Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
Nhung thụy Thuong phạm sung kiện Chia Mộng phan Saigon bình Nguyen thang tuan hanh tran dịch dành trong VNCH chiến
Latest topics
January 2019
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Sat Feb 16, 2013 7:38 pm

.

Truyện Ngắn: Nghiệp chướng
Vugia K7



I-

- Các người nghe cho rõ đây! Ta là Triệu tử Long phò ấu chúa đây. Ta là bậc trung thần ái quốc của muôn đời đây!
Nhướng hàng lông mày để các nếp nhăn lấp đi năm vết mờ mờ như dấu chân người trên trán, vừa gân cổ hét, gã vừa múa may như một diễn viên tuồng thực thụ, thậm chí có người chắc chắn rằng trong cách múa may đó thoáng thấy dăm ba động tác của một miếng võ tuyệt độc bị thất truyền.

Dân làng không lạ gì với cái-cơn-trung-thần-ái-quốc của gã. Trăm lần như một, hễ nhà nào trong xóm có đám kỵ giỗ và sau khi đốt xong áo giấy là gã lại lên cơn, đến khi người nhà mang một mâm cúng đặt xuống bên cạnh gã mới chịu thôi. Chắp hai tay ngang mày, thành kính vái mỗi phương một vái; rồi xem như không có gì xảy ra, gã cảm ơn mọi người chung quanh. Với dáng vẻ ung dung nho nhã, gã đi về hướng sông, bơi sang cồn trồng dâu phía bên kia.
Người ta lại phải mang mâm cúng ấy đặt trước miếu cô hồn.

II-

Cô chị còn thiếu hai mươi mốt ngày thì tròn mười bảy tuổi. Chết vì bị rắn độc cắn. Ông chánh Ngà thưởng cho đám trai làng một con heo, gọi là trả công lùng bắt con rắn hổ chúa dài xấp xỉ cái dang tay của một đứa trẻ con. Họ nói còn một con rắn đực nữa. Ông lệnh cho họ mang xác con rắn cái đem chôn ở cồn trồng dâu bên kia sông trước khi hạ huyệt con gái  mình.

Đúng vào ngày giỗ đầu của người chị gái, cô em lại bị rắn cắn, lên cơn co giật, sùi bọt mép và đau đớn lăn lộn hệt như người chị của mình trước kia. “ Nghiệp chướng! Nghiệp chướng ! Nhỡn tiền! Nhỡn tiền!… ”. Ông chánh tổng lẩm bẩm rồi ngất đi, trong cái hỗn mang mịt mờ bồng bềnh mê tỉnh, ông thấy mình thất thểu theo sau đám dân cày của làng bị chết đói năm nào.
- Ông ơi! Có người đến xin cứu cô Ba!
Hồn ma của đám dân cày biến mất và ông tỉnh lại. Đến cứu con mình à? Đám thầy lang vườn và các vị tự xưng là Hoa Đà đã không còn thấy mặt kể từ khi hay tin con ông bị co giật. Hết phương rồi, chỉ còn chờ vào người cõi trên thôi!. “ Ai vậy ? Mời vào, mời vào…”. 

Anh ta bước vào. Với phong thái đỉnh đạc đường hoàng, tiến thẳng về phía ông chánh tổng, khuỳnh  tay thưa :
“ Tôi cứu được cô gái này, xin mọi người lui ra, chỉ một mình ngài ở lại thôi ”. Giọng nói của người miền ngoài, có vẻ cương quyết hơn là nhẹ nhàng. Anh ta liếc nhìn mọi người chung quanh và họ hiểu ý đồng loạt kéo nhau đi.

Không chờ sự đồng ý của chủ nhà, anh ta quỳ xuống trước xác cô gái, vén ống quần trái của cô ta đến tận đầu gối một cách tự nhiên tựa hồ như đã biết được vết rắn cắn ở chổ nào. Trên bắp chân cô gái hiện ra sáu vết rỉ máu như người ta đóng đinh vào rồi rút ra trên thân cây chuối non. Hai vết sâu hoắm, bốn vết kia nhỏ hơn.
Kính cẩn lấy ra từ tay nải một bọc vải, anh ta trịnh trọng trải tấm vải bọc rách nát ấy lên đất, trên mặt vải hiện ra những chữ viết loằng ngoằng và các hình vẻ có hình sông núi, từ tốn đặt chiếc hộp gỗ mun đen bóng lên trên và nhắm mắt quay đầu về hướng Bắc thầm thì khấn vái. Thành kính lấy ra từ chiếc hộp một vật màu xám bằng sừng có hình dáng như một ngón tay, sau khi lau sạch anh ta rà nhẹ vật ấy lên vết thương của cô gái. Máu từ các vết rắn cắn bổng rỉ máu tươi. Không ngại ngần, anh ta cúi xuống dùng miệng hút nhiều lần cho đến khi máu không còn tươm ra nữa. Một khắc sau, cô gái khẽ cựa mình.
- Không ngờ có người cãi lại được mệnh Trời . Ông chánh tổng thốt lên. Anh ta đáp: Xin  Ngài đừng nói cho ai biết việc này, nếu khôngTrời phạt cả tôi lẫn Ngài đấy”.

***

Anh ta khai mình tên là Trọng Tắc và từ đó dân làng gọi là thầy Trọng.
Sau khi cứu cô thoát chết, không cần tìm hiểu lai lịch và không phải đắn đo suy nghĩ, ông chánh gợi ý muốn gã con gái cho anh ta. Cô gái bình phục hoàn toàn nhưng lại thỉnh thoảng đăm chiêu nhìn mông lung về hướng đông và khóc. Cô thường thẩn thờ đi dọc theo bờ sông, rắc những cánh hoa dại trắng trên đường đi. Ông chánh cho người theo sau, nhưng như chơi trò trốn tìm, cô thường biến mất trước mắt họ, đến khi lần theo dấu vết các cánh hoa họ mới tìm thấy cô đang ngồi khóc ở triền sông.
Thầy Trọng khéo léo từ chối lời gợi ý nhiệt thành của ông chánh tổng, nói rằng mình chưa có công danh sự nghiệp gì, không muốn làm đũa mốc mà đèo mâm son. Sau một lúc suy nghĩ, ông chánh nói:
-  Thôi được, chuyện ấy để sau tính tiếp. Trước mắt, tôi tặng thầy  gian nhà trước chợ để thầy làm thuốc và chữa bệnh. Ơn thầy không gì sánh bằng, mong thầy đồng ý cho.
Anh ta nhìn thẳng vào mắt ông, cái nhìn hàm ơn chỉ thấy ở loài mèo:
-   Cảm ơn ngài, nói thật, xóm làng này tôi cảm thấy rất quen thuộc khi mới vừa đặt chân đến. Nếu Ngài thương thì cho xin tôi một mãnh đất nhỏ ở cồn dâu phía bên kia sông để làm nơi trú ngụ thì đã là quý hóa lắm rồi ạ.
- Được, anh đã có cả hai.

***

Căn nhà nhỏ được dựng lên ở cồn dâu là một bí ẩn của dân làng. Chưa ai dám đặt chân đến và anh ta cũng không cho ai đến gần, kể cả ông chánh. Trong lần chữa bệnh đầu tiên, anh ta không nhận thù lao mà chỉ xin hai con chó. Không hiểu anh ta nuôi như thế nào mà hai con chó biến thành hai con hổ thực sự khi làm nhiệm vụ canh giữ nhà.
Gian nhà trống trước chợ biến thành nơi chữa bệnh và bốc thuốc của thầy Trọng, người ra kẻ vào tấp nập. Tiếng lành đồn xa. Các thầy lang vườn và các vị tự xưng là Hoa Đà tái thế của làng không còn thân chủ, kể từ lúc ấy họ trở thành bạn bè.

Chạng vạng tối hôm nọ trên đường về cồn dâu, thầy Trọng bị ba người đàn ông có hung khí bất ngờ tấn công. Sau một hồi quần thảo, ba người kia bỏ chạy. Sáng hôm sau cùng một lúc có ba người đàn bà đến xin mua thuốc nhức đầu cho chồng, thầy Trọng nhẹ nhàng:
-  Không cần thuốc, các chị về bảo các anh ấy hướng về hướng Bắc lạy ba lạy, vỗ vào trán ba lần, vết thâm trên trán sẽ hết và tức khắc bệnh sẽ khỏi.
Trưa hôm ấy, có ba người đàn ông đến xin lỗi và cảm ơn thầy Trọng.
Cái cách nhận thù lao của thầy Trọng cũng khiến người ta ngạc nhiên. Các thang thuốc nhiều lúc được biếu không hoặc thầy nhận rất ít tiền. Những lần chữa chạy các bệnh thuộc loại tứ nan y hoặc thập tử nhất sinh thầy đều không lấy tiền, chỉ ngỏ ý muốn mua lại của người hết bệnh một khoảnh đất nào đó mà họ có. Hầu như không ai chịu nhượng bán đất cho thầy mà tự nguyện biếu không với vài hào bạc tượng trưng. Những người không có đất thì kín đáo tế nhị trả ơn thầy bằng các loại tài sản khác.
Ba năm sau thầy mang lễ vật xin cưới con gái ông chánh tổng.

***

Ông chánh hoan hỉ đồng ý với điều kiện thầy Trọng phải ở rể vì chỉ còn đứa con duy nhất. Anh ta xin một gian để lập bàn thờ riêng của giòng họ, ông chánh miễn cưỡng vui vẻ chấp thuận.
Đêm tân hôn, thầy Trọng nói với vợ:
-  Mình tuyệt đối nhớ cho tôi hai điều – tôi chỉ nói một lần và không bao giờ nhắc lại – một là không bao giờ được xen vào hoặc theo dõi tôi làm những gì; hai là không được bước vào gian đặt bàn thờ của gia đình tôi, dù chỉ là nửa bước. Nếu phạm một trong hai điều ấy ắt có bất hạnh. À, còn một điều này nữa, vợ chồng mình chỉ được gần nhau vào những ngày trăng sáng, tối nay là ngày nước ròng, tôi ra ngoài ngủ, mình nhớ rồi chứ?
Cô vợ hụt hẫng: Dạ, em nhớ.

III-

Mười một tháng mười ngày sau khi mang thai, người vợ đẻ ra một bọc, trong đó có hai thai nhi đều là con trai, một đã chết. Đứa bé chết trong bào thai có năm vết mờ mờ ở giữa trán và được chôn bên cồn dâu. Đứa bé kia được đặt tên là Trọng Quyền. Cùng lúc, người ta báo tin ông chánh qua đời.
Tám ngày sau, thầy Trọng dời bàn thờ từ cồn dâu về đặt tại gian thờ riêng của mình ở nhà ông chánh. Người ta thấy xác hai con chó bập bềnh trên mặt sông.

***

Đúng vào ngày sinh nhật lần thứ mười bảy của cậu cả Trọng Quyền, thầy Trọng gọi riêng vợ nói:
-  Tôi và thằng cả phải làm lễ cúng tổ tiên bên nội ba ngày ba đêm trong gian thờ, bà nói với mọi người rằng tôi và con về thăm quê.
Tắm rửa xong, hai cha con cùng vào gian thờ và khép cửa lại.
Qua hai ngày nôn nóng chờ chồng con, đến trưa ngày thứ ba người vợ không còn kiên nhẫn được nữa. Sợ chồng con có chuyện chẳng lành, bà đẩy cửa gian thờ bước vào. Bà thấy hai cha con quỳ sấp mặt đối diện nhau, giữa họ là chiếc hộp gỗ mun, trong đó bà thấy một vật bằng ngà có hình dáng ngón tay người, phía trước hộp là đống giấy trích lục đất đai cao khoảng một gang tay. Ngước nhìn lên bàn thờ, bà rùng mình, bổng thấy ớn lạnh và một cơn đau khủng khiếp ập đến phát khởi từ đỉnh đầu rồi chạy dọc xuống sống lưng.
Chiều hôm đó, lần theo vết các mãnh áo tang bị xé vụn, người ta tìm thấy bà trần truồng nằm chết trên bãi cát ven sông, mặt úp xuống đất, đầu hướng về phía mộ ông chánh tổng.

***

Thầy Trọng dùng tiền của vận động làm chánh tổng và mua cho cậu cả Trọng một chức danh nhỏ của triều đình. Từ đấy dân làng gọi cậu cả Trọng là ông Hương Quyền. Ông Hương Quyền tướng mạo khôi ngô, có dáng của một quan võ kể từ ngày nhận sắc phong. Giọng nói oang oang khiến người nghe phải kính nể, nhưng không hề biết chữ nhất bẻ đôi là chữ gì. Cụ đồ già trong làng kể lại rằng những ngày dạy cậu học là những ngày nhục nhã nhất trong đời của cụ, bởi rằng sách vở thánh hiền luôn bị cậu ta dùng vào việc bài tiết hàng ngày, cho đến khi đống sách vở thừa cao đến bằng chiều cao của cậu thì cụ nói “Tôi bất tài“ rồi xin nghỉ dạy.
Hương Quyền nỗi tiếng là tham lam và sát gái. Hắn ta thường gạ gẫm các cô gái làng, sau khi thỏa mãn thú tính, hắn tặng cho vài bạt tai và đuổi về. Phần lớn các cô gái tự nguyện trao thân cho hắn mặc dù biết chắc hậu quả mình phải hứng lấy. Có đến mười một cô phải ôm mo cau bỏ xứ ra đi. Cả những bà vợ của các vị thân hào nhân sĩ trong làng cũng không cưỡng lại cái cơn cám dỗ quỉ ám đó, đến khi các ông phát hiện của cải và số trích lục trong nhà không cánh mà bay thì các bà vội vã biến thành những cái xác trôi bập bềnh trên sông. Và họ kiện lên quan.

***

Quan huyện là người có học và được triều đình chính danh bổ nhiệm. Vị quan này nỗi tiếng thanh liêm và cương trực. Sau khi điều tra, ông sai bắt Hương Quyền nọc giữa chợ, tự tay đánh đòn cảnh cáo và cho về.
Ngay ngày hôm sau, hai cha con thầy Trọng lễ mễ mang quà cáp đến dinh quan huyện xin lỗi và nhận tội. Nể mặt, quan huyện miễn cưỡng nhận chút quà gọi là lòng thành của vị chánh tổng. (Món quà mà cô con gái quan huyện thích nhất là chiếc kẹp tóc nạm ngọc. Vốn được trời ban cho một mái tóc dài mượt mà óng ả làm xao xuyến bao nhiêu trái tim các bậc chính nhân quân tử, lại được cài thêm chiếc kẹp tóc quý giá kia thì quả trên đời này không có mái tóc nào đẹp bằng).  Qua lại nhiều lần, họ trở nên thân thiết.
Các cô gái làng xinh đẹp thở dài tiếc nuối khi nghe tin Hương Quyền đi hỏi vợ. Người được chọn là con gái nhà ngài quan huyện. Ngày rước dâu, nhà trai cho rắc những bông huệ trắng dọc hai bên đường nơi kiệu của cô dâu đi qua. Cô dâu cười rạng rỡ trong chiếc áo cưới dài màu đỏ với mái tóc tuyệt đẹp khiến dân làng phải trầm trồ. Chàng rễ nhìn lên trời mỉm cười kỳ lạ dưới cái mũ đội đầu lạ kỳ mà dân làng được thấy lần đầu tiên.

Vợ Hương Quyền mang thai đến tháng thứ chín thì cải cách ruộng đất. Ruộng đất của các quan lại và địa chủ về-tay-nhân-dân. Thầy Trọng tiếc của thổ huyết chết ngay trong gian thờ, máu thấm vào các bản trích lục, rồi theo các rãnh thoát nước chảy ra ngoài, đầu của các dòng chảy ngóc lên như đầu con rắn hổ.
Vợ chồng Hương Quyền được chính quyền mới cho tá túc tạm và mang bàn thờ về ở mái nhà rách nát bên cồn dâu. Hai tháng sau người vợ sinh ngược. Trên trán bé trai có năm vết mờ mờ như năm dấu chân người.

IV-

Vợ chồng Trọng Quyền đặt tên cho con là Trọng Hải. Nhưng dân làng chẳng mấy khi gọi đúng tên. Họ thường gọi là thằng-triệu-tử-long khi lên đồng hoặc thằng-lên-cơn lúc bình thường.
Theo cha mẹ chèo đò, đánh cá trên sông nhưng Trọng Hải có dáng dấp của một thư sinh nho nhã. Không được học hành nhưng Trọng Hải lại thuộc làu các tuồng tích tàu hệt như diễn viên của các phường tuồng.
- Hôm nay là sinh nhật thứ mười bảy của con mình.  
Vợ ông Trọng Quyền nhắc chồng. Dù không yêu thương gì vợ, nhưng Trọng Quyền vẫn khen thầm là vợ mình đẹp. Bà vẫn còn dáng dấp của con nhà khuê các, nhất là mái tóc. Thời gian và nhọc nhằn càng làm mái tóc có sức sống và sự lôi cuốn riêng. (Trong làng có lắm người trở thành thi sĩ hoặc phải lấy vợ sớm vì mái tóc của bà).
- Biết rồi, bà ra sông đi, trưa nay không được về nhà.
Bà lửng thửng ra sông rồi một mình chèo đò về hướng chợ, định bụng mua cho con trai bộ quần áo mới và ít thức ăn cho các ngày sắp tới, nhưng sau khi buộc đò bước vào chợ bà mới biết mình không mang theo tiền.
Sau khi vợ ra khỏi nhà, ông Trọng Quyền bảo Trọng Hải:
- Con tắm rửa sạch sẽ rồi lên nhà trên ba có chuyện muốn nói.
Vén tấm màn của gian thờ, mở khóa rồi trao chìa cho Trọng Hải, ông nói: “Từ hôm nay con gánh vác trách nhiệm với Tổ tiên ta “. Chưa một ai được phép bước vào chốn cấm kỵ này, kể cả người vợ.
Trọng Hải đưa mắt nhìn lên bàn thờ, rùng mình hoảng hốt định chạy ra ngoài nhưng bị người cha giữ lại:

“Chớ sợ!“. Ngoài nồi hương và cặp chân đèn bằng đồng, giữa bàn thờ một có khung ảnh bọc bằng vải điều và được quấn quanh ba lần bằng thân một con rắn hổ, đầu rắn tựa vào cạnh trên của chiếc khung, phía trước là chiếc hộp gỗ mun lên nước đen bóng.
Trọng Quyền đứng trước bàn thờ, tay trái đặt lên vai, tay kia nắm lại vung cao thốt lên:
- Phaicươchobangđươđatnuvienam!
Rồi hai tay chắp trước ngực:
- Phaicươchobangđươđatnuvienam!
Và quỳ xuống:
- Phaicươchobangđươđatnuvienam!
Sau khi vái xong, ông đứng lên, bảo Trọng Hải lập lại các động tác mà mình vừa làm. Thật kỳ lạ, hắn vung tay, chấp tay, quỳ bái một cách thành thạo và đọc câu chú bí hiểm kia một cách mạch lạc tựa như hắn đã từng làm công việc này từ tiền kiếp.
Con rắn hổ cựa mình, đưa đuôi lên cao quấn vào thanh tre của mái nhà rồi giương cái đầu khủng khiếp về phía trước. Tấm vải điều của khung ảnh dần tuột xuống, một khuôn mặt đàn bà hiện ra. Bà ta có đôi lưỡng quyền nhô cao, cặp mắt nhỏ và dài, cái cằm nhọn đưa về phía trước, hai má tóp lại cùng những nếp nhăn ăn sâu vào như bị ai cào cấu.

Trọng Quyền mang hộp gỗ mun đặt trên chiếc chiếu trước bàn thờ, hai cha con quỳ xổm đối diện nhau trước chiếc hộp. Sau khi cả hai đồng thanh đọc câu Phaicươchobangđươđatnuvienam, người cha nhìn thẳng vào mắt người con rồi bắt đầu:
- Khi Trọng Thủy sang làm rể ở đất nước này theo lệnh của cha là Triệu Đà có mang theo một số người hầu. Sau khi thực hiện thành công nhiệm vụ cao cả, trên đường đi tìm Mỵ Châu về, ông bị thuộc hạ của Tướng Cao Lỗ giết và vứt xác xuống giếng. Vào đêm trăng sáng nọ, một trong các nguời hầu gái tò mò nhìn xuống giếng và bắt gặp khuôn mặt của ông Trọng Thủy ẩn hiện trên mặt nước, từ đó bà mang thai và mười một tháng mười ngày sau bà sinh một đôi nam nhưng chỉ sống được có một người. Đó là bà Tổ của ta. Triệu Đà hay tin bèn ban thưởng cho bà một vật quý.
Đôi mắt của ông tự hào hướng về bàn thờ rồi tiếp:
-  Ta chính là giòng dõi của người con trai đó. Còn đây là di vật linh thiêng nhất được chính tay bà truyền lại cho muôn đời con cháu về sau.
Kính cẩn mở nắp hộp, ông đưa cho Trọng Hải nhìn cái vật bằng sừng có hình dáng như ngón tay người, giọng thầm thì:
- Còn đây là chiếc móng rùa mà ông Triệu Đà ban thưởng cho bà tổ chúng ta. Chiếc móng này chữa được bách bệnh, cải tử hoàn sinh cho người gặp nạn; con không được dùng bừa bãi, chỉ được dùng khi công việc yêu cầu.
Công việc, nhiệm vụ cao cả linh thiêng của chúng ta là làm thế nào để cho Ông Triệu Đà mỉm cười nơi chín suối và cái kết quả công sức hy sinh của ông tổ Trọng Thủy được trường tồn.
Cha ông chúng ta đã thất bại nhiều lần nhưng ba tin có ngày sẽ được như ý.

Bất chợt có tiếng động lạ phía ngoài nhà. Con rắn hổ vung người bay ra. Tiếng hét kinh hoàng của người đàn bà làm tiếng ve râm ran trên cồn dâu ngưng bặt.
-  Sự việc phải xảy ra như vậy. Con đừng quan tâm, nghe ba nói tiếp. Trước đây trong lễ cúng, ông nội con đã dâng lên bà Tổ các văn tự, trích lục đất đai của xứ này cao đến một gang tay. Nhưng đó chỉ là vật phẩm tượng trưng cần thiết thôi. Bởi thời thế thay đổi nên hôm nay cha con mình đành phải mắc tội với tổ tiên.
Giọng ông trở nên sôi nổi:
- Từ xưa đến nay giòng họ ta mỗi đời chỉ sinh được một người con trai. Nhưng sự nghiệp của ta lại là sự nghiệp lâu dài, không phải ngày một ngày hai mà thành được. Con hãy lưu ý đến hiện tượng này: Nếu trong giai đoạn nào đó có người sinh được trên dưới mười người con, hoặc sinh đôi mà cả hai còn sống thì đấy là dấu hiệu tốt của chúng ta.

***

Ngay chiều hôm đó, ông Trọng Quyền lần theo và gom nhặt các mớ tóc vương vãi dọc theo bờ sông về hướng phía thượng nguồn, mang xác vợ mình về cồn dâu an táng.
Ba ngày sau ông tự tử, khó khăn lắm người ta mới mang được xác ông lên từ giếng bộng ở cuối làng. Kể từ đó, gã-lên-cơn bắt đầu lên đồng.
Trước giờ nhập quan ông Trọng Quyền, cùng lúc có tới mười một chiếc ôtô con cùng về làng. Mười một chàng trai xuống xe, họ tỏ ra ngạc nhiên vì đã quen biết nhau từ trước. Tất cả đều hoạt động kinh doanh và quản lý trong lĩnh vực đất đai, trồng rừng. Họ càng ngỡ ngàng hơn khi được biết bọn họ về làng đều cùng chung một mục đích.  Mười một bà đứng tuổi khoan thai bước xuống nhưng không ai dám nhìn thẳng vào ai. Sau một hồi tò mò quan sát, dân làng nhận ra họ chính là các cô gái đã ôm mo cau bỏ làng từ dạo nào.

***

Tuần vừa rồi nhân ngày cúp điện, tôi về thăm quê. Mau về quê kẻo có ngày hết quê mà. Hỏi thăm thì mới biết cái gã-lên-cơn-triệu-tử-long được một trong số mười một ông anh mang ra thành phố và bố trí làm bảo vệ ở một ban quản lý đền bù. Nghe nói về sau hắn được một đại gia có cỡ ở Hà Nội gã con gái cho vì đã có công cứu sống đứa con gái độc nhất của ông bị rắn độc cắn khi đi du lịch ở một khu sinh thái nào đó.

Chiều hôm qua đi dạo dọc theo bãi biển, tôi bắt gặp hai thằng cu nhỏ giống hệt nhau đang nghịch cát, chung quanh có vài ba gã khoanh tay canh chừng, chắc họ là người bảo vệ cho hai cậu sinh đôi kia. Rồi tôi nghe giọng Hà Nội dịu dàng của một cô gái:” Này, Trọng Trường, Trọng Hoàng, ta về thôi nhé, bố đang chờ đấy!”.
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Thu Sep 27, 2018 9:25 pm




Những Cánh Mai Trong Tách Trà

Trần Mộng Tú

Hà có cái thú thích tìm vào những tiệm bán đồ cũ. Đi tới một thành phố lạ, bao giờ Hà cũng liếc nhìn bên đường xem có tiệm nào kẻ cái bảng Antiques Store là nàng phải tìm thời giờ ghé vào.
Nàng thích chạm tay vào những cái chén trà, cái nón vải, cái áo len, cái dây đeo cổ, cái khung hình hay bất cứ một cái gì trong tiệm bán đồ cũ. Đối với Hà mỗi vật thể đó nó cất giấu cả một linh hồn thiêng liêng và bí mật.
Đôi khi cái mùi quần áo đã chạm vào da thịt lâu năm treo trong tiệm, làm nàng bị dị ứng, nhưng Hà cố bỏ nó sang một bên để chỉ nghĩ và tưởng tượng đến những hình hài đã khoác nó lên người. Cũng may, phần đông những tiệm đồ cổ của tư nhân ở những thành phố nhỏ nơi Hà đi du lịch qua họ ít bán quần áo, chỉ những tiệm có tính cách gây quỹ cho một charity nào đó mới có thôi.

Hôm nay đã cận tết lắm rồi, chỉ còn năm hôm nữa tết đến mà hai vợ chồng Hà còn lang thang ngao du ở Coeur d’alene, Idaho cách nhà bảy, tám tiếng lái xe. Hai vợ chồng chắc là phải thay nhau lái một mạch về nhà, dừng lại ăn đường, đổ xăng, thư giãn tay chân thôi, chứ không ngủ qua đêm nữa. Còn về nhà lo dọn dẹp bàn thờ, nhà cửa cho năm mới đang đến.
Hà nói với chồng:
Em vừa nhìn thấy cái bảng hiệu bán đồ cũ ở góc đường gần tiệm ăn, anh cho em ghé vào xem một chút rồi hãy ra xa lộ.
Đoàn biết ý vợ, cười dễ dãi:
Em thích thì vào, nhưng xe của mình không có chỗ cho em khênh cái gì to tướng về nhà đâu đấy nhé.
Tuy nói thế nhưng anh dư biết Hà chỉ thích đặt tay lên mấy cái vật cũ kỹ nhỏ bé, cầm lên để xuống, đứng tần ngần một lúc, rồi thôi. Nàng hay mua tách trà nhất, nàng đã có tới gần ba mươi cái tách khác nhau mua ở các tiệm đồ cũ rồi. Cái tủ chén ở nhà đã hết chỗ cho nàng chất thêm. Hà đã hứa nhiều lần sẽ không mua nữa, nhưng vào xem thì nhất định nàng phải vào mới hài lòng.
Hà dặn chồng ngồi ngoài xe đọc sách, “Em vào mười lăm phút, ra ngay.” Đoàn vui vẻ, ngả cái ghế thấp ra sau một chút mang mấy cuốn tạp chí ra đọc, đợi vợ.

Cái tiệm Antique này không lớn lắm, nhưng chất khá nhiều hàng. Hà cầm lên bỏ xuống ngắm nghía đủ mọi thứ. Mỗi thứ đẩy trí tưởng tượng nàng đi thật xa hiện tại. Sợi dây đeo cổ này chắc phải thuộc về một phụ nữ giầu có nào từ vài chục năm về trước. Những hạt đá đỏ thẫm lấp lánh được gắn vào sợi dây vàng rất mỹ thuật, tuy cái móc đã mất mà giá khá cao trong một của tiệm như thế này. Hà tưởng tượng ra nó được đeo vào một chiếc cổ mịn màng nõn nà như cổ con thiên nga. Người phụ nữ đó bây giờ ở đâu, nàng còn sống, da mồi, tóc bạc, cổ nhăn nheo và đang ở trong một khu nhà già hay nàng đã nằm ngủ vùi trong lòng đất? Cái khăn quàng cổ bằng nhung lam đã bạc màu, nhưng đường ren gắn ở hai đầu khăn thì không hề mất một sợi chỉ nào. Ai choàng chiếc khăn này trong một buổi dạ vũ nhỉ; đôi giầy bạc kia nữa, chắc nó đi vào một bộ với nhau nên người ta mới bày cạnh nhau. Hà nhìn thấy ngay hình ảnh của người con gái mới lớn, má đỏ môi hồng, đang ngã vào vòng tay người đàn ông nàng yêu trong một vòng luân vũ. Ô, còn những khung hình này nữa, có cái hình đã tháo đi chỉ còn lại khung, cũ kỹ và trầy trụa, có cái còn nguyên hình của một cặp vợ chồng mặc quần áo của thế kỷ có Nã Phá Luân; rồi cái này, hình em bé gái độ lên 10, với chú thích chụp năm 1911. Cả trăm năm rồi cơ à? Sao cái hình lại lưu lạc tới đây. Con cháu không giữ à?
Hà lan man bước len lỏi giữa những kệ hàng, cầm lên, bỏ xuống, thứ này thứ nọ, ngắm nghía và tưỏng tượng. Cuối cùng nàng cũng tới kệ bát đĩa. Chẳng cái nào đủ bộ cả. Bát lớn, bát nhỏ, đĩa và chén, ly thủy tinh nữa, chủ tiệm cứ xếp đầy lên kệ chẳng theo một thứ tự nào cả. Có những cái mới tinh, chẳng có dấu vết gì là đồ cổ. Nhưng có những cái trông lạ lắm.

Hà cầm lên một cái tách trà nhỏ, có cả đĩa bên dưới. Hà ngắm nghía, lật trước, lật sau, ngẫm nghĩ: “Tách trà này chắc của Trung Quốc hay Việt Nam”, vì Hà tự nhiên thấy nó thân thuộc quá, cả hai đều có men xanh thật nhạt và vẽ một cành mai vàng rất mỹ thuật. Trên tách trà, phía ngoài vẽ nguyên một cành mai thếp vàng, phía trong lòng tách vẽ hai bông mai rơi trong tách, không có lá, nét vẽ tinh xảo trông như hai bông mai đang nổi trên mặt nước. Ở chiếc đĩa nhỏ kèm theo một bông mai lớn trên một cạnh đĩa, đầy đủ năm cánh với những đường gân của cánh hoa. Hà tự nhiên thấy rùng mình vì cái tinh xảo của những cánh mai.
Bỗng một giọng đàn ông cất lên sau lưng làm nàng giật mình, tuy giọng nói đó nhẹ nhàng.
Bà nên mua cái tách này, nó đợi bà đến mang nó về đấy.
Hà quay hẳn người lại. Trước mặt nàng là một người đàn ông Á Châu, mặc dù cách phát âm tiếng Anh của ông khá giống như người bản xứ. Ông trạc ngoài sáu mươi, tóc bạc, hơi gầy, trông khá tươm tất, nhưng buồn buồn ở hai con mắt.
Hà chưa kịp nói gì thì ông ta đã nói tiếp:
Cái tách này ở trong một bộ sáu cái, hai cái lớn, bốn cái nhỏ, có ấm nữa. Nhưng do chiến tranh, cái thì mất, cái thì vỡ, cái ấm thì phải bán lúc cần tiền mua thuốc cho con. Khi hết chiến tranh, hết tù đầy, trở về, chỉ sót lại được có một cái nhỏ, may còn cả đĩa. Chủ nhân quý nó lắm, nhưng khi ông ta mất đi, con cái mang vật dụng của ông đem cho, nó cũng bị vứt chung trong đó. May mà không bị sứt mẻ gì.
Hà lơ đãng không để ý lắm đến lời ông kể lể, nàng còn mải chú ý nhìn giá tiền ghi, thấy hai mươi đồng. Nàng nghĩ thầm, mọi khi mình mua những cái tách lẻ ở tiệm đồ cũ như thế này, thì giá cao lắm cũng chỉ khoảng mười lăm đồng thôi.
Như đoán được ý nghĩ của Hà, người đàn ông nói:
Tôi biết là giá cao, nhưng tôi cứ để như thế cố ý không muốn ai mua, để chờ bà. Tôi sẽ hạ xuống mười lăm đồng thôi. Bà cứ lấy đi.
Hà vẫn cầm cái tách cái đĩa bằng cả hai tay. Nàng thấy nó đẹp quá, nếu ông chủ tiệm muốn bán hai mươi đồng thì nàng vẫn mua.
Nàng nói: Cám ơn ông, chắc chắn là tôi mua rồi. Tôi thích sưu tầm tách trà lạ và đẹp. Cái tách trà này tôi nghĩ là đẹp nhất trong số tách tôi có ở nhà.
Người đàn ông mỉm cười, nói xã giao mà như thật: Tôi biết hôm nay bà sẽ ghé qua đây, tôi đợi suốt từ sáng đến giờ để trao nó cho bà, vì bà biết nhìn ra cái giá trị của nó. Trao được nó cho bà tôi rất yên tâm. Người đàn ông nói xong, rút cái bút trên túi áo ra, sửa lại giá tiền của cái chén, rồi lại nói: Chắc ông nhà đang chờ bà ngoài xe. Chúc bà về nhà bình an. Bà còn về lo sửa soạn đón năm mới. Năm nay bà có cái tách mai vàng cho chén trà đầu năm, sẽ may mắn nguyên năm.
Vâng, cám ơn ông, chắc ông cũng ăn Tết phải không? Ông là người Hoa hay người Việt. Người đàn ông chỉ mỉm cười, không trả lời câu hỏi của Hà, đưa tay chỉ nàng ra chỗ quầy tính tiền.
Hà có cảm tưởng ông chủ tiệm này như một người mà nàng đã biết từ lâu lắm rồi. Nàng cố tìm trong trí nhớ xem ông ta có phải là bạn của cha mẹ mình không? Chắc là không? Vì cha mẹ Hà đã mất trên hai mươi năm rồi và khi mất cũng bằng trạc tuổi ông này bây giờ, thì làm sao mà họ là bạn với nhau được. Còn nữa, ông này chắc gì là người Việt. Cách phát âm tiếng Anh của ông ấy cho Hà biết ông ấy không phải đồng trang lứa với cha mẹ nàng.

Hà đặt chiếc tách trà lên quầy tính tiền, cô thâu ngân tóc vàng nhìn giá tiền trên cái tách trà, hơi cau mày lại.
Cô nói trống không: Lạ nhỉ, cái tách trà này, ông chủ tôi đề giá là mười lăm đồng, nhưng khi nào tôi ra thu dọn, lau bụi tôi cứ thấy bị sửa lại là hai mươi đồng. Vì giá cao nên chẳng ai mua. Bây giờ bà mang ra đây nó lại trở về giá mười lăm đồng.
Hà cười nói:
Số tôi may, hôm nay chính ông chủ thấy tôi cũng là người Á Đông nên ông bớt cho tôi năm đồng, ông ấy lấy bút mới sửa tức thì đấy.
Cô thâu ngân tròn mắt:
Ở đây làm gì có người Á Đông nào. Chủ tiệm là người Mỹ, tôi cũng là người Mỹ, hơn nữa ngày hôm nay chỉ có mình tôi ở đây, ông chủ bận không ra được. Bà có đùa cho vui không đấy?
Hà nghe lạnh buốt sau lưng. Nàng quay đầu lại, cố nhìn về phía kệ để bát đĩa, tuyệt nhiên không có bóng một ai, sát sau lưng kệ là bức tường ngang, chẳng có cánh cửa nào. Thế người đàn ông đó ở đâu ra? Nàng im lặng hấp tấp trả tiền rồi đi như chạy ra xe.

Suốt trên đường về nhà, Đoàn lái xe, ngưng lại, nghỉ giải lao. Hà cứ im lặng, chỉ trả lời những khi Đoàn hỏi làm Đoàn phải ngạc nhiên tưởng Hà bệnh.
Em sao vậy, em bệnh à?
Không, em không sao cả. Hà nói dối.
Nàng đang hoang mang không biết cái ông Á Đông nói chuyện về cái tách trà hoa mai ở đâu ra. Tiệm chỉ có bốn bức tường, không phải là một cái nhà ở, nơi đó không có thêm gian nào ngoài gian bán hàng. Mà sao ông ấy lại sửa giá tới, sửa giá lui để chờ nàng tới mua. Sao ông biết nàng sẽ tới.
Bỗng Hà thấy đau quặn ruột, nàng nghĩ ra rồi. Ông ấy là người Việt Nam. Ông ấy đã đi qua chiến tranh, qua mất mát, qua tù đầy, qua Mỹ và qua đời rồi. Cái tách trà này trước đây là của gia đình ông. Ông muốn trao cho một người biết trân quý nó. Hà ôm chặt cái gói giấy vào lòng, nước mắt ràn rụa.
Nàng đã nói chuyện với một hồn ma, một cái hồn tha hương thất lạc tìm về quá khứ trong những ngày cuối năm.
Đêm ba mươi, Hà thắp nhang, pha trà để lên bàn thờ cha mẹ xong, nàng mang cái tách hoa mai vàng ra, cầm lên ngắm nghía. Hà thấy lòng nàng nao nao xúc động, nghĩ đến người đàn ông Á Đông trong tiệm đồ cũ. Ông có thật hay không? Hay nàng chỉ tưởng tượng ra vào những ngày cuối năm âm lịch, những ngày mà hồn nàng chao đảo nhất.
Nàng xót xa lan man nghĩ tới những người đàn ông Việt Nam đã đi qua chiến tranh, qua tù đầy, qua một nước khác không phải quê hương mình để sống nốt những ngày còn lại rồi qua đời ở quê người. Toàn là những vượt qua thống khổ, ngậm ngùi.

Nàng rót trà vào cái tách hoa mai, cúi xuống, nói nho nhỏ:
Xin mời ông ngụm trà đầu năm trong cái tách mai vàng gia bảo này.
Hà đợi cho tàn hết một tuần nhang, mở cửa ra trước hiên nhà, cầm tách trà rót xuống mặt đất tân niên.
Những cánh mai trong tách như theo nhau trôi vào lòng đất.

Trần Mộng Tú
Giao Thừa Giáp Ngọ 2014
Nguồn: http://etruyen.com
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Sun Sep 30, 2018 7:35 pm

.

Lời Nguyền
Khái Hưng (1896-1947)


Đồ sộ, chót vót trên đỉnh đồi cao, đồn Vụ-bản hách dịch nhìn xuống con đường đá nối Nho-quan với Hòa-blnh. Trên một quả đồi đối diện và thấp hơn, khu trại giam chính trị phạm náu mình trong hàng dậu dầy nứa nhọn và hai hàng cọc chăng giây thép gai. Phía dưới là một cái thung lũng nhỏ với con sông Vành quanh co uốn éo như con rắn dài vận khúc bạc lướt mình trong cỏ hoang, rừng rậm. Bên kia sông là phố và chợ Trào, dăm chục nóc nhà vừa lợp ngói vừa lợp tranh quây vuông lấy bốn cái quán gạch trống rỗng.

Xa xa về phía Tây Nam, dẫy núi Hoành Sơn sừng sững như một bức thành kiên cố đứng ngăn. Buổi sáng nó chìm biến vào trong sương dầy trắng đục, buổi chiều nó lờ mờ trong sương lam bốc lên như khói. Buổi trưa nó lấp lánh ném ánh bạc của những cây ngân diệp mọc bên sườn. Về phương Đông bắc, và chỉ xa chừng dăm cây số, một quả đồi cao và dài đứng án ngữ như một bức bình phong. Quanh đó những núi đá trắng và đen mọc lởm chởm, với những hình thù cổ quái. Còn phía Tây bắc là những đồi rậm liên tiếp những rừng sâu, cỏ sắc bao vây lấy từng khu ruộng nhỏ hẹp và dài.

Vùng ấy hằng ngày yên ngủ để chờ đợi những hồi kèn rời rạc báo giờ từ vòm đồn tỏa xuống, cả những hôm phiên chợ tắp nập, nó cũng yên lặng buồn tẻ với những người Mường ít cười ít nói: Họ lững thững gánh gạo, gánh măng, gánh lợn, gà, vịt, ngỗng ra chợ bán, rồi lại lững thững trở về làng vời một ít muối và các thức đồ dùng của người Kinh đem từ vùng xuôi lên. Họ như chán nản, chả buồn mặc cả nài giá bao giờ.
Cái trạng thái u huyền giữa một cành thiên nhiên hùng vĩ, khiến Khanh, một tù nhân chính trị, tưởng tượng ra một thần bí gì rùng rợn ngày đêm bay lượn trên không để đe dọa vùng này. Một hôm vác ống bương ra suối lấy nước, y ngỏ ý nghĩ đùa bỡn ấy với người lính kèn. Thì kinh ngạc xiết bao, người kia hãi hùng se sẽ đáp lại:
- Phải, một lời nguyền.
Người lính cũng chỉ thốt ra một câu vắn tắt. Rồi như khiếp sợ một cái gì có thể sắp xảy tới, y im bặt.
Đêm hôm ấy trong khi nằm lịm trên giường lát nứa, nghe bài kèn tám giờ, Khanh lại liên tưởng đến người lính kèn và câu chuyện đương tò mò khao khát muốn biết: Một lời nguyền! Bài kèn buồn rời rợi với những âm thanh trầm trầm như những lời ai oán của lòng người sau bao phen uất ức! Hay đó là lời nguyền đêm đêm lên tiếng làm vang động làn không khí âm u nơi đồi núi?
Tà tà ta ta tí a ta ta...

Lời nguyền của những kẻ bỏ xác nơi ma thìêng nước độc chốn sơn lâm? Mới tuần lễ trước Khanh đi đưa một người bạn giam đến nơi yên nghỉ cuối cùng: bên sườn đồi dưới bóng một cây lao xao cành lá rườm rà luôn luôn thì thào lời oán trách trong gió thoảng qua. Trong đám dân Kinh bên phố, cũng như trong hàng ngũ binh lính bên đồn và anh em chính trị trong trại giam, thỉnh thoảng lại một người từ giã cõi nhân gian, sau những cơn sốt nóng sốt rét mê sảng. Phải chăng họ đáp lại tiếng gọi thìêng liêng, của một lời nguyền độc địa tự đời nào vang lại?
Hồi kèn đã dứt. Từ đó, trong tiếng thanh sắt trên đồn, tiếng mõ tre ở các điểm canh, Khanh đều cảm thấy có liên can tới cái lời nguyền ghê gớm nào đó của người xưa. Qua kẽ rào nứa, một vài chấm lửa bên sông còn le lói, lập lòe. Đó là những dấu hiệu mong manh của sự sống trong một vùng như chết lịm dưới màn sương. Khanh ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Và y mê thấy con thành đanh đỏ mỏ từ trên trời cao bay sả xuống mổ vào ngôi mộ người bạn đồng trại, chơ vơ bên sườn đồi dưới bóng cây lao xao ủ rũ.

Nhưng câu chuyện «Lời nguyền » một hôm Khanh đã được người linh kèn thuật lại cho nghe trong cái lều canh lúa của người Mường.
Sáng hôm ấy, ra tới suối, Khanh thấy hiện ra một cảnh tượng rất nên thơ: Bên kia dịp cầu tre, trong một khu ruộng khô đất nhỏ, sáu cô Mường, áo cánh trắng xiêm dài xanh đương chậm rải gieo ngô. Từng đôi, người đi trước cầm cây hóp uể oải chọc xuống đất một lỗ, người theo sau uể oải bỏ rơi vào đó một hạt ngô. Họ đi thong thả, làm việc rời rạc như biểu diễn trên sân khấu cho khán giả ngắm nghía cái điệu bộ nhịp nhàng của họ. Ngồi trên lều cao, hai chân quấn « xà cạp » đá đưa đánh dịp, Chín-bảy - tên gọi tắt con số 1297 của người lính kèn - đương phùng má thổi bài « la mát ». Xúm chung quanh y, trên các bực thang bốn cô Mường lắng tai kính cẩn ngồi nghe.
Thấy Khanh đến gần, Chín-bảy vội rời cái kèn, bước xuống đón tiếp, vẻ mặt rạng rỡ, dáng bộ dương dương đắc chí như một con gà sống giữa đám gà mái tơ vậy. Trong khi hai người nói chuyện, các cô Mường chỉ mỉm cười yên lặng đứng nhìn. Hỏi câu gì các cô cũng làm thình không đáp. Chín-bảy bảo Khanh:
- Các nàng chỉ biết có hai việc: cười và hút thuốc lào. Rồi anh xem!
Quả nhiên lúc y đi lấy một cái điếu cầy lớn đem ra bỏ thuốc đánh diêm hút, tức thì cả mười cô đều bỏ việc cười rú lên, chạy ùa lại. Họ xếp thành một vòng tròn, lần lượt truyền cho nhau cái điếu cầy miệng rộng che kín nửa mặt mà rít từng hơi dài. Hết mồi thuốc ấy thay mồi thuốc khác, cái điếu đi vòng tới vài chục lần và bao diêm đánh đã gần cạn. Và cô nào cô ấy ngây ngất mỉm cười đầu lảo đảo.

Khi các cô nàng lại quay về với công việc gieo ngô của họ, Khanh theo Chín-bảy lên lều ngồi nói chuyện, và vui vẻ hỏi đến việc gia thất của người bạn quân nhân.
- Tôi đã có vợ ở vùng xuôi, y đáp, nhưng thế nào rồi tôi cũng phải lấy một người vợ nữa ở trên này.
Và y thêm: «Cũng như phần đông anh em «nhà binh » ở đây. Đó là một việc bất đắc dĩ».
- Việc bất dắc dĩ? Khanh hỏi, nghĩa là không được phép đưa vợ con ở vùng xuôi lên đây?
- Không phải không được phép, nhưng vì đã có lời nguyền.
Khanh bỗng thấy rùng rợn. Người lính kèn lại nhắc tới « lời nguyền » ghê gớm. Chưa kịp hỏi thêm, thì Chín-bảy đã đưa mắt âu yếm nhìn theo các cô nàng áo trắng xiêm xanh hoạt động dưới trời thu mà kể cho bạn nghe câu chuyện tương truyền trong hàng đội ngũ.

Ngày xưa, thời còn chưa chịu phục tòng người Pháp, dân Hoa-bình chỉ vâng theo mệnh lệnh của các quan lang; người Kinh cũng ít khi lên vùng này buôn bán. Đi bắt buộc dân Mường phải theo pháp luật của mình và đóng các thứ thuế như dân Trung châu, một mặt người Pháp đưa những ông quan lang có thanh thế nhất trong các họ lớn, như họ Đinh, họ Quách ra làm chánh quan lang hay tuần phủ đứng cai quản tỉnh Hoa-bình, một mặt họ lập nên những đòn binh kiên cố ở khắp các yếu điểm trong địa. hạt với những toán lính khố xanh Trung Châu không biết tiếng Mường, không thuộc phong tục Mường. Mục đích của họ là để đàn áp dân Mường và để tránh sự thân thìện giữa nhà binh và dân bản xứ.
Đồn Vụ-bản là một trong những đồn binh kiến thìết theo chương trình thống trị. Nó án ngữ con đường Nho Quan - Ninh Bình. Và đóng giữa giang san họ Quách, nó lại có thể kiểm soát những hành động của những ông quan lang có oai quyền ấy.
Với những nhiệm vụ to tát như thế, viên quản mà người Pháp tín nhiệm cho về coi đồn, ta có thề tưởng tượng hách dịch đến bực nào.

Có một ông, ông quản Tăng, không những hách dịch, mà còn bệ vệ và ăn ở hành động theo lối Âu Tây y như một quan binh Pháp vậy. Y nằm giường Hồng kông, ăn cơm tây. Lúc nào sang phố y cũng đóng trào phục mới với hàng huy chương rực rỡ trên ngực. Tay y cầm roi da, quay tít, miệng y huýt sáo một điệu âm nhạc nhà binh. Một con chó tây kếch sù đi bên cạnh y; gặp nhà nào quen thuộc của chủ nó là nó chạy sồng sộc vào khiến lũ trẻ hết cả hồn vào bảo nhau:
- " Quan quản! »
Quan quản! Tiếng ấy oai vệ như tiếng quan Sứ ở tỉnh vậy. Quan quản là chúa tể vùng này. Quan châu, một quan lang, đối với y, chỉ như một công chức bản xử đối với quý quan. Bao nhiêu công việc trọng đại đều ở trong tay quan quản: như thu thuế thợ, thuế đò, thuế thân, thuế điền. Quan châu chỉ là một người giúp việc.

Nhưng tiếng «quan quản» hình như cũng chưa vừa lòng y. Một hôm, người ta không hiểu vì đâu, tiếng ấy bỗng đổi ra « quan đồn » rồi cứ theo cái đà ấy, chẳng bao lâu nó lại biến chuyển thành « Cụ lớn ».
Cụ lớn hét ra lửa! Bao nhiêu là môn hạ! Suốt ngày thì thọt trong đồn những kẻ nấp bóng Cụ lớn. Thôi thì chẳng thìếu gì lễ lạc, tết nhất, mùa nào thức ấy. Dùng không hết, « Cụ lớn » phân phát cho binh lính.
Về nhậm chức mới được hai tháng, quan quản đã lấy một cô nàng hầu người Kinh con một thương gia có tiếng bên phố chợ. Rồi cách đó nửa năm quan lại kén luôn một lúc hai cô nàng hầu người Mường nữa.

Cái việc lấy nhiều vợ ấy cũng không tốn kém gì cho quan vì bọn họ đều là con nhà khá giả. Có một điều khiến họ lo lắng sợ hãi, mỗi khi tưởng tới: "Là chẳng chóng thì chầy thế nào bà lớn quản cũng lên đây thăm chồng. Lúc bấy giờ nếu cái tin vợ nọ con kia đến tai bà, thì liệu bà có để cho yên không." Mà cứ theo lời huyên truyền và lời nói úp mở của quan quản thì bà là con nhà thế gia đại tộc. Ông thân sinh ra bà làm Tổng đốc và đã hồi hưu. Người ta khen: «Thực là môn đăng hộ đối!» Vì quan quản nghe đâu cũng là con một vị đường quan. Y thường kể chuyện thời niên thìếu của y cho mọi người nghe. Nhà y giàu sang và y rất được chiều chuộng. Mới mười hai tuổi y đã cưỡi ngựa, bắn súng, và chỉ thích có một nghề binh. Vì thế lớn lên y đã bỏ học để nhập ngũ «làm quan quản » chơi. Bao giờ đến đoạn này y cũng thêm: « Làm quan văn thì biết bao giờ lên đến ngũ phẩm, thế mà làm quan võ tôi mới ngoài ba mươi tuổi đã chánh tam rồi!».
Có lần y tưởng tượng ra cả một thìên tiểu thuyết để tả cái gia thế nhà y, bịa đặt ra những nhân vặt đẹp đẽ và các phương diện ăn chơi hào phóng hay đạo mạo nho phong. Người được y tả tĩ mỉ chu đáo nhất là Cụ cố và Bà lớn. Cụ cố là một hưu quan chỉ thích đánh tổ tôm và uống chè tàu. Cụ ở một cái nhà lầu kiến trúc kiểu Tây. Trước mặt là cái vườn hoa trồng đủ các thứ hoa quý và lạ. Trên giàn thì treo đủ các thứ phong lan đi kiếm từ các miền Thượng du đem về. Còn Bà lớn thì tính rất tốt rất rộng lượng, để mặc quan lớn muốn yêu ai thì yêu. Một mình bà lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng thượng đẳng điền, người ăn người làm tấp nập quanh năm, nên không rảnh rang mà lên thăm quan được. Nào đã hết đâu, quan lại còn có một người em trai đã đậu tú tài tây và đương theo học trường Luật và một người em gái nhan sắc tuyệt trần hiện còn đương kén chồng. Tóm lại nhà quan lớn là một nhà danh giá và sung sướng vào bực nhất ở Bắc Hà.

Một buổi sáng người ta thấy đến phố chợ Trào một ông già râu tóc hoa râm và một người đàn bà vào chạc ngoài ba mươi tuổi. Cả hai đều y phục quê mùa, ông lão mặc cái áo cánh đũi nhuộm vỏ xó và một cái quần nâu sắn cao đến đầu gối. Người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu bã với miếng đổi vai bằng lụa thâm, một cái váy chồi nhuộm bùn và một cái yếm trắng cổ xẻ với hai giải màu hoa hiên đã cũ.
Họ hỏi đường sang đồn, xuống phà qua sông, khó khăn nặng nhọc leo cái dốc cao, gồ ghề. Được một quãng ông già lại đặt cái tay nải nâu xuống ngồi hổn hển và thì thầm nói chuyện với người kia. Đứng trên vòm canh, người lính gác nhìn theo họ và nghĩ thầm: «Lại một ông già và một mẹ đi lên thăm con thăm chồng.»
Đương gò lưng leo nốt đoạn cuối cùng của cái dốc dài tưởng không bao giờ đến đỉnh, thì hai người bỗng dựt mình vì mội tiếng hô lớn từ trên vòm chòi ném xuống. Họ ngửng đẫu sợ hãi nhìn lên.
- Hai người nhà quê hỏi ai?
Không phải vì hai người kia ăn mặc quê mùa mà người lính gọi họ là «nhà quê.» Đối với quân đội, vì thói quen bắt chước người Pháp, chỉ có ba hạng người Việt Nam: nhà binh, nhà pha, và nhà quê. Những người không phải nhà binh và nhà pha đều là nhà quê. Vì thế, một thìếu nữ y phục tân thời, nếu nghe một chủ lính canh kêu là «nhà quê» thì đừng nên lấy làm lạ và phật lòng.
- Thưa thầy, chúng tôi vào thăm ông quản.
Người lính hỏi lại để chữa câu nói hỗn của bọn nhà quê:
- Vào hầu quan có việc gì?
- Bẩm chúng tôi là người nhà.
Chú lính canh cho người vào trình quan. Một lát sau người này ra cổng hách dịch quát:
- Người nhà thế nào mới được chứ?
- Bẩm bẩm tôi là... tôi là..., Người đàn bà thấy ông lão ấp úng lúng túng liền đỡ lời:
- Thầy vào trình hộ rằng có ông cụ và người đàn bà ở nhà quê ra thăm.
Người lính gắt:
- Ông cụ! Nhưng ông cụ có họ hàng thế nào với quan?
- Thưa ông cụ... sinh ra quan, còn tôi là vợ... quan.

Người lính hơi có vẻ sợ hãi vội vàng quay vào đồn, thì vừa gặp ông quản đứng trong sân ngó nhìn ra hỏi;
- Hai bố con lão nhà quê đến xin gì thế chú?
- Bẩm, bẩm quan...
Người lính không dám nói dứt câu.
- Đuổi cổ chúng nó ra!
Câu quát tháo to quá khiến ông già và người đàn bà cũng nghe thấy. Và nhân lúc cổng đồn mở, họ xông vào trong sân. Thấy thế viên quản liền thét:
- Bọn nhà quê kia đi dâu? Có biết nơi này là gì không mà dám xông xáo hử? Mất đầu như chơi, biết chưa? Tống cổ chúng nó ra!
- Tăng! Anh Tăng!
Ông già và người đàn bà chỉ kêu được một tiếng thì đã bị hai người lính đẩy bừa ra khỏi cổng đóng sập cánh cửa lại.

Ông lão già và người đàn bà lại lủi thủi xuống dốc. Họ cùng uất ức đến cực điểm nên không ai nói với ai một câu, cả hai cùng chôn sâu nỗi căm hận trong lòng.
Ở chân đồi, ngay bên sông, có một ngôi đền thờ Mẫu. Người đàn bà mua vàng hương vào lễ, quỳ khấn rất lâu, thì thầm kể lể hết nỗi niềm tâm sự với Mẫu. Khi ra đường, nàng thấy bố chồng vẫn ngồi y nguyên một chỗ, mắt đỏ ngầu đăm đăm nhìn giòng sông chảy mạnh, quay nhanh cái guồng nước sừng sững in lên nền trời trong.
- Thôi đi về, thày!
Ông già thong thả đứng dậy. Nhưng ông đi rẽ xuống ruộng chứ không qua phà. Ông bảo con dâu:
- Tao không muốn gặp người lái phà, vì tao đã trót bảo cho nó biết rằng tao là bố thằng Tăng.
Người đàn bà cũng lẳng lặng đi tbeo ông. Hai cha con, men bờ ruộng sang một khu rừng lao xao, qua một cái cầu tre bắc trên suối, rồi đến ngồi nghĩ ở một bãi cát sỏi bên sông. Sau trận mưa to đêm hôm trước nước nguồn kéo về chảy ào ào như thác. Những thân cây từ rừng đổ về nổi lềnh bềnh, và bị giòng nước phăng phăng cuốn đi.
- Dẫu sao thì cũng ăn nắm cơm cho đỡ đói đã thầy ạ..
- Mày cứ ăn trước đi. Tao không đói.

Ông già đứng lên, ra sát bờ sông đứng vịn vào mộr thân cây lao xao. Bỗng ông nghiêm nét mặt dữ tợn nhìn giòng sông, thốt lời nguyền độc:
«Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng thăm con thì chết như thế này».
Dứt lời ông gieo mình xuống sông tự tử. Và thân ông cùng với các thân cây, bị nước nguồn vô tình cuốn đi...

Từ đó lời nguyền vẫn thìêng. Những người cha, người vợ lên đây thăm con, thăm chồng, khi trở về đều ốm nặng rồi chết.
Và những binh lính trên đồn, những dân Kinh bên phố đều sống dưới sự đe dọa và sự thực hiện của lời nguyền.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Wed Oct 03, 2018 8:32 am



Bí Mật Của Nhà Ngoại Cảm
Truyện Ngắn – Sơn Tùng   

Vụ cháy ngôi biệt thự Hồng Dương vào ngày Mùng Một Tết không chỉ làm chấn động thành phố Đà Lạt mà còn gây xôn xao cả nước. Ngay sau khi hỏa hoạn xảy ra, các cơ quan an ninh và thông tin văn hoá đã nhanh chóng làm nhiệm vụ, ngăn chặn việc phổ biến tin này, nhưng chỉ ngày hôm sau, trong hệ thống đảng, từ trung ương tới các cấp bộ địa phương, mọi người đều hay biết với những tin tức khá đầy đủ.

Ngôi nhà hai mươi phòng của tướng Vũ Sơn đã bốc lửa vào lúc nửa đêm Mùng Một Tết, cháy cho đến chiều hôm sau, khói vẫn còn âm ỉ bốc lên từ những gì còn lại. Sở Phòng Cháy Chữa Cháy thành phố đã huy động tất cả phương tiện cơ hữu để cố đàn áp ngọn lửa nhưng chính họ đã bị ngọn lửa đẩy lui để bảo vệ khu rừng thông bên ngoài và các ngôi nhà chung quanh khỏi bị cháy lan.

Thiệt hại vật chất rất to lớn, chưa thể biết chính xác. Bốn năm trước, Thượng tướng Vũ Sơn đã cho khởi công xậy dựng ngôi biệt thự này trên một đồi thông nhìn xuống Hồ Tuyền Lâm thơ mộng. Việc xây cất đã kéo dài hai năm mới hoàn tất với những vật liệu hiếm quý đắt tiền, với những tiện nghi xa hoa hiện đại. Các phòng ốc được trang trí với những báu vật mà Biệt điện của Vua Bảo Đại trước đây cũng chưa có. Tất cả nay đã thành tro than.

Nhưng thiệt hại nhân mạng cũng rất hãi hùng. Sau cơn tung hoành của lửa khói, khi các nhân viên chữa cháy đầu tiên vào được bên trong, họ đã chứng kiến một cảnh tượng giống như nơi đây vừa là mục tiêu của một trận pháo kích. Quá nhiều xác chết. Xác chết rải rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất là tại căn phòng lớn được gọi là “hội trường”, nơi tổ chức những cuộc liên hoan, ca vũ.

Khi hỏa hoạn xảy ra, căn phòng này có khoảng năm mươi người đang tham dự tiệc liên hoan đầu năm. Vợ chồng tướng Vũ Sơn và người con trai, tổng giám đốc một công ty vận chuyển, cũng nằm trong số nạn nhân. Những nạn nhân khác đều là những người có quyền thế và có nhiều triệu đô-la mà ngôn ngữ thời thượng gọi là các “đại gia”, không những chỉ ở Đà Lạt mà còn từ Hà Nội và Sài Gòn lên đây ăn Tết do lời mời của gia chủ.

Nguyên nhân gây ra vụ hỏa hoạn chưa được biết rõ, nhưng đã có lời đồn về một nghi án đốt nhà vì người ta ngửi thấy mùi xăng và tìm thấy vài tang vật đang được phòng giảo nghiệm khoa học hình sự phân tích để phanh ra manh mối.

Những thám tử giỏi nhất từ Hà Nội đã được phái tới Đà Lạt để tăng cường cho Sở Công an thành phố mở cuộc điều tra. Nhưng càng điều tra người ta càng có thêm nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời. Nếu đây là một vụ đốt nhà thì thủ phạm là ai? Làm cách nào hắn đã đột nhập ngôi biệt thự có nhiều hệ thống an ninh mà không bị phát hiện? Ai đã khóa trái các cửa “hội trường” khiến không một người nào có thể thoát thân? Cuộc điều tra càng trở nên phức tạp khi phòng giảo nghiệm khoa học hình sự xác nhận những vật liệu gây cháy là của quân đội và thủ phạm phải là người ở trong quân đội hay đã từng là bộ đội. Và cuối cùng, động cơ của vụ đốt nhà táo bạo này là gì?

Nhiều người đã bị điều tra, thẩm vấn. Cuối cùng, sáu tháng sau, công an đã bắt một người không ai ngờ: nhà ngoại cảm Phan Quang Thế.

Ông Thế đã nổi tiếng khắp nước từ mấy năm nay như một người có “ngoại cảm” với cõi âm, có thể nói chuyện được với những linh hồn ở thế giới bên kia, và đã giúp nhiều gia đình tử sĩ tìm được hài cốt người thân bị vùi chôn đâu đó trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam đã qua.

Ngoài 60 nhưng nhà ngoại cảm Phan Quang Thế trông già hơn tuổi, với mái tóc bạc phơ thưa thớt trên đầu, với cặp kính lão ít khi rời khỏi đôi mắt nhỏ trên gương mặt trầm tư mang nhiều nếp nhăn. Ông có thân hình mảnh khảnh và chân đi khập khiễng, nghe nói do một tai nạn lưu thông đã lâu. Ông ít nói và nghe giống như giọng những người miền Bắc mới vào Nam sau ngày chiến tranh chấm dứt, nhưng ông Thế cho biết ông là dân “Bắc di cư” năm 1955.

Từ khoảng giữa thập niên 1990, ông Thế làm việc tại tiệm hớt tóc “Thời Danh” ở khu Ngã Bảy, Sài Gòn. Gọi là “tiệm” nhưng “Thời Danh” chỉ là một cái chái nhỏ trong con đường hẻm được che bằng vài miếng tôn dựa vào bức tường một căn phố ba tầng, và có hai ghế cho khách hớt tóc. Người chủ tiệm làm một ghế và ông Thế một ghế. Ông ta khéo tay và làm việc cần mẫn nên có nhiều khách.

Tiệm hớt tóc là nơi hàng ngày thu nhận nhiều tin tức thời sự, do khách đem tới, và cũng là nơi phát đi nhiều tin tức, do thợ hớt tóc truyền ra, nhưng ông Thế chỉ nghe nhiều hơn là nói. Ông ta có đời sống thầm lặng và kín đáo. Không ai biết nhà cửa ông ở đâu và gia cảnh ra sao. Khi có người hỏi thăm, ông chỉ nói quấy quá là sống độc thân với một người bạn già cùng cảnh ngộ.

Khi những câu chuyện về các nhà “ngoại cảm” được loan truyền, tiệm hớt tóc “Thời Danh” cũng là nơi thu nhận và phát đi nhiều tin tức nóng hổi, và khác với thường lệ, ông Phan Quang Thế có vẻ quan tâm và hỏi han tìm hiểu.

Vài tháng sau, ông Thế bỏ nghề hớt tóc và không còn xuất hiện ở khu Ngã Bảy. Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi những người thường lui tới tiệm “Thời Danh” không còn nhắc nhớ đến ông thì có tin ông đã trở thành một nhà “ngoại cảm” sau khi tiếp thu một phép lạ khiến ông có thể nói chuyện với những linh hồn và đã giúp tìm được nhiều hài cốt của những bộ đội chết trên chiến trường miền Nam trước đây. Những vụ này đã được tường thuật trên báo chí với tên tuổi và đầy đủ chi tiết của từng vụ, kèm theo hình ảnh. Đây là những chuyện có thật mà những người chứng kiến không thể nghi ngờ và khoa học cũng không thể giải thích. Có những cán binh từ miền Bắc vào chết mất xác trên rừng núi miền Nam hơn ba mươi năm trước đã được ông Phan Quang Thế tìm ra hài cốt và được gia đình xác nhận đúng là thân nhân của họ sau khi thử nghiệm DNA.

Ngay đến giới lãnh đạo Đảng Cộng sản và nhà nước, những con người theo chủ nghĩa vô thần, những kẻ gọi tôn giáo là thuốc phiện và xem bói toán, thờ cúng là dị đoan lừa gạt, cũng không thể bác bỏ những chuyện sặc mùi mê tín này và họ trở nên hoang mang, sợ hãi, vì biết đâu với khả năng nói chuyện được với những người ở cõi âm, các nhà “ngoại cảm” chẳng có thể tung ra những câu chuyện tác hại liên quan đến những lãnh tụ đã qua đời như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng…

Tướng Vũ Sơn cũng là một người quan tâm đến những câu chuyện “ngoại cảm”. Tuy đã về hưu, ông tướng cũng còn nhiều ảnh hưởng trong đảng và quân đội, do những vai trò quan trọng trong quá khứ của ông và các chức vụ lớn hiện nay của mấy người con. Trước hết, ông ta là một kẻ vô thần và tin rằng con người khi “chết là hết”, không có linh hồn mà cũng chẳng có thiên đàng hay địa ngục. Nhưng ông cũng không thể dựa vào lập luận nào để bảo rằng những câu chuyện về “ngoại cảm” như được thuật lại là bịa đặt hay lừa gạt. Ông ta muốn đích thân tìm hiểu, nên khi được tin ông Phan Quang Thế đang có mặt ở Đà Lạt vào những ngày cuối năm để giúp tìm hài cốt trong vùng cao nguyên, tướng Vũ Sơn đã mời ông ta tới nhà để đàm đạo và trắc nghiệm về những khả năng huyền bí của nhà “ngoại cảm”.

Qua vài lần gặp gỡ, tướng Vũ Sơn đã kinh ngạc khi chứng kiến tận mắt ông Thế nói chuyện với linh hồn của vài người thân của vợ chồng ông tướng và đã phát hiện những chi tiết mà người ngoài không thể biết.

Tướng Vũ Sơn đã theo đảng từ năm 17 tuổi, khi đang làm công cho một đồn điền trà ở Di Linh, từng vào tù ra khám, đã trải qua nhiều gian khổ, đã đương đầu với nhiều hiểm nguy, đã nhúng tay vào nhiều tội ác, nhưng đây là lần đầu tiên ông ta cảm thấy tinh thần bị lung lay dữ dội và sợ hãi như đang phải đối đầu với một kẻ thù vô hình. Nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế, qua những hồn ma, đã biết nhiều điều liên hệ đến quá khứ của vợ chồng ông. Nhưng con người với cái bề ngoài tầm thường vô hại này là ai, do đâu mà có những quyền năng huyền bí như vậy?

Bà vợ tướng Vũ Sơn càng sợ hãi hơn khi ông Thế tiếp xúc với linh hồn của một người đàn bà mà ông ta nói là người đã cứu bà tướng khi còn nhỏ trong trận đói năm 1945 ở miền Bắc mà cho đến nay linh hồn người này chưa siêu thoát và vẫn lẩn khuất quanh đây.

Quả thật, năm ấy bà tướng là một cô bé mười tuổi đã được một bà chủ điền ở Sơn Tây đem về cứu sống trong lúc đang nằm chờ chết bên lề đường ở ngoại ô Hà Nội vì đã không có gì ăn hơn một tuần lễ. Bà đã trở thành con nuôi của bà điền chủ, và đã trả ơn người cứu mình bằng cách đấu tố người ấy trong cuộc “cải cách ruộng đất” năm 1956 ở miền Bắc. Khi ấy bà đã là một thiếu nữ xinh đẹp và sau đó không lâu được đảng xây dựng kết hôn với tướng Vũ Sơn, lúc đó còn mang quân hàm đại tá.

Câu chuyện này tưởng đã chôn vùi trong màn đêm sâu thẳm của quá khứ nay được nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế làm sống lại khiến mấy đêm liên tiếp bà tướng không thể ngủ yên, mà hễ chợp mắt chỉ thấy toàn ác mộng. Tướng Vũ Sơn ngoài mặt tỏ ra trọng vọng Phan Quang Thế và mời ông tới ở trong một căn phòng của biệt thự Hồng Dương để được thù tiếp, nhưng trong thâm tâm ông ta muốn sống gần để có điều kiện thử thách thêm và tìm hiểu lý lịch của nhà “ngoại cảm”.

Nhưng, vụ hỏa hoạn ngày Mùng Một Tết đã xảy ra bất ngờ và sau đó Phan Quang Thế đã biến mất khỏi thành phố Đà Lạt. Đó là một trong những lý do khiến ông ta bị nghi ngờ, bị truy nã, và bị bắt.

***

Ngồi đối diện với hai điều tra viên mặt lạnh như thép nguội đầy đe dọa, Phan Quang Thế không tỏ ra chút nao núng, sợ sệt. Ông ta ngồi thẳng lưng, chắp hai bàn tay đặt lên mặt chiếc bàn nhỏ trong phòng lấy cung, mắt nhìn thẳng vào mặt hai điều tra viên và nói với giọng vừa đủ nghe:
– Để khỏi mất thời gian của các ông, và các ông cũng không phải nhọc lòng nặng tay trên thân thể già nua, gầy còm này để cố moi những gì muốn biết. Tôi hiểu rõ tội của tôi và cũng biết rõ hậu quả sẽ dành cho tôi, và tôi sẽ nói tất cả sự thật. Vâng, tất cả sự thật, dù các ông có muốn nghe hay không, nhưng tôi muốn nói chuyện với ai đó cao hơn các ông một chút.

Hai viên công an, một người cao gầy và răng hô, một người to béo và mắt lồi, nhưng cả hai đều đỏ bừng mặt giận dữ. Hai người đều trẻ, đáng tuổi con của Phan Quang Thế. Sau một phút nghẹn họng, người cao gầy gằn giọng:
– Anh muốn nói chuyện với ai?
– Thí dụ viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân.
Người to béo xô bàn đứng phắt đậy, đôi mắt lồi muốn lọt ra ngoài, tát mạnh vào mặt Phan Quang Thế một cái và quát:
– Láo! Thằng này, mày là ai mà đòi nói chuyện với viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân?
Phan Quang Thế đưa tay quẹt giọt máu vừa ứa ra trên khoé môi, bình tĩnh nói:
– Tôi chỉ là “thằng dân”, chẳng là ai cả. Nhưng không phải là các ông bảo “nhân dân làm chủ”, và các ông chỉ là tôi tớ à? Các ông được gì khi đánh đập “thằng dân” này? Lỡ thân này chết đi thì các ông được gì? Những điều mà tôi đang muốn cống hiến cho các ông quý hơn cái thân già này nhiều.
Hai viên công an gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống nhà “ngoại cảm” nhưng đành nén giận, ngồi yên nghe tiếp:
– Hơn nữa, các ông đừng tưởng những gì các ông làm trong Sở Công an này mà bên ngoài không biết. Không cái gì còn có thể che giấu trong thời đại toàn cầu hóa và thông tin điện tử ngày nay. Trước sau gì thì tôi cũng chết: bị xử bắn, bị thủ tiêu trong nhà giam, hay tắt thở trong khi bị tra tấn. Nhưng cấp lãnh đạo của các ông cần biết nhiều sự thật trước khi tôi chết. Và các ông sẽ phải chịu trách nhiệm nếu tôi chết trước khi họ biết sự thật.
Anh công an cao gầy văng tục, xô ghế đứng lên, bước ra ngoài, gọi người đem Phan Quang Thế trở về phòng giam.

Nội vụ được trình lên Viện Kiểm sát Nhân dân vì đây là một vụ án quan trọng đang được các cấp lãnh đạo đảng đặc biệt theo dõi. Sau khi đọc hồ sơ và nghe báo cáo, viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân đã đích thân nghiên cứu và giải quyết. Từ ngày về cầm đầu cái cơ quan công tố tối cao của nhà nước, ông ta chưa gặp một vụ nào phức tạp như thế này. Thật ra, khi mà quyền làm luật và thi hành luật đều nằm trong tay đảng thì vai trò của “Viện Kiểm sát Nhân dân” không có gì nặng nhọc lắm. Nó có thể biến một nhà báo dám viết sự thật thành một tên gián điệp, hay một kẻ phản động âm mưu lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa và lãnh án hai mươi năm tù. Nó có thể miễn tố một đảng viên thâm lạm công quỹ hàng tỉ đồng, hay giam giữ một người năm này qua năm khác mà không cần đưa ra tòa xét xử… Mọi bản án đã được làm sẵn trước phiên tòa, tất cả chỉ là những trò hề tẻ nhạt. Nhưng, tên Phan Quang Thế này là ai? Do đâu hắn có những quyền năng huyền bí đáng sợ như vậy? Vì lý do gì hắn đã đốt nhà tướng Vũ Sơn với mục đính giết chết nhiều người quan trọng như vậy, và hắn đang còn nắm giữ những bí mật gì?

Theo báo cáo của công an, Phan Quang Thế đã trở thành nhà “ngoại cảm” sau một cơn bệnh nặng, và nói rằng trong mấy ngày hôn mê hắn đã được một vị thần ban truyền cho quyền năng “ngoại cảm”. Công an cũng xác nhận những việc nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế đã làm, như tìm ra những hài cốt bộ đội và nói chuyện với các linh hồn ở cõi âm, là có thật chứ không phải tin đồn nhảm.

Tất cả học thuyết Mác-Lê-nin, duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyên chính vô sản… đều không giúp được gì trong vụ này. Và trong lúc Viện Kiểm sát Nhân dân đang lúng túng thì trên mạng điện tử xuất hiện một bức “thư ngỏ” của Phan Quang Thế gửi giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với nội dung như sau:

“Thưa các ông lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam,

“Tôi là Phan Quang Thế, đang bị giam giữ vì vụ đốt nhà Tướng Vũ Sơn. Như tôi đã nói với công an ngay trong ngày đầu chấp pháp, tôi cần gặp các ông để nói những sự thật liên quan đến vụ án, nhưng đến nay các ông vẫn im lặng, trong lúc tôi tiếp tục bị tra khảo với đòn thù mà tấm thân già yếu của tôi không thể chịu được lâu. Vì thế tôi phải gửi thư ngỏ này để nói lên những sự thật mà các ông cần biết trước khi tôi chết.

“Tên do cha mẹ đặt cho tôi lúc sinh ra đời là Nguyễn Văn Minh chứ không phải Phan Quang Thế. Quê ở Huyện Tùng Thiện, Tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt. Việc thay họ đổi tên tôi sẽ nói thêm sau.

“Khi chiến dịch cải cách ruộng đất được Đảng Cộng sản phát động ở miền Bắc thì tôi mới lên mười, nhưng vẫn còn nhớ như in những gì đã xảy đến với bà nội tôi, một người đàn bà hiền hậu và đạo đức. Bà tôi chỉ có một mẫu ruộng, tự cày cấy lấy, và năm 1956 đã bị đấu tố vì tội địa chủ, và người đứng ra đấu là Nguyễn Thị Yến, người con nuôi mà bà tôi đã cứu khỏi nạn đói mười một năm trước. Bây giờ, do sự xúi giục của cán bộ cải cách ruộng đất, Thị Yến kết tội bà tôi là địa chủ gian ác, bắt nó lao động hơn mười năm không trả lương. Bà tôi chỉ khóc và nói rằng bà thương nó như con ruột, nó có phụ bà chăm lo vườn tược và làm công việc đồng áng thì cũng như con cháu khác trong nhà, đâu có ai lãnh lương.
Nó chỉ vào mặt bà mà mắng: “Mày đâu có phải là mẹ tao mà bắt tao lao động không công? Mẹ tao đã chết trong trận đói năm ấy trong lúc bọn địa chủ chúng mày thừa lúa gạo cất trong kho. Mày là con địa chủ gian tham, mày cho tao ăn cho khỏi chết đói để đem về bắt tao làm nô lệ, chứ có nhân đức gì đâu!”.
Sau màn đấu tố dã man, bà nội tôi bị đưa lên núi, nhốt trong một cái cũi bằng tre, bị bỏ đói cho đến chết. Hai ông chú tôi theo cách mạng từ ngày đầu kháng chiến nay trở về làng trở thành cán bộ nhà nước cũng không dám làm gì để cứu mẹ. Một chế độ đã đưa con người xuống thấp hơn loài dã thú. Con thú mà thấy mẹ nó gặp nạn cũng không thể đứng yên.

“Cái chết thương tâm của bà tôi cùng với màn đấu tố man rợ đã nhuộm đen tâm hồn tuổi thơ trong trắng của tôi và đã không bao giờ mờ nhạt khi tôi khôn lớn. Năm 20 tuổi, tôi bị gọi đi nghĩa vụ và đưa vào giải phóng miền Nam. Trên đường mòn Trường Sơn tôi đã biết thế nào là địa ngục trần gian. Đi mười chết năm vì bệnh tật, rắn rết, bom trải thảm…

“Tôi là một trong những người sống sót trong đơn vị để chiến đấu trên đất miền Nam trong hơn 5 năm, đã tham dự nhiều trận đánh ác liệt, kể cả trận Tết Mậu Thân tại Huế và trận tổng tiến công mùa hè năm 1972. Trận nào cũng thua và cũng chết quá nhiều. Những người chết bị bỏ lại chiến địa hay chôn lấp vội vã chung một hố trước khi đơn vị rút lui. Con người không có giá trị gì hơn là những công cụ của các ông. Các ông không cần biết tới đời sống của chúng tôi, tình cảm của chúng tôi, tâm tư chúng tôi, gia đình chúng tôi. Chúng tôi chỉ là những sinh vật biết cầm súng để đi vào chỗ chết, theo lệnh của những lãnh tụ vô cảm, sau khi đã gây ra bao tội ác với đồng bào đang sống an bình ở miền Nam.

“Tôi đã nuôi trong đầu ý định bỏ hàng ngũ sau trận đánh đầu tiên nhưng không có cơ hội thực hiện cho đến trận cuối cùng tại An Lộc năm 1972. Tôi đã bị thương nặng, và bị bỏ lại trước khi đơn vị rút lui. Sợ tôi sống sót sẽ tiết lộ những tin tức bất lợi, người trung đội trưởng đã cho tôi một phát súng ân huệ vào ngực, nhưng viên đạn không trúng tim, và tôi đã được những người mà các ông gọi là “ngụy quân hung ác“ cứu sống sau ba tháng nằm trong bệnh viện của họ, được họ tận tình cứu chữa và đối xử không phân biệt, đầy tình đồng bào.

“Tôi đã làm lại cuộc đời ở miền Nam. Với một cái chân què, tôi cũng kiếm được một nghề sinh nhai lương thiện, được sống ấm no trong tự do. Tôi lấy vợ và có con. Tháng 3 năm 1975, vợ và đứa con duy nhất một tuổi của tôi đã chết cùng với hàng ngàn người dân vô tội khác do chiến tích cuối cùng của Quân đội Nhân dân của các ông mà có thời tôi đã phải phục vụ. Khi các ông chiếm được miền Nam, tôi đã phải hối lộ để thay họ đổi tên vì sợ bị các ông trả thù.

“Tôi là con vật khốn nạn đã bị các ông, nhân danh một chủ nghĩa viển vông điên rồ, cướp đoạt mọi cơ hội để được sống như một con người bình thường, khiêm tốn nhất. Các ông đã nhân danh công bằng xã hội để giết hàng triệu người vô tội, trong đó có bà nội tôi, để tạo nên một xã hội còn bất công và tồi tệ gấp trăm ngàn lần khi trước. Bà nội tôi đã bị các ông giết chết một cách nhục nhã đau đớn chỉ vì làm chủ một mẫu ruộng. Bây giờ nếu đem tất cả tài sản ruộng vườn của bà nội tôi hồi ấy tạo được sau bao năm làm ăn cần kiệm cũng không đủ để làm cái cầu tiêu trong ngôi biệt thự nguy nga của kẻ đã đứng ra đấu tố để giết bà tôi. Bên ngoài những ngôi biệt thự như vậy, hàng triệu dân nghèo sinh sống vất vả, bữa đói bữa no.

“Đó là lý do tôi đã phải đốt ngôi nhà tội ác ấy và trừng phạt những con ác quỷ dành quyền đấng chí tôn đang ngự trị trên xã hội vô luân này. Còn vì sao tôi đã trở thành một nhà “ngoại cảm”? Đó là phương tiện được dùng để thi hành bản án của tôi. Tại sao tôi biết vị trí để tìm hài cốt của các đồng đội cũ? Trong thời gian còn bị các ông dùng làm công cụ để đánh chiếm miền Nam, tôi đã kín đáo viết nhật ký và ghi lại, khi có thể, những địa điểm chôn các người bạn đã bỏ xác trong Nam. Nhờ đó sau này tôi đã giúp gia đình họ tìm được nắm xương tàn của người thân, và tôi trở thành nhà “ngoại cảm” có thế tiếp xúc với những hồn ma ở thế giới bên kia. Và các ông, những con người không tin có linh hồn, nhạo báng thượng đế, bây giờ cũng run sợ!

“Mọi cái mặt nạ đã rơi xuống, những nhân danh cao cả đã không còn là bùa ngải để lừa gạt được ai. Nhân dân không còn sợ gông cùm và nhà tù của các ông. Họ đang đứng lên để đòi quyền được sống như những Con Người, trong đó có những người thuộc thế hệ trẻ không liên hệ gì tới “ngụy quân, ngụy quyền”, và có cả những người từng là đảng viên, cán bộ.

“Ngày đền tội của các ông không còn xa“.

Công an đã dùng mọi phương cách để tìm biết làm cách nào Phan Quang Thế tức Nguyễn Văn Minh đã có thể viết và phổ biến bức “thư ngỏ” khi đang bị biệt giam trong nhà tù, nhưng không thể cạy được răng ông ta, dù có những cái răng đã cùng với máu ộc ra khỏi mồm khi bị tra khảo…

Một tuần sau, Sở Công an loan tin Phan Quang Thế tức Nguyễn Văn Minh đã chết trong tù vì chứng đau tim.
Nhà “ngoại cảm” đã đem theo bí mật xuống đáy mồ.

Sơn Tùng
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Sun Oct 07, 2018 4:40 pm



Báo oán
Tạ Quang Khôi


Cương là một thanh niên rất đẹp trai nên được nhiều gái mê, kể cả gái có chồng, trong đó có Tuyết Phương. Trọng, chồng Tuyết Phương, là người hiền lành, chân thật. Chàng rất yêu vợ và không bao giờ nghi vợ ngoại tình. Nhưng một hôm, chàng nhận được một lá thư của người vô danh vì địa chỉ người người gửi bỏ trống. Chàng liền mở ra coi, chỉ thấy một tờ giấy có hình một cặp sừng. Chàng rất ngạc nhiên vì không hiểu ý nghĩa của cặp sừng và cũng không rõ đó là s
ng bò hay sừng trâu. Suy nghĩ một lát, chàng cho là người gừi đã lầm địa chỉ, chàng ném thư vào sọt rác. Nhưng ba hôm sau, chàng lại nhận được thư người vô danh. Lần này, cũng lại một cặp sừng, nhưng lớn hơn cặp trước. Chàng lại ném vào sọt rác. Rồi, ba hôm nữa, chàng lại nhận được thư người lạ. Chàng định không mở ra đọc, nhưng tò mò nên vẫn cứ mở. Lần này, ngoài cặp sừng, chàng còn thấy chữ NGU màu đỏ và đậm nét. Thoạt tiên, bị mắng là ngu, chàng tức lắm, nhưng sau khi nghĩ kỹ lại, chàng chợt hiểu ra ý nghĩa của cặp sừng. Phải chăng chàng bị mọc sừng, nghĩa là vợ chàng ngoại tình? 

Sau một đêm trằn trọc suy nghĩ, chàng quyết định bí mật theo dõi vợ khi nàng ra khỏi nhà. Rồi sau nhiều ngày bí mật theo dõi và chụp hình nàng đi chơi với Cương, Trọng quyết định thuê luật sư để xin ly dị vợ. Chàng hiền lành nên không muốn làm lớn chuyện ồn ào. Ngay cả khi hai người chia tay theo quyết định của toà án, chàng cũng sẵn sàng cho vợ mang theo rất nhiều thứ quý giá, dù không phải của nàng. Chàng thầm nghĩ không phải sống chung với người đàn bà hư hỏng là vui rồi.

Về phần Tuyết Phương, sau khi chia tay với chồng, nàng tìm gặp ngay Cương, đề nghị hai người chình thức kết hôn. Cương trố mắt hỏi:
“Em nói chi kỳ vậy? Mình chính thức thành vợ chồng?”
Tuyết Phương nói bằng giọng nũng nịu :
“Bây giờ em được tự do rồi, mình thành vợ chồng, luôn luôn ở bên nhau. Bộ anh không vui sao?”
Cương giữ im lặng một lúc khá lâu, rồi từ từ nói:
“Không, mình không thể thành vợ chồng được. Em lớn hơn anh những năm tuổi, đáng tuổi chị anh, làm sao thành vợ chồng được.”

Tuyết Phương trố mắt nhìn chàng, rồi chợt hiểu mình chỉ là kẻ bị lợi dụng, Cương không thật lòng yêu nàng. Một mối đau tràn ngập lòng nàng. Thì ra nàng đã bị cái vẻ đẹp trai và tuổi trẻ của hắn quyến rũ nên mới bị lợi dụng. Bây giờ biết tính sao đây? Một mối tuyệt vọng dâng cao trong hồn nàng. Vì sự tuyệt vọng đó, nàng uất ức, căm thù Cương. Hắn đã làm cho cuộc đời nàng lỡ dở, bỏ người chồng hiền lành, nhân đức. Mối tuyệt vọng của nàng biến thành mối oán thù. Nàng thầm nghĩ không thể tha thứ hắn được, phải trả thù. Nhưng trả thù thế nào thì nàng chưa nghĩ ra. Đâm chém? Nàng không đủ can đảm và sức lực.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, Tuyết Phương nghi Cương đã có người yêu khác. Con người đẹp trai ấy không thể không có nhiều tình nhân. Vậy, nàng phải tìm cách theo dõi để khám phá ra người Cương thật sự yêu thương. Điều này không có gì khó khăn, vì Cương và ngừời yêu thường gặp nhau, lúc ở ngay nhà chàng, lúc thì hai người đi ăn tiệm. Người yêu của Cương rất trẻ, nhưng sắc đẹp chỉ vào loại trung bình. Điều đáng đáng để ý nhất là cái bụng hơi lớn của cô ta. Phải chăng cô đang có bầu và tác giả của cái thai chính là Cương? Nếu đúng như vậy, làm sao Cương có thể bỏ rơi người tình được!

Một ý nghĩ thoáng hiện trong óc Tuyết Phương, phải phá cái thai đó đi! Đó cũng là một cách trả thù. Nhưng làm thế nào để có thể phá thai của người ta được? Ngay thai của mình phá đã khó, nói chi thai người khác.

Mối buồn và oán hận mỗi ngày một lớn, làm nàng mất ăn mất ngủ thường xuyên. Người nàng gầy xọp đi rất nhanh. Rồi, một hôm, nàng đang lái xe thì cảm thấy trong người rất mệt mỏi, chân tay run rẩy. Đến một khúc quanh, nàng lạc tay lái, leo lên lề, đụng mạnh vào một gốc cây, ngực va vào tay lái khiến nàng hộc máu ra miệng, rồi chết luôn.

***

Người yêu của Cương, bây giờ chính thức là vợ chàng, sau mười tháng có thai đã sinh một con gái. Hai vợ chồng Cương mừng lắm, Đứa bé trông rất xinh, trắng trẻo, bụ bẫm. Rồi, năm tháng qua mau, đứa bé lớn nhanh như thổi. Nhưng càng lớn càng giống Tuyết Phương. Cương rất ngạc nhiên. Vợ chàng đâu có phải là chị em với Tuyết Phương, chính nàng cũng không biết cô ta là ai. Chàng suy nghĩ nhiều ngày, nhiều đêm mà không sao giải thích được sự giống nhau này.

Một điều đặc biệt khác nữa là càng lớn đứa bé càng nhìn chàng bằng đôi mắt thù ghét, trợn trừng đến nỗi chàng không dám đến gần nó nữa. Tất nhiên không dám bế ẵm nó. Chàng khơng biết hỏi ai để có thể giải thích chuyện kỳ lạ này. Vợ chàng vừa ngạc nhiên vừa tức giận vì chồng không còn thương con nữa.

Còn điều đặc biệt khác là đứa bé đã lên 5 mà không nói được dù vẫn hiểu người khác nói gì. Nàng quyết định đưa con đi bác sĩ. Nhưng khi gặp nác sĩ, nó vẫn có thể trả lời những câu hỏi của bác sĩ. Như vậy, nó không bị câm. Nàng hoàn toàn không hiểu tình trạng con ra sao. Không câm mà không chịu nói, thật kỳ lạ.

Rồi, bỗng một buổi sáng, nàng không thấy chồng dậy uống cà phê như mọi khi. Hai người ngủ riêng phòng từ khi chồng nàng không dám lại gần con. Nàng thấy chồng chùm kín chăn, bèn lật chăn ra và nắm lấy bắp tay chàng để đánh thức chàng. Nàng giật mình vì người chàng đã lạnh toát. Nàng hoảng sợ, chạy vội ra khỏi phòng và dùng điện thoại cầm tay để gọi 911. Chỉ 15 phút sau, một xe cứu thương tới đưa xác Cương vào bệnh viện. Bác sĩ khám nghiệm cho biết chàng bị bóp cổ chết hồi đêm và ông còn cho biết… hai bàn tay bóp cổ là hai bàn tay nhỏ của con nít. Mọi người rất ngạc nhiên về chuyện này. Không lẽ đứa bé, chính con chàng đã bóp cổ cha? Không thể có đứa bé nào khác từ bên ngoài lén vào giết người. Làm sao giải thích được chuyện này!

Bác sĩ gọi riêng vợ Cương vào phòng mạch để hỏi về đứa con gái chung của hai người. Nàng cho biết đã lâu Cương không lại gần con, mà chàng cũng không cho biết lý do tại sao.

Suy nghĩ một lát, bác sĩ đề nghị vợ Cương cho ông gặp riêng đứa bé. Nhưng lúc nàng trở ra phòng đợi tìm con thì không thấy nó đâu. Nàng hoảng sợ chạy khắp nơi để tìm con, nhưng hoàn toàn vô ích. Mặt nàng tái nhợt, chân tay run lẩy bẩy. Có người thấy tội nghiệp nàng, vội gọi cảnh sát tới giúp nàng tìm con. Nhưng rồi, cảnh sát tới cũng không tìm thấy đứa bé. Cảnh sát phải đưa nàng về nhà bằng chính xe nàng.

Về đến nhà, viên cảnh sát phải dìu nàng vào thẳng phòng ngủ để nàng có thể lên giường nằm nghỉ.

Khi mở cửa phòng ngủ, hai người đều ngạc nhiên  thấy đứa bé đang nằm trên giường. Viên cảnh sát định bế nó để lấy chỗ cho mẹ nó cùng nằm. Nhưng ông giật mình vì nó đã lạnh toát. Nó chỉ còn là một cái xác không hồn.
.                                                    
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Wed Oct 10, 2018 12:28 am



Bóng người trong sương mù
Truyện Ngắn Nhất Linh (1906-1963)


Ở ngoài, đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Trạch - một người bạn cũ, tình cờ gặp vì đi cùng trong một chuyến xe. Mười năm trước, bạn tôi còn là một người cầm lái xe lửa, cũng hàn vi như tôi; bây giờ gặp lại nhau trong toa hạng nhì, hai người cùng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.

Lúc nói chuyện, tôi thấy bên bạn có cái hộp khảm rất đẹp liền cầm lấy xem, rồi tình cờ mở hộp ra; bạn tôi có ý không bằng lòng nhưng vì nể tôi nên không nói gì. Tôi nhìn vào hộp thấy lạ: hộp bịt kín, ở trong có một con bướm rất to, hai cánh đã xơ xác. Tôi hỏi bạn:
- Con bướm này vùng tôi thường thấy luôn, quý gì mà anh giữ cẩn thận thế này?
- Vâng, bướm thường, nói cho đúng thì là một con ngài, nhưng đối với tôi...
Vừa nói đến đấy, xe rầm rập đi qua một cái cầu sắt. Bạn tôi lắng tai nghe rồi nói:
- Xe đi qua cầu N.G. Tôi bắt con bướm chính ở giữa cái cầu này đã mười năm nay...
Thấy bạn có vẻ khác, tôi đoán có chuyện gì, liền hỏi:
- Con bướm này chắc cũng có sự tích gì đây?
- Vâng, những sự tích buồn... Chuyện đã ngoài mười năm trước độ anh đi Sài Gòn thì tôi còn là anh cầm lái tàu hoả. Chính độ ấy tôi chạy con đường này, tình cảnh tôi độ ấy anh đã rõ.
- Cũng như tình cảnh tôi...
- Nhưng có một việc tôi không nói cho anh hay là độ ấy tôi có lấy một người vợ, nhưng giấu nhà, giấu mọi người, giấu anh. Chúng tôi sống trong cảnh nghèo khổ mà thật lấy làm sung sướng. Nhưng vì cảnh nghèo, vì nhà tôi không quen chịu được kham khổ nên người mỗi ngày một yếu dần. 


Về sau, nhà tôi bị bệnh nặng mà tôi thì vẫn phải đi làm, không ai trông nom ở nhà. Một đêm nhà tôi yếu quá ngất người mấy lần, mà chính đêm ấy là đêm tôi được ông Chánh cử đi cầm lái chuyến xe riêng chở quan an toàn quyền. Thật là một dịp rất hay cho tôi. Nhưng tôi biết không thể nào đi được, liền thưa với ông Chánh, nói là vợ ốm.
Ông Chánh đập bàn, đập ghế, gắt:
- Tôi không biết! Một là mười giờ đêm nay anh phải có mặt ở ga, hai là từ giờ này trở đi anh đừng bước chân tới đây nữa. Thôi anh ra.
Lời ông Chánh nói quả quyết, tôi phân vân không biết nghĩ sao: lúc về nhà, ngồi ở đầu giường, nhìn đến vợ mới biết rằng không đi được, dẫu mất việc làm cũng không cần.
Nhà tôi thấy tôi có vẻ lo nghĩ, hỏi duyên cớ vì sao, tôi liền đem việc ấy ra kể cho nhà tôi nghe. Nhà tôi nghe xong, vẻ mặt tươi hẳn lên, bảo tôi rằng:
- Thế cậu đi chứ! Việc gì phải ngần ngừ! Tôi không việc gì đâu, đã thấy đỡ nhiều. Chiều mai về nhớ mua cái gì làm quà cho tôi đấy.
Tôi thấy nhà tôi cười vui vẻ, tôi vững tâm, thay quần áo ra ga. Ðến ga đúng mười giờ. Nhưng khi cho xe chạy rồi tôi mới thấy lo, tôi mới biết là tôi liều. Lúc đó tôi có cảm giác lạ lắm: hình như tôi đi thế này, lúc về chắc không nhìn thấy mặt vợ nữa. Tôi cố định trí để cầm lái nhưng chỉ được một lúc thôi.

Bỗng cả chuyến xe lửa nghiêng về một bên, rồi lắc lư như muốn đổ. Người "ét" của tôi vội bỏ cái xẻng xúc than, níu lấy tôi, nói:
- Ô hay! Hôm nay ông làm sao sao thế? Chỗ ấy đường cong nguy hiểm thế mà ông không hãm máy. Ông ngủ à?
Tôi không ngủ nhưng người tuy ở đây mà trí còn nghĩ tới người vợ nằm đợi chết một thân, một mình trong gian nhà nhỏ kia. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ướt đẫm cả người. Xe đi vào khe núi, hết lên cao lại xuống thấp như có vẻ nhọc nhằn. Tôi thò đầu ra cửa nhìn thẳng trước mặt, nhưng đêm ấy, sương mù đầy trời, không nhìn rõ gì cả, chỉ một màu trắng xoá dưới ánh hai cái đèn ở đầu toa.
Bỗng tôi thấy... rõ ràng, tôi thấy in trên sương mù một cái hình người đàn bà mặc áo rộng đứng dang tay. Tôi dụi mắt tưởng mình trông hoảng, nhưng không, hình người đàn bà vẫn đấy. Tôi gọi người "ét" lại cửa toa, bảo ông ta nhìn rồi hỏi:
- Bác có thấy gì không? Vừa nói xong, hình người vụt biến mất.
Bác "ét" thò đầu ra và bảo tôi:
- Chỉ thấy sương mù! Ông lại mê ngủ rồi
- Không, rõ ràng tôi thấy có hình người đàn bà in trên sa mù nhưng vừa biến mất.
Người "ét" cười ra vẻ không tin, lấy xẻng xúc thanh cho vào lò, còn tôi vẫn đứng nguyên chỗ cũ đăm đăm nhìn thẳng trước mặt. Ðược một lát, hình người đàn bà hiện ra, lần này rõ ràng hơn, hai tay vẫn dang thẳng như muốn ngăn đường, không cho xe chạy lên nữa. 


Tôi gọi người "ét" nhưng bác ta làm bộ không nghe thấy, cứ cắm đầu xúc than cho vào lò. Tôi biết tôi không mê, tôi biết là cái hình người ấy có thật. mà ai nhìn cũng phải thấy. Tôi đến cầm tay bác "ét" kéo bác ra xem rồi bảo, quả quyết:
- Nhìn xem!
Bác ta há hốc mồm giương to đôi mắt hốt hoảng nói:
- Lạ thật!... Ma ông ạ! Xe tiến đến đâu, cái hình bóng người lui đến đấy, có lúc mờ, có lúc rõ, lơ lửng giữa lưng chừng trời. Rồi cái hình người ấy vẫy hai tay một cách thong thả, như có ý bảo chúng tôi đừng tiến lên nữa, có sự nguy hiểm.
Tôi bảo bác "ét":
- Bác này, lại có sự gì lại sắp xảy ra.
- Vâng, sao cái hình lại như lấy tay làm hiệu bảo ta đứng lại. Cái hình người trước còn vẫy tay thong thả, sau vẫy thật nhanh như người tỏ ra ý thất vọng vì bảo chúng tôi không nghe.
- Hay ta dừng xe lại xem sao, chắc là ma!
- Không được, tự nhiên vô cớ.
Còn tôi lúc bấy giờ tai ù như người mất trí khôn, tôi văng vẳng như có tiếng người ở thật xa đưa lại, tiếng một người đàn bà bảo tôi:
- Ðỗ lại! Ðỗ lại!
Tôi lắng tai, tay nắm chặt lấy cái phanh như định hãm lại rồi lại không dám hãm. Một lát sau, tôi lại nghe thấy tiếng người đàn bà, rõ hơn lần trước, giục tôi:
-Hãm lại! Hãm ngay lại!
Lúc bấy giờ tôi không biết nữa, nhắm mắt hãm phanh thật mạnh. Các toa rùng một cái, bánh xe kêu rít lên trong đêm thanh vắng, xe chạy từ từ một quãng rồi đỗ hẳn. Tôi chưa kịp bước xuống, đã thấy người "xếp tanh" cầm đèn chạy lên hỏi:
- Việc gì thế?
Tôi luống cuống không biết trả lời làm sao, vì nói thật ai tin mình. Tôi trả lời một cách mập mờ:
- Chắc có sự gì lạ. Ðể tôi cầm đèn đi xem trước đã. Lúc bấy giờ mấy ông hầu quan Toàn quyền cũng vừa đến, rồi thấy lạ, đi theo chúng tôi. Vừa đi được một quãng thì nghe có tiếng nước chảy ầm ầm. Tôi định tâm mới nhớ ra rằng đó là cầu N.G. 


Mấy đêm ấy mưa lũ, nước chắc chảy xiết, nên mới réo to như vậy. Ðến bờ sông, giơ đèn lên soi, mấy người đều kinh hoảng: cái cầu N.G bị nước nguồn chảy về xoáy gãy làm đôi.
Một tí nữa, nếu không hãm kịp thì cả một chuyến xe riêng chở Toàn quyền đâm nhào xuông sông sâu, chắc không sống sót một ai: tưởng không có cái tai nạn nào ghê gớm hơn, thế mà chính nhờ tôi, nên mới không có cái tai nạn ấy. Tôi đứng ngẩn người không hiểu ra sao cả.
Người "xếp tanh" mừng cuống quít hỏi tôi:
- Sao ông biết mà hãm?
- Tôi cũng không hiểu.

Mấy người quan hầu có vẻ mừng lộ ra mặt, xúm xít quanh tôi hỏi dồn, tôi không biết trả lời ra sao, một lát mọi người đứng dãn ra. Quan Toàn quyền đến: ngài không nề tôi là người lao động, trong lúc mừng quá, ngài giơ tay bắt tay tôi, cái bắt tay đầu bụi than rồi ngài tỏ lời khen.
Tôi chắc rồi sau thế nào cũng được trọng thưởng, nhưng trọng thưởng lúc đó đối với toi cũng như không, tôi chỉ nghĩ đến nhà tôi ở nhà, không biết ra sao.
Tôi đi trở lại và thoáng thấy con gì bám ở cái đèn để ở đầu toa, nhìn kỹ thì ra một con bướm thật to, vướng vào đèn đương đập cánh để tìm đường thoát. Chính là con bướm trong cái hộp này đây. Trông thấy con bướm, tôi thốt nghĩ ra ngay. Chính phải rồi, chính cái hình người đàn bà lúc này là cái bóng con bướm này in lên trên sương mù, đầu con bướm là đầu hình người mà hai cánh con bướm đập là hai cánh tay người vẫy.
Tôi bắt con bướm rồi định thả nó bay đi; sau nghĩ con bướm đã giúp mình được việc, nên giữ lại làm kỷ niệm. Tôi nhìn vào đồng hồ trong toa, thấy kim chỉ đúng hai giờ đêm...

Hôm sau tôi vừa về đến cổng nhà thì thằng nhỏ chạy ra báo tin nhà tôi mất, mất vào khoảng một giờ đêm qua.
Tôi không tin nhảm, tôi chắc đó là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên, nhưng tôi vẫn yên trí là linh hồn nhà tôi đã nhập vào con bướm này để phù hộ cho tôi tránh được tai nạn đêm hôm ấy. Nhưng tránh được tai nạn mà làm gì, tôi thoát được thân tôi mà làm gì, giàu sang phú quý bây giờ đối với tôi cũng như không, tôi cũng chỉ như con bướm này, xác đấy mà hồn tận đâu đâu.
Bạn tôi kể xong chuyện, đậy cái hộp khảm lại rồi thẫn thờ nói:
- Bây giờ chỉ còn lại cái xác bướm không hồn.

(Rút từ tập Truyện Ngắn ANH PHẢI SỐNG, Nxb Đời nay, Hà Nội, 1934)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Mon Oct 15, 2018 6:38 am

.

Bên Ngoài Cõi Chết
Yasunari Kawabata






Kawabata Yasunari là một đại văn hào Nhật Bản. Ông được giải thưởng NOBEL về văn chương năm 1968. Độc giả Việt Nam biết đến ông nhiều qua các tiểu thuyết lớn như Xứ Tuyết, Ngàn Cánh Hạc, Tình Yêu Và Nỗi Buồn... Kawabata cũng viết những truyện rất ngắn. Truyện ngắn Bên Ngoài Cõi Chết dưới đây rút ra từ một tuyển tập truyện ngắn của ông, có tên là "Những Truyện Ngắn Bằng Bàn Tay."

Trong truyện này, một cô gái trẻ mười bảy tuổi trầm mình xuống biển tự tử vì gia đình cấm không cho gặp người yêu. Vì người con gái chết trẻ nên tình yêu trinh nữ của nàng vẫn còn vĩnh viễn nguyên vẹn. Năm mươi lăm năm sau, nàng trinh nữ ấy gặp lại người tình, nay đã già ngoài bảy mươi tuổi. Có thể họ gặp nhau trong cõi chết, mà cũng có thể là trong cõi của người sống. Kết luận của truyện cho người trinh nữ đã chết và người yêu nhập vào một cây cổ thụ, có lẽ phản ảnh quan niệm tình yêu lý tưởng của Kawabata - một thứ tình yêu tinh khiết không gợn một chút dục vọng xác thịt.

***

Lão già và người thiếu nữ đang đi.

Hai người trông có vẻ kỳ cục về nhiều phương diện. Hai người cách nhau tới sáu mươi tuổi, nhưng họ dường như không hề quan tâm đến điều ấy, dù là đôi chút. Họ sát cánh bước đi bên nhau như một đôi tình nhân. Lão già thì điếc. Lão không nghe thấy những gì người thiếu nữ nói. Nàng mặc một chiếc kimono màu tím có vẽ những mũi tên nhỏ màu trắng, mặc dầu phía bên dưới được che khuất bằng một chiếc "hakama" màu tím đỏ. Ống tay áo của nàng hơi rộng. Lão già thì mặc quần áo trông giống một người đàn bà nhà quê thường mặc khi đi làm cỏ ngoài ruộng lúa. Lão không đeo bao tay hoặc vải quấn chân, nhưng áo và quần lão bằng vải trông giống quần áo của một người đàn bà. Chiếc quần quá rộng ngang thắt lưng gầy gò của lão.

Trên bãi cỏ ở phía trước hai người một quãng có một hàng rào kẽm khá cao. Tuy hàng rào kẽm chắn ngang đường đi của họ, nhưng họ hầu như không thèm để ý tới. Hai người bước qua hàng rào như một làn gió, mà không cần phải chậm bước lại. Người thiếu nữ dường như để ý đến hàng rào kẽm sau khi hai người đã đi sang bên kia hàng rào.

"Trời!" nàng nhìn lão già đăm đăm với đôi mắt dò hỏi. "Anh Shintaro, anh cũng đi xuyên qua hàng rào được, hả anh?"
Lão già không nghe thấy câu hỏi. Nhưng lão nắm lấy hàng rào và bắt đầu lay mạnh. Lão gào lên, "Đồ khốn này! Đồ khốn này!”
Lão đẩy hàng rào mạnh đến nỗi hàng rào bật ra xa khỏi lão, và làm lão ngạc nhiên. Lão lảo đảo và nắm lấy hàng rào, thân thể lão nghiêng về phía trước.

Người thiếu nữ kêu lên và chạy lại ôm lấy vai lão. "Shintaro, anh phải cẩn thận! Sao thế này? Anh hãy buông tay khỏi hàng rào đi." Rồi nàng nói thêm, "Sao bây giờ anh nhẹ thế!”
Cuối cùng lão già đứng lên được. Trong lúc lão thở hổn hển, vai lão nhô lên và hụp xuống.
"Cám ơn," lão nói và lại nắm hàng rào, lần này thật khẽ bằng một bàn tay. Rồi lão tiếp tục nói bằng một giọng nói lớn đặc biệt của người điếc, "Hết ngày này sang ngày khác, anh đã quen với việc nhặt banh gôn ở phía bên kia hàng rào này. Đó là nghề của anh trong suốt mười bảy năm.”

"Chỉ có mười bảy năm thôi à? Thế đâu có lâu dài gì!"
"Họ đánh banh về bất cứ phía nào họ thích! Trái banh âm vang lên khi đụng phải lưới. Cứ mỗi tiếng động anh lại cúi đầu xuống tránh, cho đến lúc anh quen dần. Chính những âm thanh ấy làm tai anh điếc. Cái việc làm khốn kiếp này!"
Hàng rào kẽm, dùng để bảo vệ những người xem đánh gôn, có bánh xe đẩy ở dưới và có thể đẩy đi về bất cứ phía nào của sân tập đánh gôn. Sân tập và sân gôn phân cách nhau bằng một hàng cây. Hàng cây không đứng thẳng lối vì những cây này mọc lên tự nhiên, và được để lại khi cả khu vườn được làm thành một sân chơi gôn.

Lão già và thiếu nữ bắt đầu bước xa khỏi hàng rào.
Thiếu nữ nói, "Anh có thể nghe thấy những âm thanh thân yêu cũ của sóng biển." Muốn cho lão già nghe thật rõ, nàng ghé miệng vào tai lão và nhắc lại, "Anh có thể nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển."
"Cái gì?" Lão già nhắm mắt lại. "Misako ơi, hơi thở của em thực là ngọt ngào. Giống y như ngày xưa vậy."
"Anh không nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển hay sao?”
"Sóng biển? Có phải em nói sóng biển? Và thân yêu nữa? Làm sao sóng biển có thể thân yêu đối với em, sau khi em đã chết chìm trong sóng biển ấy?”

"Thực là thân yêu, em đã trở về căn nhà cũ của em sau năm mươi lăm năm để thấy anh cũng trở lại cố hương. Ôi, thơ mộng quá!" Mặc dầu lão già không còn nghe thấy những lời nói của nàng mà nàng vẫn nói tiếp. "Em trầm mình xuống biển là đúng lắm. Nhờ thế em đã và sẽ vẫn có thể yêu anh mãi mãi, giống y như em yêu anh lúc em chết. Hơn nữa, tất cả mọi ký ức của em chấm dứt ở tuổi mười bảy. Theo như em biết thì anh vẫn mãi mãi là một thanh niên trẻ. Đối với anh cũng vậy, anh Shintaro của em. Nếu em không tự tử lúc em mười bảy tuổi và nếu anh trở về để thăm em, anh sẽ trông thấy một bà già bẩn thỉu. Thực là hãi hùng! Như thế em làm sao dám gặp anh nữa.”

Lão già bắt đầu nói, bằng giọng lẩm bẩm của một người điếc, "Anh đi lên tận Đông Kinh, nhưng anh vẫn không khá được. Anh trở lại cố hương thành một lão già bất mãn. Anh xin được một việc làm tại sân gôn. Đó là sân gôn trông xuống biển, tại đó một người con gái nhẩy xuống biển tự tử sau khi người ta cấm cô ta không được gặp anh nữa. Anh năn nỉ họ mướn anh, và họ đã mướn vì tội nghiệp anh."

"Chúng ta đang đi trên mảnh đất trước kia thuộc về gia đình anh, anh Shintaro.”
"Đi nhặt banh tại sân tập - đó là những gì anh có thể làm được. Lưng anh đau, nhưng anh vẫn phải tiếp tục. Có một người con gái nhảy xuống biển chỉ vì anh. Bờ đá nơi cô gái gieo mình xuống biển cũng gần đây, vì thế ngay một lão già yếu đuối như anh cũng có thể tới đó và nhảy xuống - vì thế anh vẫn suy nghĩ.”

"Đừng làm thế, anh Shintaro! Anh phải tiếp tục sống. Khi anh chết rồi, sẽ không còn ai trên đời này tưởng nhớ đến em nữa. Lúc đó thì em sẽ chết thực sự đấy." Thiếu nữ choàng ôm lấy lão già khi nàng nói như thế, nhưng lão đâu có nghe thấy gì.
Cũng như nàng, lão vòng tay ôm nàng.
Lão nói, "Phải, hãy chết cùng nhau. Em và anh lần này. Em tới để đưa anh đi với em phải không?"
"Chết cùng nhau ư? Không, xin anh phải sống. Sống vì em." Thiếu nữ ngẩng đầu khỏi vai lão già và nhìn thẳng trước mặt. Giọng nàng trở nên linh hoạt. "Coi kìa! Những cây cổ thụ vẫn còn kia. Tất cả ba cây trông giống y như ngày xưa. Ôi, những cây ấy nhắc nhở em tới những ngày hạnh phúc cũ!"

Lão già cũng quay mắt về phía ba cây cổ thụ, khi thấy thiếu nữ chỉ tay về phía đó.
Lão nói, "Mấy người chơi gôn sợ ba cây đó lắm. Họ muốn cưa ba cây ấy xuống. Họ nói những trái banh của họ luôn luôn bật về phía phải, như thể những cây kia cuốn banh của họ bằng một sức mạnh ma quái."
"Những người chơi gôn rồi cũng chết đi. Chết sớm hơn là những cây kia đã đứng tại đó hàng thế kỷ rồi. Họ nói những điều ấy là vì họ không hiểu cuộc nhân sinh ngắn ngủi biết bao!”
"Tổ tiên của anh đã chăm sóc những cây đó hàng trăm năm, vì thế khi anh bán đất, anh đã bắt họ hứa không được cưa những cây ấy đi.”
"Hãy lại đó đi," thiếu nữ giục và lấy tay kéo lão già loạng choạng về phía mấy cây cổ thụ.

Nàng đi xuyên qua một thân cây. Lão già cũng đi như vậy
Nàng kinh ngạc nhìn lão già đăm đăm. "Ồ! Anh cũng chết rồi à, phải không anh Shintaro? Anh chết hồi nào?" Lão già không trả lời.
"Anh chết rồi! Anh chết thực rồi phải không anh? Em ngạc nhiên tại sao chúng mình không gặp nhau trong cõi của người chết. Bây giờ thử xem anh chết thực hay còn sống. Nếu anh chết rồi, em sẽ vào trong cây này với anh."
Lão già và người thiếu nữ biến mất vào trong thân cây. Hai người không bước ra nữa.

Màu chiều bắt đầu nhuộm trên những bụi cây đằng sau ba cây cổ thụ. Chân trời, phía có tiếng sóng biển vọng lại, lờ mờ một màu đỏ nhạt.

Nguyễn Vạn Lý dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Mon Oct 22, 2018 8:21 am




Chuyện Bà Hùm
Truyện Ngắn - Chu Văn


Mưa dầm gió bấc. Giữa rừng khuya, bỗng vang tiếng cọp rống. Núi rung lên, cây lá run bắn lên, và cây lá run bắn lên. Không khí chuyển động, lung lay ngọn lửa bập bùng trong bếp. Con mãnh thú ở thung núi xa đấy, nhưng dư âm tiếng gào vẫn ào đến từng đợt. Những người ngồi chung quanh bếp lửa cùng dựng tóc gáy, vô tình nhích sát lại với nhau. Và chúng tôi nhìn cả vào chủ nhà - một ông già dân tộc, người trông nom cái trạm ươm giống cây lim ngồi giữa Trường Sơn, vùng dốc Tù hẻo lánh.

Ông già ngồi đó, mặt vuông chữ điền, da màu đất thó. Từ sợi tóc trên đầu, thớ thịt trên mặt, không nhúc nhích. Hình như đôi tai cúp như lá nấm kia không hề nghe thấy cái tiếng gầm khiếp hãi đó.
- Không sợ à, bố?
Ông già hé mở đôi mắt:
- Sợ gì, Hổ à? Không sợ. Ở khe này nhiều đấy!
- Có bắn được bao giờ không?
- Không bắn! Kiêng đấy!
Ông già là một thợ săn có tài, suốt đời làm việc ươm hạt lim trong rừng sâu, gặp cọp nhiều lần, nhưng theo ông nói, thì ông không bao giờ bắn cọp và cọp lẩn trốn ông. Bởi vì... hai bên có họ...

Đêm ấy ông già nể khách đã kể lại câu chuyện ngày xưa. Kể rất vắn tắt thôi. Nhưng khi viết ra, thì có rành mạch chi tiết. Đó là việc của người viết lại. Câu chuyện thế này.
Khi Đức Quang Trung Hoàng đế băng hà, thì Vua Cảnh Thịnh lên nối ngôi, ít tuổi lại yếu hèn nữa. Bởi thế Tây dương giúp sức, nó mới đánh cho nhà Tây Sơn thua lụi thua bại. Quân nó đuổi từ Phú Xuân ra Bắc Hà, bắt được hầu hết Vua tôi Cảnh Thịnh, có cả Đô đốc Trần Quang Diệu với bà Bùi Thị Xuân. Hai vị tướng này vốn anh hùng vô địch, từng giúp vua Quang Trung làm nên nghiệp lớn. Nhưng gặp vua hèn, tướng giỏi mấy cũng bó tay. Tội nghiệp thế.

Vậy trong cánh quân của bà Đô Đốc họ Bùi bị đánh tan ở chân núi Hồng Lĩnh, có một viên tì tướng chạy thoát được. Một mình một ngựa ông cứ nhằm hướng Tây đi mãi. Ông ta qua trăm núi ngàn sông, rồi bươn mãi vào đại ngàn, lưng chừng dãy núi Giăng Màn. Người tráng sĩ ấy còn trẻ, võ nghệ cao cường, gặp lúc thất thế, đành tìm nơi ma thiêng nước độc lẩn tránh bọn đao phủ. Đến dốc Tù, thấy núi hiểm rừng sâu ông dừng chân làm chòi ở lại, sống bằng nghề săn bắn chim muông và trồng trọt cây ngô, cây lúa, kết bạn ăn thề với mấy người bạn dân núi.

Gia Long làm lễ hiến phù ở Phú Xuân, cho voi xé xác Vua tôi nhà Tây Sơn. Tin bà Đô Đốc chết thảm truyền đi, xé ruột người tỳ tướng của bà trong rừng thẳm. Không mong trả được thù lớn, tráng sĩ chỉ còn báo ơn chủ cũ, bằng sớm tối hương khói thờ phụng ông bà Đô đốc.
Không biết tên tráng sí là gì. Dân núi gọi là chàng ẩn. Chàng ẩn búi tóc gọn, để bộ râu xanh, khoác áo vỏ sui và đóng khố. Ngôi nhà ông ở - thực ra là một gian chòi cất lên lưng chừng cây. Chòi ông rất bền chắc, toàn tre đực, néo dây nâu, lợp lá và vách nứa. Trong nhà ấy, có bếp sấy thịt khô, có bồ thóc và có cung nỏ giáo mác. Phải gan dạ lắm mới dám ở nơi này, bởi nói đến dốc Tù, dân tù thường lè lưỡi và lắc đầu, vì có quá nhiều thú dữ, mà duy nhất là con hùm cái, chột mắt.
Hùm ấy đã bắt đi bao nhiêu bò, dê, chó, lợn? Phải kể hàng ngàn. Nó đã ăn thịt bao nhiêu người? Phải kể hàng trăm. Người ta đồn hùm chột đã thành tinh. Nó lì lợm lại ranh ma, lừa lọc vô cùng táo tợn. Nó bắt bò, không phải xé rào vượt cửa, mà cứ lừa lúc nhá nhem, đi lẩn vào chuồng, nằm dưới sàn yên lặng. Nửa đêm nó mới chọn một con bê béo nhất, công đi, không một tiếng kêu.
Nó rình bắt những người đi làm nương, kiếm củi, kiếm trầm trong núi. Nhưng nó cũng có lần, leo thang lên sàn êm như ru, cõng đi một người đang ngủ bên bếp lửa. Cũng đã nhiều phường săn, nhiều nhà thiện xạ lần tới dốc Tù, tìm con chột. Phường săn vây rừng bủa lưới bao lần, chỉ về tay không. còn những người rình bắt nó thì phần lớn có đi không về...

Câu chuyện hãi hùng nhất là có một năm, một người sơn tràng đi vào rừng, nhặt được một con hổ mới đẻ. Anh ta xách con vật về, làm thịt nấu cháo mời bạn bè uống rượu. Đám người đang chè chén thì đã nghe tiếng hổ gầm chuyển núi xô rừng, rồi hổ chột từ đâu hiện ra, to tầm con ngựa, sắc lông đỏ như lửa. Thoáng chỗ này thoắt chỗ kia, nó xông xáo trong ngõ xóm quật đuôi đen đét, cào đất xoàn xoạt, cắn nát bất cứ vật gì cản đường. Đám người ăn uống trên nhà sàn khiếp hãi nhìn thấy con hùm đeo bầu vú thây lẩy, bẹ sữa sa gần quét đất. Nó tìm con, tìm người trả thù, phần vì thiếu con, phần nhức bầu sữa nên càng hung dữ liều lĩnh. Cả làng hốt hoảng nổi trống đạp phèng, la ó ầm ĩ xua đuổi ác thú. Nó gầm gừ, thong thả lẩn vào bụi rậm. Được một đêm yên lặng, tưởng chẳng có chuyện gì.
Sáng sau, mới thấy cái nhà sàn của người sơn tràng mời rượu hôm qua đã đổ sụp, vợ chồng anh sơn tràng xác nát như tương nằm ngay ở gầm sàn. Riêng có đứa con gái nhỏ gia đình tội nghiệp kia - mới được đâu hai tháng tuổi - thì biến đâu mất không để lại dấu tích. Chắc là nó nuốt tươi rồi! Chuyện hổ cái báo thù đã qua một, hai rồi chín mười năm, mà dân xóm vẫn còn nhớ tới để sởn gai ốc.
Hùm chột vẫn còn hoành hành rừng sâu, nhưng ít khi ra vào lối xóm. Có nghe trong rừng đếm có tiếng trẻ khóc, thấy hổ cái gầm gừ như đùa rỡn. Thế rồi có người lại bảo rằng chính mắt đã thấy vết chân cọp to bằng cái đấu, ở một bờ suối xen với vết chân cọp là vết trẻ con, đứa trẻ bò cả hai chân tay. Thế chả lẽ con hùm tinh ấy nó cho con người bú sữa và từ ấy đến nay, đứa trẻ đã lớn lên, và cũng sẽ thành ác thú, để rồi quay lại ăn thịt xóm làng.

Giữa thời ấy, chàng ẩn trốn tránh tai hoạ, tìm đến dốc Tù lánh nạn. Người trai trẻ này đã xâm phạm vào cái giang sơn của hùm tinh, và thế là nhất định sẽ phải xảy ra sự xung đột.
Nhiều lần, chàng ẩn trở dậy ban đêm, đánh hơi thấy mùi hôi nồng nặc lẩn khuất. Ông chắc là có hổ rình; về ban sáng thì ngay chân thang chi chít những vết chân hổ to bằng cái đầu. Ông muốn rình xem con thú này hành động ra sao, nhưng nó cũng lường được nguy hiểm. Những khi chàng ẩn ra rừng săn bắn hoặc làm nương, cứ thấy rờn rợn tóc gáy, ngoảnh nhìn bốn phía thì lại thấy lạnh tanh. Con vật tinh khôn lắm. Nó biết rằng con người nó rình đây, không phải tay vừa.

Nhưng rồi cũng có dịp đối mặt.
Một chiều hè oi bức, chàng ẩn ở nương ngô trở về, ra suối tắm mát, chàng đi tới nơi hàng ngày thì sực thấy một cảnh lạ mắt bên bờ suối, một con hùm khổng lồ ngồi quay lưng lại phía chàng, sắc lông đỏ như lửa. Nó chăm chú nhìn cái gì dưới suối. Thì ra, ở dưới dòng nước chảy vọt trắng xoá, một hình người bé nhỏ, đang vẫy vùng đùa rỡn với ngọn thác, tung toé trên hàng cuội trắng chàng ẩn lánh mình bên gốc cây nhìn kỹ. Người dưới suối kia là một đứa con gái tóc dài, trần như nhộng, da đỏ màu đồng, tay chân gày nhàng nhàng nhưng rất rắn chắc. Một con người nửa người nửa thú, đi bốn chân rất nhanh, và bộ mặt man dại, đôi mắt lóng lánh sáng. Nó vẫn ầm ĩ, hét lên những tiếng chối tai, vốc nước té lên con hùm mẹ, và hùm mẹ thì gầm gừ, thích thú cái đuôi dài như ngọ dáo, ve vẩy cong đuôi.
Chàng trẻ tuổi nhìn ngắm say mê. Thì ra lời đồn đại về con cọp nuôi người là có thật. Và từ buổi ban đầu nó cho người bú sữa cốt để cho nhẹ cơn đau, thì rồi nảy nở ra tình thân, và đã dăm mười năm, cặp mẹ con này sống, kiếm ăn, quấn quít bên nhau...

Chàng trẻ tuổi quên khuấy nguy hiểm, cứ lặng nhìn. Con hổ mãi đùa rỡn với con. Bỗng một tiếng rít báo hiệu như còi. Chính đứa trẻ từ dưới suối đã đánh hơi nhìn thấy kẻ rình mò. Và mẹ cọp cái đứng phắt dậy, quay một vòng, quắc con mắt chột lên. ác thú nhìn người chòng chọc. Con người nhìn lại...
Hai bên cách nhau vài chục bước, khoảng cách ấy, chỉ là một đà nhảy. Chàng ẩn đứng khom khom, không lùi không tiến, không nhúc nhích, chỉ quắc đôi mắt nảy lửa. Con cọp dữ xù lông, dựng bờm, con mắt đỏ như ngọn đèn. Phía sau nó, đứa con gái quẩn vào cạnh đuôi, cầu xin che chở.
Và thợ săn già dặn, chàng ẩn biết rõ cái thế của mình: Nếu nhát gan bỏ chạy là chết liền. Xông vào đánh nó cũng không lợi. Ác thú thường rất sợ những con mồi bất động. Chàng ẩn cứ đứng quắc mắt lên, và cuối cùng chàng thắng. Con vật hung dữ sẽ gầm, quật đuôi đánh vút, quay đi. Đứa con gái trần trục, khoẻ mạnh, cũng ngoăn ngoắt bò chạy theo.

Nhưng nhất định con hùm sẽ không chịu bỏ mồi. Chàng ẩn biết vậy, và từ đây, chàng ra sức đề phòng: Rào chặt chỗ ở, mài mũi lao nhọn, và tẩm một túi đầy tên độc. Luôn luôn chàng cảm thấy như con thú ác đã đến rất gần, nhất là ban đêm.
Điều không ngờ, là nó không đánh chàng vào ban đêm mà bất ngờ lại chọn một buổi trưa, giữa nương sắn. Hổ từ bụi rậm xông tới, nhảy vồ. Chàng tuổi trẻ lánh được, lảng ra xa một chút, rồi vút thẳng mũi lao.
Quả là con người có nghề. Mũi lao chọc thẳng vào mắt cọp. Lưỡi nhọn tẩm độc. Ác thú chết sau một hồi vật vã. Khi chàng thợ săn rút về, gọi bạn vào khiêng xác cọp, thì nghe tiếng thét thê thảm bật lên từ một bụi cây phía trước. Tiếng thét thê thảm của cô gái rừng.

Người ta xúm vào lột da, xẻo thịt, róc xương con thú dữ. Bộ xương, chàng ẩn biếu các ông già bản, thịt thì chia cho khắp mọi nhà. Chàng giữ tấm da, căng rộng, phơi nắng. Một bộ da đẹp vô cùng, đỏ rực như lửa, dài rộng, thừa trái một gian.
Cùng sau đó chàng ẩn để ý theo dõi xem con "hổ mồ côi" nó trốn chỗ nào. Biệt tăm một hồi. Thế rồi lại có dấu xuất hiện của người cọp. Nó luôn rình mò bắt gà, bắt lợn ẩn, và rõ là nó đã có lần toan trèo lên trên chòi, để trả thù. Có nên trừ đi mối hoạ này chăng?
Nghĩ đi nghĩ lại, chàng ẩn thấy rằng giết nó không khó, mà chính là dụ cho nó trở lại với người.

Chàng định ra một kế thật công phu.
Biết rằng đêm nào, cọp con cũng đến rình ở dưới chân thang, chàng ẩn đặt mồi ăn để sẵn, khi thì đầu lợn, khi thì con gà. Mới đầu, các thứ đó qua đêm còn y nguyên, cũng là người cọp sợ bẫy. Nhưng rồi sau chắc nó đói, nên đặt thứ gì, cũng bị cắp đi hết.
Chàng ẩn không nhữ bằng thịt sống nữa. Chàng đặt lợn, gà nướng. Rồi chàng tẩm muối, càng ngày càng mặn hơn một chút. Kèm với thịt, còn có cả cơm với ngô khoai. Thức ăn chín làm cho cái tính thú vật trong con người bớt đi. Nhưng khi hiện ra dưới ánh trăng, vẫn là một vật bò bốn chân, với những tiếng rít, tiếng gừ, học được từ mẹ cọp, và cứ mỗi khi thoáng thấy chàng ẩn, thì lập tức người cọp biến mất.
Chàng ẩn đặt thức ăn, gần mãi lại nơi chòi ở. Và rồi sau, chàng chờ cho người cọp có ra mặt, rồi ròng cây thả cơm xuống. Sợ hãi lạ lùng rồi quen dần, gần dần, phải có đến hàng năm. Cô gái tập đứng trên hai chân, quen dần với riếng nói, những lời dỗ dành, nũng nịu êm ái, và quen với tiếng cười.

Rồi một hôm, cô ta mỉm cười. Biết cười tức là đã biết làm con người. Cô gái đang tuổi lớn - khoảng mười lăm, mười sáu, hình vóc cân đối, tay chân gân guốc, và mặt mày, tuy ngơ ngác và man dại, nhưng có những nét xinh đẹp của cái tuổi lớn lên. Có lẽ quan hệ mới, dịu dàng, âu yếm với chàng thợ săn làm cho cô quên dần con cọp chột. Chưa dám trèo lên "tổ", cái chòi của người, nhưng mỗi khi chàng ẩn ra nương, lên tiếng hú gọi thì cô bé người cọp lại đến, khi bò làm thân. Chàng dẫn cô ta đi tắm ngoài suối, hái quả trong rừng, và thử cho mặc áo. Cái tính dã thú lại nổi dậy. Cô ta vứt hết những mảnh vải dính trên người, như sợ một thứ cạm bẫy, và chạy biệt tăm, hàng tuần không trở lại.
Mùa xuân đến, mùa những con dộc, con vượn gọi đàn, con hoãng, con nai đi tìm bạn, và cô gái rừng bơ vơ, nghe tiếng thôi thúc rộn ràng của mùa xuân trong hoa lá và trong con người, cũng say sưa tìm. Cái chàng thợ săn ấy cũng gọi cô, bằng những tiếng thật êm ái và say sưa tìm. Cái chàng thợ săn ấy cũng gọi cô, bằng những tiếng thật êm ái và đôi mắt đôi tay chàng mơn trớn vuốt ve.
Thế rồi, mùa xuân ấy, họ thành đôi, dễ dàng như tình yêu trong thiên nhiên vậy. Chỉ có tình yêu mới thật sự biến cô trở lại làm người. Người con gái hoang dã về ở hẳn với người yêu, chịu mặc áo, biết làm dáng, chải tóc, và cùng chàng ẩn đi tìm mật ong, săn bắn, làm nương, mỗi ngày tính khéo thêm một chút.

Người ta gọi cô gái ấy là nàng Hùm và cô nói - nói những tiếng thật gọn - thay cho tiếng ú ớ của loài thú. Cũng lại qua năm tháng, người vợ rừng của chàng ẩn mới làm quen với dân xóm - xã hội loài người. Hạnh phúc đến với người tráng sĩ nơi rừng sâu. Một chú bé con khoẻ mạnh mập mạp ra đời trong gian lều. Trong xó rừng có tiếng ru ời ợi. Người vợ địu con sau lưng, cùng chàng đi làm tất cả mọi việc trồng cây, hái lượm và săn bắn. Nhưng nàng ngăn chồng không bao giờ cho làm hại đến loài hổ - loài ác thú những đã từng cho nàng dòng sữa mẹ.
Chàng ẩn yên lòng với hạnh phúc, lãng quên đi cái tai hoạ đã đẩy chàng đến đất này. Và cũng không ngờ rằng câu chuyện cô gái hùm trở lại làm người đã đồn đi khá xa, một ngày một rộng.Cái tin ấy, đã đến tai kẻ thù của chàng, bọn quan lại quân lính nhà Nguyễn.

Một buổi chiều kia người vợ trên nương bỗng thấy nóng ruột lạ lùn. Linh tính báo môt tai hoạ. Nàng bồi hồi, bỏ hết công việc, địu con hộc tốc chạy về.
Cái tổ ấm nhà nàng chỉ còn là một đám lửa đang tàn, và chồng nàng đã mất tích. Nàng theo dấu vết và đánh hơi chạy theo. Ra khỏi rừng, đến đường cái. Một đám người lố nhố đi phía trước kia - toàn những đứa hung ác, áo quần sặc sỡ, gươm giáo tua tủa. Chúng lôi thêm một người bị trói gò cánh khuỷu đã bị đánh đập gần chết. Đó là chàng ẩn.
Chỉ trong một giây, tất cả sức mạnh và tính hung dữ của loài cọp - khi khát máu trả thù - cũng đùng đùng nổi dậy trong lòng đàn bà ấy. Cất một tiếng gầm man rợ, nàng nhún bốn chân, lao thẳng vào đám quân triều, nhanh như tên bắn. Rồi tay cào, miệng rít. Nàng Hùm dùng thế võ sơn lâm tạt ngang, xé ngược, móc mắt, cắn cổ, làm cho bọn lính gãy cổ, lòi ruột, chạy tán loạn.
Nhưng bọn lính đông người, lại có nhiều gươm giáo, và cả súng hoả mai. Chúng xúm lại đâm chém, giết chết ngay chàng ẩn, rồi xả súng bắn nàng Hùm bị thương ở ngực, ở mặt. Nàng Hùm không làm dữ được nữa. Sau tiếng gầm chuyển núi, nàng chạy tuốt vào rừng, và cứ thế, bươn mãi lên đại ngàn.

Hai ngày sau, dân xóm đi tìm, nghe tiếng trẻ con khóc bên bờ suối. Nàng Hùm nằm xoài bên gốc lim máu đọng thành vũng đã đặc. Đứa bé con khát sữa gần kiệt sức, giãy giụa gào khóc và rúc bú đôi vú chết. Người ta rước lấy em bé và đem nàng Hùm chôn cùng chồng ở dốc Tù.

Người coi vườn ươm hạt lim ngồi bên bếp lửa thâu đêm kể lại chuyện ấy, và nhận chính mình là cháu sáu đời ông ẩn bà Hùm. Ông ta quả quyết là có thật như vậy.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 431
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Fri Oct 26, 2018 6:45 pm



Tướng Sát Phu
Truyện Ngắn - Đỗ Ngọc Thạch

Một buổi sáng cuối Xuân đầu Hạ, hai chú tiểu của chùa Pháp Vân ra mở cổng chùa thì thấy một cái bọc nhỏ đặt trong một cái hộp giấy cứng không có nắp đậy, trong cái bọc đó là một đứa bé gái khoảng một tháng, đang thiếp ngủ! Mười ba năm sau, đứa bé gái bị cha mẹ bỏ vào nhà chùa đó đã trở thành một thiếu nữ mắt phượng mày ngài, mặt trái xoan, dáng dấp thanh tú. Hai chú tiểu ngày nào đã trở thành sư thầy, nói với nhau: “Chúng ta làm ơn cứu mạng như thế cũng được rồi, nay nên trả đứa bé lại cho cha mẹ nó, để nó ở lại đây tất sẽ gây họa lớn! Cái trán cao rộng, hơi gồ và sáng bóng, mũi thì dài sống mũi lại quá mảnh khảnh, lưỡng quyền cao rộng nên có số sát phu, đàn ông mà dây dưa với nó tất chết bất đắc kỳ tử!”

Rồi ngay sau đó, hai sư thầy gửi cô bé cho một vị giáo sư, nói là nó có tư chất thông minh, nhờ giáo sư kèm cặp, sau ắt sẽ trở thành nhân tài của đất nước! Quả nhiên, chỉ sau ba năm, cô bé đã học xong tất cả chương trình phổ thông trung học. Các bài thi đại học những năm trước đó, cô bé đều làm dễ dàng như ăn kẹo! Vị giáo sư đã hoàn tất mọi thủ tục để cô bé tham dự kỳ thi đại học tới, cô bé ắt sẽ đỗ thủ khoa, cả nước sẽ bị một phen bất ngờ!…
Nhưng, người bị bất ngờ lại chỉ là hai ông sư thầy của chùa Pháp Vân: Trước ngày thi một ngày, bà vợ vị giáo sư dắt cô bé trả lại cho nhà chùa mà rằng:
- Đứa bé này thông minh thật, đúng là Thần đồng, nhưng nó đã đem tai họa đến cho nhà tôi: ông chồng tôi gần hết đời mới đạt được công danh, vậy mà chỉ sau một đêm dan díu với nó đã chết thật thảm thương! (Khóc) Sáng nay, ông ấy dậy sớm tập thể dục như mọi ngày, vậy mà không thể trở về nhà với tôi được nữa: một chiếc xe tải to đùng đã nghiến nát ông ấy rồi!

Hai vị sư thầy đành để cô bé ở lại chùa. Việc truy tìm tung tích cha mẹ đứa bé vẫn chưa có kết quả. Hai vị sư thầy bàn với nhau: “Nó đã đem tai họa đến cho người ta, vậy phải cho nó cơ hội chuộc lại tội lỗi: cho nó đi học nghề chữa bệnh cứu người. Công, tội có thể bù đắp, hóa giải cho nhau!” Cô bé liền được gửi đến ở phòng mạch Đông Y của một Lương Y danh tiếng, nghe nói đã bốn đời hành nghề chữa bệnh cứu người, cha ông đã từng thọ giáo bậc danh y Hải Thượng Lãn Ông!
Cô bé đến phòng mạch Đông Y chưa được ba bảy hai mươi mốt ngày thì bà vợ ông Lương Y đã dắt nó đến trả cho nhà chùa mà không nói một lời! Hai sư thầy đi tìm hiểu sự việc thì được biết: một lần đang xem bệnh, kê đơn bốc thuốc cho con bệnh thì cô bé đi vào nói đau bụng không thể chịu nổi. Vị Lương y đành bỏ dở công việc mà tìm cách cắt cơn đau cho cô bé. Sau một hồi day huyệt, cô bé đã hết đau bụng nhưng vị Lương Y đã bị cơ thể cô bé làm cho mất hồn, không thể kiềm chế được cơn sóng tình dục cứ dâng lên cuồn cuộn. Sau cuộc giao hoan vội vàng với cô bé, vị Lương Y chẳng còn minh mẫn để kê đơn bốc thuốc cho con bệnh, kết quả là cái toa thuốc ấy đã giết chết con bệnh, người nhà con bệnh tức thì vác dao đến đòi mạng, chẳng kịp ngăn cản!

Hai vị sư thầy sau khi biết chuyện thì mười phần kinh hãi! Mặc dù hai vị sư thầy nghiên cứu rất kỹ về thuật tử vi tướng số nhưng trong thâm tâm họ đều không mấy tin vào những chuyện tào lao đó, chẳng qua chỉ là trò chơi của tạo hóa! Nhưng đến sự việc xảy ra ở phòng mạch Đông Y này thì cả hai vị sư thầy đều run sợ trước sự huyền bí của định mệnh mà thuật tướng số chỉ hé mở được phần nào sự huyền bí đó!
Suy nghĩ nát nước mà hai vị sư thầy vẫn chưa biết phải cho cô bé có tướng cách dị thường này đi đâu, chùa Pháp Vân này chưa có lệ thu nhận sư nữ mà tung tích cha mẹ cô bé vẫn chưa thấy tăm hơi gì? Thời gian cứ đều đặn trôi đi từng ngày, từng ngày, nó không thể dừng lại để đợi hai vị sư thầy nghĩ xong kế vẹn toàn, một tuần lễ trôi qua như một cái chớp mắt. Sang ngày thứ tám, một vị sư thầy có việc phải đi Tây Nguyên. Ba ngày sau, vị sư thầy ở nhà được báo mộng, người báo mộng lại là đích thân Bồ Tát: ”Đêm hôm trước khi đi Tây Nguyên, sư huynh con đã dại dột giao hoan với cô bé có tướng sát phu đó. Hôm qua, xe chở sư huynh con đã lăn xuống vực ở tỉnh KonTum, chiếc xe cháy rụi, sư huynh con đã bị cháy thành than rồi! Tiếc thay, trồng cây sắp đến ngày hái quả mà lại… Con ráng mà giữ thân đặng tu thành chính quả, đừng như sư huynh mà uổng công mấy chục năm tu hành!”. Vị sư thầy chỉ còn biết ôm bài vị của sư huynh mà khóc không thành tiếng…

* * *

Khi tôi đang lang thang kiếm sống ở Sài Gòn thì bất ngờ gặp một người bạn cũ là chuyên gia Hán-Nôm ở Hà Nội vào Sài Gòn làm việc. Khi biết được tình cảnh đang thất nghiệp của tôi, người bạn nói:
- Giá như ông nghe tôi, hồi còn làm ở Viện Văn học mà tranh thủ theo học một khóa Hán-Nôm thì bây giờ tôi có thể nhận ông làm việc ở chỗ tôi. Bây giờ phong trào tìm về cội nguồn rất rầm rộ, rất nhiều văn bia, thần tích, gia phả… cần được biên dịch…
- Tôi không thích nói “Giá như…”, ông không giúp được gì cho tôi cũng không sao! – Tôi nói cứng – Mà ông cũng chẳng phải ái ngại cho tình cảm của tôi bây giờ. Cái số tôi nó “bèo dạt mây trôi” dài dài, tôi đã quen rồi!
Người bạn vụt nhớ ra điều gì, vội nói:
- Ông nói tới chuyện tướng số làm tôi nhớ đến một vị sư thầy ở chùa Pháp Vân, vừa là bà con xa vừa là học trò Hán-Nôm của tôi. Vị sư thầy này rất giỏi tử vi tướng số, nếu ông có hứng thú, tôi sẽ dẫn ông tới chơi!
Dĩ nhiên là tôi rất hứng thú và người bạn chuyên gia Hán-Nôm liền dẫn tôi đến chùa Pháp Vân.
Khi chúng tôi đến chùa Pháp Vân, vị sư thầy vẫn chưa thôi ôm bài vị của sư huynh mà khóc thầm! Gặp người bạn chuyên gia Hán-Nôm và tôi, vị sư thầy mới dứt được nỗi đau mất sư huynh đã kéo dài ba ngày! Sau khi kể cho chúng tôi nghe đầu đuôi câu chuyện về cô bé có tướng sát phu, vị sư thầy nói:
- Tôi đã được Bồ Tát báo mộng sắp thành chính quả, vì thế bằng mọi giá phải cho cô bé đi khỏi chùa này. Tôi rất mong sư phụ và thí chủ đây giúp tôi!
- Chúng tôi xin sẵn lòng, sư thầy cho biết giúp như thế nào? – Tôi và người bạn Hán-Nôm cùng nói.
Vị sư thầy im lặng giây lát như lấy hơi rồi nói:
- Tôi không ngờ cái tướng sát phu của cô bé lại hiệu nghiệm kinh hoàng như vậy. Tôi đã đành phải lấy cái tướng cách đó ra mà đặt tên làm giấy khai sinh cho cô bé, gọi chệch đi một chút: Sa Phi! Tôi chợt nghĩ, cái tên đó gần giống với tên một loại đá quí, vì thế tìm một người có tên là một loại đá quí mà gả cho cô ta thì tai họa sẽ giảm thiểu đi nhiều, nếu người đó có lá số tử vi gần giống với lá số tử vi của Hàn Tín thì không còn lo ngại gì nữa!
Nghe tới đó, tôi giật mình kinh ngạc vì thấy mình đáp ứng đủ cả hai điều kiện mà sư thầy vừa nói. Tôi càng kinh ngạc hơn khi vị sư thầy chăm chú nhìn tôi một lát rồi nói:
- Thí chủ đây đã lập lá số tử vi chưa? Nếu chưa tôi xin làm giúp!
Tôi lấy lá số tử vi của mình ra đưa cho vị sư thầy mà nói:
- Tôi mới lập lá số này được một tháng, nhờ thầy xem lại!
Vị sư thầy đón lấy lá số tử vi của tôi, liếc nhanh qua rồi nắm chặt lấy hai tay tôi mà rằng:
- Người cứu mạng tôi đây rồi! Hẳn là Bồ Tát đã đưa tới!
Mọi việc đã được quyết định chóng vánh như là vị sư thầy đã chuẩn bị sẵn từ trước: vị sư thầy thuê cho tôi một căn nhà nhỏ ở vùng ven đô, tiền trả trước một năm, ba ngày nữa tôi sẽ đem xe hoa đến đón cô dâu Sa Phi về đó làm lễ động phòng! Tất nhiên mọi chi phí cho tiệc cưới (gọn nhẹ), sư thầy lo hết!

Ngày thứ nhất, tôi làm xong cái việc khá quan trọng là tân trang căn nhà nhỏ, nơi sẽ trở thành tổ ấm gia đình của tôi sau nhiều năm phiêu bạt giang hồ, lăn lóc khắp rừng xanh núi đỏ cho đến biển bạc sóng cồn! Có lẽ cái nhu cầu cần có điểm dừng đã quá mạnh khiến cho tôi không hề cảm thấy run sợ mảy may khi phải đối mặt với sứ giả của tử thần! Có lúc tôi cũng tặc lưỡi mà cười thầm: “Có chết trong tay người đẹp cũng còn hơn là chết tan xác nơi sa trường mịt mù bom đạn! Vả lại, vị sư thầy đã cam đoan với tôi rằng, cái tướng sát phu dù có dữ dội tới cỡ nào cũng không hại được tôi, vì tôi đã có quý nhân phù trợ, hơn chục lần tôi đã thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc đã khẳng định chắc chắn điều đó !”.
Quả nhiên, trong giấc ngủ ở nhà mới đêm đầu tiên, tôi đã được Phật Tổ Như Lai hiện ra báo mộng: Ngài hiện ra trong ánh hào quang rực rỡ, nhìn tôi bằng ánh mắt nhân từ, tuy Ngài không nói gì nhưng đã mỉm cười với tôi! Tôi hiểu ra ngay cái ẩn ý ở sau sự kiện này: tôi đã có công cứu nạn người nhà Phật (tức vị sư thầy chùa Pháp Vân) nên số phận đã mỉm cười với tôi, tôi cứ im lặng làm theo sự xếp đặt của số phận, không nói gì cả, vì im lặng là vàng mà!

Ngày thứ hai, tôi đi thuê xe ô-tô đón dâu và một bộ complê và mua một vài thứ lặt vặt cần dùng. Xong việc, cũng vừa tới bữa trưa, tôi vào một nhà hàng nơi con hẻm yên tĩnh để tự thưởng cho mình một chầu no say, đặng ngày mai bước vào cuộc chiến đấu mới đầy bí hiểm! Vừa uống xong li bia đầu tiên thì thật bất ngờ, Siêu – người bạn học với tôi từ năm học lớp mười ở trường Hải An (Hải Phòng), đi vào, một mình! Sau phút hàn huyên tôi mới được biết: Tốt nghiệp đại học Thủy sản, Siêu về làm việc ở Sở Thủy Sản Hải Phòng một thời gian rồi lên cơ quan Bộ, một thời gian sau nữa làm giám đốc một công ty xuất nhập khẩu thủy hải sản, hiện đang chuẩn bị nhận chức phó Tổng giám đốc của một Tổng công ty rất lớn. Hỏi đến chuyện vợ con, Siêu rầu rĩ nói:
- Ngày mai là ngày tao cưới vợ lần thứ hai. Nếu như vợ trước của tao đẹp như hoa hậu thì vợ này không thua gì Thị Nở của anh Chí Phèo!
Tôi ngạc nhiên:
- Thế thì thôi đi, như mày lấy vợ đẹp có khó gì?
- Không thể thôi dễ dàng như mày nói thế được! – Siêu nói thong thả – Cô nàng tuy xấu mã nhưng lại tốt tướng, phải nói là quý tướng, đó là tướng “vượng phu ích tử”: nàng vừa có ngọc đới yêu vi vừa có song long nhiễu nguyệt, người như thế trong ngàn người mới có một! Hơn nữa, cha và mẹ nàng đều có thế lực cực mạnh ở trong giới kinh doanh và quan trường!
- Thế thì còn rầu rĩ cái nỗi gì! Cứ cưới cô vợ Thị Nở ấy đi, khi nào thích “ăn phở” thì một cú điện thoại là có liền, mà “phở” bây giờ được “nâng cấp” tới cỡ siêu người mẫu, hoa hậu, ngôi sao điện ảnh… thậm chí có cả “hàng ngoại” với đủ các màu da, các quốc tịch! – Tôi nói như là rất sành sỏi trong đề tài này!

Siêu như là không hứng thú với cái đề tài “phở”, hỏi sang chuyện làm ăn của tôi và tỏ ra ái ngại cho cảnh ngộ hiện tại của tôi. Siêu nói:
- Chịu khó chờ một thời gian nữa, khi nào tao nhận chức, tao sẽ lấy mày về làm việc ở Phòng thông tin – tuyên truyền, chắc là mày sẽ làm tốt! Còn chuyện vợ con thì sao?
Khi tôi đưa tấm hình của Sa Phi cho Siêu xem và nói ngày mai sẽ là ngày đón dâu, Siêu kinh ngạc thốt lên:
- Tiên nữ giáng trần! Không thua gì tứ đại mỹ nhân bên Tàu ngày xưa! Cô gái này có vẻ đẹp bế nguyệt của Điêu Thuyền!
- Chính xác! – Tôi thừa nhận – Dung nhan thì hao hao như Điêu Thuyền, nhưng tư chất thì đặc biệt thông minh, trí nhớ thật siêu phàm. Đọc sách chỉ một lần là hiểu ngay và nhớ hết, có thể đọc ngược Truyện Kiều không sai một chữ! Cô ta đã tự học ba ngoại ngữ Anh, Pháp và Trung Hoa! Tuy không học qua trường nào nhưng có thể giải nhanh chóng tất cả các đề thi đại học.

Những câu chuyện về cô gái Sa Phi đã thực sự cuốn hút anh bạn Siêu của tôi, nhất là chuyện sát phu kỳ lạ và kinh hoàng! Khi chúng tôi đã uống hết một thùng bia Heineken, Siêu nói “xì-tốp” và kêu một ấm trà Thái rồi châm rãi nói:
- Mày phải hủy bỏ ngay đám cưới này! Để rồi tao sẽ làm mối cho mày một người vợ có tướng cách cực quý, vừa vượng phu ích tử vừa rất xinh đẹp, lại có chức danh Phó Giám đốc đàng hoàng!
- Dù có là Nữ hoàng bây giờ muốn cưới tao, tao cũng không ham. Đã nhận lời người ta rồi, mọi việc đã hoàn tất, không thể thất tín được, nhất là với người nhà Phật! Hình như trong chuyện này, cả Phật Tổ Như Lai và Quan Âm Bồ Tát đều nhúng tay vào! – Tôi nói to như quát.

Hai người hai quan niệm khác nhau thật khó mà có thể đi đến một sự hòa hoãn. Những tưởng cuộc tranh luận của chúng tôi sẽ dẫn đến xung đột vì chúng tôi vốn cùng nóng tính và từ thời học trò vốn chẳng ai chịu thua ai. Song, anh bạn Siêu của tôi tỏ ra bình tĩnh và sành đời hơn.
Không hiểu sao, Siêu bỗng đưa cho tôi cái điện thoại di động mới cứng và nói:
- Cái điện thoại di động này tao mua cho mụ vợ, nhưng hôm nay gặp lại mày ở đây, tặng mày luôn. Mày hãy gọi cho một người thân nào đó bất kỳ mời mai đến dự lễ cưới của mày, nếu người đó nhận lời ngay thì mọi điều mày nói từ nãy đến giờ đều đúng! Còn nếu mày gọi tiếp cho hai người nữa mà không ai nhận lời thì mày phải nghe tao, hủy đám cưới!
Tôi nhận cái điện thoại di động từ tay Siêu, ấn ngay số máy điện thoại của bà chị cả. Vừa nghe thấy giọng nói của tôi, bà chị đã nói ngay, giọng mếu máo:
- Mẹ ốm nặng, tình hình rất nguy kịch, cậu ra Hà Nội ngay, chị sẽ ra sau vì cả ba đứa cháu của cậu đều đang sốt ói mửa lung tung…
Nhận được tin dữ, tôi bảo Siêu đưa tôi đến chùa Pháp Vân ngay. Vị sư thầy chấp nhận quyết định chớp nhoáng của tôi: tôi phải đi Hà Nội ngay, Siêu sẽ thay tôi giải quyết vụ cô gái tướng sát phu.

* * *

Ra Hà Nội, tôi chỉ được báo hiếu mẹ một tháng thì mẹ tôi qua đời. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, mẹ tôi chỉ đọc cho tôi nghe một câu ca dao cổ:
“Con ơi, nhớ lấy câu này
Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi!”
Sau cái chết của mẹ, mọi suy nghĩ của tôi về sự đời như là có sự thay đổi rất lớn: Nếu như trước đây tôi “coi trời bằng vung”, sẵn sàng “bán trời không văn tự” thì bây giờ lúc nào tôi cũng cảm thấy sợ hãi, thấy mình yếu đuối, bé nhỏ vô cùng, cô đơn vô cùng! Tệ hại hơn là trong giấc ngủ thường có ác mộng: cảnh bom đạn nơi chiến trường ngày xưa cứ hiện về không ngớt, và kết cục những cơn ác mộng ấy là một chùm bom cứ lao thẳng vào người tôi, có lần là cả một tốp hơn chục chiếc máy bay “Thần Sấm”, “Con Ma” cứ nhằm tôi mà lao tới cùng với những âm thanh gầm rú ghê rợn !… Và cuối cùng tôi đã rút ra phương châm xử thế: tránh mọi va chạm với người đời và tránh xa mọi tai ương có thể xảy ra! Để làm được như thế, không có cách nào tốt hơn là làm theo các ẩn sĩ thời xưa!

Biết tôi có ý định tìm chỗ ở ẩn, Lò Giàng Páo – cậu học sinh cũ của tôi khi tôi dạy ở trường dự bị đại học Dân tộc Trung ương – nói sẽ dẫn tôi lên quê hương Hà Giang của cậu núi non trùng điệp, rất nhiều chỗ sơn thủy hữu tình có thể dựng Am cỏ như người xưa! Páo là người Lô Lô, rất nhiệt tình nên chỉ sau một tuần, tôi đã làm xong thủ tục chuyển vùng. Chỉ chờ Páo xin nghỉ phép là thầy trò chúng tôi có thể lên đường…
Sáng hôm ấy, tôi đang thơ thẩn ở Viện Bảo tàng dân tộc để chờ Páo thì bất ngờ gặp lại Giàng A Thạc – học cùng với tôi hồi lớp Năm ở trường Lương Ngọc Quyến – Thái Nguyên. Khi biết ý định muốn lên rừng của tôi, anh chàng họ Giàng người H’mông cười chảy nước mắt rồi kéo tôi đi, vừa đi vừa nói:
- Tao có thằng bạn rất thân, hóa ra lại là bạn học với mày hồi lớp Mười ở Hải Phòng. Mày nhớ thằng Đông chứ, tốt nghiệp trường Đại học Mỏ – Địa chất, nó về làm ở một đoàn Địa chất ở Thái Nguyên, tao với nó chơi với nhau từ đó. Rồi nó được đi làm luận án tiến sĩ ở Nga, rồi về làm bên Dầu khí. Lần này nó rủ tao về Vũng Tàu. Chắc chắn là mày gặp nó là sẽ bỏ ngay ý định lên rừng mà sẽ đi xuống biển với chúng tao!
Quả nhiên khi gặp Đông, tôi bị Đông thuyết phục đi Vũng Tàu với Đông và anh bạn người H’Mông, và điều đặc biệt là Đông sẽ nhờ tôi làm quản lý trang trại của Đông ở Đồng Nai – như vậy là vẫn có chỗ cho tôi dựng Am cỏ làm Ẩn sĩ. Thì ra Đông làm công tác Thanh tra của ngành Dầu khí. Đông kể cho tôi nghe khá nhiều chuyện thuộc loại “thâm cung bí sử” của ngành Dầu khí và lấy làm tiếc rằng tôi không còn làm báo nữa vì nếu còn làm báo sẽ được có những tài liệu “độc nhất vô nhị” về những vụ tham nhũng động trời mà Đông đang thu thập chứng cớ. Nếu như trước đây, hẳn là tôi sẽ bám riết lấy Đông mà khai thác tài liệu, nhưng giờ thì tôi đã “tắt lửa lòng”, không muốn quan tâm đến thế sự nữa, điều mà tôi quan tâm ở Đông là cái trang trại của Đông ở Đồng Nai. Vì thế, sau ba ngày tắm biển sảng khoái ở Vũng Tàu, tôi thúc giục Đông đưa tôi đến trang trại…

Trang trại của Đông thật là trên cả tuyệt vời, nếu tả cảnh thuần túy và thật cô đọng, ngắn gọn cũng phải hết năm chục trang sách khổ 13×19. Còn nói về tiềm năng phát triển kinh tế của trang trại thì cũng không dưới năm mươi trang! Tuy nhiên, điều thu hút sự chú ý của tôi ở cái trang trại này không phải là thiên nhiên kỳ thú mà là những người đang làm việc ở đây, mà đáng chú ý nhất là một người đàn bà trạc tứ tuần có tên gọi là Sái phu nhân. Tôi té ngửa khi chợt nhân ra khuôn mặt của Sái phu nhân rất giống cô gái Sa Phi ở chùa Pháp Vân! Chẳng lẽ đó chỉ là sự giống nhau ngẫu nhiên? Nhưng sau khi tìm hiểu thì sự ngờ vực của tôi đã có lời giải: bà Sái phu nhân chính là mẹ đẻ của cô gái Sa Phi! Và cái tên Sái phu nhân cũng do chữ “sát phu” mà ra: từ năm mười bảy tuổi đến năm bốn mươi tuổi, bà ta đã mười lần lên xe hoa và cả mười tân lang đều chết “bất đắc kỳ tử”, điều đáng ngạc nhiên là cả mười tân lang đều là quan chức cỡ giám đốc, Tổng giám đốc, trong đó có hai vị thuộc ngành du lịch, hai vị ở ngành Ngân hàng, hai vị ở ngành Dầu khí, hai vị ở ngành Thủy hải sản và hai vị ở ngành Thương mại! Với “chiến tích” đó, bà Sái phu nhân còn có tên gọi “Thập đạo Nữ tướng quân”, đó là giới sử học gọi còn cánh nhà báo thì gọi là “Dũng sĩ diệt giám đốc”.
Khi tôi nói rằng tôi đã gặp cô gái Sa Phi ở chùa Pháp Vân thì bà Sái phu nhân bỗng khóc rống lên một hồi rồi nói:
- Tôi thật đáng chết khi bỏ con bé vào chùa Pháp Vân! Con ơi, con hãy tha tội cho mẹ! Sau đó ba năm, tôi có nhờ người đến tìm nhưng không thấy, tính đến nay đã gần hai mươi năm trời, không biết con tôi thế nào? Nếu ông biết con tôi ở đâu dẫn nó về đây với tôi, tôi xin tình nguyện làm tôi tớ cho ông mãi mãi!

Vốn có tính dễ mủi lòng trước những lời cầu xin đẫm lệ, tôi nhận lời đi tìm Sa Phi, vả lại tôi cũng có chút “duyên nợ” với cô gái này! Tôi lập tức đi tìm Siêu. Có lẽ đến nhà cô gái xấu như Thị Nở nhưng có tướng “vượng phu ích tử” mà chắc là Siêu đã cưới làm vợ thì sẽ gặp Siêu. Nhưng khi tôi đến thì cô Thị Nở nói với tôi:
- Anh Siêu chê em xấu xí quá nên đã hủy hôn mà cưới cô gái có cái tên “Sa Sát” gì đó rồi! Nghe nói họ đang hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt, anh lên đó sẽ gặp ngay!

Tôi đến ngay Công ty của Siêu thì họ cũng nói vậy và cho tôi số máy di động của Siêu. Tôi gọi ngay cho Siêu thì người trả lời lại là tiếng Sa Phi: ”Em là Sa Phi đây! Anh Siêu của em đang ở đâu hả? Chúng em đang ở thác Đăm Bri, anh ấy vừa rơi xuống thác cách nay năm phút, đội cứu hộ đang tìm nhưng chưa thấy xác!”. Không biết cô gái Sa Phi còn nói gì nữa không mà tôi chỉ nghe thấy tiếng thác dội ầm ào!

Đỗ Ngọc Thạch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Mon Nov 05, 2018 4:05 pm



Gào Trăng Trong Núi
Nguyên tác: Sangetsuki
Nakajima Atsushi (1909-1943)
Người dịch: Nguyễn Nam Trân

Lời Người Dịch:
Nakajima Atsushi sinh năm 1909 ở Tokyo và qua đời năm 1943 cũng tại đây do suy tim, hậu quả của chứng suyễn kinh niên. Vỏn vẹn trên ba mươi năm làm người, ông đã chứng kiến toàn chuyện bất hạnh trong đó có cảnh tổ quốc Nhật Bản nhảy vào chiến tranh Thái Bình Dương một năm trước khi ông tạ thế. Lúc nhỏ đau yếu mãi, rốt cục tốt nghiệp đại học, ông lao đao vì sinh kế. Sau khi dạy văn ở trường Nữ Trung Học Yokohama một thời gian, ông đành để vợ con ở Tokyo đi nhận chân thư ký ngoài đảo Saipan đổi gió chữa bệnh. Được ít lâu, ông lại từ chức trở về Tokyo, lao đầu viết và viết nhưng chẳng mấy lúc lên cơn suyễn nặng rồi mất.

Văn chương ông phần lớn bắt nguồn từ cổ điển Trung Quốc, có lẽ vì xuất thân từ một gia đình cựu nho. Thời trẻ, theo cha qua Triều Tiên, Mãn Châu, sau có dịp đó sinh sống và du lịch Trung Quốc, quần đảo Ogasawara, Saipan nên hơi văn phảng phất hương vị trời xa xứ lạ. Ông thường lồng khung tác phẩm trong bối cảnh cổ xưa như thời Xuân Thu (với các nhân vật như Khổng Khâu, Tử Lộ, Vệ Trang Công, Thúc Tôn Báo). Hán (Lý Lăng, Tô Vũ, Tư Mã Thiên), Đường (Sa Ngộ Tịnh)... Ngoài Hàn Phi Tử, Vương Duy, Cao Thanh Khâu, Sử Ký, Tả Truyện ông còn ham đọc các tác giả Âu Mỹ như Anatole France, Aldous Huxley, Robert Stevenson, O'Henry và Goethe nên lối hành văn của ông chính ra chịu nhiều ảnh hưởng Tây Phương.

Từ những đề tài cũ, ông chỉ giữ lại những chi tiết làm mình xúc cảm rồi dàn dựng tài tình một thế giới hư cấu huyền ảo và qua đó, bày tỏ quan điểm về con người và cuộc sống.

Gào Trăng Trong Núi (Sangetsuki, Sơn Nguyệt Ký) mượn tích Nhân Hổ Truyện, một thiên truyền kỳ đời Đường do Lý Cảnh Lượng soạn, trích từ tác phẩm Cựu Tiểu Thuyết Ngô Tăng Kỳ biên. Tuy nhiên, chắc chắn thể nghiệm thân xác bị suyễn hành hạ của Nakajima Atsushi cũng góp phần không nhỏ vào việc xây dựng tác phẩm. Qua nó, chúng ta thấy bóng dáng Hoá Thân (Metamorphose) (người biến thành sâu) của văn hào Tiệp gốc Do Thái Frank Kafka và những truyền thuyết về người hóa sói ở Âu Châu nhưng diễn ra trên một bình diện và mang một ý nghĩa khác.

Nguyên tác ra mắt độc giả năm 1941 trên tờ Bungakkai (Văn Học Giới) đã được nhà xuất bản Kadogawa in khổ bỏ túi từ 1968 và tái bản đến lần thứ 55 năm 2003. Văn ông thường được dùng làm tài liệu giáo khoa cho thanh thiếu niên Nhật.

***

Lý Trưng (1) người Lũng Tây (2) học rộng tài cao, cuối năm Thiên Bảo (3), tuy hãy còn trẻ mà đã tên đề bảng hổ, được bổ ngay chức Úy ở Giang Nam. Tính tình ngang bướng, chẳng coi ai hơn mình, không chịu nổi phận hèn kém nên chỉ ít lâu đã treo ấn về vườn. Nằm khểnh ở núi cũ, đóng cửa tuyệt giao người đời, mê mải làm thơ quên hết ngày giờ.

Lý nghĩ thay vì ôm chức lại quèn suốt ngày quì gối trước bọn thượng quan nhơ bẩn, chi bằng theo đuổi nghiệp thơ để trăm năm sau danh thơm còn lưu truyền hậu thế. Tuy nhiên, tên tuổi nào có thấy đâu mà cái nghèo cứ bám miết làm Lý không khỏi bực bội. Từ đấy, mặt mày tiều tụy, gầy guộc xác ve. Ngoài cặp mắt với cái nhìn sắc cạnh riễu cợt, chẳng còn tìm đâu ra dấu vết phong thái trẻ trung, đôi má tròn căng của ông tân tiến sĩ ngày đăng khoa.
Chỉ được vài năm, không kham nỗi cảnh túng quẫn, vì miếng cơm manh áo vợ con, đành khuất tiết, khăn gói về Đông nhận một chức quan nhỏ địa phương. Làm như thế một phần cũng vì đã tuyệt vọng về đường thi phú. Bè bạn đồng lứa ngày xưa ai nấy đều đã đường mây nhẹ cánh nhưng không nói cũng thừa biết, việc phải nhận mệnh lệnh từ lũ xưa kia Lý vẫn cho là lục tục tầm thường và không thèm để mắt tới là cực hình cho lòng tự ái của kẻ một thuở tài danh. Lý đâm ra tức tối nóng nảy, bắt đầu cảm thấy không kìm được triệu chứng cuồng khí đang bốc lên trong người. Cách đó một năm, khi có việc quan phải đi xa, đến chỗ trọ bên bờ sông Nhữ Thủy thì bệnh bỗng phát ra. Nửa đêm, mặt mày chợt biến dạng, Lý đứng trên giường gào hú những âm thanh lạ lùng không ai hiểu nổi rồi cứ nguyên như thế nhảy xổ xuống, chạy như ma đuổi vào trong đêm tối. Lý không bao giờ trở về nữa. Cho người kiếm khắp núi non rừng rú quanh vùng cũng chẳng đâu ra vết tích. Từ dạo ấy, không còn ai rõ hành tung.

Năm sau, có quan Giám Sát Ngự Sử người quận Trần tên gọi Viên Tham phụng mệnh xuống miền Lĩnh Nam, dọc đường ngủ đỗ đất Thương Ô. Sáng hôm sau, mới tờ mờ đất, quan đang sửa soạn lên đường thì kẻ lại giữ nhà trạm cho biết đoạn đường sắp tới thường có hổ ra vồ người nên bộ hành phải đợi trời sáng rõ mới dám đi. Bây giờ hãy còn quá sớm, quan nên đợi thêm chốc nữa. Thế nhưng Viên Tham có lẽ cậy tùy tùng đông đảo, gạt phắt lời khuyên của dịch lại.
Khi đoàn người đang nương theo bóng trăng tà đi ngang truông cỏ giữa rừng thì đúng như dự đoán, một con mãnh hổ chợt từ lùm cây phóng vọt ra. Hổ mới dợm chồm về phía Viên Tham thì thoắt cái đã quay ngoắt vào bụi rậm. Giữa lùm cây bỗng nghe có tiếng người thì thào lập đi lập lại “Suýt chút nữa xúc phạm đến cố nhân!”. Giọng nói ấy Viên Tham có dịp nghe ở đâu rồi.
Tuy đang kinh hãi nhưng trong đầu Viên Tham bỗng như có ánh chớp loé ra, sực nhớ mới kêu lên: “Tiếng nói kia có phải của bạn ta là chàng Lý Trưng không?” Viên Tham vốn đỗ Tiến Sĩ đồng khoa, là một người bạn thân trong số người hiếm hoi Lý cho là bạn. Có lẽ chỉ vì Viên tính khí ôn hoà, không xung khắc với cái kiêu căng ngạo mạn của Lý.

Bẵng một lúc, trong lùm cây không thấy ai đáp. Thế rồi nghe tiếng khóc thút thít nghẹn ngào vọng ra từng hồi. Một đỗi sau, mới có giọng trầm trầm trả lời: “Vẫn còn gọi tôi là Lý Trưng đất Lũng Tây được đấy!”.
Viên Tham quên cả sợ, xuống ngựa tiến lại gần lùm cây, bồi hồi kể lể nỗi nhớ nhung lâu ngày vắng bạn. Lại hỏi tại sao không chịu ra khỏi lùm để gặp nhau.
Lúc ấy mới nghe giọng Lý Trưng trả lời cho biết ngày nay mình đã mang hình quái vật gớm ghiếc thì đâu dám bước ra chào cố nhân mà không khỏi thẹn. Hơn nữa, có chường mặt chỉ làm bạn cũ sinh lòng khiếp sợ và ghét bỏ thôi. Tuy nhiên hôm nay không hẹn mà gặp cố nhân giữa đường thì lòng mình vô cùng cảm khái quên mất tị hiềm. Thế thì cho dù một khoảnh khắc, chỉ xin đừng đem lòng ghê tởm cái vỏ ngoài xấu xí kinh khiếp mà cho gã Lý Trưng ngày xưa được trò chuyện đôi lời.

Về sau Viên Tham nghĩ lại mới thấy lạ lùng nhưng thực tình lúc đó quan đã đối phó với tình huống dị thường này hết sức tự nhiên, không hề kinh động. Quan bèn truyền lệnh cho đội ngũ tùy tùng dừng chân lại và một mình đứng trước bụi rậm trò chuyện với cái tiếng người kia. Họ hết trao đổi về những tin đồn ở kinh đô, tin tức bạn bè cũ, địa vị của Viên bây giờ rồi đến lượt Lý Trưng chúc mừng Viên Tham. Sau bao câu chuyện ân cần với giọng thân mật như thuở còn trai trẻ, Viên Tham mới hỏi Lý Trưng vì cớ gì để thân phải đến nước nầy. Trong bụi cỏ, tiếng người mới thuật hết ngọn ngành:

Cách đây độ một năm, trên đường đi xa, ban đêm lúc tôi ngủ đỗ ở quán trọ bên bờ Nhữ Thủy thì chợt thức giấc và nghe như ngoài cửa có ai gọi tên mình. Tôi mới nghe theo bước ra ngoài thì tiếng kêu từ trong bóng tối đôi lúc cứ tiếp tục vẫy gọi. Bất giác, tôi đuổi theo tiếng gọi ấy và sau một hồi chạy bất kể trời đất như trong cơn mơ, tôi đến tận bìa rừng. Thế rồi không biết tự lúc nào, hai bàn tay tôi đã cào lấy mặt đất và nương theo đó phóng đi. Tôi cảm thấy trong người dào dạt một nguồn sinh lực sung mãn giúp tôi trèo vượt đá ghềnh thoăn thoắt. Nhìn lại mới thấy chỗ từ ngón đến khuỷu tay, hình như lông lá đã bắt đầu mọc.
Lúc trời sáng thêm một chút, đến chỗ dòng sông dưới thung lũng nhìn hình thù in trên mặt nước thì thấy mình đã hóa hổ rồi. Lúc đầu còn tưởng là hoa mắt, sau lại ngỡ đang ở trong giấc chiêm bao. Bởi vì tôi từng có kinh nghiệm lúc đang ở trong giấc mộng lại thấy mình nằm mộng nữa kia. Đến khi thấy cần phải hiểu đây không là mộng mị gì cả, tôi mới đâm ra thẩn thờ. Rồi khiếp sợ. Một sự sợ hãi sâu xa vì biết rằng bất cứ chuyện gì quái lạ đến đâu cũng có thể xảy ra. Thế nhưng cớ gì tai nạn lại đổ lên đầu tôi thế nhỉ. Không hiểu được. Hoàn toàn không hiểu nổi. Chắc số trời bắt tôi phải sống cái kiếp nầy mà không cần cho biết lý do, chỉ nên lẳng lặng chấp nhận định mệnh đã an bài như thế. Tôi đã định hủy mình. Có điều lúc tôi chực chết đi cho yên bỗng có con thỏ chạy qua trước mặt. Nhân tính liền biến đâu mất. Khi cái thằng người trong tôi bừng mắt dậy thì mồm tôi đã dây đầy máu thỏ, bên cạnh lông thỏ rụng vương vãi rồi. Đấy là kinh nghiệm làm hổ đầu tiên trong đời tôi. Còn nói chi biết bao điều tôi tiếp tục làm kể từ ngày ấy.

Duy có một đôi giờ trong ngày, tình cảm con người trở lại trong tôi. Khi ấy, tôi vẫn còn sử dụng được tiếng người và có khả năng suy nghĩ những điều khá phức tạp như xưa. Hãy còn nhớ làu làu nội dung sách vở kinh sử. Lúc đó tôi có dịp đem cái lòng con người để đánh giá hậu quả những hành vi tàn ngược tôi đã làm trong lốt hổ, rồi lúc nhìn lại số phận mình, tôi thấy không có gì đáng thẹn, đáng sợ và đáng tức hơn. Tuy nhiên theo thời gian, những giây phút trở về với bản tính con người càng ngày càng ngắn lại.
Tôi hãy còn lấy làm quái lạ tìm hiểu tại sao mình lại hóa hổ nhưng mấy lúc gần đây, có khi bất đồ tự hỏi tại sao trước kia mình là người cơ nhỉ. Đó mới là điều đáng sợ. Mai mốt, cái phần tình cảm con người chắc sẽ bị tập quán thú vật chôn biến đi chăng? Khác nào nền móng cung điện cổ xưa bị vùi trong đất cát. Cứ như thế, một ngày khi quên hết cái quá khứ làm người rồi thì chỉ còn là một con hổ hung hăng, gặp cố nhân ở giữa đường nhận không ra, có vồ ăn thịt cũng chả cảm thấy chút hối hận. Thế thì người lẫn thú, cả hai trước kia là loài gì thế? Trước đó hãy còn nhớ gốc gác sau dần dần quên bẵng đi và cứ ngỡ hình thù hiện tại mang trên thân xác mới là cái ta xưa nay? Nhưng thôi, chuyện đó ra sao cũng được! Để mặc tình cảm con người sót lại trong lòng biến mất đi có khi giúp mình sống hạnh phúc hơn. Dầu vậy cái phần con người trong ta nó lại không sợ gì hơn là rơi vào cảnh đó. Ôi, buồn làm sao, lo làm sao mà cũng xót xa làm sao mỗi lần nghĩ đến khi mình sẽ quên đi có lúc đã làm người. Tình cảm này ai thấu cho ta. Chắc nào ai biết được! Nếu có, phải là người sống cùng hoàn cảnh. À nầy, phải rồi! Trước khi tôi hoàn toàn hết còn là người, chỉ xin cố nhân giúp cho một chuyện.

Nãy giờ, cả Viên Tham lẫn đám tùy tùng đều nín thở, lắng tai nghe tiếng nói lạ lùng từ trong lùm cây vọng ra. Giọng ấy lại tiếp tục:
Không dám yêu cầu gì quá quắt. Lý tôi bình sinh làm thơ và những mong nhờ đó để chút danh lại trên đời. Nay sự nghiệp chưa thành mà số phận đã ra nông nỗi nầy. Xưa kia sáng tác được vài trăm bài vẫn chưa có dịp cho lưu hành ở đời. Bản thảo bây giờ cũng không nhớ để đâu. May là trong số đó vẫn còn thuộc lòng vài chục. Chỉ mong bác giúp ghi chép gìn giữ hộ. Không phải muốn dựa vào đó để dương danh thi sĩ. Thơ tôi hay dở mặc lòng nhưng nó tượng trưng cho những gì một đời đeo đẳng đến nỗi cửa nhà khánh tận, tính khí cuồng điên. Nếu không gửi gắm một chút lại đời sau thì chết đi khó lòng nhắm mắt.

Viên Tham bảo bộ hạ đem giấy bút rồi theo tiếng nói trong bụi mà ghi chép lại. Giọng Lý Trưng từ lùm cây vang ra sang sảng. Dài ngắn cả thảy trên ba mươi bài, văn thể cao nhã, ý nghĩa phiêu dật, chỉ đọc qua một lượt đã thấy bài nào cũng bộc lộ tài năng phi phàm của tác giả. Tuy trong bụng không khỏi khen thầm nhưng Viên Tham mơ hồ cảm thấy quả tình không có gì để nghi ngờ năng khiếu trời cho của Lý mà quái lạ, các tác phẩm coi như vượt hẳn người đời thế nầy xem ra hãy thiêu thiếu cái gì.
Sau khi đã để tuôn trào những vần thơ cũ, giọng của Lý Trưng đột nhiên đổi khác, như thể tự trào:
Đáng thẹn cho tôi, ngày nay đã mang cái lốt gớm ghiếc nầy rồi mà vẫn cứ muốn nhìn thi tập của mình bày trên án thư của khách phong lưu tài tử đất Trường An. Nằm dài trong hang đá mà còn mơ mộng chuyện đâu đâu. Cứ chế riễu tôi đi! Thằng đàn ông đáng thương, nhà thơ thì không thành mà lại thành hổ. (Viên Tham nghe và chợt nhớ cái tật thích tự trào của Lý Trưng ngày còn trẻ mà đau lòng cho bạn). Được rồi, để bác có thêm dịp cười cợt, tôi xin ứng khẩu đọc mấy vần thơ nói lên cái tâm sự bây giờ của tôi. Nó là bằng cớ cho thấy trong xác hổ nầy vẫn còn có chút Lý Trưng:

Ngẫu nhân cuồng tật thành thù loại,
Tai hoạn tương nhưng bất khả đào.
Kim nhật trảo nha thùy cảm địch,
Đương thì danh tích cộng tương cao.
Ngã vi dị vật bồng mao hạ,
Quân dĩ thừa diêu khí thế hào.
Thử tịch khê sơn đối minh nguyệt,
Bất thành trường khiếu đãn thành hao.

(Nhỡ mắc bệnh cuồng mang xác lạ.
Tai họa bao vây, trốn thế nào?
Nanh vuốt ngày nay ai chẳng sợ,
Nhớ xưa danh tiếng một thời cao.
Tôi thân quái vật vùi truông cỏ,
Bác ngựa xe quan thế mạnh bao!
Đêm nay khe núi nhìn trăng sáng,
Muốn rống thê lương, thoắt nghẹn ngào)

Lúc đó, trăng tàn, ánh sáng tỏa bàng bạc, móc trắng thấm ướt mặt đất, gió lạnh len qua hàng cây báo hiệu ngày sắp rạng. Mọi người hầu như đã quen với không khí quái dị, chỉ than thầm cho cái thái độ khinh bạc của nhà thơ. Lý Trưng lại tiếp lời:
Tôi vừa thưa không biết cớ gì mình ra nông nỗi nầy nhưng suy đi nghĩ lại thì sự thể xãy ra không phải hoàn toàn vô cớ. Khi tôi còn là người, tôi lại cố kiếm cách lánh đời. Họ bảo tôi ngạo mạn, tự cao tự đại. Nhưng ai nào biết cho thái độ đó chỉ bắt nguồn từ tính nhút nhát của tôi. Dĩ nhiên, ngày xưa trong xóm ngoài làng, được xem như kẻ tài năng xuất chúng, tôi làm gì không khỏi tự kiêu. Nhưng phải nói cái tự kiêu đó xuất phát từ tính nhát nhúa mà thôi. Một đằng tôi muốn mượn văn chương để lưu danh với đời, một đằng lại ngại tìm thầy, kết bạn hòng trao đổi dùi mài thêm. Nói cách khác đi, cứ như là cao ngạo không muốn chung đụng với những kẻ lục tục thường tài. Nhưng điều đó cũng là do lòng tự tôn phát xuất từ nhát nhúa và e thẹn. Sợ làm hao phẩm chất châu ngọc của mình đi nên không gắng công khắc khổ rèn cập. Tin rằng mình đã có được phân nửa chất ngọc, không chịu xuống ngang hàng với hàng ngói vỡ gạch vụn. Rồi dần dần lìa bỏ cuộc đời, xa lánh loài người. Uất ức tủi hờn đã nuôi dưỡng cái lòng ngạo mạn và tính nhát nhúa ngày thêm to lớn.

Người ta ai cũng phải dạy cho thuần một con mãnh thú trong người. Bản sắc con thú như rập khuôn với tính tình của ta. Trong trường hợp tôi, con thú đó là lòng ngạo mạn do e thẹn sinh ra. Nó là tính hổ. Con hổ đó đã làm tôi đánh mất thân danh, làm khổ vợ con, làm tổn thương bè bạn. Tóm lại, bên ngoài thân xác biến dạng thế nào thì lòng tôi cũng biến chất theo thế ấy. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy chính mình đã làm uổng phí cả chút tài mọn mình có. Cái câu răn đời thường thấy ở cửa miệng người ta là « cuộc đời nếu không làm gì cả thì thấy nó dài nhưng có chuyện làm lại rất ngắn » thường được đem ra mà đùa nhưng sự thực, cái mối lo lắng hèn nhát ngại mình « phô cho người ta thấy cái tài hãy còn non nớt » để rồi đâm ra bê trễ không chịu khắt khe với bản thân mới là tất cả cái dở của tôi. Có biết bao nhiêu người tài nghệ thua sút tôi xa nhưng họ một lòng một dạ trau giồi nên đã đường đường thành những nhà thơ. Giờ mang xác hổ rồi, tôi mới thấm thía điều đó. Mỗi lần nghĩ đến, tôi cảm thấy tâm can dày vò vì hối hận. Nhưng tôi hết còn sinh hoạt như người thường nữa rồi. Giả dụ giờ đây trong đầu tôi có nghĩ được một bài thơ hay. Liệu có cách nào truyền đạt cho người khác biết không?
Hơn nữa đầu óc tôi mỗi ngày càng giống hổ thêm. Biết sao đây, hở trời! Bao tháng ngày bỏ phí hỏi tìm đâu? Lần hồi tôi không chịu nổi nữa. Mỗi lúc như thế, tôi trèo lên mỏm đá trên đỉnh núi đằng kia, hướng về thung lũng hoang vu mà gầm. Tôi muốn đem nỗi buồn đang đốt cháy ruột gan thổ lộ cho ai kia được biết.
Tối hôm qua, tôi lại lên chỗ ấy ngước nhìn vầng trăng gào thét. Để một ai đó hiểu dùm nỗi thống khổ trong tôi. Tuy nhiên, muông thú nghe tiếng tôi gầm thì sợ hết vía, chỉ biết nằm bẹp dí. Cả núi rừng sương móc chung quanh chắc chỉ xem đó là tiếng rống của con hổ trong cơn giận dữ cuồng điên. Chồm lên không, phục xuống đất mà gào đi nữa, chẳng có lấy một người thấu được lòng. Cái thuở làm người cũng thế, có ma nào hiểu cho con tim nhạy cảm, dễ bị tổn thương của tôi đâu! Cái bộ lông đẫm ướt nầy, đâu chỉ vì thấm mỗi sương khuya.
Dần dà, màn đêm bốn bề rồi cũng vén lên. Giữa mấy hàng cây vọng từ đâu đến âm hưởng tù và báo hiệu bình minh rúc nghe buồn bã.

Phải từ biệt mà thôi. Giọng Lý Trưng cho biết cái giờ bước vào vòng mê muội (giờ phải trở về kiếp hổ) sắp điểm rồi. Thế nhưng trước khi chia tay xin nhờ cậy thêm điều nữa. Đó là chuyện vợ con. Gia đình tôi còn ngụ ở quê cũ đất Khách Lược, đến nay họ vẫn không rõ những gì đã xảy đến cho tôi. Khi cố nhân từ miền Nam trở về, có thể nào nhắn hộ với họ là tôi đã chết rồi không? Chuyện xảy ra hôm nay xin kín tiếng cho. Nói ra thì quá trơ trẽn nhưng xin thương xót lũ cô nhi mà lo toan để mai sau chúng nó không phải chết đói chết rét vệ đường thì ơn ấy không gì sâu dày hơn.
Nói vừa dứt lời, trong bụi rậm lại vang ra tiếng khóc thảm thiết. Viên Tham cũng mắt lệ lưng tròng xin nhận lời bạn phú thác. Nhưng giọng của Lý Trưng thoắt trở lại cái khẩu điệu tự trào khi nãy:
Đáng lẽ ra phải nói chuyện nhờ vả nầy trước tiên nhưng thuở làm người tôi chỉ nghĩ đến cái thi nghiệp chẳng ra gì của tôi thôi chứ có lo vợ con phải đói lạnh đâu. Vì chừng đó mà bị đọa xuống hàng cầm thú cũng nên!
Ngoài ra Lý còn nhắn thêm với Viên Tham khi từ phương Nam trở về xin chớ mượn con đường nầy nữa. Bởi vì lúc đó mình đã mê muội, không nhìn ra người cũ mà nhảy ra vồ cũng nên. Rồi sau khi giã biệt, đi đến chỗ gò cao cách đó chừng một trăm bước, nhớ quay mặt nhìn lại một lần cho. Để biết rõ hình dạng của tôi bây giờ. Không phải muốn khoe tư thế hùng dũng mà chỉ cho bác thấy hình thù xấu xa gớm ghiếc để mai sau qua chốn nầy, bạn dù có thương cũng ghê tởm không muốn tìm gặp nữa.

Họ Viên hướng về bụi rậm nói mấy câu thân ái từ biệt rồi lên yên. Bên trong bụi lại văng vẳng tiếng khóc thê thiết không gì cầm lại được. Viên Tham bao lần ngoái về hướng bụi rậm rồi ra roi đi trong nước mắt.
Như lời Lý dặn, đoàn người ngựa lên tới gò cao mới quay lại, đảo mắt nhìn cái truông giữa rừng cây ban nãy.

Tức thì một con hổ từ trong cỏ rậm phóng ra, leo lên đường cái và nhòm về hướng họ. Hổ ngẩng đầu lên nhìn vầng trăng giờ đây đã nhạt nhòa, gầm lên độ hai ba lần, xong quay mình lao vào bụi rậm rồi không thấy hình dáng đâu nữa.

Chú thích:
(1) Trong truyền kỳ của Lý Cảnh Lượng, Lý Trưng vốn dòng dõi hoàng tộc.
(2) Thuộc tính Cam Túc bây giờ.
(3) Niên hiệu thời Đường Huyền Tông (742-756)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Tue Nov 13, 2018 11:36 am



Cái Đầu Lâu
Truyện Ngắn: Thế Lữ (1907-1989)


Chiều hôm đó, tôi ngồi chơi với Ngô Đàm trong phòng sách của anh ta. Sau một hồi chuyện phiếm, bạn tôi lấy ra một cái hộp gỗ trắng đem khoe tôi:
- Tôi mới mua được cái này hay lắm.
- Cái gì?
- Rồi anh sẽ biết.
Nắp hộp mở, anh lấy ra một cái đầu lâu lớn, nương nhẹ đặt lên bàn, rồi nhìn tôi mỉm cười. Tôi hỏi:
- Anh mua vật này làm gì?
Đàm không trả lời ngay, lim dim mắt, gạt tàn thuốc lá và thong thả nói:
- Cái đầu lâu là biểu hiện sự chết, là một vật mà các nhà hiền triết hoặc tu hành bên Âu châu thường bày trước mặt, bên những chồng sách đầy bụi bám để suy nghiệm về những lẽ huyền bí của "đời sau". Đối với một nhà thông thái thì đó là một vật khảo cứu cũng như viên đá lạ, một chất hóa học hay một ống cấy vi trùng. Tôi không phải là nhà hiền triết, không phải là nhà tu hành hay nhà thông thái, nên cái đầu lâu đối với tôi là một thứ bài trí ghê gớm, một thứ đồ... "mỹ thuật" của người hiếu kỳ như tôi. Nhưng có lẽ trong những lúc đọc sách ở nơi tĩnh mịch này, trong những khi suy xét về những điều bí hiểm của sự chết, của đời người, thứ đồ "bài trí" kia sẽ là một vật kích thích cho trí tưởng tượng của tôi... Biết đâu bạn anh sẽ chẳng là một nhà tư tưởng trầm mặc như nhà hiền triết, nhà tu hành?
Câu nói văn hoa, nửa nghiêm trang, nửa đùa cợt của Đàm khiến tôi hơi ngạc nhiên, nhìn bạn.
Bỗng cửa phòng bật mở, một người thiếu niên mặc âu phục bước vào, chưa kịp nói gì đã trông thấy cái đầu lâu, rồi đứng đực ra đó. Đàm hỏi:
- Kìa, anh Chung, sao hôm nay trông kỳ khôi thế?
Lúc ấy, Chung mới ngoảnh lại sẽ gật đầu chào tôi, rồi lại trân trân nhìn cái đầu lâu trên bàn, mãi mới nói:
- ồ anh Đàm! Anh cũng có cái này ư?
- "Cũng có?" Thế ra tôi không thể có một cái đầu lâu được sao?
- ồ, thế anh không thấy gì lạ chứ? Anh không thấy gì ư?
Chung ngồi xuống, đưa tay vuốt tóc, mặt hãy còn vẻ lo lắng, nhìn hết tôi đến Đàm rồi đến cái đầu lâu. Anh nói:
- Sao lại có sự ngẫu nhiên lạ thường đến thế? Tôi đến đây cũng định thuật cho anh nghe về cái đầu lâu ở nhà tôi... thì lại gặp ngay chính vật này... Chính cái đầu lâu này. Tôi đã tưởng nó đang ở nhà tôi biến lại đây, nên tôi mới sửng sốt đến thế. Để tôi kể đầu đuôi câu chuyện các anh nghe.
Chung lấy chén nước uống cạn một hơi, lóng cóng châm điếu thuốc lá rồi nói tiếp:
"Trước kia tôi vẫn ở trên Hàng Bông như anh đã biết. Nhưng cách đây nửa tháng, anh Lịch là người học trường Mỹ thuật mới ra năm nay, tìm được một cái nhà ngói ở ngoại ô để làm phòng vẽ. Nhà ấy một tầng chia làm hai căn rộng. Lịch ở một căn còn một căn gọi anh Thao học năm thứ hai trường thuốc với tôi đến ở cho vui và chịu đỡ Lịch ít tiền thuê nhà.
Chỗ này ở xa thành phố, chung quanh toàn bãi cỏ, một mặt ngoảnh ra phía đường cái. ở chỗ yên tĩnh như thế để học hành, lại rẻ tiền nhà, mà có hai người bạn cùng nhã nhặn tử tế cả thì còn gì dễ chịu hơn. Tôi không bao giờ phàn nàn nếu trưa hôm kia anh Thao không có cái ý kiến kỳ quặc đem về nhà một cái đầu lâu.


Đầu lâu thì tôi không lạ gì. Hồi còn học trường Bưởi, tôi đã được trông thấy nhiều lần ở phòng thí nghiệm. Nhưng cái mà anh Thao lấy ở nhà thương về lại là của một tên tù mới chết, trông còn mới, trắng hơn cái này nhiều, mà xương chưa được khô lắm. Thao xem ra quý hóa cái vật quái gở ấy lắm. Tôi thì không. Tôi thoạt trông thấy nó bỗng ghê rợn cả người... Có lẽ vì tôi thoáng nghĩ đến cảnh hiu quạnh chung quanh nhà của chúng tôi, hay có lẽ tôi vừa mới đọc xong những truyện linh hồn hiển hiện anh cho mượn ngày trước... Cái đầu lâu đặt trên bàn học anh Thao kê gần cửa sổ lúc nào cũng như chăm chú nhìn tôi bằng hai con mắt đen và rỗng, mà hai hàm răng thì nhe ra một cách chế giễu độc địa. Tôi có cái cảm giác khó chịu hình như "nó" biết cả những điều tôi nghĩ thầm. Tôi sinh ác cảm với "nó" và chắc hẳn "nó" cũng không ưa gì tôi. Cái vật trơ trơ kia không ngờ lại làm tôi băn khoăn đến thế. Tôi lấy đủ các nhẽ để tự nhủ mình cũng không xong, mà nỗi lo ngại của tôi mỗi lúc một thêm nặng nề như đè nén mãi lòng mình.
Tối hôm ấy, thấy bứt rứt trong người, để Thao ngồi học một mình, tôi đi nằm trước. Anh Lịch ở phòng bên cạnh vào nói mấy câu chuyện rồi lại ra ngay. Tôi nằm đó chừng đến hơn một giờ đồng hồ mới ngủ đi được. Nhưng cả trong giấc ngủ, tôi vẫn bị cái đầu lâu kia ám ảnh hoài. Tôi nằm mơ toàn thấy những đầu lâu với xương người, hay những cái ghê sợ hơn thế. Một lần tôi hốt hoảng thức dậy thì ngọn đèn cây trên bàn học anh Thao đã tắt, trong nhà tối đen như bưng lấy mắt, bên ngoài cũng vậy, vì tôi cố tìm cái cửa sổ chấn song sắt cũng không trông thấy đâu. Bên cạnh tôi anh Thao chừng đã ngủ say, tiếng thở đều và thong thả. Thỉnh thoảng một tiếng ngáy ở buồng anh Lịch lại đưa sang. Mọi vật quanh nhà đều im lìm. Không một tiếng lá bay, không một hơi gió thoảng. Tôi muốn quên mà không thể quên cái đầu lâu kia được. Tôi thấy hình như nó có tri giác, nó "vẫn còn thức" và trong bóng tối, đang nhăn răng tráo mắt nhìn sự kinh khiếp của tôi.
Bỗng nhiên tôi thấy lạnh tái người đi. Từ phía bàn giấy anh Thao, tôi chợt nghe thấy những tiếng ken két như hai hàm răng nghiến vào nhau. Tiếng ấy nghe mỗi lúc một rõ dần, mà lâu đến gần một phút. Trước tôi còn muốn tin là tiếng anh Thao nghiến răng trong mơ. Nhưng Thao nằm bên cạnh tôi, mà tiếng kia thì rõ ràng ở bàn giấy đưa lại. Tiếng nghiến răng vẫn không dứt, nghe ra giận dữ và ghê gớm hơn lên... Tôi vội nắm lấy cánh tay anh Thao, hết sức lay. Thao thức dậy hỏi thì tiếng nghiến răng lại ngừng bặt. Tôi ghé tai Thao nói rất nhỏ:
- Này Thao ạ, tôi vừa thấy một việc lạ quá!
- ở đâu?
- ở cái đầu lâu.
- Có lẽ nào?
- Cứ để yên mà nghe.
Rồi chúng tôi không nói gì thêm, lắng tai nghe ngóng một lúc thì lại thấy như trước, tiếng nghiến răng cứ trước nhỏ, sau to dần. Thao liền đứng phắt lên, chạy lại bàn đánh diêm thắp đèn: cái đầu lâu vẫn nguyên chỗ cũ, nhưng lúc ấy ngoảnh mặt nhìn về phía giường tôi nằm.
Chúng tôi nhìn khắp nhà một lượt. Không có gì lạ. Cửa sang phòng anh Lịch vẫn đóng kín. Của sổ tuy không có cánh, nhưng có chấn song sắt, mà cái bàn giấy của Thao kê xa đó những năm sáu bước, áp vào bức tường đối diện với giường của chúng tôi.
Thao bảo tôi rằng những tiếng vừa rồi là tiếng chuột gặm, nhưng chính anh cũng biết nhà chúng tôi không có qua một con chuột nào. Và cái tiếng lúc nẫy nghe to, nghe rõ một cách khác thường lắm.
Thao thấy tôi lo ngại cũng không bình tĩnh được, nhưng anh cố tìm lời an ủi tôi.
Chúng tôi để đèn rất lâu chờ xem, song không thấy gì. Nhưng khi tắt đèn lên giường nằm chưa đầy nửa giờ, thì cái tiếng nghiến răng lúc nãy lại bắt đầu, mà lần này thêm dữ dội.
Lúc ấy, cây đèn để ngay cạnh giường ngủ. Tôi chập ba que diêm làm một bật lên thắp. Trông sang bàn giấy thì cái đầu lâu đang lắc lư như thằng phỗng nhựa của trẻ con chơi!
Ngô Đàm bỗng phì cười lên thì Chung có ý không bằng lòng.
"Quả thế, cái đầu lâu cứ nhăn nhở, lắc lư đến nửa phút. Mà chả có gì đáng cười hết. Chính anh Thao là người không sợ gì cả, lúc ấy cũng phải kinh ngạc mà nhìn tôi.
Suốt đêm ấy, chúng tôi không ngủ, cứ để đèn ngồi rình thì lại không thấy xảy ra việc gì nữa.
Sáng hôm sau (tức là hôm qua) chúng tôi nói chuyện ấy cho anh Lịch nghe thì anh cũng không tin. Sau thấy tôi nhất định nài anh Thao đem cái đầu lâu vứt đi, Lịch mới cho là chuyện có thực. Nhưng anh nói:
- Đã thế thì để đêm nay tôi cũng rình xem, rồi có thế nào vứt đi cũng không muộn.
Thì đêm qua cũng lại giống đêm trước. Cứ tắt đèn được một lúc lại thấy cái đầu lâu nghiến răng ken két mà thắp đèn lên lại thôi.
Tôi nhân đọc các sách anh cho mượn và gần đây lại được đọc một đoạn dật sử về hồi đại cách mệnh Pháp, thấy kể chuyện những thủ cấp sau ba, bốn giờ vẫn còn sống được, nên tôi càng cho việc cái đầu lâu kia nghiến răng là một việc phi thường. Bây giờ thì tôi tò mò hơn là khiếp sợ. Tôi bảo Thao cứ để yên cái đầu đấy và đến rủ anh ngủ ở nhà chúng tôi một tối xem. Tôi vẫn biết anh hay để ý đến những thứ chuyện kỳ dị này lắm".

* **


Ngô Đàm vui lòng nhận lời. Tôi cũng ngỏ ý muốn đi với anh ta một thể và cùng hẹn đến tối sẽ có mặt ở nhà anh Chung.
Lúc Chung ra khỏi, Đàm xoa tay mỉm cười một mình. Tôi hỏi ý anh về chuyện vừa rồi ra sao, thì Đàm chỉ nhún vai, nói:
- Tôi sợ không gặp được cái ly kỳ như anh Chung nói, không khéo lại chỉ là một câu chuyện buồn cười thôi. Nhưng dẫu sao, ta cứ đi xem, không biết đâu mà nói trước được.
Bẩy giờ rưỡi hôm ấy chúng tôi đến nhà thì các anh Thao, Chung và Lịch đang ăn cơm ở phòng vẽ của Lịch. Đàm đứng xem mấy bức vẽ than của Lịch được chừng năm phút thì các anh ăn xong. Chúng tôi sang cả phòng bên kia nói chuyện.
Trước hết, Đàm đi lại bên bàn cầm cái đầu lâu ngắm nghía mãi. Mặt anh có vẻ nghiêm trang như nhà thông thái đang khảo cứu, nhưng đôi mắt tươi cười một cách hóm hỉnh. Bỗng anh quay lại hỏi Lịch:
- Anh có thấy gì lạ ở cái đầu lâu này không?
- Không.
- Giá lúc anh cầm nó lên xem, anh chú ý chút nữa, thì thấy bốn chiếc răng trong cùng hà gần một nửa.
Lịch ngạc nhiên hỏi:
- Nhưng sao anh lại biết tôi đã cầm lên xem?
- Có gì là lạ. Anh cầm lên xem cẩn thận lắm, nhưng lúc chực bỏ cái quai hàm dưới ra để xem bộ răng thì trượt tay suýt đánh rơi xuống bàn. Có phải không?
- Phải. Nhưng sao anh biết?
- Tôi thường đọc sách của Conan Doyle, nên cũng tập được một đôi chút tỉ mỉ. Những vết đen này là bởi than vẽ ở ngón tay anh ra... Chỉ cần để ý một chút cũng thấy được. Anh đang vẽ ở phòng ngoài chắc chợt nghĩ đến cái đầu lâu, nên vào xem thử chứ gì?


Rồi Đàm đi khắp gian nhà, cúi nhìn các chân tường một cách cẩn thận như người đi tìm một vật quý đánh rơi. Anh lại nhờ Lịch cầm đèn ở phòng bên sang, còn tự anh cũng cầm cây đèn bên cạnh cái đầu lâu, và bảo dẫn đi xem chung quanh nhà.
Bên ngoài tối như mực. Trên trời mây ám không có một ánh sao nào. Ngoài một hàng dóc rào mau, xa xa thấy một đám sáng chiếu lên: đó là thành phố Hà Nội. Sau một cuộc tìm xét rất kỹ càng, nhưng rất vô ích, Đàm đạo mạo như một nhà trinh thám, bước vào trong nhà rồi xoa hai tay vào với nhau. Thốt nhiên, như sực nghĩ ra điều gì, anh nói:
- Tôi khờ quá, không đem cái đèn bấm ở nhà tôi lại.
Thao nói:
- Hay để tôi lên phố mượn?
- Anh chắc có mượn được không. Thôi để tôi về nhà lấy vậy. Phiền thực, nhưng thế chắc chắn hơn.
Lúc Đàm trở lại thì đã gần mười một giờ: anh đi nửa đường thì xe đạp nổ bánh.


Chúng tôi để sẵn diêm với đèn gần tầm tay. Cái đèn bấm Đàm trao cho Chung, còn anh ta thì ngồi ở một cái ghế thấp bên cạnh cửa sang phòng anh Lịch. Trước khi tắt đèn, Đàm dặn chúng tôi không ai được làm gì, nếu không có lời anh ấy bảo.
Đèn tắt. Bóng tối dầy đặc trong nhà. Tôi đưa tay lên tận mắt cũng không trông thấy. Thao với Lịch nằm sát vách, còn Chung và tôi thì ngồi ở mép giường. Không ai nói qua một lời. Tôi nghe hơi thở của Chung thì biết anh ta hồi hộp lắm.
Cái lo ngại dần dần ám đến. Mà sự yên lặng ở gian phòng có nhiều người này lại càng có vẻ khác thường. Chúng tôi cùng hết sức lắng tai, tiếng đồng hồ đeo ở tay anh Lịch nghe rõ mồn một. Tôi đếm tiếng tích tắc để biết thời giờ, nhưng mãi cũng sinh chán, và trong lòng lúc ấy thấy nôn nao một cách lạ. Tâm linh hình như bị kích thích và hình như báo cho tôi biết trước có một điều ghê gớm sắp xẩy ra...

Có lẽ chúng tôi ngồi đó đã ngót một giờ, có lẽ lâu hơn nữa; mà tịnh không thấy một tiếng động nào hết. Hai anh Thao và Lịch chừng như đã ngủ, tôi đưa tay định xem họ còn thức không thì bỗng Chung nắm chặt lấy cánh tay tôi, nói khẽ quá đến nỗi tôi phải đoán ra chứ không nghe rõ:
"Im! Nghe!"
Tôi chú ý nghe thì quả nhiên thấy có tiếng ken két nghiến răng thực. Lúc ấy tôi mới hiểu cái khiếp sợ của Chung. Lúc ấy tôi mới thấy rõ ràng cái ghê rợn của người gặp ma quái. Tay Chung vẫn nắm chặt lấy cánh tay tôi, nhưng hơi run run. Còn tôi thì cứ muốn quát to lên, quát rất lớn để phá tan cái yên lặng ghê gớm lúc đó.
Thấy hơi nóng ở sau gáy, tôi biết hai anh Thao và Lịch đã ngồi dậy. Tôi tráo mắt nhìn bóng tối đen đặc và mỗi lúc tưởng thấy hình thù dị thường hiện lên.

Tiếng nghiến răng càng lâu càng rõ thêm. Thỉnh thoảng ngừng lại một giây rồi lại nghiến nữa. Đàm ngồi trên chiếc ghế gần đó có lẽ cũng sinh nát đảm: chúng tôi không trông thấy anh, mà đợi mãi cũng không thấy anh bảo sao.

Hốt nhiên, từ phía đầu lâu, một tiếng quái gở gào lên trong những tiếng cười nghe sởn tóc gáy. Mọi người đều vùng dậy, tôi không đợi anh Đàm nữa, vớ lấy diêm đánh, mà Chung cũng bật đèn bấm lên.
Cái đầu lâu lắc lư như điên cuồng, và ngay cạnh đấy, một vật đen ngòm đang giẫy giụa. Mắt chúng tôi khi đã đỡ chói thì nhận ra đó là một con mèo đen bị giữ trong tay Đàm.

Đàm lúc ấy, tay thì giữ mèo trên bàn, nhưng người thì ở dưới gầm bàn. Anh cả cười lách chui ra, vừa gặp lúc chúng tôi ồ cả lại. Con mèo giương mắt kinh hãi nhìn chúng tôi. Một con mèo to, đen, mà gầy, lông mọc xờ xạc không đều và không mượt.
"Đấy (lời Đàm nói) cái quái dị mấy hôm chỉ là ở con vật đói khốn nạn này mà ra cả. Các anh nên nhớ rằng cái đầu lâu vô tri giác kia còn mới, mới luộc xong, vẫn còn hơi thịt... Từ lúc anh Chung mới kể chuyện, tôi đã ngờ thế... Đến lúc xem lại cái đầu lâu với cái cửa sổ không có cánh này, thì tôi đã hơi chắc.

Mà bây giờ thì đã nắm được, hì! Đã nắm được "điều huyền bí" ở trong tay".
Sự lo sợ của chúng tôi bấy giờ lại đổi ra sự kinh ngạc. Vì có ngờ đâu câu chuyện kỳ quái ấy chỉ gây nên bởi một con mèo.

Rút từ tập truyện ngắn
Bên đường Thiên lôi, 1936.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Sat Nov 24, 2018 8:45 am



CHIẾC HỒ HUYỀN BÍ
Trần Mộng Tú

Bà Hằng đứng lặng trước gương tự ngắm mình. Buổi sáng mới ra khỏi giường, mái tóc xanh mướt còn sổ tung, ôm lấy khuôn mặt không một vết nhăn, nước da trắng ngà với hai con mắt long lanh sáng trong gương đang nhìn lại bà như khiêu khích, khiến bà bối rối.

Tiếng động ở trong bếp, con gái bà đang lo bữa ăn sáng cho thằng út 12 tuổi trước khi xe bus trường học đến đón. Bà nghe tiếng cô nói với vào phòng bà.
- Mẹ, con đi làm. Con làm thêm trứng cho mẹ ăn sáng rồi, chốc nữa mẹ chỉ nướng bánh thôi.
- Cám ơn con. Bà nói vọng ra, giọng uể oải. Tối qua, chủ nhật có mấyngười bạn của con đến chơi, bà rút vào phòng nhưng vẫn không ngủ sớm được. Cái cơ thể của một người đàn bà ngoài 70 không chiều bà nữa, không phải cứ đặt lưng xuống muốn ngủ là ngủ ngay như vài chục năm về trước.
Con rể bà đã dậy đi làm từ năm giờ sáng, anh ta phải làm theo thời khóa biểu của miền đông nước Mỹ, cách miền tây ba tiếng. Hai đứa cháu ngoại lớn đã vào đại học đi xa, may mà có thằng út bonus này mới lên mười hai. Ba giờ tan học, nó về trò chuyện với bà được vài câu khi bà cho nó ăn, rồi nó còn làm bài, còn học võ, còn bạn bè. Thôi thì nó bận cho đến khi bố mẹ nó về.
Con, cháu ra khỏi nhà, bà xuống bếp ăn sáng, một mình. Bà ngồi uống chậm từng ngụm cà phê pha với sữa Ensure, cô con gái ép bà phải dùng sữa này từ mấy tháng nay khi bà mất kí.

Một khúc phim quay mờ mờ trong trí bà, nhưng càng lúc càng rõ nét.
Ngôi làng Trout Creek ở Montana, mùa hè của mười năm về trước, hai vợ chồng bà về thăm ông chú chồng. Ở đó bà gặp một nhóm bạn già của chú, họ nói chuyện về một chiếc hồ lạ lùng như trong huyền thoại. Họ bảo, nơi đây có một chiếc hồ nhỏ, mấy chục năm hay có khi cả trăm năm, nó lại xuất hiện trong đám lau nằm về phía tây ngôi làng. Nếu ai có cơ duyên gặp nó sẽ thấy một sự nhiệm mầu xẩy ra. Cái hồ đó không phải ai cũng thấy được, và không biết nó hiện ra và biến đi lúc nào, nhưng nó có một phép lạ, nó có thể lấy đi tuổi tác trên thân thể mình.
Bà tò mò hỏi:
- Thế có nghĩa là gì?
Một cụ ông nhìn vào mắt bà nói:
- Có nghĩa là khi bà trầm mình xuống đó, nó có thể lấy đi một số tuổi của bà, và sau khi bà bước ra khỏi nước, bà thành một người của ba mươi hoặc hai mươi năm về trước, tùy theo lòng mong ước của bà.
Bà mừng rỡ, lấy làm thích thú với cái chi tiết hấp dẫn đó, đòi chồng dắt bà đi tìm chiếc hồ đó vào ngay buổi sáng hôm sau. Bà thuyết phục chồng:
- Em vào tuổi 60 rồi, các vết nhăn rõ quá rồi, da đã chấm đồi mồi. Anh lại không cho em đi sửa sắc đẹp, thì anh phải cho em đi tới chiếc hồ đó chứ. Biết đâu em có may mắn, chiếc hồ nổi lên cho em “Cải lão hoàn đồng”.

Ông đã chiều bà, hai người dậy từ tờ mờ sáng, đi về phía tây của ngôi làng. Họ đi xuyên qua những bãi đất ẩm ướt, giẫm lên những rễ cây chằng chịt, lách những đám lau sậy hoang vu, họ ngồi trong một đám lau khác quay mặt về hướng đông, ngồi chờ mặt trời lên để thấy chiếc hồ huyền bí hiện ra. Mặt trời lên từ phía đông, lên đến đỉnh đầu, rồi từ từ ngã xuống và biến mất ở phía tây. Hai vợ chồng vừa đói, vừa khát, cái hồ vẫn không xuất hiện, đành phải bỏ về. Cả nhóm bạn già của ông chú ngày hôm qua xúm lại, khi thấy bà xuất hiện không có gì khác lạ, họ chép miệng ra về. Có người trước khi đi, còn ngoái cổ lại nói:
- Kiên trì đi, mai lại ra, mốt lại ra, biết đâu ông thần hồ ông ấy sẽ động lòng.
Một bà già nói:
- Trong suốt đời ở đây, chúng tôi ra cả mấy chục lần rồi, chẳng hề thấy cái hồ xuất hiện. Chỉ là huyền thoại thôi.
Bà lão khác giễu:
- Biết đâu chị là người Á Đông ông thần thích chị hơn. Cứ cố nữa đi.
Bà không nản, bà cố nữa thật, cái ao ước được trẻ đẹp lại trong lòng bà đã có từ lâu, từ khi bà chấm dứt chu kỳ thời sanh nở. Đã rất nhiều lần bà đứng trước gương, thử tưởng tượng cặp mắt mình được kéo lên một chút cho bớt xụp; cái cầm độn thêm một chút cho thanh mảnh như thời con gái; da hai bên mang tai kéo lên cho hai cái dấu ngoặc bên mép bớt xệ xuống, buồn phiền; cái môi bơm cho đầy đặn quyến rũ và nhất là bộ ngực được tiếp một bịch chất lỏng vào cho da căng lại như thời ba mươi tuổi.
Sau một tuần liên tiếp, buổi sáng phải dậy từ mờ sương, và về khi mặt trời lặn, ăn bánh mì, uống nước chai, ông không chiều bà nữa, ông nói, bà muốn thì đi một mình, vì bà đã thuộc đường rồi. Cũng chỉ còn hai hôm nữa là ông bà phải trở về nhà mình ở Florida.

Bà đã đi lần cuối cùng, một mình và cái hồ huyền bí đã hiện ra với bà. Bà nhớ rõ ràng cái cảm giác không rõ rệt của buổi sáng hôm đó. Bà bước trên đất ẩm, bước trên cỏ còn ngậm sương và bước cuối cùng vừa lách qua khỏi đám lau, bà thấy ngay một cái hồ nhỏ, nước mầu tím ngắt như pha mực dưới chân bà. Bà chưa kịp suy nghĩ đã thấy như có ai kéo chân bà xuống, dìm bà ngập đầu và khi bà hoàn hồn thì cái hồ đã biến mất, cạn khô như nó chưa hề dâng lên trên mặt đất.
Mặt trời vẫn chói chang trên đầu, bà ra khỏi đám lau, lên xe về nhà ông chú như một người mộng du, như có ai lái xe mà bà chỉ ngồi bên cạnh. Chồng bà là người đầu tiên đón bà ngay khi cửa xe mở, ông đứng sững, nhìn bà, cả phút sau mới thốt lên được một câu ngắn:
- Em đã toại nguyện.
Bà chạy ngay vào phòng tắm, nhìn mình trong gương. Bà sững sờ đến không cất nổi một tiếng kêu, bà tưởng mình đang đứng đối diện với cô con gái ba mươi tuổi của mình. Bà nhìn kỹ một lúc, thấy mình còn trẻ hơn con.
Từ đó bà sống một cuộc đời mới. Khi bà đi ra đường với chồng, người không quen tưởng hai cha con; bà đi với con gái, họ tưởng chị em; bà đi với cháu nội, cháu ngoại người ta tưởng bà chỉ là một chị giữ trẻ. Những người trong gia đình, trong họ hàng, bạn hữu cư xử với bà khác đi. Họ không thân thiện như trước nữa. Bạn bè xa cách vì thấy bà đã sửa sắc đẹp và trẻ hơn họ nhiều quá, con cái bà ngượng ngùng khi gọi bà là mẹ, nhất là cậu con trai ngoài bốn mươi, lung hơi gù và tóc đã muối tiêu. Cô con gái thì không phản đối ra mặt nhưng cô tránh đến nơi công cộng cùng bà. Chỉ có mấy đứa cháu là chúng thích thú khi khoe với bạn bè là bà của chúng trẻ hơn tất cả các cô giáo trong trường.

Ban đầu bà rất hãnh diện và tự phụ về sự trẻ trung xinh đẹp của mình, bà bấp chấp những người chung quanh đang ganh tị nhan sắc của bà. Bà đi ra đường nhiều hơn, đi một mình, thích nói cho người lạ biết bà bao nhiêu tuổi để được nhìn mắt họ tròn xoe thèm muốn, ganh tị. Bà thấy mình tự tin hơn, yêu đời hơn. Bà mặc quần ngắn, váy ngắn, áo hở cổ trông vẫn rất tự nhiên, không làm người khác khó chịu vì nó hòa hợp với nét trẻ trung trên mặt và vóc dáng của bà. Nhưng có một điều làm bà không hài lòng là hình như chồng bà không mấy hứng thú khi ôm một người vợ quá trẻ hơn mình. Ông thấy ông mỗi ngày một già đi mà bà vẫn đứng nguyên một chỗ. Bà gặng hỏi ông thì ông chỉ ngập ngừng nói:
- Cũng được… cũng được.
Có lần hai ông bà đang xem truyền hình, thấy quảng cáo về mỹ viện, ông tắt ngay, vừa đứng lên vừa nói trống không:
- Họ không biết là làm cho trẻ cái vẻ bên ngoài mà gan ruột vẫn già nua, sức khỏe vẫn suy xụp thì khác gì hình nộm.
Bà giận lắm, nhưng không biết phản ứng thế nào cho đúng, vì quả thật cơ thể bà vẫn là cơ thể của một bà lão bẩy mươi.

Cái ông thần hồ huyền bí mấy chục năm hay cả trăm năm mới hiện ra một lần đó rất oái oăm. Ông lấy đi tuổi tác trên thân thể nhưng ông vẫn để sức khỏe của tuổi tác suy hóa theo thời gian ở lại. Ông đã cho thân thể bà lại tuổi thanh xuân như một cái hộp mỹ miều nhưng lại đựng trong đó những vật cũ kỹ như số tuổi của bà.
Bà vẫn có tất cả những vấn đề về sức khỏe của một phụ nữ từ tuổi sáu mươi bước sang bẩy mươi ở trong một thân thể trẻ trung của tuổi ba mươi.
Người ta thấy bà lưng ong, ngực nở, môi thắm, má hồng, mắt long lanh, răng như ngà, ăn mặc thời trang trong mọi buổi họp mặt. Nhưng bà ngồi thở dốc khi mới giữa buổi chơi, ăn ít và kêu đau lưng, nhức mỏi, Đôi mắt long lanh đó không đọc báo được nếu không đeo kính lão, bàn tay nuột nà trông khỏe mạnh đó, không cắt được quả táo quá cứng, không xẻ được quả dưa hơi to. Bà dễ quên, dễ vấp ngã và đang phải kiểm soát áp huyết thường xuyên. Những lúc đó bà thấy ngượng với chính mình, cảm tưởng mình như một diễn viên đóng kịch dở.
Buồn nhất hai năm trước đây, khi ông qua đời ở tuổi già, bà đã đứng cạnh áo quan như một góa phụ còn nguyên nét thanh xuân. Bà nghe thấy những lời xì xào như tiếng ong vo ve chung quanh bà.

Sau đám tang bà đóng cửa hai ba ngày, soi mình trong gương, bà bị giằng co giữa nhan sắc và tuổi tác. Có nên trả lại thanh xuân cho cái hồ huyền bí đó không? Cuối cùng bà nghĩ đến sự cô đơn, không có ai muốn cố gượng thân với mình nữa sau khi ông mất. Bà đành chấp nhận trở về với chính tuổi tác của mình.
Sau cái giỗ 49 ngày của ông, bà tìm về Trout Creek một mình, bà không cho bên chồng biết, bà ngủ ở khách sạn và tìm về phía Tây ngôi làng. Bà đã đến đó, mang theo lương thực, ngồi trong đám lau ẩm ướt chờ cái hồ huyền bí xuất hiện để bà nhẩy xuống đòi lại những nếp nhăn trên mặt, những da thịt lồi lõm trên thân thể, những sợi tóc bạc và hàm răng không toàn vẹn của mươi năm trước cái hồ đã lấy đi của bà. Bà sẽ trả lại má phấn, môi hồng và mái tóc đen bóng, hàm răng ngà này lại cho ông thần hồ.
Bà đã ở đó một tuần, sáng sáng lái xe đến vùng đất đã có chiếc hồ huyền bí xuất hiện. Khu đất đó vẫn khô cằn mặc dù đám lau ẩm ướt bao chung quanh nó. Cái hồ không bao giờ hiện ra nữa, mà nếu mấy chục năm nữa, nó còn hiện ra, thì làm sao bà có thể đợi được. Bà biết rằng phép lạ không thể xẩy ra hai lần cho một đời người, ngay cả cái hồ huyền bí có xuất hiện ngay bây giờ, chắc gì ông thần hồ trả lại cho bà mắt, môi ngày cũ.
Bà thất thểu ra về, bà biết mình đã mất hẳn những cái bà đã có, đã nhận được, theo thời gian tuổi tác của mình. Bà đã vứt nó đi không thương tiếc, bà không lấy lại được nữa.

Bà hình dung ra khi bà nằm xuống, ở tuổi 80 hay 90 trong áo quan với một khuôn mặt trẻ măng, chung quanh đám con, dâu, rể, đã tóc bạc, da mồi.
Bất giác bà rùng mình.

tmt
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 466
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Tue Nov 27, 2018 11:10 am



Bóng người mũ đỏ
Akutagawa Ryunosuke (1892-1927)
Nguyên tác: Myo na hanashi


Một tối mùa đông, tôi đang đi trong phố Ginza cùng với người bạn cũ là Murakami.
-À tớ mới nhận đựơc thư của Chieko. Nó gửi lời thăm cậu đấy.
Murakami có vẻ như chợt nhớ ra, đã cho tôi biết tin về em gái của anh hiện đang sống ở Sasebo.
- Cô Chieko lúc này khoẻ chứ ?
- Ừ, dạo này nghe đâu nó vẫn khoẻ. Lúc ở Tokyo nó bị khủng hoảng tinh thần nặng quá. Cậu cũng biết lúc ấy đấy.
- Tớ biết, nhưng có chắc là cô ấy đã bị khủng hoảng tinh thần không?
- Cậu không biết đấy thôi. Lúc đó, khi Chieko ở đây nó cứ như là người mất trí. Khóc đấy rồi lại cười đấy. Đang cười tươi đấy, thì lại kể một chuyện thật kỳ lạ..
- Chuyện kỳ lạ?

Trước khi trả lời tôi, Murakami đã đẩy cánh cửa kính của một hiệu cà phê. Thế rồi anh ngồi xuống trước mặt tôi, nơi chiếc bàn nhìn thấy được cảnh đi lại ngoài phố.
- Tớ chưa kể cho cậu nghe chuyện kỳ lạ ấy à?  Đây là chuyện mà Chieko đã kể cho tớ nghe trước khi đi Sasebo.
Như cậu cũng đã biết, lúc ấy chồng của Chieko là sĩ quan trên chiến hạm A đang được điều động tới Địa Trung Hải, trong chiến dịch ở châu Âu. Trong lúc chồng đi vắng, Chieko đến ở nhà tớ, nhưng khi chiến tranh sắp kết thúc thì bỗng nhiên Chieko lại bị khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng. Nguyên nhân chính không chừng là vì từ trước đến nay hàng tuần bao giờ cũng có thư của chồng gửi về, thì nay thình lình bỗng bặt vô âm tín. Cũng vì Chieko mới cưới chưa được nửa năm thì vợ chồng phải xa nhau, ngay cả đến đứa chẳng ngại ngùng điều gì như tớ cũng cảm thấy tàn nhẫn khi trêu ghẹo Chieko về chuyện nó mong thư chồng.

Chuyện xẩy ra đúng lúc ấy. Một hôm... À, đúng rồi, hình như hôm ấy là ngày lễ Kỷ Nguyên (1). Hôm ấy, từ sáng trời đã đổ mưa, đến trưa thì lạnh buốt, thế mà Chieko bảo lâu lắm rồi chưa đi Kamakura, nhất định thế nào cũng phải đi chơi Kamakura mới được. Chieko có một người bạn học nay là vợ của một nhà buôn đang sống tại Kamakura, nó bảo là đi thăm người bạn ấy, nhưng tôi và vợ tôi đều nghĩ rằng chỉ đi chơi thôi thì ai lại  phải lặn lội xuống tới tận Kamakura giữa lúc trời đang mưa gió như thế. Đã mấy lần chúng tôi thử khuyên cô ấy là để ngày mai hẵng đi có phải hơn không, nhưng Chieko cứ nhất định bảo muốn đi trong ngày hôm ấy. Và thế là nó vùng vằng đi thay áo, rồi mở cửa đi mất.

Chieko cũng bảo còn tùy, sẽ ở lại Kamakura tối hôm đó, sáng hôm sau mới về không chừng. Nó nói thế rồi ra khỏi nhà, nhưng chỉ một lát sau, không biết làm sao mà lại quay về ngay, quần áo ướt sũng, mặt mày thì tái mét. Nghe đâu Chieko đã chẳng che dù mà cứ thế đi bộ từ nhà ga trung ương đến ga xe điện Horibata. Hỏi sao lại làm thế, thì nó mới kể... Đó là một chuyện thật kỳ lạ..
Khi Chieko vừa vào nhà ga trung ương.- À, trước đó còn có chuyện như thế này nữa chứ. Chieko kể rằng khi lên xe điện không may nhằm chỗ tất cả các ghế trên xe đều có người ngồi cả rồi, đành đứng nắm vào sợi dây vịn, thì bỗng thấy cảnh sắc trên mặt biển lờ mờ hiện ra trên kính cửa sổ xe điện ngay trước mặt. Lúc ấy xe điện đang chạy qua phố Jinbô-chô, làm gì có biển mà có cảnh sắc trên biển hiện ra trên cửa kính xe điện được. Thế nhưng Chieko bảo đã trông thấy sóng biển nhấp nhô trên dòng người qua lại qua lớp cửa kính. Nhất là khi hạt mưa bám vào cửa kính thì còn như thấy thấp thoáng cả đường chân trời nữa. - Xem thế thì biết, có lẽ đầu óc tâm trí của Chieko lúc ấy đã làm sao rồi. Thế rồi khi Chieko đi vào nhà ga trung ương, một người phu khuân vác hành lý đội mũ đỏ đang ở chỗ cửa ra vào bất ngờ cất tiếng chào và hỏi:
-Ông nhà có gì lạ không ạ ?
Điều này quả là rất kỳ lạ. Và điều kỳ lạ hơn nữa là khi nghe người phu mũ đỏ ấy cất tiếng hỏi như thế, Chieko lại không cảm thấy lạ lùng chút nào mà còn đáp lại rằng:
- Cảm ơn ông. Có điều là độ này không biết nhà tôi thế nào, là vì chẳng có thư từ tin tức gì gửi về cả!
Bấy giờ người phu mũ đỏ ấy lại bảo:
-Hay là để tôi đi thăm ông nhà?

"Ông ta nói sẽ đi thăm chồng mình, nhưng chồng mình đang ở mãi tận Địa Trung Hải cơ mà", Chieko thầm nghĩ thế và chợt nhận ra rằng người phu mũ đỏ xa lạ này nói gì mà nghe lạ quá. Chieko đang định hỏi lại, thì người ấy đã khẽ cúi chào rồi lẩn vào đám đông mất dạng. Chieko dáo dác tìm quanh mãi, xong chẳng còn thấy bóng dáng người ấy một lần nào nữa. Nói cho chính xác hơn thì không phải là Chieko không trông thấy người phu mũ đỏ trong nhà ga nữa, mà là Chieko không còn nhớ được nét mặt của người phu nẫy giờ ở trước mặt mình, điều đó mới là kỳ lạ. Vì vậy, khi Chieko không thấy người phu ấy đâu nữa, thì đồng thời lại thấy tất cả những người phu khuân vác đội mũ đỏ khác ai cũng như là chính người phu ấy.
Và rồi Chieko có cảm tưởng rằng cho dù mình không nhận ra, nhưng người phu mũ đỏ lạ lùng ấy vẫn luôn đưa mắt về phía này mà giám sát nhất cử nhất động của mình. Đã như thế rồi thì nói gì đến chuyện đi Kamakura nữa, chỉ ở đây thôi cũng đã khiến Chieko cảm thấy rờn rợn khó chịu. Rốt cuộc, Chieko đã quên cả giương dù lên, cứ thế đội mưa mà cắm đầu cắm cổ chạy trốn khỏi nhà ga trung ương trong cơn mưa tầm tã.

Những điều Chieko kể lại chắc là do tinh thần đang bị khủng hoảng, nhưng có lẽ cũng vì lúc ấy nó đã bị cảm lạnh. Suốt ba ngày sau đó Chieko nóng sốt hầm hập, và hình như cứ lẩm bẩm nói trong mê sảng những gì ấy với chồng, nào là "Mình tha lỗi cho em", hay "Sao mình không về?".
Ám ảnh từ chuyến đi Kamakura không chỉ có thế thôi. Sau khi bệnh cảm đã khỏi hẳn rồi, thế mà hễ nghe ai nói đến chữ phu khuân vác đội mũ đỏ, là Chieko sa sầm nét mặt ngay, rồi suốt cả ngày hôm ấy chẳng buồn nói với ai một lời nào.
À, nói thế mới nhớ còn có chuyện buồn cười là nhiều khi đang đi đâu đấy, hễ thấy bảng hiệu của công ty chuyên chở hàng hải nào đó có vẽ hình người phu khuân vác đội mũ đỏ, là nó liền bỏ về nửa chừng mà không đi đến nơi đến chốn nữa.

Tuy nhiên, được chừng một tháng sau thì Chieko cũng đã bớt sợ hình ảnh người phu mũ đỏ. Lúc ấy Chieko đã có thể vừa cười vừa nói với vợ tôi rằng:
- Chị ạ, trong truyện tiểu thuyết gì ấy của nhà văn Kyoka, có nhân vật phu khuân vác đội mũ đỏ có khuôn mặt như mặt mèo là gì! Không chừng cũng vì em đọc truyện ấy nên mới gặp phải những điều kỳ lạ.
- Thế nhưng, đến khoảng ngày mồng mấy... tháng ba, Chieko lại bị người phu khuân vác đội mũ đỏ ám ảnh một lần nữa. Và rồi từ đó cho đến khi chồng trở về, dù cho có việc gì, Chieko cũng nhất quyết không bao giờ đi ra nhà ga nữa. Khi cậu lên đường đi Triều Tiên, nghe đâu cũng vì sợ người phu mũ đỏ mà Chieko đã không đi tiễn cậu đấy.

Ngày mồng mấy tháng ba ấy là ngày bạn đồng liêu của chồng Chieko về nước sau hai năm sống ở Mỹ. Chieko đã rời nhà từ sáng để đi đón họ. Như cậu đã biết, đấy là chỗ mà ngay giữa ban trưa cũng chẳng có mấy người lai vãng. Trên vỉa hè vắng người, có một chiếc xe bán chong chóng như thể đã bị bỏ quên lại bên lề đường. Đúng lúc trời mây u ám có gió mạnh, tất cả những chiếc chong chóng bằng giấy màu cắm trên xe đều quay tít cả lên... Cảnh tượng chỉ có thế thôi mà không hiểu sao đã khiến Chieko cảm thấy hoang mang sợ hãi. Thế rồi khi đi ngang qua đó, thoáng đưa mắt nhìn, bỗng thấy một người đàn ông đội mũ đỏ đứng quay lưng ra đường đang lom khom cúi xuống. Dĩ nhiên đây là người bán chong chóng, có lẽ đang hút thuốc lá hay thứ gì ấy. Thế nhưng khi nhìn thấy màu đỏ của chiếc mũ, Chieko bỗng linh cảm là hễ đến nhà ga trung ương thì không chừng lại có chuyện kỳ lạ xảy ra. Chieko cũng đã toan quay bước, nhưng rốt cuộc là chỉ nghĩ trong đầu như thế thôi.

Cũng may là khi Chieko đến nhà ga và cho đến khi đón bạn của chồng xong xuôi, đã không có chuyện gì xẩy ra. Tuy nhiên, khi đoàn người phía trước đang lục tục đi ra chỗ cửa soát vé hơi không được sáng sủa lắm, bỗng có kẻ nào đó ở phía sau đã nói với Chieko rằng:
- Nghe nói ông nhà bị thương bên cánh tay phải. Thư không đến cũng là vì thế đấy ạ.
Chieko vội ngoảnh lại nhìn về phía sau, nhưng chẳng thấy người phu mũ đỏ hay ai cả, mà chỉ có đôi vợ chồng ng ười sĩ quan hải quân quen biết. Dĩ nhiên là không có lý gì mà cặp vợ chồng này lại đường đột nói với Chieko như thế, vì vậy Chieko nghe có tiếng người như thế quả là một chuyện lạ. Thế nhưng, có lẽ dù sao thì Chieko cũng mừng vì không thấy bóng người phu mũ đỏ. Chieko bèn cứ thế đi qua cửa soát vé và cùng mọi người ra ngoài hiên, để tiễn bạn đồng liêu của chồng lên xe. Bấy giờ, từ phía sau lại có tiếng người rõ mồn một:
- Thưa bà, ông nhà sẽ trở về trong tháng sau đấy ạ.

Lúc bấy giờ Chieko lại ngoảnh nhìn về phía sau, nhưng sau lưng Chieko, ngoài đôi vợ chồng mà Chieko ra đón, chẳng thấy một người phu mũ đỏ nào cả. Bấy giờ sau lưng thì không có ai, nhưng trước mặt có hai người phu mũ đỏ đang khuân hành lý lên xe. - Một trong hai người ấy không biết nghĩ gì mà đột nhiên vừa ngoảnh lại nhìn về phía này vừa nhếch mép cười một cách lạ lùng. Trông thấy thế, Chieko liền sa sầm nét mặt đến nỗi mọi người chung quanh cũng nhận ra. Chieko phải cố trấn tĩnh lại và nhìn kỹ, thì hóa ra chỉ có một người phu mũ đỏ đang khuân hành lý, chứ không phải là hai người như nó tưởng. Hơn nữa, người phu mũ đỏ này là một người khác, hoàn toàn không phải là người vừa mới cười. Vậy chứ hỏi lần này Chieko có nhớ được nét mặt của người phu mũ đỏ vừa cười hay không, thì trí nhớ của nó vẫn mông lung mờ mịt. Dù cho Chieko cố nhớ lại thế nào đi nữa, trong trí cũng chẳng hiện ra thêm được gì hơn ngoài một khuôn mặt với chiếc mũ đỏ trên đầu mà chẳng có mắt mũi gì cả. Đây là chuyện kỳ lạ thứ hai mà Chieko đã kể lại cho tớ nghe.

Sau đó độ một tháng thì cậu đi Triều Tiên, và tớ nhớ là đúng vào khoảng trước hay sau đó, chồng Chieko cũng đã trở về thật. Mà quả thực, cậu ta đã bị thương nơi cánh tay phải nên không viết thư được, mới là chuyện lạ chứ. Vợ tớ lúc đó đang ở đấy, đã trêu Chieko rằng:
- Chắc là tại Chieko nhớ chồng, nên tự nhiên mà biết được đấy.
Thế rồi khoảng nửa tháng sau, vợ chồng Chieko đã lên đường tới nhiệm sở của chồng nó ở Sasebo. Đúng lúc đôi vợ chồng này sắp sửa, hay là vừa mới chân ướt chân ráo tới nơi, đã có thư của Chieko gửi về, mà thật không ngờ là trong thư có kể một chuyện lạ thứ ba.

Đó là khi vợ chồng Chieko rời nhà ga trung ương,người phu đội mũ đỏ vác hành lý cho vợ chồng nó, có lẽ là muốn đến chào, đã tới chường mặt bên cửa sổ xe điện đúng lúc xe vừa chuyển bánh. Vừa thấy mặt người này, chồng Chieko liền tỏ vẻ ngạc nhiên, và rồi sau đó đã ngượng ngùng kể lại cho vợ nghe câu chuyện sau đây.
- Số là khi đổ bộ lên Marseille, chồng Chieko đã cùng với vài người bạn đồng liêu tới một hiệu cà phê, thì bỗng có một phu khuân vác đội mũ đỏ người Nhật bước tới bên bàn của họ mà thăm hỏi như thể là có quen biết rồi. Tất nhiên, làm gì lại có phu khuân vác mũ đỏ của Nhật Bản đi lạc trong dòng người qua lại trên bến Marseille được. Thế nhưng không hiểu vì sao, chồng Chieko đã không lấy làm lạ, mà còn kể cho hắn nghe chuyện mình bị thương nơi cánh tay phải và sắp đến lúc được về nước. Sau đó, một người bạn say rượu làm đổ ly rượu cô nhắc, chồng Chieko mới vội nhìn quanh, thì người phu mũ đỏ đã mất dạng, không biết từ bao giờ.

Không biết hắn là gì thế nhỉ?
Bây giờ nghĩ lại mới nhớ ra rằng tuy lúc ấy đang mở mắt thật đấy, nhưng không biết đó là thực hay mơ. Không những thế, mà các bạn của chồng Chieko đều có vẻ thản nhiên như thể hoàn toàn không biết có người phu mũ đỏ đã tới bàn của họ. Vì thế, rốt cuộc chồng Chieko cũng không thể kể hay nói với ai được về chuyện này. Thế nhưng, về đến Nhật lại nghe Chieko kể đã gặp người phu mũ đỏ kỳ lạ ấy đến những hai lần. Vì vậy chồng Chieko mới nghĩ rằng phải chăng đó chính là người phu mũ đỏ mà mình đã trông thấy ở Marseille, thế nhưng chuyện này nghe như là chuyện kinh dị, vả lại chồng Chieko cũng sợ bị chê cười rằng ai lại đang trên đường viễn chinh vinh dự là thế mà lại nghĩ đến vợ, vì thế mà lâu nay đã chẳng kể cho ai nghe cả. Xong bây giờ nhìn mặt người phu vừa rồi, thì thấy giống hệt người phu mũ đỏ đã tới hiệu cà phê ở Marseille, giống đến từ sợi lông mày cũng không khác.
- Chồng Chieko kể xong rồi trầm ngâm hồi lâu, mãi một lúc lâu sau mới có vẻ hoang mang khẽ hạ giọng mà rằng:
- Nhưng mà lạ nhỉ? Tuy bảo rằng họ giống hệt nhau từ sợi lông mày, nhưng tôi lại không tài nào nhớ ra được nét mặt của người phu mũ đỏ hôm ấy. Chỉ có điều là khi vừa trông thấy mặt hắn qua khung cửa sổ xe điện, tôi liền nghĩ đúng là hắn...

*

Murakami kể đến đây thì có ba bốn người, có vẻ là bạn anh ta, mới bước vào hiệu cà phê, vừa tiến lại gần bàn chúng tôi vừa chào hỏi Murakami. Tôi bèn đứng lên, bảo anh:
- Thôi, tớ xin kiếu đây. Trước khi trở lại Triều Tiên, thế nào tớ cũng sẽ đến thăm cậu một lần nữa.
Tôi bước ra khỏi hiệu cà phê, bất giác thở dài. Là vì, tối hôm nay tôi mới biết được lý do vì sao, cũng đúng ba năm trước, đã hai lần Chieko thất hứa không tới chỗ hẹn với tôi ở nhà ga trung ương, hơn nữa sau đó còn gửi cho tôi một lá thư ngắn ngủi nói rằng muốn mãi mãi là một người hiền phụ trung trinh.
 
Nguyên tác : Myo na hanashi, của Akutagawa Ryunosuke (Tháng 12-1920)
Người dịch: Quỳnh Chi (4/2005-1/2011)

Chú thích:
(1) Lễ Kỷ Nguyên (Kigen Setsu) vào ngày 11 tháng 2, nay được gọi là Ngày Kỷ niệm Kiến Quốc ( Kenkoku Kynenbi) của Nhật Bản.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 431
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Fri Dec 07, 2018 11:12 pm



Đêm Trăng

Thế Lữ (1907-1989)


Đường quanh co ở giữa hai bên rừng núi phần nhiều là hẹp và xấu lắm; chúng tôi phải cho ngựa dẫn hàng một tiến lên.

Ở Pa Khá, chỗ nghỉ sau cùng tới đây, từ 12 giờ trưa đến bây giờ gần 6 giờ chiều, mà chỉ đi được chừng ba mươi cây số. Hồi ấy vào trung tuần tháng hai. Trời về tiết xuân, nhưng gặp được lúc ấy cũng ấm áp dễ chịu.
Chúng tôi dừng ngựa lại trước một cái nhà lều rộng lớn, làm trên một khoảng đất san phẳng, lấn vào khu rừng phía tay trái độ bốn năm sào. Lều dựng theo lối ta, mái lợp tranh, ba phía vách bằng phên nứa hãy còn xanh tươi: cửa cũng bằng phên, nhưng đan chưa xong, còn đặt nằm dưới đất. Chỗ này dựng lên để cho những người đi xa nghỉ chân và nhân thể cho bọn người Thổ săn bắn ở vùng này làm nơi tạm trú. Cái lều cao, rộng hơn nhà ta ở nhiều lắm, nhưng trống hơn không có bầy biện gì. Ở mặt đất giữa lều, chỉ thấy một đống củi gỗ rấm, một tia khói đưa lên thong thả, với năm ba chiếc ghế thấp vứt bỏ chung quanh. Áp theo cả chiều dài bức vách trong cùng và bức vách phía trái còn có một thứ tầng cũng đan bằng nứa, rộng ngót một thước tây, cao lên tới ngực, buộc vào những cột chống là mấy khúc cây nhỏ mới đẵn về. Thấy có hai người Thổ đang thõng chân nằm ngủ ở trên, tôi đoán đó là một thứ chõng hay một thứ giường phên mới ứng chế.
Gởi người buộc ngựa rồi, chúng tôi vào lều giở bánh tây, cơm nắm, lạp xường và giò chả ra ăn với nhau. Trong lều không có đèn, chúng tôi ngồi quây lấy đống củi bấy giờ đã thổi cháy to lên cho sáng. Những chuyện Mán Thổ núi rừng tất nhiên được dịp đem ra nói. Người thì khoe những cảnh lạ, những điều kỳ quái ghê sợ mà mình đã trải qua; người thì thuật những phen thập tử nhất sinh ở chốn ma thiêng nước độc; nhưng đậm đà nhất là những chuyện trăng gió đường rừng, những chuyện hát đúm ở các chợ phiên. Mỗi người đều có một chuyện "tìm hoa" trong làng để nhắc lại.
Nhân đó một người bạn kể cho tôi nghe những bước phiêu lưu của một người đàn ông mà thỉnh thoảng tôi được gặp trong cái thì giờ đứng uống bát nước ở một hàng quán. Ông này là người Kinh, nhưng nét mặt với tiếng nói thì y như người Thổ; vóc dáng trông đẫy đà lực lưỡng, bao giờ cũng mặc một bộ quần áo bằng vải ka-ki. Ông ta rất táo tợn; trong bọn đi rừng đến cả người Thổ cũng phục ông ta là người thạo và xông pha nhất. Họ gọi ông ta là ông Ba-đi-ghệt - nhưng cái sính đi ghệt ông ta đã bỏ, chỉ còn lưu lại cái tên hiệu thôi. Ông Ba chẳng ở lâu được một chỗ bao giờ; gặp việc gì ở đâu cũng đi nhận làm ngay, thấy cái gì cũng buôn: gỗ, vải vóc, thuốc phiện lậu, xương hùm, nấm hương, nhung hươu, đủ mọi thứ. Có một điều ai cũng chú ý nhất mà ông vẫn đem khoe với bất kỳ người nào muốn nghe chuyện, là đến đâu, ở đâu ông ta cũng tìm được một người con gái để kết duyên hờ với mình. Ở với nhau được ít ngày rồi một hôm, người con gái Thổ thấy ông ta đi không bao giờ trở về nữa. Tôi chưa ngồi nói chuyện với ông Ba-đi-ghệt bao giờ nên không biết rõ tâm địa của người đàn ông ấy. Nhưng tôi xem ra thì không mấy người ưa. Họ bảo rằng ông ta bạo dạn thì không ai hơn, nhưng mà giảo quyệt nham hiểm cũng không ai bằng nữa.

Ăn uống xong, tôi để các bạn ngồi đó, giải áo khoác lên chiếc chõng bên cạnh một cái cửa sổ mắt cáo rồi nhảy lên ngả lưng. Tôi duỗi thẳng chân ra nằm, vươn vai mà thở một hơi thực dài đuổi hết những cái mệt nhọc nặng nề từ trước. Không gì khoái chá bằng được nghỉ ngơi sau một cuộc trèo non lội suối đường trường.
Hai người Thổ vẫn ngủ say, tiếng ngáy rờn rợn. Các bạn đi đường thì bàn nhau vào ngủ trong làng, nhân tiện để tìm mấy đóa hoa rừng. Hôm ấy có cuộc hát thi, vì gặp ngày làng mở hội.
Tôi lẳng lặng nhắm mắt không trả lời ai hết, vì tôi không muốn theo họ và để phí mất lúc khoan khoái dễ chịu bấy giờ. Tâm hồn tôi thấy bâng khuâng như nằm ở trên mây, trí tưởng chập chờn... rồi giấc ngủ dịu dàng dần tới.
Tôi mở mắt ra thì trăng xuyên qua khung cửa sổ mắt cáo đã đặt trên mình tôi những mảng sáng vuông nhỏ. Bấy giờ có lẽ đã nửa đêm, hai người Thổ không còn ngủ gần tôi, mà các bạn người Kinh cũng đi cả.
Tôi không muốn ngồi dậy, cứ để nguyên giầy mà nằm yên đó, hai mắt lim dim.
Nhưng tôi không buồn ngủ thêm nữa.
Trong mình thấy tỉnh táo vui lắm. Huyết mạch lưu thông như hơi gió thổi; tôi tưởng chừng có thứ thuốc tiên trong thân thể, khiến cho người tôi bỗng chốc thành khinh khoái như bay...
Tôi lắng tai nghe. Một dải suối róc rách ở gần, tiếng sóng như thủy tinh gieo vào trong thứ giọng rù rì rối tăm của những côn trùng dưới cỏ. Sau lều thì khu rừng cây yên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở trong đưa những tiếng bí mật, khiến cho mình cảm thấy được cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya. Một con hươu đang ngớ ngẩn nhìn cái lều vắng không. Những tiếng rất nhẹ của con sóc chạy trên cành; những tiếng lá cựa dưới mình một con vật đang nằm, một tiếng vỗ cánh nặng nề của con chim lớn. Từng trận gió thổi qua, một loạt lá rơi dào dạt, rồi tất cả lại im lặng như ngóng đợi, như nín hơi. Xa xa, rõ thực xa, giọng thác ào ào, để ý thì mỗi lúc thấy một gần thêm, rồi lại xa dần, rồi lại như biến đi mất. Có khi nghe như tiếng muôn nghìn người ồn ào đưa từ đâu đâu tới; phảng phất trong trí não tôi hình dung ra những cảnh chợ búa xe pháo ở chốn thị thành.
Tôi cứ nằm đó nghe hoài. Nghe càng lâu muôn tiếng càng hỗn độn. Sau cùng thành một thứ giọng rì rào mờ ám mỗi khắc một nhạt dần. Thần trí lại chịu một sức thôi miên ma túy đưa lại đâu từ chốn bồng lai. Văng vẳng trên không, chỉ còn những tiếng nhạc gần rồi lại xa, với những hơi sáo rất nhỏ, rất trong, và cao tít.

Bỗng đâu, một cơn gió lạnh thổi qua làm tôi hơi rùng mình. Tôi thở dài rồi mở hé mắt; trên lông mi những phấn bụi ánh sáng đang nhảy nhót rập rờn. Tôi lại thấy như không phải nằm đó một mình... Hình như có ai đứng bên tôi. Mà "ai" đó hình như là một người thiếu nữ. Tôi chắc đó chỉ là hình ảnh của sự mơ màng thôi, nên cứ lặng yên, bỗng thấy một bàn tay, một bàn tay bé nhỏ dịu dàng, êm ái để lên vai tôi:
- Đêm trăng sáng đẹp như thế này mà không đi nghe hát một lúc chơi, lại nằm đây ngủ!...
Câu nói tiếng Thổ, giọng dẻo dang trong trẻo nghe rất hay. Chưa nhìn cũng chắc người đứng đó là đẹp lắm. Tay người thiếu nữ lại lay tôi lần nữa.
Tôi mở hẳn mắt nhìn cô ta nhoẻn miệng cười:
- Đi dậy đi anh. Dậy đi chơi một tý!
Cô ta đứng trước cái cửa sổ vách liếp và ngoảnh mặt ra phía rừng. Người vào trạc mười chín, hai mươi, hai mắt tinh anh, đẹp lạ thường, đôi má đầy, mơn mởn đào non, nhỏ và mướt.
- Trời ơi! Con gái Thổ mà có người nhan sắc đến thế này ư? Tôi mơ hay tỉnh?
Tôi nghĩ bụng thế, rồi ngồi dậy, thì ra tỉnh chứ không phải mơ. Tôi hỏi cô ta:
- Cô em ở đâu đến?
- Tôi ở trong làng (Cô vừa nói vừa lấy bàn tay lau miệng).
- Làng cô xa không?
- Không xa lắm.
- Cô em có đi với ai nữa không?
- Không.
Tôi bối rối quá, vì cô ta bỗng dưng có vẻ thẹn. Tôi ngẩn người ra, không biết hỏi thêm câu gì. Tôi nhìn cô ta một lúc lâu, cô ta ngẩng lên nhìn tôi rồi trông đi chỗ khác.

Giá tôi đừng nín lặng, hỏi chuyện nữa đi mới phải. Nhưng biết hỏi gì? Những phút đối diện yên lặng ấy sao mà dài và khó chịu đến thế!
Tôi ngượng nghịu quá chừng. Xin thú thực rằng xưa nay tôi nói đùa với các chị con gái Thổ đã nhiều, nhưng tôi đều coi thường, không để ý gì đến ai hết. Cũng nhiều cô kháu lắm, song không ai có thể gọi là đẹp, đẹp trong trẻo và say đắm như cô này.
Tôi nghĩ mãi, mà chẳng có câu nào cho hợp lúc cả; mãi sau mới hỏi lên được:
- Cô em ở đâu đến?
Thì lại là câu mình đã hỏi rồi.
Cô con gái nhìn tôi hơi ngạc nhiên, song cũng đáp:
- Tôi ở trong làng.
- Gần không?
- Không xa lắm.
- Nhưng cô em đi đâu thế?
Cô Thổ đã hết thẹn, tươi cười nét mặt và nhanh nhẹn trả lời:
- Tôi đi chơi. Tôi đến đây thấy có ngựa buộc ở ngoài kia, tôi vào, không có ai, chỉ có anh ngủ... Tôi vào rủ anh đi nói chuyện chơi.
Rồi cô cười, mà cười quá chừng: tiếng giòn và đầy đặn. Tôi cũng cười góp nhưng nghĩ thầm:
- Quái lạ, chả nhẽ người này lẳng lơ đến nỗi đi tìm một người đàn ông ngủ một mình để nói chuyện với, hay sao?
Tôi nhìn người thiếu nữ một lần nữa: Không! Cô ta chỉ có vẻ đẹp đẽ, trong sạch và rất đáng yêu quý thôi. Đôi mày đưa cong lên ở dưới cái trán bịt khăn chàm, có một vẻ kín đáo ý nhị, tôi ưa quá. Tôi lại hỏi cô:
- Thế cô em vào đã lâu chưa?
- Vào lâu rồi. Tôi xem anh ngủ mãi.
- Tôi không ngủ, mà sao tôi không biết?
- Anh ngủ đấy mà!
Cô vừa thong thả nói lại vừa cười. Cô cười sao xinh thế! Con người nhan sắc mà có duyên thay!
- Này cô em...
Cô bé nhìn tôi. Nhưng tôi không tiện hỏi câu ấy. Miệng cô vẫn hé nở, để lộ ra một nét trắng nhỏ của đầu hàng răng trên. Cô lại ưỡn ẹo dựa cái thân mềm mại vào chân tôi, làm cho tôi gợn cả người lên và không nghĩ đến những cái vẩn vơ như trước nữa. Tôi mỉm cười và liều để tay lên vai cô ta. Người con gái nói luôn:
- Anh nhé, anh đi chơi nói chuyện với tôi nhé. Tôi... tôi đến rủ anh đi chơi...
- Cô thích đi chơi với tôi à?
- Thích. Mà thế nào cũng đi nhé?
- Ở đây nói chuyện cũng được chớ sao?
Nói rồi, tôi liền xốc nách bế cô ngồi lên với tôi, và lấy áo phủ khoác cho tấm thân xinh bé ấy. Cô ta có ý không bằng lòng, bỏ áo của tôi xuống và ngồi nhích ra một chút. Cô mặc một chiếc áo chàm mới, lúc ấy trông thẫm đen: áo cài một bên nách, hở cổ, thân ngắn, tay rộng, thắt ở ngang lưng; chiếc váy cộc cũng bằng vải chàm và cũng mới. Cái đen tối dưới lều trong trẻo dịu dàng; chúng tôi hình như ở dưới bóng rợp của một thứ "nắng trăng". Cửa trước lều không đóng, lại thêm có ba cái cửa sổ mắt cáo ở vách trong nên chúng tôi trông được tỏ mặt nhau và cả những gói hành lý để ở một góc.

Lúc ấy hai tay cô gái thu lại để chồng lên một đùi. Chân cô buông thõng và hơi đưa đẩy, nét mặt cô có vẻ buồn bực làm cho tôi lo ngại.
Tôi lấy tay nhẹ nâng lấy cằm người thiếu nữ rồi kéo lại cho trông tôi:
- Cô em không muốn ngồi với tôi sao?
Cô sẽ mỉm cười:
- Sao không muốn? Không thì tôi "lại với anh" làm gì?
- Thế cô muốn nói chuyện với tôi lắm sao?
Cô Thổ lại cười:
- Ừ, muốn!
Tôi đánh liều hỏi một câu nữa:
- Thế cô em yêu tôi chứ?
- Anh bảo cái gì hả?
Tôi ghé vào tai cô nói:
- Em... có yêu tôi không?
Cô vơ vẩn trả lời:
- Không biết.
Rồi lại vơ vẩn nhìn tôi.
Bấy giờ, tấm lòng xuân phơi phới của tuổi hai mươi lăm bị khích động mà sôi nổi trong người tôi, khiến cho tôi quên cả chủ định từ trước. Tôi liền ôm lấy cô bé, ôm bằng cả một tấm lòng chứa chan yêu dấu và bảo cô rằng:
- Sao lại "không biết" hở em? Em đến đây với tôi như một người trong giấc mơ màng, tôi có biết em là ai đâu; nhưng tôi yêu em ngay, mà sao em cứ lững lờ không để cho tôi biết bụng em thế?
Tôi còn nói nhiều câu rất ngọt ngào, nhiều lời rất hay, mà cái vốn tiếng Thổ của tôi có thể cho nói được.
Hơi nóng trong người cô thiếu nữ như thấm vào người tôi, vào tận trong huyết mạch; tôi mơn trớn cô ấy như một con chim bé nhỏ mà người ta nâng lên để vào trái tim mình...
Bỗng nhiên, cô đẩy khẽ tôi ra, ngồi thẳng lên, buộc lại cái khăn chàm; rồi tụt đứng xuống đất. Tôi nhìn cô ra ý hỏi duyên cớ, thì cô cau đôi mày lại, bảo tôi:
- Tôi không bằng lòng thế! Tôi lại rủ anh đi đằng này với tôi kia mà.
Tôi cũng đứng xuống đất, giữ lấy hai vai cô, rồi nhìn vào cái mặt lạnh lùng của cô mà nói:
- Trời ơi! Em biết không! Trong lúc đêm khuya canh vắng em đến đây, em gọi tôi, em làm cho tôi vui sướng vô cùng; em là con gái, mà em lại xinh đẹp dường này! Thế thì em bảo tôi không yêu mến em sao được?
Cô Thổ nhìn tôi:
- Nhưng anh đi đằng này với tôi đã.
Tiếng cô nói gọn, nhất quyết; tôi hơi sinh nghi. Nhưng cô mỉm cười ngay; cô lại kéo lấy tay tôi nói một cách nũng nịu:
- Đi chơi một lúc thì sao? Anh nhé, đi chơi với tôi một lúc nhé, anh bằng lòng đi!
- Mà đi đâu bây giờ?
- Chơi bên rừng... trên bờ thác, xem nước chảy. Đêm trăng đẹp, đẹp quá, không đi cũng hoài...
Tôi nói:
- Không sợ hổ à?
Cô ta cười mấy tiếng khẽ:
- Sợ hổ! Đây không có hổ - hay có cũng ít khi lắm. Vả lại có trăng kia mà. Anh nằm đây còn không sợ thì đi chơi có sợ gì? Anh à, anh đi với tôi nhé!

Bên rừng tối trên thác sâu, ở những nơi phong cảnh đêm khuya hoang dại này phải đâu là nơi để khách đa tình đến cùng nhau than thở? Người con gái Thổ chắc cũng chả ưa gì những chốn ấy cho lắm, thế mà cứ thiết tha nài tôi đi cho được, hẳn cũng có duyên cớ gì đây? Mà duyên cớ gì? Trông cái mặt nhan sắc dịu hiền thế kia, tôi không thể cho cô ta là một người có lòng bí hiểm được.
Tôi ngẫm nghĩ một lát, rồi quyết thử "đi chơi" với cô ấy xem sao.
Tôi lấy cái áo phủ khoác lên vai, thắt lại cái thắt lưng da ở áo ngoài rồi đi lấy mũ đội.
Cô ấy trông theo tôi từng cách cử chỉ một: lúc thấy tôi thu gọn lại cái đống dây thừng to nằm cuộn tròn trong một góc lều, để lấy một cái gậy ở dưới thì cô Thổ liền chạy lại hỏi ngay:
- Ồ! Anh có những dây tốt nhỉ! Để làm gì thế?
- Để qua cầu.
- Sao lại để qua cầu?
- Cầu nhỏ ở ven núi trên này chật chưỡng lắm. Giá không có cuộn dây này thì tôi rơi xuống núi mấy lần rồi.
Cô Thổ cười:
- Thế mà tôi đi không việc gì đấy!
Chúng tôi đã ra tới cửa; cô Thổ toan dắt tôi theo một lối tắt đi về bên rừng. Bỗng cô đứng yên, mắt nhìn vào mắt tôi, rồi chạy vào trong lều, đến bên cuộn dây chão. Tôi hỏi:
- Cô làm gì thế?
- Anh à, đem cái này đi!
Cô vừa nói vừa lôi cuộn dây ra. Tôi hỏi lại:
- Đi chơi kia mà?
- Cứ đem đi, anh ạ.
Tức khắc, tôi không nói một lời nào, đi vào bỏ gậy và mũ áo ra, rồi toan trèo lên cái "giường" phên nằm, nhất định không đi đâu nữa. Cô ta liền chạy lại bên tôi níu lấy tay tôi năn nỉ:
- Anh đi với tôi một tí, đi với tôi một tí thôi mà.
- Không! Đi làm gì thì cô phải nói rõ cho tôi biết đã.
- Rồi anh biết mà!
- Nói ngay bây giờ kia!
Người thiếu nữ ra chiều thất vọng vô cùng:
- Không... anh đi, anh đi với tôi một tí thôi, rồi anh thấy cái này hay lắm.
Cô ta vừa nói vừa cầm cái mũ và dìu tôi ra cửa, cuộn dây chão đeo nặng một cánh tay.

Tôi không còn hiểu gì trong cái cử chỉ lạ lùng của người con gái nữa. Miệng cười của cô ta cũng không còn duyên gì hết; tôi thấy bực mình lắm; nhưng tôi cứ theo.
Ra đến ngoài thì thấy mặt trăng đã chếch về tây. Đám rừng âm u với dãy núi trập trùng tắm trong một bầu ánh sáng rõ ràng và lạnh lẽo. Tiếng ve sang sảng kêu ran như đã kêu từ mấy thế kỷ; bóng trăng theo đó mà rung trên ngọn cỏ, bụi cây.
Chúng tôi xuống một con đường dốc nhỏ đi vào nách rừng. Cô Thổ trước còn cười nói đon đả để tôi vui lòng; đến sau, thấy tôi đã nhất định đi theo, thì cô chỉ rảo chân bước. Người thiếu nữ ấy cũng đủ nhan sắc và dịu dàng để tôi quên được cái lo ngại; và cái trường hợp cũng đủ ly kỳ để gợi tính tò mò và lòng mạo hiểm của tôi.
Xuống hết đường dốc này lại trèo lên một khu rừng nhỏ nữa. Chúng tôi đi qua một đám cây rất rậm chỉ lác đác được ít mảnh sáng trăng. Rồi cây cối mỗi lúc một thưa dần, lối đi mỗi lúc một rõ. Tôi đi rừng đã quen, và chỗ này cũng không khó đi lắm, nên tôi chỉ để mắt trông những bóng lá đi lần lần trên má và trên vai người thiếu nữ, với hai ống chân trăng trắng thoăn thoắt ở trong đám tối mập mờ. Có một lần tôi đi sát lưng cô ta, để tay lên vai mà giữ cô lại. Cô ngoảnh đầu cười gượng. Tôi hỏi:
- Cô định dẫn tôi đi đâu?
- Đi đằng này, mà!
- Làm gì? Hả!?
Mặt cô bỗng ra vẻ thương khó. Cô ta muốn cười nhưng không được, chỉ quay đầu đi, rồi vừa nói vừa thở dài:
- Anh đi một lúc nữa rồi anh biết. Anh, anh! Đi, đi!
Xuống một đường dốc.
Rồi lên một đường dốc nữa.
Chỗ này trèo rất khó nhọc, lại không có lối như trước, chỉ có người thiếu nữ đi quen nên đã lên được xa. Tôi phải bảo cô ấy quăng một đầu dây xuống cho tôi và lên trước, buộc đầu kia vào một gốc cây để tôi bám leo lên cho dễ. Qua một lớp cây rậm và um tối thì đường đã dốc xuống; đi một lát nữa thì đã thấy lối rõ và dễ đi. Tôi nghe thấy tiếng ào ào ở đâu từ lúc nẫy; bây giờ nghe càng gần thêm.
- Có phải gần đây có một cái thác không?
Tôi hỏi người thiếu nữ thế. Cô ta đáp:
- Phải. Gần đến nơi rồi.
- Đến nơi? Thế ra đi đến đấy à?
- Phải.
- Nhưng đến làm gì mới được chứ?
- Anh cứ đi rồi biết mà!

Tôi nghĩ bụng chưa bao giờ gặp cảnh ngộ nào lạ kỳ hơn. Thực vậy. Mà cho cả về sau này cũng thế, trong suốt cuộc đời phiêu linh của tôi, tôi không hề gặp đêm nào như cái đêm hôm ấy cả.
Tôi tự hỏi xem cái kết cuả cuộc "đi chơi" này rồi sẽ ra sao. Nhưng không tìm được câu trả lời, thì tôi cứ ra chân bước.
Tôi có ý xem xét những chỗ vừa đi qua, thì phần nhiều đường lối giống nhau không thể phân biệt và nhớ được rõ. Phải là người ở lâu và quen đây lắm mới thuộc được những đường tắt này.
Chúng tôi đang đi ở trong bóng những cây lá chen nhau, bỗng đến ngay một nơi quang quẻ rộng rãi toàn ánh trăng sáng. Tôi nhíp mắt lại vì hơi chói, trông ra thì núi non nhấp nhô, tỏ mờ trước mắt; khuôn trăng tròn vẹn, kê ngay trên một đỉnh núi, bình tĩnh như có ý đợi chờ.
Tiếng thác nghe thấy từ lâu, bấy giờ đang rộn rã cuồn cuộn ở phía dưới chân. Nhưng tôi chưa trông thấy nước: nguồn thác sâu lắm, mà chỗ ấy thì cao. Một con đường nhỏ chạy qua mặt tôi, dẫn đến một cái cầu ghép bằng thân cây như tôi thường gặp. Cầu này thay một chỗ đất sụt làm lở một quãng đường ven núi đất và cắt đứt mất lối đến Hoàng Su Phì: Bấy giờ tôi đã nhận ra rằng cô con gái dẫn tôi đi toàn nẻo tắt và hà tiện được tới ba phần tư đường. Vì từ chỗ lều tranh đến đây, đi khỏi một quãng đường thấp rồi lên những đường leo lưng chừng núi, còn phải qua một khúc cầu nữa.
Chúng tôi tiến lên chừng hai chục bước thì đến bên cầu. Cầu hẹp và dài, chỉ có mươi khúc cây đâm ngang cắm sâu vào núi để nâng đỡ. Cô Thổ nhẹ nhàng đi ra tới giữa rồi ngoảnh lại đợi tôi đi theo. Tôi trông xuống, thấy dưới sâu lắm, và rải rác có những tảng đá lớn; nước thác chảy như xiết, ầm ầm từ một nẻo khuất giữa hai chân núi, vòng khúc rắn xông ra. Tôi còn ngập ngừng một hồi chưa dám đi lên vội. Sau đánh bạo tiến lên được ba bước. Một khúc gỗ cựa mình một cái làm tôi sởn cả gai ốc, đã tưởng cái cầu gẫy nhưng không việc gì.
Tôi phải hết dè giữ mới lại dám bước lên, dò đi như người "leo cầu vồng" vậy. Dưới chân, nước vẫn gầm như chuyển đá, mà bên trái thì cái núi dốc như tường xiêu, lại ở quá tầm tay không thể nào vịn được.
Dò được nửa cầu rồi. Càng thấy ghê sợ thêm. Liệu chừng không thể qua được khỏi cầu mà không ngã, tôi phải lấy cuộn dây định tìm quăng lên một cái chạc cây nào trên lưng núi, rút chung đôi lại rồi víu lấy mà sang.
Bỗng người con gái Thổ giữ lấy tay tôi nói:
- Thôi! Không phải đi nữa.
Tôi vừa ngật ngưỡng vừa nhìn cô ta, lấy làm kinh dị. Cô Thổ điềm nhiên nhắc lại:
- Thôi, không phải đi nữa: Đến nơi rồi!
- Sao? Đến nơi?
- Phải.
- Ồ quái lạ! Quái lạ! Quái lạ! - tôi nghĩ bụng thế - người con gái này thực kỳ quái, nó định trêu mình đây hay sao?
Tôi nhìn mặt người con gái để dò xét ý tứ, nhưng cô ta không nhìn tôi và có ý quay mặt đi. Tôi vừa bực mình vừa lo ngại, quát khẽ lên một câu:
- Làm sao lại thế này!
Cô ta không trả lời. Ánh trăng chiếu vào sắc da người con gái, lúc ấy xanh bệch như da người chết. Nét mặt sắt lại như lo sợ hay tức giận, miệng mím vào một cách đặc biệt, rồi bỗng nói rất nhanh:
- Ở dưới cầu này có một người ngã xuống chết!
Tôi còn chưa hiểu, hỏi lại, thì cô ta nói luôn:
- Người ấy là một người đàn ông cùng đi với tôi, rồi lỡ chân rơi xuống đây chết.
- Cùng "đi chơi" với cô à?
- Ừ.
- Thế làm sao, nói mau! Sao cô lại gọi tôi đến?
Cô Thổ nói:
- Tôi nhờ anh đem nó lên đây cho tôi.
- Nhờ tôi? Sao lại nhờ tôi. Nhờ tôi mà được à?
Cô ta điềm tĩnh không đáp câu hỏi của tôi, nhưng trỏ xuống dưới gầm cầu mà bảo:
- Kia kìa, nó ngã xuống mắc vào cành cây ở lưng chừng núi kia kìa.
Tôi chú mắt trông, chỉ thấy nước thác chảy xuống từng bực, bọt sùi lên trắng như tuyết ở chung quanh những tảng đá cuội lù đen.
- Đâu nào?
- Ở cái cây kia mà. Kia kìa, chỉ có một cây thôi, mà nó ở lưng chừng núi.
Tôi quỳ gối, đầu cúi về phía trong mà trông xuống thì quả thấy ngang núi đâm ra một cây nhỏ, rễ ăn chặt vào, có lẽ sâu lắm, nên đất lở đến tận chỗ ấy mà cây vẫn vững nguyên. Mình cây cong cong ở chân rồi đâm vát lên trời, cành lá xòe ra gần che mất một nửa mình người bị nạn. Lúc ấy tôi chỉ trông thấy có một cái vai dốc xuống mắc vào gốc cây.
- Các người đi xem hát hội ở làng xa hết cả (người con gái nói). Tôi đi tìm chỉ thấy có anh, tôi mới định nhờ anh lấy nó lên hộ tôi.
- Ừ thế làm sao không nói thực ngay để cho tôi... (tôi nghĩ đến những cử chỉ của tôi trong lều) để cho tôi tưởng cô đến rủ tôi đi chơi thực?
Cô gái mỉm cười một cách nhạt nhẽo:
- Tôi sợ anh không đến, tôi phải nói thế...
Thấy tôi có dáng nổi giận, cô vội nói thêm:
- Mà rồi tôi cũng về với anh kia mà!
Tôi vừa lườm vừa nhại:
- Hừ! Về - với - anh!
Cô Thổ lại hết lời nói với tôi những câu rất ngọt ngào và thiết tha; mặt thì nhợt nhạt, mắt thì long lanh mà miệng vẫn gượng cười: giọng nói khác đi, hình như cô ta cố nén sự cảm động.
Tôi không nỡ từ chối giúp đỡ cô ta. Nhưng tôi không giấu cái bực mình, vừa tìm cách xuống đến cái cây vừa gắt.

Chỗ sườn núi lở, dốc như bức vách nghiêng, mà trừ cái cây giữ lấy người chết cách chúng tôi khá xa, thì chả còn bấu víu vào đâu được nữa; người bị nạn chắc hẳn ngã về phía trong, nên mới tình cờ mắc vào gốc cây đó, chứ nếu ngã phía ngoài hay ngã nhích ra chút nữa thì không còn mình xác nào. Tôi giở cuộn dây ra, nằm úp mình trên cầu rồi ròng dây xuống ướm thử. Cái dây dài được hơn hai chục thước mà thả đến chỗ ấy cũng không thừa được bao. Tôi thử tìm cách buộc vòng, câu lấy người chết lên, nhưng vướng nhiều cành nên không làm thế được. Tôi lại phải kéo dây lên thắt hơn một chục nút để cho dễ bám. Trong khi ấy người con gái lẳng lặng ngồi bên cạnh tôi mà xem.
Nước thác vẫn réo ào ào, làm tăng cái vẻ to tát của chốn núi vực cao sâu ở dưới bóng một vành trăng ngàn năm lặng lẽ.
Tôi nhìn cô Thổ thì cô ta nhìn lại, tôi cau mày mắng:
- Buộc đi chứ, ngồi đấy à?
- Buộc gì?
- Thì thắt nút đi chứ!
Cô ta lôi một phần dây lúng túng thắt được một nút rồi hỏi:
- Anh làm những nút này làm gì thế?
Tôi không thèm đáp. Rồi thấy cô ta cứ dang tay kéo dây mãi chưa thắt được vòng nào thêm, tôi tức mình giật về, không khiến nữa.
Nút thắt xong tôi buộc rất chắc chắn một đầu dây vào ba thân gỗ về phía núi; bỏ mũ ra; bảo cô Thổ giữ lấy mối buộc chắc chắn để tôi leo xuống. Chân tôi đạp vào đất núi làm cho cát bụi ở đấy theo gió bay cả vào mắt mũi tôi. Tôi vừa buông một tay để dụi thì "sựt" một tiếng ở đầu dây. Tôi lạnh cả người vội quát:
- Cái gì thế, cái gì thế?
- Không hề gì. Cái mối đây nó thắt chặt lại đấy mà.
- Phải cẩn thận, nghe không! Phải nằm xuống mà giữ!
Cô Thổ trên cầu nằm áp người xuống, hai tay nắm lấy phần đầu dây.
Xuống đến nơi, tôi bẻ mấy cành lá đi cho quang, và để chân lên một cái chạc dún thử mấy cái. Cây này là một giống ổi rừng, thân già quánh và to. Lúc đứng trên cầu tôi tưởng là một thứ cây dai và mềm vì thấy nó nhỏ lắm, nên định buộc cuộn dây vào người, ôm lấy cái xác mà bảo cô Thổ kéo lên. Như thế thì khó nhọc vô cùng, chưa chắc người con gái Thổ đã kéo nổi.
Nhưng bấy giờ tôi lại tính cách khác. Người chết là một người đàn ông to lớn mặc quần áo tây vàng; hai chân dạng ra, áp với núi và đâm ngược lên trời, mình úp vào trong nên tôi không thấy mặt. Hắn bị mắc vai bên phải vào ngay gốc cây và hình như bị nát cả cổ và có lẽ gẫy xương dầm vai; nhưng máu chỉ đẫm ra ngoài áo có một ít. Một cánh tay nắm lại chọc vào núi, còn tay kia bị đè ở dưới mình. Tôi ngồi quắp lấy một cành to, tròng lọng dây vào hai chân người kia rồi lựa cho lách xuống đến tận thắt lưng.

Mặt trăng lúc ấy mới lọt một phần xuống sau đỉnh núi trước mặt. Tôi trông thấy bóng cây với bóng người tôi in lên cái thây chết. Những cành lá theo gió và theo cách cử động của tôi mà lung lay một cách bình yên.
Xem cách ăn mặc của người chết thì tôi đoán là một người Thổ "văn minh" giầu có, hoặc một người Kinh buôn bán ở đường rừng.
Tôi bám dây tụt xuống, để một chân lên mình người chết và ghì cho cái tròng ở lưng hắn thắt vào rõ chặt rồi đạp chân kia vào núi, tôi đu người tôi sang một bên. Vai cái xác liền rời ra cùng với một loại đất vụn rời xuống: Người chết đã nằm ngang ra dưới đầu dây. Cổ hắn trẹo về một bên và hơi ngật ra đằng sau; tóc bộn bề và ướt đẫm, da xám như mầu đá mài.
Tôi lại ngồi lên một cành cây nắm lấy vai hắn dìu lại xem cho rõ mặt. Nhưng tôi kêu lên một tiếng kinh dị: ồ lạ này!
Người bị nạn nào phải ai đâu? Chính là ông Ba-đi-ghệt!
Phải, ông Ba-đi-ghệt, cái người mạo hiểm táo tợn chúng tôi vẫn biết tiếng, mà tôi mới gặp được hơn nửa tháng, trong một làng ở gần Pa Khá. Ông này đi trước chúng tôi đã lâu kia mà, sao bây giờ lại vẫn ở đây, rồi lại chết thảm hại thế này? Mà sao người con gái Thổ kia lại...
Tôi thoáng nghĩ đến một điều làm cho tôi căm tức.
- À thì ra (tôi lẩm bẩm nói thế) thì ra họ trăng gió với nhau đã lâu, hôm nay đi chơi trên cầu này rồi một người rơi xuống chết, rồi nó tìm mình đến, nó dụ mình đến để mình gỡ xác tình nhân nó lên!
Hai con mắt ông Ba mở lim dim như ngủ gà, như xem cái tức giận trong lòng tôi. Trên cái mặt đầy những máu, máu đọng đen thẫm lại một bên, hai môi dầy trên lún phún một hàng râu; miệng thì nhăn một cái cười kinh khiếp.

Tôi liền buông tay ra bám dây leo lên cầu. Người con gái hỏi, nhưng tôi lặng thinh. Lên tới nơi tôi nhìn nó một cách rất khinh bỉ.
Nó hỏi nữa:
- Sao? Anh? Xong rồi chứ?
Tôi cười gằn:
- Xong. Chị cứ việc kéo tình nhân chị lên!
Nó chỉ trông tôi một cái nhanh, không nói gì, chống tay ngồi lên rồi mắm môi kéo.
Nhưng cái xác nặng lắm, nó ngã hẳn người ra mới lên được một chút, rồi lại để tụt xuống ngay. Tôi thấy nó làm ngứa mắt liền vuốt tóc lại bên kéo đỡ. Không đầy năm phút cái xác đã lên nằm trên cầu.
Tôi toan cuốn xong cái dây thừng rồi mới hỏi xem người con gái định xử trí ra sao, thì bỗng thấy nó cười nhạt một tiếng nghe lạnh đến xương tủy. Tôi ngẩng lên nhìn
Bấy giờ cô thiếu nữ dịu dàng ở trong lều không còn đó nữa. Tôi chỉ thấy một người con gái kỳ dị, đang nghiến răng mà lẩm bẩm ở trước mặt tôi. Nó vẫn xốc nách người chết để ngồi rũ dưới chân, trông thẳng vào mặt tôi nhếch mép một cái, rồi nói:
- Anh tưởng nó là tình nhân tôi hả? Không! Nó là kẻ thù của tôi. Tại sao? Nó giết mất anh Cẩm của tôi.
Anh Cẩm là người sắp lấy tôi, mà nó giết đi, rồi quẳng xuống đây cho mất xác.
Nói đoạn nó chỉ tay xuống những từng nước trắng xóa ở dưới. Tiếng thác chảy như dữ dội thêm. Nhưng cái trường hợp ấy làm tôi quên cả ghê rợn.
Người con gái lại nói - phải nghe giọng nó nói mới thấy được cái cảm giác của tôi lúc bấy giờ.
- Nó nhiều tiền, nó muốn lấy tôi, nó đến dụ tôi, tôi bằng lòng ngay; nhưng tôi bằng lòng ở với nó để lừa giết nó. Tôi rủ nó đến đây chơi, nó không nghi ngờ, tôi liền chém cho nó một nhát. Anh trông đây này!
Tôi trông. Ở sau gáy ông Ba quả có một nhát dao bổ thực sâu, nhưng chỗ ấy máu đọng lại thâm xì nên lúc nãy tôi không để ý.
- Tôi chém nó (lời người con gái) để cho nó cũng chết ở dưới cầu này, để chồng tôi... (giọng nói ngày một thêm đầy, gần như nghẹn ngào) để cho chồng tôi trông thấy được hả dạ... Nhưng mà nó không rơi xuống thác, nó lại vướng vào cây. Tôi muốn cho nó rơi xuống đến tận dưới thác kia, tôi mới gọi anh đến. Bây giờ anh đứng mà xem.
Trước cái dáng điệu kia, cái giọng nói kia, tôi không biết trả lời ra sao cả. Tôi cũng không biết xử trí thế nào nữa; tôi đứng ngẩn ra nhìn.
Trông con mắt lóng lánh của người con gái, cùng với cái mặt đanh thép kia, tôi tưởng như thấy cái khí chất rừng núi, cái tâm hồn Thổ Mán hiện ra.

Tôi vẫn ngẩn ra nhìn.
Người con gái lại cười nhạt mà láy lại câu lúc nãy:
- Bây giờ anh đứng mà xem.
Nói xong, nó đứng dạng hai chân ra, cái mép váy đằng trước căng thẳng bởi hai ống chân hơi thô và trắng. Một tay nó xốc ông Ba đứng dậy, một tay nữa nâng ở ngang lưng. Tôi toan dò bước đến gần thì đã thấy người con gái dướn mình văng cái thây chết xuống. Rồi, không biết vì quá đà hay cố ý, cả người con gái cũng văng theo...
Mặt trăng kia đã kín đáo ẩn mình sau đỉnh núi; hai cái thân người trên cao rơi xuống một tiếng gớm ghê trong những tiếng thác đổ ầm ầm không bao giờ ngớt.

Rút từ tập truyện ngắn Vàng và máu, 1934
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 431
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Thu Dec 13, 2018 12:08 am



Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng
- Nhất Linh (1935)


(Tặng tâm hồn Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai)
Đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 10, in tại Hà Nội năm 1935.

Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dãy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm vào lòng một cây đàn hờ hững gảy vài tiếng rời rạc. Một cơn gió mạnh thoảng qua. Sinh hỏi thiếu nữ:
– Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa nhài thơm lạ?

Thiếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ trên mái tóc mấy bông hoa nhài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra từ thời quá khứ ra xa xăm. Một lát thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói:
– Em thích nhứt hoa nhài… vì hình như kiếp trước đời em là đời hoa nhài.
Sinh cười nói đùa:
– Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ
Tuyết nghiêm nét mặt:
– Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa nhài là một bông hoa đĩ, vì hoa nhài chỉ nở ban đêm, thế mà đời em – em nói ra cũng không hỏi thẹn gì – là đời một gái giang hồ.
Rồi nửa buồn rầu nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:
Ngẫm xem hoa ấy thân này…

Tuyết đặt đàn ngồi sát lại gần Sinh:
– Anh muốn tin hay không tin tuỳ ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa nhài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa nhài là một thứ hoa đĩ, thật đúng lắm. Để em kể anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:
“Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng về mùa hè, có cả trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em thấy làm lạ, vì trong nhà, ngoài em ra, không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhổm dậy nhìn ra thì thấy ba người con gái đi đi lại lại chơi bời cười nói trên sân coi như nhà của họ. Em ngạc nhiên bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại bên em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em:
– Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi.
Thấy em ngạc nhiên, một cô hỏi:
– Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn cũ của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?

Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra rồi, em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kịp nghĩ ngợi gì cả, thì ba cô đã cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm ngát, nhưng không đoán ra được là thứ hương gì. Bỗng một cô nói:
– Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị.
Rồi cả ba cô sát lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, cả hương thơm ở người ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đi đâu mất và khi em giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài. Có tiếng cười khúc khích. Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.
Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn, thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em, ba bông hoa nhài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chùm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng”.

Sinh cười bảo Tuyết:
– Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa mê như thế là thường.
Tuyết nói:
– Anh để em kể hết đã… “Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy, và từ đó, thân em không còn là thân một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc… cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này”.

Tuyết nhắc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân Nữ Thân, rồi cúi mặt buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy ràn rụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khẽ rứt mấy bông hoa nhài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo giòng nước. Một cơn gió thoảng qua, Sinh nói:
– Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay. Hết hoa, một cơn gió qua là hết cả hương thơm ám ảnh…
Tuyết mỉm cười chua chát:
– Hết thế nào được. Cái hương ấy nó đã thấm sâu vào da thịt em, nó đã tắm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.

Mặt trăng lộ ra, trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên trên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mặt trắng dần… trắng như mầu trắng của một bông nhài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoáng qua đưa lại phía chàng mùi hương nhài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra….

Sinh dụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây giải ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình mới vừa nằm một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa nhài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cánh nhài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa nhài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bông hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu truyện chàng được nghe trong giấc mộng.

Nhất Linh
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 431
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Tue Dec 18, 2018 9:35 am

.

Dòng Máu Đứt Quãng
Truyện Ngắn Thế Lữ (1907-1989)


Năm giờ sáng hôm ấy, hai người cảnh sát hết giờ đi tuần đêm, đang từ cuối phố hàng Đẫy thong thả đi xe đạp về bóp chính Bờ Hồ, bỗng có tiếng gọi đằng sau:
- Ông đội xếp ơi! Ông đội xếp ơi!
Hai viên cảnh sát cùng quanh xe trở lại, thì thấy một người đàn ông mặc quần áo nâu từ xa chạy lại, vừa vẫy tay, vừa gọi rối rít.
Một người cảnh sát càu nhàu:
- Suốt đêm không sao, bây giờ mới lại sắp giở chuyện.
Rồi xẵng tiếng hỏi người đàn ông đang tiến lên:
- Cái gì mà ngậu mãi lên thế?
Người kia đứng dừng lại trước hai cái xe đạp, hổn hển thở ra được một câu nhát gừng:
- Thưa hai ông... ông cai Bốn bên nhà tôi... sáng hôm nay... thấy nằm chết... ở... trước cửa.
- Trước cửa nhà ai?
- Nhà ông ấy.
- Nhà người ấy ở đâu?
- Ở bên nhà tôi.
- Mà nhà tôi ở đâu chứ?
Người đàn ông thở mạnh một hơi rồi thưa:
- Bẩm ở ngoại ô, bên đường cái. Tôi toan lên bóp trình, đến đây thì gặp hai ông... May quá!

Hai người cảnh sát tức khắc đạp xe xuống phía Ô Cầu Giấy. Người đàn ông chạy theo, vừa thở vừa thuật:
- Sáng hôm nay, tôi dậy sớm, mở cửa ra thì thấy cái cửa liếp nhà ông cai Bốn đổ xuống bên đường, rồi tôi trông thấy ông ta nằm chết trên đó, tôi sợ quá vội đi trình Cẩm... Hai ông đến mà xem.
- Trên người có thương tích gì không?
- Tôi không biết.
Qua dãy đèn điện thành phố, đi chừng năm phút nữa thì đến một lớp nhà lụp sụp ở bên tay trái. Một bọn bảy tám người, vừa đàn ông vừa đàn bà, trẻ con đang xúm xít trước gian nhà lá cuối cùng. Người đàn ông áo nâu chỉ tay nói:
- Nhà ông cai Bốn ở đấy.

Bọn người thấy "đội xếp" đến thì đứng rẽ ra hai bên. Hai viên cảnh sát liền trông thấy xác một người đàn ông lực lưỡng, trạc độ ba mươi lăm, bốn mươi tuổi, mặc quần tréo go thâm, áo cánh trắng. Người ấy nằm ngửa, đầu về phía đường, đè lên cánh cửa liếp, nét mặt trông già dặn mà không đều, hai mắt mở rất to, nhìn lên mái nhà một cách dữ dội, cái cằm vuông nổi cả xương quai hàm lên, mồm hơi mở, để hé ra hai cái hàm răng cắn chặt lại. Một tay người ấy bấm xuống mặt liếp, còn một tay thì đặt ngang mình. Một chân gập lại bị đè dưới một chân duỗi thẳng.
Cảnh tượng ẩy tỏ ra người đàn ông kia chết một cách khác thường lắm.
Nhưng sao trên người không có qua một vết thương nào? Hai viên cảnh sát đương cúi nhìn, bỗng một người nói:
- Kìa, ông nhìn trên ngực người chết xem, kia kìa, ở phía dưới cái cánh tay để ngang bụng ấy. Hình như những giọt máu thì phải...
Người cảnh sát thứ hai gật đầu:
- Ừ, phải đấy, có nhẽ là những giọt máu thực.
Quả nhiên là ở phía bụng trên người chết có đến năm, sáu giọt máu đỏ thẫm, to bằng đầu đũa một, chạy thành một hàng trên chiếc áo cộc trắng. Nhưng ngoài những vết máu không biết từ đâu mà có ấy, thì không thấy thương tích nào.

Hai người cảnh sát xem xét xong, cùng đứng lên nhìn nhau, cùng có một ý nghĩ giống nhau, nên cùng nói:
- Thực lạ lùng!
Rồi một người quay lại hỏi:
- Thế vợ con người chết đâu?
Người đàn ông lúc nãy thưa:
- Không thấy vợ con gì cả. Ông ta mới đến ở đây được ba, bốn tháng.
- Làm nghề nghiệp gì?
- Bẩm, ông ta làm Cai lục lộ.
- Không ai thổi nấu cho ư?
- Bẩm có. Trước thì ông ta ăn cơm hàng trên phố, vì phải đi vắng cả ngày. Sau ông ta nhờ chúng tôi thổi nấu cho...
- Có hay cãi nhau, đánh nhau bao giờ không? Có ai thù oán không?
- Bẩm, ông ta hiền lành lắm, không mất lòng ai bao giờ... Cũng không chơi bời gì bao giờ... Làm ăn kể cũng được khá tiền, nhưng ông ta tiếng vậy mà thỉnh thoảng lại khó ở trong mình, phải uống thuốc luôn, nên ăn tiêu cũng không được rộng rãi lắm.
Người cảnh sát lại hỏi:
- Thế ra người này đau yếu luôn ư?
- Bẩm vâng. Nhưng mấy hôm nay ông ta phải bận đi làm cả ngày thì lại ra dáng khỏe mạnh. Tối hôm qua, ông ta còn sang đánh cờ với tôi và ông phó Nhớn bên nhà mãi khuya mới về ngủ. Bên này tôi còn nghe thấy ông Bốn quạt và thỉnh thoảng lại kêu bức.
- Chúng tôi cũng vì trời nóng, mãi đến hơn một giờ đêm mới ngủ được, mà vẫn không thấy nhà ông Bốn có chuyện gì.
- Thôi được rồi. Khai thế là đủ.
Nói đoạn viên cảnh sát quay lại bảo người bạn đồng sự:
- Ông đứng đây coi, để tôi về sở trình. Đừng cho ai vào trong nhà kia nhá!

Viên cảnh sát vừa nhảy lên xe đạp thì mấy người đàn bà hàng xóm hình như sợ liên lụy đến mình, nên tìm những lời lễ phép kể cho viên cảnh sát đứng coi đó về cách ăn ở của ông cai Bốn. Họ hết lời tỏ lòng thương hại cho con người hiền lành tử tế như thế mà lại chết một cách thảm hại như thế. Cái tình lân lý của những kẻ già mồm hay chửi nhau kia, có lẽ chưa bao giờ đằm thắm bằng lúc này. Nhưng họ thấy người cảnh sát khoanh tay đứng đó, nét mặt vẫn thản nhiên, vẫn lạnh lùng, nên phải đành những tiếng chép miệng, thở dài với những lời xót thương cho các người qua đường nghe vậy.
Trong bọn người chen chúc nhau, có một người thiếu niên, đầu trần, đi xe đạp với tôi là chú ý đến việc này.
Tôi biết vụ án mạng từ lúc năm giờ sáng, chính là lúc tôi đi xe đạp bên cạnh hai viên cảnh sát ở phố hàng Đẫy và nghe thấy tiếng gọi "đội xếp" ở đằng sau. Tôi liền bỏ cuộc đi chơi sáng thường ngày của tôi và cùng đi tới đây với họ. Còn người thiếu niên kia, có lẽ cũng là người đi chơi sáng - thì đến sau tôi ít lâu.

Từ lúc viên cảnh sát thứ nhất đi rồi, tôi thấy chàng ta cứ cúi xuống hoài mà nhìn cái xác chết một cách rất cẩn thận, rồi lại ngẩng đầu chăm chỉ nhìn gian nhà. Trong nhà, ngoài chiếc giường cầu với một cái rương kê một bên không còn bày biện gì nữa. Nhưng hình như người thiếu niên còn muốn tìm ra một vật gì khác nữa thì phải, nên cứ hết nhìn cái xác lại nhìn vào trong nhà, mãi không thôi.
Tôi thấy vậy, đứng lại bên chàng ta sẽ hỏi:
- Ông cho việc này có lạ không?
Chàng ta đứng thẳng người lên, ngẫm nghĩ một hồi, rồi đáp:
- Lạ, thì còn nhiều cái lạ hơn... Nhưng thế nào mà chả có một... nguyên ủy?
Tôi ngạc nhiên trông thẳng vào mặt người kia. Chàng ta yên lặng nhìn tôi rồi nói tiếp:
- Phải, việc này thoạt thấy kể cũng lạ đấy... Nhưng xét kỹ thì cũng chẳng có gì là kỳ dị lắm... cũng là một việc thường.
- Một việc thường! Vậy ông bảo người này chết vì đâu? Trong mình còn có thương tích nào nữa không? Mà sao lại có những giọt máu lạ lùng ấy?
Người thiếu niên vuốt lại tóc mỉm cười:
- Ông hỏi tôi một cách thực thà quá, làm như trong giây phút tôi có thể trả lời ông được ngay bằng ấy câu. Nhưng thế cũng chưa phải là một cớ để nói rằng việc này không thể cắt nghĩa được.
Tôi nghĩ bụng: "Thực là giọng lưỡi trong tiểu thuyết trinh thám... Có lẽ người nói chuyện với mình đây là một tay Sherlock Holmes thứ hai cũng nên".
Từ đó tôi lại càng để ý đến người thiếu niên hơn trước. Chàng ta mặc áo trắng dài chân đi dép tóc hất ngược và dài, bù rối như không bao giờ chải. Vẻ mặt lạnh lùng và thỉnh thoảng lại như hơi có dáng mỉa mai. Hai mắt đen và sáng ở trên cái sống mũi cao.
Thỉnh thoảng chàng ta lại se sẽ gật đầu như đang hiểu ra được một điều gì mới tìm thấy.

Tôi toan hỏi thì một tiếng còi xe hơi hách dịch réo lên, báo hiệu cho mọi người biết rằng ông Cẩm đã đến.
Đám người rẽ tản mát ra để lấy lối. Viên cảnh sát đứng thẳng người lên chào lối nhà binh.
Từ trên xe bước xuống bốn người: một viên Cẩm, một viên mật thám Tây, một ông đốc tờ với người cảnh sát về báo lúc nãy.
Lúc đó mọi người bị hai viên cảnh sát bắt đứng ra xa. Tôi phần phải giữ xe đạp, phần bị chen và đẩy lùi lại đằng sau không thể nào tiến lên được, nên không biết các nhà chuyên trách tra vấn, khám nghiệm ra sao cả.
Một lát tôi ngoảnh lại định nói chuyện với chàng thiếu niên thì không thấy chàng ta đâu nữa, mà cái xe đạp của chàng ta thì thấy dựng ở một gốc cây bên đường. Tôi nhớ lại những cử chỉ của người thiếu niên và sinh ra nghi hoặc. Bụng bảo dạ: "Con người kỳ khôi thực, không biết sao lại chú ý đến người chết quá như thế nhỉ... Mà bây giờ lại lủi đi đâu mất? Không biết có liên lạc gì với cái ‘án mạng’ ly kỳ này không?"

Bấy giờ vào khoảng bảy giờ. Trên trời xanh ngắt không có một sợi mây nào. Ánh nắng về sáng mà đã thấy khó chịu.
Trong gian nhà lá, mấy nhà chuyên trách đã khám xét xong. Nhưng hình như chưa tìm ra được manh mối gì cả. Viên đốc-tờ cùng với viên chánh mật thám, vẻ mặt mệt nhọc và tư lự, vừa bước ra đường vừa chấm mồ hôi trán. Hai ông nhắc đi nhắc lại một câu nói:
- Thực là một chuyện tối ly kỳ.
Viên cẩm Tây cũng đạo mạo gật đầu:
- Phải. Thực ly kỳ lắm!
Rồi họ cùng bước lên ô-tô. Trong lúc ấy thì người ta khiêng cái xác ông cai Bốn lên một chiếc xe tay để đem về nhà xác.

Tôi đứng đó nhìn theo và nghĩ bụng rằng những điều bí mật trong cái chết khác thường kia chưa biết bao giờ mới khám phá ra được, tất cũng lại vùi lấp đi, rồi quên đi, cũng như bao nhiêu cái chết tối tăm khác. Rồi tôi cứ bùi ngùi thương con người xấu số ấy hoài... Bỗng một tiếng nói đàng sau tôi làm tôi sửng sốt, ngoảnh trông lại: thì ra người thiếu niên.
Chàng ta mỉm cười bào tôi:
- Ông nghĩ gì vậy? Họ có bắt ai đi theo không?
- Họ là ai kia?
- Các nhà "chuyên trách" ấy mà!
- À! Không. Không bắt ai cả.
Người thiếu niên ra ý vui vẻ:
- Nếu vậy thì may! Bởi vì những người hàng xóm đây, cũng như ông với tôi, không có liên can gì đến việc này hết. Tôi chỉ sợ họ bắt oan, rồi làm khổ những người vô tội. Các nhà chuyên trách không thể hiểu việc này được, vì họ khám xét sơ sài quá. Nhưng có gì là lạ lắm đâu?
Tôi hỏi:
- Ồ, thế ra ông biết được những việc xảy ra ư?
- Không. Tôi đã bảo tôi cũng như ông: là một người ngoại cuộc. Nhưng cái bí mật ấy tôi lấy trí mà dò xét, tôi khám phá ra gần hết rồi.
- Ông khám phá ra được?
- Phải. Có gì là lạ? Ông hãy dựng xe đạp một chỗ rồi nhân lúc bọn người kia đang bàn tán hão với nhau, ta vào trong nhà này dò xét lại xem.
Vừa mới bước chân vào nhà, người thiếu niên đã chỉ cho tôi thấy một điều lạ: trên mặt đất đen và ẩm, có một tràng máu nữa, giọt máu cũng to bằng những giọt trên mình người chết, chạy từ một bên cửa đến dưới chiếc giường cầu. Chiếc giường này áp vào bức vách hậu ngay dưới một cái cửa sổ đóng lại bằng một mành phên. Cái chiếu cũ trên giường hơi lệch về một bên, trên mặt chiếu lại thấy những giọt máu chạy thẳng một chiều; như nối theo tràng máu dưới đất, và chạy từ thành ngoài cái giường gỗ cho đến cái cửa sổ ở bức vách sau. Trên mặt vách, khoảng trên cái thành giường trong và dưới cửa sổ, cũng có một giọt máu nữa, nhưng dài và nhỏ hơn.

Người thiếu niên nói:
- Ông có thấy cái gì khác ở tràng máu trên giường này không?
- Tôi chỉ thấy ở giữa giường hình như tràng máu đứt một quãng.
- Chính thế! Những giọt máu từ cửa vào đây vẫn liên tiếp và cách nhau thực đều... Cả ở chỗ hai chân người chết đè lên cũng vậy? Duy có chỗ này là đứt quãng đến hai gang tay. Thế nghĩa là lúc tràng máu chạy từ ngoài, qua giường mà ra ngoài cửa sổ kia thì người chết, người đã chết, ông nghe chưa, vẫn nằm trên giường, nằm ở chỗ tràng máu bị đứt. Mà khoảng máu ấy...
- Thì ở trên minh người chết chứ gi?
- Phải. Đấy ông xem. Dễ hiểu lắm.
- Nhưng sao ông biết người ấy chết rồi mới có những giọt máu trên mình?
- Vì theo lời ông đốc-tờ mà tôi nghe lỏm được lúc nãy, thì người này chết đã được hơn bốn giờ... nghĩa là vào khoảng trước hai giờ đêm. Hai giờ đêm đến giờ thì những giọt máu đọng kia không thể còn tươi như thế được: bây giờ máu mới hơi se và bắt đầu thâm dần. Vậy lâu lắm thì những giọt máu kia cũng mới có tự ba rưỡi, bốn giờ sáng.
- Thế sao người chết lúc chết thì nằm trên giường... để cho những giọt máu kỳ lạ kia nhỏ được lên mình, mà sao lại thấy nằm dưới đất?
- Điều quan hệ là ở trong câu hỏi đó. Nhưng ông để cho tôi phân giải có đâu đuôi.... Tôi biết rằng người ấy chết lúc hai giờ, rồi tôi lại biết người ấy chết một cách tự nhiên, bình thường, chết vì thứ bệnh mà người lao động dẫu khỏe mạnh đến đâu cũng có khi mắc phải. Đó là bệnh đau tim.
- Bệnh đau tim?
- Phải. Bệnh này, người mắc thường không tự biết hay có biết nhiều người cũng coi thường... Rồi đột nhiên, hoặc trên giuờng hoặc đang ngồi chơi, hoặc đang đi, bỗng lăn ra, tắt hơi, quả tim ngưng đập, không thể cứu được. Cho nên tối hôm qua, hàng xóm vẫn thấy ông cai Bốn đi lại như thường, rồi lúc ông ta chết không ai biết gì cả.
- Tôi vẫn không hiểu rõ. Ông chỉ nói cho tôi biết cái tính nguy của chứng bệnh nhưng không nói tại sao ông biết người ấy đau tim?
Người thiếu niên liền đưa cho tôi xem những mảnh giấy trắng nhỏ đã bẩn, đã nát, và bảo tôi:
- Chứng cớ ở đấy. Những chữ viết trên giấy này đã mờ nhưng cũng đủ rõ cho tôi biết được đó là những giấy gói thuốc: "Bromure de sodium" mà người ấy xin ở nhà thương Bảo Hộ. Giấy này tôi thấy rất nhiều, vứt ra sau nhà, nên tôi đoán người uống thuốc mang bệnh đã nặng lắm. Ông đã nghe ra chưa?
- Tôi nghe ra rồi. Nhưng nếu chỉ chết về bệnh thì sao đến nỗi thế kia...
- Vâng, chính vậy. Nếu không có gì xảy ra hết, nếu người chết không vì một sức gì làm cho cử động được, thì chả ai cho là lạ cả, thì các nhà chuyên trách không phải bận đến khám xét, mà tôi không được cái hân hạnh nói chuyện với ông ở đây...... Bây giờ tôi nói đến cái điều mà ông nóng nghe... nói đến những giọt máu và cái cảnh tượng khác thường mà ta đã trông thấy. Chính những giọt máu đó là những vết tích chứng cho ta biết rằng: Có một vật bị thương, từ ngoài đường đi vào, nhảy qua giường người chết, khiến cho người chết vùng dậy, đứng xuống đất.
- Ông bảo sao? Người chết đứng được xuống đất?
- Phải, rồi như cái máy, loạng choạng nhảy lùi ra cửa rồi ngã ngửa lên chiếc cửa phên kia!...
Tôi hỏi dồn:
- Ồ, thế thì quái lạ thực! Một vật làm cho người chết đứng được dậy, vùng ra cửa... nếu vậy thì ra là... là...
- Là quỷ nhập tràng! Phải rồi, người chết bị quỷ nhập tràng... nhưng ông đừng nhìn tôi một cách kinh ngạc quá như thế... Việc này không phải là một điều quái gở đầu. Chắc ông cũng thường thấy nói rằng một người mới chết, nếu có một con mèo nhảy qua, thì sẽ đứng dậy, cử động được một lúc như có luồng điện sai khiến vậy.
- Tôi vẫn biết là thế... Nhưng vì đâu mà ông biết rằng người chết bị quỷ nhập tràng được?
- Có gì đâu? Đó là vì sau khi tôi xem xét người chết, thấy những vết máu trên bụng hắn, tôi lại thấy những vết máu giống như thế rơi trên mặt đất thì tôi thoáng có một ý kiến khác hẳn của các nhà chuyên trách: tôi nhất định tin rằng việc này không có tay người dính vào... Đã có cái ý nhất định ấy rồi, nhân tình cờ tôi lại gặp một điều "lạ" mà giá lúc khác thì mình coi thường không chú ý đến. Đó là một vết đo đỏ tôi thấy trên mặt đường đá, ngay bên cái bánh xe ô-tô đỗ trước cửa nhà này. Vì nghĩ đến xe ô-tô, và vì lại trông thấy cách đó mấy bước có một vết mờ mờ đo đỏ nữa, trong trí tôi liền nảy ra một tia sáng cho tôi đoán được các việc xảy ra. Tôi đoán rằng hồi gần sáng - lúc ấy ông cai Bốn đã chết nằm trên giường - có một con vật chạy qua đường thình lình bị xe ô-tô nghiến què một cẳng. Cửa liếp nhà ông Bốn không buộc cài ở trong. Con vật đau cuống lên, lẻn vào trong nhà, nhưng vẫn còn hoảng sợ. Nó trông thấy cái cửa sổ lúc ấy vẫn mở, liền nhảy lên giường, vượt qua cái xác chết mà ra ngoài. (Lúc qua cửa sổ, nó làm rơi cái thanh tre chống tấm phên nhỏ, cái thanh tre rơi xuống chân vách ngoài, tôi đi tìm thấy). Cái việc ấy xảy ra không đầy nửa phút... Người chết bị con vật nhảy qua vùng đứng phắt ngay dậy, rồi như một người máy không hồn loạng choạng đến gần một phút, rồi sau đến ngã ngửa lên chiếc cửa liếp kia.

Đấy, câu chuyện theo những điều tôi xét thì chỉ có thể... Nếu ông chưa tin, thì đây, tôi đã có chứng cớ.
Nói đoạn, người thiếu niên dẫn tôi ra đàng sau nhà, đi năm sáu bước nữa đến một bụi cây rậm. Chàng ta cẩn thận vạch một cụm lá ra, rồi chỉ cho tôi trông thấy một con mèo vàng to, và gầy, bị nát một nửa chân sau, đang nằm nép trong một xó.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Fri Dec 28, 2018 11:06 am



Cái Xác Đuổi Người
Truyện Ngắn Thế Lữ (1907-1989)


Tôi tắt đèn điện trong phòng khách, mở rộng hai cánh cửa sổ, rồi ngồi ngắm cảnh ngoài vườn.
Lúc ấy vào khoảng hơn mười giờ, một đêm trăng mùa hạ. Ngoài vườn, gió thổi trong đám cây âm u, làm nhấp nhánh những ánh trăng trên lá, thỉnh thoảng lại đưa vào một lớp hương êm mảt của cỏ hoa. Tôi đang lắng nghe những tiếng rì rào kín đáo của ban đêm, bỗng có người rón rén bước tới rồi nói:
- Thảo nào! Chả nhẽ anh đi ngủ sớm thế?
Tôi quay lại thì là Ngô Đàm. Đàm là một người bạn tôi quen được ít lâu nay, và tôi đã có lần giới thiệu với độc giả nhân một câu chuyện ly kỳ (1).
- Ngồi đó mơ tưởng gì thế?
- Ngồi ngắm cảnh đêm trăng. Anh đi đâu rồi ghé qua vào đây hẳn?
- Chả đi đâu cả. Tôi định lại nói chuyện với anh cho đỡ buồn, thấy đèn tắt, tôi ngạc nhiên, vì thường anh vẫn làm việc khuya lắm.
Tôi kéo ghế mời bạn ngồi rồi toan đi bật đèn. Nhưng Đàm ngăn lại:
- Để tối thế này, thú hơn... Thế hợp với câu chuyện tôi định kể cho anh nghe hơn. Nhưng thuốc lá đâu? Đưa tôi một điếu.
Tôi đưa thuốc lá cho Đàm và hỏi:
- Chuyện gì?
- Một chuyện ly kỳ lắm. Vừa rồi nhân đọc một cuốn sách Tây mới sực nhớ đến. Anh là người ưa những chuyện lạ, chắc anh thích nghe.
Trong nhà mờ tối một cách huyền ảo. Người bạn ngồi trước mặt tôi chỉ là cái bóng nửa thực, nửa hư. Chốc chốc lửa thuốc lại làm cho mặt anh ta sáng đỏ lên một lát.
- Chuyện thế nào? Anh kể đi. Bạn tôi gật đầu, hút một hơi thuốc dài, ngả người lên lưng ghế rồi bắt đầu nói:
- Anh có biết thế nào là một cái nhà tràng không? - Nhà tràng tức là một thứ trường học lớn, một nơi đào luyện các nhà tu hành của đạo Thiên Chúa ấy mà, anh hiểu chưa? Câu chuyện này xảy ra ở đó; mà chính một người "nhà thầy" đang học ban "phi lô" thuật lại cho tôi nghe. Anh nên biết rằng người ấy không đời nào bịa đặt ra một điều gì cả.
Hồi bấy giờ, anh ta còn đang học ở lớp La Tinh năm thứ tư, nghĩa là trước khi lên ban "phi lô", còn phải học ba năm nữa. Học sinh ở năm ấy đã qua cái thời kỳ làm "cậu bé", nhưng chưa lên tới bực "các thầy lý đoán"; phần nhiều đã nghiêm trang, đạo mạo, song cũng có người tính hay đùa bỡn, hay nghịch tinh. Cho nên trong cuộc đời học tập nguyện cầu kia mới có những chuyện vui, chuyện lý thú, với cả những chuyện lạ như chuyện này nữa.
Hôm ấy, đang buổi học chiều, cha Chính coi tràng vào báo cho học trò năm thứ tư biết tin một người bạn cùng năm mới tạ thế, và hỏi lấy hai người tình nguyện coi xác người chết trong một đêm.
Mọi người xì xào bàn tán một hồi lâu rồi ngồi im, không ai nói chi hết. Bởi vì ai cũng biết rằng nhà xác đứng trơ trọi ở một góc vườn rộng và vắng, - mà những chuyện ma quỷ hiện hình không phải là những chuyện họ sẵn lòng bỏ ngoài tai. Mọi khi thì vẫn giao việc coi xác cho một bõ già, không biết gì là sợ hãi, nhưng lần này ông ta lại có việc lên nhà xứ mãi hôm sau mới về. Cha Chính phải hỏi đến ba, bốn lượt mới có một người đứng dậy: Đó là anh Phê. Anh Phê là một người học trò ranh mãnh, táo tợn nhất, nên không ai lấy làm lạ mấy. Nhưng đến lúc một anh khác, tên là Nhiệm, cũng xin đi coi xác, thì mọi người cùng ngạc nhiên. Anh này chẳng qua chỉ làm mặt bạo dạn đấy thôi, chứ cả trường La Tinh người sợ ma nhất lại là anh Nhiệm. Song có lẽ sợ ma là một chuyện, mà có lòng tốt với một người bạn qua đời là một chuyện khác, nên lúc cha Chính hỏi lại lần nữa, thì Nhiệm vẫn quả quyết xin thức với Phê. Một vài anh thì thầm: "Anh chàng trót nhận lời rồi, hối lại không kịp nữa". Cha Chính hẹn cho hai người sau hồi chuông nguyện sáu giờ sẽ xuống nhà xác.

Nhà xác là một chiếc nhà gạch cũ và thấp có hiên rộng đằng trước và hai bên. Trong nhà kê ba chiếc giường nhỏ phòng khi có xác các chú bé. Người bạn mới từ trần nằm trên một chiếc phản gỗ hẹp và dài, mình phủ tấm khăn liệm trắng. Chiếc phản gỗ kê phía trong, sau một bức màn gió xanh kéo che gần một nửa gian nhà, hai cây nến hai bên phản đang yên lặng cháy.
Lúc mới bước vào, Nhiệm bạo dạn lôi một chiếc ghế đẩu ngồi ở phía ngoài bức màn, ngoảnh mặt nhìn ra cửa sổ đằng sau, tươi cười nói:
- Ở đây mát thật, anh Phê nhỉ?
Phê không trả lời. Anh ta nhìn Nhiệm một cách hóm hỉnh và mỉm cười, vì anh ta biết rằng Nhiệm chỉ làm ra mặt bạo dạn. Một lát, Phê bỗng gọi Nhiệm:
- Này! Anh Nhiệm coi!
- Cái gì!
- Coi cái tấm màn nó động đậy!
Nhiệm thản nhiên đáp:
- Gió làm động đấy chứ có gì đâu!
- Thế mà trông như có ma nấp ấy nhỉ?
Câu nói nửa thực nửa ngờ của Phê làm cho Nhiệm khó chịu. Nhưng anh lẳng lặng đưa mắt nhìn bốn góc nhà xác, nhìn cái săng đặt bên tường và không đậy nắp, nhìn những tấm ảnh nhân từ với một tượng chịu nạn phía trên đầu người chết. Mắt anh chỉ liếc qua lên mặt cái xác nằm trơ đó rồi tức khắc quay đi. Anh ta lấy tràng hạt ra và khuyên Phê đọc kinh, nhân để tránh những câu nói không vui gì của bạn. Nhưng nào có đọc kinh được! Trong lòng Nhiệm cứ nao nao như sợ một cái nguy hại vô hình.
Trời đất một thâm dần lại. Hai ngọn nến cao sáng thêm ra. Nhiệm thở dài. Cái yên lặng dai dẳng càng khắc càng nặng nề. Cảnh vật chung quanh như liệm vào cõi chết.
Nhiệm se sẽ nói:
- Này anh Phê ạ, bây giờ hơn bảy giờ mà cũng chưa tối lắm nhỉ?
- Phải, vì ngày tháng năm thì dài.
- Trong này còn nến nữa không?
- Để làm gì?
- Để tí nữa... tối rồi thắp lên cho thêm sáng.
- Tôi thì tôi thích tối. Anh sợ tối à?
Nhiệm trả lời:
- Việc gì mà sợ! Tưởng còn nến thì thắp lên cũng được, mà không thì... chậc... cũng không cần. Nhiệm nói rồi lại nhìn đi, mặt cố giữ vẻ bình tĩnh.
Phê nghĩ bụng: "Cu cậu sợ chết đi ấy lại còn cứ vờ".
Rồi anh ta tìm cách ghẹo bạn chơi. Thỉnh thoảng anh nói với Nhiệm một câu rất đột ngột, một câu "nát đảm" để được thấy cái lo sợ thoảng trên mặt Nhiệm.
Đêm ấy là đêm rằm. Trăng lúc ấy soi vào gần tới bậc cửa. Hai người ngồi lẳng lặng trông thì giờ dần qua. Đồng hồ trên nhà nguyện văng vẳng điểm tám giờ... Rồi điểm chín giờ... Rồi mười giờ... Phê thỉnh thoảng lại định nói chuyện nhưng Nhiệm không thèm nghe.
Sau cùng, Phê bỗng kéo tay Nhiệm, ghé tai nói:
- Bây giờ mà cái xác kia đứng dậy đi ra ngoài với chúng mình thì anh bảo sao?
Nhiệm rợn người lên, nhìn Phê ra ý trách móc:
- Khiếp! Nói toàn những cái...
- Cái gì?
- Cái vô lý chứ gì?
- Phải. Vô lý. Nhưng anh cứ thú thực ngay rằng anh sợ...
- Tôi chả sợ gì hết. Anh nói vậy chứ, giá có ma thực hiện lên, tôi cũng không coi vào đâu.
Phê nghĩ thầm: "Nếu vậy được lắm". Rồi anh ta không nói qua một lời nào nữa, làm mặt tử tế ngồi giả tảng đọc kinh.

Trăng lên cao càng thêm sáng. Cái tối tăm chỗ hai người ngồi trong nhà xác thực lạnh lẽo, âm thầm. Tiếng giun dế rủ rỉ dưới chân cỏ.. Tiếng gió thổi làm động những tàu chuối... Bỗng chốc một tiếng chim đêm, kêu dài và thảm.. Mười một giờ rồi.
Đồng hồ vừa dứt tiếng sau cùng thì Phê bỗng lại nói:
- Anh Nhiệm ạ, anh ngồi đầy để tôi ra ngoài một lát nhé.
- Hử? Anh ra ngoài à?
- Ừ. Mình ngồi suông đây với cái xác kia một đêm cũng buồn... Tôi muốn ra vườn tảo cái gì vào đây chén.
Ý kiến hay lắm. Song Nhiệm vẫn ngần ngừ chưa biết trả lời ra sao thì Phê lại nói:
- Ngoài vườn nhiều ổi, nhãn, tôi muốn trẩy về đây ăn với anh cho đỡ buồn... Nhưng tôi trèo vụng quá! Mà ổi, nhãn ở những cây thấp thì còn xanh. Này! Hay là... anh để tôi ngồi coi đây... anh ra vườn trẩy hộ tôi...
Nhiệm tuy không muốn ra vườn, nhưng lại càng không muốn ngồi một mình trong này, nên anh ta liền nhận lời bạn. Phê dặn với:
- Anh lấy cho rõ nhiều nhãn ấy nhé, cả ổi nữa, rõ nhiều ổi, ta ăn suốt đêm kia mà.
- Được, được. Anh cứ để mặc tôi.
Thế là Nhiệm bị trúng kế. Nhiệm vừa đi khuất, Phê liền đứng ngay dậy vừa đi đến bên cái xác vừa nói:
- Cứ làm bộ can đảm mãi... nào, thử xem bạo được đến đâu. Rồi không rụt rè, anh ta lật bỏ cái khăn trắng phủ người chết ra một bên và dựng cái xác đứng xuống đất. Cái xác vẫn cứng thẳng như một bó nứa, và nặng lắm, không tiện vác lên vai: anh ta phải kéo giật lùi đến bên cạnh cửa rồi dựng ở đấy. Đoạn, ngó nhanh ra ngoài một cái, anh ta đến nhảy lên cái phản gỗ, tắt bớt một ngọn nến đi, ngả lưng xuống, duỗi thẳng cẳng ra, kéo cái khăn trắng lên phủ khắp mình, và nằm đợi.

Được chừng năm phút thì thấy tiếng chân Nhiệm bước vào, Nhiệm tới cửa đã vui vẻ nói:
- Nhiều ổi chín thơm lắm, nhưng chỉ lấy được có ít nhãn... Mà... ô này! Anh Phê đâu?
Không ai trả lời. Nhiệm vẫn cẩn thận giữ bọc ổi, nhãn trên vạt áo. Anh ta bước đến bên cái ghế đẩu mà Phê ngồi lúc nãy. Cái xác đứng trong phía tối; song anh ta vừa ở ngoài sáng vào nên không trông thấy.
- Anh Phê đâu? Im lìm.
- Anh Phê? Vẫn im.
Nhiệm sẽ đưa mắt vào phía trong, phía người chết nằm, nghẹn tiếng gọi nữa: - Anh Phê?
Phê liền thở lên một tiếng thực dài... rồi chậm chạp ngồi lên, nói lơ lớ tiếng:
- Hử! Cá... ái gì?
Nhiệm chưa hiểu, trợn mắt rất to nhìn, bỗng thét lên một tiếng ghê gớm, bao nhiêu ổi, nhãn tung cả xuống đất, rồi vùng chạy ra. Phê sằng sặc lên cười, khoác cái chăn liệm trên mình toan đuổi theo, thì... cái xác chết chạy ra đuổi trước.
Tôi hỏi: - Hử! Anh bảo sao? Cái xác đuổi?
Đàm gật: - Phải! Lúc Nhiệm chạy ra khỏi cửa thì cái xác đuổi theo liền... rồi cứ Nhiệm đuổi hoài. Phê ở trong này nằm điếng người đi vì khiếp.
Còn Nhiệm thì chạy bán sống, bán chết. Anh ta lúc ấy cũng còn đủ thần hồn để hiểu rõ cái tình thế quái gở: là bị một cái thây ma đuổi theo. Thế mà chạy càng nhanh càng bị đuổi gấp, anh ta không dám quay cổ lại, không dám nghĩ đến lúc kết cục, chỉ biết rằng nếu chậm một tí là bị người chết nắm được mình. Hình như anh ta có kêu lớn lên hai, ba lần nhưng tai chẳng nghe thấy gì cả.
Chạy khỏi những ruộng cỏ đầy nhưng vũng nước, anh ta qua một ruộng khoai gồ ghề thì tưởng đứt ruột ra không chạy được nữa. Cố hết sức dướng lên một độ nữa thì bỗng vướng quần ngã dúi xuống bên một luống dâu. Cái xác nằm đè lên như ôm choàng lấy Nhiệm.

Nói đến đó, bạn tôi ngồi yên, với tay lấy diêm châm điếu thuốc lá nữa. Tôi nóng ruột hỏi:
- Thế là hết?
- Không. Còn! Nhưng không còn gì là lạ mấy! Lúc cả nhà chung, vì tiếng chó cắn dữ quá thức đậy, đổ tìm khắp các ngả thì thấy Nhiệm nằm như chết dưới cái thây ma. Nhưng anh ta mới ngất đi thôi: trống ngực vẫn thoi thóp đập.
Mọi người cùng kinh ngạc, khiêng hai cái thây: thây người sống và thây người chết vào nhà xác, thì Phê ở trên chiếc phản gỗ bấy giờ đã tỉnh dậy ngơ ngác nhìn.
Song mọi người không phải kinh ngạc lâu, vì lúc Phê hoàn hồn liền đem đầu đuôi việc tinh nghịch của mình thú thực hết cả.
- Nhiệm cũng không hề gì chứ?
- Không hề gì. Các cố tìm cách cứu tỉnh ngay. Nhưng mất đến một tháng, anh ta cứ ngẩn ngơ như người ra dại. Bây giờ thì khỏi hẳn, vẫn học hành tấn tới như thường. Anh ta không hay nhắc tới chuyện xưa, nhưng vẫn nhớ rõ rệt cái cảm tưởng quái gở của mình trong lúc bị xác chết đuổi.
Tôi hỏi Đàm:
- Nhưng quái lạ! Sao cái xác chết lại đuổi nhỉ? Anh có tin là có ma quỷ thực không?
- Tin hay không thuộc về chuyện khác. Nhưng trong việc này, tôi quyết không có ma quỷ nào hết. Tôi cũng cùng một ý kiến với một vài ông cố Y Pha Nho ở đấy, lấy nhẽ khoa học cắt nghĩa ra... Tôi cho việc này cũng gần có một tính cách như những "quỷ nhập tràng" mà tôi vẫn để tâm nghiên cứu.
Người chết ở đây tuy không bị một con vật gì nhảy qua, nhưng bị một thứ "hấp lực" làm cho chuyển động. Người sống thì tưởng là bị xác chết kia đuổi, nhưng thực ra thì cái xác bị cái "hấp lực" kia hút theo. Lúc các người trong nhà tràng tìm được người học trò lớp La Tinh ở luống dâu thì thấy cái xác đè sấp trên lưng anh ta, chân tay vẫn cứng thẳng như lúc còn ở trong nhà xác; vừa rồi tôi nói cái xác chuyển động thì chưa đúng, vì cái xác không động chỉ bị chuyển thôi, nghĩa là bị hút theo người tưởng là mình bị đuổi. Mà cái "hấp lực" ấy, tôi cho là cái sợ hãi quá sức của người sống, lúc vụt chạy ra...

Tuy vậy, cắt nghĩa như thế cũng chưa đủ, việc này đối với tôi vẫn còn bí mật như các điều huyền bí khác mà ánh sáng khoa học mới lờ mờ ló tới. Cho nên các điều tôi phân giải chỉ là một "giả thuyết" tầm thường thôi.
------
(1) Người thiếu niên ở trong truyện "Dòng máu đứt quãng".

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 504
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Fri Jan 04, 2019 12:05 am



Truyện Chàng Hoichi Cụt Tai
Nguyên tác: Hirai Teiichi dịch Lafcadio Hearn (từ Anh ra Nhật)
Người dịch: Nguyễn Nam Trân (từ tiếng Nhật)


Lời người dịch:
Ðến nay, ngàn liễu bến Matsue (Tùng Giang), thành phố nhỏ nhìn ra biển Nhật Bản bốn mùa phong vũ, vẫn thắm xanh như cái thuở con người phiêu bạt Lafcadio Hearn (1850-1904) đến định cư để tìm hiểu một nền văn hoá xa lạ đối với ông. Hearn (người Nhật đọc là Haan hay Herun) sinh năm 1850 ở quần đảo Ionia, Hy Lạp. Cha Ái Nhĩ Lan, mẹ Hy Lạp. Từ khi cha mẹ ly hôn, ông rày đây mai đó cho đến năm 1890, ngày đặt chân lên đất Phù Tang. Lấy tên Koizumi Yakumo (Tiểu Tuyền Bát Vân), ông viết nhiều tùy bút, biên khảo về đất nước và con  người Nhật Bản.
Hearn lớn lên ở Pháp, chu du Mỹ, Canada, Martiniques... trước khi sự tình cờ đưa ông cập bến Yokohama năm đã 40 tuổi. Yêu mến phong cảnh hữu tình đất Matsue, ông sống một chuỗi ngày thật hạnh phúc ở đây, sau vì bệnh hoạn phải xuống Kumamoto rồi lên Tokyo dạy Anh ngữ ở những ngôi trường nổi tiếng như Waseda, Tokyo, trước khi qua đời năm 1904 vì nghẽn mạch tim.

Viết văn, ông chịu ảnh hưởng Robert Stevenson, Gustave Flaubert, Guy De Maupassant, những nhà kể truyện nổi tiếng. Ông muốn từ bỏ thế giới Tây phương để mạo hiểm đến những miền đất lạ như nhiều nghệ sĩ cùng thời, trong đó có Paul Gauguin và Pierre Loti.
Hearn đặc biệt yêu thích những truyện kinh dị, không cứ gì của Nhật mà của quần đảo Antilles, của cả Trung Quốc. Lúc mới đến Nhật, chưa rành mặt chữ, phu nhân Setsuko đọc truyện ma quái Nhật cho ông nghe. Ông soạn lại bằng tiếng Anh, sau mới được dịch ra Nhật ngữ.  Người ta biết Hearn nhiều qua tập «Kaidan» (Quái Đàm) mà «Truyện Chàng Hoichi Cụt Tai» (Miminashi Hôichi no Hanashi) này là một... Nguyên tác (chỉ dài độ một phần ba bản văn) vốn mang tên «Tì Bà Bí Khúc Khấp U Linh» lấy từ tác phẩm cổ điển «Ngoạ Du Kỳ Ðàm» do một ẩn sĩ tên Nhất Tịch Tản Nhân soạn, bản cổ nhất còn lưu lại in năm 1782.

Tham khảo:
1) Hirakawa Sukehiro, Koizumi Yakumo, Kaidan, Kidan, (Tiểu Tuyền Bát Vân, Truyện Kinh Dị) Kodansha, 1990.
2) Hirakawa Sukehiro, Koizumi Yakumo, Kureơru Monogatari, (Tiểu Tuyền Bát Vân, Truyện cổ vùng đảo Antilles) Kodansha, 1991.
3) Lafcadio Hearn (Tashiro Michitoshi dịch), Kaidan, Kidan (Truyện Kinh Dị), Kadogawa, 1956, ấn bản năm 1995.
4) Lafcadio Hearn (Hirai Teiichi dịch), Kaidan, Iwanami, 1940, ấn bản năm 2000.  


Cách đây hơn bảy trăm năm, vùng Dan no Ura ngang eo biển Shimonoseki là nơi xảy ra trận quyết chiến giữa hai giòng họ Minamoto và Taira. Ở Dan no Ura, một nhà Taira từ đàn bà con nít đến cả vị ấu chúa mà ngày nay người ta còn nhớ đến qua cái tên Thiên Hoàng Antoku (An Đức) đều bị tuyệt diệt. Từ đó đến nay bao nhiêu nước đã chảy qua cầu mà một vùng biển Dan no Ura vẫn còn xì xào về những chuyện kinh dị về hồn ma vất vưởng của dòng họ Taira. Đừng nói chi đến những con cua Heike (một tên khác của Taira) trên lưng mang hình mặt người như muốn giữ lại dấu tích oán hờn của các chiến sĩ Taira, (lũ cua mà người kể truyện đã có lần nhắc đến trong một tác phẩm khác), trên một vùng biển đó, người ta đã nghe, đã thấy bao nhiêu là sự kiện kỳ quái. Ví dụ cái cảnh hàng nghìn ánh lửa ma trơi không biết đâu ra, lướt trên ngọn sóng trong những đêm tối đen. Dân chài thường gọi đó là “quỉ hỏa”, loại ánh sáng xanh lè lạnh lẽo. Nào đã thôi đâu, những ngày gió lớn, lúc đó từ ngoài khơi lại vọng về những tiếng thét gào cuồng nộ như âm thanh sát phạt trên bãi chiến trường.

Xưa đã thế nhưng ngày nay những con ma Taira còn lộng hành hơn trước nữa. Ma hiện ra trên thuyền bè đi lại ngoài khơi, tìm cách nhận đắm hoặc chờ những ai đang bơi lội giữa giòng, bất thần chụp lấy rồi kéo họ xuống đáy biển. Cái chùa A Di Đà lập lên ở vùng Akamagaseki (nay là Shimonoseki) vốn nhằm mục đích cúng tế, an ủi vong linh những con ma Taira ấy. Phần đất cuối chùa nơi sát biển, nhà chùa có dành ra một khu chôn cất, dựng bia mộ khắc tên vị thiên hoàng chết đuối cùng như tên quần thần của người, mọi năm đến ngày giỗ chạp, đều lập đàn tràng giải oan. Từ khi A Di Đà Tự lập ra, rồi đến khi bia đá dựng lên thì quỉ quái họ Taira cũng bớt quấy người. Dù vậy, những chuyện quái dị không vì thế mà hoàn toàn chấm dứt, điều đó chứng tỏ vong linh kia vẫn chưa được phiêu diêu về cõi thọ.

Vài trăm năm trước ở vùng Akamagaseki có một chàng mù tên gọi Hoichi (Phương Nhất). Hoichi nổi danh về tài đánh tì bà và hát theo điệu đàn. Cái tài đánh đàn kể truyện anh chàng vốn có từ ngày còn bé. Khi hãy còn là một gã thiếu niên, tài chàng đã vượt cả thầy học. Chả thế mà mấy chốc Hoichi đã trở thành nhạc sư tì bà, sở trường về khúc “Truyện hai nhà Minamoto-Taira tranh hùng” (1). Người ta bảo khi Hoichi chơi đến đoạn nói về cảnh thủy chiến ở Dan no Ura thì não nùng ai oán đến “quỉ thần cũng phải cảm thương nhỏ lệ“.
Lúc Hoichi chưa có danh chi, chàng ta rất nghèo. May nhờ có một người tri kỷ nâng đỡ anh. Người ấy là hòa thượng trụ trì chùa A Di Đà, một nhà tu hành tinh thông cả thi ca âm luật, lâu lâu vẫn gọi Hoichi đến chùa đánh tì bà cho cụ nghe. Hòa thượng thấy chàng trẻ tuổi tài cao, thương mến muốn giúp đỡ đến độ mời chàng đến trọ hẳn. Hoichi cảm lòng tốt của cụ, bèn nhận lời. Từ đó, Hoichi vào ở hẳn một gian hậu liêu. Cảm cái ơn cho nơi ăn chốn ở, hễ đêm nào không có khách mời chơi đàn, Hoichi vác tì bà đến đánh để hòa thượng giải sầu, và như thế thành lệ.

Chuyện xảy ra vào một buổi chiều mùa hạ. Hôm đó, một đàn việt có tang ma, sư cụ phải đi đọc kinh suốt đêm, mấy chú tiểu chú điệu đều tháp tùng. Hoichi ở lại canh chùa một mình. Trời nóng hầm, Hoichi lò mò ra ngoài hàng hiên trước phòng ngủ để kiếm chút hơi mát. Hàng hiên này nhìn ra khu vườn nhỏ phía sau chùa. Hoichi ra ngồi đây với ý định chờ sư cụ về nhưng ngồi một mình mãi không làm gì cũng buồn, chàng mới bắt đầu dạo một khúc tì bà. Quá nữa đêm mà sư cụ vẫn chưa về. Hoichi dợm vào phòng nằm duỗi tay chân một chút thì thấy không khí trong phòng hãy còn nóng, chàng ta mới ra ngoài lại. Vừa trở ra, Hoichi bỗng nghe tiếng chân người từ cánh cổng sau tiến lại gần. Ai đó đi xuyên qua cảnh vườn con, tiến về phía hàng hiên. Đang phỏng đoán như thế thì chàng ta thấy bước chân kia đã tới sát trước mặt mình, đứng sựng lại. Nhưng người đó không phải là hòa thượng. Một giọng to, khỏe cất lên gọi tên chàng mù. Giọng trịch thượng, kẻ cả như giọng samurai gay gắt gọi người dưới:
– Hoichi!
Hoichi quá kinh hoàng đến độ trong một chốc không cất thành tiếng. Giọng nói kia lại như ra lệnh:
– Hoichi!
– Thưa vâng!
Chàng mù lí nhí trả lời chả bù với giọng nói nhanh như gió cuốn của người lạ. “Thưa tôi mù loà, không thấy đường. Vị nào đang gọi tôi đấy ạ…”
– Ngươi chớ sợ.
Giọng nói bỗng có phần dịu lại, người lạ tiếp lời: “Ta nhân đóng quân ở gần vùng này, có việc mới ghé qua đây. Chủ quân của ta là bậc cao quí, xưa vẫn ra vào chỗ cung cấm. Nay bề trên và đoàn tuỳ tùng của ngài ghé trọ qua đêm ở vùng Akamagaseki này, biết đến trận quyết chiến ở Dan no Ura nên ghé vãng cảnh. Bề trên nghe đồn tài kể chuyện của ngươi rất cao diệu, ngài muốn nghe một khúc. Vậy ngươi hãy mau mau lấy đàn theo ta đến chỗ dừng chân của các bậc tôn quí. Các vị ấy đang chờ ngươi đó!”

Thời ấy, samurai đã ra lệnh thì mọi người phải răm rắp tuân theo. Hoichi vội vội vàng vàng xỏ dép, vác đàn, đi theo người lạ. Người vũ sĩ nắm tay Hoichi một cách gọn gàng, kéo chàng ta đi nhanh như tên bắn. Bàn tay người lạ rắn như thép nguội, mỗi bước đi, bên sườn có tiếng lách cách như thể đang mang giáp trụ. Có lẽ người lạ là vũ sĩ cận vệ của một nhà quyền thế nào đó. Cái sợ hãi buổi đầu đã bớt dần. Hoichi điềm tĩnh trở lại và trong lòng bắt đầu rộn lên một niềm hãnh diện. Bởi vì anh chàng nhớ ra lúc nãy người lạ có nhắc đến mấy chữ “một bậc cao quí ngày xưa vốn ra vào chỗ cung cấm”, như vậy tài đàn của mình đã lọt đến tai một bực đệ nhất công hầu nào rồi. Vừa nghĩ đến đó thì người vũ sĩ bỗng dừng bước. Hoichi lắng tai nghe và có cảm tưởng hai người đang đứng trước một cánh cổng lớn. Ở chốn xa thành thị phố xá như thế này, ngoài chùa A Di Đà chắc không làm sao có một cái cổng lớn cỡ này. Hoichi đang nghi hoặc thì tùy giả đã cất tiếng dõng dạc:
– Khai môn!
Không phải đợi lâu, có tiếng song hồng mở nặng nề, hai người đã bước vào bên trong cửa. Đi qua khỏi một khu đình viên khá rộng, cả hai đến một cánh cửa khác. Dừng chân ở đó, tuỳ giả lại hô lớn: “Có ai trong đó không, xin được bẩm đã đem Hoichi về đến đây rồi”. Nói xong, có tiếng chân người từ bên trong đi ra, lại có tiếng vách giấy mở ra, tiếng rèm cửa cuốn lên, giọng đàn bà con gái xì xào. Nghe họ trò chuyện với nhau, Hoichi thầm nghĩ những người này phải là bọn thị tỳ trong một phủ đệ. Chàng mù đâm ra lo lắng không biết người ta sẽ dắt mình đi đâu. Chưa kịp nghĩ ngợi gì, có người đã đưa tay dắt chàng ta đi lên năm sáu bậc thang. Đến bậc cao nhất, có lệnh phải cởi dép. Bàn tay đàn bà lại tiếp tục dắt Hoichi đi qua những khu hành lang lát gỗ nhẵn thín và dài tưởng chừng bất tận. Chàng mù rẽ quặt không biết bao nhiêu lần ngõ ngách, cột trụ, xuyên qua mấy gian phòng trải chiếu rộng thênh thang trước khi được đưa vào trong một gian đại điện. Hoichi nghĩ ôi chao, đại điện này hẳn là nơi tụ tập các vị tôn quí vì hắn nghe tiếng vạt áo lụa chạm nhau sột soạt như tiếng lá trong rừng xao động, tiếng người đông đảo đang trò chuyện với nhau. Họ đang thì thầm những gì, Hoichi không hiểu rõ nhưng ngôn từ họ dùng là của nơi gác tía lầu son.

Hoichi được lệnh cứ tự nhiên. Người ta bày trước mặt chàng một tấm nệm tròn, mềm mại và bảo ngồi lên. Hoichi đang nắn lại giây đàn thì một giọng đàn bà đã cất lên, dường như tiếng của lão chủ quản trong cung:
– Mi hãy so dây, bắt đầu dạo khúc “Truyện Heike” cho bề trên thưởng thức đi. Nhưng nếu bà ta chỉ nói chừng đó thì Hoichi không biết phải bắt đầu từ đâu. Truyện nhà Taira dài lắm, kể biết mấy đêm mới xong. Hoichi mới đánh bạo:
– Dám thưa Truyện Heike khá dài, một buổi không sao kể hết. Chẳng hay bề trên muốn nghe đoạn nào?
Hỏi đến đây thì giọng lão bà lại trả lời:
– Hãy kể cho ngài nghe đoạn quyết chiến ở Dan no Ura. Trong cả một Truyện Heike, đoạn này nghe buồn thấm thía nhất đấy.

Hoichi bèn từ từ cất giọng, kể lớp nói về trận thủy chiến khủng khiếp. Tiếng đàn khéo làm sống lại nào là tiếng mái chèo quạt nước, tiếng đoàn thuyền lao lên xung trận, tiếng tên bay xé gió, tiếng chân rầm rập xen với tiếng quân reo hò, tiếng đao kiếm giáp trụ chạm vào nhau soang soảng, tiếng người bị đâm ngã ùm xuống nước. Trong lúc Hoichi đang ra sức trình tấu, chung quanh người nghe đã bắt đầu xuýt xoa tán thưởng. “Làm sao lại có tay đàn tuyệt vời như thế nhỉ“, “Ngay ở kinh đô, cũng chưa nghe ai đánh hay đến vậy”, “Dưới gầm trời này, hỏi ai hơn được Hoichi!”, bao nhiêu lời khen tặng lọt vào lỗ tai chàng mù. Trong lòng Hoichi rộn một niềm tự hào, chàng lại ra sức đàn hát. Tán thưởng tưởng còn như không dứt thì chung quanh bỗng nhiên trở lại im lặng như tờ. Lúc ấy, khúc đàn đã tiến dần đến đoạn tả thảm cảnh nhà Taira, một đoàn người đẹp, trẻ thơ bỗng nhiên gặp cảnh tuyệt mệnh, thương tâm, nhất là cảnh hai bà phi bồng ấu chúa trầm mình dưới giòng nước bạc. Người nghe ai nấy ngậm ngùi thở dài, chợt nổi lên đâu đây tiếng nấc tức tưởi nghẹn ngào rồi tiếng khóc oà vang. Tiếng khóc vỡ ra như không cầm lại được, chính Hoichi cũng phải ngạc nhiên không ngờ mình đã động mối thương tâm của người nghe đến thế. Tiếng khóc kéo dài một hồi lâu rồi như vơi đi, bốn bề bỗng yên tĩnh trở lại. Trong cái im lặng đó, giọng bà lão lại cất lên:
– Tiếng đàn như thế thật trên đời có một không hai. Đã đành từng nghe tiếng người đồn dãi nhưng hôm nay xem mi trổ tài mới biết lời đồn kia còn thua sự thật. Đức vương thượng rất hài lòng. Ngài còn giáng chỉ cho chúng ta bảo phải ban cho mi nhiều tặng vật để thưởng công. Vậy kể từ đêm nay, trong suốt sáu đêm, mỗi đêm mi phải tới đây đánh đàn tiếp cho chúng ta nghe. Nếu đức ngài không phải lên đường thượng kinh gấp, thì ngày mai, cũng vào giờ khắc này, sẽ có người gọi mi tới dinh nầy. Kẻ dẫn đường cho mi hôm nay ngày mai sẽ đến đón. Ta chỉ có một điều căn dặn mi là chuyện bề trên ngự đến vùng Akamagaseki này, mi không được hé môi cho ai. Đức ngài vi hành tới vùng này nên không muốn trong hay ngoài biết. Hôm nay như thế là xong, mi có thể lui về chùa được rồi.

Hoichi rạp mình chào xong, bàn tay thị nữ lại dắt chàng ta ra tận cửa, ở đó, người tùy giả lúc nãy đã đợi để đưa hắn về chùa. Vũ sĩ đưa Hoichi trở lại mái hiên chùa, rồi từ giã quay về. Lúc Hoichi trở lại chùa trời đã sáng bạch nhưng việc anh ta qua đêm ở ngoài, chẳng có ai để ý. Hòa thượng coi bộ đêm đó về khuya lắm, tưởng là chàng mù đã đi ngủ từ lâu nên chẳng bận tâm. Sáng hôm sau, Hoichi có nằm nướng một chút lấy sức nhưng cái chuyện kỳ lạ đêm qua, anh ta không để lọt ra ngoài một tiếng. Nửa đêm hôm đó, người vũ sĩ lại đến tìm Hoichi đi trình tấu ở chỗ các bậc tôn quí hội họp, và cũng như đêm trước, chàng thu lượm được muôn ngàn lời tán tụng. Tuy nhiên, trong lúc Hoichi đi đánh đàn, ở chùa người ta bỗng phát giác sự vắng mặt của chàng mù. Khi về chùa lúc hừng sáng, chàng ta được gọi đến trước mặt sư cụ. Sư cụ không bằng lòng chút nào, luôn miệng trách mắng:
– Hoichi, ta nói điều này chỉ vì ta lo cho ngươi thôi. Đã mù lòa, một thân một mình mà bỏ chùa đi đâu suốt đêm đến sáng. Thật không có gì nguy hiểm hơn. Nếu có đi đâu sao không bảo tụi nhỏ đứa nào nó dắt đi mà tự ý đi một mình như vậy. Thế chớ đến nay, người đã đi những đâu?
– Bạch sư cụ thứ lỗi cho con. Chỉ vì con có chút việc riêng mà ban ngày ban mặt không thu xếp xong phải kéo đến tối đấy ạ.
Hòa thượng coi mòi Hoichi không chịu nói thực, cụ không bực mình mà chỉ ngạc nhiên. Đây là chuyện không bình thường chút nào, hẳn có lý do chi đây. Hoậc giả chàng mù này đang gặp chuyện gì chẳng lành, bị ai lừa lọc gì chăng. Lo thì lo nhưng hỏi thêm không tiện, hoà thượng chỉ còn biết ra lệnh cho mấy điệu phải trông chừng nhất cử nhất động của chàng mù. Hễ mà đến đêm Hoichi còn bỏ chùa đi đâu nữa thì phải tức tốc theo dõi.

Đêm ấy, khi Hoichi vừa ra khỏi chùa thì đã có người biết. Mấy chú tiểu chú điệu liền xách lồng đèn theo dấu anh chàng. Thế nhưng trời đang mưa, đường tối mịt. Bọn nhà chùa vừa ra tới ngõ lớn thì đã hút mất bóng Hoichi. Làm như thể Hoichi có chuyện phải nhanh chân đi gấp. Không thấy đường mà đi được nhanh như thế thật có trời mới hiểu, nhất là đường sá gập ghềnh. Bọn nhà chùa bèn thử xuống dưới xóm, đến những nhà Hoichi quen biết xem hắn ta có ghé đó không. Họ điểm từng nhà hỏi thăm, không sót đâu cả thế mà chẳng ai rõ tung tích chàng mù. Lúc không còn biết đi đâu mới theo ven bãi lui gót trở lại chùa thì họ chợt hoảng kinh. Trong khu nghĩa địa chùa A Di Đà, bổng văng vẳng tiếng tì bà dồn dập. Phía khu mộ địa tối om vẫn chập chờn đôi ba ánh lửa ma trơi như mọi hôm. Theo ánh lửa đèn lồng, bọn trai trẻ nhà chùa rốt cục tìm ra Hoichi trong nghĩa địa. Giữa cơn mưa tầm tã, Hoichi đang ngồi thẳng lưng trước lăng Thiên Hoàng Antoku, tay đàn miệng hát, dáng điệu đau đớn thiết tha, kể sự tích cuộc tranh chiến ở Dan no Ura. Chung quanh Hoichi toàn là bia, là mộ, ngổn ngang gò đống, và trên đó, hàng hàng lớp lớp những ngọn lửa quỉ lạnh lẽo chập chờn. Từ trước đến giờ, chắc chắn chưa có ai thấy một nơi nào mà ma trơi tụ tập nhiều như ở đây.

– Chú Hoichi ơi, chú ơi!
Bọn trai trẻ gào lên. “Chú Hoichi ơi, ma nó ám chú rồi!”
Chàng mù như không đếm xỉa gì đến lời nói đó. Không những thế, chàng ta càng mạnh tay đàn, cao giọng hát, dồn hết tâm lực kể truyện trận quyết chiến Dan no Ura. Bọn nhà chùa nắm vai Hoichi, lay lấy lay để và nói như thét vào tai: ”Chú Hoichi, chú Hoichi ơi, theo bọn tôi về chùa thôi!” Bỗng lúc đó, Hoichi quay lại chúng, nói như mắng:
– Trước mặt bậc cao quí như thế này mà chúng mày dám ồn ào. Coi chừng mất đầu đấy nhé!
Lời nói chẳng ăn nhập gì đâu vào đâu làm bọn trai trẻ nhà chùa không khỏi phì cười. Đã đến mức này thì họ biết Hoichi gặp đúng của gì rồi. Họ bèn hè nhau dùng sức kéo Hoichi dậy và bốc hắn về chùa. Theo lời dạy của sư cụ, họ thay quần áo khô và cho hắn ăn hắn uống. Thế rồi hòa thượng giục Hoichi phải tường trình về hành vi lạ lùng của hắn.

Ban đầu, Hoichi còn trù trừ không muốn nói nhưng cuối cùng, nghĩ đến sư cụ xưa nay vẫn chu đáo với mình, mà mình lại làm phiền, mới đem tình thực giãi bày. Từ chuyện người samurai nửa đêm đến tìm mình cho đến những chuyện gì đã xảy ra từ đó đến nay, đều thuật lại cho nhà sư.
Hòa thượng lúc đó mới nói: ”Hoichi, thật tội nghiệp cho ngươi. Ngươi đang gặp nạn lớn đấy. Khổ nỗi là ngươi không chịu kể cho ta chuyện này sớm hơn. Trăm điều nguy khốn xảy đến cho ngươi cũng vì do cái tài đánh đàn tì bà. Tuy nhiên, lúc này ngươi phải tỉnh táo để tìm cách chấm dứt cơ sự này. Mấy đêm nay ngươi chẳng đi đánh đàn ở nhà ai cả, chỉ ra ngồi ở khu mả họ Taira trong nghĩa trang nhà chùa đó thôi. Thật ra, hồi hôm, bọn nhỏ nó tìm ra ngươi giữa đêm mưa trước lăng thiên hoàng Antoku đấy. Có thể là ma dẫn lối quỉ đưa đường cho ngươi nhưng những gì ngươi đã gặp đều là huyễn ảnh thôi. Một khi đã nghe lời ma quỉ thì chúng sẽ trói buộc ngươi mãi mãi. Nay đã đến tình cảnh này chỉ còn có cách không bao giờ chịu nghe theo chúng nữa, nếu không có ngày chúng phanh thây. Thật đấy, chẳng chóng thì chầy chúng sẽ giết ngươi thôi… Mà này, Hoichi, hôm nay lại có đàn việt mời đi cầu siêu suốt đêm, bắt buộc ta phải rời chùa, không thể ở bên ngươi được. Dầu sao, trước khi đi ta cũng sẽ viết kinh lên trên người để làm bùa hộ mạng cho ngươi.

Trước khi tắt nắng, hòa thượng bảo Hoichi phơi trần ra rồi cùng tăng sĩ trông việc sổ sách kho đụn, cả hai lấy bút lông xúm lại viết kinh lên người chàng mù. Từ ngực đến lưng, cả trên đầu, trên mặt, tay chân, cùi chỏ… ngay cả gan bàn chân cũng được chép đầy Bát Nhã Tâm Kinh, coi như toàn thân không thiếu chỗ nào. Chép kinh xong, hòa thượng mới ôn tồn:
– Đêm nay, khi ta đi xong, ngươi nhớ ra ngồi chỗ hàng hiên hậu liêu mà chờ. Tất nhiên ma kia sẽ đến đón. Thế nhưng dù có chuyện gì xảy ra chăng nữa, nhất thiết ngươi không được trả lời, không được động đậy. Cứ câm như hến, ngồi đấy thiền định theo phép Tam Muội, chuyên tâm vô niệm cho ta. Hễ ngươi rục rịch hay mở mồm là ngươi tới số đó nhé. Nói vậy chứ ngươi đừng sợ hãi gì, có gì xảy ra cũng chớ mở miệng kêu cứu, kêu cứu chỉ tổ chết sớm. Cứ làm đúng từng li từng tí lời ta căn dặn thì ngươi sẽ thoát hiểm từ đây.
Tối đến, hòa thượng cùng tăng sĩ thủ kho ra đi. Hoichi đúng lời sư cụ dặn, ra ngồi trước hàng hiên. Chàng mù đặt cây đàn tì bà trên sàn ván, ngồi nghiêm trang nhập định. Tâm thần yên ắng, không một tiếng ho khẽ, không một hơi thở mạnh. Cứ như thế, Hoichi ngồi chờ từ giờ này sang giờ khác. Dần dà, đã nghe tiếng chân bước từ chỗ phía khách vãng lai tiến về phía mình. Tiếng chân đi ngang cửa gỗ, thông qua khu vườn đến bên hàng hiên, dừng lại trước mặt Hoichi.
– Hoichi! Vẫn cái giọng khỏe, oang oang, cất tiếng gọi. Thế nhưng lần nầy, chàng mù nén thở, im tiếng, châu thân bất động.
– Hoichi! Tiếng quát lần thứ hai lanh lảnh rợn người. Lần thứ ba nó trở nên hằn học.
– Hoichi!
Hoichi vẫn ngồi im như tượng đá. Giọng nói kia không giữ được sự bực bội:
– Không trả lời! Quái! Thằng khốn nạn kia nó biến đi đâu nhỉ?
Tức khắc đã nghe tiếng chân bước thô bạo lên hiên. Tiếng chân xáp gần Hoichi rồi bỗng nhiên khựng lại. Hoichi cảm thấy trống ngực đập thình thịch, người run lẩy bẩy. Bên cạnh, vẫn không có một tiếng động nào.
Thoạt nhiên, cái tiếng nói thô bạo kia bỗng ghé sát bên tai chàng mù:
– Tì bà thì có mà nhạc sĩ tì bà không thấy. Chỉ có hai cái lỗ tai treo ở đây!… Có tai mà không nghe để trả lời. Chắc muốn trả lời mà không có miệng. Cả người chỉ còn lại cặp tai!… Được rồi, đến thế này thì ta chỉ còn cách đem cặp tai này cho bề trên để có chứng cứ là ta đã làm đúng mệnh lệnh của ngài.

Chỉ trong một sát na, Hoichi đã cảm thấy hai ngón tay cứng như thép nguội giật lấy tai hắn ta, rồi xoẹt, hai tai đã đứt lìa. Khỏi phải nói chàng mù đau nhói đến tâm can nhưng cắn răng không thốt nửa lời. Tiếng chân kia từ từ bước xuống khỏi hàng hiên, đi qua khu vườn, xa dần về phía cổng hậu rồi mất hút. Hoichi cảm thấy hai bên đầu có cái nước gì nóng nóng đang ròng ròng chảy xuống nhưng vẫn không dám đưa tay lên sờ.
Tờ mờ đất, hòa thượng mới khăn gói về chùa. Đến nơi, cụ đã tức tốc chạy xuống phía hiên hậu liêu. Bỗng sư cụ dẫm lên cái gì nhờm nhớp, trượt chân suýt ngã. Rồi cụ bỗng hoảng hốt vì dưới ánh sáng ngọn đèn lồng, đó là một vũng máu. Nhìn ra thì trên hàng hiên, Hoichi vẫn ngồi chính tọa trong tư thế nhập định, từ vết thương, máu nhỏ xuống nhuộm đỏ cả người.
– Hoichi đó hả! Sư cụ ngạc nhiên kêu “Trời Phật ơi, làm sao đến nỗi bị thương thế này?“
Nghe tiếng hòa thượng, Hoichi biết nguy hiểm đã qua, bật lên khóc rồi bù lu bù loa kể sự thể những gì xảy ra đêm qua.
– Tội nghiệp ơi là tội nghiệp!
Hòa thượng không cầm được tiếng than. “Trăm sự cũng tại ta bất cẩn. Viết kinh lên khắp người của ngươi mà lại không viết lên tai. Thấy chỗ tai hẹp, khó viết ta mới cậy thủ kho viết giùm, mà chính ta cũng chẳng chịu kiểm xem hắn có viết cho chưa. Để đến nỗi này là do ta sơ ý… Nhưng có hối cũng đã muộn, điều gấp rút bây giờ là trị liệu cho ngươi chóng bình phục. Hoichi, chớ có buồn nữa, phải vui lên vì kể từ nay, tai qua nạn khỏi rồi. Chắc chắn ma quỉ chẳng còn đến đây hạch sách quấy nhiễu ngươi nữa đâu.”

Nhờ lương y tận tâm, chẳng bao lâu, vết thương của Hoichi đã lành lặn. Câu chuyện kinh dị xảy đến cho chàng mù được đồn đãi nhanh chóng, danh tiếng chàng nổi lên như cồn. Bao nhiêu nhà giàu có cao quí đua nhau tới vùng Akamagaseki để thưởng thức ngón đàn của chàng, thi nhau cho vàng tặng lụa. Chẳng mấy lúc Hoichi trở thành giàu có. Thế nhưng vì câu chuyện quái dị kể trên mà Hoichi mang cái hỗn danh là “chàng Hoichi cụt tai”.

Nguyễn Nam Trân (dịch)

Chú thích:
(1) Cuộc thư hùng giữa hai giòng họ quyền thần Taira, (Bình, còn gọi là Heike (Bình gia)) và Minamoto (Nguyên, còn gọi là Nguyên thị (Genji)) thời trung cổ Nhật Bản, cũng giống như những cuộc tranh phong Trịnh Nguyễn, Lê Mạc của ta. Tháng 3 năm 1185, danh tướng Yoshitsune nhà Minamoto đánh tan đoàn chiến thuyền Taira ở Dan no Ura và mở màn cho chính trị mạc-phủ Kamakura. Cả một nhà Taira bị diệt vong, thiên hoàng Antoku (cháu ngoại họ Taira, tuổi hãy còn thơ) cũng chết trong trận thủy chiến. Sinh hoạt của hai giòng họ đã để lại những cổ điển bất hủ như Genji monogatari (Nguyên thị vật ngữ), một tác phẩm phong lưu được coi như truyện Kiều của Nhật, hay anh hùng ca Heike monogatari (Bình gia vật ngữ).
 
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 431
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    Wed Jan 16, 2019 12:15 am



Người dẫn đường cõi âm

Người ta nói rằng, khi một ai đó chết đi, linh hồn sẽ được người dẫn đường đưa về âm phủ. Người dẫn dường chỉ có nhiệm vụ dẫn đường, không ép buộc, nếu linh hồn quá quyến luyến nơi đã sinh ra, hoặc người thân vì đau lòng mà không thể quên được người đã khuất, thì linh hồn đó sẽ bướng bỉnh không chịu đi và trở thành một linh hồn lang thang.
Người dẫn đường sẽ bỏ đi, vì vậy mà họ vĩnh viễn không thể siêu thoát.

***

Ở một thành phố nọ có một ông già khó tính chẳng ai có thể lại gần. Ông ta không có ai ở bên cạnh chăm sóc, kể cả lúc trái gió trở trời, lúc ốm đau bệnh tật. Hàng xóm đến giúp đỡ thì ông cáu bẳn chửi rủa, xua đuổi hết không chừa một ai. Lâu dần cũng chẳng ai màng quan tâm đến nữa.
Ông sống ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác trong sự cô đơn tự nguyện, căn nhà gỗ thi thoảng vang lên tiếng ho khan đến oằn người. Mỗi đêm đều thấy tiếng rên rỉ đau đớn, đôi khi là tiếng khóc nỉ non vang lên. Thi thoảng người ta thấy ông đi ra ngoài mua đồ ăn mới biết là căn nhà vẫn có người sinh sống.

Người dẫn đường âm phủ đứng ngoài, thổi một bài sáo u uất, dường như nghe thấy tiếng sáo đau thương đó, Ông già thì thào:
- “Ông nhớ con lắm, Xu ạ”
Ông già lau nước mắt rơi trên tấm ảnh thờ thằng cháu nội và hai vợ chồng con trai ông và khóc nức nở, bóng ông cô đơn trong ánh đèn vàng heo hắt trong nhà. Ông trải chăn, nằm xuống giường và bật bóng đèn nhỏ gần giường để tạo ra một cái bóng bên cạnh, như tìm kiếm một người bạn ở bên cùng chờ thần chết đến.

Người dẫn đường chấm dứt khúc sáo u hồn, chuẩn bị bước vào trong nhà thực hiện nghĩa vụ của mình thì thấy một con chồn đang giữ vạt áo của hắn với ánh mắt van xin. Con chồn sử dụng ký ức tái hiện hình ảnh một ông lão cầm tay cháu đi trong rừng. Hai người họ quả thật rất vui vẻ và tràn đầy nhựa sống.
Ký ức hiện lên hình ảnh của một con chồn con bị thương, hai ông cháu đã băng bó và cho nó ăn, ký ức tái hiện cảnh họ thả con chồn đi, ông lão còn cẩn thận dặn dò “Đừng để bị thương nữa nhé chồn con, sống cho tốt!”.

Người dẫn đường do dự, hắn giơ sáo lên, thổi một bài nữa. Chấm dứt tiếng sáo cũng là lúc ông già tỉnh dậy. Ông giật mình thấy Xu đang nằm trong lòng ông ngủ ngon lành như ngày xưa, là cháu nội ông bằng xương bằng thịt. Ông vội vã sờ vào má thằng bé. Đúng là Xu của ông, ông ứa nước mắt lặp đi lặp lại “Đúng là Xu của ông rồi, đúng là Xu của ông rồi”.
Từ hôm đó, ngày nào Xu cũng ở bên ông, nhưng chỉ vào ban đêm, ban ngày căn nhà vẫn vắng lặng như thế, nhưng ông biết Xu là có thật vì bát cơm Xu chuẩn bị cho ông vẫn còn ở đó, cốc nước Xu lấy cho ông chưa vơi đi chút nào.
Ông già trở nên dễ tính và khỏe mạnh lại, ông bắt đầu đi ra ngoài thăm hỏi hàng xóm, bắt đầu cảm nhận ánh mặt trời chiếu vào vườn nhà ông, để đêm về cùng ngồi kể chuyện cho Xu nghe trong lúc thằng nhóc đấm lưng cho ông nội.

Mấy tháng liên tiếp đã trôi qua, kỳ trăng tiếp theo chuẩn bị đến. Một đêm trăng tròn, ông già ho lụ khụ, ông biết rằng cũng đã đến lúc mình phải từ bỏ cõi trần. Ông nắm chặt tay Xu và yêu cầu Xu hãy ở bên ông cho tới sáng, đừng bỏ đi như những lần trước.
Xu tái mét mặt nhưng vẫn hứa với ông là nó sẽ ở bên ông. Nó cầm tay ông nội, mắt nó như sắp khóc. Nó vừa lo ông mất, nó lai vừa lo ông sẽ phát hiện ra nó chỉ là một con chồn nếu như nó ở lại đến sáng.

Ông già nhất quyết không chịu bỏ tay Xu ra, cho đến khi trời sáng, Xu trở lại nguyên hình là một con chồn nhỏ. Nó sợ hãi rút chân lại, chạy ra góc nhà trốn. Nó quay mặt vào tường như không dám nhìn người ông mà nó yêu thương, ân nhân của nó từ khi nó còn nhỏ.
“Xu, Xu, con quay lại đây, con đừng bỏ ta mà đi, chồn con yêu của ta”.
Chồn mở to mắt, nó chạy ào vào vòng tay ông, hóa ra ông đã biết nó là chồn từ lâu rồi. Thế mà ông không hề nói, nó sợ, nó vừa vui, vừa buồn, vừa mất mát. Nó mới được ở bên ông mấy ngày, rồi ông sẽ lại rời nó đi xa.
“Chồn con ngốc nghếch, người sắp chết cũng có thể nhìn thấy cái đuôi của con, cảm ơn con đã ở bên ta những ngày cuối cùng của cuộc đời, sau này con hãy sống cho thật tốt, con hiểu không”
Chồn con gật đầu, nó nhảy tránh sang một bên, lúc đó khúc nhạc của người dẫn đường đã thổi được một nửa. Hắn ngừng lại, bước vào nhà. Dẫn ông già đi đến con đường cuối cùng của cuộc đời.

- “Tại sao người để chồn con làm thế, người không sợ ông già sẽ cứ quyến luyến mà không chịu đi theo người, rồi sẽ thành hồn ma lang thang sao”
- “Vì người sắp chết có thể nhìn thấy cái đuôi chồn” – Hắn cười và tiếp tục cuộc hành trình của mình.

(Sưu Tầm)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị    

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Huyền Bí - Kinh Dị
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến