạ. Họ cởi hết quần áo tôi ra, lấy dầu nhờn lau khắp người tôi quất dây thừng tẩm nước muối vào mặt tôi. Tôi cười sằng sặc và cố quay đầu đi, nhưng mỗi lần tôi quay đi thì mấy người đàn bà đứng bên lại túm tai tôi kéo tôi quay mặt về phía linh vật và để tôi nhận sợi dây thừng tẩm nước muối quất vào mặt. Gã phù thuỷ tiếp tục quất tôi. Tôi chỉ nhìn thấy cặp mắt của gã đằng sau lỗ hổng vuông trên mặt nạ. Mặt tôi đầy máu nhưng tôi vẫn cười sung sướng. Họ dừng lại nhưng không ai nói gì, trong khi đó đầu óc tôi ong ong, nhức nhối. Họ bắt tôi đứng lên và ngước mắt nhìn linh vật. Tôi không cười nữa. Tôi hiểu rằng thế là từ nay tôi phải thở phụng, phải sùng kính nó. Không, tôi không cười nữa.

Nỗi sợ hãi và nỗi đau đớn làm tôi nghẹn cổ họng.
Thế là từ đó, trong căn nhà trắng toát, giữa bốn bức tường bị mặt trời bên ngoài nung nóng, mặt tôi căng ra, trí óc tôi mụ mẫm, đúng thế, tôi bắt đầu cầu nguyện linh vật. Chỉ còn mỗi nó và khuôn mặt ghê tởm của nó dù sao vẫn chưa đáng ghê tởm bằng thế giới bên ngoài. Đến lúc đó họ buộc hai cổ chân của tôi bằng một sợi dây thừng chỉ vừa đủ để tôi đi được những bước ngắn. Bây giờ đám phụ nữ lại nhảy nhót nhưng lúc này là trước bệ thờ linh vật. Các “ông chủ” tản dần ra ngoài.

Lúc họ ra hết, khép cửa lại, tiếng nhạc vang lên.
Gã phù thuỷ đã châm lửa vào một đống vỏ cây đặt dưới đất rồi nhảy múa xung quanh. Bóng gã in lên tường, to lớn và bị gãy theo những đương góc bập bềnh trên những mặt tường phẳng. Đám đàn bà lôi tôi vào góc nhà gã phù thuỷ vạch thành một hình chữ nhật xung quanh tôi. Tôi cảm thấy những bàn tay đàn bà khô và mềm mại. Đám đàn bà đặt trước mặt tôi một bát nước và một đống nhỏ hạt ngũ cốc rồi trỏ vào linh vật. Tôi hiểu rằng họ bảo tôi là phải nhìn lên đó. Gã phù thuỷ lúc gọi họ đến xung quanh đống lửa, quất roi vào họ khiến cho một vài người đàn bà rên rỉ. Sau đó họ bước đến trước bệ thờ và cúi lạy linh vật. Gã phù thuỷ vẫn nhảy nhót và đẩy đám đàn bà ra ngoài, chỉ còn lại một cô gái rất trẻ ngồi bên cạnh các nhạc công vẫn chưa bị đánh. Gã phù thuỷ túm lấy một dải tóc của cô gái, quay bàn tay quấn dần dải tóc vào đó cho đến lúc cô gái bật ngửa, cặp mắt trợn lên vì đau đớn. Cuối cùng, cô ngã ngửa ra đất. Gã phù thuỷ buông cô ra và hét lên gì đó. Đám nhạc công úp mặt hết vào tường, trong khi gã phù thuỷ vẫn trong chiếc mặt nạ có hai lỗ vuông, đảo mắt và miệng vẫn tiếp tục kêu to dần đến lúc không thể kêu to hơn được nữa. Cô gái lăn lộn trên sàn như lên cơn rồi chống hai tay và hai chân lên, cô kẹp đầu vào giữa hai cánh tay. Cô cũng kêu những tiếng nhỏ và gã phù thuỷ, miệng vẫn hét, mắt đăm đăm nhìn lên linh vật, gã bắt đầu làm tình với cô gái, động tác nhanh nhẹn nhưng phũ phàng. Lúc này không thấy được mặt cô gái vì cô chổng mông và nhữngvạt áo dày che lấp. Và tôi, do cảm giác cô đơn và hoang mang, tôi cũng kêu lên kinh hãi trước linh vật cho đến khi một bàn chân đá mạnh, hất tôi đập người vào tường, miệng tôi ngoạm vào muối trên tường giống như lúc này đây, tôi đang ngoạm vào tảng đá bằng cái miệng không có lưỡi, đợi kẻ mà tôi phải giết.

Lúc này mặt trời đã bắt đầu xế bóng. Qua khe đá tôi nhìn thấy mặt trời như một cái lỗ đục giữa tấm sắt tây nóng bỏng, giống một sa mạc không màu sắc Trên con đường trải dài trước mặt tôi không có thứ gì hết, kể cả một hạt bụi ở chân trời. Chắc hẳn họ đang lùng tôi. Nhưng không, chỉ đến cuối buổi chiều họ mới mở cửa ra và phát hiện được là tôi đã bỏ trốn. Bởi vì vào lúc đó họ thường cho tôi ra ngoài một chút sau cả một ngày quét dọn, lau chùi căn nhà đặt linh vật, thay các đồ dâng cúng. Rồi đến tối mới là giờ lễ. Thông thường họ đánh đập tôi, chỉ thỉnh thoảng mới không, bắt tôi thường xuyên thờ phụng linh vật, linh vật mà hình ảnh in sâu vào trí óc tôi như bị đốt bằng sắt nung đỏ, hằn vào ký ức tôi và bây giờ là vào niềm hy vọng của tôi. Chưa bao giờ có một Đấng thượng đế nào lại nắm giữ tôi và nô dịch tôi chặt chẽ đến như linh vật này. Toàn bộ cuộc sống của tôi, cả ngày lẫn đêm tôi đều dâng hiến cho nó. Nỗi đau đớn và cả nỗi không đau đớn, thậm chí cả niềm vui đều do nó ban cho tôi, thậm chí cả nỗi thèm khát, do ngày nào tôi cũng phải chứng kiến cái hành động làm tình lạnh lùng và tàn bạo bằng tai chứ không phải bằng mắt bởi lúc gã phù thuỷ làm chuyện đó, tôi phải úp mặt vào tường, nếu không sẽ bị đánh ngay. Nhưng mặt úp vào tường bằng muối, bị những cái bóng đen thú vật lay động trên vách áp đảo, tôi nghe rõ tiếng kêu kéo dài, cổ họng tôi khô khốc và một nỗi thèm khát khiến thái dương và dưới bụng tôi quặn đau.

Ngày lại ngày cứ tiếp tục như thế đến nỗi không phân biệt ngày nào với ngày nào bởi chúng hoà tan vào nhau trong một cái nóng thiêu đốt và sự phản chiếu của những bức tường muối lạnh lùng. Thời gian chỉ còn là một sự bùng nhùng không rõ hình thù cắt quãng đều đặn những tiếng kêu thét đau đớn chiếm đoạt. Tất cả chỉ như một ngày kéo dài dằng dặc không tuổi tác, nơi linh vật ngự trị giống như vầng mặt trời tàn ác ngự trị trên mái che bằng đá của tôi lúc này. Và bây giờ cũng như lúc đó, tôi khóc vì đau đớn và vì thèm muốn. Một niềm hi vọng độc ác thiêu đốt tôi. Tôi muốn phản bội. Tôi liếm nòng khẩu súng của tôi và linh hồn của nó bên trong; linh hồn của nó, chỉ những khẩu súng mới có linh hồn; mà đúng thế, từ ngày họ cắt mất lưỡi của tôi tôi đã học được cách thờ phụng linh hồn bất tử của lòng căm hờn.
Sao mà mọi thứ rối tung đến thế, sao mà tôi uất giận đến thế, cái nóng làm tôi mê đi, tôi cúi xuống, áp má vào khẩu súng. Ai đang thở hổn hển vậy?

Tôi không thể chịu nổi cái nóng dài dằng dặc, tôi không chịu nổi sự chờ đợi. Tôi cần phải giết ông ta.
Không một con chim nhỏ, không một ngọn cỏ, chỉ có tảng đá, một nỗi thèm muốn khô cằn, sự im ắng, những tiếng kêu của gã phù thuỷ và cô gái, cái tiếng nói bên trong của tôi đang nói và từ ngày họ huỷ hoại thân thể tôi, nỗi đau khổ kéo dài, phẳng lì. Và vắng vẻ thiếu cả đến nước của ban đêm, cái ban đêm mà tôi thường ao ước, khi bị nhốt cùng với Đấng thượng đế, trong cái hốc bằng muối. Chỉ trời đêm với những vì sao tươi tắn và những dòng suối tối tăm mới có thể cứu rỗi được tôi, bứt tôi ra khỏi những Đấng thượng đế độc ác của loài người, nhưng vì liên tục bị giam cầm tôi không sao được chiêm ngưỡng những thứ đó.

Nếu như kẻ truyền giáo kia đến trễ, tôi sẽ được thấy trời đêm ít nhất cũng mọc lên từ sa mạc, chiếm lĩnh bầu trời, cành nho lạnh sẽ rủ xuống từ đỉnh bầu trời tăm tối và tôi có thể uống ở đó thoả thích, thấm ướt cái lỗ đen ngòm và khô khốc không còn một thớ thịt nào mềm mại và sống động có thể làm cho ẩm ướt và mát mẻ. Tôi thèm được quên đi cái ngày mà nỗi điên rồ đã chi phối cái lưỡi của tôi.

Hôm đó trời nóng khủng khiếp, muối chảy ra hay ít nhất cũng là tôi tin như thế, không khí làm mắt tôi nhức buốt, gã phù thuỷ bước vào, không đeo mặt nạ. Gã gần như trần truồng, chỉ có một mảnh vải xám khoác trên người. Một cô gái mới bước theo sau gã, mặt săm những đường ngoằn ngoèo giống như mặt linh vật. Cô không nói năng gì, vẻ mặt đờ đẫn như một ngẫu tượng ác thần. Chỉ riêng thân thể gầy và phẳng của cô ta là có sinh khí. Cô ta nằm xuống bệ thờ linh vật trong lúc gã phù thuỷ mở cửa phía trong. Gã đi ra không hề nhìn tôi. Cái nóng tăng lên. Tôi không động đậy. Linh thần trên cao vẫn nhìn xuống tôi qua tấm thân bất động đang nằm bên dưới. Tuy vậy những thớ thịt trên người cô gái vẫn nhúc nhích. Khuôn mặt như mặt ngẫu tượng không thay đổi lúc tôi bước đến gần. Chỉ có cặp mắt mở to của cô nhìn tôi. Chân tôi chạm vào chân cô. Cô vẫn không nói gì, chỉ chăm chú nhìn tôi bằng cặp mắt mở to. Đang nằm nghiêng, cô từ từ xoay người để nằm ngửa ra, khẽ thu lại hai chân và choài hai đầu gối ra. Nhưng gã phù thuỷ đã rình và ngay lúc đó họ ùa vào, lôi tôi ra khỏi cô gái, đánh đập rất mạnh vào vật tội lỗi của tôi. Nhưng tội lỗi nào, tôi cười, thế đức hạnh thì ở đâu? Họ đẩy áp tôi vào tường, một bàn tay cứng như thép bóp chặt hàm tôi, một bàn tay khác cậy miệng tôi, kéo lưỡi tôi ra cho đến khi nó chảy máu và lúc đó chính là tôi kêu thét lên cái tiếng kêu của loài thú vật. Một nhát đưa nhẹ và mát mẻ, đúng thế, mát mẻ lướt trên lưỡi tôi. Lúc tôi tỉnh lại, xung quanh không còn ai. Một mình tôi trong đêm tối, ngồi tựa lưng vào tường, mồm đầy máu đã khô lại rồi. Một nắm lá khô bít đầy, kín miệng tôi. Một mùi là lạ, máu không chảy nữa nhưng tôi cảm thấy bên trong miệng rỗng thế nào ấy và chỉ thấy một nỗi đau khủng khiếp trong đó.

Tôi định đứng lên nhưng lại ngã vật xuống, sung sướng, tôi vô cùng sung sướng khi thấy mình sắp được chết. Cái chết đối với tôi lúc ấy sao dễ chịu đến thế. và trong bóng của nó không có một thượng đế nào ngự trị.
Tôi lại chưa chết. Một nỗi căm hờn trẻ trung một ngày kia đã vùng lên đồng thời với tôi, đi tới khung cửa phía trong, mở, đi ra rồi khép lại. Tôi căm hờn những đồng bào của tôi, linh vật vẫn ngồi đó và trong đáy cái hốc mà tôi bị nhốt, tôi đã làm một việc hay ho hơn là cầu nguyện y, tôi đã tin vào y và từ bỏ tất cả những gì tôi đã tin trước đó. Linh vật kia là sức mạnh, là uy lực, người ta có thể phá huỷ y nhưng không thể cải giáo cho y.
Y nhìn tôi bằng cặp mắt trống rỗng và han gỉ. Y là một ông chủ, là thượng đế duy nhất mà tính chất kèm theo là sự độc ác. Làm gì có ông chủ nhân đức?

Lần đầu tiên trên đời, do bị sỉ nhục quá nhiều toàn bộ xác thịt kêu thét với một nỗi đau duy nhất, tôi đã phó thác tôi cho y, và chấp nhận giáo lý tàn bạo của y, tôi sùng tín thói ác độc trên thế giới này chứa đựng trong y.
Là tù nhân trong vương quốc của y, thị trấn cằn cỗi khoét trong ngọn núi muối, tách rời khỏi thiên nhiên, bị tước mất những mùa đâm hoa kết trái ngắn ngủi và hiếm hoi của sa mạc, chịu đựng chi phối của những ngẫu nhiên, một đám mây bất ngờ, một trận mưa hung hãn và ngắn ngủi mà ngay mặt trời và những cồn cát cũng còn được biết tới, thị trấn mang trật tự với những góc vuông, những ngôi nhà hình hộp, những con người thẳng đuỗn, vậy mà tôi tự nguyện làm một công dân hằn học và bị hành hạ của nó, chối bỏ tất cả những gì mà người ta đã dạy dỗ tôi trước đây.

Tôi đã bị lừa. Chỉ có triều đại của sự độc ác mới không rạn nứt. Người ta đã lừa tôi. Chân lý hình vuông, nặng nề, đặc sệt. Chân lý không dung thứ sự đa dạng. Cái thiện chỉ là một điều ước mơ, một ý đồ mà người ta luôn luôn phải xem lại, bắt người ta phải cố gắng đến kiệt sức, một bến bờ mà người ta không bao giờ đạt tới. Triều đại của nó là điều không thể có. Chỉ có cái ác mới đi được tới những giới hạn tận cùng của nó và ngự trị một cách tuyệt đối. Chính cái ác mới là thứ cần sử dụng để tạo nên một vương quốc nhìn thấy được. Sau đấy người ta nghĩ lại, người ta hỏi như thế nghĩa là sao, chỉ duy nhất cái ác là hiện diện. Đả đảo châu Âu, lý trí, danh dự và thánh giá. Đúng, tôi cần phải cải đạo sang cái tôn giáo của các chủ nhân của tôi. Đúng, đúng, tôi là nô lệ, mặc dù hai chân tôi bị buộc dây và lưỡi tôi bị cắt.

Ôi cái nóng này làm tôi phát điên. Sa mạc kêu thét khắp mọi chỗ dưới thứ ánh nắng không thể chịu nổi. Và ông ta, Đấng thượng đế kia, Đấng thượng đế nhân từ, bây giờ chỉ nghe tên ông ta tôi đã buồn nôn, tôi chối bỏ ông ta bởi vì bây giờ tôi đã quá rõ ông ta rồi. Ông ta mơ ước viển vông và ông ta thích nói dối. Họ đã cắt lưỡi để lời lẽ của ông ta không lọt ra làm mê muội mọi người được nữa. Họ đã đóng đinh vào tận trong đầu ông ta, tội nghiệp cái đầu ấy, giống như cái đầu của tôi lúc này, rối tung rối mù cả lên. Sao tôi mệt thế này? Đất có rung đâu, tôi biết chắc là như thế. Không phải người bị giết là một người chính nghĩa. Tôi nhất định không tin là như thế. Làm gì có người chính nghĩa mà chỉ có những kẻ tàn ác tạo nên sự ngự trị của cái chân lý không bao giờ nguôi. Đúng thế. Chỉ cái linh vật kia mới có sức mạnh. Nó là đấng thượng đế duy nhất của cõi đời này. Mệnh lệnh của y là căm hờn. Đó cũng là cội nguồn của mọi sự sống, là làn nước tươi mát, mát như bạc hà làm lạnh miệng và đốt cháy dạ dầy.
Lúc đó tôi đã đổi tín ngưỡng. Họ thấy được điều đó. Tôi hôn bàn tay họ mỗi khi tôi gặp họ. Tôi là người của họ, tôi chiêm ngưỡng họ không biết mệt. Tôi tin cậy họ. Tôi hi vọng sẽ làm tàn phế những người phía chúng ta giống như họ đã làm tôi thành phế nhân. Và khi tôi biết tin một giáo sĩ sẽ đến truyền giáo ở đây tôi hiểu rằng tôi sẽ phải làm gì.

Ngày hôm nay giống như mọi ngày khác, nằm trong cái ngày dài dằng dặc đã khởi đầu trước đây bao nhiêu lâu. Cuối buổi chiều, tôi nhìn thấy một tên lính canh xuất hiện, chạy trên bờ cái chảo khổng lồ là thị trấn này. Vài phút sau, tôi bị giải về căn nhà thờ linh vật, cửa đóng. Một tên trong bọn giữ chặt tôi dưới đất, trong bóng tối, giơ sẵn thanh kiếm lên đe tôi. Thanh kiếm hình cây thánh giá. Nỗi lặng lẽ kéo rất dài, cho đến khi một tiếng động lạ rung chuyển cả thị trấn vốn xưa nay bình thản. Nhiều giọng nói vẳng đến tai tôi, một lúc sau tôi mới nhận ra là họ nói thứ tiếng của nước tôi. Nhưng khi những tiếng nói đó vẳng đến thì tên lính canh hạ mũi kiếm sát mắt tôi và hắn im lặng chăm chú nhìn tôi. Tôi vẫn còn nghe thấy hai giọng nói, một người hỏi tại sao căn nhà này lại phải canh giữ, hay ta phá cửa ra, thưa trung uý? Người kia đáp cụt lủn “Đừng!” rồi sau đó một chút, y nói thêm rằng bản thảo ước đã được ký kết. Thị trấn này chấp thuận một đơn vị gồm hai mươi chiến binh với điều kiện họ đóng quân bên ngoài hàng rào bao quanh thị trấn và họ tôn trọng phong tục tập quán của dân sở tại. Người chiến binh cười họ nhượng bộ nhưng viên sĩ quan không biết, cũng có thể đây là lần đầu tiên họ chịu nhận một người nào đó chữa bệnh cho trẻ con và người đó là cha tuyên uý, sau khi họ đã chiếm được đất. Người chiến binh nói rằng nếu như quân đội không có mặt ở đây thì dân chúng sở tại sẽ cắt tai ông tuyên uý mất. Viên sĩ quan đáp: “Không đâu, cha Beffort sẽ đến đây trước cả đơn vị đồn trú. Chỉ hai ngày nữa cha sẽ tới”. Tôi không nghe thấy thêm gì nữa, hồi hộp dưới mũi kiếm chĩa vào đầu tôi. Một bánh xe gài đầy kim và móc nhọn đang quay cuồng trong người tôi. Họ điên rồi ! Họ điên rồi! Sao họ lại để cho đám quân sĩ kia vào được thị trấn, xâm phạm sức mạnh bất chiến bại của họ, xâm phạm vào thượng đế chân chính thật sự và kẻ kia, tên giáo sĩ sắp đến kia, họ sẽ không cắt lưỡi hắn được và hắn sẽ huênh hoang thuyết giáo một cách hỗn hào về lòng nhân đức mà không phải trả giá, không bị lăng nhục gì hết. Triều đại của cái ác sẽ bị trì hoãn, sẽ lại xuất hiện nỗi hồ nghi. Người ta sẽ lại mất thời gian mơ tưởng những điều viển vông không thể thực hiện được, lại tốn bao công sức vô ích trong khi lẽ ra cần phải đẩy nhanh cho mau tới cái triều đại duy nhất có thể có. Và tôi nhìn lên mũi kiếm đang lăm lăm trên đầu. Ôi, sức mạnh duy nhất, hãy ngự trị trên thế gian này đi? Ôi, sức mạnh!

Thị trấn dần dần trở nên im ắng, cuối cùng cửa mở ra và tôi còn một mình, như bị thiêu đốt, cay đắng, cùng với linh vật. Và tôi đã thề với nó rằng tôi sẽ bảo vệ tín ngưỡng mới của tôi, bảo vệ những ông chủ thật sự của tôi, vị thượng đế bạo chúa, rằng tôi sẽ phản bội lại tín ngưỡng ngày trước bằng bất cứ giá nào.
Cái nóng giảm đi đôi chút. Tảng đá không còn rung lên nữa. Tôi có thể chui ra khỏi cái hốc, nhìn sa mạc đang được che phủ dần bằng những màu vàng, rồi màu vàng đất và cuối cùng là màu vàng xám. Đêm qua, tôi đã đợi cho họ ngủ, tôi đã mở khoá cửa bước ra đi theo cái cách mà sợi dây thừng buộc nối hai cổ chân tôi cho phép. Tôi thuộc phố xá, tôi biết đến nơi nào có thể kiếm được một khẩu súng, cổng nào không có lính canh và tôi có cảm giác như mình núp trong cái hốc đá này bao nhiêu ngày rồi.
Mau lên, thằng cha truyền giáo kia đến mau lên! Chỉ lát nữa thôi, họ sẽ tìm tôi, sẽ lục soát tất cả các ngả, các phía, họ không biết rằng tôi ra đây là vì họ, là để hầu hạ họ tốt hơn. Hai chân tôi run lẩy bẩy vì đói và vì căm hờn.
Ôi, kia rồi, nơi cuối đường hai con lạc đà hiện ra và lớn dần, chạy nước kiệu và tôi đã thấy bóng của chúng ngắn ngủn in trên cát hai kẻ đó cưỡi lạc đà vẫn với cái vẻ hồ hởi và mơ mộng như mọi khi. Vậy là chúng đây rồi!

Khẩu súng đâu, mau lên. Tôi nạp đạn thật nhanh. Ôi linh vật, vị thượng đế của tôi nơi kia, cầu cho sức mạnh của Ngài vững vàng, cầu cho nỗi uất hận được tăng gấp nhiều lần, cầu cho lòng hờn căm ngự trị không thương xót trên một thế gian đầy những kẻ đau khổ, đọa đầy, cầu cho cái tàn ác vĩnh viễn là ông chủ, cầu cho cái vương quốc trở lại, nơi trong thị trấn duy nhất bằng sắt thép và bằng muối kia sẽ có những bạo chúa đen đủi nô dịch và chiếm đoạt các cô gái một cách không thương xót. Và bây giờ, bàn tay này hãy nổ súng vào lòng thương cảm, nổ súng vào sự bất lực và lòng nhân từ, nổ súng vào tất cả những gì ngăn và làm chậm lại sự xuất hiện của cái ác. Hai phát súng nổ và kia rồi, chúng ngã xuống và hai con lạc đà chạy thẳng về phía chân trời, nơi hai bầy chim đen sì vừa cất cánh lên bầu trời nhợt nhạt. Tôi cười, cười mãi. Tên linh mục truyền giáo quằn quại trong tấm áo chùng bạc màu, hắn nghển đầu nhìn thấy tôi, tôi, thầy của hắn hùng mạnh bị buộc hai chân, tại sao tôi lại cười, tôi nín không cười nữa. Tiếng động phát ra khi báng súng này đập vào mặt hắn mới sướng tai làm sao. Hôm nay, hôm nay, rút cuộc thế là xong và trên khắp sa mạc, kể cả những nơi cách đây hàng giờ đường, những con chó rừng sẽ nghển mũi lên đánh hơi và sẽ chạy về phía nơi bữa tiệc xác chết đang đợi chúng.
Thắng lợi rồi! Tôi giơ cả hai tay lên trời, bầu trời đang lụi đi dần, một bóng màu tím hiện lên mờ mờ bên kia đường. Ôi, những đêm châu Âu, tổ quốc, thời thơ ấu, tại sao nước mắt tôi lại trào ra giữa lúc chiến thắng này?

Cái bóng kia nhúc nhích, không phải, tôi nghe tiếng động từ đâu đó vẳng lại và kia, chính là họ.
Họ đang chạy lao về phía tôi như một đàn chim đen đủi những vị chủ nhân của tôi, họ túm lấy tôi, ôi, họ đánh tôi, họ sợ thị trấn của họ bị tàn huỷ và vang lên những tiếng hô reo, họ sợ những tên lính đến trả thù sau hành động của tôi, tại thị trấn thiêng liêng kia. Bây giờ xin các vị cứ tự vệ đi, cứ đánh đập tôi đi. Chân lý thuộc về các vị kia mà! Ôi, các vị chủ nhân của tôi, họ sẽ chiến thắng được đám binh sĩ, sẽ đánh bại được lời lẽ và tình yêu thương, họ sẽ lên sa mạc, sẽ băng qua biển cả, sẽ dùng những cánh buồm đen của họ dìm đi làn ánh sáng của châu Âu. Các vị chủ nhân của tôi, các vị hãy đánh đi, đánh vào bụng tôi, đánh vào mắt tôi, hãy rắc muối lên khắp lục địa. Mọi cây cỏ, mọi thứ gì thanh xuân sẽ tàn lụi và từng đám người dây buộc hai chân như tôi bây giờ, sẽ bước bên cạnh tôi trong cái thế gian vắng tanh như sa mạc, dưới vầng mặt trời độc ác của thứ tín ngưỡng chân chính. Tôi không còn là kẻ duy nhất nữa. Ôi, cái ác đã tạo nên tôi, nỗi giận dữ của họ là chính đáng. Và khi họ căng hai chân hai tay trên tấm ván lính chiến, tôi cười, tôi sung sướng được đóng đanh câu rút như thế này.

Sao sa mạc yên tĩnh đến thế? Đêm đã xuống và tôi nằm một mình. Tôi khát cháy cổ. Vẫn còn phải đợi. Thị trấn ở đâu? Những tiếng động rất xa. Và bọn binh sĩ khéo đã thắng rồi. Không, không thể thế được. Nếu như binh sĩ thắng thì chúng chưa đủ tàn ác, chúng không biết cách cai trị, chúng sẽ lại nói rằng cần phải tốt hơn và rồi lại vẫn có hàng triệu người bối rối giữa cái thiện và cái ác, luôn luôn bị dằn vặt. Ôi, hỡi linh vật, tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi? Thế là hết, tôi thấy khát cháy cổ, thân thể tôi nóng như bị thiêu, đêm tối tràn vào hai mắt tôi.

Giấc mơ dài dằng dặc ấy kết thúc, tôi tỉnh dậy, nhưng không, tôi sắp chết, trời bắt đầu sáng, ánh sáng đầu tiên của ngày này là dành cho những người sống, còn tôi thì chỉ là mặt trời trong hư ảo, là đám ruồi nhặng. Ai nói vậy? Không ai hết. Bầu trời không mở ra đối với tôi nữa rồi, không, thượng đế đâu có lên tiếng giữa sa mạc? Nhưng tại sao vẫn có tiếng nói nào đấy văng vẳng bên tai tôi: “Nếu như mi nhận cái chết vì hằn thù và sức mạnh thì ai sẽ tha thứ cho chúng ta?” Hay đấy là cái lưỡi khác trong miệng tôi, hay kẻ kia chưa chịu từ giã cõi đời vẫn nằm dưới chân tôi và nhắc đi nhắc lại. “Dũng cảm lên, dũng cảm lên, dũng cảm lên?” ôi, nếu như tôi lại lầm lần nữa? Những con người ngày xưa thân ái với nhau, những kẻ tôi có thể nhờ cậy, ôi, nỗi cô đơn, đừng bỏ tôi! Đây rồi, người là ai vậy, tơi tả, miệng đầy máu, ông đấy à, ông phù thuỷ? Vậy ra đám binh sĩ đã đánh bại được ông rồi, muối đang bốc cháy nơi kia, chính ông là kẻ tôi tôn làm ông chủ kính mến của tôi! Hãy bỏ cái vẻ hằn thù trên khuôn mặt ông đi, hãy lành hiền đi, tôi với ông đều lầm lẫn, chúng ta hãy bắt đầu lại, chúng ta hãy khôi phục thị trấn để thành một nơi tình thương.

Tôi muốn trở về nhà. Đúng, ông hãy giúp tôi, chìa tay ra, đúng thế, đưa tay cho tôi. Một nắm cát bị ném vào đầy miệng của tên nô lệ ba hoa.

VŨ ĐÌNH PHÒNG dịch.



Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Quote-the-realization-that-life-is-absurd-and-cannot-be-an-end-but-only-a-beginning-this-is-a-truth-albert-camus-216203

Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon Nov 27, 2017 8:19 pm

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 14_nhavan24
Nhà văn Na Uy Knut Hamsun (1859-1952)

Tiếng gọi đời thường
Knut Hamsun
(Nobel 1920)


Ở gần khu cảng của Copenhagen, có một con đường tên là Vestervold, tuy mới nhưng vắng vẻ. Ở đó chỉ có vài ngôi nhà, mấy ngọn đèn hơi đốt và hầu như không người qua lại. Ngay cả lúc này, mùa hè, cũng khó mà thấy ai đi dạo ở đó.
Vậy mà, đêm qua tôi đã gặp một chuyện ngạc nhiên trên con đường ấy.

Tôi đang đi loanh quanh thì có một phụ nữ từ phía ngược đi tới. Quanh đó không bóng người. Ngọn đèn đường có đốt, nhưng vẫn tối, tối đến tôi không nhìn rõ mặt bà ta. Tôi thầm nghĩ, hẳn cũng là loài đi ăn đêm đây, và đi qua bà ta.

Đến cuối đường tôi thả bộ vòng lại. Bà ấy cũng quay lại và chúng tôi chạm mặt lần nữa. Tôi nghĩ bà ta đang chờ ai đó và bỗng tò mò muốn biết người đó là ai, thế là tôi lại đi qua bà ta.

Khi chạm mặt lần thứ ba, tôi khẽ bỏ mũ và nói:
- Xin chào bà! Chắc bà đang đợi ai?
Bà ta giật mình. Không - tức là, phải - bà ta đang đợi.
- Bà có phiền khi tôi cùng đi dạo với bà cho đến khi người ấy tới không?
Không - ít nhất bà ta cũng không phản đối điều đó, và còn cảm ơn tôi nữa. Thật ra, bà ta giải thích, bà chẳng đợi ai. Bà chỉ muốn hít thở khí trời, mà ở đây thì yên tĩnh.

Chúng tôi đi loanh quanh bên nhau, và bắt đầu nói về đủ thứ chuyện tầm phào. Tôi giơ tay cho bà khoác.
- Không, cám ơn ông - bà ta nói, và lắc đầu.

Đi dạo kiểu này mãi thì chẳng có gì hứng thú. Tôi không nhìn rõ được bà trong bóng tối, tôi bèn đánh một que diêm để xem đồng hồ. Tôi giữ yên cây diêm và nhìn bà ta.
- Chín rưỡi rồi, - tôi hỏi - Hay ta ghé vào chỗ nào đó uống cái gì đi? Ở Tivoli nhé? Hay National?
- Nhưng, ông không hiểu là tôi không thể đi đâu được sao?

Và đến bây giờ tôi mới nhận ra bà đeo một tấm mạng đen dài. Tôi. vội vàng xin lỗi, và đổ thừa cho bóng tối khiến tôi không được rõ. Và cung cách bà nhận lời xin lỗi của tôi khiến tôi tin rằng bà không thuộc loại gái ăn đêm thường thấy.
- Bà không khoác tay tôi được sao? - Tôi lại đề nghị - nó sẽ làm bà ấm hơn một chút.
Và bà khoác tay tôi.

Chúng tôi lại đi lên đi xuống vài vòng nữa, bà bảo tôi xem giờ.
- Mười giờ rồi, bà ngụ ở đâu vậy ?
- Ở Gamle Kongevei.
Tôi dừng bà ta lại:
- Tôi có thể đưa bà về nhà không?
- Không tiện đâu, - bà đáp - Không, tôi không thể để ông... Ông ở Bredgade phải không?
- Sao bà biết vậy? - Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Ồ, tôi biết ông là ai mà, - bà ta trả lời.

Ngưng một lát, chúng tôi khoác tay nhau đi về phía những phố sáng đèn. Bà đi nhanh nhẹn, tấm mạng dài phất phơ đằng sau.
- Ta nên nhanh nhanh một chút, - bà nói.

Đến cửa nhà bà ở Gamle Kongevei, bà quay lại như để cảm ơn tôi đã đưa bà về. Tôi mở cửa cho bà và bà chậm chạp bước. Tôi nhẹ nhàng đẩy vai vào cánh cửa và bước vào theo. Đến bên trong, bà nắm lấy tay tôi. Cả hai đều không nói một lời.

Chúng tôi theo cầu thang vượt hai tầng lầu và dừng lại ở tầng ba. Tự tay bà mở khóa và xô cánh cửa ra, bà nắm lấy tay tôi và dẫn vào. Có lẽ đó là một phòng khách nhỏ, tôi nghe tiếng đồng hồ tíc tắc trên tường. Khép cửa lại, bà ta sựng lại một chút rồi đột nhiên giơ tay ôm chầm lấy tôi và run rẩy, mê đắm hôn ngay vào môi tôi. Ngay vào môi tôi.
- Ông ngồi xuống đi, - bà bảo - Có cái trường kỷ đây, để tôi đi thắp đèn.
Và bà ta đốt một ngọn đèn.

Tôi nhìn quanh, bàng hoàng, nhưng lại tò mò. Tôi thấy mình ngồi trong một phòng khách rộng rãi, bài trí sang trọng với những cánh cửa khép hờ dẫn sang các căn phòng cạnh đó. Cả đời tôi cũng không thể nhận ra mình vừa tình cờ gặp loại người nào đây.
- Phòng đẹp quá! - Tôi kêu lên - bà sống ở đây hả?
- Phải, đây là nhà tôi.
- Nhà của bà à? Bà còn sống với bố mẹ hả?
- ồ, không, - bà ta cười. - Tôi già rồi, như anh sẽ thấy đây. - Và bà gỡ tấm mạng ra.
- Đó... thấy chưa! - Bà ta nói và ôm chầm lấy tôi lần nữa, thật đột ngột, như bị thôi thúc không kìm được.

Bà ta (phải gọi là nàng mới đúng) chỉ mới khoảng hai mươi hai, hai mươi ba, có một cái nhẫn trên tay phải, và do đó hẳn đã có chồng rồi. Xinh đẹp ư? Không hẳn nàng có nhiều tàn nhang, chân mày hầu như không có. Nhưng ở nàng có vẻ gì rất sôi nổi, và đôi môi của nàng đẹp kì lạ.

Tôi muốn hỏi nàng là ai, chồng ở đâu, nếu quả nàng có chồng, và căn nhà nay là của ai, nhưng nàng lao vào ôm lấy tôi mỗi khi tôi mở miệng và ngăn không để tôi hỏi.

- Tên tôi là Ellen, - nàng giải thích - Ông có muốn uống gì không? Bây giờ tôi có rung chuông gọi thì cũng chẳng có ai phiền. Nhưng có lẽ mời ông qua đây, trong phòng ngủ, chờ cho một chút.

Tôi đi vào phòng ngủ. Ánh đèn từ phòng khách soi qua đây phần nào. Tôi thấy hai cái giường. Ellen rung chuông và gọi rượu vang, rồi tôi nghe tiếng người hầu mang rượu vào và đi ra. Một lát sau Ellen đi vào phòng ngủ, nhưng nàng sựng lại ngay cửa. Tôi vội bước tới. Nàng khẽ kêu một tiếng nhỏ và bước lại tôi.

Đó là đêm hôm qua.
Rồi chuyện gì xảy ra? A, xin hãy kiên nhẫn! Nhiều chuyện lắm!

Đến mờ sáng hôm nay tôi mới thức dậy, ánh sáng tràn vào qua hai bên tấm màn. Ellen cũng thức giấc và mỉm cười với tôi. Đôi cánh tay của nàng trắng và mượt mà, bộ ngực vươn cao khác thường. Tôi thì thầm với nàng và nàng dùng môi để khép miệng tôi lại, hết sức dịu dàng. Ngày rạng dần.

Hai giờ sau tôi mới đứng dậy được. Ellen cũng đang lo mặc y phục, rồi nàng đi giầy vào. Chính lúc đó tôi mới thấy một điều mà đến nay còn làm tôi bàng hoàng như một giấc mộng kinh khủng. Lúc đó tôi đang ở chỗ bồn rửa mặt, Ellen qua phòng bên cạnh làm việc vặt gì đó, và vì nàng không khép cửa nên tôi liếc nhìn được sang phòng bên. Một luồng gió lạnh thổi vào người tôi qua ô cửa sổ, và giữa căn phòng đó tôi nhìn thấy một xác người nằm dài trên bàn. Một xác chết, trong quan tài, có bộ râu xám, xác đàn ông. Hau đầu gối xương xẩu nhô lên dưới tấm vải phủ trông như hai nắm đấm, khuôn mặt tái mét, nhợt nhạt một cách kinh khủng. Dưới ánh sáng ban ngày tôi nhìn rõ mọi thứ và tôi quay mặt đi, không nói nên lời.

Khi Ellen trở lại, tôi đã áo quần tươm tất và sẵn sàng ra đi. Tôi chẳng còn tâm trí đâu đáp lại vòng tay ôm của nàng. Nàng khoác thêm tấm áo nữa, có vẻ như muốn đi cùng tôi xuống tới mặt đường, và tôi để nàng đi theo, vẫn chẳng nói một lời. Đến cổng dưới, nàng nép sát vào tường như sợ bị nhìn thấy.
- Thôi, tạm biệt - nàng thì thầm.
- Đến mai nhé? - Tôi hỏi, phần nào vì muốn thử nàng.
- Không, mai không được.
- Tại sao không được?
- Đừng hỏi nhiều thế. Mai tôi phải đi dự đám tang, một người họ hàng vừa chết. Ông biết rồi đó.
- Thế còn ngày kia?
- Được, ngày kia, cũng ở cửa này. Mình sẽ gặp lại. Tạm biệt.

Tôi bước đi.

Nàng là ai? Còn cái xác nữa? Với bàn tay nắm chặt và khóe miệng trĩu xuống như thế... thật trớ trêu kinh khủng. Ngày kia nàng sẽ chờ tôi. Liệu tôi có nên gặp lại nàng không?

Tôi đi thẳng tới quán cà phê Bernina và hỏi mượn cuốn danh bạ điện thoại. Tôi tìm xem số nhà đó, đường Gamle Kongevei như thế, như thế... và... cái tên đây rồi. Tôi chờ một lúc tới khi người ta phát hành tờ báo buổi sáng. Tôi vội lật tới trang đăng cáo phó. Và như đã tin chắc tôi tìm thấy tên nàng ở đó, ngay dòng đầu; in chữ đậm "Chồng tôi, năm mươi ba tuổi, đã qua đời hôm nay sau một thời gian lâm bệnh". Lời cáo phó được ghi ngày hôm trước.

Tôi ngồi một lúc lâu và ngẫm nghĩ.

Một người đàn ông lập gia đình. Bà vợ trẻ hơn ông ta ba mươi tuổi. Ông bị một căn bệnh mãn tính dai dẳng. Một ngày đẹp trời kia ông ta chết.

Và người goá phụ trẻ thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeFri Dec 01, 2017 9:05 pm

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 41d7bb0b00000578-0-image-m-48-1498667196002-1498719726614-79-0-269-306-crop-1498719750634

Người lính trở về
Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Khi cuộc oanh tạc đánh phá tan hoang chiến hào của hắn tại Fossalta, hắn nằm bẹp dí, vã mồ hôi cầu khẩn Chúa. Chúa ơi cứu con khỏi nơi đây. Chúa ơi, xin cứu con. Nếu Chúa cứu con thoát chết, con sẽ làm bất cứ điều gì Chúa sai khiến, con sẽ tin nơi Chúa và sẽ bảo tất cả mọi người trên thế gian này chỉ có Chúa mà thôi, Chúa mến yêu ơi. Khi đạn pháo qua khỏi vòng tuyến, chúng tôi thu dọn lại chiến hào. Buổi sáng mặt trời mọc, mang đến một ngày nắng oi bức và yên tĩnh. Đêm sau, khi trở về Mestre hắn chẳng kể cho đứa con gái nơi hồng lầu biết về câu chuyện Chúa của hắn. Từ đó hắn cũng chẳng hề hé môi với ai.

° ° °

Hắn (Krebs) vào quân đội khi đang ngồi ghế nhà trường tại Methodist College, tiểu bang Kansas. Kia là tấm hình hắn mặc đồng phục đứng giữa sư huynh đệ của mình. Cả bọn cùng trang lứa với nhau. Hắn gia nhập Thủy quân lục chiến năm 1917 và chỉ trở về Hoa Kỳ khi sư đoàn II rút quân khỏi giòng sông Rhine vào mùa hè 1919. Còn kia là tấm hình hắn chụp bên giòng Rhine cùng hai cô gái Đức và người hạ sĩ. Hắn và người hạ sĩ trông quá khổ trong bộ quân phục, hai cô gái Đức chẳng phải là người đẹp, và con sông thì không rõ hình rõ dạng.

Hắn trở về quê hương Oklahoma của mình quá muộn màng. Đã qua thật lâu rồi giai đoạn thiên hạ tung hô chào đón người hùng trở về từ mặt trận. Các chàng trai đi quân dịch nơi quê hắn đã quay về vẻ vang trong thời điểm ấy. Bọn họ đã đón nhận tất cả sự nhiệt liệt hân hoan mừng buổi đoàn viên từ khắp nơi mọi phía. Sau đó sự việc lắng đọng theo thời gian, và mọi người cho rằng sự trở về muộn màng của hắn thật khôi hài đáng tội vì đã qua khá nhiều năm sau khi chiến tranh hoàn toàn kết thúc.

Lúc đầu hắn chẳng muốn bàn đến chiến tranh, đến những nơi mà hắn từng đi qua như Belleau Wood, Soissons, the Champagne, St. Mihiel và the Argonne. Về sau, khi hắn thấy cần phải nói thì chẳng ai buồn nghe. Quê của hắn đã nghe đầy tai về những câu chuyện tàn bạo kinh thiên động địa, về người thật, việc thật. Hắn nhận ra một điều, muốn được thiên hạ lắng nghe thì hắn cần phải nói dối cho câu chuyện của mình thêm ly kỳ hấp dẫn, và khi nói dối đến lần thứ hai thì hắn đâm ra thù ghét chiến tranh, thù ghét luôn việc đề cập đến nó. Tất cả các điều thêu dệt làm cho hắn mất cảm giác, mất cảm tình với những việc xảy đến với hắn trong thời chiến. Duy chỉ khi nào sâu lắng tâm tư hồi tưởng lại thời gian đã qua của mình, hắn mới thấy dễ chịu và có cảm giác nhẹ nhàng. Khoảng thời gian ấy đã qua thật lâu rồi. Khoảng đời ấy đã cho hắn hoàn thành một việc tối thượng thật đơn giản và tự nhiên, đó là nghĩa vụ duy nhất của người đàn ông. Trong khi người khác có thể sẽ làm một việc khác hơn, để mất đi niềm hào hùng, mất đi giá trị thiêng liêng vô cùng cao quý, và đánh mất luôn chính bản thân họ.

Thật ra lời nói dối của hắn hoàn toàn vô thưởng vô phạt, chẳng quan trọng gì và chỉ góp phần cho câu chuyện riêng tư của hắn mà thôi. Điều mà người khác biết đâu đã từng thấy qua, làm qua, hoặc nghe qua, và cho là sự thật. Toàn là những câu chuyện truyền miệng không chính xác, tuy nhiên lại thường tình xãy ra rất quen thuộc với người lính. Người quen biết với hắn, từng nghe câu chuyện kể tỉ mỉ về những người phụ nữ Đức bị xiềng cứng bên cỗ súng máy tại khu rừng Argonne. Họ chẳng ý thức chi cả về việc mình làm mà vì bị kích động do tinh thần yêu nước nhồi sọ. Bất cứ tay xạ thủ người Đức nào nếu không bị xiềng xích, sẽ làm cho câu chuyện của hắn kém phần xúc động. Tuy thế, hắn khó chịu khi nói không đúng sự thật hoặc phóng đại. Nếu vô tình gặp gỡ và trò chuyện với người từng đi lính như mình, hắn dễ dàng rơi ngay vào vị trí của kẻ già dặn kinh nghiệm giữa những người lính với nhau. Nhớ lại chuỗi ngày tháng làm hắn vô cùng hãi hùng, hắn hoang mang và mất phương hướng hoàn toàn.

Bây giờ là cuối mùa hạ. Hắn thường dậy muộn. Hắn thức dậy chỉ để bát phố, vào thư viện mượn hai quyển sách và về nhà ăn trưa. Sau đó ngồi trước hiên đọc sách đến chán và lại đi lang thang khắp nơi trong vùng, hoặc dành suốt buổi trưa nóng bức bên hồ bơi mát lạnh. Vào buổi tối, hắn dợt lại tiếng kèn của mình, dạo phố, đọc sách và đi ngủ. Đời sống của hắn xem ra thật vô tích sự, nhưng dưới mắt hai cô em gái hắn vẫn là người hùng. Mẹ hắn chiều con, để hắn ăn sáng tại giường nếu hắn muốn. Bà mẹ thường vào phòng khi hắn còn nướng cháy trên giường hỏi thăm về chiến tranh, nhưng sự quan tâm của bà mông lung không rõ rệt.

Trước khi vào quân đội hắn chưa hề được phép lái xe. Cha hắn kinh doanh trong ngành địa ốc, nên luôn cần sẵn chiếc xe để ông đưa thân chủ đi xem nhà đất vào bất cứ giờ phút nào thuận tiện. Chiếc xe đậu trường kỳ bên ngoài ngân hàng nơi ông làm việc trên lầu hai, chiến tranh đã chấm dứt và chiếc xe ấy vẫn còn đây, nguyên hình nguyên dạng. Nói chung mọi việc trong vùng hắn chẳng thay đổi điều gì, trừ mấy đứa con gái lớn lên. Tuy nhiên, đời sống của bọn họ thật phức tạp, và hoàn toàn xa lạ với thế giới của hắn khiến hắn chùn bước chẳng muốn tiến đến. Hắn chỉ thích ngắm họ mà thôi. Rất nhiều cô gái trẻ đẹp. Phần nhiều cắt tóc ngắn ngang vai (bobbed hair). Thời xa xưa khi hắn chưa vào quân đội chỉ có mấy đứa con gái nhỏ mới để tóc kiểu ấy.

Từ mái hiên nhà mình, hắn thích ngắm các cô gái đi ngang phía bên kia đường. Hắn thích nhìn họ bước dưới tàng cây bóng mát. Hắn thích mái tóc ngắn chấm vai và dáng dấp của họ. Thuở trước, họ không gây cho hắn chút ấn tượng gì vì hắn không hề để ý mấy đứa con nít bu quanh chiếc xe kem. Thật ra hắn chẳng thích con người thật của đám con gái ấy vì bọn họ phức tạp và hoàn toàn cách biệt với hắn. Thời gian gần đây hắn để ý một cô, nhưng chẳng muốn làm quen. Hắn thích con gái nhưng lại không muốn bỏ quá nhiều thời gian để được họ vì hắn sợ vướng vòng tằng tịu khổ ải. Hắn lại càng không muốn bận bịu với cuộc hẹn hò. Thật ra, hắn chẳng muốn nói dối điều này thế kia vì hắn nghĩ không đáng để phiền lòng.

Hắn sợ hậu quả. Hắn ngại ngần sợ phải sống ngao ngán với hậu quả thêm lần nữa. Hắn tha thiết muốn sống cuộc đời bình yên lâu dài không chi phối vì hậu quả. Hơn nữa, hắn chưa cần thiết có một người đàn bà. Quân đội đã dạy hắn như thế. Muốn tỏ ra mình cần có một người đàn bà bên cạnh thì đã sao, hầu như ai cũng làm được. Nhưng thật sự không hẳn thế. Đâu cần phải có đàn bà. Hắn nhớ nằm lòng một câu chuyện khá ngộ nghĩnh. Lúc đầu tên bạn bảo hắn đàn bà chẳng nghĩa lý chi với gã cả, rằng gã không bao giờ quan tâm đến họ, và họ đừng hòng động đến sợi lông chân của gã. Đoạn, tên bạn lại bảo gã chẳng thể sống thiếu đàn bà, rằng gã luôn cần có họ vì không có họ gã ngủ chẳng yên. Thật láo lếu. Nói nhăn cuội quanh quẩn cách nào cũng chỉ toàn láo lếu. Thật ra đâu cần phải có người đàn bà bên cạnh, trừ phi mình một lòng một dạ ôm ấp hình bóng họ trong tâm tư. Hắn học điều này từ quân đội. Sớm hay muộn cũng có một người. Khi thời gian đến hồi chín mùi, tự nhiên họ sẽ đến, đâu cần phải nghĩ ngợi mông lung. Sự việc gì, sớm hay muộn rồi sẽ đến, hắn lại học điều này từ quân đội.

Hắn chỉ thích một người con gái nếu người ấy đến với hắn âm thầm đừng nói năng tâm sự gì cả. Nhưng nơi này quá phức tạp, hắn tự hiểu rõ mình chẳng thể nào vượt qua thêm lần nữa. Hắn tự nhủ không đáng để gây thêm phiền toái. Nhớ thuở nào bên mấy đứa con gái người Pháp và người Đức. Ngày ấy, xứ lạ quê người đâu có thể dài dòng văn tự và đâu cần phải nói. Rất đơn giản là chỉ làm bạn nhau mà thôi. Hắn nhớ về nước Pháp, người Pháp. Xong hắn lại nhớ về nước Đức, người Đức. Nói cho cùng, hắn thích người Đức hơn. Hắn chẳng muốn rời nước Đức. Hắn chẳng muốn trở về quê hương, nhưng rồi hắn phải về. Ngồi bên mái hiên nhà mình.

Hắn để ý thích mấy đứa con gái đi ngang nhà từ phía bên kia đường. Hắn chiêm ngưỡng bọn họ và yêu mến dáng dấp của họ hơn mấy đứa con gái người Pháp và người Đức. Tuy nhiên, thế giới của họ không phải là thế giới của hắn. Hắn mong được quen một cô trong bọn, nhưng hắn nghĩ chẳng đáng. Hắn thừa biết họ rất xinh đẹp, nhưng hắn cũng biết mình không kham nổi những điều sẽ hỏi và câu chuyện sẽ kể bên giờ phút tâm tình. Hắn không tha thiết muốn làm quen một người nào cả mà hắn chỉ muốn thương thầm nhớ trộm chiêm ngưỡng cả bọn mà thôi. Nhưng hắn lại nghĩ chẳng đáng, chưa phải ở thời điểm này.

Hắn thường ngồi bên mái hiên đọc quyển sách viết về chiến tranh. Đó là sự kiện lịch sử, và hắn đọc về mối liên quan gắn bó mà hắn từng trải qua. Xưa đến nay chưa bao giờ hắn đọc được điều ưng ý như thế, và hắn ước ao phải chi có thêm tấm bản đồ. Hắn mong mỏi với niềm sung sướng được đọc các sự kiện lịch sử quý giá cùng với tấm bản đồ có đầy đủ chi tiết. Bây giờ hắn mới thật sự hiểu tận tường về chiến tranh, và tự biết mình là một người lính đã hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả.

Vào một buổi sáng khoảng tháng sau khi hắn trở về nhà, bà mẹ bước vào phòng hắn. Bà ngồi lên giường, vuốt chiếc áo.
- Mẹ vừa nói chuyện với cha con đêm qua. Cha có ý muốn cho con dùng xe vào buổi tối.
Hắn dật dờ chưa tỉnh hẳn.
- Cho con lái xe?
- Ừ.
- Mẹ xin cha phải không?
- Không. Do ý của cha con mà thôi.
- Con dám chắc mẹ đã xin với cha.
- Con xuống ăn sáng nhé.
- Chờ con sửa soạn chứ.

Bà mẹ rời phòng. Trong lúc tắm gội, cạo râu, thay quần áo, hắn nghe tiếng mẹ chiên xào dưới nhà. Lúc hắn đang ăn sáng đứa em gái mang thư vào.
- Anh dậy sớm làm gì? Không nướng nữa hở?
Hắn nhìn em. Hắn rất thương con bé này vì nó là đứa em gái ngoan nhất. Hắn hỏi em.
- Lấy báo cho anh chưa?
Con bé đưa cho anh tờ Kansas City Star. Hắn dở lớp giấy dầu bọc bên ngoài, và mở ngay trang thể thao. Hắn xếp gọn tờ báo, dựng tựa vào chiếc bình nước và tô cốm, để vừa ăn vừa đọc. Bà mẹ đứng ngay cửa bếp.
- Nè con, đừng làm dơ đó. để dơ, cha con không đọc đâu.
- Không đâu mẹ.

Đứa em gái ngồi xuống bàn, nhìn hắn đọc báo.
- Anh, chiều nay tụi em chơi banh baseball trong trường. Em sẽ ném banh nè.
- Giỏi
- Em chơi độc hơn mấy thằng con trai nữa đó. Em bảo tụi nó anh dạy em. Mấy con nhỏ kia sức mấy mà giỏi bằng em.
- Ừ.
- Em bảo tụi nó anh là bồ của em. Được không?
- Hừ!
- Bộ làm anh thì không làm bồ được sao?
- Đâu biết.
- Anh biết mà. Chừng em lớn, thì anh làm bồ của em.
- Ừ, thì bây giờ nè.
- Thật hở?
- Thật chứ.
- Thương em không?
- Thương chứ.
- Thương em hoài không?
- Thương mà, đừng hỏi nữa nghe.
- Chiều nay đến xem em chơi không?
- Có thể.
- Hừ! Anh hổng thương em. Nếu thương em thì anh phải đến xem em hạ tụi nó.

Bà mẹ từ nhà bếp bước vào phòng ăn. Bà cầm chiếc đĩa trên có hai quả trứng chiên, vài lát ba rọi nóng ròn, và một đĩa bánh kiều mạch. Bà mẹ bảo con gái:
- Con chạy đi chơi, để mẹ nói chuyện với anh.
Bà đặt đĩa trứng và thịt xuống mặt bàn, đẩy chai đường mật ăn với bánh về phía trước, đoạn ngồi xuống đối diện với hắn.
- Con, bỏ báo xuống. Mẹ muốn nói chuyện với con.

Hắn đặt tờ báo xuống xếp lại gọn gàng. Bà mẹ gỡ đôi kính ra.
- Con có kế hoạch gì chưa?
- Chưa!
- Sao chưa? con phải tính chứ?
Không phải bà mẹ gắt gỏng, nhưng bà lo âu. Hắn trả lời mẹ:
- Con chưa nghĩ qua.
- Con à, Chúa luôn xếp đặt cho mọi người có công việc để làm. Trong nước Chúa, chẳng có bàn tay nào nhàn rỗi vô tích sự cả.
- Con đâu phải ở trong nước Chúa!
- Con à, tất cả chúng ta đều ở trong nước Chúa.

Hắn xấu hổ và bất mãn. Bà mẹ tiếp tục kể lể.
- Mẹ rất lo cho con. Bên ngoài nhiều cám dỗ, và mẹ biết con là người yếu đuối. Ông con, cha con đã kể về cuộc nội chiến làm mẹ sợ hãi, và mẹ luôn cầu nguyện cho con. Mẹ cầu nguyện cho con cả ngày đêm, con ạ.

Hắn cúi nhìn lát thịt nguội lạnh trên đĩa. Bà mẹ thao thao không ngừng.
- Cha cũng lo cho con. Cha nghĩ, con mất đi hoài bão, niềm tin và chưa xác định được hướng đi cho mình. Con biết Charley Simmons chứ? Chỉ bằng tuổi con mà nó có công ăn việc làm đàng hoàng và còn sắp cưới vợ. Mấy đứa con trai xóm này đã yên nơi yên chỗ. Tụi nó có mục tiêu vạch cho mình hẳn hòi. Rồi con xem, những thằng như Charley Simmons sẽ làm được những điều ích nước lợi dân.
Hắn ngậm câm chẳng biết trả lời sao với mẹ.
- Con đừng có cái nhìn như thế. Con rõ hơn ai hết, mẹ thương con và mẹ muốn nói để con được tốt. Cha không muốn xen vào quyền tự do riêng tư của con. Ông ấy còn muốn con lái xe, và ra ngoài tiếp xúc với xã hội. Con muốn hò hẹn gặp gỡ cô nào thì tùy ý con. Cha mẹ đều mừng cho con vì cha mẹ muốn con có đời sống thoải mái, nhưng con phải có công ăn việc làm như mọi người. Con làm bất cứ công việc gì cha mẹ cũng không ngại vì công việc nào cũng đều có giá trị và đáng quý, nhưng con phải bắt tay vào mới được. Sáng nay cha bảo mẹ nói cho con hiểu, sau đó con có thể đi gặp cha.
- Chỉ vậy thôi hở mẹ?
- Ừ, con thương mẹ không?
- Không!
Qua chiếc bàn, bà mẹ nhìn hắn. Đôi mắt long lanh, bà bật khóc. Hắn bảo:
- Con chẳng thương ai cả.

Bậy quá. Hắn không biết nói sao cho mẹ hiểu, hắn không biết làm sao cho mẹ thấy. Nói ra điều ấy thật bậy, hắn chỉ khiến cho mẹ buồn mà thôi. Hắn bước qua bàn, cầm cánh tay mẹ. Bà mẹ tay ôm lấy đầu khóc nức nở. Hắn tần ngần.
- Con không cố tình. Con đang bực bội. Mẹ ơi, thật sự con không cố tình, chẳng phải con không thương mẹ.
Bà mẹ vẫn khóc. Hắn đặt cánh tay mình lên vai mẹ.
- Mẹ không tin con ư ?
Bà mẹ lắc đầu.
- Con xin mẹ. Tin con đi mẹ.
Bà mẹ ngước nhìn hắn, nghẹn ngào.
- Thôi được, mẹ tin con.
Hắn hôn tóc mẹ. Bà mẹ áp má vào hắn.
- Mẹ là mẹ của con. Mẹ đã ẵm bồng con khi con còn bé bỏng.
Hắn bối rối, đầu óc choáng váng mơ hồ.
- Con biết, mẹ. Con đã cố gắng ngoan ngoãn.
Bà mẹ hỏi:
- Con, cầu nguyện với mẹ nhé?
Hai mẹ con quỳ xuống bên cạnh chiếc bàn, đoạn bà mẹ cầu nguyện.
- Con cầu nguyện đi.
- Không được.
- Cố đi con.
- Không được.
- Mẹ cầu nguyện cho con nhé?
- Dạ.

Bà mẹ cầu nguyện cho hắn, xong họ đứng dậy. Hắn hôn mẹ, đoạn bỏ ra ngoài. Hắn đã cố gắng sống bình thường như mọi người, nhưng chưa được. Sự đời nhiều phức tạp còn xa lạ với hắn. Hắn tội cho mẹ mình, bà đã khiến hắn phải nói dối. Nếu hắn bỏ lên thành phố Kansas City tìm được công ăn việc làm hẳn bà rất hài lòng. Trước khi đi, hắn cần giải quyết một chuyện nữa. Hắn sẽ chẳng đến gặp cha mình. Hắn tránh điều này vì hắn không muốn gây thêm điều rắc rối. Mọi việc xem như tạm ổn. Bây giờ hắn muốn đến trường của đứa em gái, xem nó hạ đối thủ.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeWed Dec 06, 2017 6:10 pm

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 47241738b0b400006074d5e7941be1bb--gabriel-garcia-marquez-nobel-prize


Đêm Nguyệt Thực
Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)
Phan Quang dịch

Nhiều bí ẩn khác trong cái khách sạn lập dị này chẳng đơn giản chút nào với Ana Magdalena Bach. Vừa đánh một que diêm, căn phòng đã vang lên tiếng chuông reo và đèn bật sáng, rồi một giọng đầy quyền uy báo cho biết đây là phòng cấm hút thuốc lá - mà nó lại là căn phòng duy nhất nàng có để thuê được trong đêm hội này. Nàng phải gọi người hướng dẫn cho mới hiểu, có thể dùng luôn tấm thẻ chìa khóa phòng để bật đèn, mở tivi, điều chỉnh máy lạnh, khởi động dàn nhạc.

Người ta bày cho nàng cách sử dụng bàn phím điện tử gắn ở bờ cái bồn tắm hình tròn để chỉnh lý các vòi nước, vòi nào thư giãn, vòi nào gợi tình... Tò mò đến cực độ, nàng cởi vội chiếc áo đẫm mồ hôi nắng nóng nghĩa trang, chụp lên đầu cái túi bịt tóc rồi gieo mình xuống bể nước đang cuộn sóng bọt bồng bềnh. Hưng phấn quá, nàng bấm số điện thoại đường dài gọi về nhà, gào lên sự thật với đức ông chồng: “Anh hãy tưởng tượng lúc này em cần anh tới mức nào”. Giọng nàng phấn khích đến nỗi qua dây nói anh chồng nhận rõ sự bốc lửa thật sự của nàng trong bồn tắm.
- Đồ quỷ cái, rồi tôi sẽ cho cô một trận!

Nàng đã tính chuyện gọi thức gì nhấm nháp ngay trong cái tổ ấm tò vò này để đỡ phải mặc áo quần, song bảng giá phục vụ buộc nàng thân hành xuống quầy cà phê dùng bữa tối giống như một kẻ túi cạn sạch tiền. Chiếc áo lụa đen bó sát người, hơi dài một chút so với thời trang nhưng lại ăn với mái tóc. Áo hở cổ quá, gây cho nàng cảm giác như đang ở trần, nhưng chiếc vòng cổ, đôi hoa tai và chiếc nhẫn ngọc bích giả cũng giúp nàng giữ được tinh thần và làm ánh mắt nàng thêm long lanh.

Lúc nàng xuống dùng bữa, đã tám giờ tối. Nàng ăn vội vàng. Khó chịu vì tiếng gào khóc của trẻ con và âm nhạc chói chang, nàng quyết định trở về phòng xem nốt cuốn tiểu thuyết khởi đọc từ ba tháng trước. Sự yên tĩnh ở sảnh khách sạn làm nàng bình tâm dần. Đi ngang qua quầy rượu, nàng để ý một cặp nhảy chuyên nghiệp đang trình diễn bản Vũ khúc Hoàng đế với kỹ thuật cực kỳ điêu luyện. Bị cuốn hút, nàng dừng lại trước quầy rượu cho đến khi cặp nhảy rời khỏi sàn, nhường cho khách. Một giọng nói trai trẻ và dịu dàng thì thào sau lưng, kéo nàng ra khỏi cơn mơ:
- Chúng ta cùng nhảy chứ?

Hai người đứng sát nhau đến nỗi nàng cảm nhận một thoáng rụt rè ở chàng trai qua mùi nước xức sau cạo râu. Thế là nàng quay lại nhìn và tưởng mình ngột thở: “Xin lỗi, - nàng bối rối - tôi đang không dùng trang phục khiêu vũ”. Chàng trai đáp ngay tức khắc:
- Thì chính bà tự chọn trang phục cho mình, thưa bà.

Câu sáo ngữ gây ấn tượng. Một cách vô thức, nàng đưa tay lên đôi vú còn gọn gàng, vuốt hai cánh tay trần, lướt qua phần dưới eo vẫn săn giòn, để chắc chắn đấy đúng là hình thể của mình. Rồi nàng quay lại, lần này không để nhận ra ai vừa nói mà nhằm săm soi chàng trai có đôi mắt đẹp, nàng chưa bao giờ thấy ai có mắt đẹp đến thế.
- Ông thật lịch sự - nàng duyên dáng bảo. Ngày nay chẳng người đàn ông nào dùng những lời như ông vừa nói.

Chàng tiến sát nàng hơn và lặng im đưa tay lặp lại lời mời. Thế là Ana Magdalena Bach, đơn chiếc và tự do trên cô đảo, bám lấy bàn tay chìa ra với tất cả sức mạnh cuồng nhiệt, như thể nàng vừa từ trên bờ vực thẳm lao xuống đấy.

Họ nhảy ba bài valse theo lối cũ. Qua mấy bước đầu tiên, nhìn tài nghệ khéo léo gần như ma mãnh của chàng trai, nàng cho đây là một vũ công chuyên nghiệp các khách sạn vẫn thuê để nhảy thêm rôm rả, và thế là để mặc cho chàng kéo vào những vòng quay vô độ, trong khi vẫn giữ khoảng cách bằng đôi tay. Chàng nhìn thẳng vào mắt nàng, nói: “Bà nhảy đẹp như tiên”. Nàng biết chàng nói đúng sự thật, nhưng nàng cũng thừa biết cậu chàng bày tỏ lời khen ấy với bất cứ người đàn bà nào cậu có ý định gạ gẫm.

Bài nhảy thứ hai, chàng trai cố ý riết sát thân nàng, nhưng Ana vẫn kiềm được, buộc anh chàng giữ đúng khoảng cách. Thế là chàng chăm chú nhảy khéo tựa thiên thần, chỉ đỡ nhẹ người nàng bằng đầu các ngón tay, như thể nâng niu một bông hoa. Đến bài nhảy thứ ba, nàng có cảm giác như đã quen chàng tự thuở nào.

Nàng không thể hình dung một người đàn ông khiêu vũ lối cũ mà có vóc dáng đẹp đến vậy. Nước da chàng hơi tái, đôi mắt chàng bốc lửa dưới lông mày rậm, mái tóc huyền nhoáng keo dính của chàng rẽ đường ngôi hoàn hảo. Chiếc áo lễ phục may bằng hàng tropical lụa bó sát thân, càng tôn dáng công tử hào hoa. Cử chỉ điệu đà cũng như mọi thứ ở người đàn ông này toát ra sự giả tạo, tuy nhiên đôi mắt lại đắm say như đang khao khát thiết tha.

Sau mấy bài valse, chàng thản nhiên dẫn nàng đến một cái bàn đặt nơi riêng biệt mà chẳng buồn ngỏ lời mời. Thật ra cũng chẳng cần: nàng đã biết điều gì khắc xảy ra, và hài lòng thấy chàng gọi sâm banh. Ánh sáng mờ ảo trong phòng trà thật dễ chịu, mỗi bàn lại có đủ khoảng cách riêng tư.

Ana nhẩm tính anh chàng hẳn chưa quá tuổi ba mươi, bởi anh chẳng hề biết gì về điệu boléro. Nàng hướng dẫn chàng nhảy theo vũ điệu ấy cho đến khi chân chàng bắt đúng nhịp. Tuy nhiên nàng vẫn giữ khoảng cách để chàng không nhận ra máu trong huyết quản nàng đang sôi lên bởi hơi rượu sâm banh. Nhưng chàng ép, thoạt đầu dịu dàng, sau đó với tất cả sức mạnh đôi tay ghì chặt thân nàng. Nàng chợt cảm thấy đùi mình chạm cái vật mà chàng trai cố ý cho nó chạm đúng vùng nhạy cảm nhất; và nàng tự nguyền rủa sao mạch mình đập nhanh đến vậy và hơi thở mình thì mỗi lúc mỗi gấp gáp. Dù vậy, nàng vẫn khước từ được chai sâm banh thứ hai. Chàng liền ngỏ ý mời nàng dạo chơi một vòng trên bãi biển. Nàng cố che giấu sự bối rối dưới một câu hỏi bâng quơ ra vẻ thương hại:
- Ông có biết tôi bao nhiêu tuổi rồi không?
- Tôi không sao tưởng tượng ra tuổi bà.
- Xấp xỉ cái tuổi mà ông đoán định.

Chưa nói hết câu, nàng đã thấy chán ngấy bấy nhiêu điều dối trá, và quyết định đặt thể xác mình trước một lựa chọn tuyệt đỉnh: hoặc lúc này hoặc chẳng bao giờ. “Tôi lấy làm tiếc”, nàng nói và đứng lên. Chàng giãy nảy:
- Có việc gì vậy?
- Tôi phải về. Tôi không quen uống sâm banh.

Anh chàng cố đề nghị một vài chương trình khác vô thưởng vô phạt, có lẽ bởi chưa biết khi một phụ nữ đã quyết định ra về, không quyền uy nào của con người hay của thần linh có thể giữ chân. Cuối cùng, chàng nhượng bộ:
- Vậy cho phép tôi tiễn bà chứ?
- Không dám phiền. Và rất thật lòng, cảm ơn ông về buổi tối chẳng thể nào quên này.

Vừa bước vào thang máy, nàng đã hối tiếc. Nàng tự giận mình ghê gớm, nhưng lại được an ủi bởi cảm thấy mình vừa xử sự đúng mực. Vào phòng, nàng tháo giày, nằm ngửa lên giường và châm điếu thuốc lá. Vừa lúc ấy có tiếng chuông réo. Nàng thầm rủa cái khách sạn này, đã bày đặt ra đủ thứ luật lệ hành hạ khách đến cả những chuyện thầm kín thiêng liêng của người ta. Nhưng không phải luật lệ réo gọi, đấy là chàng.

Trong ánh đèn nửa tối nửa sáng ở hành lang, chàng trai trông giống hệt người nặn bằng sáp bày trong viện bảo tàng. Nàng tay vẫn giữ quả đấm cửa, mắt nhìn thẳng vào anh chàng không chút thương hại, song cuối cùng vẫn để cho chàng vào. Chàng trai bước vào như chính đây là phòng mình.
- Cho tôi uống một thứ gì đi.
- Ông hãy tự phục vụ. Tôi hoàn toàn chẳng hiểu mô tê con tàu vũ trụ này nó vận hành thế nào.

Ngược lại, chàng ta biết tất. Chàng nhanh nhẹn hạ bớt ánh sáng, điều chỉnh nhạc nhỏ hơn, rồi lót hai ly sâm banh lấy ở minibar, cử chỉ thành thạo hệt một nhạc trưởng. Nàng sẵn sàng tham gia cuộc chơi, như thể không phải chính nàng vào cuộc mà đang sắm vai nàng. Hai người vừa nâng ly thì chuông điện thoại réo vang; nàng hoảng hốt nhấc máy. Một viên chức phụ trách an ninh của khách sạn, rất nhã nhặn, báo cho biết khách đến chơi không được phép ở lại trong phòng quá nửa đêm, nếu chưa đăng ký ở lễ tân.
- Không cần giải thích - nàng bối rối trả lời. Tôi xin lỗi.

Nàng đặt máy, mặt đỏ như gấc. Anh chàng như thể đã nghe rõ lời cảnh báo, nói: “Vớ vẩn”, rồi chẳng chút chờ đợi, mời nàng cùng xuống bãi biển ngắm cảnh nguyệt thực toàn phần. Tin này hoàn toàn mới mẻ đối với nàng. Từ tuổi thơ, nàng đã mê say xem nguyệt thực; mà sau cả một tối giằng co giữa nền nếp và cám dỗ, lần này chẳng thể viện ra lý do đáng giá nào để khước từ.
- Đi đâu cho thoát. Số mệnh mà. - chàng nói.

Đã viện dẫn tới siêu nhiên thì còn gì nữa mà ngại ngùng. Vậy là họ lên chiếc xe tải nhỏ của chàng đi xem nguyệt thực, bên bờ một cái vịnh kín đáo, chung quanh có rừng cọ bao phủ, tịnh không dấu vết khách du lịch. Nhìn về phía chân trời, thấy hồi quang xa xăm của thành phố; trên bầu trời trong, lơ lửng nàng nguyệt buồn bã cô đơn. Chàng đỗ xe khuất trong bóng cọ, tháo giày, nới thắt lưng và hạ lưng ghế ngồi cho thoải mái. Lúc này nàng mới để ý chiếc xe tải nhỏ có độc hai ghế ngồi đằng trước; chỉ cần ấn một cái nút có thể biến thành giường nằm. Chỗ trống còn lại trong xe dành cho một cái minibar, một dàn nhạc hi-fi Fausto Papetti đang chơi kèn saxo, và một góc vệ sinh đặt cái chậu rửa di động sau tấm rèm đỏ sẫm. Nàng hiểu ra mọi thứ:
- Chẳng có nguyệt thực đâu. Nguyệt thực chỉ xảy ra hôm trăng tròn, mà hôm nay trăng khuyết.
Chàng vẫn tỉnh bơ:
- Thì chờ nhật thực vậy. Chúng ta còn chán thời gian.

Chẳng phải rào đón thêm. Cả hai cùng biết sẽ làm gì; nàng hiểu đấy chính là cái điều khác duy nhất mà chàng ngỏ ý hiến dâng nàng ngay sau bài valse thứ nhất. Nàng ngạc nhiên trước cung cách khéo léo hệt nhà làm ảo thuật khi chàng từ từ cởi bỏ trang phục của nàng bằng đầu các ngón tay, cởi từng chiếc một, nhấc từng mảnh một, kéo từng khóa rút một, nhẹ nhàng như bóc một củ hành tây. Sau loạt đạn đầu của con bò tót, nàng gần như ngất xỉu vì đau đớn. Nàng cảm thấy vừa đớn đau vừa nhục nhã y như con gà mái đang bị xả thây từng mảnh. Nàng ngạt thở, mồ hôi lạnh vã ra thái dương, nhưng nàng cố sức vận dụng mọi bản năng sơ đẳng để khỏi cảm thấy mình quá kém cỏi, quá không ngang tầm; và thế là hai con người buông mình đắm đuối trong hoan lạc ái ân với sức mạnh những con thú.

Ana Magdalena không quan tâm chàng là ai; nàng chẳng hề thử hỏi cho biết. Chỉ khoảng ba năm sau cái đêm không thể nào quên ấy, nàng mới nhận ra anh chàng qua bức chân dung cảnh sát phác họa con quỷ dâm loạn đang bị truy nã suốt cả vùng Caraibes về tội lừa đảo và làm ma cô, chuyên bám váy các bà nạ dòng cô đơn mà vui vẻ trẻ trung. Và cũng có thể chính y là thủ phạm đã sát hại một vài trong số các bà.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon Feb 05, 2018 2:00 pm

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Th?id=OIP.7bxwmLPuCJByCtDML3hL3QAAAA&pid=15

CHÚ BÒ THỦY CHUNG
Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Ngày ấy có một chú bò, tên chú không phải là Ferdinand và chú ta chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì ngoại trừ những bông hoa. Chú thích đánh nhau. Dẫu đã từng so tài với hết thảy những con bò cùng tuổi hay đủ mọi lứa tuổi khác nhau nhưng chú bao giờ cũng là vô địch.

Sừng của chú cứng như loài gỗ quí và nhọn tựa lông nhím. Sau mỗi trận đấu, gốc sừng thường ê ẩm nhưng chú chẳng bận tâm. Cơ trên cổ chú dồn lại thành cục u lớn mà người Tây Ban Nha gọi là morillo. Khối morillo ấy gồ lên như một ngọn đồi nhỏ mỗi khi chú chuẩn bị giao đấu. Chú luôn sẵn sàng chiến đấu, lông, da chú đen bóng, mắt chú phát ra những tia sáng của lòng dũng cảm.

Cái vẻ bề ngoài ấy toát lên nét hiếu chiến và thái độ cao thượng trong cuộc đấu tựa như phong cách của một người lúc ăn, lúc đọc hoặc là đi lễ nhà thờ. Mỗi độ lâm trận, chú đánh hết mình. Những con bò khác không sợ chú vì chúng cùng có một dòng máu kiêu hùng và ý chí bất khuất.

Nhưng chúng chẳng thích khiêu chiến bởi lẽ chúng chẳng muốn đánh nhau với chú.

Chú không tự kiêu và cũng chẳng độc ác, nhưng chú mê đánh nhau như người ta thích hát, thích làm vua hay làm tổng thống. Chú chẳng hề có tham vọng gì trong giao đấu. Đánh nhau, với chú chỉ là bổn phận, nghĩa vụ và niềm hứng khởi.

Chú giao đấu trên vùng đất sỏi, gồ ghê, trong rừng bần và trên cả cánh đồng cỏ ngọt ngào cạnh dòng sông. Chú chạy mười lăm dặm mỗi ngày, suốt từ bờ sông lên đến những vùng đất xấu. Chú đánh nhau với bất cứ con bò nào nhìn chú. Nhưng chú chẳng bao giờ nổi giận.

Thật không chính xác lắm khi nói như vậy bởi lẽ cơn giận của chú chỉ âm ỷ trong lòng. Nhưng chú chẳng rõ nguồn cơn vì không có thời gian suy xét. Chú rất cao thượng và say sưa chiến trận.


Rồi chuyện gì xảy ra? Nếu bất cứ ai sở hữu một con vật như thế thì họ đều biết ngay chú là con vật vô giá nhưng lại rất lo lắng bởi phải tốn quá nhiều tiền để bồi thường chiến phí do chú gây ra. Những con bò bình thường, trị giá hơn cả ngàn đô la nhưng sau khi đánh nhau với chú thì giá của chúng chỉ còn hai trăm đôla và có khi lại còn thấp hơn.

Thế nên ông chủ của chú, một con người tốt bụng, quyết định giữ chú ta lại để gây giống, thay vì đưa chú đến trường đấu làm vật hi sinh. Từ đó, chú thành nhà truyền giống.

Nhưng chú là con bò kỳ lạ. Ngay khi được thả vào đồng cỏ cùng đàn bò cái, chú đã bị một cô nàng trẻ, đẹp, cân đối, cơ thể tròn lẳn, sáng sủa và đáng yêu hơn tất cả các con bò cái nào khác hớp mất hồn vía. Thế là chú chẳng còn mê chuyện đánh nhau, và chú yêu nàng đến nỗi chẳng đoái hoài gì đến một nàng nào khác. Chú chỉ muốn ở bên cạnh nàng, những cô ả khác chẳng có ý nghĩa gì đối với chú.

Vì cái chuyện này mà người chủ đã bán chú cùng năm con bò đực khác cho trường đấu. Cuối cùng, chú đành phải xung trận dù rằng con tim chú đang khắc khoải yêu đương. Bới chú lâm trận rất kiêu hùng cho nên tất thảy người xem đều vô cùng ngưỡng mộ. Thế nhưng chính kẻ giết chú lại là người thán phục chú nhất. Cuối trận đấu, tấm áo choàng của người giết chú - được gọi là đấu sĩ - thì sũng nước, còn miệng anh ta thì khô khốc.

- Con bò cừ thật, - đấu sĩ nói trong khi trao thanh kiếm cho người phụ đấu. Thanh kiếm ấy bị vấy máu đến tận chuôi và máu của trái tim chú bò kiêu hùng chưa hề một lần gặp hiểm nguy trong bất kỳ tình huống nào đang từ lưỡi kiếm rỏ xuống. Xác chú được bốn con ngựa kéo ra khỏi trường đấu.
- Phải rồi, đó là con bò bị Marques ở Villamajor loạl ra khỏi trại giống vì nó quá thủy chung, gã giữ kiếm hiểu chuyện nói.

Hẳn là tất thảy chúng ta cũng nên chung thủy, đấu sĩ nói.
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeFri Feb 23, 2018 1:51 pm



Thiên Thần Gẫy Cánh

Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)

    
Khi mưa đến ngày thứ ba, cua bò vào nhà nhiều đến nỗi Pelayo giết cũng không xuể nữa. Chàng phải lội qua khoảng sân trước nhà để ném chúng ra biển. Vì vợ chồng Pelayo mới sanh thằng con và họ nghi rằng chính vì mùi cua mà thằng bé bị sốt nặng cả đêm. Từ thứ Ba, thế giới buồn thảm đạm. Biển cũng như trời xám như tro, và bờ biển thường sáng long lanh trong những đêm tháng Ba, bây giờ nhầy nhụa những bùn và mùi cá chết. Dù giữa trưa, ánh sáng mặt trời cũng yếu ớt đến nỗi khi Pelayo sau khi ném lũ cua ra biển trở vào nhà cũng không nhận ra một đống thù lù đang cựa quậy và rên rỉ ở sân sau. Chàng phải tiến lại thật gần mới nhận ra đó là một lão già lụ khụ đang nằm úp mặt xuống vũng bùn, và dù có cựa quậy thế nào đi nữa cũng không trở dậy nổi vì lão ta có một đôi cánh khổng lồ.

Kinh hoàng như gặp cơn ác mộng, Pelayo chạy vào gọi vợ, Elisenda, lúc đó đang đắp khăn ướt lên trán thằng nhỏ, ra xem. Hai vợ chồng đứng đờ ra nhìn hình thù quái lạ đang cựa quậy. Lão già trông như một người đi lượm rác. Đầu hói bóng, chỉ còn lưa thưa vài sợi tóc bạc, và vài chiếc răng lung lay còn sót lại. Trong tình trạng thảm hại này, nếu lão ta có được vẻ uy nghi nào thì cũng không còn nữa. Đôi cánh rộng như cánh chim ưng bẩn thỉu, cụp xuống, bị dính cứng vào đống bùn. Cả hai vợ chồng đứng sững nhìn lão ta thật lâu và khi đã bình tĩnh trở lại, họ thấy ở lão ta một vẻ quen thuộc. Cả hai cùng cất tiếng hỏi, nhưng lão đáp lại bằng một thứ tiếng lạ, với giọng ồm ồm như những tay thủy thủ. Vợ chồng Pelayo cũng bớt sợ, và cho rằng đây chỉ là một tay đi biển nào đó bị đắm tầu trôi dạt vào đây. Tuy vậy, họ cũng gọi bà hàng xóm thông thái của họ sang xem. Bà ta chỉ cần liếc qua là biết ngay họ đoán lầm.
"Thiên thần đấy," bà ta bảo họ với giọng quan trọng. "Chắc ổng được phái xuống để chữa cho thằng nhỏ, nhưng chắc già yếu quá nên bị trận mưa làm cho rớt xuống đây luôn."

Ngày hôm sau, cả làng đều biết là có một thiên thần bằng xương bằng thịt đang bị nhốt trong nhà Pelayo. Dù bà hàng xóm cho biết là ngày nay thiên thần là những kẻ phạm tội trên thiên đình trốn đi, họ cũng không nhẫn tâm đập chết lão già. Cả buổi chiều hôm đó, chàng còn cẩn thận kéo lão ra khỏi đống bùn, và nhốt vào chuồng gà. Cho đến nửa đêm, khi mưa dứt và cả hai vợ chồng Pelayo vẫn còn đang bận giết những con cua chạy lung tung trong nhà, bỗng
thằng nhỏ tỉnh dậy, khoẻ khoắn như không, lại còn đòi ăn nữa. Hai vợ chồng bỗng thấy "lòng từ bi bất ngờ", và quyết định cho lão ta lên một chiếc bè với lương thực đủ cho ba ngày và thả lão ta ra đương đầu với biển cả. Nhưng khi sáng dậy, cả làng đã kéo đến bu quanh chuồng gà, vừa ngắm nghía vừa chọc ghẹo ông già không nể nang gì cả. Họ ném đồ ăn cho ông lão qua mắt lưới chuồng gà như đối với một con thú trong gánh xiệc, chứ không phải đối với một sinh vật siêu nhiên.

Linh mục Gonzaga đến trước bảy giờ sáng, vì ông cũng nghe được những tin đồn vệ sự việc lạ lùng vừa xảy ra. Vào lúc đó những kẻ hiếu kỳ lúc sớm đã bỏ đi hết, những người mới đến sau xúm lại bàn tán chỉ trỏ lung tung, người thì cho rằng lão nên được bầu làm chủ tịch của cả thế giới. Những người khác cho rằng ông ta phải làm một ông tướng năm sao để có thể thắng được mọi trận chiến. Vài kẻ mộng mơ lại nghĩ rằng nên cho ông già này vào lò ngựa giống để có thể tạo ra một giống người thông minh, có cánh để chinh phục thế giới. Nhưng cha Gonzaga, trước khi thành một linh mục, hành nghề thợ rừng cho nên rất thực tế, ông phải ngẫm nghĩ xem nên dụng văn hay dụng võ. Song le, vì "cha là linh mục" cho nên khi đứng bên chuồng gà ông duyệt lại bộ giáo luật và bảo đám người bu xung quanh mở chuồng cho ông "vào trận". Ông nhìn lão già đáng thương đang nằm như một con gà khổng lồ bịnh hoạn giữa đám gà con ngơ ngác. Lão ta nằm trong góc chuồng phơi đôi cánh giữa đống vỏ trái cây và thức ăn sáng còn dư do những người đến từ sáng sớm ném vào. Lạc lõng với thế giới loài người, lão chỉ mở đôi mắt xanh ngắt mầu nước biển, và lẩm bẩm thứ tiếng lạ khi cha Gonzaga cất tiếng chào bằng tiếng La-tinh. Ông cha xứ bỗng đâm nghi cái hình thù trước mặt vì lão ta không hiểu được ngôn ngữ của Thượng Đế, và không biết cách chào vị chủ chăn chút nào hết. Càng nhìn kỹ, ông càng thấy ông già không có chút gì "thiên thần" hết: mùi hôi nồng nặc bốc lên vì nhiều ngày không tắm rửa, đôi cánh bị đầy bọ bám vào, và những chiếc lông vũ bị gió thổi làm xơ xác cả. Sau khi nghiên cứu xong ông bước ra và cảnh cáo đám dân hiếu kỳ không được tưởng tượng ra những điều quái lạ. Ông cũng nhắc cho họ nhớ là quỉ sứ thường mượn các trò như đoàn xiệc để lừa bịp dân khờ.

Ông lý luận rằng nếu đôi cánh không phải là yếu tố chính để phân biệt một con chim và một chiếc máy bay, thì cũng khó nhận ra được một thiên thần chỉ vì đôi cánh. Song le, ông cũng hứa sẽ viết thư cho Cha Bề Trên để Đức Cha sẽ chuyển lên dần cho đến Đức Giáo Hoàng để xem ngài phán như thế nào.
Sự cẩn thận của cha xứ cũng chỉ vô ích cũng như phúc âm gieo vào những kẻ cứng lòng. Tin một thiên thần bị bắt truyền đi mau lẹ, và chỉ trong vài giờ, sân trước nhà Pelayo đã biến thành một cái chợ ồn ào, huyên náo đến nỗi người ta phải gửi lính mang lưỡi lê đến giữ trật tự khi đám đông tràn vào như muốn xô xập căn nhà. Elisenda, sau khi phải còng lưng quét dọn rác, nảy ra sáng kiến làm hàng rào quanh nhà, và bán vé vào cửa mỗi người 5 xu để xem thiên thần.

Những kẻ hiếu kỳ từ mọi nơi xa đều đến xem. Lúc đó có một đoàn xiếc từ xa đến, có màn trình diễn đu bay nhưng chẳng ai thèm xem cả vì cánh bay của họ không phải là cánh thật. Những kẻ tàn tật, bất hạnh đến xin thuốc chữa bệnh: một người đàn bà nghèo bị bịnh cứ đếm nhịp tim của mình từ lúc mới sinh ra và đã đếm hết cả số rồi; một người Bồ Đào Nha bị mất ngủ vì âm thanh của những vì sao quá ồn ào; một kẻ mộng du cứ đêm đêm thức dậy phá hết những gì ban ngày hắn làm được; và còn nhiều những kẻ khác bị bịnh nhẹ hơn. Đoàn người hành hương hỗn độn, ồn ào khiến cho trái đất rung động, nhưng Pelayo và Elisenda vừa mệt vừa vui, vì chỉ trong vòng chưa đến một tuần họ đã chất tiền vô đầy nhà, trong khi đoàn hành hương vẫn còn dài dằng dặc cho đến mãi chân trời.

Trong lúc thiên hạ chộn rộn, bận bịu mua vé vào xem thiên thần như xem diễn viên đóng trò thì thiên thần vẫn mặc kệ. Ông dùng hết thì giờ cố làm sao cho được thoải mái trong "cõi tạm" chuồng gà nóng như quỉ vì những ngọn đèn dầu, và những ngọn nến thánh đặt dọc theo cửa chuồng. Lúc đầu họ thử cho lão ăn những cục long não, vì theo bà hàng xóm thông-thái, long não là thức ăn chính của thiên thần. Nhưng lão không chịu ăn, cũng như không ăn những thức ăn dành cho các bậc tu hành do những kẻ đang ăn năn tội lỗi mang tới. Và họ cũng không thể hiểu nổi không biết vì lão là thiên thần, hay chỉ là một ông già mà cuối cùng lão cũng chỉ ăn những nụ cà pháo. Lão dường như chỉ có một đức hạnh siêu nhiên ấy là sự kiên nhẫn chịu đựng, nhất là trong những ngày đầu khi những con gà mái mổ vào đôi cánh to sù của lão để tìm những con bọ chét bám đầy trong đó, và khi những kẻ tật nguyền kéo những chiếc lông cánh để thoa vào chỗ tật nguyền của họ; ngay cả khi có những tên độc ác ném đá vào mình lão cố làm cho lão đứng dậy để xem hình thù thế nào. Chỉ có một lần họ thành công khi dí một thanh sắt nung nóng, vì lão cứ nằm bất động trong hàng giờ khiến họ nghi rằng lão đã chết. Nhưng lão choàng tỉnh dậy, gừ lên những tiếng lạ, và đôi mắt thì đẫm lệ, rồi vỗ vỗ đôi cánh khiến cho một cơn trốt đầy phân gà, và bụi kèm theo một cơn gió kinh hoàng dường như chưa có trên quả đất bao giờ làm cho họ kinh hoảng. Mặc dù nhiều người cho rằng phản ứng này của lão chỉ vì đau chứ không phải vì giận, họ cũng cẩn thận không dám chọc lão nữa, vì đa số hiểu rằng sự thụ động này không phải của một vị anh hùng sa cơ mà là của ngọn núi lửa đang bị đè nén.

Cha Gonzaga phải dùng chiêu chiều chuộng đám đông như một một người tớ gái để ngăn đám đông đừng làm them những hành động bất kính, cho đến khi nhận được phán quyết cuối cùng của Giáo Hoàng về số phận của "lão thiên thần". Nhưng thư từ La-Mã không có gì lộ vẻ khẩn trương cả. Họ nhẩn nha tìm hiểu xem lão có lỗ rốn hay không, ngôn ngữ của lão có dính dáng đến tiếng Aramic, hay chỉ là một người Na-Uy có cánh. Những lá thư này có lẽ sẽ tiếp tục cho đến khi tận thế nếu không có một biến cố khác xảy ra cất đi cái bệnh nhức đầu ông cha xứ mắc phải từ khi thiên thần mắc đọa.

Trong suốt thời gian đó, ngoài các gánh hát đến rồi đi, có một cuộc trình diễn của một người đàn bà bị biến thành một con nhền nhện vì không vâng lời cha mẹ. Vé vào cửa cũng bằng vé vào xem thiên-thần-mắc-đọa, nhưng người ta được hỏi bà này và được sờ mó từ đầu đến chân để chứng thực là bà ta bị biến hình thật sự. Bà ta là một con nhện đầu người, to bằng một con cừu đực. Nhưng điều làm cho người ta não lòng nhất không phải vì hình dáng của bà ta mà vì sự đau khổ thành khẩn khi bà ta kể lại chi tiết về nỗi bất hạnh bà phải chịu. Khi còn là một cô bé, cô ta đã trốn nhà đi "nhót". Khi về nhà, sau khi đã nhảy suốt đêm mà không xin phép cha mẹ, cô đi qua một cánh rừng, bỗng một tiếng sấm nổ vang xé bầu trời ra làm hai, và cô bị sét đánh hóa thành một con nhện. Thức ăn của bà ta bây giờ là những viên thịt mà những kẻ hảo tâm quăng vào miệng. Một cảnh tượng như thế, đầy chất "người", và mang một bài học đáng sợ đến thế gần gũi với loài người hơn, và dĩ nhiên, "show" thiên thần không ăn khách nữa. Thêm vào đó, một vài phép lạ xảy ra từ "lão thiên thần" cho thấy lão tâm trí không được bình thường. Một kẻ mù không sáng mắt được mà mọc ra ba cái răng mới, hoặc kẻ què không đi được lại trúng số, và người cùi không hết bịnh mà những vết loét lại trổ những bông hoa hướng dương. Những phép lạ này làm cho lão thần tiên mất hết tiếng tăm khi bà nhện xuất hiện. Khi đó cha Gonzaga mới thực sự hết mất ngủ, và gia đình Pelayo mới trở lại bình thường, vắng vẻ như trong ba ngày mưa dầm với lũ cua bò lúc nhúc trong nhà.

Tuy vậy, chủ nhà cũng chẳng có gì tiếc nuối. Họ đã có đủ tiền để cất một căn nhà hai từng có ban-công, có vườn, có hàng rào cao ngăn không cho lũ cua lọt vào nhà trong mùa đông, và cửa sổ có song sắt để ngăn không cho ông lão chui vào. Pelayo xây một trại nuôi thỏ gần phố, và bỏ nghề làm phú-lít vĩnh viễn. Elisenda cũng sắm sửa giầy cao gót, áo sa-teng, quần lụa lèo để mặc trong những ngày chủ nhật như những người đàn bà khác thời bấy giờ. Chuồng gà là nơi duy nhất không được tu bổ gì hết. Nếu họ có quét dọn bằng dầu thơm, hay xông trầm đều đều, không phải vì họ kính nể gì ông già mà vì phân dính đầy tứ tung, mùi hôi thối không thể tả cứ ám vào căn nhà mới sẽ làm cho nó cũ đi. Nhưng dần dần họ hết sợ, và dần dần quen với mùi khó chịu đó. Trước khi thằng nhỏ mọc chiếc răng thứ hai, nó lẫm chẫm đi vào chuồng gà để chơi, vì các song chắn đã xiêu vẹo, rụng rơi cả rồi. Lão thiên thần cũng chả tỏ vẻ gì thân mật với nó hơn đối với những sinh vật khác, nhưng lão chấp nhận sự nghịch ngợm vô tư của thằng nhỏ với sự kiên nhẫn của một con chó không có một ảo tưởng nào cả. Cả hai đều bị bệnh đậu gà cùng một lúc. Vị bác sĩ chữa cho thằng nhỏ không ngăn được tính tò mò cố nghe tim thiên thần xem nó đập như thế nào, nhưng ông ta chỉ nghe được những tiếng kêu rù rù trong quả tim, và hàng chục thứ tiếng khác nhau trong trái thận, khiến ông không thể tin là lão có thể sống được. Điều làm cho vị bác sĩ ngạc nhiên nhất là đôi cánh. Nó dính vào xác thịt lão già một cách tự nhiên đến nỗi ông ta tự hỏi tại sao những người khác không thể có được.

Khi thằng nhỏ đến tuổi đi học, thời gian và mưa nắng làm cho chuồng gà sụp đổ. Lão ta đi lê thê trong vườn từ nơi này sang nơi nọ như một bóng ma trơi. Thường sau khi dùng chổi quét lão ta từ trong buồng ngủ ra, lại thấy lão ở trỏng rồi. Dường như lão có thể có mặt tại nhiều nơi trong cùng một lúc đến nỗi họ tin rằng lão có phép phân thân làm Elisenda khó chịu như phải sống trong một địa ngục đầy những thiên thần. Hầu như lão không ăn uống gì cả, và đôi mắt mầu xanh nước biển lúc nào cũng như phủ một lớp sương mờ làm cho lão ta hết va đầu vào cột này lại đâm đầu vào cột khác. Quần áo lão đã rách nát hết, chỉ còn trơ trọi những sợi lông khiến cho Pelayo phải cho lão một tấm mền và động lòng trắc ẩn cho lão ngủ trong nhà kho, và chỉ khi đó họ mới biết lão bị sốt về đêm, và cứ lầu bầu thứ tiếng khó nghe như của một lão già người Na Uy. Có đôi lần họ tưởng rằng lão "đi đứt rồi". Ngay cả bà hàng xóm thông-thái cũng không biết phải làm sao với một cái xác thiên thần.

Nhưng không những lão "qua hết một mùa đông" mà còn khoẻ ra trong những ngày nắng ấm. Lão vẫn nằm bất động trong vài ngày ở tận một góc vườn nơi ít người để ý. Khi tháng Chạp bắt đầu, một vài chiếc lông vũ mọc trở lại trên đôi cánh, những sợi lông cứng như lông quạ lại càng làm tăng thêm nỗi thảm hại trên một thân hình tiều tụy. Nhưng lão hẳn biết nguyên do của những sự thay đổi này, vì lão rất cẩn thận không để ai chú ý tới, cũng như bài hát về biển lão thường ngân nga dưới những vì sao.

Một buổi sáng kia, khi Elisenda đang thái những củ hành cho bữa ăn trưa, thì một cơn gió dường như từ biển thổi vào trong bếp. Nàng chạy ra cửa sổ và bắt gặp lão đang vỗ cánh tập bay, nhưng rất vụng về vì khi té xuống móng tay lão cào thành những luống dài trên những liếp rau, đôi lần suýt nữa làm sụp luôn nhà kho vì đôi cánh chưa đủ sức cản gió.



Nhưng sau một lúc lão bay lên được. Nàng thở ra một hơi nhẹ nhõm cho chính nàng, và cho cả lão nữa khi nàng thấy lão từ từ bay khuất khỏi những căn nhà cuối cùng với đôi cánh đập như cánh chim ưng. Nàng tiếp tục nhìn theo cho đến khi không còn nhìn thấy nữa, bởi vì lão không còn là một nỗi khó chịu trong đời nàng, mà chỉ như một chấm tưởng tượng ở cuối chân trời.

Trịnh Tường chuyển ngữ

Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeFri Aug 24, 2018 12:06 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 2Q==


BÓNG MA THÁNG TÁM
Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)


Chúng tôi đến Arezzo trước buổi trưa một tí và mất hơn hai giờ để tìm tòa lâu đài thời Phục Hưng mà nhà văn Venezuela, Miguel Otero Silva đã mua lại, ở góc trữ tình của vùng quê xứ Toscane.

Đó là một ngày cháy bỏng, giục giã đầu tháng năm và không dễ tìm một người nào biết được một điều gì trong những đường phố đầy nghẹt du khách. Sau nhiều lần toan tính vô ích, chúng tôi đã trở lại xe và rời thành phố qua một con đường với một hàng cây bách chạy dọc hai bên nhưng không có một dấu hiệu chỉ dẫn nào; một người đàn bà luống tuổi đang đứng bán ngỗng đã chỉ cho chúng tôi lâu đài ấy nằm đúng chỗ nào. Trước khi nói lời từ biệt, bà còn hỏi chúng tôi có định ngủ lại nơi đó không; chúng tôi đáp lại chúng tôi chỉ đến đó để dùng buổi trưa, ý định ban đầu của chúng tôi là thế.
- "Ờ, thế thì tốt", bà ta nói, bởi vì căn nhà đó có ma đấy".
Vợ tôi và tôi đều không tin có chuyện ma cỏ hiện giữa ban ngày ban mặt đã cười sự cả tin của bà ta. Nhưng hai đứa con của chúng tôi, đứa lên chín, đứa lên bảy, vui mừng với ý tưởng sắp được gặp ma bằng xương bằng thịt.

Miguel Otero Silva, một chủ nhà tuyệt vời và là một kẻ sành ăn tinh tế cũng là một nhà văn tài ba, đang đợi chúng tôi đến với một bữa ăn trưa khó quên. Vì quá trễ, chúng tôi không còn thì giờ để đi xem bên trong tòa lâu đài trước khi ngồi xuống bàn ăn, nhưng chẳng thấy có điều gì đáng kinh hãi khi thoạt trông lâu đài đó và mọi e dè đều tan biến khi chúng tôi nhìn toàn cảnh thành phố từ trên sân thượng phủ đầy hoa, nơi chúng tôi dùng bữa trưa. Thật khó tin rằng đã có biết bao tài năng tồn tại lâu đài trong ký ức nhân loại đã được sinh ra trên ngọn đồi lô nhô những căn nhà đủ chỗ cho cả mười chín ngàn người cư ngụ đó. Tuy thế, Miguel Otero Silva, đã nhận xét với óc hóm hỉnh đặc biệt vùng Carribê của ông, là không có ai trong bọn họ là người lừng danh nhất sinh trưởng ở Arezzso.
- "Kẻ vĩ đại nhất" ông tuyên bố, "là Ludovico".

Chỉ thế thôi, không cần nói đến họ. Ludovico, một vị mạnh thường quân vĩ đại của nghệ thuật và của chiến chinh, đã xây dựng lâu đài này, lâu dài đã chứng kiến nỗi thống khổ vô biên mà Miguel đã kể về cuộc đời lạ lùng của người ấy suốt buổi ăn trưa. Ông kể cho chúng tôi nghe về quyền lực lớn lao của Ludovico, về mối tình sóng gió và về cái chết ghê rợn của ông ta. Ông kể cho chúng tôi nghe mọi việc diễn biến ra sao khi trong cơn cuồng điên của con tim tuyệt vọng, ông ấy đã cột chặt bà vợ trong chiếc giường còn nồng ấm dấu tích ái ân của hai vợ chồng, rồi thả mấy con chó săn dữ tợn ra cắn nát chính vợ mình thành từng mảnh vụn, máu thịt tả tơi. Ông khẳng định với chúng tôi, một cách rất nghiêm chỉnh, là sau nửa đêm, bóng ma của Ludovieo đi trong bóng tối của căn nhà, cố tìm sự thanh thản cho tâm hồn trong luyện ngục của Tình Yêu.

Lâu đài trông thật rộng lớn và mờ tối. Nhưng trong ánh sáng ban ngày, với cái dạ dày dầy ắp và một tấm lòng hả hê, thì câu chuyện của Miguel chỉ có vẻ như một trong những trò giải trí ông dùng để tiêu khiển cho những người khách của mình. Sau giấc ngủ trưa, chúng tôi tản bộ không hề có linh tính nào, qua tám mươi hai căn phòng đã trải bao đổi thay qua bao nhiêu đời chủ. Miguel đã canh tân toàn bộ tầng một và cho xây một phòng ngủ hiện đại với sàn bằng đá hoa cương, một phòng tắm hơi với trang cụ thể dục cũng như sân thượng phủ đầy hoa rực rỡ nơi chúng tôi vừa ngồi ăn trưa. Tầng hai, tầng được sử dụng nhiều nhất qua bao thế kỷ gồm những căn phòng giông giống nhau với đồ đạc được tích lũy qua nhiều thế kỷ, đã bị bỏ mặc cho số phận của chúng. Nhưng ở tầng trên cùng, chúng tôi gặp một căn phòng được giữ nguyên vẹn, gần như bị thời gian lãng quên không hề đặt chân thăm viếng - đó là phòng ngủ của vị chủ nhân lừng danh Ludovico.

Khoảnh khắc đó thật kỳ ảo. Chiếc giường ngủ vẫn an vị đàng kia, bao bọc chung quanh bởi tấm màn thêu chỉ vàng kim tuyến, thành giường với các nét hoa văn chạm trổ công phu, mỹ thuật vẫn còn sắc nét, loang lổ những vết máu khô của người tình bạc phận. Một lò sưởi với tro tàn lạnh giá và khúc củi cuối cùng đã biến thành đá, tủ kiếng trưng bày những vũ khí tiêu biểu thời Phục Hưng và trong một khung hình bằng vàng, bức họa chân dung bằng sơn dầu của nhà Hiệp sĩ trầm tư, do một họa sĩ bậc thầy xứ Florence vẽ; tiếc rằng tên tuổi họa sĩ tài ba đó đã không được may mắn tồn tại với thời gian. Tuy nhiên, điều gây ấn tượng cho tôi nhất là mùi hương của những quả dâu tươi không biết từ đâu vẫn phảng phất khắp phòng ngủ.

Những ngày hè ở xứ Toscane vẫn kéo dài không vội vã vào đêm, và chân trời vẫn đứng yên tại chỗ cho đến chín giờ đêm. Khi chúng tôi đã tham quan hết lâu đài. Lúc đó là sau năm giờ chiều, nhưng Miguel tha thiết rủ chúng tôi đi thăm các bức bích họa tuyệt tác do nhà danh họa Piero della Francesca vẽ trên các bức tường của Nhà Thờ Thánh Francesco.

Rồi chúng tôi nấn ná dừng chân, nói chuyện qua tách cà phê dưới những tán cây nơi quảng trường và khi chúng tôi quay trở lại để thu xếp hành trang, chúng tôi thấy một bàn đang đợi sẵn. Và thế là chúng tôi phải ngồi lại dùng bữa ăn tối.

Trong khi chúng tôi ngồi ăn dưới bầu trời tím với một ngôi sao đơn độc, mấy thằng bé lấy đèn bấm ở phòng ăn và đi ra ngoài để thăm dò bóng tối ở các tầng trên. Từ chỗ bàn ăn, chúng tôi có thể nghe âm thanh vó ngựa hoang phi nước đại trên các bậc cầu thang, các cánh cửa khóc than, tiếng la hét vui đùa của Ludovico trong các phòng tối lờ mờ. Chúng là những người duy nhất có ý tưởng tinh nghịch muốn ngủ tại nơi đó. Miguel Otero Silva vui vẻ chịu dựng chúng, còn chúng tôi e ngại, không dám từ chối ý thích của bọn trẻ.

Trái với điều chúng tôi lo sợ, chúng tôi đã ngủ rất ngon, vợ tôi và tôi, trong một phòng ngủ ở tầng một; mấy đứa con của chúng tôi ở phòng bên cạnh. Cả hai phòng đã được cách tân và không hề có vẻ gì ảm đạm. Trong khi chờ giấc ngủ, tôi đếm 12 tiếng gõ của đồng hồ quả lắc nơi phòng tranh và tôi nhớ lại lời báo động đáng e ngại của người đàn bà bán ngỗng. Nhưng vì quá mệt mỏi, chúng tôi đã nhanh chóng rơi vào giấc ngủ ngon lành, dày đặc, không hề bị quấy động và tôi thức giấc sau bảy giờ, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu xuyên qua màn nho leo nơi cửa sổ. Bên cạnh tôi, bà vợ tui dong thuyền trên mặt biển lặng hồn nhiên.

"Thật là điên rồ" tôi tự chủ, "Khi còn tin vào ba cái chuyện ma quỷ nhảm nhí ở thời đại ngày nay". Chỉ khi ấy tôi mới bị lay động bởi mùi hương của những quả dâu tươi và tôi thấy cái lò sưởi với tro tàn lạnh giá cùng với khúc củi cuối cùng dã biến thành đá và bức chân dung nhà hiệp sĩ buồn rầu trong cái khung hình vàng đang nhìn chúng tôi qua khoảnh khắc của ba thế kỷ. Bởi vì chúng tôi không phải đang nằm nơi phòng ngủ tầng thứ nhất nơi chúng tôi đã ngủ ngon lành trong đêm vừa qua mà là trong phòng ngủ của Ludovico dưới những màn trướng bụi bặm và tấm chăn còn ướt đẫm máu nóng nơi chiếc giường oan nghiệt của ông.

Tháng mười 1980.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeFri Jan 11, 2019 12:05 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Ivan-bunin-russian-writer-1870-1953-nobel-prize-winner-for-literature-B6FW2Y

Mùa Thu Lạnh
- Ivan Alekseyevich Bunin‎ (Nga)
(Nobel 1933)


Tháng sáu năm ấy anh đến thăm gia đình chúng tôi. Anh luôn tự coi mình như người nhà bởi người cha đã yên nghỉ của anh vừa là bạn vừa là láng giềng của cha tôi. Ngày mười lăm tháng sáu, cảnh chết chóc đã xảy ra ở Xaraeva Pherdinanda. Sáng ngày mười sáu người ta mang báo từ bưu điện đến. Cha tôi cầm tờ báo Matxcova buổi chiều từ phòng mình bước lại phòng ăn, nơi anh, mẹ tôi và tôi đang ngồi sau bàn uống trà, và nói:
- Này, các bạn của tôi, chiến tranh rồi! Ở Xaraeva hoàng tử Áo đã bị giết. Đó là chiến tranh!
Ban ngày ở Pet'rov người người đến thăm điền trang của cha tôi. Và sau bữa trưa, ông ngồi nói chuyện với chàng rể của mình. Nhưng đến ngày mười chín tháng bảy, Đức đã tuyên chiến với Nga.

Suốt tháng chín, anh đến thăm chúng tôi đúng một ngày để tạm biệt truớc lúc ra trận (Khi đó tất cả đều nghĩ rằng, sắp tới chiến tranh sẽ kết thúc, và đám cưới của chúng tôi đã được ấn định vào mùa xuân). Và buổi chia tay của chúng tôi đã bắt đầu. Sau bữa tối, theo lệ thường, chiếc ấm xamova được mang đến, và thoáng nhìn hai dòng hơi nước trên khung cửa mở, cha tôi nói:
- Thu năm nay đến sớm và lạnh thật...
Buổi chiều ấy chúng tôi ngồi yên lặng, chỉ thỉnh thoảng trao đổi với nhau vài câu vô nghĩa, bình thản một cách ngoa ngoắt, giấu đi những ý nghĩ và tình cảm của mình. Cha tôi chậm rãi nói chuyện về mùa thu. Tôi bước tới cánh cửa ngoài ban công và lau khung kính mờ bằng khăn mùi xoa. Trong vườn, trên bầu trời đen xám, những ngôi sao trong suốt, lạng buốt, lấp lánh những tia sáng chói và sắc nhọn. Cha tôi hút thuốc, ngả người trên ghế bành, nhìn những chiếc đèn nóng bỏng treo trên bàn. Còn mẹ tôi, với cặp kính trên mắt, dưới ánh sáng ngọn đèn, vẫn cần mẫn khâu lại chiếc túi nhỏ bằng tơ. Chúng tôi biết đó là chiếc túi nào, và điều đó đã trở nên đầy xúc động, lo âu. Cha tôi hỏi:
- Vậy là, dù thế nào con cũng muốn đi vào lúc sớm. Đợi ăn sáng rồi đi có được không?
- Vâng, nếu cha cho phép thì sáng ra cũng được - Anh trả lời. - Con rất buồn nhưng không thể tự cho phép mình như ở nhà được.
Cha tôi thở dài mệt mỏi: - Thôi tùy con, con trai ta. Chỉ trừ trường hợp cha mẹ dậy muộn, cha mẹ nhất định sẽ tiễn con ngày mai.
Mẹ tôi đứng dậy và làm dấu thánh cho người con tương lai của mình. Anh cúi xuống cầm tay mẹ và cầm tay cha. Còn lại một mình, chúng tôi ngồi lại phòng ăn một lát, bỗng tôi nghĩ đến trò chơi bói bài. Anh đi lại trong phòng, rồi hỏi:
- Em có thích đi dạo một lát không?

Tất cả mọi chuyện trong tâm hồn tôi đều trở nên nặng nề, tôi đồng ý một cách hững hờ:
- Vâng...
Anh ra phòng ngoài khoác áo, vẫn suy nghĩ về một điều gì đó, với nụ cười mai mỉa dễ thương, chợt anh đọc đi đọc lại câu thơ của Phet:
"Ôi mùa thu lạnh quá! Hãy quàng khăn và khoác áo đi em."
- Không có áo khoác, - Tôi mỉm cười - Và thế nào nữa?
- Anh không nhớ. Hình như là thế này:
"Hãy nhìn lên giữa tán thông đen một đám lửa dường như đang bừng cháy." - Đám lửa?
- Trăng lên, đúng như vậy. Có một mùa thu làng quê tuyệt đẹp nào đó trong những câu thơ này "Hãy quàng khăn và khoác áo đi em." cái thời của ông bà mình. Ôi lạy Chúa, lạy Chúa tôi!
- Cái gì vậy anh?
- Không sao đâu, đúng như vậy. Dù sao thì cũng buồn. Buồn và dễ chịu. Anh rất, rất yêu em...

Khoác áo ấm vào, chúng tôi qua phòng ăn, đến ban công rồi bước ra vườn. Lúc đầu thấy tối om như cầm được những mảng tối trong tay. Rồi sau đó trên nền trời sang sáng dần hiện ra những chùm ánh sáng màu đen, rắc phủ đầy lên những ngôi sao đang lấp lánh một màu khoáng chất. Anh chợt dừng lại, ngoảnh nhìn về phía ngôi nhà:
- Em hãy nhìn xem, thật vô cùng đặc biệt, cái ánh sáng của mùa thu chiếu vào khung cửa nhỏ ngôi nhà. Anh sẽ sống, sẽ sống mãi để nhớ buổi tối hôm nay...
Tôi nhìn lại, và anh ôm lấy tôi trong chiếc áo choàng kiểu Thụy Sĩ mà tôi đang khoác trên người. Tôi kéo chiếc khăn lông cho khỏi chạm vào mặt, hơi nghiêng đầu để anh hôn tôi. Sau khi hôn, anh nhìn thẳng vào tôi, khẽ thầm thì:
- Em có lạnh không? Tiết trời như mùa đông rồi đấy. Nếu như anh chết, dù sao em sẽ không quên anh ngay chứ?
Tôi chợt nghĩ: nếu như anh chết thật thì sao? Và lẽ nào trong một thời gian ngắn tôi lại có thể quên anh - dù sao thì tất cả cuối cùng rồi cũng lãng quên? Và tôi vội trả lời, sợ hãi với chính ý nghĩ của mình:
- Anh đừng nói nữa. Em không chịu đựng nổi cái chết của anh đâu!
Anh chợt lặng im rồi từ tốn nói:
- Thôi được, nếu anh chết, anh sẽ đợi em ở đó. Em hãy sống và sống thật vui trên thế gian này, rồi sau đó hãy đến với anh.
Mắt tôi ứa những giọt lệ đắng cay...

Và sáng hôm sau anh ra đi. Mẹ tôi đeo vào cổ anh một chiếc túi nhỏ mà mẹ mới khâu chiều qua - trong đó đựng bức tượng thánh bằng vàng mà ông và cha của mẹ đã từng mang trong chiến tranh. Và chúng tôi làm dấu thánh cho anh trong nỗi tuyệt vọng vô cùng.
Nhìn theo bóng anh đi, trên bậc thềm, chúng tôi đứng ngây ra, cái thẫn thờ thường có khi tiễn ai đó trong cuộc chia ly lâu dài. Chúng tôi cảm thấy sự không đồng cảm đến kinh ngạc giữa mình với những hạt sương muối xinh tươi đang sáng lấp lánh trên cỏ lúc ban mai.
Đứng một lúc, chúng tôi trở vào căn nhà trống trải. Tôi đi lại trong phòng, đặt tay sau lưng, không biết mình nên làm gì, hoặc khóc oà lên hoặc thét to với hết giọng của mình...

Anh đã chết - ôi thật lạ làm sao những lời này - chỉ sau đó một tháng ở Galixia. Và từ đó đúng ba chục năm đã trôi qua. Và nhiều, rất nhiều những cảm xúc trong những năm tháng đó, có cảm tưởng sao lâu đến thế, khi ta chủ ý nghĩ về chúng, hồi tưởng lại trong kí ức tất cả những gì kỳ diệu, mơ hồ,không thể nhận thức bằng trí óc hay trái tim, cái đó gọi là quá khứ.
Mùa xuân năm mười tám, khi cha mẹ tôi đã đều khuất núi, tôi sống ở Matxcova, trong tầng hầm của một chị bán hàng ở chợ Xmolenxc. Chị luôn giễu cợt tôi: "Nào, thưa cô, tình cảnh cô thế nào?".
Tôi cũng buôn bán đôi chút, bán, mà như nhiều người bán hàng thời đó, chủ yếu cho những người lính đội mũ lông cao và mang áo đứt cúc, những gì còn lại. Khi thì chiếc vòng nhỏ, khi thì cây thánh giá bé, khi thì chiếc áo cổ lông, vài mảnh sa khoáng.
Tôi bán hàng ở góc phố Arbat, ở chợ. Và ở đó tôi đã gặp một người lính đứng tuổi, có tâm hồn tuyệt vời. Sau đó tôi lấy anh và tháng tư chúng tôi chuyển đến Ecaterinoda. Cùng đi với chúng tôi còn có người cháu của anh. Một cậu bé chừng muời bảy tuổi, cùng lọt vào hàng ngũ những người tình nguyện.
Trong khoảng gần hai tuần, tôi như bà tướng. Còn anh trong trang phục dân tộc và bộ râu ngả màu muối tiêu. Và chúng tôi lưu lạc ở sông Đông, ở Cuban trong hơn hai chục năm trời. Vào mùa đông, trong những cơn bão tuyết chúng tôi ra đi trong những đám đông những người lánh nạn từ Novoratxec đến Thổ Nhĩ Kỳ. Và trên đường đi, giữa biển, chồng tôi chết vì bệnh thương hàn. Lúc đó tôi chỉ còn lại ba người thân gần gũi trên đời: đứa cháu chồng cùng cô vợ trẻ và con gái nó. Cháu bé mới bảy tháng tuổi.

Nhưng sau thời gian ở Crưm, đứa cháu cùng vợ nó cũng bỏ đi đến Vranghe, để lại đứa con nhỏ cho tôi. Rồi hai vợ chồng nó cũng bị mất tích ở đó. Còn tôi phải sống ở vùng Conxtantino khá lâu, phải làm những công việc cực kỳ nặng nhọc để nuôi mình và chăm sóc cháu nhỏ.
Sau đó, cũng như bao người khác, với cháu bé trên tay,tôi lang bạt khắp nơi: Bangari, Secbia, Trexnia, Bỉ, Paris, Nix.
Và cháu gái đã lớn, nó ở lại Paris, trở thành một cô gái Pháp đến chân tơ kẽ tóc, rất duyên dáng và hoàn toàn dửng dưng với tôi, một người làm thuê trong cửa hàng bánh kẹo cạnh Madlen, một công việc đòi hỏi bàn tay tôi được nâng niu, móng đánh óng ánh sắc bạc để gói những chiếc hộp bằng giấy bóng và buộc bằng những sợi dây mềm mại óng vàng. Nhưng tôi đã sống và vẫn sẽ sống ở Nix. Tôi đã đến Nix lần đầu tiên vào năm chín trăm muời hai và tôi có thể nghĩ về những ngày hạnh phúc đó đẹp hơn cái việc cô ấy chẳng bao giờ ở lại với tôi.

Và tôi đã chịu đựng cái chết của anh như thế, cái điều mà khi xưa tôi đã nông nổi nói rằng mình không thể chịu đựng nổi. Nhưng, hồi tưởng lại tất cả những gì tôi đã trải qua từ bấy đến giờ, tôi luôn tự hỏi: ừ nhỉ, dẫu sao thì mình đã có cái gì trong cuộc đời? Và tôi tự trả lời: chỉ có mỗi buổi chiều thu lạnh ấy. Phải chăng anh vẫn tồn tại ở đâu đó? Dù sao anh vẫn còn. Và đó là tất cả những gì có trong cuộc đời tôi. Những gì còn lại chỉ là giấc mơ thừa. Và tôi tin, một niềm tin cháy bỏng, rằng ở một nơi nào đó anh vẫn đang đợi tôi, với tất cả tình yêu và tuổi trẻ thuở nào, như trong chiều thu lạnh lẽo ngày xưa.


"Em hãy sống và sống thật vui trên thế gian này, rồi sau đó hãy đến với anh." Tôi đã sống, đã từng sung sướng và bây giờ tôi sắp sửa ra đi.

.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSun Mar 10, 2019 6:35 pm

.


Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel A-rose-for-emily-william-faulkner-2-638

Bông Hồng cho Emily
(A Rose for Emily)
- William Faulkner (Nobel 1949)


William Faulkner (1897-1962) sinh ra trong một gia đình miền Nam lâu đời, lớn lên ở Oxford bang Mississippi - nơi  ông sống phần lớn cuộc đời và ảnh hưởng lớn đến sáng tác.
Là con cả trong một gia đình danh giá sa sút, thời niên thiếu sống chật vật. Tình nguyện tham gia vào quân đội nhưng không được vì thân hình nhỏ bé, ghi tên vào Học viện không quân ở Toronto, Canada.
Mấy tháng sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, W. Faulkner vào học ban ngôn ngữ Châu Âu tại trường Đại học Tổng hợp Oxford (bang Missisippi); một năm sau ông bỏ học.
Năm 1929, Sartoris – cuốn đầu tiên trong số 15 tiểu thuyết có bối cảnh là miền đất Yoknapatawpha – bước đầu mang lại danh tiếng cho ông. Đây là vùng đất hư cấu do nhà văn tạo nên, cùng với nó là những dòng họ có  quan hệ đan xen kéo dài nhiều thế hệ.
W. Faulkner nổi tiếng với nhiều tiểu thuyết, bên cạnh đó ông viết nhiều kịch và truyện ngắn. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Pháp và được giới văn chương Châu Âu đánh giá cao.
Ông nhận được giải Nobel về văn học năm 1949.


Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel A+Rose+for+Emily

1
Khi cô Emily Grierson chết, cả tỉnh chúng tôi đi dự đám tang; đàn ông thì vì lòng quí mến một thứ gì cổ kính đã sụp đổ; còn đàn bà thì hầu hết là vì tính hiếu kì muốn dòm ngó phía trong nhà cô, ít ra cũng đã mười năm không ai được đặt chân tới, trừ ông lão bộc vừa là người đầu bếp, vừa là người làm vườn.

Đây là một toà nhà bằng gỗ to lớn vuông vắn, trước kia đã có lần sơn trắng. Toà nhà đó với đường mái cong, với những chóp nhọn hoắt, với những bao lơn cuốn vòng theo đúng lối kiến trúc thanh kỳ của những năm 70, toạ lạc tại một khu phố sang trọng nhất nước kia. Nhưng rồi thì những nhà sửa xe, những nhà máy cán bông lấn dần và xoá mờ ngay cả những danh hiệu cổ kính của khu phố, chỉ còn trơ lại có nhà cô Emily vẫn ngạo nghễ vươn lên với dáng suy tàn mà đỏng đảnh giữa đám xe goòng chở bông và những trạm sơn băng, đúng là một cảnh chướng mắt giữa những cảnh chướng mắt khác. Và giờ đây, cô Emily đã nối gót theo những đại diện của hai danh hiệu cổ kính ấy vào nằm trong nghĩa trang dưới bóng tùng vi vu, giữa những dãy mồ vô danh của các Hợp chủng miền Bắc và Liên Quân miền Nam đã gục ngã trên chến trường Jefferson.
Lúc sinh thời, cô Emily là một truyền thống, một nghĩa vụ, một lo âu, một thứ đảm phụ thế truyền vào năm 1894 đè nặng lên cả tỉnh kể từ ngày viên đại tá thị trưởng Sartoris, người đã ban hành điều luật cấm các phụ nữ da đen ra phố nếu không quấn tạp dề, đã miễn hẳn mọi khoản thuế cho cô. Việc xá thuế này được tính từ ngày cha cô qua đời, và có hiệu lực vĩnh viễn. Không phải là cô Emily sẽ mang tiếng chịu nhận cứu trợ. Đại tá Sartoris đã bịa ra một câu chuyện loanh quanh là trước đây thân phụ cô Emily đã cho tỉnh vay tiền, và như vậy theo lẽ sòng phẳng thường tình, tỉnh mới tìm cách trả nợ như thế. Chỉ có người thuộc cùng thế hệ và với tầm kiến thức như đại tá Sartoris mới có thể bịa ra câu chuyện tương tự, mà cũng chỉ có phụ nữ mới tin được chuyện đó.
Khi thế hệ sau với tư tưởng mới mẻ hơn lên làm thị trưởng, làm hội viên hàng tỉnh thì việc thu xếp như vậy đã gây ra ít nhiều điều bất bình. Vào ngày đầu năm, họ gửi giấy báo thuế cho cô. Sang tháng hai rồi mà cũng chẳng nhận được hồi âm. Họ bèn gửi tới cô một công văn chính thức yêu cầu cô lúc nào thuận tiện hãy tới văn phòng ông quận trưởng viết giấy đề nghị là sẽ đến nhà cô hoặc là đánh xe tới đón cô. Ông nhận được thư trả lời viết trên một khổ giấy cổ lỗ, tuồng chữ trôi chảy, nhỏ xíu, nét mực mờ mờ. Thư đáp rằng cô sẽ chẳng bao giờ ra khỏi nhà, giấy báo thuế gửi hoàn không một lời giải thích.
Họ triệu tập một phiên hội đồng hàng tỉnh bất thường. Một toán đại diện được cử đến nhà cô, họ gõ cửa, cánh cửa đã tám năm hay mười năm nay không một người khách nào lọt qua, kể từ ngày cô thôi không dạy vẽ hình trên đồ sứ nữa. Người lão bộ da đen ra mở cửa, họ vào một hành lang tôi tối, nơi đây có một cầu thang hun hút đưa lên một chỗ còn tối tăm hơn nữa. Thoang thoảng có mùi bụi và mùi mốc, một thứ mùi bưng bít ẩm ướt. Người lão bộc da đen dẫn họ vào phòng khách: đồ đạc chắc nịch, ghế có bọc da. Khi người da đen kéo cái màn ở một cửa sổ ra họ nhìn thấy mặt da ghế đã rạn nứt. Đến lúc họ ngồi xuống thì một đám bụi mỏng uể oải bốc lên quanh đùi họ. Trên một cái giá vẽ mạ véc ni đã xạm màu đặt trước lò sưởi có bức chân dung thân phụ cô Emily vẽ bằng chì than.

Họ đứng dậy khi cô Emily vào, người cô thấp và mập bận đồ đen, đeo một dây chuyền mảnh bằng vàng xệ tới bụng buông lẫn vào trong dây lưng. Cô chống một cây gậy gỗ mun có tay cầm bịt vàng đã xạm mày. Cốt cách cô mảnh nhỏ, vì vậy vẻ mập mạp đó với người khác là khoẻ mạnh nhưng với cô chỉ là béo bệu mà thôi. Trông cô trương phù lên như một xác chết lâu ngày ngâm trong vũng nước tù, màu da lờn lợt. Cặp mắt cô chìm lẫn dưới những nếp nhăn bệu mỡ trông tựa hai mẩu than nhận chìm trên tấm bánh bột phồng, cặp mắt đưa đẩy lần lượt ngó vào mặt từng người trong khi họ bày tỏ lý do đến nhà cô.
Cô chẳng buồn mời họ ngồi. Cô cứ đứng sững nơi ngưỡng cửa, im lặng nghe cho đến khi một người trong bọn họ dứt lời. Lúc đó họ nghe tích tắc của cái đồng hồ khuất nẻo nơi đầu sợi dây chuyền vàng của cô.
Cô cất giọng khô khan lạnh lẽo:
- Tôi không có thuế má gì phải đóng ở Jefferson cả. Đại tá Sartoris đã giải thích với tôi như vậy. Có lẽ một người trong bọn các ông có thể tới văn khố toà thị chính mà tự tìm hiểu.
- Nhưng mà chúng tôi đã làm việc đó rồi. Chúng tôi là nhân viên toà thị chính mà, thưa cô. Cô không nhận được một giấy báo thuế do ông quận trưởng ký gửi sao?
- Có, tôi có nhận được giấy - cô ta đáp - có lẽ ông ta tự phong là quận trưởng... tôi chẳng có thuế gì mà cần phải đóng ở Jefferson cả.
- Không thấy sổ sách nào ghi như vậy cả, cô hiểu cho chúng tôi phải...
- Các ông nên đi mà gặp đại tá Sartoris. Tôi chẳng có thuế má gì ở Jefferson.
- Nhưng cô Emily này...
- Hãy đi gặp đại tá Sartiris (Đại tá Sartoris đã qua đời gần mười năm rồi). Tôi chẳng có thể có thuế má gì phải đóng ở đây cả. Chú Tobel! (Người da đen xuất hiện) Dẫn đưòng cho các ông ấy ra.

2
Như vậy là cô đã chế ngự được họ, đúng như cô đã thắng cả những bậc cha chú của họ, ba mươi năm về trước đối với cái mùi hôi thối phát ra tự nhà cô. Vụ này xảy ra hai năm sau khi thân phụ cô mất, ít lâu sau khi người tình của cô bỏ đi nơi khác, một người mà chúng tôi ai cũng nghĩ là sẽ cưới cô làm vợ. Sau khi thân phụ cô mất, ít khi cô ra ngoài; và khi người tình bỏ cô mà ra đi, khó có ai thấy được mặt cô. Có một vài bà táo gan dám liều đến thăm cô, nhưng họ không được cô tiếp, dấu hiệu sinh hoạt duy nhất nơi cô ở là người đàn ông da đen - thuở đó ông ta còn trẻ - cắp làn chợ, đi đi về về.
"Bất kỳ một người đàn ông nào trông nom bếp nước đều như thế cả!". Các bà tán với nhau như vậy, nên chẳng ai ngạc nhiên khi có mùi hôi thối phát ra, thế là có một mối liên quan mới giữa đám người đông đảo, thô kệch với giòng họ Grierson cao cả và hiển hách.

Một bà láng giềng của cô tìm đến phàn nàn với ông thị trưởng là vị thẩm phán tám mươi tuổi Stevens.
- Bà bảo tôi làm thế nào bây giờ? - Ông thị trưởng hỏi.
- Khó gì, ông thị trưởng cứ việc ra lệnh bắt phải chặn đứng cái đó lại. Không còn luật pháp gì nữa sao?
- Tôi chắc là chẳng cần đến như thế - Ông thẩm phán nói - hẳn đây chỉ là con rắn hay con chuột mà anh chàng da đen đập chết ở trong sân nhà mà thôi. Để tôi bảo hắn.
Hôm sau lại có hai người đến kêu ca nữa. Một người đàn ông đã tới rụt rè đưa ra lời khẩn cầu.
- Đã đến lúc bắt buộc phải làm một cái gì, ông thẩm phán ạ. Bất đắc dĩ lắm tôi mới phải tính đến chuyện quấy rầy cô Emily, nhưng quả thật đã đến lúc chúng ta phải làm một cái gì.
Tối hôm ấy, hội đồng thành phố họp: ba người đứng tuổi và một thanh niên, một nhân vật của thế hệ đang lên.
- Giản dị lắm - chàng thanh niên nói - bảo cô phải tẩy uế nhà cửa. Hạn cho cô một thời gian, nếu không thì...
- Trời đất, thưa ông bạn - lời ông thẩm phán Stevens - liệu ông có thể sỗ sàng nói thẳng vào mặt một phụ nữ rằng người bà ta hôi hám sao?

Thế rồi đêm hôm sau vào lúc quá nửa đêm, bốn người đàn ông băng qua sân cỏ nhà cô Emily, lén vào như bọn ăn trộm, họ đánh hơi dọc cái hầm nhà xây gạch, theo những cửa thông hơi phía trên hầm, đồng thời một người thọc tay vào bao tải đeo trên lưng, rồi vung tay ra đều đặn hệt như người gieo mạ. Họ đẩy cửa hầm, đi vào trong, rắc vôi bột, rắc cả những gian nhà phụ bên ngoài. Khi họ trở ra, cũng lại băng qua sân cỏ, thì thấy một khung cửa sổ lúc trước tối, bây giờ có ánh sáng, và họ thấy cô Emily ngồi đó trước ánh đèn, cô ngồi thẳng im lìm như một pho tượng. Họ lặng lẽ bò qua sân cỏ, lẩn vào bóng những hàng cây dạ hợp trồng dọc theo hè phố. Một hai tuần sau thì mùi hôi thối không còn.
Chừng đó mọi người mới thấy thương hại cô. Dân trong tỉnh lại nhớ đến bà cụ Wyatt, bà cô của cô ta, sau cùng đã thực sự phát điên vì nhận ra là giòng họ Grierson đã tự đề cao hơi quá lố. Không một chàng trai tráng nào khả dĩ có thể xứng hợp với cô Emily. Chúng tôi thường hình dung những nhân vật trong dòng họ cô như những hình trên một bức ảnh - phía trong cùng là cô Emily mặc đồ trắng, dáng mảnh mai, phía trước là cha cô, xây lưng lại phía cô, hai chân dang ra, tay lăm lăm chiếc roi ngự, cả hai nổi bật trong khung cửa mặt tiền. Vì vậy khi cô vừa ba chục tuổi xuân mà vẫn chưa chồng, chúng tôi đúng ra nào có sung sướng gì, nhưng cũng cảm thấy được hả giận. Ngay cả khi có chứng điên trong gia đình, cô cũng chẳng bỏ lỡ tất cả những cơ hội may mắn nếu quả những cơ hội đó có đến thật.

Khi thân phụ cô qua đời, người ta đồn rằng tất cả của cải để lại cho cô chỉ còn căn nhà đó, dân chúng về một phương diện nào đó có vẻ bằng lòng. Bây giờ thì họ có thể rủ lòng thương hại cuộc đời cô được rồi. Bị bỏ lại trong cô độc và nghèo nàn lúc ấy cô mới thấm thía nhân tình, lúc ấy cô mới hiểu thế nào là niềm vui hoặc nỗi buồn của một đồng xu kiếm được hoặc mất đi.
Sau hôm thân phụ cô mất tất cả các bà đều sẵn sàng qua nhà cô để phân ưu và giúp đỡ theo thông lệ. Cô Emily tiếp họ ở cửa, cô ăn bận như ngày thường, tuyệt không một nét buồn rầu thoáng hiện, cô bảo các bà là thân phụ cô không chết. Cô cũng đã nói như vậy ba ngày liên tiếp với các mục sư đến viếng, với các y sĩ đến thuyết phục cô để lo liệu cho xác chết. Mãi đến lúc họ định dựa vào pháp luật để cưỡng bách cô thì cô mới nhượng bộ, và họ vội vàng chôn cất cha cô.
Chúng tôi không cho là cô điên. Chúng tôi nghĩ là cô chẳng thể nào làm khác được, chúng tôi nhớ tới những chàng trai trẻ mà thân phụ cô đã xua đuổi đi, và chúng tôi hiểu giờ đây cô thấy chẳng còn có gì, nên phải bám víu lấy cái đã tước đoạt mọi thứ nơi cô như mọi người vẫn thường làm thế...

3.
Cô đau khá lâu. Khi chúng tôi gặp cô thì tóc cô cắt ngắn trông cô như con gái, phảng phất tựa những hình thiên thần vẽ trên cửa kính màu ở nhà thờ, vừa có vẻ bi thảm vừa có vẻ trong trắng.
Thành phố vừa ký những hợp đồng lát đá các lề đường, và mùa hè sau năm thân phụ cô mất, người ta khởi công. Hãng thầu tới đem theo bọn phu da đen với những con la và máy móc. Có gã đốc công tên là Homer Barron, dân Bắc Mỹ, vạm vỡ da ngăm tính tình cương quyết, tiếng nói oang oang, với cặp mắt sáng hơn màu da mặt. Lũ trẻ con xúm nhau đi theo nghe gã nhiếc mắng bọn da đen và nghe bọn này cất tiếng hát theo nhịp cuốc. Chẳng bao lâu gã quen khắp mặt trong tỉnh. Cứ mỗi khi nghe tiếng cười ran ở đâu là y như có gã Homer Barron giữa đám nới đó rồi. Thời gian này, vào những chiều chủ nhật, chúng tôi bắt đầu thấy gã và cô Emily ngồi trên chiếc xe ngựa thuê không mui hai chỗ, bánh màu vàng đóng cặp ngựa hồng.
Thoạt nhìn, chúng tôi lấy làm hoan hỉ khi thấy cô Emily đã có được niềm vui sống, bởi các bà đều bàn tán:
- Dĩ nhiên là con gái dòng họ Grierson chẳng thể cặp bồ với một anh chàng người miền Bắc, kẻ làm công nhật được.
Nhưng cũng có những người khác nhiều tuổi hơn bàn tán rằng ngay cả trong nỗi sầu tư một cô gái quyền quý cũng không quên được câu phú quý sinh lễ nghĩa. Ấy thế rồi họ chép miệng nói với nhau:
- Tội nghiệp cho Emily. Thân quyến cô sẽ phải đến với cô.
Cô có một số thân quyến ở Alabama, nhưng mấy năm trước, thân phụ cô đã xích mích với họ về việc kế thừa tài sản của bà Wyatt, một bà cụ điên, vì vậy mà hai gia đình cắt đứt liên lạc với nhau. Chẳng một ai ở gia đình bên kia đến phúng điếu nữa.

Rồi chẳng bao lâu các bà lại chép miệng:
- Tội nghiệp cho Emily!
Rồi họ thì thào hỏi nhau:
- Các bà có nghĩ vậy không?
Kẻ tán vào thì bảo:
- Dĩ nhiên là thế. Còn gì bằng...
Những lời đàm tiếu đó thốt ra sau những bàn tay che miệng, phía sau những màn lụa và sa tanh, bên trong những bức mành che nắng, được sột soạt cuộn lén vào những chiều chủ nhật khi vừa có tiếng clop clop clop của cặp ngựa hồng lanh lẹ lướt qua. "Tội nghiệp cho Emily."
Cô vẫn ngẩng cao đầu - ngay cả khi chúng tôi cho rằng cô thật thế - Có thể nói hơn bao giờ hết cô đòi mọi người phải công nhận cái phẩm cách của cô như một người cuối cùng trong giòng họ Grierson dường như chính cái vẻ tầm thường ấy tái xác nhận nhân cách bất khả xâm phạm của cô. Ví như hôm cô đi mua thuốc giết chuột, chất nhân ngôn. Đó là việc xảy ra hơn một năm sau lời thốt thương hại "Tội nghiệp cho Emily" của thiên hạ, vào thời gian hai người chị họ cô đến chơi ở nhà, cô bảo với người bán thuốc:
- Tôi muốn mua độc dược.
Năm ấy cô ngoài ba chục. Người cô vẫn mảnh mai tuy có gầy hơn thường lệ, cặp mắt đen láy của cô lạnh lùng, ngạo mạn trên một khuôn mặt mà da thịt căng xếch tới thái dương bao quanh hai quầng mắt trông tựa khuôn mặt của kẻ gác hải đăng.
- Tôi muốn mua độc dược, - Cô nói.
- Vâng được, cô Emily, loại nào thưa cô? Cho chuột hay giống vật nào khác? Theo như tôi biết thì...
- Tôi muốn thứ mạnh nhất mà nhà hàng có. Bất cứ loại nào.
Người bán thuốc nêu một số rồi nói:
- Những thứ đó có thể giết được cả voi... nhưng loại cô muốn dùng là...
- Mua thạch tín.
Người bán thuốc nhìn cô, cô nhìn lại ông ta, đứng thẳng người, mặt như là cờ căng gió.
- Dĩ nhiên là có, - người bán thuốc - nếu quả thực đó là thứ cô cần. Nhưng theo luật xin cô cho biết cô sẽ dùng chất đó vào việc gì.
Cô Emily chỉ nhìn chằm chằm vào mặt ông ta, đầu cô ngả ra phía sau, mắt dán vào ông ta đến nỗi ông phải quay lưng đi rồi lấy thạch tín gói lại. Một chú bé giao hàng người da đen mang gói thạch tín đến cho cô; người bán thuốc không ra nữa. Khi về đến nhà, cô mở gói thì thấy trên cái hộp, hình sọ người và hai xương ống bắt chéo, hàng chữ "Dùng cho chuột".

4.
Rồi ngày hôm sau chúng tôi đều bảo: "Cô ta sẽ tự sát" và chúng tôi cho rằng như thế có lẽ là hay nhất. Lần đầu tiên khi thấy cô đi với Homer Barron, chúng tôi đã bảo: "Cô sẽ lấy gã", ít lâu sau chúng tôi bàn: "Tất nhiên cô sẽ thuyết phục được gã", bởi lẽ Homer Barron - gã thích tụ bạn với cánh đàn ông và đã từng đi uống với những hội viên trẻ nhất của câu lạc bộ Elks cũng đã tự nhận rằng mình không phải là hạng người sinh ra để lấy vợ. Sau nữa chúng tôi lại nói: "Tội nghiệp cho Emily", phía sau mành cửa khi họ đi qua vào chiều chủ nhật trên chiếc xe ngựa mui trần bóng loáng, cô Emily ngẩng cao đầu, còn Hormer Barro mũ lệch bên tai, răng cắn chặt điếu xì gà, dây cương và roi ngựa trong cái bao tay màu vàng.
Rồi thì có vài bà nghĩ đó là điều xỉ nhục cho cả tỉnh, làm gương xấu cho giới trẻ. Bọn đàn ông thì không muốn can dự đến; nhưng sau cùng các bà ép mục sư giáo phái Baptist - gia đình cô Emily theo giáo phái Episcopal - đến tiếp xúc với cô. Mục sư không tiết lộ những gì đã xảy ra trong cuộc tiếp xúc ấy, nhưng từ khước không trở lại nhà cô nữa. Ngày chủ nhật sau đó, họ lại đánh xe đi với nhau ở ngoài phố, và hôm sau thì bà vợ ông mục sư biên thư cho thân quyến cô Emily ở Alabama.

Thế là trong nhà cô lại có thân quyến tới ở, và chúng tôi ngồi chờ xem diễn biến. Thoạt thì chẳng thấy gì hết. Sau rồi chúng tôi yên chí là họ sắp sửa lấy nhau. Kế đó chúng tôi được tin là cô Emily đã tới hiệu kim hoàn đặt một bộ trang sức cho nam giới bằng bạc có khắc hai chữ đầu H.B ở mỗi món đồ.
Hai hôm sau, chúng tôi lại được tin cô sắm một lô quần áo đàn ông, có cả áo ngủ, và chúng tôi kết luận: "Họ lấy nhau thật rồi". Chúng tôi rất mừng. Mừng là vì hai cô chị họ còn điệu bộ Grierson hơn cả cô Emily nữa.
Thế nên chúng tôi không ngạc nhiên khi thấy Homer Barron - lề đường phố khi đó lát đã xong được ít lâu rồi - bỏ đi. Chúng tôi hơi thất vọng là chẳng có cuộc vui chung nào, nhưng chúng tôi tin rằng gã ra đi để sửa soạn đón cô Emily, hay để cô có cơ hội thuận tiện tống khứ được hai người chị họ đi. Vào thời gian ấy quả là chúng tôi đã hùa nhau, đứng về phe cô Emily, giúp cô mưu kế để đẩy cho bằng được hai cô chị họ kia. Có điều khá chắc chắn là trong vòng một tuần lễ cả hai người chị họ đều ra đi. Và đúng như chúng tôi trông chờ, chưa đầy ba ngày, Homer Barron trở lại thành phố, Ngưòi láng giềng của cô trông thấy anh hầu da đen để gã vào lối cửa bếp một buổi nọ lúc trời nhá nhem tối.
Và đó là lần chót chúng tôi thấy Homer Barron. Rồi cả cô Emily cũng chả thấy mặt trong suốt một thời gian. Vẫn chỉ thấy anh da đen đi đi về về với cái làn đi chợ, còn cửa chính thì đóng im ỉm. Thỉnh thoảng chúng tôi trông thấy cô ở cửa sổ một lúc như tối hôm nào mấy người rắc vôi bột xung quanh nhà cô, nhưng đến gần sáu tháng trời không thấy cô xuất hiện ở ngoaì thành phố. Lúc đó chúng tôi mới ngã ngửa người ra là cũng phải dự liệu cả đến điều này nữa: dường như tính nết đó của thân phụ cô, đã quá nhiều lần mâu thuẫn với nếp sống phụ nữ của cô, nó độc địa quá, dữ dằn quá đến không thể tiêu tan đi được.

Khi chúng tôi gặp được cô Emily sau này, thì thấy người cô béo phệ ra, tóc cô xám thêm đến độ ngả sang màu muối tiêu, màu xám sắt thì giữ màu không đổi nữa. Cho đến ngày cô chết, vào tuổi bảy mươi tư, tóc cô vẫn giữ nguyên màu xám sắt mạnh mẽ như tóc người đàn ông năng hoạt động vậy.
Từ độ đó trở đi cửa nhà cô vẫn đóng chặt, trừ một thời gian khoảng sáu, bảy năm, thuở cô trạc bốn mươi, cô dạy vẽ hình trên đồ sứ. Cô thu dọn một phòng ở tầng một làm xưởng vẽ, nơi đây những con gái, cháu gái của những người đồng thời với đại tá Sartoris được gửi tới học đều đặn, cần mẫn như đi nhà thờ vào ngày chủ nhật, mang theo đồng hai mươi lăm xu để góp trong đĩa. Ấy thế mà thuế má của cô được xá hết.
Rồi khi thế hệ trẻ trở thành cột trụ và linh hồn của thành phố, và những học trò lớp vẽ của cô lớn lên, tản lạc đi các nơi, họ cũng chẳng gửi con cái họ đến học cô, mang theo những hộp màu, những cọ sơn buồn nản và những hình cắt trong các tập san phụ nữ. Cửa tiền nhà cô đóng chặt sau lưng đứa học trò cuối cùng, rồi đóng kín như thế mãi. Khi thành phố được phát thư tín miễn phí, riêng một mình cô Emily từ chối không cho họ treo bảng số trên cửa nhà, mà cũng không cho gắn hộp thư vào cửa, cô nhất thiết không chịu nghe một lời phân giải nào.
Ngày, tháng, năm trôi qua, chúng tôi thấy anh người làm da đen tóc thêm xạm màu, lưng thêm còng, vẫn đi đi về về với cái làn đi chợ. Cứ mỗi tháng chạp tới, chúng tôi lại gửi đến nhà cô một giấy báo thuế và sau đó một tuần nhận được giấy gửi hoàn toàn qua bưu điện, với mấy chữ: không người nhận. Thỉnh thoảng chúng tôi có trông thấy cô xuất hiện sau một khung cửa sổ tầng dưới - hẳn là cô đã khóa kín tầng trên - như một pho tượng. Cứ như vậy cô sống trải từ thế hệ này qua thế hệ khác, cao giá, không lẩn trốn, bất khả xâm phạm, trầm tĩnh, ngang bướng.

Và rồi cô chết. Cô lâm bệnh trong căn nhà đầy bụi bặm và bóng tối với người lão bộc da đen lụm cụm hầu hạ. Chúng tôi cũng không hay là cô đau, đã từ lâu chúng tôi từ bỏ việc hỏi dò người lão bộc về cô. Lão chẳng nói với ai lời nào, chắc cả với cô cũng vậy, tiếng lão đã khàn khàn, rỉ sét bởi đã từ lâu không dùng.
Cô chết ở một trong mấy căn phòng dưới nhà, trên cái giường nặng chịch bằng gỗ hồ đào, có tấm màn che, mái đầu tóc xám đặt trên chiếc gối màu vàng mốc meo vì lâu ngày thiếu ánh mặt trời.

5.
Lão da đen ra cửa tiền đón người đi đầu trong bọn các bà rồi dẫn tất cả vào nhà, giọng nói của các bà tắc nghẹn, thì thầm với những cái nhìn vội vàng lén lút, đoạn lão lẩn đi. Lão đi thẳng qua căn nhà, ra lối cửa hậu và rồi không thấy đâu nữa.
Hai người chị họ cũng vừa tất tưởi đến viếng. Họ cho làm đám tang ngay hôm sau, và tất cả tỉnh đến viếng cô Emily nằm dưới đống hoa mới mua, chân dung thân phụ cô vẽ bằng chì than như trầm tư trên cỗ áo quan, các bà thì thầm ma quái, trên sân cỏ, trong hành lang, những cụ già - một vài cụ vận binh phục Liên Quân miền Nam chải chuốt diêm dúa tán gẫu về cô Emily, coi cô như người cùng thế hệ với mình, tin rằng mình đã có lần khiêu vũ với cô, và có lẽ đã tán tỉnh cô nữa, các cụ đã lẫn thời gian với cấp số toán học của nó, như những người già thường lẫn, đối với họ dĩ vãng không phải là con đường suy giảm dần, mà là một cánh đồng cỏ bao la mùa đông chẳng bao giờ chậm tới, ngăn cách họ bằng cái cổ chai nhỏ hẹp của mười năm vừa qua.

Chúng tôi vốn biết trên lầu có một căn phòng đóng kín mà đã bốn mươi năm qua không một ai biết tới, phải phá cửa mới vào được. Người ta đợi cô Emily đã mồ yên mả đẹp mới dám phá cửa đó ra.
Sức phá cửa mạnh dường như đã làm căn phòng tràn ngập bụi bặm. Tưởng như có tấm khăn phủ quan tài mỏng mùi hăng trùm khắp căn phòng được trang trí cho cô dâu chú rể: trên những tấm màn buông có riềm màu hồng bạc phếch, trên những chụp đèn màu hồng, trên cái bàn phấn, trên loạt đồ pha lê thanh nhã, trên bộ đồ trang sức của nam giới mà mặt trong bằng bạc đã xám xịt, xám đến nỗi mấy chữ viết tắt đã ám đen. Giữa những thứ đó có một chiếc cổ cồn và chiếc cà vạt tưởng như vừa được tháo ra, và khi nhấc lên còn để lại trên mặt bàn một hình trăng lưỡi liềm mờ nhạt trên nền bụi. Trên ghế còn vắt bộ quần áo gấp nếp cẩn thận, dưới ghế là đôi giày câm nín và đôi tất chơ vơ.

Chính gã đàn ông đó nằm trên giường.
Chúng tôi đứng yên đó một lúc lâu, cúi nhìn cái miệng cười rộng hoác sâu thẳm và không còn da thịt. Người ta thấy hình như thân gã có một lúc nằm với dáng điệu ôm ấp, nhưng rồi giấc ngủ dài, dài vượt tình yêu, giấc ngủ dài đã chinh phục được sự đỏng đảnh của tình yêu, đã lừa gạt được y. Di thể gã đã rữa nát dưới những gì còn sót lại của chiếc áo ngủ, chẳng thể gỡ khỏi nơi mặt giường gã nằm, và trên xác gã cũng như trên chiếc gối bên cạnh gã phủ một lớp bụi đều đặn, dẻo dai và bền bỉ.

Lúc ấy chúng tôi để ý nhận thấy trên mặt gối thứ hai còn in hằn vết lõm đầu người. Một người trong bọn tôi nhặt lên được một cái gì trên gối, và khi chúng tôi cúi xuống, lớp bụi gờn gợn vô hình khô khan mùi hăng sè xông thẳng lên mũi, chúng tôi nhìn ra thì đó là một sợi tóc dài, một sợi tóc màu xám sắt.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeWed Mar 20, 2019 8:35 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 38237891451_2947480368_o


CÔNG CHÚA THỦY CUNG 
(Ryuuguu no otohime, 1926)
- Kawabata Yasunari (Nobel 1968)


- Hãy làm cho ta một tấm bia mộ có chiều cao hơn thân người nó. Bắt con đàn bà đó ôm lấy tấm bia rồi đem vùi cả hai dưới biển.
Người cha mình đầm đìa những máu trước khi chết đã trối trăn lại như thế nên hai đứa con trai đã xây cho ông một ngôi mộ huy hoàng lộng lẫy. Cha của họ đã chết một cách tàn khốc dưới bàn tay người vợ nay trở thành góa phụ và anh tình nhân của thị.

Hai ông con đời vợ trước nhẹ nhàng nhấc lên cao tấm bia đá có chiều cao hơn thân người đàn bà, kẻ thù của họ, và khuân nó đến tận ghềnh đá bên bờ biển. Từ một nơi như thế này, nếu liệng một hòn đá xuống thì nó sẽ trở thành nhỏ tí tẹo như hạt vừng rồi mất hút dưới biển. Đó là một cái ghềnh vách thẳng đứng đến kinh hoàng mà chỉ trong nháy mắt là hòn đá đã chạm được mặt sóng. Ở nơi đó, hai ông con đã lột truồng người đàn bà, dùng giây thô bện bằng rơm cột cô ta vào tấm bia đá. Cứ nguyên như thế, họ đẩy tuột tấm bia xuống. Người đàn bà phản ứng tự nhiên bằng cách dang tay dang chân ôm chầm tấm bia đang rơi. Tấm bia giống như một con vật sống cất tiếng kêu thất thanh rồi lăn xuống dưới vực.

Thế nhưng chuyện gì đã xảy ra? Khi tưởng chừng đến khoảng giữa vách đá dựng đứng, tấm bia kia đột nhiên ngừng lại trong một chớp mắt. Rồi coi kìa, nó không còn lộn vòng nữa mà chở người con gái bên trên và lướt đi vèo vèo như một bàn đạp dùng để trượt tuyết? Không phải là con thuyền nhỏ đó đang lao thẳng về phía biển khơi như một vệt sáng đó sao? Khi nhìn thấy cảnh tượng ấy, hai ông con nhà kia từ hai phía chỉ biết chạy bay đến ôm chầm lấy nhau gào lên:
- Bố ơi, xin tha tội cho chúng con!?
Vừa nói xong, cả hai đã ngã vật xuống.

Anh tình nhân của cô con gái cũng đuổi đến chỗ đó. Con thuyền chở cô đi liệng nhanh như một con én giữa không gian xanh. Không có một con thuyền nào khác có thể theo kịp. Anh chàng kia bèn phóng như bay đến bên phần mộ của người chồng, nâng nhẹ nhàng miếng đá đặt làm nền dựng tấm bia và khuân tới nơi. Thế rồi, anh ta ôm lấy nó và cả hai lao xuống biển. Rốt cuộc, phiến đá đó cũng biến thành một con thuyền trôi nhanh như tia chớp.
Con thuyền của anh con trai bắt kịp chiếc thuyền của cô con gái. Anh ta nói như thế này:
- Bây giờ chúng mình phải cảm ơn người đàn ông mà chúng mình đã sát hại chứ.
- Không được anh ơi! Đừng có cảm ơn ông chồng của em làm gì! Khi tình cảm biết ơn vừa dậy lên trong lòng anh thì con thuyền chở anh sẽ nặng như tấm bia đá cho coi!
- Khi cô gái chưa dứt lời thì con thuyền của anh chàng đã hóa thành tấm bia mộ bằng đá và cùng với thân thể anh ta lục bục chìm xuống biển. Thấy thế, cô con gái mới cất tiếng gọi:
- Thuyền ơi, mi hãy hóa thành tấm bia đá để chìm theo người yêu dấu của ta dưới đáy biển!
Thế rồi thân thể vẫn lõa lồ, cô ôm tấm bia đá và chìm xuống nước như một nàng nhân ngư.

Nhưng anh chàng con trai lại hết sức cáu kỉnh khi thấy rằng chỉ có một mình mình phải chìm dưới đáy biển:
- Bia mộ ơi, hãy biến thành một con thuyền nhỏ trồi lên trên mặt biển nơi có con thuyền của người ta yêu.
Bởi vì anh chàng cất tiếng van xin người đàn ông mà mình đã tự tay hạ sát cho nên khi đang chìm đến phân nửa đoạn đường anh ta lại trồi lên được.

Thế rồi, chuyện gì đã xảy ra đây? Cô con gái đang chìm và anh con trai đang trồi lên đã đi ngược chiều và hụt nhau giữa lòng biển lúc nào không hay. Cuối cùng chỉ có một mình nàng lặng lẽ chìm đắm dưới đáy biển.
Cô gái đó là nàng công chúa Long Cung.

Khi nghe người con gái kể lại câu chuyện ngày xưa như thế, tôi đoán chắc nàng phải có lần quyên sinh vì tình. Nàng từng lao đầu xuống biển cùng với người mình yêu. Người đàn ông kia chết. Còn nàng, trong giây phút tìm lại được hơi thở hồi sinh, đã cất tiếng kêu và bám lấy người chồng mà nàng đã một lần phản bội. Sau khi chuyện xảy ra, gặp tôi, nàng nói thế này:
- Điều xảy ra cho em cũng giống như trong chuyện cổ tích. Và đúng tất cả từ đầu đến cuối!

Dịch: Nguyễn Nam Trân (22/12/2009)
.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 577
Join date : 23/08/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon May 13, 2019 10:24 am

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Nntd074a 

Người yêu của kẻ nghèo
- Kawabata Yasunari (Nobel 1968)

    Dùng chanh để trang điểm là điều duy nhất mà cô gái dám tiêu sang. Vì vậy mà da cô trắng mịn như mùi thơm rất thanh tân. Cô cắt quả chanh làm tư, mỗi ngày lấy một miếng chanh ấy vắt lấy nước bôi lên mặt. Ba miếng còn lại cô lấy giấy mỏng bịt kín vết cắt, cất đi để dành. Hàng ngày phải ướp lạnh làn da bằng mùi thơm tươi mát của nước chanh, cô mới thực sự cảm thấy buổi sáng của một ngày. Cô xoa nước vắt trái cây ấy lên vú và đùi mà không cho người đàn ông biết. Anh ta vừa hôn cô vừa nói:
    - Chanh à. Em là cô gái bơi trong giòng sông chanh đến. Nếm vị chanh rồi muốn ăn cam quá.
    Cô đáp "Vâng" rồi đem một đồng bạc trắng năm xu đi mua một quả cam mang về. Như thế là cô đành phải hy sinh niềm vui cảm thấy có chanh trên làn da sau khi tắm ra. Ngoài đồng bạc trắng và mùi chanh, họ chẳng có gì cả. Thế rồi người đàn ông ngồi trước đống tạp chí cũ chồng lên làm thành bàn mà viết kịch, một vở kịch ế ẩm, mà lại dài lòng thòng nữa chứ.

    - Trong vở kịch này anh sẽ dành một màn riêng có cảnh một rừng chanh cho em. Anh chưa thấy rừng chanh bao giờ nhưng đã từng thấy cả một quả núi vàng rực với những vườn quýt mikan ở Ki-i. Mùa thu, vào đêm trăng sáng, nhiều người từ mạn Osaka kéo đến xem đông lắm. Những quả quýt như những ngọn lửa ma quái nổi bật lên đây đó dưới ánh trăng, cứ như là đang nằm mơ thấy mình ở giữa một biển những ngọn đèn thắp sáng trong đêm. Màu vàng của quả chanh lại sáng hơn quýt nhiều, sẽ là những ánh lửa thật ấm áp. Trên sân khấu nếu bài trí sao cho có vẻ như vậy...
    - Vâng.
    - Em thấy chán lắm hả? Tất nhiên anh bây giờ thì không thể viết được vở kịch nào có nội dung tươi sáng như cảnh sắc miền nam. Muốn được thế, phải có danh vọng hẳn hoi cơ.
    - Tại sao mọi người ai cũng muốn leo lên đài danh vọng thế nhỉ?
    - Không thế thì không sống nổi. Thế nhưng anh bây giờ thì không mong gì có thể leo lên đài danh vọng được.
    - Em không cần danh vọng đâu. Có danh vọng rồi thì được gì cơ chứ?
    - Riêng về điều này thì em cũng tân thời đấy nhỉ. Ví dụ như sinh viên thời nay, họ ghét cái chỗ đứng của họ, hay cho dù chưa đến nỗi ghét thì cũng hoài nghi. Họ phải phá bỏ nó đi, và họ biết là cái chỗ đứng ấy của họ rồi cũng sẽ bị sụp đổ. Kẻ leo lên đài danh vọng là kẻ bắc thang trên cái bệ mà họ biết là sẽ sụp đổ, nhưng họ cứ leo lên cái thang ấy. Càng leo cao lại càng nguy hiểm. Dù biết vậy, mọi người chung quanh và ngay chính hắn vẫn cứ ép hắn leo lên cái thang ấy. Ngoài ra bây giờ muốn có danh vọng thì không được có lương tâm. Đấy mới là khuynh hướng thời đại. Nghèo rồi sinh ra yếm thế như anh là cổ hủ. Nghèo mà vẫn tươi rói như quả chanh, mới là tân thời.
    - Thế nhưng, em chỉ là người yêu của kẻ nghèo. Đàn ông ai cũng có danh vọng là thấy đủ rồi, và họ toàn chỉ nghĩ đến danh vọng thôi. Nhưng đàn bà, chỉ có hai loại đàn bà thôi, đó là người yêu của kẻ nghèo và người yêu của kẻ giầu.
    - Em đừng có làm tàng đấy nhé.
    - Thế nào rồi anh cũng có danh vọng đấy. Thật mà. Em có mắt nhìn đàn ông, giống như Thần May Mắn, không bao giờ nhầm được. Đương nhiên là anh rồi sẽ có danh vọng.
    - Và rồi anh sẽ bỏ rơi em sao ?
    - Chắc là sẽ như vậy thôi.
    - Vì vậy mà em muốn ngăn cản không cho anh có danh vọng phải không?
    - Không phải thế đâu. Lâu nay, hễ người nào có được danh vọng, em đều mừng cho họ cả mà. Em nghĩ mình như cái tổ chim, ấp quả trứng danh vọng, cho đến khi trứng nở.
    - Em đừng than thở nữa. Làm anh lại nhớ đến những người yêu cũ của em, chẳng có thú vị chút nào cả. Em cũng có một điều đáng gọi là vào hàng danh gia vọng tộc, là dùng chanh trang điểm đấy là gì.
    - Chuyện ấy thì có gì đâu. Một quả chanh có 10 xu, đem cắt làm tư thì mỗi miếng chỉ đáng giá 2 xu rưỡi. Mỗi ngày của em chỉ có 2 xu rưỡi thôi mà.
    - Vậy khi em chết, anh sẽ trồng cây chanh nơi mộ địa của em nhé?
    - Vâng. Em hay nghĩ ngợi mông lung lắm. Khi chết chắc là là em còn nghèo rũ chẳng đủ tiền dựng bia mộ, nhưng có lẽ sẽ có nhiều người mặc tang phục sang trọng đi xe ô tô tới thăm mộ em.
    - Thôi em đừng nói chuyện về bọn đàn ông thành đạt nữa, hãy đuổi những bóng ma danh vọng ấy đi.
    - Thế nhưng, ngay cả anh rồi cũng sẽ thành đạt mà.

    Đúng như lời cô gái, niềm tin vào số mệnh của cô vững lắm, không sao lay chuyển được. Cô đúng là có con mắt của Thần May Mắn khi nhìn đàn ông, không bao giờ sai. Vì vậy chưa bao giờ cô thử yêu một gã đàn ông nào không có tài năng gì để đem danh vọng lại cho hắn.
    Ông anh họ, người yêu đầu tiên của cô, đã đính hôn với một người chị em họ giàu có. Anh ta bỏ vị hôn thê giàu có này và sống với cô trên gác hai của nhà trọ nghèo nàn như một chiếc áo yukata cũ mèm. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh ta dự thi kỳ thi tuyển quan chức bộ ngoại giao và đỗ hạng ba, được cử đi công tác ở đại sứ quán Nhật tại La mã. Anh ta tới gặp bố của người chị em họ giàu có kia, để xin cưới. Thế là cô đành rút lui. Người yêu thứ hai của cô là một sinh viên y khoa nhà nghèo, đã bỏ cô đi lấy vợ để có tiền xây bệnh viện. Người yêu thứ ba là người chủ một hiệu bán radio nghèo nàn trong ngõ hẻm, anh ta bảo vành tai cô có tướng làm cho tiền bạc đội nón mà đi, nên anh đã dời cửa hàng ra mặt đường lớn. Căn nhà ngoài mặt đường là nhà của vợ bé. Cô bị anh ta bỏ rơi lại cùng với căn nhà trong hẻm khi anh ta còn nghèo. Người yêu thứ tư... Rồi người yêu thứ năm...

    Nhà viết kịch nghèo nàn người yêu của cô, từ khi giao du với những nhà nghiên cứu xã hội học có tư tưởng cấp tiến, cuối cùng cũng viết được một vở kịch dài. Anh ta cũng đã viết vở kịch có rừng chanh như đã hứa với cô. Nhưng anh ta đã không tìm thấy rừng chanh trong đời sống thực. Rừng chanh chỉ có trong hồi kết của kịch bản. Rừng chanh là màn cuối nơi đôi nam nữ trò chuyện trong thế giới lý tưởng, sau khi lật đổ cái bệ mà anh ta đã từng nói tới. Thế nhưng cũng vì vở kịch này mà anh ta và nữ diễn viên số một của ban kịch mới đã phải lòng nhau. Cô gái của những quả chanh lại phải rút lui như mọi lần. Đúng như cô đã đoán trước, anh ta lại thành đạt, anh đã bước lên nấc thang danh vọng.
    Người yêu sau đó của cô là một anh thợ nói năng hùng hổ thỉnh thoảng tới nhà của người viết kịch người yêu của cô. Nhưng lần này không hiểu sao giác quan bén nhạy mà Thần May Mắn ban cho cô đã bị cùn nhụt đi hay làm sao ấy?
    Người đàn ông này đã không thành đạt. Chẳng những thế mà anh ta còn bị mất việc vì là một người xách động biểu tình. Cô cũng đã mất đi cái giác quan biết nhìn đàn ông. Có lẽ đấy cũng là giác quan khiến cô cảm thấy mình đang sống. Với cô, như thế là hết. Hay là cô đã mệt mỏi với danh vọng rồi chăng? Hay là cô đã nhầm lẫn điều gì sâu sắc lắm.

    Vào ngày tang lễ của cô, nhà viết kịch đã bước lên sân khấu vinh quang rực rỡ. Trong câu thoại do nữ diễn viên người yêu mới của anh đóng vai chính, anh thấy cô ta đang lập lại lời của người yêu cũ có mùi chanh. Vở kịch vừa kết thúc thành công rực rỡ, anh đã vội vã tới mộ địa của người yêu lúc còn nghèo, với một xe chất đầy những quả chanh ở cuối của vở kịch.
    Nhưng trước bia mộ của cô gái, không biết có ai đã đem đến, có một đống những chiếc lồng đèn sáng như màu chanh.
    Nhà viết kịch lẩm bẩm:
    "Ở đây đã có một rừng chanh rồi ư".

Nguyên tác: Hinja no koibito, của Kawabata Yassunari
Người dịch: Quỳnh Chi (25/3/2010)
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon Jun 24, 2019 4:25 pm

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 2Q==
   
Tấm ảnh
- Kawabata Yasunari (Nobel 1968)

   
Nguyên tác : Shashin
Tập truyện Te no hira no shosetsu (Truyện trong lòng bàn tay)

Có một người xấu xí...  Nói ra thì e là vô lễ, chứ chắc hẳn cũng vì hắn xấu ơi là xấu như thế, cho nên mới trở thành thi sĩ cũng không chừng. Người thi sĩ ấy đã bảo tôi thế này.

Tôi ghét chụp ảnh lắm, ít có khi nào nghĩ đến chuyện chụp ảnh. Bốn năm năm trước, tôi có chụp một tấm ảnh kỷ niệm nhân dịp đính hôn với người yêu. Đó là người tình yêu qúy nhất đời tôi. Là vì tôi không dám tin rằng trong đời tôi còn có thể có được một người con gái nào khác như thế nữa. Bây giờ tấm ảnh ấy trở thành một trong những kỷ niệm đẹp của tôi đấy.
Thế rồi năm ngoái, có một tờ tạp chí đến bảo tôi gửi cho họ một tấm ảnh chân dung. Tôi bèn lấy tấm ảnh chụp chung với người yêu và chị cô ấy, cắt riêng hình của tôi ra, để gửi cho toà báo nọ. Rồi mới đây lại có một nhật báo đến xin ảnh của tôi. Tôi cũng hơi do dự, nhưng rồi rốt cuộc cũng lấy tấm ảnh chụp với người yêu ra cắt làm đôi mà đưa cho ký giả. Tôi đã dặn đi dặn lại rằng nhất định phải nhớ gửi trả về cho tôi, thế nhưng có vẻ như là họ chẳng gửi trả lại cho mình đâu. Thôi thì thế cũng chẳng sao.

Thôi thì thế cũng chẳng sao, nhưng mà có điều là, khi nhìn một nửa tấm ảnh còn lại, một nửa tấm ảnh có chụp hình người yêu của tôi ấy, tôi cảm thấy bất ngờ hết sức. Đây là người con gái ấy sao? Tôi xin nói trước rằng người yêu của tôi trong tấm ảnh ấy dễ thương lắm cơ, đẹp thật cơ. Lúc ấy nàng mới 17 tuổi mà, lại đúng lúc nàng đang yêu nữa. Thế nhưng khi nhìn tấm ảnh còn lại trên tay mà tôi đã cắt làm đôi và chỉ còn lại một mình nàng, tôi bỗng thấy thất vọng "Thế mà cứ tưởng...", tôi có cảm tưởng rằng không ngờ cô gái vô duyên đến thế. Mà đó là tấm ảnh lâu nay tôi vẫn thấy đẹp ơi là đẹp đấy chứ. Giấc mộng lâu nay chỉ trong phút chốc bỗng chợt tan biến thật bẽ bàng. Báu vật quý giá của tôi thế là đã vỡ tan tành.   
Nghĩ cho cùng ... Giọng người thi sĩ càng trầm hẳn xuống.
Nếu nhìn tấm ảnh của tôi đăng trên báo, có lẽ nàng cũng nghĩ như vậy. Chắc là thế. Có lẽ nàng sẽ hối tiếc cho chính nàng, vì đã từng yêu, dù chỉ có một thời, một gã đàn ông như tôi. Nếu mà như vậy  thì... Thế là hết!
   
Nhưng nếu mà, tôi lại nghĩ, nếu mà tấm ảnh chụp hai người vẫn còn nguyên vẹn, nếu cả hai cứ bên nhau cùng đưa mặt ra trên báo, không biết là nàng có từ đâu đó nhẩy bổ về mà tìm tôi hay không. Nàng sẽ vừa tìm về, vừa tự nhủ rằng "Ôi, người ấy thế này mà sao mình lại..."

***

Mắt mẹ
- Kawabata Yasunari (Nobel 1968)

   
Nguyên tác : Haha No Me
Tập truyện Te no hira no shosetsu (Truyện trong lòng bàn tay)

Tôi đang ở trong căn phòng của quán trọ nơi một vùng suối nước nóng miền núi, thì một đứa bé chừng ba tuổi, con người chủ quán, mặt mày có vẻ hung hăng, cứ chạy loăng quăng rồi xông vào phòng tôi. Đứa bé  nhanh như cắt chộp lấy chiếc bút chì cán bằng bạc để trên bàn, rồi chẳng nói chẳng rằng bỏ chạy đi mất.

Một lát sau, chị bồi phòng tới hỏi tôi
- Thưa có phải cái bút này của quý khách không ạ ?
- Bút của tôi đấy, xong lúc nãy tôi đã cho cháu bé nhà này rồi mà.
- Thế nhưng, cô ở giữ em lại có cái bút này đấy ạ.
- Sao không để kệ cho trẻ con nó cầm chơi, chắc là cô ta lấy lại, không cho trẻ nó cầm đấy thôi.
Chị bồi phòng mỉm cười. Hỏi kỹ lại thì chị cho biết đã tìm thấy chiếc bút chì dưới đáy giỏ quần áo của cô ở giữ em.  Trong giỏ của cô ta toàn những thứ đã lấy trộm.  Nào ví đựng danh thiếp của khách trọ, nào áo lót của bà chủ trọ, nào chiếc lược gỗ quý hay chiếc trâm cài đầu của chị bồi phòng, và vài tờ giấy bạc.

Độ nửa tháng sau lại thấy chị bồi phòng phân bua
- Thế có tức không cơ chứ ạ, con ranh con ấy nó làm cho mình xấu cả mặt ...
Tội lấy trộm của cô ở giữ em có vẻ như cứ càng ngày càng chồng chất thêm. Cô ta đã đến hiệu bán kimono trong làng để mua những bộ áo kimono hết sức sang trọng mà trả bằng tiền mặt hẳn hoi nữa, mua hết bộ này đến bộ khác. Chủ hiệu bèn lén báo cho quán trọ biết, thế là chủ quán trọ liền nhờ chị bồi phòng tra hỏi cô ở giữ em.
Tức thì cô ta đứng phắt lên mà đáp
- Thế này thì để tôi đến chỗ bà chủ, nói hết cho bà nghe vậy.
Giọng điệu cô ta có vẻ như muốn nói rằng đời nào ta lại phải khai báo với những người phục dịch trong quán trọ như các người.
Theo lời chị bồi phòng kể lại, thì cô ở giữ em đã thản nhiên ngồi trước mặt chủ quán trọ, có vẻ vô tư, ra chiều ngẫm nghĩ để nhớ lại rồi kể hết từng món đồ cô ta đã lấy trộm. Tiền mặt thì cô ta lấy trộm từ chỗ bàn tính tiền của quán trọ, và lấy của khách trọ, được tất cả là 150 yên.
- Cô ta bảo đã đặt may cho mình áo khoác haori với ba bốn bộ kimono, và đã đưa mẹ đi nhà thương bằng xe ô tô đấy cơ ạ.
Khi người quản lý của quán trọ dẫn cô ta về trả cho bố mẹ cô, thì cả hai bố mẹ chỉ nhận con mà tuyệt nhiên không trách mắng câu nào.

Cô giữ em xinh đẹp đi khỏi quán trọ được ít lâu, thì tôi cũng đến lúc phải rời quán trọ trở về nhà. Một chiếc xe ô tô chạy nhanh như vút đi giữa hàng cây xanh, đuổi theo chiếc xe ngựa chở khách có tôi trên ấy. Chiếc xe ô tô đi ngang qua chiếc xe ngựa, thì bỗng dừng lại ngay bên hông xe. Cô giữ em đỏm đáng trong bộ áo kimono bước xuống xe, vừa hấp tấp tiến đến gần xe ngựa vừa cất tiếng ra chiều vui mừng bảo.
- Ôi, vui quá. Thế là gặp được ông đây rồi. Tôi đang đưa mẹ tôi đi bác sĩ trên phố đây ạ. Tội nghiệp, bác sĩ bảo rằng mẹ sẽ chỉ còn có một bên mắt thôi. Xin mời ông lên xe bên này. Tôi sẽ đưa ông ra bến xe đò.

Tôi bèn xuống xe ngựa. Gương mặt của cô giữ em mới rạng rỡ vui vẻ làm sao.
Qua khung cửa sổ xe ô tô, tôi trông thấy khuôn mặt của mẹ cô có quấn băng trắng toát.
    
DTTM (Quỳnh Chi) dịch
(Tokyo, 24/5/2006)
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSun Aug 18, 2019 12:15 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Images?q=tbn:ANd9GcRgnvU8nHidvAzBRomZgI_N809IMwqIYpTdIaxf2v5UKfGUNDwe

Người Láng Giềng Xinh Đẹp
- Rabindranath Tagore (Nobel 1913)


Tình cảm tôi đối với người góa phụ trẻ cạnh nhà chỉ là những tình cảm tôn thờ. Ít nhất, đó là điều tôi kể với bạn bè và tự nhủ thầm với mình. Ngay Nabin, người bạn thân nhất của tôi, cũng không hay biết tí gì về tâm trạng thực của tôi. Và tôi cảm thấy phần nào tự hào là đã giữ được sự đắm say của mình trong sáng bằng cách giấu nó ở chỗ sâu kín nhất trong tim. Nàng như một bông hoa xêphali đẫm sương, vừa chớm nở đã bị gãy rụng xuống đất. Quá tươi tắn và thiêng liêng đối với chiếc giường cưới trải hoa, chỗ của nàng là ở trên trời.

Nhưng sự đắm say giống như con suối trên núi, không chịu bị giam hãm ở nơi phát sinh mà phải tìm một lối thoát. Vì lẽ đó, tôi đã tìm cách thể hiện những cảm xúc của mình bằng những bài thơ, song ngòi bút miễn cưỡng của tôi không chịu viết ra những điều báng bổ đối với thần tượng của tôi.
Một chuyện kỳ lạ là đúng vào thời gian đó, anh bạn Nabin của tôi lại mắc bệnh sính làm thơ. Nó đột ngột đến với anh như một trận động đất. Đây là cơn bệnh đầu tiên của anh chàng tội nghiệp, nên anh không chuẩn bị tí gì về cả vần lẫn điệu. Anh không cưỡng lại nổi vì đã bị nó mê hoặc khác nào một người đàn ông góa mê cô vợ kế. Vì vậy Nabin đến nhờ tôi giúp. Chủ đề các bài thơ của anh thật cũ, cũ lắm, cũ mà vẫn luôn luôn mới: tất cả các bài thơ của anh đều nói về người yêu. Tôi vỗ lưng anh, đùa hỏi: "Thế nào, anh bạn, nàng là ai?" .
Nabin cười trả lời: "À điều đó thì mình chưa tìm ra"

Thú thực, tôi rất khoái được giúp bạn. Như con gà ấp trứng con vịt, tôi đem hết niềm say đắm nồng nàn bị kìm hãm của mình trút sang những lời thổ lộ của Nabin. Tôi thêm thắt và nhuận sắc cho các văn phẩm thô kệch của anh nhiều đến nỗi phần của tôi chiếm gần hết các bài thơ đó.
Nabin thường ngạc nhiên thốt lên:
- Đúng là điều mình muốn nói mà không diễn đạt nổi. Không hiểu làm thế nào mà cậu nắm bắt được những tình cảm tinh tế này?
Với giọng nhà thơ, tôi đáp:
- Chúng sinh ra từ trí tưởng tượng của mình. Như cậu biết, sự thật thì lặng lẽ chỉ có trí tưởng tượng mới hùng hồn. Thực tế đè nén dòng tình cảm như một tảng đá, còn trí tưởng tượng tự mở ra cho nó một con đường.
Và anh chàng Nabin tội nghiệp ấp úng: "Đúng thế, đúng thế, mình hiểu" , rồi nghĩ ngợi một lát, lại lẩm bẩm: "Đúng thế, đúng thế, cậu nói đúng!"
Như tôi đã nói, ở mối tình của tôi có một cái gì cung kính, tế nhị khiến tôi không dám diễn đạt nó thành lời. Nhưng, lấy Nabin làm cái màn che, không còn gì cản trở ngòi bút thao thao bất tuyệt của tôi nữa và những tình cảm thực sự nồng nàn, trào ra thành những bài thơ viết hộ người khác.
Những lúc minh mẫn, Nabin bảo: - Nhưng đây là những bài thơ của cậu đấy chứ! Để mình đăng nó dưới tên cậu.
- Bậy nào - tôi trả lời - bạn thân mến, những bài thơ này là của cậu đấy. Mình chỉ chấm sửa đôi chút chỗ này chỗ kia thôi.
Dần dần Nabin tin là như vậy.

Tôi không chối cãi là với tâm trạng của nhà thiên văn khi quan sát bầu trời cao, thỉnh thoảng tôi có hướng con mắt về phía cửa sổ nhà bên cạnh. Và cũng đúng là thỉnh thoảng những cái nhìn vụng trộm của tôi đã chộp được một hình ảnh thoáng qua. Nhưng chỉ cần thoáng qua trong giây lát hình ảnh cao quý của nguồn khích lệ ấy, ngay tức khắc tất cả những gì xáo động và vẩn đục trong tình cảm tôi trở thành êm ả thanh khiết.
Song một hôm tôi giật mình sửng sốt. Liệu tôi có thể tin được ở mắt mình không? Hôm đó là một buổi chiều hè nóng nực, khi trời có vẻ sắp bão, mây kéo đen kịt một góc trời phía tây bắc. Giữa khung cảnh ngập trong một thứ ánh sáng kỳ lạ và đáng sợ ấy, cô láng giềng xinh đẹp của tôi đang ngước mắt nhìn lên khoảng không gian trống rỗng. Và tôi phát hiện ra trong ánh mắt xa xăm của đôi mắt đen láy ấy có một niềm khao khát vô vọng! Phải chăng, may ra, vẫn còn một quả núi lửa sôi động nào đó trong mặt trăng êm ả rực rỡ kia của tôi? Hỡi ơi, cái ánh mắt khát khao không bến bờ kia, nó đang tung bay qua các đám mây như một con chim hăm hở, chắc chắn muốn tìm, không phải thiên đường, mà là tổ ấm trong một trái tim người.
Nhìn thấy khát vọng khôn tả của ánh mắt ấy, tôi khó kiềm chế được lòng mình. Tôi không còn bằng lòng với việc sửa những bài thơ thô thiển nữa. Toàn bộ con người tôi ao ước được giải bày bằng một hành động cao quý. Sau cùng, tôi nghĩ sẽ dốc hết tâm trí làm cho việc tái giá của các góa phụ được hoan nghênh và trở thành phổ biến ở nước mình. Tôi sẵn sàng không những diễn thuyết và viết báo về vấn đề này mà còn bỏ tiền của ra cho sự nghiệp ấy.

Nabin bắt đầu tranh cãi với tôi: ở góa suốt đời có một ý nghĩa thanh khiết và êm đềm dịu dàng vô hạn, một vẻ đẹp thanh bình như ở những nơi yên ngủ của những người đã khuất, lung linh dưới ánh trăng bàng bạc của ngày mười một kiêng khem 1. Riêng cái khả năng tái hôn chẳng làm tiêu tan cái vẻ đẹp thần tiên của nó sao?
Bây giờ kiểu nghĩ ủy mị ấy làm cho tôi tức giận liền. Thời buổi đói kém nếu có kẻ nào no thừa nói đến đồ ăn thức uống với một vẻ khinh khỉnh và khuyên nhủ người sắp chết đói hãy làm nguôi cơn đói bằng hương thơm và tiếng chim hót, thì ta nghĩ về hắn thế nào? Tôi bực bội nói:
- Này Nabin, đối với người nghệ sĩ, cảnh hoang tàn có thể là đẹp đấy, nhưng người ta xây nhà không phải chỉ để cho các nghệ sĩ ngắm mà là để ở. Vì vậy phải tu sửa những ngôi nhà ấy cho tốt, cho dù vì thế mà các nghệ sĩ hậm hực. Đối với cậu, đứng xa mà lý tưởng hóa cuộc sống góa bụa thì rất dễ, nhưng cậu phải nhớ rằng, trong cảnh sống góa bụa kia có một trái tim nhạy cảm, đập dồn vì đau khổ và khao khát.

Ban đầu, tôi tưởng làm thay đổi được cách nghĩ của Nabin chắc khó, vì vậy có lẽ tôi đã nói hăng hơn mức cần thiết, nhưng sau bài diễn văn ngắn ngủi tôi có phần ngạc nhiên khi thấy Nabin buông một tiếng thở dài trầm ngâm rồi hoàn toàn nhất trí. Phần kết bài diễn văn có sức thuyết phục hơn mà tôi định nói tiếp hóa ra không cần thiết nữa.
Khoảng một tuần sau, Nabin đến gặp tôi, bảo rằng, nếu được tôi giúp thì anh sẵn sàng mở đầu bằng cách chính anh sẽ lấy một góa phụ làm vợ.
Tôi mừng quá, vồn vập ôm hôn anh, hứa là anh cần cho việc ấy bao nhiêu tiền, tôi sẽ giúp hết. Sau đó, Nabin kể với tôi câu chuyện của anh.

Tôi được biết, người mà Nabin đem lòng thương mến không phải là một con người tưởng tượng. Té ra cả Nabin nữa trước đây cũng đã có thời say mê một góa phụ từ xa nhưng không thổ lộ với ai tình cảm của mình. Sau đấy, tờ báo thường đăng những bài thơ của Nabin, hay nói đúng hơn là những bài thơ của tôi, đã tới tay người đẹp. Và những bài thơ ấy không phải không có tác dụng.
Như Nabin cẩn thận giải thích, không phải anh đã chủ tâm tiến hành chuyện yêu đương theo cách ấy. Thực ra, - anh nói, - anh hoàn toàn không biết là người góa phụ kia đọc được chữ. Nabin thường gửi qua bưu điện tờ báo đăng thơ của anh đến anh trai người góa phụ mà không đề tên người gửi. Đó chỉ là một trò ngông cuồng, một sự nhân nhượng đối với mối tình say mê tuyệt vọng của anh. Đó chỉ là những bông hoa cúng đặt trên bàn thờ, Trời Phật có biết hay không, có nhận đồ tế hay không, chuyện ấy không phải là việc của người đi lễ.
Và Nabin đặc biệt muốn tôi hiểu rằng, khi anh dựa vào cớ này cớ khác tìm cách làm quen với anh trai người góa phụ, anh không có ý định dứt khoát. Ta thường đặc biệt chú ý đến cả những ai gần gũi với người ta yêu.

Tiếp theo là một câu chuyện dài kể lại hai người đã làm quen với nhau như thế nào khi người anh trai kia ốm. Sự có mặt của chính nhà thơ cố nhiên mở ra nhiều dịp bàn luận về các bài thơ, và những buổi bàn luận ấy không nhất thiết bó hẹp ở chủ đề đã làm nẩy sinh ra việc bàn luận.
Sau lần thua tôi trong cuộc tranh luận mới đây, Nabin đánh bạo cầu hôn người góa phụ. Ban đầu, anh không được nàng ưng thuận, nhưng khi anh triệt để sử dụng những lý lẽ hùng hồn của tôi, cộng thêm một hai giọt nước mắt của anh, thì người đẹp đã đầu hàng không điều kiện. Bây giờ, người giám hộ nàng cần một ít tiền để thu xếp công việc.
- Đây, cậu cầm lấy - tôi nói.
- Nhưng, cậu biết đấy, - Nabin nói tiếp - phải mất mấy tháng nữa cha mình mới đủ nguôi giận để tiếp tục trợ cấp cho mình. Trong thời gian ấy, chúng mình biết lấy gì mà sống?
Tôi lẳng lặng viết cho anh bạn tờ ngân phiếu đủ số tiền cần thiết, rồi bảo:
- Nào bây giờ cậu nói cho mình biết nàng là ai đi. Cậu chớ coi mình có thể là tình địch của cậu, vì mình xin thề là sẽ không làm thơ tặng nàng, và dù cho có làm thì cũng không gửi cho anh trai nàng, mà cho cậu!
- Sao cậu lại nói thế, - Nabin nói - Mình giấu tên nàng không phải vì sợ cậu trở thành tình địch! Thực tế là nàng bị xáo động rất mạnh khi quyết định bước đi bất thường này, và yêu cầu mình chớ kể việc này với bạn bè. Nhưng nay không cần thiết nữa, vì mọi chuyện đã được thu xếp xong xuôi. Nàng ở số mười chín, ngay cạnh nhà cậu đó thôi.
Nếu tim tôi là một cái nồi hơi bằng sắt thì có lẽ nó đã nổ tung rồi. Tôi chỉ hỏi:
- Vậy nàng không phản đối gì chuyện tái hôn à?
- Hiện nay thì không, - Nabin trả lời với một nụ cười.
- Có phải chỉ riêng những bài thơ đã gây ra sự thay đổi thần kỳ này
không?
- Đúng thế, cậu biết đấy, các bài thơ của mình cũng không đến nỗi tồi, có phải không? - Nabin nói.

Tôi nguyền rủa thầm trong bụng.
Nhưng tôi nguyền rủa ai mới được cơ chứ? Rủa Nabin à?

Hay rủa chính tôi? Rủa Trời à? Tôi rủa tất cả.


Hoàng Cường dịch
(Rút trong tập " Mây và mặt trời" , NXB Văn học 1986)
--------------------------------
1    Ở Ấn Độ, ngày thứ 11 của tuần trăng được coi là ngày nhịn ăn và ăn năn hối lỗi.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon Oct 07, 2019 10:04 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 41OROvmS9WL._SX331_BO1,204,203,200_

ÁNH ĐÈN CỬA SỔ NHÀ BÊN
- Luigi Pirandello (Nobel 1934)


Luigi Pirandello (1867-1936) là nhà văn Ý, sinh năm 1867 tại Girgenti trên đảo Cicile và từ trần năm 1936 tại thành Rome. Ông chuyên sáng tác kịch và tiểu thuyết. Văn phẩm của ông chứa đựng nhiều bản sắc độc đáo, nhờ vậy ông được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1934. Tác phẩm nổi danh của ông gồm có:
KỊCH: Ai cũng có lẽ phải; Như trước, hơn trước; Như thế nầy, như thế kia...
TIỂU THUYẾT: Chàng Mathias Pascal quá cố; Chồng nàng; Quay phim...
ÁNH ĐÈN CỬA SỔ NHÀ BÊN là một truyện ngắn đặc sắc của ông, hàm chứa một quan niệm nhân sinh chua chát. Ông có tài diễn tả những biến chuyển tâm lý tế nhị trong nội tâm con người với lối văn thật nhẹ nhàng, súc tích. Ngày nay nước Ý đã xuất hiện nhiều thiên tài mới, nhưng Luigi Pirandello vẫn chiếm một địa vị quan trọng trong nền văn học hiện đại Ý và vẫn giữ được cảm tình của đa số độc giả trí thức.

***
 
Vân Sinh đến thuê căn phòng này đã được hai tháng mà bà chủ nhà và cô gái chưa hề có dịp gặp gỡ chàng. Bà chủ tên Niệm là một người đàn bà thấp nhỏ, quê mùa; cô con gái tên Trang là một thanh nữ lỡ thì, phòng xuân còn trống. Hai mẹ con không gặp được chàng vì mỗi ngày chàng ra đi thật sớm mà trở về thật khuya. Họ chỉ biết chàng làm trạng sư, ngoài ra họ không được biết gì hơn nữa.
Vân Sinh ở trong một căn phòng chật hẹp nhưng xinh xắn. Phòng trang trí đơn sơ, không có gì chứng tỏ sự hiện diện của một nhà tri thức. Quần áo cất trong tủ. Không một bức tranh. Không một quyển sách hay một tờ báo. Mẹ con bà Niệm phập phồng lo ngại chàng không chịu ở lâu nơi đây.
Thật ra, căn phòng nầy không có gì quyến rũ. Nhiều người đến xem nhà, đều chê không thèm thuê. Căn phòng chật chội chỉ có một cửa sổ trông xuống một ngõ hẻm hẹp, lại bị một ngôi nhà phía trước che khuất ánh sáng mặt trời. Mẹ con bà Niệm muốn đền bồi lại người thuê bằng cách săn sóc họ thật chu đáo, tận tình. Nhất là cô Trang, cô đã nghĩ ra thật nhiều cách chiều chuộng. Nhưng cô chưa có dịp thi hành vì cô có gặp được chàng lần nào đâu.

Trái lại sự lo âu của họ, Vân Sinh thấy căn phòng u tối này thật hợp với tính chàng. Mỗi lần dạo phố, chàng thích đi đơn độc một mình, tay thọc vào túi áo, mũ trệch xuống tận mũi. Chàng không nói chuyện với ai. Chàng không vào một tiệm cà phê nào. Chàng chỉ tìm những ngõ tối, tránh cả ánh sáng đèn đường.
Chàng chưa hề tỏ một cử chỉ bất mãn nào, một nét nhăn nhó nào trên nét mặt. Khóe mắt, đầu môi không biểu lộ một ý tưởng chán đời. Nhưng cái buồn sâu kín, những ưu tư trầm lặng vẫn hằn lên vầng trán chàng quá lộ liễu.
Vân Sinh không viết sách, không đọc báo, không nhận thư từ, không dừng chân giữa phố vì tánh hiếu kỳ. Đôi khi bị mắc mưa, chàng vẫn bước đi đều đều, thong thả, như chẳng có việc gì xảy ra.
Chàng không có tuổi thơ. Chàng không có tuổi trẻ. Tấn thảm kịch dã man xảy ra trong gia đình khi chàng còn thơ ấu đã giết chết mầm sống trong tâm hồn chàng. Mẹ chàng đã chết giữa nửa chừng xuân vì lòng tàn bạo, ác nghiệt, vì sự ngược đãi tàn nhẫn của cha chàng. Gia đình chàng tan nát. Chị chàng đi tu. Anh chàng trốn sang Mỹ. Chàng thoát ly gia đình, ra đi với hai bàn tay trắng. Sớm bị đời giày vò, chịu đựng biết bao nhiêu gian khổ, chàng nhẫn nại lắm mới lập được công danh, có được địa vị trong xã hội, nuôi tấm thân tàn dầu dãi phong trần.

Hiện giờ thì chàng không còn đau khổ nữa. Chàng có vẻ như là đau khổ, thật ra sự đau khổ đã chết lịm trong lòng chàng từ lâu. Chàng có vẻ như hay tư lự, thật ra chàng có nghĩ ngợi gì đâu. Tâm hồn chàng mông lung trong nỗi sầu diệu vợi, chỉ còn vương chút đắng cay trong cổ họng nghẹn ngào.
Đêm đêm, chàng đi dạo cô đơn trên những con đường vắng vẻ. Chàng đếm bóng đèn, nhìn bóng mình trải trên đường, nghe tiếng chân mình vang động trong đêm. Đôi lúc, chàng dừng bước trước hoa viên một biệt thư, ngắm cây trắc bách diệp cũng lẻ loi đơn độc như mình.
Một bữa chúa nhật, sau một ngày đi chơi mệt mỏi, chàng trở về nhà sớm hơn thường lệ. Chàng ngồi trong phòng, đợi buổi cơm chiều.
Đó là một dịp may hiếm có cho mẹ con bà Niệm. Cô Trang lấy làm mừng rỡ, không biết trong những cách chiều chuộng cô đã nghĩ ra từ trước, phải đem cách nào ra xử dụng cho hợp tình. Như chợt nhớ ra, cô vỗ tay reo khẽ:
— Phải có ánh sáng trước đã! Phải đem cho ông ấy một cây đèn!
Nàng nhanh nhẹn châm đèn cây đèn sứ có vẽ hoa rồi nhẹ nhàng bước đến gõ nhẹ vào cửa phòng chàng thanh niên cô độc.
Nàng hồi hộp, giọng nàng run run:
— Tôi có thể vào được không? Tôi mang đèn đến cho ông đây mà.
Vân Sinh từ trong nói vọng ra:
— Không. Cảm ơn cô.
Cô gái lỡ thì này cau mày, cúi gầm đầu xuống. Nàng cố nói thêm:
— Tôi mang đèn đến để ông… khỏi tối.
Vân Sinh cương quyết:
— Cảm ơn cô. Tôi không cần đèn.
Chàng ngồi im lặng trên ghế sau chiếc bàn nhỏ, đôi mắt giương lên trong bóng tối tràn ngập. Chàng cứ lặng im như thế, không băn khoăn, không nghĩ ngợi.

Bỗng chàng thấy căn phòng bừng sáng.
Ngạc nhiên, chàng rảo mắt quan sát chung quanh. Căn phòng nhỏ nhắn đột nhiên sáng lên như bởi một năng lực huyền bí nào. Một thứ ánh sáng dịu dàng, mơn trớn…
Tại sao kỳ lạ vậy? Ồ, kìa! Đó là ánh đèn cửa sổ nhà bên mà người ta vừa thắp lên.
Ánh sáng tràn vào phòng chàng đem theo hơi thở sự sống. Ánh sáng soi rõ những khoảng tối âm u, cái trống rỗng mênh mông của đời chàng.
Vân Sinh đưa mắt nhìn ánh sáng đó như một hiện tượng lạ lùng. Chàng lo sợ. Chàng thấy ánh sáng như mơn trớn thành giường. Chàng thấy sống lại trong ký ức những kỷ niệm gia đình tan nát, chàng nhớ đến mẹ, nhớ đến tuổi thơ bạc phước của mình. Rồi chàng lại liên tưởng đến ánh sáng một buổi bình minh. Chàng rời chỗ ngồi ra đứng tựa cửa sổ, nhìn trộm khung cửa sổ nhà bên.
Chàng thấy một gia đình đầm ấm đoàn tụ chung quanh bàn. Người cha và ba đứa con đã ngồi vào bàn. Người mẹ còn đứng bên cạnh, chàng đoán bà đang săn sóc cho con. Thật vậy, hai đứa lớn đang giơ thìa ra đòi ăn, đứa nhỏ đang rướn cổ lên vì cái khăn quàng quá chặt. Và kìa, thằng nhỏ thật là tham ăn! Chiếc thìa to thế kia đã ngập vào miệng nó. Người cha cười ròn. Người mẹ ngồi xuống.
Vân Sinh vội lùi lại, ẩn mình trong bóng tối. Chàng thấy người đàn bà ngồi đâu mặt với cửa sổ. Chàng tin rằng mình đã ẩn trong bóng tối, họ không thể nào trông thấy mình. Và chàng yên tâm chứng kiến cảnh gia đình đầm ấm của người ta.

Từ đấy, buổi chiều đi làm về, chàng không còn lang thang thơ thẩn như xưa, mà vội trở về nhà, đến bên cửa sổ để chia sớt cái thân mật, tươi tắn, ấm cúng của gia đình người, mà ngày thơ ấu chàng cũng đã từng được hưởng qua những buổi chiều sum vậy hạnh phúc, mặc dù rằng rất hiếm hoi. Và mẹ chàng… có khác gì bà mẹ kia? Nghĩ đến đây, chàng không cầm được lệ.
Cái ánh sáng từ cửa sổ nhà bên như có một phép lạ mầu nhiệm. Nó đã phá tan u sầu trong tâm hồn chàng tuổi trẻ. Nhưng Vân Sinh không ngờ đến những điều phỏng đoán kỳ dị của mẹ con bà chủ nhà.
Thêm hai lần nữa, cô Trang đã kiếm cớ mang đèn lên cho chàng nhưng đều bị từ chối. Cô ta ngạc nhiên nghĩ thầm: “Không biết ông ta có đốt nến lên không? Nhưng trong phòng làm gì có nến?”.
Một lần, cô ta đánh bạo hỏi qua cánh cửa, với giọng thật dịu dàng:
— Ông có ốm không?
Chàng lạnh lùng đáp:
— Cảm ơn cô. Tôi không sao cả.
Không làm cách nào được, cô ta đành rình mò nhìn qua lỗ khóa. Và nàng hết sức ngạc nhiên. Nàng đã bắt gặp trong gian phòng nhỏ cái ánh sáng dìu dịu, mờ ảo từ cửa sổ nhà bên kia; nàng cũng đã bắt gặp ông khách cô độc đang đứng ẩn trong bóng tối nhìn đăm đăm bà Mỹ Liên bên kia cửa sổ. Nàng vội vàng chạy báo cho mẹ biết điều lạ lùng nàng vừa khám phá. Nàng không quên thêm vài câu nhận xét: “Ông ấy đã yêu! Ông ấy đã yêu bà Mỹ Liên”.

Vài hôm sau, trong lúc Vân Sinh đang đứng ẩn mình trong bóng tối, nhìn trộm sang cửa sổ nhà bên, chàng bỗng thấy mẹ con bà Niệm kéo nhau sang nhà ấy. Hôm nay người đàn ông đi vắng. Người đàn bà tiếp đón mẹ con bà Niệm rất niềm nở. Họ to nhỏ với nhau những gì chàng không rõ, nhưng có lúc chàng bỗng thấy người mẹ và ba đứa trẻ đều ngẩng đầu nhìn về phía chàng. Không còn nghi ngờ gì nữa, mẹ con bà chủ nhiều chuyện nầy đã nói về chàng. Thế là hết! Nếu biết chàng nấp ở đây, từ rày đêm đêm người vợ hay người chồng sẽ khép cửa lại. Chàng sẽ không bao giờ còn trông thấy cái ánh sáng đã làm cho lòng chàng sống lại, đem đến cho chàng một nguồn vui tinh khiết.
Nhưng sự thật không như chàng tưởng!
Ngay đêm sau, cửa sổ nhà bên vẫn rộng mở và ánh sáng vẫn tỏa sang. Và khi ánh đèn đã tắt, chàng đợi gia đình kia đi ngủ, thì chàng kinh hoàng thấy bóng thiếu phụ lồ lộ hiện ra giữa khung cửa sổ. Có lẽ nàng động tánh hiếu kỳ vì lời nói của mẹ con bà Niệm. 
Hai cửa sổ giáp gần nhau. Nàng đứng đó vì nàng biết chàng cũng đang đứng ở cửa sổ bên kia. Nàng đã vì chàng mà đứng đó.
Xuyên qua bóng tối, thật khó mà nhìn nhau tận tường nhưng chàng biết rằng nàng đẹp. Chàng biết nàng có đôi mắt biếc long lanh và nụ cười duyên trên đôi môi thắm. Song sự hiện diện bất ngờ của nàng làm cho chàng vừa ngạc nhiên vừa hốt hoảng. Chàng run lên và cố dằn lắm mới không trốn chạy.

Sự đầm ấm, sự vui vẻ mà gia đình kia đang hưởng và chàng đang nếm trộm chút vị thừa, rồi đây sẽ tan thành mây khói nếu người thiếu phụ đêm đêm lẻn ra cửa sổ vì một người khách lạ. Mà người khách ấy lại chính là chàng!
Mẹ con bà chủ nhà đã thêu dệt những gì để khêu gợi tánh hiếu kỳ của thiếu phụ? Cuộc sống đầy bí ẩn của chàng có sức quyến rũ gì, đến nỗi mới nghe qua thân thế, nàng thiếu phụ đáng thương kia đã vội tìm cách làm bạn với chàng?
Đứng đối diện nhau, mặc dù cả hai đều làm ra vẻ tình cờ như không ai có ẩn ý, mặc dù cả hai muốn tránh nhìn tận mặt nhau, chàng biết chắc rằng cả hai đều rung động, đều hồi hộp, đều lo sợ sự hấp dẫn mãnh liệt đang quyện lấy hai người trong bóng tối.
Trời thật khuya, chàng mới khép cửa. Chàng tin rằng đêm sau, khi đèn tắt, thiếu phụ lại ra đứng đấy cho chàng ngắm. Quả nhiên, chàng đoán không sai.
Từ đó, Vân Sinh không còn chờ đợi đèn nhà bên thắp sáng; trái lại chàng còn mong cho nó sớm tắt đi. Mối tình đầu nung đốt dữ dội lòng chàng trai lâu nay chưa hề biết sống. Và tình yêu ấy đã lôi cuốn thiếu phụ như cơn gió lốc, rứt nàng ra khỏi khuê phòng, đưa nàng vào kiếp sống phiêu linh.

Ngày Vân Sinh rời bỏ căn phòng chật hẹp của mẹ con bà Niệm thì bên kia nàng thiếu phụ cũng bỏ chồng, bỏ con ra đi…
Tin ấy vang rền như một tràng pháo. Căn phòng Vân Sinh ở ngày nào, bây giờ trở nên vắng lạnh.
Căn phòng bên kia nơi gia đình bà Mỹ Liên vui vẻ đoàn tụ trong bữa cơm chiều bây giờ trở nên ủ dột, buồn tênh. Người cha đau khổ ngơ ngác nhìn ba con. Ba đứa con dàu dàu không dám nhìn ra phía cửa mà thường bữa mẹ chúng bưng tô súp bốc khói bước vào.
Một đêm, mẹ con bà Niệm kinh ngạc thấy ông khách thuê phòng trở về, vẻ mặt vô cùng thảm não.
Ông ta muốn gì đây? Ông ta muốn thuê lại căn phòng để ở? Không, ông ta không thuê lại căn phòng để ở, mà chỉ thuê một lát thôi, và chỉ đến âm thầm vào buổi tối. Bà mẹ khốn khổ kia muốn nhìn lại mấy đứa con, đứng xa mà nhìn, không cho ai hay biết. Họ hứa sẽ kín đáo, cẩn thận; nếu cần họ sẽ trá hình và sẽ trả giá gấp đôi giá thuê thường.
Không, mẹ con bà Niệm không bằng lòng cho thuê đâu. Mẹ con bà chỉ bằng lòng cho thuê… vài lần thôi… in ít thôi… Ố! Để làm phúc mà… miễn là họ phải tuyệt đối kín đáo.

Đến sau, Vân Sinh và tình nhân âm thầm đến, lén lút như những kẻ gian phi. Họ đứng lặng trong căn phòng tăm tối. Họ chờ đợi, trong nghẹn ngào, ánh đèn cửa sổ nhà bên.
Nó đây rồi!
Vân Sinh cảm thấy khó chịu. Giờ đây, chàng thấy ánh sáng kia sao mà lạnh lẽo, bạc bẽo, phản bội. Nó hiển hiện như một âm hồn.
Còn Mỹ Liên, nàng uống lấy nó như một người đã khát từ lâu. Nàng chạy đến bên cửa sổ, rút chiếc khăn tay bịt lấy miệng để ngăn tiếng thổn thức tuôn trào. Kìa! Con mình kìa! Chúng nó đang ngồi ở bàn, chúng nó có hay biết gì đâu!...
Vân Sinh vội chạy đến, đỡ nàng trong vòng tay. Hai người ôm nhau, siết chặt. Rồi họ đứng lặng, đưa mắt nhìn trộm cửa sổ nhà bên…
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeTue Oct 29, 2019 10:10 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 9k=

Luigi Pirandello (1867-1936) đoạt giải Nobel văn chương năm 1934, hai năm trước khi ông mất. Truyện ngắn “Chiến tranh” sáng tác năm 1918 lấy bối cảnh trên một chuyến xe lửa trong Thế chiến I (1914-1918). Bằng ngòi bút miêu tả tâm lý sâu sắc, tác giả đã tái hiện chân thực nỗi đau mất con của những người cha, người mẹ, từ đó vạch trần sự phi nghĩa và ngang trái của chiến tranh.
Trong Thế chiến I, Ý tham chiến năm 1915. Lúc này Ý còn ở trong chế độ quân chủ, đến năm 1946 mới thành nước cộng hòa.

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 2Q==

Chiến tranh

- Luigi Pirandello (Nobel 1934)
Dịch giả: Ngô Hồng Sơn


Hành khách rời khỏi Rome trên tàu tốc hành đêm ấy đã phải dừng lại ở một ga nhỏ ở Fabriano cho đến sáng để tiếp tục chuyến đi trên một loại tàu lửa địa phương cũ kỹ, nối lộ trình chính đến Sulmona. Vào lúc rạng đông, một phụ nữ to lớn, nức nở trong đau khổ, được dìu lên một toa hạng hai chật chội, đầy khói thuốc và có năm người qua đêm ở đây. Trông bà ta như một cây chuối tả tơi. Theo sau bà, ông chồng vừa thở hổn hển, vừa than vãn. Ông nhỏ bé, gầy yếu, khuôn mặt đã hết sinh khí, đôi mắt ông nhỏ và sáng, trông bẽn lẽn và bất ổn.
Khi yên vị, người chồng lịch sự cảm ơn những hành khách đã giúp đỡ và sửa soạn chỗ cho vợ mình. Sau đó ông ta quay sang bà vợ đang cố kéo cổ áo khoác xuống và ân cần hỏi “Ổn chứ mình?”. Người vợ, thay vì trả lời, kéo cổ áo khoác lên tận mắt, che khuất khuôn mặt.
“Thế giới thật tồi tệ”, người chồng lẩm bẩm với nụ cười buồn thiu.

Và rồi ông ta cảm thấy có bổn phận giải thích với những người đồng hành rằng người đàn bà tội nghiệp kia đáng được cảm thông vì chiến tranh đang tước khỏi tay bà đứa con trai duy nhất, đứa con hai mươi tuổi mà ông bà đã hy sinh cả đời mình cho nó, kể cả việc rời bỏ quê hương Sulmona để theo nó đến Rome, nơi mà cậu học đại học. Và rồi, ông bà cho phép cậu xung phong gia nhập quân ngũ với sự đảm bảo rằng, ít nhất trong sáu tháng, cậu ta không bị điều động ra chiến trường. Bây giờ, thật quá sức tưởng tượng, họ nhận được điện tín nói rằng cậu ta phải ra trận trong thời hạn ba ngày, cậu gọi điện báo họ đến chia tay.
Người phụ nữ cựa quậy không yên dưới tấm áo khoác lớn, thỉnh thoảng rên rỉ như một con thú hoang. Trực giác bảo bà ta rằng những lời giải thích vừa rồi chắc chắn không khuấy động dù một chút xíu thông cảm từ những người xung quanh, những người hầu như có thể cùng một hoàn cảnh không may mắn như bà ta. Một người trong số họ, người đã lắng nghe bằng sự chú ý đặc biệt, nói:
- Ông hãy cảm ơn Chúa vì con ông mãi đến bây giờ mới ra chiến tuyến. Con tôi bị điều đi từ ngày đầu chiến tranh kia. Hai lần nó về, bị thương, và rồi lại bị điều ra chiến trường.
- Còn tôi thì như thế nào nhỉ? Tôi có hai đứa con và ba đứa cháu ngoài chiến địa – Một hành khách khác nói.
- Có thể như vậy. Nhưng ở trường hợp chúng tôi đứa con là duy nhất - người chồng đánh bạo nói.
- Có gì khác nhau kia chứ? Ông có thể làm hỏng đứa con duy nhất bằng sự nuông chiều thái quá, nhưng ông không thể yêu nó hơn những đứa con khác nếu như ông có vài đứa. Tình yêu của người bố không thể như bánh mì có thể cắt ra từng mẩu, chia cho con cái những phần bằng nhau. Người cha dành tất cả tình yêu của mình cho từng đứa con mà không hề có sự phân biệt đối xử, một hay mười đứa cũng vậy thôi. Và nếu giờ đây tôi đau đớn vì hai đứa con tôi, tôi không đau đớn từng nửa một cho mỗi đứa, mà cho cả hai…

- Đúng rồi… đúng rồi…, nhưng giả sử (tất nhiên chúng ta hy vọng nó không bao giờ xảy ra với ông) một người cha có hai đứa con ở chiến trường và ông ta mất đi một đứa, vẫn còn lại một đứa để an ủi ông ta… trong khi… - người chồng bối rối, thở dài.
- Vâng - một người khác cắt ngang - cậu con còn lại để an ủi người cha, vì cậu ta mà người cha tiếp tục cuộc sống, trong trường hợp người cha có đứa con duy nhất, nếu đứa con có mệnh hệ gì, người cha có thể chết theo và tự đặt dấu hết cho mọi đau khổ. Trong hai trường hợp, trường hợp nào tồi tệ hơn? Sao các ông không thấy tôi bất hạnh hơn các ông?
- Vô lý - một hành khách khác chen vào. Ông ta có khuôn mặt mập mạp, đôi mắt xám tái nhợt, ngầu đỏ. Ông ta thở hổn hển, đôi mắt trợn tròn và từ đó nộ khí dữ dội bên trong muốn trào ra trong khi cơ thể yếu ớt của ông khó mà kìm lại được.
- Vô lý - ông ta lập lại, đưa tay bịt miệng, cố dấu hai cái răng cửa bị rụng - Vô lý. Chẳng lẽ chúng ta sinh con đẻ cái vì chính chúng ta?

Những người khác đau khổ nhìn chằm chằm người đàn ông vừa nói. Người đàn ông có đứa con ra chiến trường từ ngày đầu chiến tranh thở dài:
- Ông đúng rồi. Con cái chúng ta đâu có thuộc về chúng ta, chúng thuộc về tổ quốc…
- Ngớ ngẩn - một người khác đốp lại - Có phải vì tổ quốc mà chúng ta sinh con ra đâu? Con chúng ta ra đời bởi vì… À, bởi vì chúng phải ra đời, và khi chúng đến với cuộc đời chúng mang theo cuộc sống của chúng ta. Đó là sự thật. Chúng ta thuộc về con cái chứ chúng không bao giờ thuộc về chúng ta. Và, khi chúng hai mươi tuổi, chúng giống y chúng ta ở độ tuổi hai mươi. Chúng ta có cha và mẹ mình nhưng cuộc đời chúng ta còn quá nhiều thứ khác như phụ nữ, thuốc lá, những ảo tưởng, rồi những cái cà vạt mới… và tổ quốc, hiển nhiên, tiếng gọi thiêng liêng, hẳn chúng ta phải đi theo tiếng gọi ấy khi chúng ta hai mươi tuổi dẫu cho cha mẹ chúng ta ngăn cản. Ở lứa tuổi chúng ta hiện giờ, tình yêu dành cho tổ quốc vẫn mạnh mẽ hơn tình yêu con cái. Có bất kỳ người nào trong số chúng ta ở đây không hồ hởi đưa con mình ra chiến trường nếu có thể không?

Xung quanh yên lặng. Mọi người gật đầu như thể đồng ý.
- Tại sao chúng ta không cân nhắc đến tình cảm của con cái khi chúng hai mươi tuổi? Có phải không đúng với lẽ thường chút nào khi ở lứa tuổi của mình con cái chúng ta lại tính toán thiệt hơn giữa tình tổ quốc và tình yêu dành cho chúng ta. Có phải không đúng với lẽ thường rằng mọi chuyện nên như vậy, và sau hết thảy con cái chúng ta buộc phải coi chúng ta như những gã đàn ông già cỗi nằm ru rú ở nhà? Nếu như tổ quốc hiện tồn, nếu như tổ quốc là một sự cần thiết hiển nhiên, như bánh mì cần thiết duy trì cuộc sống, người ta buộc phải bảo vệ lấy con cái chúng ta lên đường khi chúng hai mươi tuổi, chúng không cần những giọt lệ xót thương, bởi vì nếu chúng hy sinh, thì sự hy sinh ấy chứa đầy nhiệt huyết và hạnh phúc (hiển nhiên là tôi đang nói về những chàng trai đứng đắn). Giờ đây, nếu ai đó chết trong độ tuổi thanh xuân và chết trong hạnh phúc, không mang theo mình những điều tồi tệ của cuộc đời, nỗi buồn về cuộc đời, sự bất hạnh, niềm cay đắng vì vỡ mộng… Chúng ta còn mong mỏi gì hơn cho người ấy? Mọi người thôi khóc than đi, mọi người nên cười như tôi đây này… hoặc ít nhất là cảm ơn Chúa, như tôi đây này, bởi vì con tôi trước khi chết gởi cho tôi một bức điện nói rằng nó hài lòng khi đang đón nhận cái chết theo những gì tốt đẹp nhất mà nó mong muốn. Đó là lý do tại sao, các ông thấy đấy, tôi không nhỏ dẫu là một giọt lệ…
Ông ta xốc chiếc áo khoác màu nâu nhạt như thể khoe chiếc áo, đôi môi tái nhợt che những chỗ răng rụng run run, mắt ông ngấn nước, tiếng cười the thé của ông bật ra ngay sau khi nói nghe như tiếng nức nở.
- Đúng vậy… đúng vậy… - những người khác tỏ ý tán đồng.

Người đàn bà, người tự bó mình riêng một cõi dưới tấm áo khoác, đã ngồi lắng nghe trong suốt ba tháng trời để gắng tìm trong lời nói của chồng và bạn bè điều gì đó minh tỏ cho một người mẹ cam chịu như thế nào để gởi con mình đến không chỉ cái chết mà cả cuộc sống đầy rẫy hiểm nguy. Bà chưa tìm thấy một lời an ủi nào từ những gì đã nghe, và nỗi sầu muộn của bà ngày càng tăng khi nhận thấy, theo suy nghĩ của bà, không một ai có thể san sẻ nỗi niềm của mình.
Nhưng giờ đây, lời nói của một người đồng hành làm bà kinh ngạc và khuấy động tâm can bà. Bà bỗng nhiên nhận ra rằng không phải những người xung quanh bỏ rơi và không thông cảm với bà mà chính bản thân bà chưa đạt được tầm cao của những ông cha, bà mẹ khi họ cắn răng cam chịu, không hề khóc than trước cảnh con cái họ ra đi, thậm chí hy sinh.

Bà ta ngẩng đầu lên, từ góc riêng của mình quay đầu sang, cố gắng lắng nghe với sự tập trung cao độ những chi tiết mà người đàn ông đang mô tả cho bạn đồng hành về phong thái hy sinh như một anh hùng của con mình, sự hy sinh dành cho Đức Vua và tổ quốc, hy sinh mà hạnh phúc và không hề hối tiếc. Dường như bà trượt chân vào một thế giới không hề có trong giấc mơ của bà, thế giới mà trước đây bà chưa từng biết tới, và bà vui lây khi nghe mọi người tán thưởng người cha can đảm kia, người có thể nói về cái chết của con mình một cách kiên tâm như vậy. Sau đó, thật bất ngờ, như thể bà chưa từng nghe gì cả, như thể đang ở trong giấc mộng, bà quay sang người đàn ông già, hỏi:
- Và rồi, con ông chết thật rồi ư?

Mọi người quay sang nhìn bà một cách kinh hãi. Người đàn ông già cũng quay sang nhìn bà, cái nhìn như thể in khuôn đôi mắt to lồi ra, đôi mắt kinh hãi ngấn nước, màu xám sáng của ông xoáy vào tận tâm can bà. Trong phút chốc ông cố trả lời câu hỏi của bà nhưng không thể nói thành lời. Ông nhìn, rồi lại nhìn bà, như thể mãi đến lúc này đây, khi câu hỏi ngớ ngẩn, ngang xương bật ra, ông bỗng nhận ra rốt cuộc thì con mình chết thật rồi, con ông đã ra đi mãi mãi, mãi mãi. Khuôn mặt ông nhỏ thó lại, méo xệch, rồi ông chộp nhanh lấy khăn tay trong túi, và, trước sự kinh ngạc của mọi người, không thể kìm lại được nữa, những tiếng nức nở trào ra từ trái tim và cõi lòng tan nát của ông.
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeTue Nov 05, 2019 8:00 pm

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Tc_hemingway_quotes_06

Lịch sử tự nhiên của cái chết

- Ernest Hemingway (Nobel 1954)

- Lê Huy Bắc dịch


Đối với tôi dường như chiến tranh luôn là mảnh đất hoang chưa được các nhà nghiên cứu tự nhiên quan sát. Chúng ta có những trang miêu tả đầy ấn tượng và hấp dẫn về hệ thực-động vật ở Patagonia trong ấn phẩm gần đây của W. H. Hudson, Đức giám mục Gilbert White đã kể rất hay về hành trình viếng thăm thưa thớt, không đều đặn của loài chim rìu đến Selbome, còn linh mục Stanley đã tặng chúng ta một quyển sách rất giá trị và không kém phần thông dụng, Lịch sử họ hàng của loài chim. Nhưng liệu chúng ta có thể hy vọng cung cấp cho độc giả những sự kiện thú vị và hiếm thấy về cái chết không? Tôi hy vọng là có thể.

Khi Mungo Park, vị du khách kiên nhẫn đang đi theo lộ trình của mình bỗng ngất đi giữa cái hoang vắng rợn người của hoang mạc châu Phi, trần trụi và cô độc, tin rằng thời gian còn sống của mình đã được đánh số, chẳng có gì xuất hiện để gợi trong gã khao khát sống ngoại trừ việc nằm xuống đợi chết thì một bông hoa rêu nhỏ đẹp tuyệt vời đập vào mắt gã. “Mặc dù toàn bộ cái cây kia”, gã nói, “chẳng nhỉnh hơn một ngón tay của ta nhưng ta không thể ngắm mà không ngưỡng mộ sự kiên định tuyệt vời của bộ rễ, lá và quả nang của nó. Liệu tạo hóa, người có thể gieo trồng, chăm tưới và nuôi dưỡng hoàn hảo trên vùng âm u của thế giới này một sinh thể quá ư nhỏ bé, trông như thể bị bỏ rơi trên mặt đất và phải chịu đựng những sinh vật ra đời sau nó không? Chắc chắn là không. Những cảnh tượng như thế này hẳn không cho phép ta tuyệt vọng; ta phải gượng dậy bất chấp cái bụng đói và cơn choáng váng, tiến về phía trước, với niềm tin rằng sự cứu rỗi sắp đến trong tầm tay, ta không được tuyệt vọng”.
Ở vào vị trí đáng để ngưỡng mộ và hoài nghi của kiểu tính cách này như Linh mục Stanley nói thì bất kỳ ngành nghiên cứu Lịch sử tự nhiên nào cũng có thể không tán dương sự kiên định, tình yêu và hy vọng mà mỗi một ai trong chúng ta cũng cần trong hành trình của riêng mình để vượt qua sự mông muội của cõi đời chăng? Vậy nên ta hãy cùng xem xét thứ cảm hứng nào mà ta có thể nhận được từ những cái chết.

Trong chiến tranh, giống đực của loài người thì luôn luôn chết mặc dù điều này không đúng với các loài vật, tôi thường thấy những con ngựa cái chết giữa đám ngựa nghẽo. Một khía cạnh thú vị nữa của chiến tranh, và là điều duy nhất mà các nhà nghiên cứu tự nhiên gặp may là kết quả rút ra qua việc quan sát cái chết của đám lừa. Suốt hai mươi năm theo dõi trong cuộc sống bình thường, tôi chưa hề nhìn thấy một con lừa chết và đã bắt đầu nảy sinh trong lòng mối nghi hoài rằng cái giống vật này chưa bao giờ chết thật cả. Đôi khi tôi cũng bắt gặp những cảnh tượng gợi trong đầu hình ảnh những chú lừa chết nhưng khi đến gần, những con vật ấy hãy còn sống, cái chết của chúng chỉ là sự phản hồi của quá trình thư giãn hoàn toàn. Nhưng trong chiến tranh những con vật ấy cũng chết hệt như cách lũ ngựa gục xuống hay giãy giụa trong cơn hấp hối.
Phần lớn những con lừa chết mà tôi nhìn thấy đều nằm dọc theo đường núi hay nằm dưới chân dốc nơi chúng bị đẩy xuống để tránh làm nghẽn con đường. Chúng dường như hài hòa trong cảnh quan rừng núi nơi mỗi con được người ta làm cho thích nghi với tình huống thực tại và lúc đó trông chúng ít phi lý hơn sau này ở Smyma, những người Hy Lạp đập gãy chân của những con vật thồ hàng của họ rồi đẩy chúng ra khỏi cầu cảng xuống vũng nước cạn cho chết đuối, số lượng lừa và ngựa chết đuối chỗ nước cạn đã kêu đòi Goya vẽ về chúng. Mặc dù nói theo nghĩa đen thì ta khó có thể nói chúng kêu đòi Goya bởi vì chỉ có một Goya duy nhất đã chết từ lâu, và người ta lại càng nghi ngờ hơn khi đám súc vật ấy lại có thể kêu đòi, tái hiện cảnh ngộ của chúng trong tranh nhưng rất có thể nếu chúng phát âm được rõ ràng thì ai đó hẳn sẽ nghe được tiếng nói ấy để làm nguôi ngoai phần nào thảm cảnh của chúng.

Đề cập đến giới tính của cái chết thì còn có điều này, con người ta quen nhìn tất cả các cái chết là của đàn ông còn khi thấy xác chết của một phụ nữ thì họ lại khá sửng sốt. Lần đầu tiên tôi chứng kiến sự đảo lộn cái chết thông thường là ở vụ nổ xưởng sản xuất đạn ở ngoại vi Milan, Italy. Chúng tôi lái xe tải đến khu vực thảm họa trên con đường phủ bóng bạch dương, men theo những con mương có nhiều sinh vật phù du mà tôi chẳng thể nào nhìn rõ bởi xe tải đang khuấy tung những đám bụi lớn. Đến khu vực trước đây là xưởng đạn, trong lúc vài đứa trong bọn tôi được phân đi kiểm tra mấy kho đạn lớn chưa nổ vì một lý do nào đó thì một toán được cử đi dập lửa lúc này đang lan sang cánh đồng lân cận; bọn tôi còn nhận thêm lệnh lập tức phải tìm kiếm xác chết trên cánh đồng và vùng phụ cận. Chúng tôi tìm thấy và mang đến nhà xác dã chiến một số lượng lớn những xác chết và tôi phải thẳng thắn thừa nhận rằng mình đã bị sốc khi thấy trong số tử thi ấy, xác của phụ nữ nhiều hơn xác đàn ông. Dạo ấy phụ nữ chưa có mốt cắt tóc ngắn như họ cắt mãi nhiều năm sau này ở châu Âu và Mỹ, nhưng lúc đó điều bực mình nhất, có lẽ tại vì quá lạ lẫm, là kiểu tóc và càng chướng tai gai mắt hơn khi nó xuất hiện trong thời tóc dài đang ngự trị này. Tôi nhớ sau khi gom hết các tử thi còn nguyên vẹn, chúng tôi bắt đầu nhặt nhạnh các mảnh vụn. Nhiều mảnh bám trên hàng rào dây thép gai dày bao xung quanh xưởng, từ những mẩu thịt bất động ấy chúng tôi có thể kéo lên cả chuỗi bầy nhầy, một sự kiểm nghiệm hữu hiệu cho sức công phá ghê gớm của loại thuốc nổ cực mạnh. Nhiều mẩu chúng tôi tìm thấy cách xa ngoài đồng, chúng bị đẩy đi xa hơn bởi độ nặng của chúng.
Trên đường quay trở lại Milan, tôi nhớ một hoặc hai người trong số chúng tôi tranh luận về điều vừa xảy ra và đồng ý rằng cái khung cảnh hoang tàn và thực trạng chẳng có ai bị thương hẳn đã làm giảm đi nhiều nỗi kinh hoàng của thảm họa mà lẽ ra chắc đã khủng khiếp hơn nhiều. Khung cảnh đó cũng cho thấy vụ nổ diễn ra rất đột ngột, vì thế xác chết vẫn không gây khó chịu lắm khi mang đi và việc làm đó như thể đang diễn ra trên chiến trận. Mặc dù bụi bặm nhưng cảm giác dễ chịu khi đánh xe đi qua nhiều miền quê Lombard xinh đẹp lại là sự bù đắp cho nhiệm vụ khó chịu vừa rồi và trên đường về, trong lúc luận bàn về cảm giác, cả bọn đồng ý rằng đấy là điều thực sự may mắn bởi ngọn lửa mới bùng lên ngay khi chúng tôi vừa đến đã nhanh chóng bị dập tắt trước lúc kịp lan đến mấy kho đạn khổng lồ còn sót lại. Bọn tôi cũng đồng ý rằng việc gom nhặt những mẩu tử thi là công việc kỳ lạ; nó gây nên sự kinh ngạc rằng thay vì nổ tung theo từng bộ phận thì cơ thể con người chẳng bị tung ra theo các đường mổ phẫu thuật thường làm mà bị cắt nát tùy hứng dưới sự tác động của loại đạn có sức công phá mạnh.

Một nhà nghiên cứu tự nhiên, muốn thu lượm độ chính xác thì có lẽ chỉ nên giới hạn sự quan sát của mình vào một giai đoạn và tôi trước tiên sẽ đưa anh ta đến với cuộc tấn công quân Áo vào tháng 6-1918 ở Italy. Bởi đấy là cuộc chiến mà cái chết đã hiện diện với số lượng khổng lồ nhất của nó, một cuộc rút lui bị chặn lại và một cuộc tấn công sau đó nhằm tái chiếm trận địa đã bị thất thủ để các vị trí sau khi trận đánh kết thúc cũng giống hệt như trước đó, ngoại trừ sự hiện diện xác chết. Kể cho đến khi người chết được chôn cất thì hình hài chúng mỗi ngày một thay đổi. Sắc da của các tộc người Cáp-ca từ trắng chuyển sang vàng, đến xanh vàng rồi đen kịt. Nếu bị để lâu dưới cái nóng thì da thịt chuyển sang dạng giống hệt nhựa than đá; đặc biệt là ở những chỗ bị bắn nát hay bị gãy vụn thì chúng phát ngũ sắc hệt như màu than đá. Xác chết trương lên hàng ngày mãi cho đến khi thỉnh thoảng chúng trở nên chật chội trong bộ quân phục, cứ nén chặt cho đến khi sắp nổ tung. Những xác chết riêng lẻ có thể trương phình đến một kích cỡ to lớn không thể nào tin được còn những khuôn mặt thì căng phồng tròn vạnh như mấy quả bóng. Điều kinh ngạc, tiếp theo sự to béo dị thường, là khối lượng giấy tờ vương vãi quanh xác chết. Vị trí sau cùng của chúng, trước lúc tử thi được chôn cất phụ thuộc vào vị trí mấy cái túi của bộ quân phục. Với quân Áo, những cái túi nằm phía sau quần và kẻ chết, sau một thời gian ngắn, tất cả đều nằm úp mặt xuống, hai cái túi bên hông bị lộn ra, giấy tờ chứa bên trong rải đều trên đám cỏ quanh chúng. Cái oi bức, ruồi và vị trí hiển thị của tử thi trên cỏ cùng với đám giấy tờ bao quanh để lại những ấn tượng mạnh trong ký ức của con người. Mùi chiến trận dưới tiết trời oi nồng là thứ mùi không thể nào quên. Bạn có thể nhớ rằng có một loại mùi như thế, nhưng sẽ chẳng có điều gì xảy ra với bạn để gợi lại thứ mùi ấy. Nó chẳng giống mùi trung đoàn mà bất thình lình sống lại trong bạn lúc đi trên ô-tô, bạn nhìn lại và phát hiện ra người đã mang mùi ấy đến cho bạn. Nhưng mùi vị kia sẽ biến mất hẳn khi bạn yêu; bạn nhớ nhiều điều đã xảy ra, nhưng còn cảm giác thì không thể nào nhớ lại được.
Ai đó hẳn sẽ hoài nghi trước những gì mà vị du khách nhẫn nại Mungo Park đã chứng kiến: cảnh chiến địa trong tiết trời nóng bức để củng cố lòng tin của mình. Vào độ cuối tháng Sáu và cả tháng Bảy, cây thuốc phiện thường mọc xen giữa đám lúa mì, cây dâu phủ đầy lá và bạn có thể nhìn thấy những lớp sóng nhiệt tỏa ra từ nòng mấy khẩu súng khi bị mặt trời chiếu trúng qua đám lá; quanh mép công sự mặt đất chuyển sang màu vàng chóe chỗ mấy băng đạn nằm trùi trũi. Xem những ngôi nhà bình thường bị sụp đổ thì dễ chịu hơn xem những ngôi nhà bị đạn bom phá nát, nhưng một vài du khách sẽ khoan khoái hít đầy lồng ngực bầu không khí chớm hạ trong lành đó và có những suy nghĩ giống Mungo Park về những hình ảnh họ tưởng tượng trong đầu.

Điều đầu tiên bạn khám phá được ở các xác chết là đây: bị giã thẳng cánh, họ chết như loài súc vật. Nhiều kẻ chết rất nhanh bởi những vết thương mà bạn nghĩ rằng đến thỏ cũng không chết vì những vết thương như thế. Họ chết bởi những vết thương rất nhỏ như đôi lúc lũ thỏ chết vì ba bốn mảnh đạn ghém mà hầu như khó có thể xuyên đuọc qua da. Những kẻ khác thì chết như mèo, sọ bị xuyên thủng, mảnh đạn găm vào não, họ ngắc ngoải đúng hai ngày giống như lũ mèo lúc lần vào trong thùng than với một viên đạn trong đầu và sẽ không chết cho đến khi bạn cắt đầu chúng, có lẽ lúc ấy cái giống mèo vẫn chưa chết, người ta bảo chúng có chín kiếp, tôi không rõ lắm nhưng hầu hết con người ta đều chết như lũ súc vật, chẳng phải chỉ riêng đàn ông. Tôi chưa bao giờ chứng kiến cái gọi là cái chết tự nhiên vậy nên tôi đổ lỗi tất cả cho chiến tranh và cũng giống như kẻ lữ hành kiên nhẫn Mungo Park kia, người nhận biết còn có một điều gì khác nữa, điều luôn ẩn sau một điều khác, và khi ấy tôi đã chứng kiến.
Một kiểu chết tự nhiên duy nhất mà tôi đã nhìn thấy chẳng hề chảy tí máu nào, chảy máu thì tệ lắm, kiểu chết vì chứng cảm cúm Tây Ban Nha. Mắc phải bệnh này, bệnh nhân sổ mũi, ngạt thở và chắc bạn biết người bệnh chết như thế nào: vào giai đoạn cuối, bệnh nhân lại hóa thành trẻ nhỏ, mặc dù thể xác đã to đùng, nhưng hắn ta vẫn bĩnh ra khăn trải giường như đã từng bĩnh ra tã và cuối cùng chất dịch màu vàng cứ rỉ ra, nhỏ giọt sau khi tim ngừng đập. Vậy nên bây giờ tôi muốn trông thấy cái chết của bất kỳ kẻ tự xưng là nhà nhân văn chủ nghĩa nào, bởi lẽ vị du khách nhẫn nại như Mungo Park hay cả tôi vẫn đang sống và có lẽ sẽ sống để được thấy cái chết thực sự của những thành viên thuộc giới trí thức này và xem cái cách tồn tại cao thượng mà họ tạo ra. Trong lối suy nghĩ của một nhà nghiên cứu tự nhiên thì đối với tôi, hóa ra là trong lúc nghi lễ là tuyệt đối thì một ai đó cần phải không lịch sự nếu vấn đề chủng tộc được đặt ra. Bởi một khi những kẻ cầm quyền ra lệnh sinh đẻ thì thật là trái đạo lý, trái đạo lý quá mức và tôi cũng nghĩ rằng có lẽ đó là do nguồn gốc của những kẻ ấy, những người là hoặc đã là: con cái của những cuộc hôn phối hợp thức. Dầu nhìn thấy cái kết cục của đôi người và hình dung cái cách lũ giun, bọ cố tồn tại trong môi trường khô cằn cố hữu; nơi những cuốn sách kỳ quặc của họ tan thành cát bụi và tham vọng của họ được chú thích đầy bên dưới trang sách.

Có lẽ trong lúc các công dân tự nguyện ấy có mối quan hệ hợp pháp với lịch sử tự nhiên của cái chết, mặc dù sự tự nguyện đó có thể chẳng còn ý nghĩa gì khi cuốn sách này được xuất bản. Nhưng nó lại bất công với những cái chết khác, những người không chết trong sự lựa chọn ở tuổi trẻ của họ, những người chẳng có lấy cuốn tạp chí nào, và nhiều người trong số đó thì ta chẳng còn nghi ngờ gì về việc họ chưa từng mó đến một bài bình luận, nhưng lại được tìm thấy trong cái oi nồng của thời tiết với nửa đấu giòi bọ đang đục khoét tại nơi trước đây là miệng họ. Với cái chết, không phải lúc nào tiết trời cũng nóng, nhiều lúc trời mưa, nước mưa rửa sạch khi họ nằm trong mưa, nước mưa làm đất mềm khi họ được vùi xuống và đôi khi trời cứ mưa cho đến lúc đất hóa bùn, họ lại trồi lên và người ta lại chôn họ. Hoặc trong mùa đông trên núi, bạn lại vùi họ xuống tuyết rồi mùa xuân, khi tuyết tan thì người khác lại phải chôn họ. Họ có những nghĩa địa đẹp trên núi, chiến tranh ở vùng núi là loại chiến tranh đẹp nhất trong tất cả các loại chiến tranh và một lần trong số ấy, tại nơi có tên gọi là Pocol, người ta chôn vị tướng bị một tay bắn tỉa nã xuyên qua đầu. Đấy là nơi nhiều nhà văn nhầm lẫn, những người viết mấy cuốn sách có nhan đề Những vị tướng chết trên giường, bởi vị tướng ấy chết trong giao thông hào đào dưới tuyết, trên vùng núi cao; ngài đội chiếc mũ Alpini cắm lông chim ưng với một cái lỗ phía trước mà bạn không thể đút lọt ngón tay út và một cái lỗ phía sau bạn có thể đút lọt cả nắm tay vào nếu nắm tay ấy nhỏ và bạn muốn đút nó vào, ở đó máu vương tràn trên tuyết. Vị tướng ấy rất cừ và cả tướng Von Behr cũng thế. Ông chỉ huy lực lượng Alpenkorps Bavaria tại mặt trận Caporetto và bị giết trong xe chỉ huy của mình bởi lực lượng tập hậu Italy khi ông đang dẫn đầu đội quân của mình tiến vào Udine, và nhan đề của tất cả những cuốn sách như thế hẳn sẽ là Những vị tướng luôn luôn chết trên giường nếu chúng ta muốn diễn đạt một cách chính xác những chuyện như thế.

Cũng ở miền núi, đôi khi tuyết rơi trên những người chết bên ngoài trạm cấp cứu nằm bên phía rặng núi bảo vệ tránh đạn pháo. Người ta đưa họ vào cái hang khoét từ sườn núi, trước lúc mặt đất đóng băng. Trong hang có một người đầu bị vỡ như kiểu một lọ hoa có thể vỡ và được đính lại bằng màng nhầy và một lớp băng quấn rất kỷ thuật mà bây giờ đã thấm ướt và đông cứng, bộ não bị nhiều mảnh xương sọ làm xây xát nhưng người ấy vẫn còn thoi thóp suốt một ngày, một đêm rồi thêm một ngày nữa. Những người khênh cáng yêu cầu bác sĩ vào khám anh ta. Mỗi lần đưa cáng vào họ đều nhìn thấy anh ta và dẫu cho không nhìn thì họ vẫn nghe tiếng anh ta thở. Mắt bác sĩ đỏ quạch, mi mắt sưng phồng, gần như nhắm hẳn bởi hơi cay.
Ông khám qua anh ta hai lần; một lần vào ban ngày và một lần với cây đèn pin. Cảnh tượng ấy hẳn là hình mẫu tốt cho một bức họa khắc bằng axit của Goya, ý tôi muốn nói là cái lần bác sĩ khám bằng đèn pin ấy. Sau lần khám thứ hai, bác sĩ mới tin lời mấy người khênh cáng khi họ bảo anh ta vẫn còn sống.
“Các cậu muốn tôi phải làm gì bây giờ?” Ông hỏi.
Chẳng có gì để họ muốn cả. Nhưng chỉ lát sau họ xin phép đưa anh ta ra đặt bên cạnh những người bị thương nặng.
“Đừng. Đừng. Đừng!” Bác sĩ đang bận rộn nói. “Chuyện gì vậy? Các cậu sợ hắn ta à?”
“Bọn tôi không thích nghe hắn ở đó bên những người chết”.
“Thì đừng có nghe. Nếu các cậu đưa hắn ra thì tôi sẽ phải đưa hắn vào”.
“Bọn tôi không bận tâm đến điều đó, thưa đại úy bác sĩ”.
“Đừng”, bác sĩ nói. “Đừng. Các cậu không nghe tôi bảo đừng sao?”
“Tại sao ông không tiêm cho hắn một liều morphine cực mạnh?” Viên sĩ quan pháo binh, người đang đợi băng vết thương trên cánh tay, hỏi.
“Anh nghĩ đấy là trường hợp duy nhất tôi dùng morphine à? Anh có muốn tôi mổ mà không cần morphine sao? Anh có súng, hãy ra ngoài đó bắn chết hắn đi”.
“Hắn đã bị bắn rồi”, viên sĩ quan nói. “Nếu có ai trong số bác sĩ bọn anh bị thương thì hẳn các anh đã đối xử khác”.
“Cám ơn anh rất nhiều”, bác sĩ nói trong lúc vẫy cái kẹp trong không khí.
“Ngàn lần cảm ơn anh. Mắt bị sao vậy?” ông ta đưa kẹp chỉ vào. “Sao anh lại bị như thế?”
“Hơi cay. Nếu bị hơi cay, bọn tôi xem là may mắn”.
“Bởi các anh được rời khỏi tuyến đầu”, bác sĩ nói. “Bởi vì bọn anh có thể lợi dụng hơi cay để chuồn đến đây. Anh xát hành vào mắt thì có”.
“Ông hơi quá rồi đấy. Tôi không chấp những lời sỉ nhục của ông. Ông bị điên”.

Mấy người khênh cáng bước vào.
“Thưa đại úy bác sĩ”, một trong số họ nói.
“Ra khỏi đây ngay!” bác sĩ quát.
Họ bước ra.
“Tôi sẽ bắn anh chàng đáng thương ấy”, viên sĩ quan pháo binh nói. “Tôi nhân đạo. Tôi sẽ không để anh ta phải chịu đựng”.
“Vậy thì bắn hắn đi”, bác sĩ nói. “Cứ bắn hắn đi. Nhớ chịu trách nhiệm. Tôi sẽ viết báo cáo. Bị thương, bị giết bởi trung úy pháo binh tại trạm sơ cứu tiền tiêu. Bắn hắn đi. Cứ đi mà bắn hắn”.
“Ông là đồ vô nhân đạo”.
“Nhiệm vụ của ta là cứu chữa thương binh, không phải giết họ. Việc ấy dành cho các quý ngài pháo binh”.
“Vậy thì tại sao ông không cứu chữa cho hắn?”
“Ta đã làm như thế rồi. Ta đã làm tất cả những gì có thể làm”.
“Sao ông không chuyển hắn xuống dưới bằng tàu điện?”
“Anh là hạng người nào mà sao cứ tra vấn mãi thế? Anh là sĩ quan cấp trên của tôi chắc? Anh chỉ huy trạm sơ cứu này à? Trả lời tôi xem nào”.

Viên sĩ quan pháo binh nín thinh. Tất cả những người trong phòng là binh sĩ, chẳng có ai là sĩ quan.
“Trả lời tôi đi”, bác sĩ đang giữ cây kim trong kẹp. “Thử mở miệng ra đi”.
“Đ-mẹ mày”, viên sĩ quan pháo binh chửi.
“Thế đấy”, bác sĩ nói. “Thế đấy, mày nói như thế đấy. Được. Được. Mày sẽ biết”.
Viên sĩ quan pháo binh đứng dậy tiến về phía ông ta.
“Đ-mẹ mày, anh ta chửi. “Đ-mẹ mày. Đ-mẹ mày. Đ-cả đám chị em nhà mày nữa…!”
Bác sĩ tạt cả khay i-ốt đầy vào mặt anh ta. Viên sĩ quan vừa rờ rẫm tiến về phía ông ta vừa đưa tay rút súng. Bác sĩ lách mình bước ra sau anh ta vừa đưa chân gạt rồi khi anh ta ngã xuống, bác sĩ tống cho anh ta mấy đá rồi đoạt khẩu súng cầm trong đôi tay đi găng. Viên sĩ quan ngồi trên sàn dùng bàn tay lành dụi mắt.
“Tao sẽ giết mày!” anh ta nói. “Tao sẽ giết mày ngay khi có thể nhìn thấy”.
“Tao là chỉ huy,” bác sĩ nói. “Mọi chuyện sẽ được bỏ qua nếu mày biết tao là chỉ huy. Mày không thể giết tao vì tao đã tước súng của mày. Trung sĩ. Phụ tá! Phụ tá!”
“Phụ tá đang đi theo tàu điện”, viên trung sĩ nói.
“Dùng cồn pha nước rửa mắt ngài sĩ quan này đi. Hắn bị trúng i-ốt. Mang cho tôi cái chậu rửa tay. Tôi sẽ xem xét ngài sĩ quan này sau”.
“Mày đừng có hòng mà đụng vào người tao”.
“Giữ chặt lấy hắn. Hắn hơi khùng”.
Một trong mấy người khênh cáng bước vào.
“Thưa đại úy bác sĩ’.
“Cậu cần gì?”
“Cái người bị thương trong nhà xác…”.
“Ra khỏi đây ngay”.
“Đã chết rồi, thưa đại úy bác sĩ. Tôi nghĩ ông hẳn vui lòng khi biết tin này”.
"Thấy chưa, chàng trung úy tội nghiệp của tôi ơi? Chúng ta gây gổ nhau một cách ngớ ngẩn. Trong chiến tranh chúng ta cãi cọ nhau chẳng vì mục đích gì cả”.
“Đ-mẹ mày”, viên trung úy pháo binh nói. Anh ta vẫn chưa thể nhìn rõ. “Mày đã làm tao mù”.
“Chẳng sao đâu”, bác sĩ nói. “Mắt của anh sẽ ổn. Chẳng sao đâu. Đúng là rồ mới gây gổ nhau”.
“Ái! Ái! Ái!” viên trung úy bỗng nhiên hét lên. “Mày đã làm tao mù. Mày làm tao mù!”
“Giữ chặt lấy hắn”, bác sĩ nói. “Hắn đang đau lắm đấy. Giữ hắn thật chặt vào”.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeMon Nov 18, 2019 10:46 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Hoithonhe

Hơi Thở Nhẹ
- Ivan Bunin (Nobel 1953)


Ngoài nghĩa địa, trên nấm mộ còn tươi màu đất sét có cắm cây thánh giá mới bằng gỗ sồi, trông nặng nề, phẳng phiu và chắc chắn.
Những ngày tháng tư, trời u ám; từ xa qua những hàng cây trơ cành trụi lá đã có thể nhìn thấy những lăng xây trong nghĩa trang thoáng đãng của một phố huyện, và gió lạnh réo lên từng hồi dài qua vòng hoa sứ đặt bên chân cây thánh giá.
Gần với cây thánh giá là một tấm mêđaigiông khá to bằng sứ nổi vồng lên, hiện rõ ảnh chân dung một nữ học sinh với đôi mắt đầy vui sướng và vô cùng linh lợi. Đó là Ôlia Mêserxkaia.

Khi còn nhỏ, cô bé Ôlia chẳng có gì nổi bật giữa đám nữ sinh mặc đồng phục màu nâu; có thể nói gì về cô, ngoài điều rằng cô thuộc loại xinh xắn, con nhà giàu có, sung sướng, rằng cô học khá, nhưng tinh nghịch và rất vô tâm trước những lời chỉ bảo mà bà giáo chủ nhiệm lớp đã nói với cô. Ít lâu sau cô bỗng đẹp rực rỡ như đoá hoa nở rộ đổi thay không phải từng ngày mà là từng giờ.
Năm mười bốn tuổi Ôlia đã có hình dáng thon thả, đôi chân thẳng, ngực tròn căng, cô đã có những đường nét mà vẻ đắm đuối của chúng xưa nay ngôn ngữ loài người chưa bao giờ diễn tả được; năm mười lăm tuổi, Ôlia đã nổi tiếng là một cô gái xinh đẹp. Mấy đứa bạn gái của Ôlia thì lúc nào cũng chải chuốt kỹ càng, ăn vận sạch sẽ, chăm chút cho từng cử chỉ dáng điệu đầy ý tứ của mình! Còn Ôlia thì chẳng kiêng dè gì cả, cô không sợ các vết mực dính vào ngón tay, không sợ để má mình ửng đỏ, đầu tóc rối tung hay đầu gối lộ trần ra khi bị ngã. Chẳng cần cô phải quan tâm, cố gắng gì, những điều làm cô nổi bật lên trong trường hai năm gần đây cũng tự nhiên đến với cô – đó là vẻ yêu kiều, đỏm dáng, uyển chuyển khoan thai và ánh mắt sáng long lanh…

Trong các buổi vũ hội không ai nhảy đẹp như Ôlia, không ai trượt băng nhanh như cô, không ai được nhiều người theo đuổi tán tỉnh trong các dạ hội như cô, không hiểu vì sao bọn học trò các lớp dưới cũng ngưỡng mộ cô nhiều nhất. Ôlia trở thành thiếu nữ tự lúc nào không hay, và không biết từ bao giờ ánh hào quang đã bao quanh tên cô trong trường học. Người ta đã đồn đại rằng tính tình cô nông nổi, cô không thể sống thiếu người ngưỡng mộ, rằng cậu học trò Sensin phải lòng Ôlia đến mất trí, rằng hình như cô cũng yêu cậu ấy, nhưng cách đối xử của cô thay đổi luôn luôn, khiến cậu ta đã mấy lần tính kế quyên sinh…
Vào mùa thu cuối cùng của mình, như người ta bàn tán trong trường, Ôlia đã hoàn toàn phát điên lên vì vui sướng. Đó là một mùa đông lạnh giá, tuyết rơi nhiều, mà chói chang ánh nắng; mặt trời khuất sớm sau tán cây vân sam cao mọc trong vườn trường phủ đầy tuyết, mặt trời trong sáng loé lên muôn vàn tia nắng báo hiệu một ngày mai giá rét, chan hoà ánh sáng, hứa hẹn cuộc dạo chơi trên phố Nhà Thờ; trượt băng trong công viên thành phố, vào buổi tối hồng hồng, khi tiếng nhạc nổi lên, giữa đám người đang lướt nhẹ trên sân băng, Ôlia sẽ nổi bật như là người thanh thoát nhất, hạnh phúc nhất.

Có lần, vào giờ nghỉ dài giữa hai tiết học, khi Ôlia đang chạy như bay trong hội trường dựng lên bằng cách lắp ghép, đằng sau cô là đám nữ sinh lớp một vừa đuổi theo, vừa hò reo vui vẻ, thì người ta bất ngờ cho gọi cô lên gặp bà hiệu trưởng. Ôlia đang chạy, đứng sững lại, thở vào một cái rất sâu, rồi bằng một động tác nhanh nhẹn quen thuộc của người phụ nữ, cô sửa lại mái tóc, kéo dải áo yếm lên vai và chạy vội lên gác, mắt sáng long lanh. Bà hiệu trưởng gương mặt trông còn trẻ hơn tuổi thật, nhưng mái đầu đã bạc, bà điềm nhiên ngồi sau chiếc bàn viết đặt dưới tấm ảnh Sa hoàng, tay cầm cuộn len đan.
- Chào m-lle Ôlia, – bà ta nói bằng tiếng Pháp, mắt vẫn không rời mũi đan. – Rất tiếc là không phải lần đầu tôi phải cho gọi cô tới đây để nói về cách ứng xử của cô.
- Em nghe đây, thưa madame, – Ôlia trả lời, bước lại gần bàn, đưa cặp mắt sáng linh lợi nhìn lên bà hiệu trưởng, gương mặt cô bình thản như không. Tiếp đó cô ngồi xuống một cách nhẹ nhàng và yểu điệu như thể chỉ mình cô biết cách ngồi như thế.
- Cô sẽ bỏ ngoài tai những lời tôi nói, rất tiếc là tôi phải tin như vậy, – bà hiệu trưởng nói, tay kéo sợi đan làm cuộn len lăn đi trên nền gỗ bóng nhẵn, nơi Ôlia đang nhìn xuống đấy với vẻ tò mò; bà đưa mắt nhìn lên và nói tiếp: – Tôi sẽ không nói lại, sẽ không nói nhiều.

Ôlia rất thích căn phòng rộng rãi và sạch như lau như ly này, nơi vào những ngày băng giá, chiếc lò sưởi kiểu Hoà Lan vẫn toả hơi ấm áp và thoang thoảng hương hoa linh lan đặt trên bàn. Ôlia nhìn lên chân dung nhà vua trẻ tuổi được vẽ toàn thân giữa một gian phòng bóng loáng; nhìn lên đường ngôi đều đặn trên mái tóc trắng màu sữa được uốn rất khéo của bà hiệu trưởng và im lặng chờ đợi.
- Cô không còn bé bỏng nữa đâu, – bà hiệu trưởng nói bóng gió xa xôi, trong lòng đã bắt đầu cảm thấy bực bội.
- Vâng, thưa madame, – Ôlia đáp lại một cách thản nhiên, gần như là vui vẻ nữa.
- Nhưng cũng chưa phải là đàn bà, – bà hiệu trưởng nói tiếp với ngụ ý xa xôi hơn nữa, gương mặt trắng nhờ nhờ của bà hơi ửng đỏ. – Điều trước tiên, – cô chải đầu kiểu gì vậy? Đó là kiểu tóc của đàn bà!
- Thưa madame, em không có lỗi gì, nếu em có bộ tóc đẹp, – Ôlia trả lời và hai bàn tay cô khẽ chạm vào mái đầu chải rất đẹp của mình.
- À ra thế, cô không có lỗi hả! – Bà hiệu trưởng nói. – Cô không có lỗi khi để đầu tóc như vậy, không có lỗi khi dùng những thứ lược đắt tiền, không có lỗi khi làm cha mẹ khánh kiệt vì phải sắm cho cô thứ giày cao gót giá những hai mươi rúp! Nhưng, tôi nhắc lại cho cô, cô đã hoàn toàn bỏ qua điều rằng cô đang là nữ học sinh…
Liền đó, Ôlia không còn giữ được vẻ giản dị và bình thản nữa, cô bất ngờ lịch sự ngắt lời bà hiệu trưởng:
- Xin lỗi madame, bà nhầm rồi: Em đã là đàn bà rồi. Ai có lỗi trong chuyện này – bà có biết không? Người đó là bạn, là hàng xóm của ba em và là em trai của bà: ông Alếchxây Mikhailôvích Maliuchin. Chuyện này xảy ra mùa hè năm ngoái ở làng quê…

Một tháng sau lần nói chuyện đó, một viên sĩ quan kazắc xấu xí, chẳng có chút gì là mã thượng phong lưu, chẳng có chút gì tương đồng với môi trường của Ôlia, viên sĩ quan ấy đã bắn chết cô trên sân ga, giữa đám người đông đúc – khi tàu vừa đến. Và cái điều Ôlia tự thú vừa khó tin, vừa đã từng làm bà hiệu trưởng kinh ngạc, đã hoàn toàn được xác nhận: viên sĩ quan thông báo với viên dự thẩm của toà án rằng Ôlia đã quyến rũ y, chung sống với y, đã hứa sẽ làm vợ y, thế mà ở ngoài ga, vào hôm xảy ra vụ án mạng, khi tiễn y đi Nôvôtrerơcát, cô đã bất ngờ nói rằng cô chưa hề bao giờ nghĩ tới chuyện yêu y cả, rằng tất cả những lời lẽ về chuyện hôn nhân chẳng qua chỉ là sự giễu cợt của cô đối với y. Tiếp đó Ôlia đã đưa cho Maliuchin đọc trang nhật ký ghi về y.
- Tôi liếc mắt xem mấy dòng ấy và liền sau đấy, ngay trên sân ga, nơi cô ta đang đi dạo chờ tôi đọc xong, tôi đã bắn cô ta, – viên sĩ quan nói. – Đây, xin mời ông xem, những gì đã được viết trong nhật ký ghi ngày mười tháng Bảy năm ngoái.
Trong nhật ký có ghi những dòng sau:
“Bây giờ là hai giờ đêm. Tôi đã thiếp đi, nhưng một lúc sau thì tỉnh lại… Giờ thì tôi đã thành đàn bà rồi! Ba, mẹ và Tôlia, tất cả đều vào thành phố, có mình tôi ở lại. Tôi đã cảm thấy thật hạnh phúc, khi còn lại một mình! Buổi sáng tôi dạo chơi trong vườn, ngoài đồng, tôi vào rừng, có cảm tưởng rằng trong cả thế giới này chỉ có một mình tôi, tôi cảm thấy đầu óc mình sảng khoái như chưa từng bao giờ gặp thế trong đời. Tôi ngồi ăn một mình, sau đó chơi đàn suốt một giờ liền, trong tiếng nhạc, tôi có cảm giác rằng mình sẽ được sống mãi mãi, sẽ được hạnh phúc hơn hết thảy mọi người. Sau đó tôi ngủ thiếp đi trong phòng làm việc của ba, nhưng đến bốn giờ thì Kachia đánh thức tôi dậy và báo rằng có ông Maliuchin đến. Tôi rất mừng thấy ông tới chơi, tôi cảm thấy khoan khoái khi được tiếp, chuyện trò đầy thú vị với ông.
Ông đến bằng cỗ xe song mã của mình, hai chú ngựa nom rất đẹp, chúng cứ đứng cạnh thềm mãi, còn ông thì lưu lại chưa về ngay được vì trời mưa, ông ấy mong sao cho tới chập tối thì tạnh. Ông tiếc không gặp được ba, tỏ ra rất hoạt bát, đối xử với tôi như một hiệp sĩ, nói đùa nhiều lần rằng từ lâu ông đã phải lòng tôi. Trước lúc uống trà, chúng tôi dạo chơi trong vườn, thời tiết lại tuyệt vời, ánh mặt trời lấp loáng qua khu vườn còn đọng nước mưa. Tuy khí trời đã rất lạnh nhưng ông vẫn khoác tay tôi đi dạo và nói rằng ông là Phaoxtơ đi bên nàng Macgarít. Ông đã năm mươi sáu tuổi, nhưng còn rất đẹp và ăn vận lúc nào cũng chỉn chu – tôi chỉ không thích một điều là khi tới đây, ông đã mặc chiếc áo khoác ngoài rộng thùng thình, – người toả ra mùi nước hoa Anh Cát Lợi, còn cặp mắt đen thì trông rất trẻ, bộ râu mềm mại tách ra thành hai phần dài và đã hoàn toàn bạc trắng. Chúng tôi ngồi uống trà ở ngoài hiên có kính ngăn, tôi cảm thấy mình hình như không được khoẻ và nằm xuống chiếc đivăng, còn ông thì hút thuốc, sau đó ngồi sang chỗ gần tôi, bắt đầu nói những lời êm ái, ngắm nghía rồi hôn lên tay tôi. Tôi lấy chiếc khăn lụa che mặt, còn ông thì mấy lần hôn vào môi tôi qua lần khăn ấy… Tôi không hiểu sao điều ấy lại có thể xảy ra, tôi điên mất rồi, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình lại như thế! Bây giờ tôi chỉ còn một lối thoát… Tôi cảm thấy ghê tởm ông ta đến mức không thể nào chịu nổi điều này!…”

Vào những ngày tháng tư ấy, thành phố trở nên khô ráo sạch sẽ, những phiến đá lát đường như trắng ra, đi trên đất thật nhẹ nhàng và dễ chịu. Mỗi chủ nhật, sau lễ cầu kinh buổi sáng, dọc theo phố Nhà Thờ dẫn ra ngoài thị trấn, thường thấy một người phụ nữ nhỏ nhắn đang đi, bà vận đồ tang, đi găng tay da mềm màu đen, cầm chiếc ô làm từ gỗ mun. Bà đi qua quảng trường bẩn thỉu, nơi có nhiều lò rèn ám khói và không khí trong mát ngoài đồng thổi về; tiếp đó bà đi giữa nam tu viện và nhà lao, mây trắng bay ngang trời và cánh đồng mùa xuân ngả màu xanh xám, sau đó khi đi qua những vũng nước dưới chân tu viện và rẽ sang trái, bà thấy trước mắt hiện ra một khu vườn khá rộng, cây cối thấp có hàng rào màu trắng bao quanh,  phía trên cổng vào đấy có đề dòng chữ Đức thánh tạ thế. Người phụ nữ nhỏ nhắn vội làm dấu rồi theo thói quen đi tiếp trên con đường chính giữa hai hàng cây xanh. Tới bên chiếc ghế đối diện với cây thánh giá làm bằng gỗ sồi, bà ngồi xuống trong gió lạnh mùa xuân chừng một hai giờ, cho tới lúc đôi chân đi giày mỏng và tay đeo gang da chật nhỏ cảm thấy tê cóng. Lắng nghe chim mùa xuân hót ngọt ngào cả giữa trời giá rét, nghe tiếng gió reo qua chiếc vòng sứ, có lúc bà nghĩ rằng bà sẵn lòng hiến nửa cuộc đời mình chỉ để sao cho khỏi thấy trước mắt cái vòng hoa chết chóc này. Cái vòng hoa này, nấm đất này, cây thánh giá gỗ sồi này! Có thể nào tin được rằng dưới đó là cô gái bất tử sáng long lanh từ tấm ảnh, trong chiếc mêđaigiông bằng sứ gắn vào cây thánh giá? Làm sao có thể nhập hoà làm một ánh mắt trong sáng ấy với cái điều khủng khiếp từ giờ đã gắn với tên tuổi Ôlia? - Nhưng tự trong đáy lòng, người phụ nữ nhỏ nhắn thấy mình hạnh phúc, như tất cả những người trung thành với ước mơ nồng cháy của mình .

Người phụ nữ này là bà chủ nhiệm lớp của Ôlia, một cô gái quá lứa, từ lâu sống bằng những thần tượng thay thế cho cuộc đời thực. Dạo đầu thần tượng đó là người anh trai của bà, một viên hạ sĩ quan nghèo xác chẳng có gì nổi bật , - bà gắn bó cả tâm hồn mình với anh trai, với tương lai của anh mà không biết vì sao bà lại hình dung là xuất chúng. Khi anh bị giết ở gần Mukđen, bà tự coi mình là một viên chức có đầu óc tiên tiến. Cái chết của Ôlia thu hút ám ảnh bà bởi một niềm mơ ước mới. Giờ đây Ôlia trở thành đối tượng cho những suy nghĩ và tình cảm triền miên không dứt của bà. Ngày nghỉ nào bà cũng ra thăm mộ cô, ngắm nhìn hàng giờ liền cây thánh giá gỗ sồi, nhớ lại gương mặt nhợt nhạt của Ôlia nằm trong quan tài, giữa những vòng hoa. Bà nhớ lại có lần bà đã nghe lỏm được, có lần, vào giờ nghỉ giữa hai tiết học, khi đi dạo trong vườn trường, Ôlia đã nói rất nhanh với Xupôchina, cô bạn gái thân cao to, đẫy đà:
- Tớ đọc được trong một cuốn sách của ba tớ, - ba tớ có nhiều sách cổ buồn cười lắm cơ, - phụ nữ phải có vẻ đẹp thế nào... Cậu biết không, trong sách ấy nói nhiều điều đến nỗi chẳng nhớ hết được đâu:  này nhé, tất nhiên là cặp mắt phải đen, sôi lên như nhựa, - có trời biết được trong sách viết như thế: sôi lên như nhựa! - lông mi phải đen như trời đêm, má mịn màng phơn phớt hồng, eo lưng thon thả, cánh tay dài hơn bình thường - cậu hiểu không, phải dài hơn bình thường! - chân nhỏ nhắn, ngực đầy đặn vừa phải, bắp chân tròn đều, đầu gối màu vỏ hến, vai hơi xuôi xuống, - tớ gần như thuộc lòng nhiều điều lắm nhé, điều nào cũng đúng cả! - nhưng cái chính, cậu biết là gì không? - Là phải có hơi thở nhẹ! Tớ cũng có cái đó đấy, - cậu nghe xem tớ thở thế nào nhé, - đúng là tớ có phải không?

Giờ đây hơi thở nhẹ ấy lại lan tỏa đi trong thế giới này, dưới bầu trời đầy mây, trong gió xuân lành lạnh.

Phan Hồng Giang dịch
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSat Nov 23, 2019 8:10 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Images?q=tbn:ANd9GcR3I4tQyLtkAbviGF1Xtr8_CKFKJyl9q1FzWpDw9O6UufmrDvp6hA&s

CỐT

- Kawabata Yasunari (Nobel 1968)


Đăng trong "Yasunari Kawabata - Tuyển tập Tác phẩm",
Tủ sách Nobel, Trung tâm Ngôn ngữ Văn hoá Đông Tây.

Trong thung lũng có hai cái ao.
Ao dưới óng ánh như ao bạc, ao trên một màu xanh lướt chết chóc, cuốn xuống đáy sâu những bóng núi thầm lặng.

Mặt mày nhày nhụa. Tôi ngoái lại thấy máu dính trên bụi cỏ và tre càng cua mình vừa bước qua. Những giọt máu như đang đi.
Máu mũi lại tuôn ra từng đợt nóng hổi.
Quýnh quá, tôi tóm bừa một góc vải thắt lưng đút nút lỗ mũi, rồi nằm vật ra.
Mặt trời không rọi thẳng vào người nhưng phản chiếu trên những chòm lá làm tôi chói mắt.
Máu mũi bị chặn nửa đường, chạy ngược trở lại còn ghê hơn, nó òng ọc lên theo nhịp thở.
Tiếng ve inh ỏi đầy ắp bầu khí núi, một con bỗng dưng mắc chứng la hoảng lên. Trời gần trưa tháng Bảy, không gian căng mỏng như thể một mũi kim rơi cũng làm long trời lở đất. Tôi như bị tê liệt.

Nằm dài mồ hôi vã ra, tôi mặc cho tiếng ve ầm ĩ, màu xanh lá cây áp đảo, mùi đất ẩm, tiếng tim đập, cùng chui tuốt vào đầu nằm chết cứng trong đó rồi thoắt cái lại ào ra tản mát đâu mất.
Tôi có cảm tưởng nhẹ hỗng như mình bị hút lên trời.
- Cậu ơi! Cậu ơi! Cậu đâu rồi?
Nghe thấy tiếng gọi từ nghĩa địa, tôi vùng dậy.
Sáng nay đến lượm xương ông nội sau lễ tang hôm qua, trong lúc đang cời than hãy còn ấm, tôi chảy máu cam, bèn lén rời lò thiêu trèo lên đồi, đút nút lỗ mũi với giải thắt lưng vải.
Trượt nhanh xuống dốc. Ao bạc nghiêng đi, dao động, rồi biến mất. Tôi lướt mình trên lá vàng năm ngoái.
U già bảo:
- Kìa, vô tâm quá mất thôi, cậu chạy đâu nãy giờ? Nhanh lên, lại đây mà xem, đã tìm thấy "ông Phật" của cụ rồi!
Tôi đạp tre càng cua chạy lại.
- Vậy hả? Ðâu? Ðâu?
Lại gần u, tôi hơi lo vì vừa chảy máu cam chắc mặt còn nhợt nhạt và giải thắt lưng đẫm máu.

Mọi người chăm chú nhìn lòng bàn tay u nhàu nát như tờ giấy bản, một mảng xương nhỏ bằng đầu ngón tay đặt trên mẩu giấy trắng.
Chắc là "ông Phật trong họng" (xương yết hầu, người Nhật gọi là ông Phật). Nhìn kỹ thấy hơi giống hình người.
- Mãi mới tìm thấy. Cụ đấy, cụ còn có thế này đấy. Cậu đặt cụ vào tiểu đi.
- Chỉ nói vớ vẩn! - Tôi không ngăn được cảm giác như ông vẫn ngồi đó, chờ tiếng kẹt cửa mỗi khi tôi về, đôi mắt mù lòa rực lên niềm vui. Tôi lấy làm lạ thấy một người đàn bà không quen mặc bộ đồ nhiễu đen đứng đó. Mọi người bảo là cô tôi.
Trong tiểu để cạnh bà cô, lộn xộn lèn đầy xương chân, xương tay, xương cổ.
Lò thiêu không tường, không mái, chỉ là một lỗ thuôn dài.
Một mùi khó ngửi trong than bốc ra.
[...]
- Ra mộ nhà đi! Ở đây nặng mùi và thiếu ánh sáng. Thấy chóng mặt và lo máu cam lại chực chảy nữa, tôi giục.
Anh người nhà mang tiểu theo sau. Tro để lại trong lò, chiếu trải cho mọi người lễ hôm qua cũng lăn lóc bỏ lại. Những cột tre bọc giấy bạc vẫn cắm nguyên xuống đất.

Trên đường đến phần mộ nhà, tôi nhớ lại những lời nhảm nhí mọi người kể: đêm trước ông tôi biến thành ngọn lửa ma trơi xanh, bay khỏi miếu, vào bệnh viện, qua các phòng bệnh nhân truyền nhiễm, trải lên đầu làng mùi khó ngửi trước khi lên trời.
Phần mộ gia đình khá xa, ở ngoài vùng nghĩa địa có lò thiêu của làng.
Mọi người đi tới khu mộ nhà có hàng bia đứng.
Tôi chẳng còn thiết gì, muốn nằm xuống đất hít thở bầu trời xanh.
Vú già đặt bình nước vừa lấy dưới thung lũng xuống và bảo:
- "Nguyện vọng cuối cùng của cụ là được chôn trong mộ cụ tổ". Vú trịnh trọng nhấn mạnh những chữ nguyện vọng cuối cùng. Hai chú - muốn tỏ cho mấy anh người nhà biết đấy không phải là việc của họ - tự đánh đổ cái bia cao nhất rồi đào xuống chân bia. Lòng mộ vừa tìm thấy chắc phải sâu lắm. Tôi nghe tiếng tiểu rơi trong lòng đất.
Việc gì phải để những mảnh xương tàn trong mộ tổ? Một khi đã chết, có còn gì đâu. Tất cả sẽ rơi vào quên lãng.
Một lúc sau mộ được đắp lại, tấm bia được dựng lại như cũ.
- Nào, cậu cúng cụ đi.
Vú tưới đẫm nước ngôi mộ.
Trưa nắng gắt quá khói hương không tỏa được bóng. Hoa rũ đầu.
Mọi người yên lặng chắp tay, nhắm mắt.
Nhìn những khuôn mặt vàng vọt, tôi lại lên cơn choáng váng.
Sự sống - cái chết của ông tôi...
Như cái lò xo, tôi lắc mạnh tay phải, những đốt xương lắc lư trong cái tiểu nhỏ trên tay tôi. (Người Nhật không chôn hết cả xương, chỉ chôn một phần.
Trên đường về, mọi người hết lời ca tụng công lao ông. Tội nghiệp cụ. Suốt đời hy sinh cho gia đình làng nước. Không ai quên ơn cụ. Tôi muốn bảo họ im đi. Chỉ mình tôi buồn, mình tôi thôi.
Những người trong gia đình nhìn tôi với một niềm thương hại pha lẫn tò mò, bây giờ ông mất, tôi sẽ ra sao.

Một trái đào rơi, lăn dưới chân tôi. Ðường từ mộ về quanh co dưới chân đồi đào.
Trên đây là những biến cố xẩy ra khi tôi mười lăm tuổi (16 tuổi ta) và đến năm mười bảy tôi ghi lại. Tôi đã sao lại gần y nguyên chỉ sửa chút ít hình thức. Ở tuổi năm mươi, chép lại những gì mình đã viết ở tuổi mười bảy không phải là không lý thú. Chẳng biết hồi ấy tôi có nghĩ rằng mình sẽ sống đến bây giờ...?
Ông tôi mất hôm hăm bốn tháng Năm. Nhưng "Cốt" lại xảy ra vào tháng Bảy. Như vậy là có dàn dựng.
Cuốn sổ ghi bị mất một tờ, như tôi đã nói trong cuốn "Nhật ký của người viết tản văn" (Bunshô nikki-Journal d’un prosateur) do nhà Shin-chô-sha in. Giữa câu "Một mùi khó ngửi trong than bốc ra" và câu "Ra mộ nhà đi!" thiếu hai trang. Khi chép lại, tôi cứ để nguyên như thế.

Trước "Cốt", tôi có viết một bài khác tựa đề "Gửi quê hương", dưới dạng lá thư viết từ nội trú gửi về làng, nơi tôi đã sống với ông nội, tôi xưng "anh" và gọi làng bằng "em", lá thư toàn một giọng tình cảm trẻ con.
Tôi trích ở đây một đoạn ngắn có liên quan đến "Cốt".
(...) Hôm nọ, ở nhà chú, anh đã đồng ý cho chú bán nhà, anh đã phản bội em vì anh đã thề với em là không bao giờ làm việc đó.
Chắc em đã nhìn thấy hòm, tủ của nhà lần lượt chạy vào tay các con buôn.
Sau khi chúng mình chia tay, anh được biết nhà ta trở thành chỗ trú của một thằng cha cò bơ cò bất và sau khi vợ hắn chết vì bệnh phong thấp, đã trở thành chỗ nhốt người hàng xóm điên.
Ðồ đạc trong nhà bị mất cắp dần dần, phần mộ nhà trên đỉnh đồi càng ngày càng bị người ta lấn đất, nay đã phụ thuộc vào đồi đào bên cạnh, và bây giờ mới đến giỗ thứ ba của ông, mà anh chắc bài vị ông đã bị bỏ hoang, nằm sõng soài trên bàn thờ, nhơ nhớp lẫn với nước đái chuột.

(Viết năm 1916, xem lại và in năm 1949)
THỤY KHUÊ dịch
theo hai bản tiếng Pháp của Anne Bayard-Sakai
và Cécile Sakai và Fujimori Bunkichi
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeTue Feb 18, 2020 5:45 pm

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 47937269567_08b4bdfc3f

“Cái Bớt”
- Mikhail Sholokhov (Nobel 1965)


Văn chương cổ điển Nga đã đóng góp biết bao công trình văn hoá cho nhân loại với những văn hào lỗi lạc, những tác phẩm vĩ đại, bất hủ, trường giang đại hải. Thời kỳ Cổ điển chấm dứt sau Cách mạng Vô sản 1917, một nền văn chương mới ra đời gọi là Văn học Sô Viết. Thời kỳ này văn chương phải phục vụ tuyên truyền cho Ðảng và Nhà nước, nhiều nhà văn trốn ra ngoại quốc, không có sáng tác nào đáng kể, nền văn chương đột nhiên xuống dốc… ngoại trừ trường hợp đặc biệt Mikhail Sholokhov. Ông sinh ngày 24/5 năm 1905 tại vùng sông Don của dân tộc Cosaque, Sholokhov trưởng thành trong khói lửa cuộc nội chiến tàn bạo, đẫm máu giữa Hồng quân và lực lượng nổi dậy của người Cô Dắc (Cosaques) sông Don giành quyền tự trị.

Sholokhov (24/5/1905 - 21/2/1984) sinh ra trong một gia đình nông dân Cô Dắc quê mùa dốt nát, lớn lên đi làm thợ thuyền, nhập ngũ, làm ký giả, viết văn. Cuộc nội chiến bùng nổ dữ dội khi ông còn là một cậu bé, chiến tranh đã gợi hứng cho ông rất nhiều trong sự nghiệp sáng tác văn chương. Mới 20 tuổi Sholokhov đã xuất bản tập truyện ngắn, năm 1928 ông bắt đầu viết tập thứ nhất của cuốn tiểu thuyết vĩ đại Tikhy Don, Sông Don Thanh Bình, khi ấy mới 23 tuổi. Hồi ấy tiểu thuyết của nền văn chương Sô Viết mới bắt đầu thành hình, năm năm sau, người ta ngạc nhiên về tài năng của Sholokhov và nhận thấy ở nơi ông một thiên tài của văn học Sô Viết bắt đầu xuất hiện.
Có thể nói Mikhail Sholokhov một thiên tài hiếm hoi của thế kỷ, sống dưới chế độ độc tài hà khắc sắt máu Stalin, tác phẩm của ông nhất là Sông Don Thanh Bình đã được nhân dân Liên sô và chế độ ca ngợi như một thắng lợi lớn lao của nền văn chương vô sản đồng thời cuốn truyện cũng được thế giới Tây phương vô cùng hâm mộ. Năm 1937 bản tiếng Anh dịch phần đầu lấy tên Anh Quiet Flows The Don, đến 1940 Sholokhov hoàn thành tác phẩm vĩ đại, ông đã giữ được truyền thống vĩ đại mênh mông bát ngát, trường giang đại hải của thời văn học cổ điển xa xưa. Người Anh dịch tiếp phần cuối lấy tên The Don Flows Home To The Sea, người Pháp dịch ra lấy tên Le Don Paisible. Nhà xuất bản ngoại văn Mạc Tư Khoa cũng dịch ra tiếng Anh toàn bộ tác phẩm này lấy tên Quiet Flows The Don, lời văn trong sáng dễ hiểu.

Tác phẩm cũng đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và đã xuất bản hơn 30 triệu cuốn. Có người ví Sông Don Thanh Bình như một Chiến Tranh Và Hoà Bình thứ hai, nhưng cốt truyện nó có phần lôi cuốn hơn nhiều Cũng vĩ đại như Chiến Tranh Và Hoà Bình nhưng hiện thực, tàn bạo hơn có thể mang lại hứng thú cho người đọc nhiều hơn không khí thi vị mà Tolstoi đã tô điểm cho bức hoạ chiến tranh của ông với những ngọn đồi cỏ non xanh rợn chân trời, những làn khói súng xanh như khói lam chiều… Sholokhov đã thoát ra khỏi khuôn sáo cổ điển để mở ra một chân trời mới của thời đại hiện thực, chiến tranh dưới ngọn bút của ông là một bức hoạ nhuốm máu, đầy những hoang tàn đổ nát.
Quiet Flows The Don đã được dư luận Ðông, Tây coi như một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất của mọi thời đại, hằng trăm năm mới có tác phẩm hay như thế. Truyện đã làm sống lại cuộc nổi dậy kiêu hùng của dân tộc Cô Dắc sông Don chống lại chính quyền Bolshevik để giành quyền tự chủ và tinh thần bất khuất của những người nông dân tại quê hương Sholokhov trên bờ sông Don, nơi đã rền vang tiếng vó ngựa của Hồng quân cũng như của kỵ binh Cosaques. Từ thời Nga Hoàng xa xưa, người Cô Dắc đã có tinh thần tự chủ giành độc lập và nay chính quyền cách mạng làm đảo lộn cơ cấu nông nghiệp của họ. Người Cô Dắc đã coi Bolshevik là kẻ thù không đội trời chung của đức tin Chính Thống Giáo.
Người Hùng Grigory của tác phẩm đã chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân sau lại tham gia cuộc nổi dậy của dân tộc, cầm đầu mười ngàn tay súng, họ tự đúc được súng đạn vũ khí và đã giành được nhiều thắng lợi trong những trận đánh lúc ban đầu. Sông Don Thanh Bình là một bức hoạ vĩ đại toàn cảnh cuộc nổi dậy giành quyền tự chủ của dân Cô Dắc, một thiên anh hùng ca tráng lệ của một dân tộc bất khuất không bao giờ chịu làm thân phận của người bị trị. Có điều lạ, người ta không hiểu sao Sholokhov lại được nhìn lịch sử, nhìn cuộc nội chiến một cách khách quan như vậy? Ðộc giả đã trở thành nhân chứng tận mắt cuộc chiến tranh tàn bạo ấy, tác phẩm ca ngợi tinh thần bất khuất của người Cô Dắc nhìn nhận chính nghĩa của họ chống lại chính quyền Bolshevik… và Ðảng và Nhà nước Sô viết lại cho là có lợi cho họ? Khác với không khí nhẹ nhàng êm dịu, mỹ lệ của mặt trận trong Chiến Tranh Và Hoà Bình, Sholokhov đã diễn tả cuộc nội chiến thật tàn bạo với những cảnh tù binh Cô Dắc đã bị Hồng quân chém giết vô cùng man rợ. Có người nói chính Stalin đã ký giấy phép xuất bản Quiet Flows The Don, có lẽ họ muốn lấy lòng dân tộc thiểu số Cô Dắc, vì vậy mà cả thế giới đã được thưởng thức tác phẩm bất hủ này…

Sholokhov mất ngày 24/2 năm 1984. Năm 1965 ông được giải thưởng Nobel văn chương cho công trình sáng tác, ngoài ra ông cũng viết Vỡ Ðất Hoang (Virgil Soil Upturned hay Terre Défrichée) vĩ đại như Sông Don Thanh Bình, cuốn này cũng được giải Lénine, một tác phẩm tuyên truyền về đời sống trong hợp tác xã nông nghiệp, trên thực tế Vỡ Ðất Hoang ít được chú ý hơn cuốn kia. Trong số các nhà văn Nga được giải Nobel, Sholokhov là người duy nhất được nhà nước cho phép lãnh giải. Boris Pasternak, tác giả Bác Sĩ Jivago, Solzhenitsyn, tác giả Vòng Ðầu Ðịa Ngục không dám lãnh vì áp lực chính quyền.
Từ thuở thanh niên ở lứa tuổi đôi mươi, Sholokhov đã viết và xuất bản nhiều truyện ngắn, đa số hướng về các vấn đề xã hội. Truyện “Cái Bớt” [“The Birth Mark”] đăng ở đầu một tập truyện ngắn của ông (Short Stories) được coi là đặc sắc nhất. Birth mark có nghĩa là dấu hiệu bẩm sinh, trong truyện cũng gọi nó là mole, “nốt ruồi”. Chúng tôi dựa vào cuốn Short Stories, nhà xuất bản ngoại văn Mạc Tư Khoa (Raduga, Moscow) in 1975 do Robert Daglish dịch ra tiếng Anh, đây là một truyện ngắn hơn mười trang giấy diễn tả lại cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn vùng sông Don Cô Dắc.


Xin sơ lược:

“Nikolai, chàng thanh niên mười tám, đại đội trưởng, chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân, người vạm vỡ, già trước tuổi, trong đại đội người ta thường gọi đùa chàng là cậu bé. Tuổi trẻ tài cao, Nikolai chỉ huy nhiều trận suốt sáu tháng qua, cậu đã đánh tan hai đội loạn quân mà không mất một người lính nào.
Nikolai mặc cảm vì còn trẻ và ít học, cha cậu người Cosaques, cậu còn nhớ hồi lên năm, lên sáu, ông đã bế cậu cho ngồi trên lưng ngựa nói “Con giữ cái bờm cho chắc nhá”. Chuyện ấy đã lâu lắm rồi, cha cậu đã đi biệt tích từ thời chiến tranh chống Ðức hồi Thế chiến Thứ Nhất, không biết sống chết ra sao, mẹ chàng đã mất. Nikolai thích cưỡi ngựa, tính tình dũng cảm như cha, chàng cũng có một cục thịt nhỏ như trứng chim bồ câu trên mắt cá chân trái y như cha. Mười lăm tuổi, làm ruộng kiếm ăn từng bữa, rồi nhập ngũ trong một tiểu đoàn Hồng quân đánh Bạch Vệ.
Có lần tắm sông, người chính ủy bảo Nikolai “Cậu có cái bớt như vậy là hên đấy”, cậu đáp “Hên cái gì! Tôi mồ côi từ nhỏ, kiếm ăn vất vả suốt đời mà hên à?”. Một buổi sáng sương mù, anh trung sĩ đến báo cáo với chàng có bọn giặc tới vùng, ông xã trưởng xin đại đội đến giải cứu họ, Nikolai tự nhủ “Cứ chém giết nhau mãi, mình quá ớn cảnh máu chẩy thịt rơi rồi, mình chỉ mong đựoc đi học thêm ít chữ nghĩa”.

Hôm nay ông Ðội trưởng dẫn năm chục kỵ binh Cosaques sông Don về địa phương, họ căm thù chế độ Sô Viết, quen chịu gian khổ. Ðội trưởng uống rượu liên miên, đã bẩy năm qua, ông chưa được nhìn thấy mái nhà gia đình mình. Hồi Thế chiến Thứ Nhất ông bị quân Ðức cầm tù, rồi theo Bạch Vệ… và bây giờ trong đội quân phỉ này.
Ðội trưởng dẫn quân vào nhà máy xay lúa lấy thóc làm lương thực cho ngựa ăn. Trưởng nhà máy vội báo cho Nikolai biết, chàng ta vội tập hợp binh lính truy lùng địch. Lúc rạng đông, Nikolai căn dặn các chiến sĩ súng máy kế hoạch tác chiến rồi đại đội tiến vào trận địa. Súng nổ liên hồi như bắp rang, viên đội trưởng Cosaques quát tháo lính chạy vào rừng, chúng phóng như bay chạy tháo thân trước lằn đạn đại liên của Hồng quân.
Ðội trưởng quay ngựa thấy một kỵ sĩ đơn độc đang lao về phía trước, hắn múa kiếm loang loáng, áo choàng phồng lên như đôi cánh chim, trước ngực đeo ống nhòm. Ông Ðội đoán biết tên này là sĩ quan bèn gò cương ngựa lại, nhìn khuôn mặt trẻ của hắn lộ vẻ giận dữ, ông rút súng lục la lớn “Lại đây, nhãi ranh, mày múa gươm tao sẽ chém chết mày”. Ông đưa súng nhắm bắn cái áo choàng khi thấy nó hiện trước mặt, con ngựa chạy khoảng hai chục thước thì ngã lăn ra, Nikolai vứt áo choàng chạy lại viên đội, vừa chạy vừa bắn. Ðội trưởng Cosaques tự nhủ “Nó chỉ là thằng nhãi ranh, mày sẽ chết”. Ðợi cho Nikolai bắn hết đạn ông bèn phóng ngựa tới rồi xà xuống như con diều hâu, ông ta cúi rạp xuống vung kiếm chém chàng thanh niên ngã gục dưới chân.

Ðội trưởng xuống ngựa tịch thu cái ống nhòm của người tử sĩ rồi tháo đôi ủng của hắn, một bên tháo được ngay còn bên kia tháo mãi mới ra, chiếc vớ cũng đi theo ra luôn. Ông Ðội thấy phía trên mắt cá hắn cái nốt ruồi bằng trứng chim bồ câu, bấy giờ mới biết chàng thanh niên là con mình, phần trang chót chúng tôi xin dịch nguyên văn cho thêm linh động.
“… Rồi từ từ quay mắt nhìn Nikolai y như sợ đánh thức chàng, tay ông ướt đẫm máu từ miệng chàng ộc ra, ông ta trố mắt nhìn hồi lâu rồi ôm lấy đôi vai cậu nói.
- Con ơi! Nikolai! Con là xương thịt của cha đây!
Bỗng mặt ông tối sầm lại, la lên.
- Nói đi! Con chỉ nói một lời thôi! Tại sao vậy hả con?
Ông Ðội ngả người xuống nhìn chòng chọc vào đôi mắt đang hấp hối, lấy tay mở mí mắt đầy máu ấy rồi lay cái xác bất động một lúc… nhưng Nikolai nghiến chặt đôi hàm răng trên đầu lưỡi tím bầm y như sợ lỡ lời thốt ra điều gì quan trọng.
Ðội trưởng cầm bàn tay lạnh cóng của con trai áp vào ngực hôn rồi đưa mũi súng lục vào miệng ông bóp cò….

Ðến chiều, đoàn kỵ mã hiện ra trước lùm cây, tiếng người tiếng ngựa vang lên. Một con diều hâu đang rỉa đầu ông đội trưởng, thấy động nó cất mình bay bổng lên trên bầu trời mùa thu xám ngắt”.

Tấm thảm kịch cuộc chiến tranh “cốt nhục tương tàn” được lồng trong một truyện ngắn đơn sơ gọn ghẽ nhưng ý nghĩa rộng rãi bao la tràn đầy tình yêu nhân loại.
Cảnh chém giết nhau của một gia đình nằm ở hai chiến tuyến khác nhau, con chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân, cha lực lượng Cosaques sông Don, tấn thảm kịch đã thể hiện quá đầy đủ một cuộc chiến tranh tội lỗi, nồi da xáo thịt.
Nó cũng tiêu biểu cho cuộc chiến tranh tàn bạo giữa lực lượng Cosaques sông Don chống lại chính quyền Bolshevik.
Nhìn xa hơn nữa đó cũng là hình ảnh tiêu biểu cuộc nội chiến đẫm máu tại đất nước tác giả giữa Hồng quân và Bạch Vệ vì những ý thức hệ khác nhau.
Rộng hơn nữa cuộc chiến tranh của loài người được ông mô tả như một tội ác bằng hình ảnh tiêu biểu cảm động đầy nước mắt.
Con diều hâu rỉa đầu lâu của một xác chết rồi cất mình lên bầu trời xám ngắt cũng đủ thể hiện hình một ảnh ghê tởm của chiến tranh.
Khó mà tin áng văn tuyệt tác như thế lại do một cây bút ở lứa tuổi đôi mươi, người ta thường nói tài không đợi tuổi.

Trọng Đạt
.
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeThu Feb 27, 2020 12:05 am

.

Chú Ngựa Con
– Mikhail Sholokhov (Nobel 1965)
- Triệu Phong dịch


Mikhail Aleksandrovich Sholokhov sinh năm 1905, tại Veshenskaya, thời đế quốc Nga Hoàng, trên miền đất của người Cossacks. Ông trở thành nhà văn trong thời Liên Bang Xô Viết và được giải Nobel văn chương năm 1965. Ông mất năm 1984, cũng tại nơi sinh quán.
Cha ông thuộc thành phần bán trung lưu, làm đủ nghề từ nông dân, mua bán trâu bò, đến chủ lò xay bột. Mẹ xuất thân từ gia đình nông dân Ukraine, bị mù chữ cho đến lúc cảm thấy cần phải biết đọc biết viết để tương xứng với con trai mình.
Sholokhov bắt đầu viết văn lúc 17 tuổi. Tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Vết Chàm. Năm 1922, ông dọn lên Moscow ở để trở thành phóng viên, nhưng ông phải tự mưu sinh bằng đủ nghề lao động như phu bốc vác, thợ nề và thư ký kế toán. Trong thời gian đó ông thỉnh thoảng tham dự các buổi hội thảo của các nhà văn. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là một bài xã luận trào phúng Bài Sát Hạch (1923). Năm 1924, Sholokhov trở về quê nhà, dành hết tâm huyết để viết văn. Cùng năm đó ông cưới vợ. Họ có với nhau được hai gái và hai trai.

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Ln98
Ðài tưởng niệm mới dành cho Mikhail Sholokhov ở đại lộ Gogol, Moscow
(Nguồn: Ikitross/Wikipedia)

Cuốn sách đầu tiên Những Câu Chuyện Dòng Sông Don, xuất bản năm 1926, gồm những chuyện kể về vùng quê quán của ông trong thời Thế Chiến I và cuộc Nội Chiến Nga, phần lớn dựa theo kinh nghiệm cá nhân. Câu chuyện Nakhalyonok, một phần dựa theo thời thơ ấu, về sau trở thành cuốn phim rất được ưa thích.
Vào cùng năm ông bắt đầu viết cuốn Dòng Sông Don Êm Ðềm, là cuốn mà ông được Giải Stalin, và ông phải mất mười bốn năm mới viết xong (1926-1940). Cuốn này trở thành tác phẩm được đọc nhiều nhất trong số những tiểu thuyết của văn học Xô Viết và cũng mang lại cho ông giải Nobel Văn Chương năm 1965.
Sholokhov bị tố đạo văn cuốn Dòng Sông Don Êm Ðềm, điều khiến ông nổi danh trên trường quốc tế. Kẻ gièm pha cho rằng ông cóp truyện của Fyodor Kryukov. Một cuộc điều tra sau đó vào cuối thập niên 1920 công nhận ông chính là tác giả.

***

Chú vật lộn khó khăn để lọt khỏi lòng mẹ giữa ban ngày, đầu ra trước. Hai chân trước khẳng khiu vói ra gần đống phân đầy ruồi nhặng bay kêu vù vù. Ðiều đầu tiên chú trông thấy là luồng khói màu xám pha nhẹ sắc hồng hoặc xanh của các mảnh đạn nóng chảy phụt ra, tạo nên từ sức đẩy của trái phá nổ ngay trên đầu. Tiếng ré của một trái đạn đại bác xé toạc không khí, hất cái thân ướt nhẹt rơi tõm xuống giữa mấy cẳng chân của mẹ chú. Kinh khiếp là cảm giác đầu tiên chú cảm nhận được trên trái đất này.
Một loạt bi sắt mang theo mùi khó chịu bắn như mưa rào lên mái ngói chuồng ngựa, đổ ào xuống nền đất ở bên dưới. Mẹ chú kinh hãi bật đứng dậy và rớt phịch ngay xuống, kèm theo một tiếng rít nghe chói tai, mạn sườn ướt đẫm mồ hôi của mẹ chú ngã dựa lên đống phân.
Mẹ chú chính là con ngựa cái của anh lính trơn Trofim.
Trong cái yên lặng ngột ngạt ngay sau đó, tiếng vo ve của bầy ruồi nay có thể nghe rõ hơn. Một chú gà trống, do quá sợ tiếng súng không dám vọt lên hàng rào, đứng vỗ cánh liên hồi đâu đó dưới sự che chở an toàn của mấy bụi cây, và cất tiếng gáy một cách vô tư. Từ túp lều vọng ra tiếng rên nấc nghẹn của một người xạ thủ đại liên bị thương. Gã kêu gào từng chặp bằng một âm thanh sắc buốt nhưng khàn đi, và tiếng kêu la của gã lại pha lẫn với tiếng nguyền rủa tức tối. Ong bay vo ve trên mấy đóa anh túc mềm mại như lụa, mọc trong thửa vườn nhỏ. Bên kia làng, một cây đại liên vừa khạc xong băng đạn, trong khoảnh khắc yên tĩnh giữa hai tiếng đạn trái phá, ngựa mẹ đưa lưỡi liếm hài nhi mới chào đời. Chú ngựa con khum mình dưới bầu vú căng đầy sữa của ngựa mẹ, cảm nhận lần đầu tiên cái toàn bích của sự sống, lẫn cái ngọt ngào không thể quên được nơi sự âu yếm của ngựa mẹ.

Sau trái đạn thứ hai rớt đâu đó đằng sau vựa thóc, Trofim từ căn lều bước ra, đóng sầm cửa lại rồi đi về phía chuồng ngựa. Gã bước ngang qua đống phân bò, tay che ánh mặt trời. Chợt trông thấy chú ngựa con đang bú sữa mẹ, gã sững điếng người. Bàn tay run rẩy, gã lục lọi tìm bịch thuốc vấn. Cuộn xong một điếu rồi gã mới lấy lại phong độ để cất tiếng:
– Thì ra mày đi kiếm chỗ đẻ! Mày chọn đúng lúc quá nhỉ. Lời nhận xét của gã âm vang một nỗi xót xa.
Cỏ bẩn và cứt bò đóng khô dính trên mạn sườn xác xơ, ngựa cái trông gầy rạc hẳn ra nhưng đôi mắt lại ngời lên niềm hân hoan pha lẫn vẻ mệt mỏi, và chiếc môi trên trề lên thành nụ cười. Hay ít nhất Trofim cũng nghĩ như vậy. Gã dẫn ngựa mẹ đi vào chuồng. Nó hít khịt khịt khi lắc túi thóc gã treo trên đầu. Trofim đứng tựa vào khung cửa, cáu kỉnh nhìn về phía chú ngựa con và cộc lốc hỏi ngựa mẹ:
– Bây giờ tao biết làm quái gì với nó đây?
Âm thanh của tiếng thóc bị nghiền nát có thể nghe rõ trong khung cảnh lờ mờ và tĩnh lặng của chuồng ngựa. Một tia nắng chiếu vênh trông như một cột trụ bằng bụi vàng, rọi xuyên qua khe hở của cánh cửa đóng kín, làm sáng lên gò má của Trofim. Chòm ria và bộ râu quai của gã nhuốm một sắc độ đỏ hồng. Ðường viền quanh miệng gã cong lên thành những đường đứt gãy sẫm màu. Chú ngựa con đứng trên mấy chiếc cẳng khẳng khiu đầy lông tơ trông như con ngựa đồ chơi bằng gỗ.
– Tao có cần phải giết phứt nó đi không? Trofim nói, ngón tay ố màu thuốc lá của gã chỉ về phía chú ngựa mới đẻ.
Ngựa mẹ đảo đôi mắt đỏ ngầu, chớp chớp và liếc xéo về phía chủ của nó vẻ chế giễu.

Chiều hôm ấy, trong căn phòng tốt nhất của căn lều, Trofim bàn bạc với đội trưởng đội kỵ binh:
– … Tôi không biết rằng con ngựa cái của tôi nó mắc đẻ, nó chạy không nổi, cho phi nước kiệu chậm lại cũng không được, và miệng nó cứ thở dốc liên hồi. Tôi để ra một ngày để coi sóc nó, hóa ra nó đẻ. Sếp biết không, con ngựa con có màu lông của ngựa hồng. Do đó… Trofim vừa kể vừa ngập ngừng trước mỗi chi tiết.
Ðội Trưởng nắm chặt cái ca đồng đựng trà như đang nắm chặt chuôi kiếm trước khi xông trận, đôi mắt mệt mỏi nhìn không rời ngọn đèn dầu. Bên trên ngọn lửa vàng vọt, mấy con thiêu thân bay lượn điên cuồng. Chúng từ cửa sổ để hở bay vào và lần lượt tự thiêu sống nơi cái ống khói bằng thủy tinh của cây đèn. Ðội Trưởng phán:
– Hồng hay đen chẳng có gì khác cả, ngựa nào cũng như nhau. Bắn bỏ hết! Ðể ngựa con đi lẽo đẽo theo, chúng ta trông chẳng khác gì đám du cư, còn gì là đội kỵ binh nữa.
Trofim làu bàu cái gì đó không nghe rõ.
– Mày nói sao?… Tao nói vậy đó, giống như đám du cư. Nếu sếp lớn xuống đây thì biết ăn nói làm sao? Cứ nghĩ coi đi, ổng đang duyệt hàng quân thì bỗng đâu nó nghênh ngang bước ra, đuôi dựng lên trời coi có được không… Toàn thể Hồng Quân chắc phải nhục nhã vì xấu hổ. Trofim, tao không thể hiểu được sao mày có thể chấp nhận được một việc như thế. Chúng ta đang ở vào thời kỳ chiến tranh Nội Chiến khốc liệt nhất, và bỗng đâu lại có chuyện như vầy xảy ra. Sao vậy, thật là hoàn toàn ô nhục! Truyền nghiêm lịnh cho tụi nài không được để ngựa con tới gần mẹ nó.

Sáng hôm sau, Trofim bước ra khỏi lều tay cầm khẩu súng trường. Mặt trời vẫn chưa lên hẳn. Cỏ lấp lánh những hạt sương màu hồng thẫm. Dấu giày trận in đầy khắp cánh đồng và những đụn đất dư sau khi đào giao thông hào, gợi lại hình ảnh u sầu lấm đầy nước mắt của một cô gái. Người lính hỏa đầu lăng xăng trong căn bếp dã chiến. Ðội Trưởng mặc áo lót, ngồi dưới mái hiên của căn lều, đang gọt gỗ thành hình một cái môi. Mấy ngón tay của ông, vốn đã quen với cái thép lạnh của khẩu súng sáu, nay trở nên vụng về với công việc này. Cái xúc giác lẫn mùi hương của gỗ ẩm đưa ông về với cuộc sống làng quê đã quên lãng từ lâu.
Khi Tromfin đi ngang qua, gã chú ý hỏi:
– Sếp tính làm cái môi à?
Đội Trưởng đã làm xong phần cán và trả lời qua kẽ răng:
– Gì chứ ba cái thứ này lúc trước tao rành lắm nhưng sao bây giờ tao làm không giống ai.
Tromfin cãi lại:
– Ngược lại thì có sếp à, tôi thấy nó trông được lắm.
Ðội Trưởng phủi mạt gỗ khỏi đầu gối và hỏi Tromfin:
– Mầy đi bắn con ngựa à?
Tromfin làm cử chỉ khoác tay nhưng không nói gì. Ngừng một lúc, gã tiến thẳng về phía chuồng.
Ðầu cúi xuống, Ðội Trưởng ngồi chờ nghe tiếng súng nổ. Một phút trôi qua, rồi thêm một phút khác ông vẫn không nghe gì cả. Trofim lại hiện ra từ phía xó chuồng ngựa, mặt trông có vẻ băn khoăn.
– Sao rồi?
– Cái cơ bẩm có vấn đề rồi sếp ơi, bóp cò hoài mà súng vẫn không kích hỏa.
– Ðưa tao xem nào.
Trofim miễn cưỡng trao cây súng. Ðội Trưởng kéo cây cần lên xuống, và nheo mắt nhìn.
– Súng mày không có đạn.
Trofim kêu lên:
– Không lẽ nào!
– Tao đã bảo mày là nòng súng trống trơn.
– Chắc tôi làm rớt đâu đó rồi… có thể sau chuồng ngựa cũng không chừng.
Ðội Trưởng để cây súng qua một bên rồi trở lại với cái môi đang làm dở. Mùi gỗ ẩm nồng đến độ mũi ông bắt được cả mùi hoa của cây dương tía, và cả mùi đất mới xới lên. Ông miên man nghĩ về công việc nặng nhọc trước đây mà nay ông đã hoàn toàn quên hẳn sau biết bao lần xông pha chiến trận.
– Thôi được rồi! Quỉ bắt nó đi! Cho nó được gần mẹ nó. Bây giờ thì tạm cho nó sống… rồi sẽ tính sau. Khi hết chiến tranh nó có thể dùng được vào việc gì đó, kéo cày chẳng hạn… Nếu xui lỡ sếp lớn có thấy chắc sếp cũng hiểu là nó đang cần sữa và cho phép nó bú… sếp cũng từng phải bú vậy… chúng ta cũng thế thôi… vì đó là lẽ tự nhiên của trời đất, cứ để mặc như thế! Nhưng súng của mày thì hoàn toàn chẳng có vấn đề gì cả.

Một tháng sau, đội kỵ binh của Trofim đụng trận với một đại đội quân Cossack ở làng Ust-Khopersk. Hai bên bắn nhau khi nhá nhem tối. Trời tối đen khi họ xua ngựa lên tấn công, gươm tuốt trần. Ðang tiến nửa chừng, Trofim bổng rơi về phía sau trung đội của mình. Chẳng phải do gã giật cương hay quất roi quá mạnh mà miệng của ngựa mẹ bị chảy máu, khiến nó không còn có thể phi nước đại được nữa. Ðầu ngước lên, ngựa mẹ cất tiếng hí khàn đục, vó giậm lên nền đất cho đến khi chú ngựa con, đuôi ve vẩy, đuổi kịp đến. Trofim nhảy xuống khỏi yên, tra gươm vào vỏ, mặt choắt lại giận dữ, đưa tay đỡ khẩu súng trên vai xuống. Mấy người đàn ông ở sườn phải đang đánh cận chiến với quân thù. Gần một vách đá, một đám chiến binh chạy tới chạy lui như bị một trận cuồng phong thổi mạnh làm cho dao động. Họ khua gươm trong yên lặng. Chỉ tiếng vó ngựa giậm nghe huỳnh huỵch là có thể nghe thấy. Trofim ngoái nhìn về phía họ một giây, rồi quay súng nhắm vào chiếc đầu nhỏ hẹp của chú ngựa con. Tay gã có thể run run do quá cáu tiết, hay có thể vì lý do nào khác, khiến gã bắn trật. Sau phát súng, chú ngựa con hí lên một tiếng nho nhỏ, cẳng đá gót lên một cách ngu ngốc, làm bắn lên từng mảng đất xam xám. Chú chạy lòng vòng rồi đứng yên cách đó một khoảng. Trofim bắn thêm nhiều phát về phía con quỉ nhỏ. Biết có bắn cũng không làm chết hay trầy sướt được nó, gã nhảy lên yên ngựa mẹ trở lại, miệng chửi rủa điên cuồng, và phi nước kiệu về phía bọn Cossack mặt đỏ, râu ria xồm xoàm, đang dồn Ðội Trưởng của gã và ba người lính Hồng Quân về phía một khe nước.
Ðội kỵ binh đêm ấy đóng quân ở đồng cỏ, cạnh một khe nước nông. Mấy người đàn ông hút một ít thuốc. Họ không tháo yên khỏi lưng ngựa. Người lính thám sát từ hướng sông Don trở lại, báo cáo nhìn thấy một lực lượng địch đáng kể, đang tập trung để ngăn không cho Hồng Quân vượt sông.
Trofim nằm ngủ, hai chân bọc trong lớp gấp của chiếc áo choàng cao su, gã không ngừng nghĩ về những gì xảy ra trong ngày.
Trước rạng đông, Ðội Trưởng bước đến, ngồi xổm xuống cạnh gã trong bóng tối.
– Tromfim, mày đang ngủ à?
– Chỉ thiu thiu thôi.
Ngước lên nhìn những vì sao mờ nhạt, Ðội Trưởng nói:
– Trừ phức con ngựa con chết tiệt đó đi. Nó chỉ gây cản trở khi chiến đấu. Nhìn nó là tay tao run bần bật lên rồi… Tao không xài gươm với nó được. Vì làm vậy khiến mình đâm ra nhớ nhà… Chúng ta không làm vậy trong chiến tranh… Nó làm cho trái tim của người chiến binh từ đá biến thành miếng giẻ rách. Hơn nữa khi mấy lũ ngựa khác đang tấn công thì con khốn nạn nầy lủi theo giữa cẳng chúng, trong khi chúng không rảnh để cho bú được.
Ðội Trưởng im một lúc rồi cười buồn bã. Trofim không trông thấy nụ cười ấy.
– Mày hiểu tao nói chứ Trofim? Ðuôi nó… mày thấy chứ… cái cách nó vểnh lên trên lưng, vó thì đá ngược… đuôi nó trông như cái ấy của con chồn…. Thực là cái đuôi kỳ lạ…
Trofim vẫn im lặng. Gã kéo áo lên trùm lấy đầu, run rẩy trong cái ẩm của sương đêm, nhanh chóng đi vào giấc ngủ.

Ở chỗ đối diện với một tu viện, dòng sông Don ập vào một vách đá dựng đứng, rồi tuôn qua với sức nhanh thô bạo. Tại khúc quanh, nước tạo thành những vòng xoáy nhỏ, và những đợt sóng nước màu xanh lục bạc đầu, do cơn lũ mùa Xuân, vỗ mạnh vào mấy tảng đá vôi nằm đây đó trên sông.
Ðịch chiếm lấy bờ sông phía hữu ngạn, ở đoạn dòng chảy yếu đi và con sông rộng và êm hơn. Từ vị trí thuận lợi, họ tập trung hỏa lực vào phía chân đồi ở bờ bên kia. Ðể tránh lằn đạn, Ðội Trưởng không còn chọn lựa nào khác hơn là cho con cái mình băng qua ở chỗ đối diện với tu viện, nơi nước chảy xiết. Dẫn đường vượt qua sông, Ðội Trưởng cho ngựa tiến xuống từ bờ cát bên dưới vách đá. Cả đạo quân nối đuôi theo, nước bắn tóe lên nghe như sấm rền – có đến một trăm tám mươi tay bơi, nửa thân mình trần trụi, cộng thêm với ngần ấy con ngựa đủ màu sắc khác nhau. Yên cương chúng chất lên ba chiếc xuồng. Trofim chèo một trong ba chiếc ấy. Gã giao phó ngựa mẹ cho người trung đội trưởng tên Nechepurenko. Từ giữa dòng, Trofim trông thấy bầy ngựa đi trước bì bõm dưới nước sâu, mồm bị uống ngụm liên hồi, còn các kỵ mã thì không ngừng giục chúng tiến tới. Trong không đầy một phút, mặt nước lốm đốm đầy những đầu ngựa, mồm chúng thở phì phò thành đủ thứ âm thanh. Mấy người đàn ông bơi theo cạnh bên, tay nắm chặt vào bờm, áo quần, còn ba-lô thì buộc vào súng và được đưa lên cao quá đầu.
Thẩy mái chèo vào trong xuồng, Trofim vươn người lên, mắt nheo ngược hướng nắng, bồn chồn kiếm chiếc đầu của ngựa cái trong số bầy ngựa đang bơi. Ðội kỵ binh trông giống như bầy ngỗng bay tản mác trên trời vì bị thợ săn bắn. Kìa đằng trước là con ngựa của Ðội Trưởng, tấm lưng láng bóng của nó có thể thấy nổi cao lên khỏi mặt nước. Theo sau là một khối đen điu những con vật, và cuối cùng, bị bỏ rơi sau hẳn những con khác mà Trofim có thể nhận ra được, là chiếc đầu tóc lởm chởm như rễ tre của trung đội trưởng Nechepurenko, ngựa cái của Trofim xuất hiện với đôi tai vểnh ở bên trái. Cố nhướng mắt nhìn, Trofim cũng thoạt thấy bóng dáng của chú ngựa con. Chú đang bơi với những tia nước bắn vọt lên không, rồi lại biến mất cho đến khi có thể trông thấy trở lại chiếc mũi của chú.
Một cơn gió thổi qua sông Don, đưa lại bên tai Trofim một tiếng hí ai oán, mong manh như tơ nhện.

Tiếng kêu vẳng lên trên mặt nước nghe sắc và nhói như mũi gươm, xoáy vào tận trái tim của Trofim. Một điều gì đó bất thường xảy đến với người đàn ông này: gã từng xông pha chiến trận suốt năm năm, cái chết diễn ra lập đi lập lại dưới mắt gã như một trò đùa, còn gì là nghĩa lý đối với gã nữa. Nhưng giờ đây khuôn mặt bên dưới bộ râu rậm rạp đỏ tía của gã bạc nhợt hẳn đi, mang một màu xám của tro than. Vồ lấy mái chèo, gã chèo vội ngược dòng, về hướng chú ngựa con đang đuối sức trong cơn nước xoáy. Cách đó chừng hai mươi mét, Nechepurenko đang vật lộn với ngựa mẹ nhưng vẫn không thể kéo nó trở lại được. Ngựa mẹ đang bơi về phía dòng nước xoáy, cất lên tiếng hí nghe não lòng. Bạn của Trofim, Steshka Yefremov, ngồi trên đống yên nơi một chiếc xuồng khác hét về phía gã:
– Chớ có làm liều. Bơi vào bờ đi. Coi chừng! Bọn Cossack kìa!
– Tao sẽ bắn nó!
Trofim gào lên trong hơi thở nặng nề, tay giật lấy cái đai súng.
Dòng nước đưa chú ngựa con trôi ngang chỗ đội kỵ binh đang băng qua. Xoáy nước nhỏ đưa chú xoay quanh đều đặn, những đợt sóng bạc đầu màu xanh lục vỗ lên người chú. Trofim chèo lấy chèo để trong khi chiếc xuồng lắc lư dữ dội, gã nhìn thấy bọn Cossack từ khe nước ở bờ hữu ngạn đang túa ra. Một cây đại liên Maxim đang nổ dồn dập. Ðạn rít lên khi xuyên vào làn nước. Một sĩ quan địch trong chiếc áo vải bạt rách bươm tay vung vẩy cây súng, miệng la điều gì đó.
Chú ngựa con càng lúc càng hí lên những tiếng kêu ngắn và sắc, yếu dần và yếu dần. Tiếng kêu thanh âm như của một đứa trẻ, mang lại cho người nghe cảm giác lạnh buốt kinh hoàng.
Nechepurenko bỏ mặc ngựa cái, bơi trở lại phía bờ tả ngạn một cách dễ dàng. Run rẩy, Trofim chộp súng lên bắn, nhắm ngay vào bên dưới chiếc đầu nho nhỏ đang bị dòng xoáy kéo xuống. Gã chợt tống đôi giày trận ra, tay giang rộng rồi nhảy bổ vào dòng nước, miệng rên khe khẽ.
Bên bờ hữu, người sĩ quan mặc chiếc áo vải bạt rống lên:
– Ngưng bắn!
Trofim bơi đến gần được chú ngựa con trong năm phút. Với tay trái, gã đỡ lấy tấm thân lạnh buốt của chú ngựa con đang thở dốc và ho từng cơn, bơi về phía tả ngạn. Từ bờ bên kia không có một viên đạn nào bắn sang.

Bầu trời, cánh rừng, bãi cát – tất cả ngời lên ánh xanh lục và trong suốt… Với nỗ lực cuối cùng, Trofim cảm thấy chân chạm được đất ở bên dưới. Gã kéo tấm thân trơn tru của chú ngựa con lên bờ, rồi sụt sùi khóc, miệng khạc ra thứ nước xanh, trong khi tay mò mẫm trên mặt cát. Từ khu rừng ở phía bên kia sông Don vẳng lại âm thanh rời rạc của đội kỵ binh đã vượt qua được. Ðâu đó bên kia bờ cát ở phía đối diện súng nổ vang rền. Ngựa mẹ đứng cạnh Trofim, khẽ rùng mình và liếm lên thân hình chú ngựa con. Từ đuôi ngựa mẹ, một dòng nước ngời ánh cầu vồng, nhỏ giọt xuống đất, tạo thành những lỗ nhỏ trên cát.
Khẽ cựa mình, Trofim đứng dậy, bước đi vài bước, rồi giật bắn lên không và gục xuống bên mạn sườn. Gã cảm thấy như có một mũi tên nóng hổi đi xuyên qua lồng ngực. Gã ngã xuống cùng lúc khi nghe tiếng súng, một viên đạn duy nhất trúng lưng gã, từ bờ bên kia bắn sang. Nơi đó, người sĩ quan mặc chiếc áo vải bạt rách bươm đang kéo súng lách cách, tống vỏ đạn đang còn bốc khói ra, trong khi trên bãi cát ở bờ bên này, Trofim co rúm người và cặp môi xù xì xanh ngắt, mà đã năm năm chưa hề được hôn một đứa trẻ con, khẽ mỉm cười lần cuối cùng.

(1926)
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeTue Apr 07, 2020 7:32 pm

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Quotation-Winston-Churchill-You-will-never-reach-your-destination-if-you-stop-and-44-90-83

Cố Thủ Tướng nước Anh Winston Churchill (1874-1965) người duy nhất là nguyên thủ một quốc gia đoạt giải Nobel văn học năm 1953.

RƠI XUỐNG BIỂN
- Winston Churchill (Nobel 1953)


Lúc hơn chín giờ rưỡi một chút người đàn ông đó té xuống biển. Con tàu chở thư ấy đang vội vã vượt Biển Đỏ để bù lại quãng thời gian tàu bị trôi dạt vì những dòng hải lưu ngoài Ấn Độ Dương.

Đêm trong veo, tuy rằng mặt trăng bị khuất sau những đám mây. Bầu không khí đầy những hơi ẩm. Mặt nước biển chỉ bị xao động theo đường con tàu vừa chạy qua, từ hai bên hông tàu, những gợn sóng dạt ra như những cái lông gắn ở đuôi mũi tên, những bọt sóng ở đuôi tàu chỗ cánh quạt cứ sủi lên vạch một đường hẹp dài chạy tới cuối chân trời đen sẫm.
Trên tàu đang có một buổi hoà nhạc. Hành khách vốn quá chán với sinh hoạt đơn điệu của chuyến hành trình đã tụ tập quanh chiếc dương cầm ở phòng hội. Các boong tàu vắng hoe. Người đàn ông đã nghe nhạc và hát theo những bản đàn, nhưng căn phòng quá nóng và ông muốn ra ngoài hút một điếu thuốc, hứng chút gió do tốc độ con tàu mang lại. Đó là luồng gió duy nhất trên Biển Đỏ này đêm nay.
Chiếc thang dây bên hông tàu người ta đã không gỡ ra từ khi rời cảng Aden và ông ta bước ra ngoài như bước ra một bao lơn. Ông tựa lưng vào lan can và trầm tư nhả từng ngụm khói vào không khí.

Chiếc dương cầm trỗi một nhịp điệu sống động và một giọng hát cất lên những câu đầu của bài “The Rowdy Dowdy Boys”. Tiếng quay của chân vịt tàu bị chìm đi nhưng vẫn còn nghe đều đặn theo tiếng nhạc. Ông ta biết bản nhạc này, nó đã từng làm mưa gió ở mọi nhà hát hồi ông rời quê nhà sang Ấn Độ bảy năm trước. Nó khiến ông nhớ lại những đường phố đông đúc và tươi vui đã lâu rồi không gặp nhưng sắp được thấy lại. Ông đang định hát theo bản nhạc thì thanh lan can, do không được bắt vít chặt, bất ngờ tuột ra và ông té ngửa xuống mặt nước ấm áp phía dưới làm nước bắn tung lên.
Trong giây lát đầu tiên ông ta quá ngạc nhiên không nghĩ được gì cả. Rồi ông nhận ra mình phải gào lên, thế là ông gào lên trước khi kịp trồi lên tới mặt nước. Nên chỉ phát ra một tiếng kêu bị bóp nghẹt, khản đặc, không thành lời gì cả. Trí óc kinh hoàng của ông bật ra chữ “Cứu tôi với” và ông gào nó lên một cách mê hoảng liên tiếp sáu bảy lần. Rồi ông lắng nghe.

Nào! Nào! Tránh đường ra.
Cho bọn trai du thủ du thực nào.
Đoạn điệp khúc đồng ca bay la đà trên mặt nước tới chỗ của ông vì con tàu đã vượt qua hẳn chỗ ấy. Tai nghe nhạc nhưng một nỗi kinh hoàng vô hạn đâm suốt trái tim ông. Bây giờ ý thức ông mới nhận ra rằng có thể chẳng ai biết mà vớt ông lên được.

Tiếng hát lại tiếp tục:
Rồi… tao… nói… Mấy nhóc,
Trời sinh những cuộc chơi cho ai?
Rum... tum... tidli... um...
Thằng nào dám uống với tao đây?

- Cứu tôi với! Cứu tôi với! - Ông ta gào lên, lần này thì với nỗi kinh hoàng đến tuyệt vọng.

Lâu lâu lại thèm một cốc
Lại thèm chốn la lối chơi
Ê! Ê! Tránh đường coi
Cho cái lũ du côn đây!
Những lời hát cuối kéo dài và nhỏ dần đến tắt hẳn. Con tàu vẫn lao tới trước. Lời ca đoạn hai bắt đầu nghe thấp thoáng và rời rạc với khoảng cách lúc mỗi xa. Cái khối sắt đen ngòm ấy cứ mờ dần đi, ánh đèn ở đuôi tàu ngày càng héo hắt.
Ông khởi sự bơi theo nó với tất cả sức lực, độ mươi sải tay thì dừng lại gào rú lên điên dại. Mặt biển chao sóng vì con tàu chạy qua đã bắt đầu yên lại, những đợt sóng lan ra chỉ còn lại gợn lăn tăn. Tiếng chân vịt quẫy động xình xịch loang dần lên cao rồi tan mất. Âm thanh của chuyển động của cuộc sống và âm nhạc tắt hẳn.
Con tàu chỉ còn là một đốm sáng mờ lẻ loi tàn dần trong tối đen của biển. Bóng lờ mờ của nó in trên nền trời xám đục.

Rồi sau cùng, ông ta cũng nhận thức ra và ngừng bơi.
Chỉ còn một mình - bị bỏ rơi. Khi hiểu ra thì trí óc bắt đầu quay điên cuồng. Ông lại bắt đầu bơi, có điều thay vì thỉnh thoảng gào lên thì ông cầu nguyện, những lời cầu rối loạn, rời rạc, những lời lẽ cứ trộn lẫn vào nhau.
Đột nhiên một tia sáng loé lên và sáng dần ở xa xa. Một nỗi vui mừng và hy vọng cuồn cuộn chạy qua trí óc. Họ đã dừng lại, quay mũi tàu và đi ngược lại. Cùng với hy vọng là lòng tạ ơn. Lời cầu nguyện của ông đã được đáp ứng. Những câu tạ ơn lắp bắp tràn qua đôi môi. Ông ngừng bơi và nhìn chăm chăm đốm sáng - linh hồn để cả trong con mắt. Trong khi đó ánh sáng cứ nhỏ dần đi một cách từ tốn nhưng chắc chắn. Rồi ông hiểu ra số phận mình đã được định đoạt. Sự tuyệt vọng thay thế niềm hy vọng, câu nguyền rủa thay cho lời tạ ơn, quạt cánh tay đập vào mặt nước, ông gào lên bất lực. Những câu chửi thề điên khùng nhất bật ra, cũng rối loạn rời rạc y như những lời nguyện cầu lúc nãy, và cũng không hề được đoái hoài.
Cơn mê loạn qua đi, càng bị thúc qua mau vì cảm giác mệt mỏi mỗi lúc càng tăng. Ông trở nên im lặng - im lặng như mặt biển, vì ngay cả những gợn sóng lăn tăn giờ cũng khuất hẳn và trở thành một bể mặt phẳng lì loang loáng. Ông bơi một cách máy móc theo hướng tàu chạy, lặng lẽ khóc thầm trong nỗi bi thảm của sự sợ hãi. Ngọn đèn sau lái tàu chỉ còn là một đốm vàng vọt chẳng lớn hơn mấy vì sao rải rác đâu đó sau màn mây trên trời.
Gần hai mươi phút sau, sự mệt mỏi biến thành kiệt quệ. Ý thức về điều tất yếu, điều không thể tránh khỏi đè lên ông. Trong nỗi rã rời đó lại có cảm giác thoải mái kỳ lạ - ông chẳng việc gì phải cố bơi cho tới kênh Suez cả.

Có một con đường khác. Cái chết, ông sẽ lui ra khỏi cõi tồn sinh này một khi ông đã bị bỏ rơi như thế. Ông bất giác giơ hai tay lên và chìm xuống.
Ông chìm xuống, xuống nữa trong khối nước ấm áp. Cái chết tóm lấy ông, ông bước vào cái chết đuối. Nỗi đau đớn vì cú tóm dã man ấy khiến ông nóng máu. Ông điên cuồng chống lại nó. Vung đạp chân tay, ông tìm đường trở lại với khí trời. Đó là một cuộc chiến gian nan, nhưng ông đắc thắng, thoát được và trồi lên tới mặt nước. Trên đó, nỗi tuyệt vọng đã chờ sẵn. Mệt mỏi quạt đôi tay qua lại ông rên lên trong nỗi bi thảm đắng cay:
- “Không được rồi... Tôi phải chết. Chúa ơi! Hãy để tôi chết.”
Vầng trăng lưỡi liềm chui ra khỏi những đám mây vây bủa, rọi một ánh nhợt nhạt dịu dàng xuống mặt biển. Dựng thẳng đứng trên mặt nước, cách chỗ ông chừng năm mươi thước là một vật tam giác đen bóng. Đó là cái vây lưng. Nó chậm rãi tiến về phía ông ta.
Lời kêu cầu sau cùng của ông đã được lắng nghe tới.

PHẠM VIÊM PHUƠNG dịch

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Images?q=tbn%3AANd9GcR7KxIWznWzZqVdABdzl1Lm2brLd92wtV2Nc1jAMMfm5MvMFAiT&usqp=CAU
Về Đầu Trang Go down
PVChuong
Admin


Posts : 643
Join date : 25/04/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSun Jun 14, 2020 1:01 am

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel 6cxf70f9CfBvLk5YGnAAAAAElFTkSuQmCC

Bên Ngoài Cõi Chết
- Yasunari Kawabata (Nobel 1968)


Kawabata Yasunari là một đại văn hào Nhật Bản. Ông được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1968. Độc giả Việt Nam biết đến ông nhiều qua các tiểu thuyết lớn như Xứ Tuyết, Ngàn Cánh Hạc, Tình Yêu Và Nỗi Buồn... Kawabata cũng viết những truyện rất ngắn. Truyện ngắn Bên Ngoài Cõi Chết dưới đây rút ra từ một tuyển tập truyện ngắn của ông, có tên là "Những Truyện Ngắn Bằng Bàn Tay."

Trong truyện này, một cô gái trẻ mười bảy tuổi trầm mình xuống biển tự tử vì gia đình cấm không cho gặp người yêu. Vì người con gái chết trẻ nên tình yêu trinh nữ của nàng vẫn còn vĩnh viễn nguyên vẹn. Năm mươi lăm năm sau, nàng trinh nữ ấy gặp lại người tình, nay đã già ngoài bảy mươi tuổi. Có thể họ gặp nhau trong cõi chết, mà cũng có thể là trong cõi của người sống. Kết luận của truyện cho người trinh nữ đã chết và người yêu nhập vào một cây cổ thụ, có lẽ phản ảnh quan niệm tình yêu lý tưởng của Kawabata - một thứ tình yêu tinh khiết không gợn một chút dục vọng xác thịt.

***

Lão già và người thiếu nữ đang đi.
Hai người trông có vẻ kỳ cục về nhiều phương diện. Hai người cách nhau tới sáu mươi tuổi, nhưng họ dường như không hề quan tâm đến điều ấy, dù là đôi chút. Họ sát cánh bước đi bên nhau như một đôi tình nhân. Lão già thì điếc. Lão không nghe thấy những gì người thiếu nữ nói. Nàng mặc một chiếc kimono màu tím có vẽ những mũi tên nhỏ màu trắng, mặc dầu phía bên dưới được che khuất bằng một chiếc "hakama" màu tím đỏ. Ống tay áo của nàng hơi rộng. Lão già thì mặc quần áo trông giống một người đàn bà nhà quê thường mặc khi đi làm cỏ ngoài ruộng lúa. Lão không đeo bao tay hoặc vải quấn chân, nhưng áo và quần lão bằng vải trông giống quần áo của một người đàn bà. Chiếc quần quá rộng ngang thắt lưng gầy gò của lão.

Trên bãi cỏ ở phía trước hai người một quãng có một hàng rào kẽm khá cao. Tuy hàng rào kẽm chắn ngang đường đi của họ, nhưng họ hầu như không thèm để ý tới. Hai người bước qua hàng rào như một làn gió, mà không cần phải chậm bước lại. Người thiếu nữ dường như để ý đến hàng rào kẽm sau khi hai người đã đi sang bên kia hàng rào.
"Trời!" nàng nhìn lão già đăm đăm với đôi mắt dò hỏi. "Anh Shintaro, anh cũng đi xuyên qua hàng rào được, hả anh?"
Lão già không nghe thấy câu hỏi. Nhưng lão nắm lấy hàng rào và bắt đầu lay mạnh. Lão gào lên, "Đồ khốn này! Đồ khốn này!”
Lão đẩy hàng rào mạnh đến nỗi hàng rào bật ra xa khỏi lão, và làm lão ngạc nhiên. Lão lảo đảo và nắm lấy hàng rào, thân thể lão nghiêng về phía trước.

Người thiếu nữ kêu lên và chạy lại ôm lấy vai lão. "Shintaro, anh phải cẩn thận! Sao thế này? Anh hãy buông tay khỏi hàng rào đi." Rồi nàng nói thêm, "Sao bây giờ anh nhẹ thế!”
Cuối cùng lão già đứng lên được. Trong lúc lão thở hổn hển, vai lão nhô lên và hụp xuống.
"Cám ơn," lão nói và lại nắm hàng rào, lần này thật khẽ bằng một bàn tay. Rồi lão tiếp tục nói bằng một giọng nói lớn đặc biệt của người điếc, "Hết ngày này sang ngày khác, anh đã quen với việc nhặt banh gôn ở phía bên kia hàng rào này. Đó là nghề của anh trong suốt mười bảy năm.”
"Chỉ có mười bảy năm thôi à? Thế đâu có lâu dài gì!"
"Họ đánh banh về bất cứ phía nào họ thích! Trái banh âm vang lên khi đụng phải lưới. Cứ mỗi tiếng động anh lại cúi đầu xuống tránh, cho đến lúc anh quen dần. Chính những âm thanh ấy làm tai anh điếc. Cái việc làm khốn kiếp này!"
Hàng rào kẽm, dùng để bảo vệ những người xem đánh gôn, có bánh xe đẩy ở dưới và có thể đẩy đi về bất cứ phía nào của sân tập đánh gôn. Sân tập và sân gôn phân cách nhau bằng một hàng cây. Hàng cây không đứng thẳng lối vì những cây này mọc lên tự nhiên, và được để lại khi cả khu vườn được làm thành một sân chơi gôn.

Lão già và thiếu nữ bắt đầu bước xa khỏi hàng rào.
Thiếu nữ nói, "Anh có thể nghe thấy những âm thanh thân yêu cũ của sóng biển." Muốn cho lão già nghe thật rõ, nàng ghé miệng vào tai lão và nhắc lại, "Anh có thể nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển."
"Cái gì?" Lão già nhắm mắt lại. "Misako ơi, hơi thở của em thực là ngọt ngào. Giống y như ngày xưa vậy."
"Anh không nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển hay sao?”
"Sóng biển? Có phải em nói sóng biển? Và thân yêu nữa? Làm sao sóng biển có thể thân yêu đối với em, sau khi em đã chết chìm trong sóng biển ấy?”
"Thực là thân yêu, em đã trở về căn nhà cũ của em sau năm mươi lăm năm để thấy anh cũng trở lại cố hương. Ôi, thơ mộng quá!" Mặc dầu lão già không còn nghe thấy những lời nói của nàng mà nàng vẫn nói tiếp. "Em trầm mình xuống biển là đúng lắm. Nhờ thế em đã và sẽ vẫn có thể yêu anh mãi mãi, giống y như em yêu anh lúc em chết. Hơn nữa, tất cả mọi ký ức của em chấm dứt ở tuổi mười bảy. Theo như em biết thì anh vẫn mãi mãi là một thanh niên trẻ. Đối với anh cũng vậy, anh Shintaro của em. Nếu em không tự tử lúc em mười bảy tuổi và nếu anh trở về để thăm em, anh sẽ trông thấy một bà già bẩn thỉu. Thực là hãi hùng! Như thế em làm sao dám gặp anh nữa.”

Lão già bắt đầu nói, bằng giọng lẩm bẩm của một người điếc, "Anh đi lên tận Đông Kinh, nhưng anh vẫn không khá được. Anh trở lại cố hương thành một lão già bất mãn. Anh xin được một việc làm tại sân gôn. Đó là sân gôn trông xuống biển, tại đó một người con gái nhẩy xuống biển tự tử sau khi người ta cấm cô ta không được gặp anh nữa. Anh năn nỉ họ mướn anh, và họ đã mướn vì tội nghiệp anh."
"Chúng ta đang đi trên mảnh đất trước kia thuộc về gia đình anh, anh Shintaro.”
"Đi nhặt banh tại sân tập - đó là những gì anh có thể làm được. Lưng anh đau, nhưng anh vẫn phải tiếp tục. Có một người con gái nhảy xuống biển chỉ vì anh. Bờ đá nơi cô gái gieo mình xuống biển cũng gần đây, vì thế ngay một lão già yếu đuối như anh cũng có thể tới đó và nhảy xuống - vì thế anh vẫn suy nghĩ.”
"Đừng làm thế, anh Shintaro! Anh phải tiếp tục sống. Khi anh chết rồi, sẽ không còn ai trên đời này tưởng nhớ đến em nữa. Lúc đó thì em sẽ chết thực sự đấy." Thiếu nữ choàng ôm lấy lão già khi nàng nói như thế, nhưng lão đâu có nghe thấy gì.
Cũng như nàng, lão vòng tay ôm nàng.
Lão nói, "Phải, hãy chết cùng nhau. Em và anh lần này. Em tới để đưa anh đi với em phải không?"
"Chết cùng nhau ư? Không, xin anh phải sống. Sống vì em." Thiếu nữ ngẩng đầu khỏi vai lão già và nhìn thẳng trước mặt. Giọng nàng trở nên linh hoạt. "Coi kìa! Những cây cổ thụ vẫn còn kia. Tất cả ba cây trông giống y như ngày xưa. Ôi, những cây ấy nhắc nhở em tới những ngày hạnh phúc cũ!"

Lão già cũng quay mắt về phía ba cây cổ thụ, khi thấy thiếu nữ chỉ tay về phía đó.
Lão nói, "Mấy người chơi gôn sợ ba cây đó lắm. Họ muốn cưa ba cây ấy xuống. Họ nói những trái banh của họ luôn luôn bật về phía phải, như thể những cây kia cuốn banh của họ bằng một sức mạnh ma quái."
"Những người chơi gôn rồi cũng chết đi. Chết sớm hơn là những cây kia đã đứng tại đó hàng thế kỷ rồi. Họ nói những điều ấy là vì họ không hiểu cuộc nhân sinh ngắn ngủi biết bao!”
"Tổ tiên của anh đã chăm sóc những cây đó hàng trăm năm, vì thế khi anh bán đất, anh đã bắt họ hứa không được cưa những cây ấy đi.”
"Hãy lại đó đi," thiếu nữ giục và lấy tay kéo lão già loạng choạng về phía mấy cây cổ thụ.
Nàng đi xuyên qua một thân cây. Lão già cũng đi như vậy
Nàng kinh ngạc nhìn lão già đăm đăm. "Ồ! Anh cũng chết rồi à, phải không anh Shintaro? Anh chết hồi nào?" Lão già không trả lời.
"Anh chết rồi! Anh chết thực rồi phải không anh? Em ngạc nhiên tại sao chúng mình không gặp nhau trong cõi của người chết. Bây giờ thử xem anh chết thực hay còn sống. Nếu anh chết rồi, em sẽ vào trong cây này với anh."
Lão già và người thiếu nữ biến mất vào trong thân cây. Hai người không bước ra nữa.

Màu chiều bắt đầu nhuộm trên những bụi cây đằng sau ba cây cổ thụ. Chân trời, phía có tiếng sóng biển vọng lại, lờ mờ một màu đỏ nhạt.

Nguyễn Vạn Lý dịch

.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 590
Join date : 13/03/2012

Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitimeSat Jun 20, 2020 1:38 pm

.
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Inspirational-Quotes-By-Rabindranath-Tagore

Lòng Cha
- Rabindranath Tagore (Nobel 1913)
Trí Hải chuyển ngữ


Rabindranath Tagore (hay Rabindranath Thakur) (1861-1941). Nhà thơ, nhà văn, triết gia, nhà giáo dục, nhạc sĩ, hoạ sĩ, đạo diễn, nhà văn xứ Bengal. Giải thưởng Nobel năm 1913.

***

Mini, bé gái năm tuổi của tôi, có lẽ không sống được nếu không nói ba hoa suốt ngày. Tôi nghĩ suốt đời cô bé đã không phí một phút giây nào im lặng. Mẹ nó thường không hài lòng về điều ấy, và thường ngăn cô lại, nhưng tôi thì không. Với Mini, im lặng là chuyện bất thường, và tôi không thể chịu đựng lâu. Bởi thế, câu chuyện giữa tôi và cô bé luôn luôn sinh động. Chẳng hạn một buổi sáng, khi tôi đang viết dở một chương tiểu thuyết thì cô bé lẻn vào, cầm lấy tay tôi mà nói:
- Cha! Lão bộc gọi con chó là con muông. Lão không biết gì cả, phải không cha?
Tôi chưa kịp giảng giải, thì cô bé đã chuyển sang một vấn đề khác.
- Cha nghĩ sao, cha? Bộc nói có con voi trong những đám mây, vòi nó phun nước, và thế là trời mưa. Có phải vậy không cha?
Trong khi tôi đang tìm cách trả lời câu này, bé đã hỏi một câu khác:
- Cha! Mẹ và cha bà con ra sao nhỉ?
Tôi cố lập nghiêm bảo :
- Ra chơi với Bộc đi, Mini. Cha đang bận.

Cửa sổ phòng tôi trông ra đường. Cô bé đã ngồi xuống dưới chân tôi, cạnh bàn viết và đang chơi một mình. Tôi đang suy nghĩ rất lung để viết. Bỗng cô bé Mini vùng chạy lại cửa và reo lên:
- Ông Cabul, ông Cabul!
Và quả thế, ngoài đường dưới kia, một người đàn ông miền Cabul đang tiến bước. Y mặc bộ quần áo trông có vẻ nghèo nàn và dơ dáy, buộc một thắt lưng dài, lưng mang chiếc bị, tay cầm những hộp nho khô. Không biết cô bé nghĩ gì khi thấy người này, nhưng cô bắt đầu gọi ông thật lớn. Ngay lúc ấy lão ta quay lại và nhìn lên cô bé.
Cô bé thấy vậy thất kinh hồn vía, chạy bay đến nấp bên mẹ. Cô tin chắc thế nào trong chiếc bị mà lão đang mang cũng có hai ba đứa trẻ con như cô. Người hàng rong ấy đã vào đến cửa và mỉm cười chào tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là mua một món gì đó, vì Mini đã gọi y vào nhà. Tôi mua ít vật dụng, và chúng tôi khởi sự nói chút đỉnh chuyện chính trị. Khi sắp từ giã, bỗng hắn hỏi:
- Còn cô bé đâu rồi, thưa ông?
Nghĩ rằng nên làm cho Mini hết sợ hão huyền, tôi cho đem cô bé ra. Cô đứng bên ghế tôi, nhìn chòng chọc vào người Cabul cùng chiếc bị. Y biếu cô cả đậu phụng và nho khô, nhưng cô nhất định không để bị dụ dỗ. Cô càng bám riết lấy tôi và càng nghi ngờ lão thêm.

Đấy là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa lão Cabul và cô bé. Tuy nhiên, vài hôm sau, khi đi ra có tí việc, tôi giật mình thấy Mini ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh cửa ra vào, đang cười nói với lão Cabul ngồi dưới chân. Suốt đời, cô chưa bao giờ được ai ngoài cha cô, đã nghe cô một cách chăm chú như vậy. Cái túi áo của cô đã đầy ắp đậu phụng và nho khô của người khách lạ. "Sao ông cho nó làm gì thế?", tôi nói, vừa rút tiền trả cho lão. Ông thản nhiên nhận tiền cho vào túi.
Một giờ sau trở về, tôi mới thấy tai hại của đồng bạc tôi đưa ra. Người Cabul đã đưa cho Mini, và khi mẹ nó thấy đồng bạc, bèn vồ lấy cô bé:
- Con lấy đồng bạc ở đâu, bé?
- Ông Cabul cho con! Mini hớn hở đáp.
- Ông Cabul cho con! Mẹ nó thét lên - Mini, sao dám lấy bạc hở?
Vừa lúc ấy tôi đi vào cứu cô bé thoát nạn bị đòn. Tôi tiếp tục điều tra về đôi bạn.
Tôi khám phá đấy không phải lần đầu họ gặp nhau. Người Cabul đã đánh tan sự sợ hãi của cô bé bằng cách đút lót thật nhiều đậu phụng và nho khô.

Đến nay hai bên đã thành đôi bạn thiết. Họ có nhiều trò đùa mà họ rất khoái. Mini thường ngồi trước lão Cabul, nhìn xuống vóc dạng khổng lồ ấy với vẻ đường bệ của một bà chủ tí hon, khuôn mặt cười lên rạng rỡ, và cô hỏi:
- Ông Cabul, ông Cabul, ông đựng cái gì trong bị ấy?
Và ông lão sẽ trả lời bằng giọng mũi của người thượng du:
- Một con voi!
Không có gì đáng tức cười lắm, vậy mà họ hoan hỉ làm sao. Và riêng tôi, cuộc chuyện trò giữa một đứa trẻ với người lớn luôn có vẻ gì đó rất quyến rũ.
Rồi người Cabul, để khỏi thua bạn, bắt đầu hỏi lại cô bé:
- Còn cô, này cô bé, bao giờ thì cô về nhà ông nhạc?
Hầu hết các cô bé Ấn Độ đều sớm nghe danh từ ấy, nhưng chúng tôi thì không bao giờ nói những chuyện như thế với con gái, cho nên trước câu hỏi ấy, cô hơi bối rối. Nhưng cô không muốn để lộ sự lúng túng của mình, và đã hỏi lại:
- Còn ông có về đấy không?
Đối với giai cấp người Cabul này, thì từ ngữ về nhà ông nhạc lại có nghĩa là nhà tù, nơi họ được ăn ở miễn phí. Người ấy bèn trả lời:
- Ô, tôi sẽ đánh vỡ mặt ông nhạc ra!
Vừa nói lão vừa nắm tay hăm doạ một viên cảnh sát vô hình. Mini nhíu mày, rồi cười lên như nắc nẻ. Lão cũng cười theo phụ hoạ.

Đấy là vào những buổi sáng đầu thu, mùa các vua chúa ngày xưa lên đường viễn chinh dẹp giặc. Còn tôi không rời khỏi góc nhà quê hương, nhưng vẫn để tâm hồn phiêu du khắp chân trời góc bể. Mỗi khi nghe địa danh một nời nào, hồn tôi đã vươn tới chỗ ấy, và bóng một người xứ khác đến trên đường cũng khiến tôi dệt nên những giấc mơ xa xăm về quê hương của anh ta ở cuối chân trời, nghĩ đến những cuộc đời giang hồ lãng tử. Những xứ lạ hiện lên trong trí tôi càng sống động, có lẽ vì cuộc sống hiện tại của tôi quá giống với cỏ cây. Tiếng gọi viễn du réo rắc trong tôi, tựa hồ tiếng sóng triều gào thét. Bởi thế, trông thấy người Cabul này, trí tôi liên tưởng ngay đến những vùng núi non cằn cỗi trên cao, chen chúc với mây trời. Tôi mường tượng những đoàn lạc đà chở hàng đi trên sa mạc, những thương gia lưng đeo vũ khí hộ thân đang tiến về hướng bình nguyên. Tôi thấy và thấy trong trí tưởng…
Nhưng giữa lúc ấy, luôn luôn mẹ Mini sẽ xen vào, tha thiết dặn tôi phải "coi chừng lão ấy". Bà rất dè dặt mỗi khi nghe tiếng huyên náo ngoài đường, hay thấy người vào nhà, và luôn đi đến kết luận, một là kẻ cướp, hai là kẻ say, hoặc rắn hổ mang, bệnh sốt rét, phong cùi. Sau bao nhiêu năm kinh nghiệm giữa trường đời, bà vẫn chưa thắng lướt được nỗi sợ hãi triền miên trong lòng bà. Bởi thế, bà luôn luôn nghi ngờ về người Cabul, và thường van nài tôi phải coi chừng lão ấy. Nếu tôi cố xua đuổi nỗi sợ hãi vô căn cứ của bà bằng cách cười lớn, thì bà nghiêm mặt hỏi với dáng điệu rất trịnh trọng:
- Thế trẻ con không bao giờ bị bắt cóc ấy à ? Thế không phải ở Cabul còn có bán nô lệ ư? Một người đàn ông to lớn bắt một đứa trẻ xíu không được hay sao?
Tôi nói, không phải là không được, nhưng không lẽ nào có chuyện như thế. Tuy thế bà vẫn lo sợ. Nhưng vì nỗi sợ hãi ấy thật bâng quơ, nên không lý gì để cấm đoán lão vào nhà. Sự thân thiện giữa đôi bạn - một khổng lồ, một chim chích - vì thế vẫn tiếp tục không bị ngăn cản.

Hàng năm vào giữa tháng giêng, Rahman - tên người Cabul ấy, thường về xứ một lần, và khi sắp về, y thường rất bận rộn đi các nhà để thâu tiền nợ. Năm nay, tuy vậy ông vẫn còn thì giờ đến thăm Mini. Một người khác rất có thể nghi ngờ lão có mưu toan gì đấy, vì khi không tới được buổi sáng, lão cũng tới vào buổi chiều.
Ngay cả tôi, đôi khi cũng thấy chột dạ chút đỉnh lúc bắt gặp bóng người to lớn ấy đứng trong góc phòng của tôi. Nhưng khi Mini hớn hở reo lên "ông Cabul, ông Cabul" và đôi bạn khởi sự những trò đùa thường lệ, thì tôi lại yên tâm ngay.
Một buổi sáng vài ngày trước khi lão về nhà, tôi đang chữa lại bản thảo trong phòng viết. Trời rất lạnh. Qua song cửa, ánh mặt trời chiếu vào sưởi ấm hai chân tôi. Lúc ấy vào khoảng tám giờ, những khách bộ hành đi đường đang trùm khăn lạnh. Bỗng chốc tôi nghe ngoài đường huyên náo. Nhìn ra thì thấy Rahman đang bị còng tay dẫn đi giữa hai người cảnh sát, sau lưng là một lũ trẻ tò mò. Áo quần Rahman dính đầy máu, và một trong hai cảnh sát đang cầm một con dao. Tôi vội bước ra hỏi xem có chuyện gì. Từ mỗi người một ít, tôi được biết rằng một người lối xóm đã nợ Rahman tiền mua một cái khăn quàng, nhưng lại chối, bảo không từng mua nó. Trong lúc cãi vã, Rahman đã đánh người kia. Bấy giờ , trong cơn tức giận, phạm nhân chửi rủa đối phương đủ điều. Và điều tệ nhất đã xảy ra. Nhưng bỗng chốc từ hiên nhà tôi, Mini đã xuất hiện với tiếng reo thường lệ "Ông Cabul, ông Cabul". Gương mặt người Cabul rạng rỡ lên khi nhìn thấy cô bé. Hôm nay lão không mang chiếc bị, nên cô bé không thể nói về con voi với lão. Bởi thế cô hỏi sang câu thứ hai:
- Ông về nhà ông nhạc ấy à?
Rahman cười lớn bảo :
- Chính thế, bé ơi!
Rồi thấy câu trả lời không làm cô bé thích thú, lão đưa hai bàn tay bị còng lên:
- A ! Đáng lẽ tôi đánh cho vỡ mặt ông nhạc, nhưng tay tôi bị còng rồi.
Bị kết tội cố ý giết người, Rahman ở tù nhiều năm. Thời gian trôi nhanh, Rahman đã bị quên lãng. Công việc thường ngày trong chỗ ở thường ngày vẫn tiếp diễn, nên chúng tôi không bao giờ nghĩ đến một người thượng du nghèo khó đang chịu tù tội trong ngục thất. Cả đến cô bé Mini cũng đã quên mất người bạn cũ của nàng. Càng lớn, nàng càng có nhiều mối quan hệ với bạn gái, và không còn vào phòng làm việc của tôi như trước. Bởi thế tôi rất hiếm dịp nói chuyện với con.

Nhiều năm trôi qua, lại một mùa thu trở về. Chúng tôi đang sửa soạn hôn lễ cho cô gái Mini của chúng tôi. Đám cưới sẽ cử hành trong một dịp lễ. Với Mini, về nhà chồng, có nghĩa là ánh sáng của ngôi nhà cũng sẽ đi theo, để lại cha nàng trong bóng tối.
Buổi mai ấy thật tươi sáng. Sau những ngày mưa, không trung như đã được rửa sạch và ánh sáng mặt trời trông như ánh vàng ròng. Những tường gạch cũ kỹ ngoài đường phố cũng sáng lên dưới ánh nắng trong vắt. Từ rạng đông, những hồi còi đã vang lên báo hiệu hôn lễ. Mỗi hồi còi làm cho tim tôi rộn ràng muôn mối, đồng thời cũng làm tăng nỗi đau buồn của tôi trước cảnh chia ly. Mini sẽ về nhà chồng đêm ấy. Trong sân, lọng che rợp đất. Những đèn lồng và lục lạc được treo khắp các phòng và hiên nhà. Khắp nơi người ta vội vàng hối hả. Tôi đang ngồi trong phòng một mình tư lự thì bỗng một người đi vào lễ phép chào, và đứng trước mặt tôi. Đấy là Rahman, người Cabul dạo nọ. Ban đầu, tôi không nhận ra lão, vì lão không mang bị, mảng tóc dài đã được hớt cao, và vẻ cường tráng năm xưa không còn nữa. Nhưng khi lão mỉm cười, tôi lại nhận ra ngay.
- Ông về lúc nào thế, Rahman ?
- Tôi được thả tối qua.
Những lời ấy làm tôi hơi choáng. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với một người nào từng cố ý đã thương đồng loại. Lòng tôi đau nhói khi nhớ ra điều này, vì tôi nghĩ ngày ấy sẽ tốt hơn nếu hắn ta đừng xuất hiện.
- Hôm nay nhà có việc, và tôi đang bận. Có lẽ ông có thể đến vào một dịp khác chăng?
Lão liền quay đi, nhưng khi ra đến cửa, lão ngập ngừng bảo:
- Thưa ông, tôi có thể thăm cô bé một lát?
Lão tin tưởng rằng Mini vẫn còn bé xíu như ngày xưa. Chắc lão mường tượng cô bé sẽ chạy ra hớn hở gọi "ông Cabul, ông Cabul" như dạo nào, và họ sẽ cười đùa với nhau như trước.

Quả vậy, cũng như những ngày xưa, hôm nay lão cũng mang đến ít đậu phụng và nho khô gói kỹ trong bọc giấy. Những thứ ấy không biết làm thế nào lão kiếm được trong lúc mới ở tù về.
Tôi lặp lại:
- Nhà có việc, ông không thể gặp ai hôm nay cả.
Lão sa sầm nét mặt, và nhìn tôi với vẻ thèm muốn số phận của tôi, đoạn nói một lời chúc tụng rồi đi ra. Tôi hơi thương hại, muốn gọi lão trở vào. Nhưng lão đã tự ý quay trở lại, đến cạnh tôi và nói:
- Thưa ông, tôi đã đem lại chút quà này biếu cô bé. Ông có thể trao lại dùm tôi?
Tôi nhận gói quà, định trả tiền, nhưng ông ngăn lại:
- Ông thật quý hoá. Xin ông hãy nhớ đến tôi là đủ. Đừng cho tôi tiền. Ông có một cô con gái. Tôi cũng có một bé gái giống như thế ở quê nhà. Tôi nhớ con tôi, nên mang quà tới cho cô bé, chứ không phải để hòng kiếm chác gì đâu.
Nói xong, lão sờ tay vào túi trong, lấy ra một mảnh giấy dơ dáy, mở ra vuốt thật thẳng bằng cả hai tay trên mặt bàn. Mảnh giấy in hình một bàn tay nhỏ xíu. Không phải một bức ảnh, hay bức hoạ, mà chỉ là dấu mực in một tay bé con trên tờ giấy nhàu nát. Hình bàn tay của con gái lão, lão đã luôn mang theo bên trái tim mình, từ khi lão đến xứ này bán hàng rong năm này qua năm khác.

Mắt tôi ướt đẫm. Tôi quên rằng lão là một người thượng du nghèo khó, còn tôi…. Ồ không, tôi có gì hơn lão? Lão cũng là một người cha.
Bàn tay in của cô bé con lão ở vùng thượng du quê nhà xa xăm của lão, nhắc tôi nhớ đến con tôi. Tôi cho gọi ngay Mini vào. Cô bé đang mặc chiếc áo cưới bằng lụa đỏ, trang sức kiểu cô dâu, rụt rè tiến đến bên tôi. Người Cabul dường như kinh ngạc trước sự xuất hiện này. Lão không thể làm sống lại tình bạn ngày trước. Cuối cùng lão mỉm cười :
- Cô bé, có phải cô sắp về nhà ông nhạc đấy không?
Bây giờ thì Mini đã hiểu nghĩa danh từ "ông nhạc", nên không trả lời, đỏ mặt đứng trước lão, với vẻ e lệ của cô dâu mới. Tôi nhớ cái ngày họ gặp nhau lần đầu, và lòng tôi se lại. Khi con tôi trở vào nhà trong, Rahman thở dài buồn bã, ngồi phịch trên sàn nhà. Có lẽ lão bỗng nhớ rằng con gái lão cũng phải lớn lên nhiều, trong thời gian lão xa quê. Lão sẽ phải làm quen với cô bé trở lại. Chắc chắn lão không còn gặp lại một cô bé như ngày lão từ giã ra đi. Ngoài ra, biết đâu lại không có bao nhiêu chuyện xảy đến cho nàng sau mười mấy năm xa cách.
Tiếng còi lại vang lên, ánh mặt trời dịu của mùa thu lan khắp không trung, Rahman ngồi trên mảnh đất này mà tưởng như thấy trước mặt một miền núi khô cằn của quê hương. Tôi lấy ra một xấp bạc, và bảo:
- Rahman, hãy về quê với con gái ông đi. Cầu nguyện cho cuộc hạnh ngộ của cha con ông sẽ đem lại cho con gái tôi nhiều may mắn!

Sau khi biếu lão món tiền, tôi đã giảm bớt nhiều lễ lạc, như không thể bắt điện, cũng không thể mướn ban nhạc giúp vui, và điều này làm nhiều bà thất vọng. Nhưng với tôi, buổi hôn lễ thật rực rỡ hơn lên, khi nghĩ rằng ở miền đất xa xăm kia, có một người cha biệt tích tha phương đang được trở về gặp lại đứa con gái dấu yêu.

.
Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel Icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến