Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
kiện Mộng VNCH hanh bình dịch tran Thuong sung thang phan Saigon phạm chiến Chia
Latest topics
September 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Wed Aug 01, 2012 3:08 pm



Tột đỉnh tình yêu
Nguyễn Thúy Ái


      Không cần đợi đến lúc trở thành thiếu nữ, khi còn là một cô gái nhỏ xíu, Quỳnh soi gương và nhận ra mình xinh đẹp. Làn da trắng ngà, đôi môi đỏ hồng và mái tóc đen óng… Tóc Quỳnh hình như không cần phải chải, nó suôn mượt đến mức như không thể rối vào nhau được. Bà giúp việc chăm sóc Quỳnh từ tấm bé mỗi lần chải tóc và bím lại cho cô trước khi đi học thường bảo:
      - Con bé này có mái tóc đen mượt và nụ cười tươi như hoa nên cuộc đời rất sung sướng, mơ được ước thấy…

      Quỳnh vẫn biết được mình luôn sung sướng đấy thôi. Cô sinh ra trong một gia đình khá giả, ba mẹ là những người tử tế và sống với nhau hạnh phúc. Họ có cô sau khi sinh liền hai người con trai nên Quỳnh là cô “công chúa” mà ba mẹ mơ ước. Khỏi phải nói ba mẹ nâng niu cô như thế nào, các anh thì luôn nuông chìu em gái. Từ khi vào mẫu giáo cô đã được học ngọai ngữ và năm sinh nhật bảy tuổi Quỳnh được gia đình tặng cho một cái đàn Piano mới toanh đặt mua từ bên Nhật.

Nhờ đầy đủ điều kiện, được kèm cặp đúng mức nên Quỳnh học rất giỏi. Thầy cô môn nào cũng muốn “giành” Quỳnh đi thi học sinh giỏi môn của họ phụ trách. Mỗi khi đi họp phụ huynh ba mẹ luôn ngây ngất bởi những lời khen từ giáo viên chủ nhiệm… Sung sướng như vậy nhưng không có nghĩa Quỳnh được đỏng đảnh và lười nhác như một tiểu thư, cô được hưởng một nền giáo dục khá nghiêm khắc. Mẹ dạy nấu ăn, cắm hoa, làm bánh… Còn bà giúp việc nhà dạy cô làm những món ăn thông thường, kể cả những món bình dân như mắm kho quẹt, cá kho tiêu.

Mỗi khi đi làm từ thiện bà mẹ hay dẫn Quỳnh theo để cô tận mắt thấy rằng còn bao nhiêu số phận kém may mắn hơn mình cần được chia sẻ… Vì thế, từ khi học trung học Quỳnh đã nung nấu mơ ước trở thành một bác sĩ, theo cô đó là nghề được trực tiếp xoa dịu vết thương cho mọi người. Biết thi vào ngành y là rất khó nên Quỳnh cũng là một “cây gạo” có cỡ và chạy “sô” từ “lò luyện” này qua lò khác. Tuy vậy, bản năng con gái mạnh mẽ khiến cô không quên chưng diện cho mình dù xuất hiện ở đâu. Quần áo, mũ nón, khăn quàng, giày ví của cô nhiều vô kể và lúc nào cũng được cô chọn lựa để màu sắc, kiểu dáng luôn hài hòa với khung cảnh, thời tiết... Cô còn hay tham gia công tác xã hội, thăm trại trẻ mồ côi, hiến máu nhân đạo. Và ở đâu Quỳnh cũng khá nổi bật. Có một vài hãng quảng cáo tìm đến tận nhà mời Quỳnh làm người mẫu quảng cáo trên truyền hình, có người gợi ý đi thi hoa hậu vì Quỳnh cao gần một mét bảy nhưng ba mẹ cô không đồng ý, họ muốn tương lai của con gái phải đặt nền tảng trên học vấn chứ không phải bằng vẻ đẹp bên ngoài. Dù vậy, phải thi đến lần thứ hai Quỳnh mới vào được trường Y. Quỳnh vẫn chuẩn bị tinh thần để thi lại lần thứ ba nếu rớt.

       Vào đại học, tham gia nhiều sinh họat đoàn thể, phong trào văn nghệ, Quỳnh biết mình còn có số đào hoa. Nhiều lúc phải tắt điện thoại di động để khỏi phải nghe quá nhiều cuộc gọi và tin nhắn làm quen, tỏ tình của các chàng trai. Bạn của mấy người anh khi đến nhà hầu hết đều muốn trở thành em rể của họ. Mẹ thường tủm tỉm cười pha lẫn chút lo âu bảo “Càng đào hoa càng khó lấy chồng đó con!”

       Nhưng năm cuối ở bậc đại học, các bạn cùng lớp lần lượt có người yêu, có cô còn chuẩn bị lên xe hoa khi ra trường. Riêng Quỳnh vẫn lẻ loi dù những “cái đuôi” theo ngày càng nhiều nhưng cô không chọn được ai, chủ yếu là không thể rung động được với người con trai nào. Quỳnh bắt đầu có biệt danh “công chúa tuyết”, “nữ hoàng băng giá” hoặc người đẹp có “trái tim vô cảm”.

Cô không tin vậy, khi muốn trở thành một người thầy thuốc, Quỳnh biết mình có một trái tim mẫn cảm vô cùng, trước những đau đớn, mất mát của người chung quanh. Cô luôn bị ám ảnh bởi những bất hạnh của người khác, tìm cách này hay cách kia để xoa dịu.

Cô yêu âm nhạc, văn chương và cảm xúc trào dâng khi cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật. Vì cô đơn nên cô thường mơ tưởng đến hình ảnh của một chàng trai, là người yêu, người chồng của mình sau này với những hình ảnh rất lãng mạn. Thế nhưng người trong mộng của cô vẫn chưa hiện ra… Một bác sĩ trẻ ra trường trước Quỳnh sáu năm, khá đẹp trai, làm việc trong một bệnh viện lớn, có phòng mạch riêng, có xe hơi riêng… Nhưng sao người đó thực dụng quá. Những tiêu chí hạnh phúc chỉ là con số thu nhập, là số diện tích nhà ở. Nghề bác sĩ chỉ là một cái “cần câu” danh lợi với anh ta. Liền sau đó một nhà doanh nghiệp trung niên, giàu sang, có mọi thứ, trừ một đời sống tinh thần. Với anh ta, văn chương, âm nhạc chỉ là đồ xa xỉ. Anh muốn có một người vợ xinh đẹp, có danh vị và học thức như sắm một món trang sức cao cấp để làm sang cho mình… Một Việt kiều trẻ, thành đạt về nước thăm gia đình, gặp Quỳnh một lần, khi sang Mỹ anh gởi cho Quỳnh hàng trăm email, kể cả những cuộc điện thọai và những món quà rất trang nhã… Anh không cần danh vị, tiền bạc gì ở cô, anh có thể nuôi vợ suốt đời nhưng anh chỉ thấy một giá trị duy nhất ở Quỳnh: sắc đẹp.

Cô nghĩ, chẳng lẽ hàng thế kỷ qua, những con người tiến bộ đã đấu tranh để giải phóng phụ nữ và bản thân những người phụ nữ tự trọng đã đấu tranh để khẳng định giá trị của mình bằng học vấn, tài năng, sự cống hiến… Nay, một cô gái ở thế kỷ 21, lại cam phận trở lại làm kiếp dây leo, sống như một cái bóng để chồng nuôi mình? Đó không bao giờ là sự lựa chọn của Quỳnh.

Cũng có người đến với cô bằng một tình yêu chân thành, với sự rung động sâu xa của trái tim và Quỳnh không thể không thú nhận là mình không xúc động bởi tình yêu trong sáng ấy. Nhưng nghẹt một điều là họ không có danh vị xã hội, tương lai không mấy tươi sáng. Quỳnh phải hổ thẹn với lòng mình khi nhận ra mình cũng câu nệ không “môn đăng hộ đối”. Có người đạt nhiều “điểm” nhưng lại không đẹp trai, Quỳnh không quan tâm lắm đến vẻ đẹp bên ngoài, nhưng người cô yêu hẳn phải là đàn ông có sức hấp dẫn…

Không ai vừa ý cô cả, mấy người anh trêu chọc em gái rằng có lẽ cô không bình thường hoặc người cõi trên. Bà mẹ bắt đầu sốt ruột khi Quỳnh ra trường, đi làm được vài năm mà vẫn chưa có bờ bến nào để ghé vào. Quỳnh khá thành công trong công việc, luôn được sự ưu ái, ngưỡng mộ của người khác phái. Nhiều lúc cô thấy tuyệt vọng, chẳng lẽ mình ở vậy suốt đời... Cô thấy mọi người yêu thật dễ dàng còn với Quỳnh sao khó quá. Cô không hiểu sao mình không thể yêu ai, nhiều lúc cô ước mình yêu vô tư, mù quáng, dại dột như một số bạn gái của mình. “Coi chừng ế à nghen”, câu nói đùa ấy bây giờ bắt đầu làm Quỳnh chột dạ. Khi nghe những lời tán dương ngất trời về mình cô không còn vui nữa. Đẹp, giỏi, tốt nhưng không biết yêu… Để làm gì nhỉ? Thậm chí là bất hạnh.

      Cho đến một lần Quỳnh cùng đoàn công tác của bệnh viện đến khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở một vùng xa. Đang giờ ăn cơm, nghỉ ngơi, người dân địa phương nháo nhác báo cho họ biết có một tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra và một chiếc xe bị rơi xuống hố… Quỳnh vội buông đũa, khoác chiếc áo blouse theo xe cấp cứu.

Đến nơi họ nhìn thấy một cảnh kinh hoàng, chiếc xe hơi bị nạn ở dưới hố và những người đi trong xe đều nằm gọn trong chiếc xe móp méo, không biết sống chết thế nào. Theo lời kể của người đi đường, vì tránh một chiếc xe máy ngược chiều chạy ẩu nên chiếc xe hơi mất trớn và rơi xuống… Nhờ sự giúp đỡ của người dân, nhóm y bác sĩ xuống được dưới hố, phá cửa xe đưa những người bị nạn ra ngoài. Họ gồm tám người, người gãy chân, người bị đa chấn thương, có người không thấy máu me gì nhưng bất tỉnh… Tất cả được đưa về trạm cấp cứu rồi đưa về bệnh viện thành phố vì đó là một đoàn gồm những nhà khoa học đi công tác xuất phát từ thành phố. Quỳnh thay mặt đoàn mình đưa họ về. Trong đó có một người mà cô e rằng bị chấn thương cột sống nặng, anh ta còn tỉnh táo và trông khá trẻ… Quỳnh rùng mình khi nghĩ rằng anh ta sẽ nằm một chỗ suốt đời.

Quả là như vậy, khi về bệnh viện, sau khi khám tất cả, vị bác sĩ trưởng khoa nói với Quỳnh “Ca này nặng lắm…” Rồi ông thở dài “Anh ta mới ba mốt tuổi, chưa có gia đình mà người thân cũng đang sống ở nước ngoài. Tội.” Quỳnh nghe lòng nhói đau khi nghĩ tiếp, nếu nặng như thế, không chỉ nằm liệt một chỗ mà e rằng anh ta cũng không thể lấy vợ và có con.

       Dù không có nhiệm vụ trực tiếp điều trị cho bệnh nhân nhưng ngày nào Quỳnh cũng ghé qua chỗ anh, theo dõi bệnh lẫn quan sát anh ta. Lúc đầu anh thường nằm thiêm thiếp trông như đang ngủ, vầng trán cao sang, chiếc mũi thẳng, đôi môi đầy đặn, nghiêm nghị mím lại vì nén một nỗi đau tinh thần hơn là thể chất. Con người này hẳn từng làm khổ nhiều cô gái đây, cô nghĩ…

Quỳnh hay đến thăm trong giờ dành cho thân nhân, đôi khi xem thử có những ai, mối liên hệ với anh ta ra sao và cô tự cười cái tính tò mò phụ nữ của mình. Tất nhiên có rất nhiều cô gái đến thăm, có vài cô rất đẹp, những đồng nghiệp trẻ già, có người là họ hàng gần xa. Hầu hết, họ xót xa cho một nhà khoa học trẻ, có nhiều năng lực và thừa niềm đam mê lại là người bị nặng nhất. Những bệnh nhân cùng đi với anh lần lượt ra viện còn anh ở lại. Rồi anh cũng nhận ra Quỳnh, người đã leo xuống hố cứu mình.
Anh nói một câu hài hước:
       -  Lúc đó tôi cứ tưởng có một thiên thần hiện ra dẫn tôi lên thiên đường! Đâu ngờ phải ở lại cái địa ngục này…

       Đến lượt Quỳnh được phân công phụ việc cho bác sĩ chính theo dõi và điều trị cho anh. Em gái anh từ nước ngoài về còn mẹ anh yếu quá không thể về thăm con nổi. Cô ấy khóc lóc sụt sùi khi nói chuyện riêng với Quỳnh.
      -  Bác sĩ biết không, anh ấy đâu chịu đi xuất cảnh cùng gia đình, chỉ thích ở lại để theo đuổi ngành địa chất. Chị ơi, khi ấy anh đậu cả hai trường đại học, và anh bỏ ngành y mà ai cũng mơ ước để chọn học địa chất. Khi ra trường, anh học tiếp rồi mới đi nghiên cứu, rất vất vả và bây giờ là thế này đây...
       Biết anh mình phải chữa bệnh lâu dài, nằm hoài trong bệnh viện tù túng, cô em đã xin phép đưa người anh về nhà nhờ bác sĩ đến điều trị và thuê người chăm sóc, cô phải trở lại Úc vì con còn nhỏ… Cô ấy còn lớn tuổi hơn Quỳnh nhưng cứ gọi Quỳnh là “chị” và xưng “em” ngọt xớt.
      -  Chị ơi, thỉnh thoảng chị làm ơn ghé qua nhà, ngó qua anh của em một chút. Phải chi anh em học trường y thì thành đồng nghiệp của chị rồi. Chị đẹp quá. Mẹ em cứ hối thúc anh lấy vợ nhưng anh nói, phải yêu thật là yêu thì mới lấy được, còn không thì ở vậy. Nhiều cô thích anh lắm… Nhưng giờ thì vậy đó, phải chi anh chịu cho em mang anh sang Úc chạy chữa… Hay chị từ từ tìm cách thuyết phục hộ em, anh chịu ra nước ngoài, gia đình em biết ơn chị suốt đời.
   Quỳnh cười buồn:
- Tôi đâu có quyền lực gì để làm nổi việc đó…
       Qua Úc, cô ấy gọi điện ngay cho Quỳnh và gởi email. Quỳnh cũng ngại, cô không còn nhiệm vụ gì, bác sĩ điều trị tại nhà cho anh cũng là một bác sĩ khác, đồng nghiệp của Quỳnh. Nhưng cô em cứ năn nỉ và mỗi lần Quỳnh ghé thăm, ánh mắt nồng ấm, cố kìm nén nỗi đau một cách can đảm của anh khiến cô không thể không đến. Quỳnh nhận ra sự sung sướng, xúc động chen lẫn tuyệt vọng của anh khi thấy cô. Nằm một chỗ nhưng anh không buồn chán lắm nhờ rất thích đọc sách báo, lên mạng internet theo dõi những thông tin của ngành địa chất và ghi ghi chép chép. Cô chọn những quyển sách mình thích mang cho anh mượn.

Trong khi trao đổi về những gì đọc được, Quỳnh nhận ra rằng ngoài niềm say mê khoa học, anh còn cảm nhận về văn chương sâu sắc và tinh tế. Càng tiếp xúc với anh, Quỳnh càng sợ hãi những cảm xúc trào dâng trong tim mình. Tại sao trái tim của cô lại xao xuyến trong một hoàn cảnh nghiệt ngã như thế này. Cô có điên không. Quỳnh muốn trốn chạy khỏi anh nhưng không làm nổi điều đó. Anh ta ngày càng ám ảnh cô, lúc đi trên đường, trong bữa ăn, giấc ngủ, lúc khám bệnh…

Mỗi lần cô đến anh không nói gì nhiều nhưng cô cảm thấy anh ta cũng bối rối y hệt như mình, cũng chất chứa một điều gì, như một đám mây nặng, chỉ chờ một cơn mưa.

Rồi một ngày anh thu hết can đảm nói với Quỳnh:
- Quỳnh ạ, anh không muốn em khó xử và anh phải sống trong dằn vặt. Em hãy cho anh đừng gặp em nữa, hãy cho anh xa em, dù bây giờ em là lẽ sống của anh. Em hoàn hảo quá, em phải được yêu một cách xứng đáng và được hạnh phúc. Anh không được phép níu chân em… Em đi đi.

      Không kìm được, Quỳnh bật khóc nức nở, qua hàng hàng nước mắt cô thấy vầng trán cao, đôi mày mạnh mẽ của anh nhăn lại trong tận cùng của đau đớn. Đau đớn hơn cả khi anh biết tin mình bị chấn thương cột sống và có thể chẳng bao giờ được làm việc và làm chồng, làm cha…
Họ ngồi yên lặng bên nhau rất lâu rồi đến lúc Quỳnh ra về. Nhưng không ngờ chỉ mấy bước chân thôi, như có một sức hút vô hình buộc cô phải quay đầu nhìn lại. Anh nằm đó, trên chiếc giường lò xo kiểu bệnh viện, có thể dựng lên ở phần lưng, hạ xuống phần chân, mắt anh thăm thẳm yêu thương, âu yếm lẫn buồn đau cùng một sự chấp nhận, bao dung đến lạ lùng. Cô quay bước lại, đổ xuống anh như một cái cây bị đốn hạ. Anh ôm chặt lấy Quỳnh, môi tìm môi quấn quýt lấy nhau cùng vị mặn của nước mắt của hai người hòa quyện lại trên môi nhau. Quỳnh cứ nằm trong lòng anh như thế, mặc cho người phụ nữ lớn tuổi chăm sóc anh lâu nay vào nhìn thấy và lui gót…

Buổi chiều êm, ngoài thềm vắng vài chiếc lá khô rơi xào xạc.
      Tình yêu lâu nay phải dồn nén được buông thả nên ngày nào họ cũng phải gặp nhau. Đi làm về, tắm rửa, trang điểm là Quỳnh chạy xe đến nhà anh. Bà mẹ bắt đầu dò hỏi với một chút mừng vui, hy vọng rằng con gái đã tìm được một tình yêu đẹp đẽ, vì cái vẻ xôn xao, say đắm toát ra ở mắt môi, ở từng bộ phận nhạy cảm trên cơ thể xuân thì của cô không giấu được ai. Ánh mắt ấy làm Quỳnh đau thắt. Nếu bà biết sự thật rằng con gái của mình đang yêu như mê cuồng một chàng trai nằm liệt giường, không hy vọng gì đứng lên được nữa.
      Những ngày tháng ấy, Quỳnh sống như trong một cơn mê, không còn nhớ gì, nghĩ gì, cô khá bận rộn với công việc ở bệnh viện, phần thời gian còn lại là dành cho anh. Mỗi lần gặp nhau chỉ là để chìm đắm trong lòng nhau, những nụ hôn không muốn rời, những vuốt ve ngây ngất mà chắc những ai từng sống trên thiên đường cũng không có được sự trải nghiệm thần tiên ấy.

Anh bảo:
      - Nếu đổi tai nạn ấy để được có em anh vẫn thấy mình quá lời… Chỉ tội cho em.
      Quỳnh bịt mồm anh bằng một cái hôn, nhưng sau đó anh vẫn nói:
      - Dù gì em vẫn phải có tương lai, người như em phải được làm vợ làm mẹ, nếu không uổng phí lắm…
  - Tương lai của em là mang đến hạnh phúc cho anh.
  - Nhưng anh không thể mang đến hạnh phúc cho em.
  - Em không tin vậy…
      Và họ đã thử. Anh như run lên khi Quỳnh tự cởi quần áo ngoài, quần áo lót để anh nhìn ngắm thân thể thanh tân của cô. Anh thốt lên “Em đẹp như một nữ thần”. Quỳnh muốn dâng hiến sự trong trắng cho anh. Cô dịu dàng nằm xuống bên cạnh, họ ôm lấy nhau… Khi anh cố chồm lên người Quỳnh nhưng sự đau đớn làm anh nằm vật ra, mồ hôi đầm đìa. Có lẽ đây là nỗi đau đớn tột cùng của một con người mà Quỳnh nhìn thấy được trong đời nhưng chính điều đó khiến Quỳnh trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ. Cô cứ ôm chặt lấy anh và họ ngủ thiếp đi trong vòng tay của nhau. 

       Ngoài bác sĩ chuyên khoa điều trị, Quỳnh đọc sách và lên mạng internet tìm hiểu về căn bệnh của anh. Và cô đau xót nhận ra rằng cách điều trị, cho thuốc đều đúng, theo kịp với y học hiện đại nhưng sao chuyển biến của bệnh chẳng có gì đáng lạc quan, kể cả vật lý trị liệu và những phương tiện y khoa khác rất đắt tiền.     

Quỳnh sống như trong một giấc mơ, cô không hiểu chuyện gì xảy ra là từ đâu. Hơn một năm sau, anh bắt đầu tự ngồi được và họ yêu nhau như tất cả mọi người bình thường. Ai đã từng yêu và được yêu, ân ái cùng người mình yêu và đạt đến cực cảm, thì họ tin rằng mình đã được hưởng nhiều gấp chục lần hơn những cặp tình nhân ấy. Không lần nào họ yêu nhau mà Quỳnh không khóc vì hạnh phúc.

Gia đình Quỳnh biết mối tình của họ khi người cô yêu bắt đầu lẫm chẫm tập đi. Mẹ anh ở nước ngoài dù rất yếu cũng bảo con gái đưa về nước để thăm người con trai “chết đi sống lại” của bà. Người mà bà ôm lâu và khóc nhiều không phải là người con trai yêu quý mà chính là Quỳnh. Trong bữa tiệc vui, lần đầu tiên gia đình Quỳnh với gia đình anh gặp nhau cùng với người bác sĩ điều trị của anh.
Ông vui vẻ từ chối lời cảm ơn của mọi người:
      - Không phải tôi giúp anh ấy bớt bệnh đâu, mà chính cô bác sĩ Quỳnh trẻ đẹp ngồi bên cạnh anh đó. Có lẽ lần đầu tiên trong cuộc đời thầy thuốc của mình, tôi chứng kiến được rằng tình yêu quả là một liều thuốc kỳ diệu nhất…

      Sau đó ít ngày họ làm lễ đính hôn. Những tấm ảnh chụp trong ngày ấy Quỳnh luôn mang theo trong túi xách của mình, cô còn lấy làm hình nền cho cái máy tính xách tay và điện thoại di động, cứ có giờ rảnh là cô mở ra ngắm nhìn không chán…

Nguyễn Thúy Ái
.
Về Đầu Trang Go down
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Fri Mar 23, 2018 9:35 pm



Bóng hình xưa
A. J. McKenna (Anh)


Đó là sinh nhật của Jim Brennan. Ông thức giấc vào buổi sáng tháng Tám ẩm ướt này, giật mình bởi tiếng chim hót vang khắp khu vườn. Đầu óc rối bời, ông cứ nằm mãi, gắn ánh mắt vô hồn vào mảng giấy hoa dán tường đã bạc phếch, đối diện chiếc giường bừa bộn của ông, nơi mặt trời sưng sỉa hắt ánh hồng lên.

“Hôm nay sinh nhật mình,” rốt cuộc ông nhớ ra. “Bảy sáu rồi. Nhanh thật.”
Ông trở dậy, đau mỏi khắp người. Trong bộ pyjama sọc, ông khó nhọc đến bên cửa sổ, đứng ngắm khu vườn. Có ối việc dồn lại nhưng đã quá trễ. Dạo này cỏ um tùm, giá đừng đau lưng. Ngoài vườn hồng ngập nắng cỏ cây như bừng tỉnh, cây ông lão vươn mình như đứa trẻ đang lớn còn luống cúc vạn thọ rực vàng khoe sắc.
“Hôm nay sinh nhật mình.”

Tiếng chó sủa vọng đến từ nhà bên. Một con mèo phóng lên bờ thành gắn mảnh thủy tinh lởm chởm rồi thu mình chỗ bóng cây táo rình lũ chim sẻ đang háo hức đón bình minh. Bên dưới cái lồng chim bị hỏng, một con chuột đang gặm mẩu bánh mì dở. Bóng đổ của bờ giậu khu vườn trở nên nhỏ thó co rút, thẹn thùng tan trong nắng mai và vì sao cuối cùng mất dấu khi vầng dương xuất hiện. Bắt đầu cho một ngày ngột ngạt tháng Tám.

*

Jimmy Brennan, bảy sáu tuổi, ngồi trong bếp. Im ắng. Toàn bộ căn nhà tĩnh lặng, những thứ quanh ông không còn chút sinh khí, mái trĩu nặng và lò đã tắt. Ông Jim đưa bàn tay gân guốc phủi những mảnh vụn bánh mì trên chiếc bàn nhựa và khi ông lê bước, bụi thêu dày vạt nắng. Ông lắng nghe sự trở mình thức tỉnh của một ngày mới, tiếng tích tắc hối hả từ chiếc đồng hồ trên tủ, tiếng lạch cạch gợi nhắc từ hòm thư...
Ông Jim lên nhà trên lấy các hóa đơn rồi xem tờ quảng cáo hàng giảm giá và những kỳ nghỉ ở nước ngoài. Jim chưa từng rời khỏi Ai-len hay trải nghiệm những chuyến hải hành. Ông rướn đôi mắt kèm nhèm mệt mỏi của mình nhìn những bì thư cách một sải tay. Không hề có thiệp mừng sinh nhật để thở phào một cái cho đã - đời giờ ai nhớ?

Quay trở lại nhà bếp quen thuộc, ông rọc thư xem. Còn hơn không có gì - dù là giấy báo nợ thì ít nhất cũng có người liên lạc với ông. Xem chán, Jim nhìn ánh mặt trời hắt lại từ ấm trà cũ rồi bỏ những lá thư chẳng mấy hay ho lại đọc sau, ông đi châm thêm trà. Ông ngồi và nghĩ về sinh nhật xưa. Cuộc chè chén say sưa, hát hò và chúc tụng, người chết lâu rồi ai nhớ. Về một thời, đó là khi nào nhỉ?
“Thời gian như bóng câu...” - ông nói.

Ông đang nói với chính mình, hầu như ngày nào cũng vậy - ai sẽ nghe chứ? Đồng hồ trên phòng khách điểm giờ, Jim mệt mỏi đứng lên. Lại một ngày mới đến với ông. Mở radio, toàn tin xấu. Trẻ em chết, những cảnh đời đau đớn, bệnh tật, chiến tranh. Ông cười ra nước mắt khi quảng cáo chen vào. Thế giới trở nên điên loạn, tàn ác, vô cảm và dường chẳng ai nhận thấy. Ông chuyển đài, giọng ngoại quốc liến thoắng lảm nhảm trên sóng. Nói như lua canh, tra tấn người nghe về các vụ hiếp dâm trẻ em, chắc thế. Các phương tiện truyền thông khoái sỉ nhục người vô tội bằng những bản tin, những câu chuyện “nóng hổi”. Thời xưa khác xa: dường như yên tĩnh hơn và trẻ em có thể chơi trên phố. Thời xưa... đó là khi nào nhỉ? Thời nắm tay tung tăng hát. Ông lẩm nhẩm bản nhạc thiếu nhi:
Ring- a- ring- a- rosy!

Jim mỉm cười, nhận ra vở nhạc kịch Đám cưới Figaro của Mozart và vai nữ giả nam Cherubino đã cứu rỗi một buổi sáng u ám. Sau đó, ông thay đồ, đi dạo. Đội chiếc mũ len có lưỡi trai, ông chống gậy ra cửa trước và kiểm tra cửa nẻo. Mọi thứ đều chốt khóa kĩ. Khi căn nhà rệu rã phát ra âm thanh kẽo kẹt vào ban đêm, Jim nghĩ đến bọn trộm và run rẩy hình dung cảnh chúng lẻn vào khống chế ông.

Thật là một thế giới!
Đu đưa theo giai điệu bài hát, Jim mở cửa và thấy Ellen Kelly đứng đó với nụ cười rạng rỡ.
“Chúc mừng sinh nhật, Jim.”
Chẳng ngạc nhiên nữa, Jim mỉm cười đáp lại rồi thở dài vì thực ra Ellen không ở đó.

Ellen Kelly, mười bốn tuổi, tuần trước. Gần đây ông thấy Ellen luôn. Nàng đã đi sau ông suốt quãng đường đến cái thư viện yên tĩnh hôm qua và khi ông ngồi nghỉ trong Công viên Carolyn, cô đứng dưới bóng cây đợi ông.
“Em đã không quên,” Ellen nói.
“Anh biết, anh biết.”
“Anh sẽ ra ngoài chơi chứ?”
“Anh không thể Ellen. Em đã chết.”

Mặt trời nghiêng phố, nghỉ chân trên nhà Jim còn Ellen nhạt nhòa theo bóng nắng.
“Tội nghiệp Ellen,” Jim thì thầm buồn bã. “Tội nghiệp em yêu đã chết rồi.”

*

Jim tránh siêu thị. Nó quá phức tạp. Nhiều người đang cố trả tiền cho lẹ để về nhà. Trẻ nhỏ khò khè lên cơn hen suyễn. Đám nữ choai choai chảnh chọe thì oang oảng chuyện cần giải quyết gấp. Các cậu trẻ đeo vòng tai, hói đầu lấn tới, mắt mơn trớn từng đường cong. Không thèm liếc lại. Con gái đòi hỏi nhiều hơn thế. Xe đậu bát nháo, bon chen hết sức để kiếm ít tiền. Các bà nội trợ vội vã, khởi động, nhấn ga, khói xe khét lẹt, những người phụ nữ được giải phóng với rất ít sự thoải mái. Sự kiệt sức ở các siêu thị cùng quá nhiều sự lựa chọn. Quá lớn, quá hiện đại. Quá cô đơn với Jim.

Ông đến các cửa hàng nhỏ hơn, tán gẫu với người quen, mua sữa, trứng và một ổ bánh mì nhỏ nóng hổi. Tới một đoạn nữa, bên ngoài cửa hàng từ thiện, bà Barret ở số hai mươi chín gật đầu chào, hỏi:
“Ông khỏe không?” - bà nhìn ông đứng trong quầy vẻ săm soi.
“Tuyệt, ơn Chúa. Còn bà?”
“Không thể tốt hơn.”
Cuộc đời ngập ngụa lời lịch sự giả dối.
Lê chân qua những con phố ngột ngạt nóng bức, Jim trở về chỗ trú thân của ông già 76 tuổi.

*

Ông ngồi trên chiếc ghế bành trong phòng khách nhìn ra đường. Chuông đồng hồ điểm mười tiếng. Ngày còn dài phía trước, dài theo nỗi buồn bất tận của đời ông. Mười giờ sáng đáng sợ. Ông không có gì để làm còn các cô gái bên ngoài mặt mày sáng rỡ thì luôn vội vã, nắng trên đầu, thời gian trên tay. Những đôi chân nhún nhảy, vớ đen, váy ngắn, ngắn đến tội lỗi, gọi mời.

Rất mừng vì mình không còn trẻ nữa.
Jim khinh ghét thời gian này trong ngày. Quá nóng để dạo ra vườn, ngồi không cũng chán, chẳng nghĩ được điều gì hay ho ngoài việc lo bữa trưa. Ăn uống qua loa cho cả buổi chiều lê thê sầu rũ như đường vắng vô định. Jim thử đọc cái gì đó, nhưng có đeo gương vẫn thấy kèm nhèm, không rõ chữ.
“Ellen,” ông khe khẽ gọi và tên nàng vang vọng trong đầu ông như một hồi chuông.
Ellen Kelly, Kelly Ellen, Kellen Nelly.
Jim đùa vui cùng nàng. Mắt ông khép lại. Ông đang chìm vào cơn mơ thì nghe tiếng loảng xoảng từ cái nắp đồng của hộp thư vẳng đến. Jim chậm rãi tới trước, mở nhẹ cửa lớn. Ellen ở đó, như phép màu, mười lăm tuổi, trông thật đáng yêu và rạng ngời dưới vạt nắng chiều. Ellen Kelly, nét mặn nồng tinh khôi thiếu nữ và trong sáng hồn nhiên trẻ thơ.

“Anh không ra ngoài chơi sao, Jim?”
Từ phía sau, một cái bóng khác trong hành lang tối, mẹ của Jim, mỉm cười.
“Ellen yêu quý, nó mắc đi mua đồ hộ cô rồi.”
Jim, chàng trai mười sáu tuổi đang rạo rực niềm vui, mắc kẹt ở giữa hai phụ nữ, đành im lặng dẫu biết tâm hồn Ellen sẽ nhói đau.
“Vậy em sẽ theo anh,” Tính Ellen rất dễ thương, nàng luôn luôn làm vừa lòng mọi người. “Chúng mình sẽ cùng đi chợ. Như thế thì được chứ?”
Mẹ đồng ý. Bà yêu thương Ellen, coi cô bé hàng xóm ấy như con gái mình - một đứa con mà bà tới ngày tóc điểm bạc còn ao ước.
“Tất nhiên là được, cưng.”

Jim và Ellen đi ra đường trong khi mẹ đứng ở cửa, cứ vẫy tay mãi cho đến khi họ khuất phía bên kia cổng. Người mẹ nào chẳng lo chuyện con cái qua đường, nhiễm bệnh. Nào lao, viêm phổi, bại liệt, sởi, quai bị... là những bệnh quái ác. Thời ấy, nhiều người chết trẻ.
Jim và Ellen, đầu chụm vào nhau, lực hút tình yêu kéo họ sát hơn, nói, cười, một đôi không lẫn vào đâu được. Say đắm nồng nàn. Mái tóc đen mượt của Ellen lòa xòa uốn quanh đôi tai nhỏ xíu dễ ghét. Nàng im lặng và bình thản như hằng nga.
“Em sẽ yêu anh mãi mãi?” Jim hỏi.
“Mãi mãi và mãi mãi,” Ellen quả quyết, xiết chặt tay anh.

Trên đường trở về họ đi tắt, băng qua cánh rừng già tháng Tám. Một lối tắt dài. Vẫn nói chuyện nhưng lời nói của họ rời rạc bởi những khoảng lặng, những giây phút nóng ran, lừng khừng đầy âu lo. Giữa một màu xanh thắm họ ngồi xuống chỗ bóng mát và hôn nhau trong đám dương xỉ, một cách ngây thơ. Họ đã hôn nhau như thế nhiều năm rồi.

*

Cuộc đời là một kỳ nghỉ hè cho đến khi Jim mười bảy tuổi. Lúc ấy Jim đi Cork với cha cho việc kinh doanh. Cork thật tráng lệ: thuyền bè nhấp nhô, những thánh đường uy nghi của thành phố cảng nhỏ nhắn xinh đẹp, rồi còn khách sạn Metropole. Sang trọng. Tiệc tối và món tráng miệng. Cà cạt đen, xì gà nâu. Rượu gin và nước khoáng nặn thêm tí chanh. Giờ ở Cork luôn là rượu gin không pha và kèm lát chanh làm nhạt nhòa hồi ức trong Jim. Chanh đắng.

Jim cùng bạn của cha. Một bữa tiệc nồng mùi son phấn. Cha và một người bạn bỏ về sớm. Cha nháy mắt, kiểu như đồng tình: trai tơ, sợ chi. Cũng không chắc lắm.
Jim quay cuồng theo cái dây chuyền-bông tai ấy tới sáng. Lên trên gác của căn nhà gỗ sồi, vào phòng, cô gái bảo chẳng có ai ở nhà còn Jim đã thấm say.
“Để anh đỡ em lên giường,” Jim nói, hiểu rõ luật chơi và biết khi nào có thể ăn gian.

Ellen mười sáu thoảng mùi của tình yêu và hoa hồng. Cô gái này hai mươi và nồng mùi rượu gin, trút xiêm y, vào phòng tắm. Jim đã gục ngã. Ellen, mười sáu thiên thần, cho anh tất cả trừ điều đó. Nàng quyết giữ cho đêm tân hôn. Jim muốn nhiều hơn thế. Ngọc ngà và thú tính.
Tội lỗi, quá tội lỗi, cùng đường tội lỗi, tất cả tại anh, Ellen ơi!
Cô tóc vàng đến Dublin với chàng Jim, người đã thành đàn ông và đang chìm trong mê đắm. Máu trên tuyết. Ellen mười bảy bị bỏ rơi như món đồ quá hạn.

“Anh không cần em nữa?”
“Không.”
Ellen cắn chặt môi. Cặp mắt ứa lệ đỏ hoe. Mặn đắng. Tâm hồn khô héo, Ellen đau đớn nói lời tạm biệt.
“Không. Anh không thích em.” - Jim tàn nhẫn bồi thêm.
Jim đã quyết định một cách lạnh lùng. Nàng Ellen tình phụ vẫn âm thầm chờ Jim, hy vọng chàng bớt tính trẻ con, chín chắn hơn.

*

Năm sau đó, anh dẫn cô đeo ngọc trai đi nghỉ, chẳng hề có lời tạm biệt Ellen, mười tám, cô đơn, xanh xao, vàng úa vì bệnh lao đang gặm nhấm lá phổi còn tình yêu phũ phàng làm tan nát trái tim nàng. Ellen trong trắng ngây thơ giờ tơi tả xác hoa tàn khô. Với nàng Ellen trinh nữ, mũ cô dâu là vòng hoa đầy gai nhọn và mạng che mặt được thêu bằng nước mắt.

Ellen ngã bệnh.
Ngày Jim trở về, những ngón tay run rẩy, co quắp và gương mặt già nua đẫm lệ của mẹ chào đón chàng.
“Tội nghiệp Ellen,” mẹ thều thào. Đau đớn, chua xót, tiếc thương.
Jim bừng tỉnh.
Quá muộn.
Máu đen đã ứa ra nơi khóe môi Ellen.

Những bông hoa băng giá trên mộ. Lá úa tan tác trong gió lạnh, bay đầy trời, lả tả trút xuống mảnh đất Ellen nằm, đắp thêm hay lấp sâu thân xác nàng trinh nữ?! Còn đâu nữa những nụ hôn ấm áp nồng nàn. Còn đâu nữa trái tim rộn rã chất ngất tình yêu. Ellen mười chín, nàng trinh nữ mười chín, mãi mãi mười chín, không bao giờ hai mươi. Mẹ phía sau quan tài, mẹ trong ngôi mộ của mình, về nơi chín suối. Và trời đổ mưa, mưa, mưa hơn năm mươi năm dài, không tạnh từ ngày ấy.

Người yêu vĩnh viễn rời xa!

*

Tiếng chuông đồng hồ. Đinh-boong. Một. Đinh-boong. Hai...
Jim vật vã mơ. Ông gọi tên nàng trong đêm vắng.
“Ellen?”

Bóng đổ thẳm sâu câm lặng như lời giã biệt khắc khoải yêu thương từ miệng người hấp hối. Nghĩa trang đá cẩm thạch hệt những đôi môi, lạnh băng. Sỏi đá rêu phong. Những kỉ niệm trở lại rời rạc nhưng sống động trong ông; ký ức choán lấy, lấp đầy và ám ảnh hiện tại. Rùng mình, run rẩy, Jim lảo đảo tiến về phía cửa sổ ngập nắng chiều. Xoa xoa bàn tay gân guốc. Cầu nguyện. Sau đó, ông làm món cà chua và thịt nguội. Ông mơ mơ màng màng cảnh xế chiều - bóng đêm, một nửa cuộc đời. Trên đài phát thanh một giọng nữ hát bản Four Last Songs của Richard Strauss. Không cần phải hiểu lời.

Nỗi buồn sao ngọt ngào đến thế. Ai nói điều đó nhỉ?
Hoàng hôn. Ông ngồi ngóng tiếng chim muông lúc mặt trời lặn. Không có gì để xem, ngoại trừ chim két và chim sẻ; không có gì để nghe ngoại trừ tiếng cánh bướm.
Rất lâu sau đó, đồng hồ trong phòng khách đổ mười hai tiếng. Đêm đến, nóng bức.

Trườn lên chiếc giường rộng, Jim tắt đèn rồi nhìn những cái bóng chen chúc lộn xộn trên mảng tường dán giấy hoa. Những vì sao hắt ánh lên gương mặt u ám già nua của ông. Trăng tháng Tám chiếu qua cửa sổ. Dịu nhẹ êm đềm như sự tĩnh lặng, âm thầm như hoa táo rơi, ngọt ngào như lúm đồng tiền trên má Ellen khi cười. Ellen đứng đó, bên cạnh giường ông cùng nụ cười mừng vui pha lẫn buồn tủi. Ellen thủy chung đang chờ đợi.
“Bây giờ anh có cần em không?”
Có! Lạy Chúa nhân từ - có!
Ông nói: “Giờ anh có thể đi rồi, Ellen, nếu em muốn. Rốt cuộc anh chết là đúng.”
“Em rất vui. Em đã chờ đợi suốt một thời gian dài đằng đẵng!”

Jim nâng mình, bỏ lại bảy mươi sáu năm trời trên chăn gối, bay vút qua ánh trăng với Ellen trong vòng tay, như sao chổi vào chốn vĩnh hằng trong khi chiếc đồng hồ ở phòng khách đã chết.

Mãi mãi và mãi mãi.

Nguyễn Trung dịch
Nguồn: eastoftheweb.com
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sat Mar 24, 2018 7:30 am




Tình yêu đích thực

Frankie Germany


“Chính anh đã cho em biết tình yêu là gì”.    
- Hermann Hesse

Cecile và tôi là bạn của nhau từ hồi học đại học, đến nay cũng được hơn ba mươi năm rồi. Dù sống xa nhau nhưng ngay từ lần gặp đầu tiên, tình bạn của chúng tôi đã bền chặt. Chúng tôi tìm đến nhau khi có những chuyện cưới xin, sinh đẻ, chia ly hay tang tóc của người thân, những lúc mà ta thật sự cần một người bạn.

Nhân dịp kỷ niệm tình thân hữu và lần sinh nhật thứ năm mươi của chúng tôi, Cecile và tôi cùng tổ chức một chuyến du lịch. Chúng tôi lái xe từ nhà tôi ở bang Texas đến bang California và trở về. Một chuyến đi mới tuyệt vời làm sao!

Ngày đầu tiên của chuyến du lịch kết thúc ở Santa Fe. Sau chuyến đi dài, chúng tôi đều mệt nhừ nên quyết định đến ăn tối ở một quán ăn gần khách sạn. Chọn một chỗ khá yên tĩnh, chỉ có vài người khách, chúng tôi gọi thức ăn và ngồi ôn lại chuyện ngày hôm đó.

Vừa trò chuyện, tôi vừa liếc nhìn mọi người trong phòng. Tôi để ý đến một đôi bạn già ngồi gần chúng tôi. Người đàn ông khá cao có dáng vẻ thể thao với mái tóc bạc và làn da sạm nắng. Người đàn bà ngồi kế bên ông nhỏ nhắn, ăn mặc rất đẹp và trông rất đáng yêu.

Cái vẻ ngưỡng mộ trên khuôn mặt người đàn bà khiến tôi chú ý ngay lập tức. Bà ngồi tựa nhẹ cằm lên tay và nhìn chăm chú vào mặt người đàn ông khi ông nói. Bà khiến tôi nhớ đến những cô cậu thiếu niên đang yêu. Tôi chỉ cho Cecile cặp đó. Khi chúng tôi đang nhìn, ông quay qua hôn nhẹ lên cằm bà. Bà mỉm cười.
“Đó mới đích thực là tình yêu!”. Tôi thở dài nói “Chắc họ lấy nhau đã lâu rồi. Họ trông yêu nhau thắm thiết quá”
“Cũng có thể”. Cecile nhận xét “Họ đã không gặp nhau trong một thời gian dài. Có thể họ mới yêu nhau thôi.”
“Ồ, dù sao đi nữa, họ cũng rất quan tâm đến nhau đấy thôi. Họ đang yêu.”

Cecile và tôi nhìn trộm và lắng nghe cuộc chuyện trò giữa họ. Ông giải thích cho bà về một vụ đầu tư kinh doanh mới mà ông đang định thực hiện và hỏi ý kiến bà. Bà mỉm cười và đồng ý mọi điều ông nói. Khi người hầu bàn mang thực đơn đến cho họ, ông chọn món cho bà, nhắc bà về món thịt bê ưa thích của bà. Trong khi trò chuyện, ông mân mê tay bà còn bà thì lắng nghe như nuốt từng lời ông nói. Cái cảnh cảm động ấy đã làm chúng tôi ngẩn cả người.

Nhưng rồi cảnh trí ấy đã thay đổi. Một vẻ nhìn hoang mang thoáng qua khuôn mặt đẹp điểm vài nếp nhăn ấy. Bà nhìn vào người đàn ông và nói bằng một giọng dịu dàng “Tôi có biết ông à? Đây là đâu? Chúng ta đang ở đâu đây?”
“Em yêu, em có biết anh mà. Anh là Ralph, chồng em đây mà. Chúng ta đang ở Santa Fe. Ngày mai, mình sẽ đến gặp con trai của chúng ta ở bang Missouri. Em không nhớ gì sao?”
“Ồ, em không biết nữa. Dường như em không còn nhớ gì cả”. Bà nói trầm tĩnh.
“Ổn cả thôi, em yêu. Em không sao đâu. Em ăn tối đi rồi chúng ta đi nghỉ.”. Ông vuốt ve cằm bà “ Tối nay em rất đẹp”.

Khi tôi quay nhìn Cecile, mặt chúng tôi đều ướt đẫm “Chúng ta đã đúng.” Cecile nói lặng lẽ “Đó mới đúng là tình yêu đích thực”.

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH dịch


.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sat Mar 24, 2018 6:38 pm

.


Chuyện tình lãng mạn trong phim "Nhật ký Tình yêu"

Câu chuyện tình lãng mạn, mãnh liệt qua từng trang nhật ký tình yêu của hai nhân vật chính Noah và Allie trong The Notebook 2004 (Nhật ký Tình yêu) khiến trái tim bao khán giả cảm động, thổn thức.

Xem Phim:

http://htv3tv.net/phim/nhat-ky-tinh-yeu-6160/xem-phim.html

Diễn viên: James Garner, Gena Rowlands, Ryan Gosling
Thể loại: Phim Tâm Lý
Thời lượng: 123 Phút

“The Notebook” xoay quanh câu chuyện tình yêu của hai người yêu trẻ tuổi tên là Allie Hamilton và Noah Calhoun. Họ gặp nhau trong một đêm hội nhưng vì gia cảnh nghèo hèn của Noah, cha mẹ Allie phản đối mối tình này và đưa Allie đi để ngăn cản hai người đến với nhau. Sau nhiều năm chờ đợi Noah không thành, Allie gặp và đính hôn với một người lính trẻ tên Lon. Tình cờ bắt gặp thông tin của Noah trên báo, Allie tìm đến nhà anh chỉ để “xem anh sống có ổn không”. Nhưng thực ra đó là bằng chứng cho sức sống mãnh liệt của tình yêu cô dành cho Noah. Một bên là chồng chưa cưới, một bên là mối tình đầu của mình, Allie sẽ chọn ai…

Tình yêu giữa họ đã phải trải qua biết bao thử thách, gian nan, hiểu lầm để rồi đến khi bên nhau trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, tình cảm mà Allie và Noah dành cho nhau vẫn như thưở ban đầu. “Phía sau mỗi tình yêu vĩ đại là một câu chuyện tình vĩ đại” – lời tựa của bộ phim đã nói lên ý nghĩa. Với The Notebook, khán giả như được đắm mình vào một chuyện tình lãng mạn mà rất mãnh liệt qua từng trang nhật ký tình yêu của hai nhân vật chính Noah và Allie.

Được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn lãng mạn nổi tiếng nước Mỹ Nicholas Sparks, “The Notebook” đã kể lại một câu chuyện tình buồn nhưng quá đẹp và lãng mạn. Bối cảnh miền Nam nước Mỹ những năm 1940 được tái hiện đẹp như trong tranh, khiến người xem có cảm giác lâng lâng như lạc vào một thế giới chỉ còn lại tình yêu.



"The Notebook’" - bộ phim lý tưởng để hẹn hò


Dựa trên tiểu thuyết ăn khách của Nicholas Sparks, mối tình phi thường của "The Notebook" hẳn sẽ làm hài lòng những ai muốn tin vào sức mạnh của tình yêu đích thực.

Câu chuyện bắt đầu tại một vùng quê yên bình miền Nam nước Mỹ những năm 1940 của thế kỷ trước. Allie là cô tiểu thư xinh đẹp nhà giàu đi nghỉ hè cùng gia đình. Noah là một thanh niên nông thôn nghèo khổ làm việc tại xưởng mộc. Noah yêu Allie từ cái nhìn đầu tiên. Anh xoay sở đủ mọi cách để có thể gây ấn tượng với cô. Từ khó chịu đến thú vị và dần dần cảm động, Allie đã đáp lại mối tình say đắm của chàng trai. Trên tất cả, Allie yêu Noah vì chỉ có anh mới có thể khơi dậy được ngọn lửa cuồng nhiệt bên trong cô, khiến cô thực sự là mình.

Cũng như mọi câu chuyện tình yêu kinh điển khác, đôi tình nhân trẻ đã lần lượt trải qua bao khó khăn ngăn trở: khoảng cách địa vị, sự phản đối của gia đình, sự xuất hiện của người thứ ba và căn bệnh Alzheimer (bệnh mất trí nhớ ở tuổi già). Những câu chuyện kiểu như vậy đã được kể đi kể lại trong hàng thế kỷ, chẳng có gì mới mẻ nhưng vẫn luôn có một sức hấp dẫn không thể phủ nhận. Khán giả vẫn cần những câu chuyện đó để tồn tại, hy vọng và mơ ước.



The Notebook cũng “ăn điểm” nhờ những cảnh quay đẹp như tranh dưới bàn tay Robert Fraisse. Bộ phim mở đầu bằng cảnh mặt trời lặn, không gian chìm trong màu đỏ máu và đàn thiên nga đang bay về tổ. Quay mặt ra hồ là một ngôi nhà sơn trắng, cửa chớp màu xanh với những hàng hiên thật rộng. Những phần tiếp theo của bộ phim cũng sẽ làm khán giả mãn nhãn với cảnh ngôi biệt thự đổ nát lung linh trong ánh nến, những dãy phố yên bình miền Nam nước Mỹ hay cảnh vùng hồ rộng có cây trắc bá soi bóng xuống nước và đàn thiên nga đang nằm nghỉ.

Khán giả nữ hẳn sẽ rất thích thú với những kiểu váy áo thanh lịch, quý phái của thập niên 1940 được cô tiểu thư thành thị Allie diện ở mỗi cảnh phim. Nhưng trên hết, sức hút mạnh mẽ nhất của bộ phim chính là diễn xuất tuyệt vời của Rachel McAdams trong vai Allie. Từ một “ong chúa” cầm đầu nhóm những cô nàng chảnh chọe trong Mean Girls, Rachel hoàn toàn lột xác thành một thiếu nữ trong sáng, ngọt ngào trong The Notebook. Năm 2004 là một cột mốc không thể nào quên trong nghiệp diễn của Rachel McAdams khi cô liên tiếp có hai vai diễn ấn tượng như vậy.




Đối với những nhà phê bình khó tính, diễn xuất thuyết phục của Rachel McAdams đã “cứu” cả bộ phim, làm cho câu chuyện trong phim trở nên chân thành, đáng tin hơn và bớt đi vẻ giả tạo. McAdams với dáng đi nhún nhảy, luôn luôn nhoẻn cười đã thể hiện thành công hình tượng cô thiếu nữ 17 tuổi ngọt ngào và cuồng nhiệt Allie.

Một vai diễn nữa cũng rất đáng chú ý trong The Notebook là vai quý bà Anne Hamilton, mẹ của Allie do Joan Allen thể hiện. Lưng thẳng, tóc vấn gọn ghẽ, chỉ khẽ nhếch môi khi trò chuyện với ánh mắt màu thép lạnh, Joan Allen đã thể hiện thành công một người mẹ cay nghiệt và uy quyền - người hết sức phản đối mối tình của Noah và Allie.

Ryan Gosling nhìn chung cũng diễn khá tròn vai anh chàng si tình Noah và cùng với Rachel McAdams xây dựng một cặp tình nhân đẹp trên màn ảnh. “Phim giả tình thật”, ngoài đời họ cũng phải lòng nhau và đã có một mối tình kéo dài ba năm. Tuy bây giờ họ đã “đường ai nấy đi” nhưng hai người vẫn dành cho nhau những lời tốt đẹp trên báo chí và Gosling vẫn khẳng định McAdams là “một trong những tình yêu lớn nhất” của đời anh.



Từ khi được phát hành vào năm 2004, The Notebook liên tục lọt vào các bảng xếp hạng những bộ phim tình cảm hay nhất mọi thời đại. Bộ phim giành được một giải MTV Movie Awards cho Nụ hôn đẹp nhất, một giải Satellite cho Nữ diễn viên phụ - Gena Rowlands - trong vai Allie về già và 8 giải Teen Choice, chủ yếu dành cho đôi tình nhân Ryan Gosling và Rachel McAdams.

The Notebook giống như một giấc mơ đẹp nhất về một tình yêu lý tưởng: một tình yêu đi qua năm tháng, trải qua bao thăng trầm, có sức mạnh vượt qua tất cả. Một thứ tình yêu khắc cốt ghi tâm mà các cha xứ thường bắt cô dâu chú rể thề trong lễ cưới nhưng chẳng mấy ai thực hiện được - sẽ yêu nhau cho đến khi đầu bạc răng long và chỉ có cái chết mới chia lìa đôi lứa.

Sự trưởng thành cùng với những đổ vỡ mất mát trong niềm tin có thể khiến những khán giả khó tính không thể chịu nổi sự lãng mạn của bộ phim. Nhưng nếu người ta may mắn được xem bộ phim này khi đang còn trẻ và đang say đắm trong mối tình đầu, The Notebook sẽ để lại những ấn tượng không thể nào quên, đặc biệt là khi xem vào dịp Valentine 14/2.

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sun Mar 25, 2018 3:38 pm



Kawabata Yasunari là một đại văn hào Nhật Bản. Ông được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1968. Độc giả Việt Nam biết đến ông nhiều qua các tiểu thuyết lớn như Xứ Tuyết, Ngàn Cánh Hạc, Tình Yêu Và Nỗi Buồn... Kawabata cũng viết những truyện rất ngắn. Truyện ngắn Bên Ngoài Cõi Chết dưới đây rút ra từ một tuyển tập truyện ngắn của ông, có tên là "Những Truyện Ngắn Bằng Bàn Tay."

Trong truyện này, một cô gái trẻ mười bảy tuổi trầm mình xuống biển tự tử vì gia đình cấm không cho gặp người yêu. Vì người con gái chết trẻ nên tình yêu trinh nữ của nàng vẫn còn vĩnh viễn nguyên vẹn. Năm mươi lăm năm sau, nàng trinh nữ ấy gặp lại người tình, nay đã già ngoài bảy mươi tuổi. Có thể họ gặp nhau trong cõi chết, mà cũng có thể là trong cõi của người sống. Kết luận của truyện cho người trinh nữ đã chết và người yêu nhập vào một cây cổ thụ, có lẽ phản ảnh quan niệm tình yêu lý tưởng của Kawabata - một thứ tình yêu tinh khiết không gợn một chút dục vọng xác thịt.

Bên Ngoài Cõi Chết    

Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


Lão già và người thiếu nữ đang đi.

Hai người trông có vẻ kỳ cục về nhiều phương diện. Hai người cách nhau tới sáu mươi tuổi, nhưng họ dường như không hề quan tâm đến điều ấy, dù là đôi chút. Họ sát cánh bước đi bên nhau như một đôi tình nhân. Lão già thì điếc. Lão không nghe thấy những gì người thiếu nữ nói. Nàng mặc một chiếc kimono màu tím có vẽ những mũi tên nhỏ màu trắng, mặc dầu phía bên dưới được che khuất bằng một chiếc "hakama" màu tím đỏ. Ống tay áo của nàng hơi rộng. Lão già thì mặc quần áo trông giống một người đàn bà nhà quê thường mặc khi đi làm cỏ ngoài ruộng lúa. Lão không đeo bao tay hoặc vải quấn chân, nhưng áo và quần lão bằng vải trông giống quần áo của một người đàn bà. Chiếc quần quá rộng ngang thắt lưng gầy gò của lão.

Trên bãi cỏ ở phía trước hai người một quãng có một hàng rào kẽm khá cao. Tuy hàng rào kẽm chắn ngang đường đi của họ, nhưng họ hầu như không thèm để ý tới. Hai người bước qua hàng rào như một làn gió, mà không cần phải chậm bước lại. Người thiếu nữ dường như để ý đến hàng rào kẽm sau khi hai người đã đi sang bên kia hàng rào.

"Trời!" nàng nhìn lão già đăm đăm với đôi mắt dò hỏi. "Anh Shintaro, anh cũng đi xuyên qua hàng rào được, hả anh?"
Lão già không nghe thấy câu hỏi. Nhưng lão nắm lấy hàng rào và bắt đầu lay mạnh. Lão gào lên, "Đồ khốn này! Đồ khốn này!”
Lão đẩy hàng rào mạnh đến nỗi hàng rào bật ra xa khỏi lão, và làm lão ngạc nhiên. Lão lảo đảo và nắm lấy hàng rào, thân thể lão nghiêng về phía trước.
Người thiếu nữ kêu lên và chạy lại ôm lấy vai lão. "Shintaro, anh phải cẩn thận! Sao thế này? Anh hãy buông tay khỏi hàng rào đi." Rồi nàng nói thêm, "Sao bây giờ anh nhẹ thế!”

Cuối cùng lão già đứng lên được. Trong lúc lão thở hổn hển, vai lão nhô lên và hụp xuống.
"Cám ơn," lão nói và lại nắm hàng rào, lần này thật khẽ bằng một bàn tay. Rồi lão tiếp tục nói bằng một giọng nói lớn đặc biệt của người điếc, "Hết ngày này sang ngày khác, anh đã quen với việc nhặt banh gôn ở phía bên kia hàng rào này. Đó là nghề của anh trong suốt mười bảy năm.”
"Chỉ có mười bảy năm thôi à? Thế đâu có lâu dài gì!"
"Họ đánh banh về bất cứ phía nào họ thích! Trái banh âm vang lên khi đụng phải lưới. Cứ mỗi tiếng động anh lại cúi đầu xuống tránh, cho đến lúc anh quen dần. Chính những âm thanh ấy làm tai anh điếc. Cái việc làm khốn kiếp này!"
Hàng rào kẽm, dùng để bảo vệ những người xem đánh gôn, có bánh xe đẩy ở dưới và có thể đẩy đi về bất cứ phía nào của sân tập đánh gôn. Sân tập và sân gôn phân cách nhau bằng một hàng cây. Hàng cây không đứng thẳng lối vì những cây này mọc lên tự nhiên, và được để lại khi cả khu vườn được làm thành một sân chơi gôn.

Lão già và thiếu nữ bắt đầu bước xa khỏi hàng rào.
Thiếu nữ nói, "Anh có thể nghe thấy những âm thanh thân yêu cũ của sóng biển." Muốn cho lão già nghe thật rõ, nàng ghé miệng vào tai lão và nhắc lại, "Anh có thể nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển."
"Cái gì?" Lão già nhắm mắt lại. "Misako ơi, hơi thở của em thực là ngọt ngào. Giống y như ngày xưa vậy."
"Anh không nghe thấy âm thanh thân yêu cũ của sóng biển hay sao?”
"Sóng biển? Có phải em nói sóng biển? Và thân yêu nữa? Làm sao sóng biển có thể thân yêu đối với em, sau khi em đã chết chìm trong sóng biển ấy?”

"Thực là thân yêu, em đã trở về căn nhà cũ của em sau năm mươi lăm năm để thấy anh cũng trở lại cố hương. Ôi, thơ mộng quá!" Mặc dầu lão già không còn nghe thấy những lời nói của nàng mà nàng vẫn nói tiếp. "Em trầm mình xuống biển là đúng lắm. Nhờ thế em đã và sẽ vẫn có thể yêu anh mãi mãi, giống y như em yêu anh lúc em chết. Hơn nữa, tất cả mọi ký ức của em chấm dứt ở tuổi mười bảy. Theo như em biết thì anh vẫn mãi mãi là một thanh niên trẻ. Đối với anh cũng vậy, anh Shintaro của em. Nếu em không tự tử lúc em mười bảy tuổi và nếu anh trở về để thăm em, anh sẽ trông thấy một bà già bẩn thỉu. Thực là hãi hùng! Như thế em làm sao dám gặp anh nữa.”

Lão già bắt đầu nói, bằng giọng lẩm bẩm của một người điếc, "Anh đi lên tận Đông Kinh, nhưng anh vẫn không khá được. Anh trở lại cố hương thành một lão già bất mãn. Anh xin được một việc làm tại sân gôn. Đó là sân gôn trông xuống biển, tại đó một người con gái nhẩy xuống biển tự tử sau khi người ta cấm cô ta không được gặp anh nữa. Anh năn nỉ họ mướn anh, và họ đã mướn vì tội nghiệp anh."

"Chúng ta đang đi trên mảnh đất trước kia thuộc về gia đình anh, anh Shintaro.”
"Đi nhặt banh tại sân tập - đó là những gì anh có thể làm được. Lưng anh đau, nhưng anh vẫn phải tiếp tục. Có một người con gái nhảy xuống biển chỉ vì anh. Bờ đá nơi cô gái gieo mình xuống biển cũng gần đây, vì thế ngay một lão già yếu đuối như anh cũng có thể tới đó và nhảy xuống - vì thế anh vẫn suy nghĩ.”

"Đừng làm thế, anh Shintaro! Anh phải tiếp tục sống. Khi anh chết rồi, sẽ không còn ai trên đời này tưởng nhớ đến em nữa. Lúc đó thì em sẽ chết thực sự đấy." Thiếu nữ choàng ôm lấy lão già khi nàng nói như thế, nhưng lão đâu có nghe thấy gì.
Cũng như nàng, lão vòng tay ôm nàng.
Lão nói, "Phải, hãy chết cùng nhau. Em và anh lần này. Em tới để đưa anh đi với em phải không?"
"Chết cùng nhau ư? Không, xin anh phải sống. Sống vì em." Thiếu nữ ngẩng đầu khỏi vai lão già và nhìn thẳng trước mặt. Giọng nàng trở nên linh hoạt. "Coi kìa! Những cây cổ thụ vẫn còn kia. Tất cả ba cây trông giống y như ngày xưa. Ôi, những cây ấy nhắc nhở em tới những ngày hạnh phúc cũ!"



Lão già cũng quay mắt về phía ba cây cổ thụ, khi thấy thiếu nữ chỉ tay về phía đó.
Lão nói, "Mấy người chơi gôn sợ ba cây đó lắm. Họ muốn cưa ba cây ấy xuống. Họ nói những trái banh của họ luôn luôn bật về phía phải, như thể những cây kia cuốn banh của họ bằng một sức mạnh ma quái."
"Những người chơi gôn rồi cũng chết đi. Chết sớm hơn là những cây kia đã đứng tại đó hàng thế kỷ rồi. Họ nói những điều ấy là vì họ không hiểu cuộc nhân sinh ngắn ngủi biết bao!”
"Tổ tiên của anh đã chăm sóc những cây đó hàng trăm năm, vì thế khi anh bán đất, anh đã bắt họ hứa không được cưa những cây ấy đi.”

"Hãy lại đó đi," thiếu nữ giục và lấy tay kéo lão già loạng choạng về phía mấy cây cổ thụ.
Nàng đi xuyên qua một thân cây. Lão già cũng đi như vậy.
Nàng kinh ngạc nhìn lão già đăm đăm. "Ồ! Anh cũng chết rồi à, phải không anh Shintaro? Anh chết hồi nào?" Lão già không trả lời.
"Anh chết rồi! Anh chết thực rồi phải không anh? Em ngạc nhiên tại sao chúng mình không gặp nhau trong cõi của người chết. Bây giờ thử xem anh chết thực hay còn sống. Nếu anh chết rồi, em sẽ vào trong cây này với anh."

Lão già và người thiếu nữ biến mất vào trong thân cây. Hai người không bước ra nữa.
Màu chiều bắt đầu nhuộm trên những bụi cây đằng sau ba cây cổ thụ. Chân trời, phía có tiếng sóng biển vọng lại, lờ mờ một màu đỏ nhạt.

Nguyễn Vạn Lý dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Thu Mar 29, 2018 12:40 am



Mùa hoa xứ sở


1.

Quê tôi không phải là xứ sở của các loài hoa nhưng cũng chẳng phải xứ sở không có hoa. Mẹ thường dặn:
- Có hoa, tất có ong bướm!

Ngày đó, tôi ngây thơ đến độ không hiểu ong bướm là gì? Định bụng để hôm nào mẹ vui tôi hỏi mẹ. Rồi, cuộc sống hối hả và thời cuộc đổi thay nhanh, tôi quên bẵng. Tới khi học Truyện Kiều năm lớp đệ tứ Trung học đệ nhất cấp, thầy dạy Việt văn ngâm: “Êm đềm trướng rủ màn che/ Tường đông ong bướm đi về mặc ai" tôi mới hiểu trong cái hiểu lơ mơ của tuổi trăng tròn. Mấy chị bạn học lớp trên, thường to nhỏ với nhau lúc giờ ra chơi.
- Cô dạy Vạn vật bảo: “Hoa mõm chó, hoa sao nhái, hoa cúc họa mi, hoa vân anh và hoa mãn đình hồng quyến rủ ong bướm vào nhà...". Cô còn nói: “Ong bướm và hoa sinh ra là để dành cho nhau!"
Mấy chị bấm tay nhau cười khúc khích, còn tôi má ửng hồng vì thắc mắc:
- Chả lẽ, giống đực và giống cái sinh ra là để dành cho nhau?

*

Thi xong Trung học đệ nhất cấp lần một, tôi về quê thăm ngoại ở Cái Bè. Vườn nhà ngoại trồng cây ăn trái và xen lẫn những loài hoa thôn dã sắc màu không kém phần sặc sỡ. Nhiều buổi sáng, tôi trốn ngoại lẻn ra sau vườn rình coi ong bướm chập chờn ve vãn những cánh hoa. Hình như ngoài hương hoa, còn có một cái gì đó hơn hương hoa khiến ong bướm không thể rời hoa?

Về sau, tôi mới biết ngoại biết tôi thường rình coi ong bướm ôm ấp hoa, nhưng ngoại giả lơ trong sự cảm thông của người từng trải qua tuổi chớm lớn. Một hôm bà cháu ngồi lau lá chuối chuẩn bị gói bánh ít, ngoại nói:
- Xứ sở ngoại hồi nào tới giờ gọi hoa là huê, là bông.
- Sao gọi vậy, ngoại?
- Hoa là tên cúng cơm của bà vợ vua Minh Mạng, kỵ húy!
Tôi chợt suy nghĩ: Đúng là thiên tử, là cha thiên hạ!

Ngoại vô tình cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.
- Nếu bông có hương không có mật thì bông đó, dẫu chờ đến nhụy rữa cánh tàn, ong bướm chẳng màng ngó tới.
Rồi ngoại nói tiếp:
- Bướm từ sâu bởi sâu hóa bướm. Ong dùng nọc độc của mình chích vào sâu để loại tình địch ra khỏi cuộc chơi. Vua lo an nguy xã tắc vì xã tắc thuộc dòng tộc của mình. Vua nói: Xã tắc thứ chi, nhưng lê dân thử chạm vào cái thứ chi đó, sẽ biết đá biết vàng do bàn tay của vua.
Ngoại ngó ngoài ngõ, nói bâng khuâng:
- Bông dại gì cho mật theo cái kiểu hào sảng của người Nam Bộ “tình cho không biếu không" đối với ong bướm. Đó là, trả công ong bướm giúp bông thụ phấn, thụ tinh tạo điều kiện giữ gìn sản sinh nòi giống!
Tôi ngớ người. Tiếng gà trưa gáy buồn qua xóm nhỏ!

2.

Đêm trằn trọc, tôi nhớ hoài lời ngoại:
- Thời ngoại “Tường đông ong bướm đi về mặc ai" thì được, thời con thì không! Ngoại dù có muốn cũng chẳng thể buộc thời con quay về thời ngoại. Suy thịnh hay thăng trầm, lẽ quy luật tự nhiên trong trời đất. Một ngày kia, rồi con sẽ già như ngoại bây giờ...

Tôi ngắt một đóa hoa, không ngắt “một cành hoa thạch thảo". Mây mùa hè bay bãng lãng giữa bầu trời xanh thẳm, đâu nhất thiết hoa nào đều có cuống hoa. Nhưng hoa không thể thiếu đế hoa với những hình dáng lồi, lõm, phẳng chẳng giống nhau. Lá đài và cánh hoa hợp thành bao hoa. Suy cho cùng, nó chẳng khác chi người bởi nhị hoa tạo nên giao tử đực và nhụy chính là nơi tạo thành giao tử cái. Mật hoa, món quà dành tặng cho ong bướm.
Ngoại nói:
- Cành bông lưỡng tính khi nó có cái có đực. Nếu chỉ có một trong hai, nó thuộc về đơn tính.
- Vậy, cái nào hơn ngoại?
- Hẳn nhiên là lưỡng tính. Bông lưỡng tính tự nó làm mới nó, tự nó cho đời hương thơm, mật ngọt và màu sắc rực rỡ đất trời. Trái lại, đơn tính một mình một chợ mau cằn cỗi, dễ thoái hóa loài bông.
Nói xong, ngoại cười.

*

Ngoài gió, nước, côn trùng giúp hoa thụ phấn thì, ong bướm có một vai trò cực kỳ quan trọng. Trời đất tạo hoa có hương có mật có ý cả chớ chẳng chơi. Ong bướm hút mật, đồng thời đưa hạt phấn (nhị) là bộ phận sinh ra giao tử đực đến giao tử cái (nhụy). Khi hạt phấn rơi vào đầu nhụy, hoa rung nhè nhẹ và lắc mạnh không vì gió mà vì giao tử đực đã tạo sự bí hiểm thần kỳ vào nơi tận cùng của giao tử cái. Nhị và nhụy thăng hoa, thiên hạ gọi thụ tinh. Và, rất tự nhiên nhị tan chảy vào nhụy. Vì vậy, người đời thường nói: “Hương tàn nhụy rữa" chớ chẳng ai nói: "Rữa nhị tàn hương"!

3.

Hoa vắng bướm ong, không gian tự nó vô hồn với thời gian và trong cõi trần thế nầy, niềm tin sẽ không tồn tại. Hoa hé nhụy chờ ong bướm mang nhị về, có khi chờ đến tàn hoa. Sợ tàn hoa, trời đất cho hoa thầm lặng đi vào nẻo đơn tính. Một mình và chỉ một mình, nhị và nhụy chín cùng một lúc, hạt phấn rơi từ nhị xuống nhụy cùng một hoa trong tư thế bao phấn nằm ngang với núm hoặc nhích cao hơn núm nhụy. Sự đơn điệu sẽ làm suy yếu di truyền nòi giống và là điều kiện, cơ hội để các nhị hoa khác hiếp đáp, xâm lấn lai tạo ra loài hoa mới.

Mấy mươi năm lên bờ xuống ruộng, khi nếm trải đủ mùi vị hương lửa không phải ba sinh mà hằng hà sa số sinh... Tôi thương hoa, không tiếc ngọc giữa những mùa hoa của xứ sở quê nhà!

TRẦN BẢO ĐỊNH
(SHSDB22/09-2016)


Được sửa bởi NTcalman ngày Sun Apr 15, 2018 10:47 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Thu Apr 05, 2018 4:26 pm




Bài Hát Chim Nhồng Xanh
Ngô Thị Kim Cúc


... Bóng trăng ngã lộn bóng tre. Chàng ơi thức dậy mà nghe ta thề... Vườn đào vườn lựu vườn lê. Con ong vô hút nhuỵ con bướm xê ra ngoài. Bạn về nghĩ lại mà coi. Tấm tình ta ở gương soi không bằng...

Nàng hát, nàng hát đi hát lại bài hát ấy trong khi đứa bé hết vật mình sang phải lại sang trái. Tới lúc nàng giơ tay phát vào đít nó, nó mới chịu nằm yên, và yên luôn. Thế mà nàng vẫn hát, hình như quên mất mình đang làm gì.
- Thôi em, nó ngủ rồi.
Giọng anh hơi gắt. Anh chợt nhớ là lần đầu khi nghe nàng hát ru con anh thú vị dường nào. Một cô gái trông rất diện, rất thời thượng mà lại biết hát điệu ru con. Thế nhưng càng về sau, sự thích thú càng vơi đi, thay vào đó là nỗi ngao ngán. Ðứa bé dài ngoẵng, xanh rớt, cứ như một nỗi nhắc nhở đầy trách móc về bổn phận chủ gia đình của anh, của người cha, người chồng. Vì thế, anh không còn thích nghe những bài hát ru con ảo não, đầy vẻ thương thân, trách phận của nàng nữa.

Qua khóe mắt, anh thấy nàng đã nằm thẳng người lại và đang kín đáo liếc anh. Vẻ dò dẫm ấy làm anh bực bội. Thà nàng cứ rằn rực còn hơn.
- Anh ơi, anh nhớ hôm nay ngày gì không? - Vừa ngồi lên, nàng vừa nói bằng giọng tươi tỉnh.
- Ngày gì, ai nhớ nổi - Anh làu bàu trong miệng.
- Ngày một tháng tư... Hai năm rồi... Giọng nàng trải ra, chờ đợi.
Anh đứng lên, chỉ thấy bực dọc hơn. Nghĩa là hai năm ngày họ sống chung, với thằng con trai gần hai mươi tháng. Thế đấy! Sự sa sẩy của anh. Sự thắng thế của nàng. Người ăn mừng ngày ấy là nàng chứ chẳng phải anh đâu. Anh nhìn sững nàng. Không hẳn giận dữ, cũng không hẳn ngạc nhiên. Người từng trải như nàng, lẽ nào để xảy ra chuyện ấy.
- Thì đẻ vậy.

Anh buông thõng mấy tiếng. Mắt nàng kín đáo dò xét anh và từ đó đến nay không hề thay đổi. Họ thành một gia đình. Có khoảng năm tháng để nàng làm vợ. Buổi sáng sau khi ăn bún, mì hoặc xôi gì đó, anh đạp xe đến bệnh viện còn nàng đạp xe đến hiệu uốn tóc. Trưa nào anh cũng phải chờ nàng vì thợ uốn tóc phụ thuộc vào giờ giấc của khách. Họ nấu nướng và ăn uống một cách hối hả rồi lại chia tay nhau cho đến tối. Ðêm thì dễ chịu hơn vì nàng có vẻ thuộc về anh. Mùi xà phòng thơm. Chiếc áo ngủ nhẹ mầu xanh, thân thể nàng mát mẻ... Rồi nàng sinh con. Những lúc chỉ một mình, anh vẫn thường quan sát thằng bé để cố tìm ra điểm tương đồng thiêng liêng nào đó. Có lẽ nó chỉ giống anh ở nét già cỗi. Da nhăn nhúm, trán cau lại đau khổ, nó như hục hặc với những gì đang đợi mình. Nàng bán chiếc nhẫn vàng duy nhất. Còn anh bán chiếc cát sét, vật duy nhất trong căn phòng độc thân của anh. Sữa nàng khô, vì nàng chẳng có gì ăn, thằng bé cứ héo đi với những tiếng khóc ngằn ngặt, gân cổ. Nhiều đêm, từ chiếc giường cá nhân, anh nghe nàng hát ru con, lạ lùng nhận ra đời mình đã đổi thay đến thế. Ra là anh đã có vợ con rồi đấy. Thế mà chẳng biết làm gì hơn ngoài chuyện ngồi bên máy X quang từ ngày này sang ngày khác, để chụp và rọi phổi cho những người nghi có bệnh.

- Em có cái này tặng anh... Nàng nói vẻ dè dặt.
Anh chăm chú theo dõi khi nàng tiến đến chiếc bàn nhỏ, mở lấy cái túi và lại lục túi để đưa ra một gói nhỏ.
- Ðây này, anh thắt thử coi, lịch sự lắm...
Anh cầm chiếc cà vạt xanh nhạt điểm những đường sọc mờ đỏm dáng từ tay nàng, đột nhiên nghĩ đến cái thòng lọng. Phải rồi, anh đã đút đầu vào sợi dây mà nàng nắm giữ.
- Mua làm gì tốn tiền. Biết mặc áo nào với nó, mà thắt vào dịp nào - Giọng anh dấm dẳn.
- À... Em sẽ mua cho anh miếng vải đen, loại hàng mới để may sơ mi. Mầu đen đi với mầu này rất nhã.
- Tùy em - Anh buông thõng, thầm nghĩ điều ấy chẳng bao giờ được thực hiện.

Tuy nhiên, để làm vui nàng, anh thắt chiếc cà vạt mới một cách thận trọng, sửa đi sửa lại, để khỏi phải trò chuyện. Anh biết nàng vẫn đang theo dõi anh. Ðến khi anh đã cất cà vạt vào ngăn tủ, nằm xuống giường, đã thấy nàng ngồi xuống cạnh mình. Tay nàng chạm nhẹ lên vai anh, giọng nàng chùng xuống:
- Anh có vẻ buồn... Sao vậy?
Anh không có cách nào khác là quàng tay ôm lấy nàng, kéo nàng nằm xuống.
- Có gì đâu...
Nàng ngoan ngoãn nép mình trong tay anh. Còn anh như cái máy, vuốt ve nàng mà tâm trí để tận đâu đâu. Như thể đã nhiều chục năm rồi. Không còn háo hức, không còn cảm xúc, không còn ngay cả sự vui vẻ giả tạo. Hình như nàng cảm nhận được điều đó mà vẫn không đòi hỏi gì hơn. Giờ đây, khi nàng chập chờn ngủ, bình yên, anh ngó nàng dưới ánh đèn xoi mói. Ðấy, người đàn bà đã chung chăn gối và đã cho anh một đứa con trai. Nàng là vợ anh, người vợ từ trên trời rơi xuống, chẳng tốn đồng trầu cau nào cả.

Lúc ấy, anh cũng như bây giờ, lang thang, bất định. Buổi sáng ấy, có hai phụ nữ trong số những người đến chụp hình phổi. Anh đã quá quen với việc ngắm nhìn các bộ ngực đàn bà nên cũng chẳng hơi sức đâu mà nhớ mặt họ. Lúc ra về, khi có người đến gần anh cũng chẳng buồn dừng xe. Cô gái đành lên tiếng gọi, sau đó lúng búng nhận rằng mình mới từ phòng X quang ra, và hỏi anh có phải tên Viên, bạn của anh Lân râu không. Thì ra nàng đã gặp anh ở nhà Lân râu một lần nào đó. Anh không thể không mời nàng đến quán nước, việc mà đã từ lâu anh quên làm bạn với gái . Ở quán nước anh tóm tắt được tiểu sử của nàng. Nàng là vợ của Hỷ, bạn Lân, nhưng Hỷ đã bỏ nàng sau khi được vợ chính thức bảo lãnh sang Mỹ. Nàng sống với Lân, sau đó đến lượt Lân tự trốn đi bằng thuyền đánh cá. Hiện nàng đang sống một mình với nghề uốn tóc. Anh quan sát nàng: gương mặt trước đây hẳn cũng xinh đẹp nhưng đã hằn rõ nét héo úa sầu khổ. Thân hình nàng khá hơn, chắc là chưa sinh nở. Anh không an ủi, cũng chẳng tìm cách ve vãn nàng. Chính nàng đã tự tìm đến, ngã xuống giường anh một cách tự nguyện. Anh vẫn tự thấy mình không có gì để hấp dẫn phụ nữ: túi lúc nào cũng rỗng, công việc xoàng xĩnh, người thì teo tóp lại vì thiếu ăn. Chắc là cô ta cần đàn ông, anh lơ đãng nghĩ, và cũng lơ đãng hưởng thụ nàng, chẳng băn khoăn mảy may. Cho đến khi nàng có mang và dọn đến ở hẳn với anh. Sau đó, vì có con, nàng phải nghỉ việc. Ðồng lương thảm hại của anh phải chi tiêu cho cả ba người. Nàng không than vãn, không nêu lên một đòi hỏi nào cả. Nhiều bữa ăn anh thấy nàng lúc thúc với những việc chẳng đâu vào đâu, gọi cũng chẳng vào, cho đến lúc anh gần xong bữa. Khi phát giác ra nàng nhường cơm, nhường phần cá canh ít ỏi cho anh, anh lặng cả người. Những ngày sau, anh lân la đến từng bạn bè hỏi xem có việc gì làm thêm. Nhưng ngay cả chuyện dán bao bì, bện chổi hay chọn cà phê xuất khẩu cũng chẳng kiếm đâu ra. Anh đã đạp xe thồ mấy tối nhưng những bữa ăn tằn tiện và chiếc xe cà tàng khiến đêm về người anh cứ bã ra. Nàng bế con ra đường ngồi bán bắp nướng. Nhưng nàng không đủ mồm miệng để cạnh tranh với người buôn chuyên nghiệp, lại chuyển sang bán ổi dầm, rồi mực nướng. Vẫn thế. Một hôm, nàng hân hoan khoe với anh rằng đã có việc làm mới. Dọn dẹp nhà cửa cho một ông già. Một ông cán bộ gần bẩy mươi tuổi có con trai và con dâu đang công tác ở nước ngoài. Nàng đến để nấu nướng, giặt giũ, lau chùi nhà cửa. Ở đó, nàng có thể mang cả con đi theo để trông. Từ đó, sáng sáng nàng lo đi chợ sớm, về nấu ăn để sẵn cho anh cả trưa và chiều. Rồi nàng bế con đi, đến tối mới trở về. Anh yên tâm thấy nàng và đứa bé có da có thịt lên nhờ cơm nhà người khác. Dần dà, nàng sắm sửa thêm vật dụng gia đình mà đầu tiên là chiếc cát sét còn tốt hơn cả chiếc cũ của anh, như để đền bù. Từ bấy đến nay anh không phải nghĩ ngợi gì về chuyện tiền nong. Kể ra phụ nữ biết cách thu vén gia đình hơn, đôi khi anh phán quyết một cách hài lòng như thế.

- ... Xin mưa triền miên mãi không lắng đọng... cho đôi tình nhân đuối trong giấc mộng...
Giọng hát chanh chách, ma mãnh. Con nhồng nghiêng nghiêng đầu, nhấp nháy mắt, huýt gió lại điệu nhạc thêm lần nữa. Rồi nó nhẩy tâng trên những thanh ngang của chiếc lồng. Anh vừa thấy ngộ, vừa thấy kỳ quái. Một con chim biết hát giọng người.
- Em ơi... hun anh n...ữ...a... đi... n... ữ... a...
Con vật đã đổi sang giọng đàn ông, và lại nghiêng ngó, xem anh tán thưởng thế nào. Anh cười, búng tay tanh tách. Nó co người, nhảy lùi lại vẻ thủ thế. Anh cả cười, quay xe bỏ đi, lầm bầm:
- Con quỷ.
Từ đàng xa anh nghe giọng nó nheo nhéo:
- Ðồ đĩ ngựa...

Tiếng hát ma quái của con nhồng không hiểu sao cứ đeo đẳng anh, ngay cả bữa cơm ngon miệng ở nhà người bạn cũ. Họ đã đâm xe vào nhau và nhận ra nhau sau tám năm không giáp mặt dù sống trong một thành phố. Anh không thể không nhắc đến nó, sau những câu chuyện dầm dề về những ông to ăn chặn và ăn chơi ở xí nghiệp của bạn anh.
- Tôi thấy kinh kinh thế nào ấy, như có cái gì ma quỷ nấp trong cái xác chim của nó.
- Kinh là phải, vì nó được nuôi trong cái nhà ấy mà. Dân xóm này gọi đó là sự bí mật mà ai cũng biết. Một nhà chứa loại mới. Xe hơi và xe máy xịn dập dìu ngày đêm. Còn ai ngồi xe thì anh biết rồi. Thôi thì đủ các loại. Viên chức cải thiện có. Sinh viên học sinh cần ăn diện có. Thất nghiệp lang bang có... Nhưng mà này, đừng có dại dột dòm ngó gì vào đó, tụi nó thấy là rắc rối to.
- Vui miệng nói chơi chớ tôi để ý làm gì. Thời buổi này chán vạn cảnh hơn thế.

Lúc đạp xe trở ra để đi làm chiều, qua ngôi nhà ấy, anh chỉ lướt ngang một cách thờ ơ. Bỗng dưng tai anh bắt gặp tiếng khóc thật quen rồi mắt anh nhìn thấy thằng Bô còm nhom đang vùng vẫy trên tay một bà già. Tiếng khóc của nó inh ỏi, chói chang. Anh run lên dừng xe lại dòm sững vào. Ðúng rồi cái áo thun mầu xanh mực mà anh mặc cho nó ban sáng. Bà già nhìn thấy anh, lẳng lặng bế đứa bé đi. Con nhồng xanh ngoài hiên lại lảnh lót:
- ... Xin mưa triền miên mãi không lắng đọng... Cho đôi tình nhân đuối trong giấc mộng...
Cổ họng đau muốn toác ra, anh nhấn chân trên bàn đạp, lướt qua khỏi ngôi nhà. Ra đến đường, anh dừng lại, nghĩ ngợi. Quay lại chăng? Gọi to lên bắt nàng ra đối mặt, ném vào mặt nàng sự tức giận đang làm anh nghẹn thở? Rồi anh nghĩ: nàng sẽ chẳng ra đâu, mà biết đâu, lại một thằng ma cô nào đó...

Anh đến chỗ làm việc, uể oải, nhàm chán như mọi ngày với số người đến chụp hình phổi nhiều lên bởi đang mùa tăng vọt giá cả. Hết giờ, anh không về nhà mà đạp xe lang thang khắp phố, như một kẻ thất tình. Cơn đói khiến anh cuối cùng phải tấp vào một quán mì. Ðây là đồng tiền mà anh kiếm được một cách trong sạch. Thì ra bấy lâu nay anh vẫn nuốt những món mà nàng đánh đổi bằng thân xác. Ngay trong máu thịt anh đây, suốt cả năm trời qua đã được tạo thành từ thứ tiền có nguồn gốc đó. Ăn xong anh vào ngồi trong một công viên khai sặc mùi nước tiểu, loáng thoáng nhìn thấy những đàn ông và phụ nữ lôi nhau vào những vòm cây tối. Ðến khuya, khi muỗi cắn bừng cả người, anh mới quay về. Nàng đang ngồi chờ trên bậc cửa.
- Sao anh... anh đi đâu... mà có vẻ mệt lắm...?
Không đáp, anh đi luôn ra nhà sau, múc nước dội ào ào lên cái đầu và thân thể đang nóng bừng. Nàng bế đứa bé nhìn anh. Mắt nàng lộ vẻ khiếp sợ. Anh chỉ muốn đập phá cái gì đó. Thì đây rồi.
Chiếc cát sét đang vẳng ra bài hát chết tiệt ấy:
- ... Cho đôi tình nhân đuối trong giấc mộng...
- Tắt ngay đi. Cái thằng Tuấn Tú hát như cứt phải trời mưa... - Lần đầu tiên anh ăn nói cục cằn như thế.

Nàng tắt ngay máy. Ðứa bé ọ ẹ phản đối, nàng chẳng hề quan tâm, mắt vẫn không rời anh.
- Em có cái này... cho anh... - Tay nàng giơ ra miếng vải đen.
- À, vải may sơ mi nàng nói hôm nào.
- Ăn mặc theo kiểu bọn nó đó à? - Giọng anh gây gổ.
- Dạ... mầu này đang thịnh hành... - Nàng mừng rỡ tán thành.
- Rồi xức nước hoa gì đây? Ăn nói kiểu nào? - Anh hỏi sấn sổ.

Mặt nàng ngây ra. Anh cảm thấy hả dạ. Ðược rồi, anh sẽ chẳng vội vàng gì. Chưa nên nói hết ra tất cả. Hãy cứ giữ ở cái mức hiện thời xem sao. Anh bỏ vải lên giường. Nàng nhỏ giọng:
- Mai anh đi may đi. Rồi em sẽ mua thêm vải áo quần anh cũng cũ hết rồi.
Anh hơi nhếch mép, ngồi xuống mé giường, bật diêm châm thuốc. Mùi khói thuốc lại làm anh điên tiết. Anh nhớ đến mùi thuốc lá vướng trong tóc nàng mà bao giờ nàng cũng bảo là của ông già.
- Này cái ông già của em đó đi xe loại gì?
- Xe... hình như xe loại mới nhất... Em cũng không rành nên không rõ... - Nàng lúng búng.
- Có đúng ông ta bẩy mươi rồi không?
- Dạ... chắc cỡ đó... - Nàng có vẻ rất khổ sở.
- Một lũ khốn kiếp - Anh buông thõng.
Nàng co rúm người lại như bị đánh, hai tay bế đứa bé run run. Nếu đứa bé khóc, anh dễ có cớ để gây gổ hơn.
Mặt nàng cúi xuống và hát nho nhỏ những câu dỗ dành vô nghĩa. Thôi được, hôm nay thế đủ rồi. Anh sẽ còn tiếp tục. Ngày mai... ngày mốt... cũng chưa muộn.

Ðêm. Tiếng nàng thở nhẹ. Tiếng đứa bé trằn trọc, khóc quấy. Tiếng thạch sùng vang hơn. Tiếng gián xoè cánh... Anh trơ mắt ra đốt thuốc. Lạ lùng là anh không hề đau khổ như lẽ ra phải thế. Có lẽ chỉ là tí tự ái. Cũng có thể chỉ là sự thức giấc bất ngờ của một thứ giác quan đặc biệt nào đó. Có lẽ tại anh không yêu nàng, không gắn bó tinh thần và thể xác. Nhưng dù sao nàng cũng là vợ anh!... Lẽ ra anh phải lồng lộn, gào thét, sỉ nhục, làm đau nàng, phải đập phá toang hoang lên. Ðàng này... Anh kinh hãi thấy mình lạnh tanh như chuyện của ai khác. Mà... biết đâu... biết đâu đứa bé anh trông thấy lại chẳng phải thằng Bô... Nhưng thằng Bô... liệu nó có là con anh thực không? Thời gian dan díu với anh, liệu nàng có đi lại với ai khác? Tại sao nàng lại xộc vào đời anh một cách thẳng thừng như thế?

Anh bỗng nhớ lại những lời tỉ tê của nàng khoảng thời gian đầu còn thắm thiết. Rằng nàng bơ vơ nên chỉ mong có một mái ấm, chỉ muốn có chồng và có con. Nàng thèm khát thứ hạnh phúc bình thường đến xoàng xĩnh. Có lẽ vì thế, ngay thời gian túng thiếu nhất, nàng cũng xử sự với thái độ cam chịu của người nội trợ gương mẫu nhất. Cung cách đó khiến anh ban đầu thấy thương nhưng càng về sau càng thấy khinh thị. Hình như đối với nàng, nắm được anh là quá đủ. Anh ôn lại mọi chuyện để rồi cuối cùng nhận ra rằng trong cuộc sống chung này, anh chẳng mất gì hết. Từ một anh chàng cơm niêu nước lọ, quần lồng đèn, áo ống thụt, anh đã có người chăm lo bữa ăn, nơi ở. Giờ đây trong nhà còn có chút tiện nghi hơn hẳn ngày nào. Và nàng nữa. Nhưng khi anh cần đến nàng, bao giờ nàng cũng đáp lại một cách nồng nhiệt và âu yếm. Có phải nàng yêu anh không? Nhưng lẽ nào lại có một kiểu tình yêu như thế? Cái gì ở anh đã hấp dẫn nàng? Hình như chưa từng có người phụ nữ tử tế nào, loại mà anh mơ ước, ban cho anh chút hy vọng. Anh thừa biết lý do. Ở thời buổi mà người ta tiêu hàng triệu đồng cho một bữa nhậu, đàn ông có thứ lương tháng chết đói như anh phải biết mình xếp ở thứ bậc nào. Anh đã dè xẻn đến mức cao nhất, để đến những ngày cuối tháng vẫn có cái gì để cho vào mồm. Nhưng anh thừa biết sẽ chẳng có phụ nữ nào sẵn sàng đến chia sẻ với anh sự dè xẻn đó, bởi đàn bà thường lấy chồng để nương nhờ. Ðã lâu rồi anh không còn suy nghĩ về tương lai, không bận tâm đến thời gian, tuổi tác. Cuộc sống với anh là một sự thả nổi. Mỗi ngày trôi qua là sự lặp lại. Anh thấy mình giống như cây cỏ. Trời nắng thì héo khô nhưng vẫn sống, đến mưa lại ngập dập nhưng cũng chẳng chết. Và cứ thế lay lắt dưới chân người khác, không ai nhìn ngó, chẳng ai thương tưởng.

Trời sáng. Nàng trở dậy, rón rén rời giường. Ngang chỗ anh nằm, nàng dừng lại. Anh nhắm mắt, vờ như đang ngủ. Hẳn nàng đã thấy những đầu thuốc đầy lên trong chiếc gạt tàn dưới đấy. Nàng sợ. Anh nghĩ. Và kinh ngạc thấy mình chẳng thích thú gì về điều đó, như anh tưởng tượng tối qua. Khi anh từ nhà sau đi lên, đã thấy tô bún bò bốc khói nàng để ở chỗ mọi ngày. Nàng cũng đang cho thằng bé ăn ở chiếc ghế bên cạnh. Nàng nói mà không nhìn anh:
- Em nấu canh chua trưa anh ăn nghe. Trời nắng nóng quá.
Anh ậm ừ. Nàng tiếp:
- Anh cố ăn uống lên. Anh vẫn gầy lắm.
Mắt nàng nhân cớ đó, lại nhìn anh. Vẫn cái nhìn dò dẫm sợ sệt. Tự dưng anh nổi giận. Anh dằn đũa xuống bàn: - Thôi đi, ăn năn mãi, nói không biết chán.
Nàng nhìn tô bún bỏ dở, nhìn anh phóng xe đạp khỏi nhà, đầy ngỡ ngàng.

Còn anh, suốt buổi sáng ngồi trước máy, anh cứ ngẩn ngơ mãi trong đầu câu hỏi: làm gì với nàng bây giờ? Chỉ cần anh nói thẳng ra là mọi chuyện xong ngay. Ai có thể chấp nhận việc vợ mình lại đi làm vợ bao kẻ khác? Anh sẽ nói thẳng ra và chắc chắn nàng sẽ khóc, sau đó nàng năn nỉ ỉ ôi, và nếu anh vẫn cương quyết thì nàng chỉ còn cách ra đi. Nàng làm gì còn cái quyền tiếp tục ở lại đây, sau cái tội tày đình như thế?... Và rồi, anh sẽ trở lại đời sống cũ, lại cơm niêu nước lọ, mỗi ngày chỉ đối diện với cái bóng của mình... Nồi canh anh bắc hâm trên bếp dầu sôi trào, tắt cả lửa. Anh chan canh vào tô cơm, ngồi nhai như máy. Một lúc anh mới chợt nhớ ra mình đang nhai nuốt những thứ mà nàng mua sắm bằng cái đồng tiền ấy. Anh nghẹn lại, nhìn quanh. Nhưng chẳng có ai hết. Chẳng có nàng. Chỉ có mình anh, mình anh thôi. Anh đưa mắt nhìn quanh nhà. Ðâu cũng có dấu vết của nàng. Chiếc màn cửa, chùm hoa vải trên tường, cây chổi trong góc nhà, bộ quần áo nàng phơi trên dây... anh vẫn hưởng thụ mọi thứ mỗi ngày mà không nhận biết. Sao ngay từ đầu anh không chịu để ý gì cả. Không để ý ngay cả bản thân nàng. Ðến bây giờ, nếu cần phải mô tả gương mặt nàng, anh không phải biết nói những gì. Hình như chưa bao giờ anh ngắm nhìn nàng một cách tường tận. Sao thế nhỉ? Sao lại như thế được? Hẳn đang có cái gì rất không ổn nhưng đó là cái gì thì anh chịu, không trả lời được.

Sau giờ làm việc chiều, anh lại đạp xe đến ngôi nhà ấy. Ðứng bên hàng rào với một sự hồi hộp kỳ lạ, anh chờ một điều gì đó thật kinh khủng. Anh chờ, chờ mãi... Vẫn chẳng có gì hết. Không hề thấy người, không hề nghe tiếng ai, không có cả con nhồng. Ai đã dẹp mất cái lồng chim vì lý do gì nhỉ? Anh đạp xe về, lòng tràn đầy hoang mang. Anh có nhầm nhà không? Hay là anh đã nằm mơ chuyện con nhồng, bài hát và thằng Bô? Hay ngày hôm qua là một ngày không thực?

Ðến nhà, đã thấy nàng đang chải tóc trước gương. Mái tóc ướt dán vải áo sát vào da thịt. Anh nhìn nàng như mới thấy lần đầu. Hình như đã quá lâu rồi anh không thấy nàng trong dáng vẻ này. Nàng luôn tắm gội sạch trước khi về nhà, sau lần anh nhăn nhó về cái mùi thuốc lá. Hừ!
Nàng quay ra, nhoẻn cười khi thấy anh trong gương:
- Anh biết không, hôm nay ông cụ cho em nghỉ sớm.
Anh dựng xe vào góc nhà, chiếc xe mới mà nàng đã sắm.
- Tối nay mình đi xem cái gì đi anh.
- Xem gì? - Giọng anh không ra săn đón, cũng không ra hững hờ.
- Xem ca nhạc vậy. Lâu rồi, mình không đi đâu cả - Nàng mừng rỡ.
- Thôi đi. Lại tới nhìn cái bọn điên vừa hát vừa giật như mấy con rối . Ở nhà còn hơn.
- Anh không thích thì thôi. Mà em cũng chẳng thích đâu - Nàng tán thành ngay.

Bữa tối có xà lách trộn, canh măng, dưa leo ngâm dấm, và cả bia.
Giữa bữa, bỗng dưng anh lên tiếng, như bị ai xúi giục:
- Sao tôi khinh cái thứ chim nhồng thế không biết.
Mắt nàng tròn xoe nhìn anh. Anh quan sát nàng một cách nham hiểm. Tay nàng cầm chai bia hình như hơi run lên. Cũng có thể vì hơi nặng. Nhưng mắt nàng đã cụp xuống vội vã và nàng lẳng lặng rót bia vào ly anh. Anh ăn khá nhiều và cảm thấy no. Hình như ít khi nào anh ăn no đến thế. Lúc nàng bật cát sét, một giọng ru con Nam Bộ nổi lên. Anh díp cả mắt lại, lần đến giường. Thật là một thói quen tai hại: cứ hễ ăn no vào là anh muốn ngủ. Mà hình như lại còn say bia nữa.

Khi bị chạm mạnh vào người, anh thức giấc. Mùi dầu gội đầu phụ nữ đầy mời mọc sộc vào mũi anh. Tay nàng mát rượi vòng qua cổ anh. Anh để mặc nàng vờn mình, rồi đáp lại nàng theo kiểu một gã say đang thả lỏng hết bản năng.

Sáng. Anh dậy sớm. Nàng vẫn đang thở đều đều bên thằng Bô. Anh đứng ngắm nàng. Trong tư thế hở hênh với chiếc áo ngủ phanh ra, trông nàng thật khá với vẻ dè giữ nàng vẫn có ban ngày. Ðầu anh bỗng hiện lên cái hàng rào sơn trắng, con nhồng xanh, và nàng ở đâu đó sau những bức tường kín mít kia, chắc cũng trong tư thế ấy. Anh mím môi rồi buột miệng:
- Ðồ đĩ!

Thở dốc vì câu chửi của chính mình, anh mở cửa ra hiên, đứng lặng. Anh biết chắc đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh dám nói thế. Bởi từ trong thâm tâm, anh tự hiểu mình là người thua cuộc. Anh đã bị mài mòn đến mức có thể chấp nhận mọi thứ trên đời.

Sài Gòn, tháng 4 năm 1991
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Thu Apr 12, 2018 8:25 am



Phong Lan
Truyện ngắn Khái Hưng


(Phong Lan. Truyện ngắn của Khái Hưng đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 22, in ngày chủ nhật 23/08/1936 tại Hà Nội)

Phất tì tay lan can ngồi ngước mắt ngắm khóm phong lan trong cái cũi nhỏ làm bằng gỗ thông treo ở hiên dưới cái gian cẩm leo nụ màu hồng nhạt vừa bắt đầu lấm tấm. Những chùm hoa vàng điểm chấm đen nhung óng ánh phản nắng chiều và se sẽ rung động đưa trước gió, trông như đàn bướm xòe cánh rập rờn bên những lá lan dài và nhọn rũ lỏa tỏa bốn phía.

Phất thở dài lẩm bẩm: “gần ba năm rồi”.
Chàng vẫn muốn quên, quên nhãng hẳn, vì chàng hiểu rằng khi nào người ta tìm nhớ thời dĩ vãng, thì thường những kỷ niệm buồn trở lại trong ký ức. Kỷ niệm vui, làm gì có kỷ niệm vui. Sự vui chỉ có trong hiện tại. Vui qua, còn lại cái buồn man mác, sự nhớ tiếc ở trong lòng, phảng phất như chút hương tan của bông hoa khô héo.

Năm ấy lần đầu Phất lên chơi Chapa. Nhà chàng không giàu, nhiều khi lại túng bấn là khác. Chàng cũng không ưa gì cái thú nghỉ mát mà chàng cho là cái thú xa xỉ của riêng các gia đình phú quý. Hơn nữa, chàng rất khỏe mạnh, chẳng mấy khi ốm đau và cần đi nghỉ mát để dưỡng sức, tuy chàng vẫn chăm chỉ học lấy trong mấy tháng, để thi đậu tú tài phần hai.
Vậy Phất đi Chapa chỉ vì một lẽ riêng: Lẽ riêng ấy đối với cái tuổi ngoài hai mươi, chín mươi phần trăm thuộc phạm vi ái tình.
Chính thế, Chapa mà trước khi chàng không hề nghĩ đến, và cũng không biết ở về phía nào, vụt trở nên một thành phố đầy ánh sáng, đầy hy vọng, một thành phố ái tình. Vì Lan vừa cùng mẹ và em trai lên đó nghỉ mát.

Tình yêu của Phất đối với Lan thực là ly kỳ. Ngày chàng còn theo học tại trường Bảo Hộ, một hôm đến hội quán Tri Trí dự một cuộc âm nhạc tổ chức lấy tiền giúp việc thiện. Trong bọn tài tử có một thiếu nữ khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, ngồi trước cây phong cầm đánh một bài độc tấu. Thế là Phất yêu ngay.
Chàng nhớ mãi khúc nhạc réo rắt và cái dáng ngồi yểu điệu của thiếu nữ: Cái đầu hơi nghiêng, một bên má phản chiếu ánh điện nhuốm sắc hồng hồng, đôi mắt buồn yên lặng ngước nhìn trần, hai bàn tay mềm, giẻo, thoắt chạy, thoắt ngừng trên hàng phím xương trắng muột. Có lúc sung sướng, mê man trong điệu trầm bổng, du dương, thiếu nữ se sẽ rung động toàn thân và bao nhiêu nếp áo của nàng đều uyển diệu rung rinh.

Hình ảnh ấy Phất chôn sâu ngay trong ký ức, trong tâm hồn. Và chàng chân thành thờ nó như thờ một lý tưởng thiêng liêng tuyệt đích.
Chàng hỏi thăm biết nhà thiếu nữ giàu, giàu lắm. Nhưng đó không phải một cớ khiến chàng tuyệt vọng. Chàng nghèo nhưng tri thức chàng giàu, tâm hồn chàng giàu. Và chàng thấy rõ rệt sự tương đương, sự cân đối của chữ “tài” và chữ “sắc” mà trước kia chàng cho rằng hai chữ sảo trong văn chương, không có một chút nghĩa lý gì thiết thực.

Từ đó, đời Phất chia hẳn ra hai phần đầy thú vị và có sự liên lạc mật thiết với nhau: học và yêu.
Yêu, nghĩa là mỗi ngày để ra chút thời gian nhàn rỗi mà tưởng nhớ tới người đánh đàn. Rồi chủ nhật, thứ năm được nghỉ học ra ngoài, khi qua nhà nàng, dừng lại trước cửa vài phút – vài phút thôi – mà ngắm cây liễu rũ lá thướt tha bên hàng giậu sắt. Hôm nào thoáng nghe thấy mấy tiếng phong cầm hay nhác trông thấy tà áo hồng phấp phới bên luống hoa chân chim thì buổi chiều về trường Phất nhảy múa, ca hát huyên thiên.
Còn học? Học như mọi ngày thường, Phất cho không thể xứng đáng với tình yêu kia được. Chàng liền bỏ trường về nhà học lấy cho chóng hơn. Thấy vậy, người ta tưởng Phất lười biếng bỏ học. Nhưng năm sau ai nấy phải kinh ngạc khi đọc nhật trình thấy tên chàng trên bảng những người đậu tú tài phần thứ nhất vào hạng bình thứ. Phất sung sướng mỉm cười nghĩ thầm: “Ảnh hưởng của ái tình. Cứ thế này thì không biết mình còn đi xa đến đâu?”

Nhưng ái tình của chàng ngoài chàng ra không ai biết, không ai có một tia ngờ. Chàng giữ nó âm thầm trong trái tim với cái hình ảnh cô đánh đàn diễm lệ.
Trong hai năm chàng chờ đợi, yêu, nhớ, thương thầm, chàng biết đích rằng không một ai đến hỏi Lan. Phất cho sự ngẫu nhiên ấy có ý nghĩa thiêng liêng, huyền bí và nhân duyên của chàng với Lan là một cuộc thiên duyên tiền định. Và lòng mong ước của Phất, hơn nữa lòng tín ngưỡng của Phất càng thấm thía, vững vàng.
Một hôm người ta bảo cho Phất biết rằng trong số tranh trưng bày ở phòng triễn lãm mỹ thuật có bức ảnh cô Lan, một trang tuyệt sắc Hà Thành. Phất vội thuê xe đến phòng triễn lãm, và suốt ba hôm, trừ hai bữa cơm ra, chàng ở luôn bên bức tranh thiếu nữ. Và chàng nghĩ thầm: “Biết thế mình học vẽ!”

***

Đầu mùa hè năm ấy thấy vắng bóng Lan tha thướt trong vườn. Phất hỏi thăm biết nàng cùng mẹ và em lên Chapa đã hơn nửa tháng. Lan đau phổi, thầy thuốc khuyên nên đi nghỉ mát ở vùng núi cao.
Trong mấy hôm liền, Phất chạy nháo đi khắp nơi thân thuộc vay được ba chục bạc rồi vội vàng hấp tấp lên thẳng Chapa.

Hôm đầu gặp Lan đi với mẹ và em ở trước cửa nhà bưu điện. Phất cảm động, luống cuống, toan cất mũ chào. Lan thản nhiên nhìn chàng, thản nhiên quay đi như đối với mọi người không quen biết.
Thì ra những bài thơ âu yếm phản chiếu hình ảnh nàng, vang động linh hồn nàng mà Phất đã viết và gửi đăng trên các báo, nàng không biết tác giả là ai. Lòng tự phụ, tự tin của Phất cho không thể nào như thế được. Thục ra, những bài thơ ấy Lan chưa từng đọc qua: Vì ngoài âm nhạc, nàng không thích một nghệ thuật nào khác nữa.

Hai tuần lể ở Chapa – cái ví nhẹ của chàng không cho phép chàng ở lâu hơn nữa – Phất mơ màng tưởng tượng ra mấy năm Từ Thức sống trong động Phi Lai, tuy tiên nữ của chàng đối với chàng vẫn thờ ơ, lãnh đạm, không ngờ có một khối tình vĩ đại ở dưới gót chân mềm yếu.
Nhưng chẳng vì thế mà mười lăm hôm nghỉ mát của Phất giảm phần lạc thú. Chàng yêu để yêu. Cần gì có ai yêu lại hay không! Chàng nghĩ thầm: “Ái tình mà có đi có lại thì gọi sao được là ái tình, họa chăng nó là việc buôn bán, hay một ván bạc “ăn miếng trả miếng”

Vả chàng còn ao ước vì hơn nữa. Ngày nào chàng không gặp mặt Lan ít ra một lần, hoặc ở rừng, hoặc ở Núi Đen. Câu truyện gặp gỡ trong giây phút ấy đối với chàng cũng đủ là một thiên trang thiên tiểu thuyết rồi.
Sáng, chiều, chàng đứng rình lúc Lan cùng mẹ và em ra đi. Xa xa chàng theo sau. Nếu bọn kia vào rừng thì chàng đợi đến chỗ đường hẻm để vượt qua, như thế cái mỉm cười kèm theo cái cất mũ ngả đầu chào của chàng mới có ý nghĩa: “Xin lỗi bà và cô, tôi xin phép tiến lên trước".
Cái cất mũ để vượt qua ngày ngày nhắc lại, lâu cũng thành ra có vẻ cố ý. Phất muốn tránh điều đó, nên chàng không vượt nữa, chàng gặp mặt. Cảnh gặp gỡ ấy chàng bố trí như thế này: Biết hai người đàn bà vào rừng, chàng hết sức đi thực mau, hầu như chạy về phía khách sạn lớn rồi theo con đường đồi bên kia mà vòng đến cầu. Gặp Lan, chàng vờ coi như một sự ngẫu nhiên may mắn.

Một hôm, Lan và mẹ đi qua nhà bưu điện lên Núi Đen. Phất vội rẽ đường tắt lên đó trước. Nhưng lúc nghe tiếng giày đè sỏi, chàng ngượng và sợ bà cụ ngờ vực, liền ngồi khuất sang phía bên kia mỏm đá, để nhường cái ghế dài cho hai người đàn bà.

Tiếng cười của Lan làm cho chàng sung sướng, ngây ngất. Lần ấy là lần đầu chàng nghe rõ tiếng Lan và chàng nhận thấy giọng Lan hơi khàn khàn. Chàng buồn rầu nghĩ đến bộ phổi ốm của người yêu. Bỗng Lan hỏi mẹ:
– Ồ, mẹ trông cây phong lan. Đẹp quá!
Ngừng vài giây, nàng lại nói:
– Con yêu phong lan lắm.
Bà mẹ đáp:
-Vì nó trùng tên với con đấy mà.
-Ồ nhỉ! Mẹ ạ, làm thế nào lấy được thì thích quá nhỉ. Con sẽ treo nó ở bên cái piano của con.

Phất muốn nhảy xổ ra leo lên cây lấy cho bằng được khóm phong lan để tặng người yêu. Nhưng chàng nhận thấy cử chỉ ấy không tự nhiên chút nào, nên thôi ngay.
Lúc hai người đàn bà về rồi, Phất ra đứng ngắm khóm phong lan mọc trên cây bồ kết dại, lá và hoa rũ xuống lòa xòa. Chàng buồn bã thở dài.
Hôm sau, vào giữa trưa – giờ ấy ở Núi Đen người vắng hẳn – Phất trở lại nơi hôm trước. Nhìn không thấy ai qua lại, chàng tháo giầy, liều trèo lên cây, lấy được khóm phong lan, gói vào cái khăn rộng đem theo.

Chàng moi óc suy nghĩ mãi chưa tìm được cách biếu Lan khóm hoa rừng, thì vì cạn tiền, chàng phải về Hà Nội. Nhưng chàng thề với chàng rằng món quà kia thế nào cũng sẽ đến tay người yêu.

***

Mùa rét năm ấy, bệnh đau phổi cướp Lan đi.
Phất ở trên đời với khóm phong lan.

Và năm năm, mỗi lần hoa phong lan bắt đầu nở, chàng lại như nghe tiếng đồng vọng trong không:
-“Ồ! Mẹ trông, cây phong lan! Đẹp quá!”

Khái Hưng
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Tue Apr 17, 2018 12:05 am



Ðà Nẵng Quê Em   
Trần Hoài Thư    


1.

Ðà Nẵng quê em, anh ở xa, sâu trong rừng An Lão, bên kia trùng trùng điệp điệp rừng dừa. Anh ở trên ngọn đồi, nhìn về phương Bắc. Anh nằm trên võng trận nhìn về phía đèo. Anh ngồi trong hầm nhìn lên bầu trời đầy sao. Phương Bắc là Ðà Nẵng. Bên kia đèo là Ðà Nẵng. Và vì sao trên cao cũng là từ một đôi mắt của Ðà Nẵng. Ðà Nẵng bỗng dưng trở thành một nơi thân thiết, không hẹn mà về. Như không hẹn mà anh được gặp em.

Cảm tạ em để anh còn biết yêu về một thành phố lạ. Con đường bờ sông Hàn, nhà ga và đàn sáo đen gọi bầy vào hoàng hôn, con đường áo trắng qua trường Phan Châu Trinh và quán cà phê nào buổi sáng mờ sương nghe tiếng lửa reo vui lách tách. Ðà Nẵng anh xa lạ buổi ban đầu, nhưng thân thuộc từng vỉa hè góc phố về sau. Ðể nhớ một ngày mưa, anh bên này đường nhìn áo em ướt nhòa tội nghiệp. Ðể nhớ những lần hò hẹn, em sợ cuống cuồng như kẻ phạm tội, cứ cúi đầu, cứ vân vê chéo áo. Nói làm sao về những cơn nắng hè chói chang trên lối về Ðộng Ngũ Hành, và đôi má em au hồng và giọt mồ hôi rịn trên vầng trán. Nói làm sao để chiều mẹ để cơm, em dấu mẹ dấu ba con không đói. Ðó là Ðà Nẵng lúc chiến tranh còn ở tận xó rừng xó núi, khi những chiếc xe Tiến Lực Phi Long còn chạy băng băng qua Phù Cũ, qua Sa Huỳnh, Ðức Phổ, Ðức Dục, Tam Kỳ, Hội An, không phải ôm tim ôm ngực. Ðó là Ðà Nẵng một buổi sáng trở lại và một buổi chiều ra đi.

Nhưng cuối cùng, chiến tranh lại không ở xó rừng xó núi nữa. Ðèo Phù Cũ trở thành một bãi chiến.
Những cầu bị giựt. Những khúc đường bị đào. Mìn chông được nguỵ trang. Những chuyến xe đò bị chận.

Nhưng em yêu dấu, anh phải về cùng Ðà Nẵng bằng bất cứ giá nào. Lần này anh liều lĩnh qua đèo cùng hai trái lựu đạn. Và khi thấy anh em lại khóc. Chiến tranh đã làm ngày quá dài. Quá dài và quá mong manh, để chúng ta phải bấu víu vào nhau cuồng bạo. Ðôi vai em run rẩy: Em sợ anh ơi. Nhưng anh vẫn giả vờ như một kẻ bất cần. Dù cũng muốn kể về một nơi mà chỉ bọn đàn ông con trai đang tham dự. Dù cũng muốn nhắc về thằng bạn mới hôm nào còn ngồi trong quán cà phê nhìn cô hàng có bờ ngực thập thò sau làn vải lụa, hôm qua đã tử trận ở đồi Mười. Dù càng lúc ma quỷ càng nhiều, âm binh càng lộng, những thằng lính bộ binh càng phờ râu mờ mắt, mỏi mê hai chân, nặng thêm cấp số đạn.

Hơn thế nữa, đặc biệt lần nầy, anh muốn nói cùng em về những tín hiệu đen tối. Anh đưa em về Nam Ổ. Anh đưa em ra nhìn Hải Vân, trong sương mù và biển xanh mênh mông dưới thấp. Tiếng đạn trong sương mù và biển xanh mênh mông dưới thấp. Tiếng đạn trọng pháo vẫn tiếp tục câu đi dưới bầu trời nắng lửa. Chiếc cầu Nam Ổ quằn quại dưới bánh xích chiến xa. Những chiếc xe quân đội tiếp tục chuyển quân về hướng Bắc. Không gian mịt mùng khói và bụi. Mặt trận vẫn miệt mài. Không dám nhớ nhưng vẫn nhớ. Không dám nghĩ nhưng vẫn nghĩ. Nghĩ gì, nhớ gì. Trực thăng không còn ưu tiên, phản lực mỏi mòn chờ đợi, pháo binh bắn yểm trợ cầm chừng... Thế giới đã quay lưng. Mù mưa và mặt trận. Vòng kiểm soát thu hẹp. Làng xóm cũng thu hẹp. Thành phố vẫn ăn chơi. Ðài Hà Nội vẫn gào vẫn thét. Quân đội ta trung với đảng hiếu với dân... Hay là thời điểm cuối cùng của một trận chiến. Hay là người khôn còn sống, người dại ra đi. Hay là bắt đầu cho một cơn đại hồng thuỷ để Thượng Ðế động lòng bảo ông Noah đóng tàu cứu độ. Bởi vậy, anh phải về chờ chiếc tàu của ông Noah. Rồi anh sẽ dẫn em đi, bến bờ sẽ bỏ lại, sống thêm trăm năm như người tiền sử.

Anh đã cố dấu lòng, nhưng em đã hiểu thấu. Em van:
-Hay anh đừng về đơn vị nữa. Ba em cho biết là tình hình đã nguy ngập lắm rồi. Anh hôn lên đôi mắt. Ðôi mắt đã từng chan hòa những giọt lệ của một người con gái có người yêu đi trận. Ðôi mắt nhiều buồn hơn vui. Ðôi mắt sớm biết nỗi nhớ nhung ly cách. Anh không biết trả lời làm sao. Nguy ngập. Không trước thì sau, cuối cùng cũng sẽ đến hồi kết cuộc.

Trịnh Nguyễn phân tranh cuối cùng cũng chấm dứt. Huống hồ gì những phi vụ đã trở thành khan hiếm, những quả đạn trọng pháo đã bắn cầm hơi. Huống gì khi đằng sau Bắc quân, hùng hậu thành luỹ Ðông Âu, Nga Sô, Trung Cộng, Bắc Hàn hà hơi tiếp sức. Huống gì miền Nam mẹ ngồi ru con tiếng khóc lênh đênh, đại bác đêm đêm vọng về thành phố, kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai. Huống gì sông núi đắng cay, cay đắng...

-Anh nói đi.
Em lại tiếp tục thúc giục. Nước mắt đàn bà làm anh xao xuyến. Lại cảm ơn em thêm một lần nữa. Thuỳ ơi, nếu một đời Trương Chi Mỵ Nương cùng mang xuống tuyền đài một mối tình bất diệt, thì với em, anh sẽ kính cẩn mang cả con tim em để vào một chỗ cao nhất, quý nhất. Anh nhớ cả trăm trang nhật ký em đã dành riêng cho anh từ lúc bắt đầu tình yêu dậy thì. Anh nhớ đến những dòng mực tím còn nhòa nhạt nước mắt của em. Anh nhớ đêm em không ngủ, ngày không ai đưa em dìu dẫn hò hẹn. Chúng ta đã bị trả một giá quá đắt. Tuổi trẻ tươi đẹp của chúng ta đã bị tước đoạt bởi những mỹ từ. Thuỳ ơi, anh về để tạ tình em đây.

Anh lại bắt gặp một đoàn xe nữa lên đèo Hải Vân. Mặt trận vẫn chưa yên tĩnh. Trọng pháo vẫn bắn cầm hơi. Ðây là Nam Ổ. Bên là núi, bên là đèo, trên là sương mù, dưới thấp là biển xanh bạt trùng. Khung cảnh vẫn như lần đầu tiên, anh mang em lên đồi. Ngày ấy vào mùa thu, lá vàng rụng ngập đồi, và em hát cho anh nghe bài hát của Ðoàn Chuẩn và Từ Linh: Thu đi cho lá vàng bay. Lá rơi cho đám cưới về... Ngày năm cũ và ngày hôm nay cũng vẫn là những giọt nước mắt.

Ờ thì thôi, đành vậy. Anh đang về. Mái tóc em đen xõa bờ vai. Thân thể em nhỏ bé. Ngón tay búp măng. Môi em ướt. Anh đang về. Cái sống cái chết xưa quá đỗi thường tình sao bây giờ cứ làm phân vân. Ngày xưa anh bất cần, sao bây giờ anh nâng niu hơi thở. Nhưng có tiếng nói khác dấy lên. Tân, mày hèn nhát, khốn nạn. Mày phản bội anh em. Mày để đám con không địa bàn, không bản đồ phương giác. Không có mày ai nhìn cây kim la bàn...

Một đoàn xe đã dừng lại dưới đèo. Những người lính nhảy xuống xe. Vẫn là ba lô súng đạn. Vẫn là cấp số hành quân. Họ vẫn bình thản. Ði. Ði đâu cũng được. Áo vẫn màu xanh giặt vội. Giày vẫn dính bùn khô. Vẫn di chuyển. Vẫn đóng quân. Vẫn truy kích. Vẫn bị pháo dập. Và chết. Và sống. Họ, người lính già sắp có cháu như ông trung sĩ nhất Kho hay người lính hiền khô, ăn chay trường, Nguyễn Văn Be. Sao mà anh bỏ họ cho được. Nhưng một tiếng gọi khác lại thúc bách. Ðừng anh hùng rơm, Tân. Năm năm làm anh hùng nhiều rồi. Anh dũng bội tinh vàng bạc đồng, chiến thương bội tinh nhiều rồi. Hãy tự lo lấy thân chờ tàu Noah qua bờ hồng thủy. Chiến tranh nầy không phải do mày, không thuộc về mày. Cho dù người ta có kết án mày hèn nhát, không làm tròn bổn phận một người trai trong thời loạn.

Và anh đã yếu mềm. Anh đồng ý ở lại Ðà Nẵng.
Ðêm đó, anh không sao chợp mắt được. Tiếng còi báo động từ sân bay cứ thất thanh xé thủng màn đêm. Những chiếc máy bay cứ tiếp tục rời khỏi phi đạo, có lẽ chuyển quân ra phía Bắc. Và ở trên bầu trời đêm, một chiếc C47 cứ tiếp tục bay vòng. Anh trằn trọc trong khi em thì rúc trong ngực anh, thỉnh thoảng ôm chặt anh như bấu víu cái gì sắp vụt mất.

Cám ơn em, người vợ hiền, cho một tên miền Nam yêu Ðà Nẵng. Em mang về anh một nỗi bình an, một nơi mà anh gọi là mái nhà. Nhưng em không hiểu có những điều mà chỉ những người trong cuộc mới hiểu. Như lúc này. Anh cứ nghĩ đến một trung đội thiếu vắng con chim đầu đàn. Anh cứ nghĩ đến những người từng một thời sống chết. Thằng Nay Lat cõng anh chạy dưới lằn đạn. Thằng Luôn, ô đô ăn cơm trắng với miếng đường thẻ và đứa con trai kháu khỉnh của hắn khi vợ hắn bồng con lên đồn thăm chồng. Hay là cái nghiệp phải trả.

Cái nghiệp phải trả. Thùy yêu dấu, anh phải trả cho xong cái nghiệp. Anh viết vội vài giòng, rồi mặc quần áo, mang giày, nhẹ nhàng rời khỏi phòng. Trời đã sắp sáng. Anh tìm một quán cà phê. Ðèn đường làm long lanh màu cà phê đặc quánh. Ðêm còn dư hương qua những sợi tóc biếng chải và chiếc áo màu hồng còn nhăn nếp của cô hàng.

Ðêm còn đọng cái lạnh giao mùa và hơi ấm của tách sành như hơi ấm của người Ðà Nẵng. Ðây là chợ Cồn. Đây là đường rầy xe lửa. Ngã tư có quán sách, tiệm thuốc tây, những tiệm chạp phô. Nơi mà ngày đầu tiên quen em, anh vẫn ngồi trong quán nhìn về ngôi nhà lầu bên kia con đường xe lửa. Nơi em đi học, nón che nghiêng nên chẳng thấy anh buồn. Nơi em trở về bên cha bên mẹ, bên đàn em nên chẳng hề thấy anh đốt hoài điếu thuốc. Rồi chúng ta yêu nhau. Rồi chúng ta hò hẹn. Rồi anh được mấy ngày phép mang giày trận về làm đám cưới. Không cha mẹ, không họ hàng. Chỉ có dăm thằng bạn giang hồ tứ chiếng. Nhưng mà vui. Ba em chịu chơi. Bởi ông cũng là lính. Ông hiểu cái thua thiệt của một người lính. Ông chấp nhận đám cưới nhà binh để anh có thêm bạn bè đỡ tủi. Còn em, cũng vậy. Như bài thơ Màu Tím Hoa Sim, em cũng không hề đòi may áo cưới. Xe jeep, xe Dodge, chở đầy bạn bè đồng đội, bóp còi inh ỏi khắp các đường phố... Em cười xinh bên anh. Rồi đêm tân hôn chúng ta về phòng ngủ, sau khi anh bị lũ bạn chuốc rượu say mèm... Mái nhà của chúng ta là đấy. Ðộng phòng hoa chúc dạ là đấy.

... Xe sắp khởi hành. Và những lúc đó thì em hiện ra. Em chạy ùa đến, ôm anh: Sao anh đi không nói với em một tiếng. Anh ác lắm. Rồi em khóc ngất.
Phải anh ác lắm. Em làm sao hiểu được những điều thầm kín trong con tim anh bây giờ. Ðôi khi anh cũng không cắt nghĩa nổi.

2.

Ngày đầu tiên, em ra ngoài Bắc, anh thấy em gầy guộc, mắt trũng và những đường nhăn trên trán. Chiếc áo bà ba ngày nào bó thân em, nay như rộng thùng thình. Ðôi dép ngày nào thấy bàn chân yếu mềm nay thấy những gout chân dày dạn, khô nẽ. Em nói về quyết định của gia đình về một chuyến đi xa. Anh vui mừng khôn tả, khuyến khích:
Em phải đi, để cứu em, và cứu cả anh.
Nhưng còn anh, không ai săn sóc anh?
Anh là tù nhân rồi, cần gì săn sóc. Có cảnh vệ quản giáo và cả trung đoàn bảo vệ cho anh rồi.
Nhưng em không thể xa anh. Dù sao ở đây em vẫn còn có cơ hội. Ở xứ người thì không bao giờ...

Em nghe anh nói. Thứ nhất phải nghĩ đến em. Anh không muốn em vì anh mà phải khổ. Qua bên đó em còn có thể làm nhiều việc. Anh nghe người ở Mỹ có thể bảo lãnh thân nhân... Em phải can đảm. Biết đâu một ngày anh và em còn gặp lại...

Anh biết anh giả vờ. Ðường về quê xa lắc lê thê trót nghe theo lời u mê. Xa lắc để chẳng còn ai nghĩ đến một ngày. Bởi bọn anh đã bị lừa đảo quá nhiều. Bởi tương lai chỉ là hình phạt trả thù của phường chó sói. Không ai hiểu mình còn tồn tại được bao lâu nữa.

Không ngờ ngày hôm ấy, cái ngày Yên Bái đổ xuống những trận mưa mù mịt trên những ngọn đồi nâu xạm, sườn đồi in mờ nhạt giữa một nền trời trắng xám, và đôi mắt của người đàn bà cũng đọng cả trời mưa, là cái ngày gặp gỡ cuối cùng...

Và em đã nghe lời anh. Em nghe lời anh nên em biệt tăm, biệt tích, để không còn nhang đen hương lửa, để tội tình làm con ma giữa biển mịt mùng. Chị Hà ơi, chị cố nhớ dùm em, nơi nào, chốn nào, đêm ấy có nhiều sao không, trăng có tròn không, ngày êm hay ngày động. Thùy có nói gì không. Sao chị lại lắc đầu, không, anh Minh ơi, tôi cũng là một cái xác thoi thót...

... Khi nghe vừa ra hải phận quốc tế thì bốn chiếc tàu đánh cá Thái Lan xáp lại. Bọn cướp dùng búa, dao, cầm cả lựu đạn nhảy qua ghe ầm ầm. Chúng la gào tru tréo như ma quỷ. Chúng phang búa vào đầu những người thanh niên và làm tội tình những người phụ nữ. Sau đó chúng phá máy. Từ đó chiếc ghe cứ trôi lênh đênh trên biển. Bắt đầu ngày thứ 20, mỗi ngày, chỉ một chiếc nắp coca nước cho toàn ghe và mỗi người chỉ có quyền nhấp một giọt. Chỉ một giọt. Người ta uống cả nước tiểu. Có ngày biển động, ghe bị hất tung lên cao rồi rơi xuống thấp như thể rơi xuống vực... Mỗi ngày mỗi xác chết bị quăng xuống biển.

Chúng tôi không ai biết giờ phút nào đến phiên mình. Tôi không thể đứng dậy, vì quá đói, quá lạnh. Tội nghiệp mấy đứa bé. Chúng quá vô tội, tại sao lại bắt chúng vào con đường chết... Bao nhiêu con tàu đi qua, có tàu pha đèn pha sáng rực, nhưng sau đó lại bỏ đi. Có tàu Ðài Loan dừng lại cho ít thực phẩm, nước ngọt, rồi lại lên đường. Ngày thứ 45 tổng số người chết lên quá con số 30 trong tổng số 60 người. Cũng vào ngày ấy, thằng con trai thứ hai cùa tôi chết. Người chủ tàu nói chị hãy đưa em cho tôi may ra còn làm hô hấp nhân tạo cho em. Dù tôi không tin, bởi vì tôi sợ xác con tôi sẽ bị xẻ thịt. Tôi sợ họ... Nhưng tôi phải trao. Không còn hy vọng gì để cứu thằng bé, ngày thứ ba mươi bảy, tôi đã mất đứa đầu. Bây giờ lại đến thằng thứ hai. Người chủ tàu không làm hô hấp như ông đã nói. Ông dùng xác con tôi để kêu gọi tình thương của những chiếc tàu. Ông đứng trên mui, xác con tôi nằm trên hai cánh tay run rẩy của ông. Một chiếc tàu buôn động lòng trắc ẩn. Họ cho dầu, thực phẩm, và chỉ đường dẫn đến giàn khoan. Nhưng phải mất đến 4 ngày máy mới nổ trở lại. Nước biển đã biến thành muối dày đặc trong xi lanh...
- Còn Thùy thì sao?
- Tôi không thể nhớ chị ấy chết ngày nào nữa. Tôi chỉ nhớ hồi bọn hải tặc nhảy lên ghe chị quỳ chị lạy tên hải tặc. Sau đó chúng tôi không còn đủ sức nghĩ đến người khác. Anh hẳn biết, không thể tưởng tượng là chiếc ghe đã tồn tại sau 55 ngày vô định trên biển cả.

***

Bài thơ Manh Áo Cũ của nhà thơ Thường Quán đã làm anh nhớ thương em quay quắt. Chiếc áo của em bây giờ ở đâu. Chiếc áo màu tím hoa cà trong những ngày con gái dậy thì, hay chiếc áo dài màu hoa thiên lý cho ngày đám cưới, hay chiếc áo bà ba cũ năm nào em ra Bắc thăm anh? Tại sao là manh áo, tại sao là đường xé toạc hung bạo cùng tiếng rú thất thanh. Áo đã ôm lấy người. Manh áo cuối cùng có đủ che da thịt vợ anh lõa lồ, cố giữ lấy sự hy sinh chịu đựng vô bờ của một người vợ người mẹ Việt Nam. Hay thịt đã làm mồi cho bọn quỷ, máu đã hồng hộc nốc, hay mảnh hình hài đã bị lũ cá thi nhau rỉa đến tận cùng? Nhà thơ Thường Quán, tôi xin phép anh được chép ra đây Manh Áo Cũ như một nén hương về người thiếu phụ Ðà Nẵng.

Con thuyền nằm vùi trong cát.
Biển im. Sóng lật ngửa... Ðỏ làm sao.
Người trở về thuyền tìm manh áo cũ
Bỗng thấy giữa lòng ghe cả biển
Máu trào
Những tay quơ tìm mắt trợn tròng rách bật
Gió kinh thiên há hốc rách bung
Em mười mấy lưỡi liềm xẻ mặt
Chị hai mươi đổ gục đời sông
Ai như mẹ mà sao nhàu nát sóng
Ai như cha mà đổ ruột phơi lòng
Ai đưa tim em lên miệng cười sằng sặc
Ai móc gan anh máu núi khơi dòng
Ai chạy lùi về kêu thôn xóm
Khi thôn xóm chìm vào biển mất tăm
Ai vẫn đứng ở đầu mút sóng
Xõa tóc cười mà hát ca dao
Ðôi mắt khóc nghìn đêm thăm thẳm
Hay là nàng sao tóc rưới máu đào?
Người nhảy bổ vào giữa thuyền
Chỉ còn manh áo nát
Bèn lấy gói đầu mình
Chạy về hướng biển Ðông...

(Trích từ Ngoài Giấc Ngủ,
thơ Thường Quán, nxb Văn Nghệ, 1990)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Thu Apr 19, 2018 10:40 pm



Tình Yêu Không Mầu
Trần Mộng Tú 


Laura là cô bạn da trắng cùng trường, vừa là người chung phòng vừa là người yêu của tôi. Cô học năm thứ ba Y Khoa, tôi học cao học về Nhân Chủng Học. Một hôm cô đem về buồng trọ của chúng tôi một con ếch nhỏ, cô nói:
– Em cứu nó, nó đang ở trong cái chậu chờ tụi em phanh thây.

Tôi cúi nhìn con ếch đen thui, mình nhỏ bằng cái đầu đũa và dài bằng một lóng tay út đang bơi bơi trong cái bịch ni lông trên tay cô, hỏi:
– Con này là con ếch đây à?
Trong đầu tôi, con ếch ở quê nhà là cái con xanh mướt mầu lá cây ở ao hồ, nhẩy từ lá sen này, sang lá sen kia, hay cái con vàng hườm bắt ở ruộng, có cái bụng tròn như quả chanh, hai cái đùi nổi từng múi thịt, người ta bán hàng xâu ở chợ, đang đợi làm món ếch chiên bơ. Bé choắt thế này thì là nhái chứ ếch nỗi gì?
Laura đang lấy cái lọ thủy tinh thả con vật bé tí, đen bóng ấy vào, cô cong môi lên một chút, nói:
– Anh chẳng biết gì cả, đây là ếch Phi Châu “African Frog”.

Từ đó trong căn phòng trọ sinh viên chật hẹp ngổn ngang những sách vở, quần áo, máy vi tính, phấn son, thuốc ngừa thai, bao cao su, mì gói, súp hộp, có thêm một kẻ trú ngụ mới: chàng “Hoàng tử Phi Châu”, cái tên tôi đặt cho con ếch của nàng.

Laura bây giờ ngoài thời gian ở trường, bận học, bận thi, nàng chú tâm vào con ếch đen thui đó đến quên cả đi chơi với bạn gái, và quên bẵng cả tôi. Nàng quên mất thói quen mỗi khi ra khỏi nhà trước tôi, hôn tôi một cái, vì nàng còn bận cho ếch ăn và nói chuyện đôi câu, dặn dò như nói với người bằng xương bằng thịt:
– Ở nhà đừng buồn nhé, tôi học xong sẽ về ngay, nhớ ăn cho mau lớn nhé.

Khi về đến nhà cũng vậy, việc đầu tiên là nàng hỏi chàng hoàng tử, nàng cầm cái lọ thủy tinh dơ cao lên ngang mặt, hỏi bằng giọng nũng nịu, như trước đây nàng thường hỏi tôi:
– Có nhớ Laura không? Có đói không?
Rồi nàng âu yếm hôn hoàng tử qua cái vách thủy tinh của chai, với đôi mắt nàng lim dim, ngực phập phồng làm cho tôi ngứa mắt. Tôi dọa:
– Coi chừng em hôn như thế, con ếch biến thành hoàng tử da đen nhẩy ra thì em lại phải chạy thật nhanh đấy.
Nàng bỏ cái chai xuống, quắc mắt nhìn tôi:
– Tại sao em phải chạy, nếu là ông hoàng bước ra từ cái chai này, em sẽ ôm lấy ngay, dù bắt cứ mầu da gì.

Câu nói của nàng làm tôi nhớ lại, một đêm chúng tôi yêu nhau giữa đống sách vở vứt lung tung trên sàn, ánh trăng từ ngoài cửa sổ hắt vào, chiếu lên da thịt chúng tôi, một màu hoàng kim óng ánh rất ngoạn mục, Laura nói:
– Anh thấy không, mẹ thiên nhiên chiều đãi loài người, khi người ta yêu nhau, dưới ánh trăng, đâu còn phân biệt mầu da, chủng tộc nữa. Mầu da nào cũng thành vàng ròng hết.
Tôi cười, nói:
– Anh chỉ đồng ý với em về da trắng và da vàng thôi. Vì ánh trăng chiếu lên da đen làm sao em nhìn thành màu hoàng kim được.
Laura đẩy tôi ra khỏi nàng, ngồi lên cãi.
– Như vậy là anh không hiểu gì về tình yêu, tình dục cả. Anh tưởng khi hai người lên đến tột đỉnh cảm giác người ta còn nhìn ra mầu da à?
Tôi lúng túng:
– Nhưng mầu đen… nó đậm sắc quá… làm sao nhìn ra mầu vàng của ánh trăng được.
Laura giận tôi đến cả tuần lễ, cho tôi là người kì thị (và chỉ kì thị da đen thôi, vì tôi yêu mầu da trắng của nàng)

Bây giờ, tôi vừa có ác cảm vừa lo sợ chàng hoàng tử ếch da đen đó, lấy hết tình cảm của nàng đang cho tôi, tôi chỉ mong con ếch đó càng chết sớm càng tốt. Tôi xúi nàng.
– Em nên mua một con cá đá thả vào cho nó có bạn, con cá đá lại có mầu sắc, làm đẹp thêm, chứ con ếch này đen thui trông khó chịu quá.
– Anh đừng có kì thị mầu da. Đen cũng đẹp theo đen.

Tuy nói thế nhưng hôm sau nàng đi học về, mang theo một con cá đá thả vào chai. Con cá đá có cái đuôi như một giải cờ ngũ sắc, uốn lượn rất ngoạn mục. Tôi cười trong bụng, đắc ý vì nàng đã mắc bẫy của tôi. Con cá đá này sẽ ăn hoàng tử ếch của nàng.

Quả nhiên chỉ ba hôm sau, trong khi tôi còn đang đánh răng, sửa soạn đến trường, tôi nghe tiếng Laura kêu thất thanh:
– Bình, Bình, con cá đá ăn hết mấy ngón chân con ếch rồi.

Tôi giả bộ hốt hoảng chạy ra, thấy nàng đang dùng cái môi múc canh, múc con cá đá ra, múc được nó xong, nàng chạy ngay vào buồng tắm, húc cả vào tôi, nàng vứt con cá vào bồn cầu, giật nước. Nàng làm tất cả động tác đó không đầy hai phút, tôi không chặn lại kịp, đành nhìn vị cứu tinh của tôi biến mất trong vòng nước xoáy.

Laura vứt con cá xong, ra ngồi trước cái chai khóc. Hoàng tử của nàng hai bàn chân trước mất hết ngón. Con ếch bé quá, chân nó có bao nhiêu ngón khó mà nhìn thấy, vì ngón chân nó bé cả hơn cái đầu tăm, nhưng khi nó bị rỉa cụt hết ngón thì nhìn thấy ngay hai bàn chân bằng phẳng. Hai bàn chân sau, ngón to hơn một chút nên con cá đá chưa rỉa.

Tôi dỗ dành nàng, hứa sẽ mua cho nàng một con ếch khác, to hơn, đẹp hơn, có đầy đủ ngón chân, và có mầu xanh như lá cây. Nàng nhìn tôi với cặp mắt oán hận, như biết rõ tôi chính là kẻ chủ mưu cho vụ giết từ từ con ếch của nàng. Nàng không nói một câu nào.

Tối hôm đó nàng đóng chặt cửa buồng ngủ, tôi phải nằm ngủ trên sô pha. Sáng hôm sau, nàng vẫn không thèm nói một câu, thu xếp quần áo, sách vở, mang theo cái chai có hoàng tử của nàng chất lên xe. Tôi lẽo đẽo theo sau, xin lỗi, năn nỉ mãi nàng vẫn không thèm hé miệng nói một câu, tôi tự ái, nói với theo tiếng máy xe nổ:
– Đi luôn nghe.

Laura đi luôn thật, nàng không đến trường luôn ba ngày, tôi hỏi cô bạn Betty đồng lớp, thân nhất của nàng, cô ấy cho biết, Laura tạm thời đang ở nhà Betty, Laura nhờ Betty mang bài về hộ vì cô đang phải đi kiếm chỗ ở. Betty nhìn tôi cười cười, nói tiếp:
– Quên nàng đi, nàng có bồ mới rồi.
Tôi nhún vai, bỏ đi, không hỏi tiếp nữa. Quên thì quên, cóc cần, vừa mới bỏ đi ba ngày đã có bồ mới rồi, để xem bồ mới có ngon không? Tôi nói một mình.

Laura đi học lại tuần sau, trông cô tươi tỉnh đẹp hẳn lên, chẳng có vẻ gì là thất tình cả, trong khi tôi, chắc ai nhìn cũng thấy: “thất tình ra mặt”. Cô gặp tôi ở hành lang đi xuống phòng ăn, vẫy tay chào, như chào tất cả những người bạn đi qua mặt cô. Tôi muốn giữ cô lại, nhưng cô đi ngay, chẳng có vẻ gì đã từng là bồ tôi cả.

Buổi chiều tôi chạy ngay sang học khu của cô, mong một cơ hội chót nói lời xin lỗi. Tôi bỗng ngây người ra, khi nhìn thấy cô đang khoác tay rất thân mật với một thanh niên cao lớn, đi ra bãi đậu xe, họ vừa đi vừa hôn nhau. Đó là anh chàng có nước da đen bóng. Tôi chạy theo gần sát hai người, khi anh ta mở cửa xe cho cô, tôi thấy bàn tay anh không có ngón. Chiếc xe rồ đi, để lại một đám khói phà vào mặt tôi.

Ôi, muộn mất rồi! Cô đã có cơ hội hôn con ếch Phi Châu đó, không qua lớp thủy tinh của cái chai!

Trần Mộng Tú
11/2010
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Wed Apr 25, 2018 8:56 am



May Mà Có Em
Tường Lam


Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du.

Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Trước khi đi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh và đã gặp Tân! Thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn. “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống!!!” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.

Theo gia đình Trang dự lễ mãn khóa 22 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:
- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.
Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.
- Đứng lên các tân sĩ quan.

Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai biết bao tháng ngày gian lao! Những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su... Ngoài bãi tập và biết bao gian nguy ngoài chiến trường chờ đón họ! Sau mười ngày phép cuối khóa của những người trai trong thời ly loạn! Phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.

Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.

Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người – sau khi xin địa chỉ Quỳnh - ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.

Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:
- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.
Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng và tình cờ tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer c’est le temps de mourir” mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”.

Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang... tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.

Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.

Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.
Những gói mè xửng, chiếc nón bài thơ! Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.

Đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá của một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt! Phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng.

Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình; tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:
- Xin lỗi cô tìm ai?
Quỳnh lí nhí:
- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Uùy Tân Đại Đội Trưởng.
- Cô là gì của Trung Úy Tân?
- Dạ! Vợ.
Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:
- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.

Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao! Khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.
Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:
- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.

Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu; không nhận ra được một tin tức nào của Tân.
Những ngày cuối tháng tư năm 1975! Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoà; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal Canada.

Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
Phi cơ ở độ cao! Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:
- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.

Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.
Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.
Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.

Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả; nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.
Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:
- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.
Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa.

Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.
Tân không còn tin ở mắt mình:
- Có phải Quỳnh của anh đây không?
Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
- Cô này là ai vậy con?
Tân trả lời mẹ trong xúc động:
- Thưa má! Quỳnh bạn con.
Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.

Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra gồm: một tô mắm chưng, hai trái cà nâu nướng chan nước mắm tỏi ớt, một dĩa bông so đũa luộc. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.

Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
- Thưa Bác, con ở Canada về! Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười! Niềm vui trong ánh mắt:
- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó! Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản... Em lây cu... lây cưạ... gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn! Nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.

Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào! Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.
Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số! Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.
Quỳnh cũng kể cho Tân nghe! Từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời! Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con.
Riêng Quỳnh vẫn ở vậy. Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.

Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm! Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát! Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:
“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”

Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm! Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.
Trời thật khuya! Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng! Chiếc giường ngủ trải chiếu bông! Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân! Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.

Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân! Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của Quỳnh. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, Tân và Quỳnh ngắm cảnh Ao Bà Ôm, Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.
Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại! ăên nói hào sảng như ngày nào, khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.

Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quý Quỳnh qua cách đối xưa phải đạo của nàng! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân! Đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.

Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời! Trước khi chấp nhận, Tân hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng.
Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ! Có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.
Quỳnh cùng Tân dạo phố! Không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.

Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.

Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.
Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
Trong quầy khám hành lý! Nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.
Quỳnh mở dây kéo! Mọi người đều ồ!!! lên một tiếng, ngạc nhiên bên trong lót lớp nỉ đỏ! Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.
- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.
- Sau một lúc bàn thảo. Hải quan đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng:
- Mẹ nó! Mấy thằng thương binh ngụy bây giờ có giá dữ ha!!!
Quỳnh mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường.

(Trích trong tập truyện Tám Hổ của Nhà Văn Tường Lam)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sun May 20, 2018 7:10 pm

.

Cuộc Tình Không Chân Dung

Đang mãi mê ghi nhanh những ý kết thúc bài viết, có tiếng điện thoại reo... Hơi bực mình tôi thẫn thờ cầm ống nghe:
- Alô! Alô!
- Alô! Anh đó hả? Em đây.
- Ngọc đó hả? Anh đây nè. Có gì không em?
- Anh đang làm gì?
- Viết bài.
Giọng của Ngọc nhõng nhẽo ướt nhè vang lên trong máy:
- Anh cứ lo viết. Lúc nào cũng viết...viết...viết... chẳng còn thì giờ đâu để nghĩ đến em phải không?
- Có chứ! Anh đang nhớ em, em đâu có biết?!
- Nhớ em sao không gọi điện thoại cho em. Em giận anh đó! Anh có biết không? Em bắt đền anh. Hì...hì...hì...Em bắt đền anh! Anh Thế! Anh đâu có biết nỗi nhớ của em? Em không chơi với anh nữa đâu!

Tiếng Ngọc khóc nhè trong máy. Tôi cảm thấy vui mỗi lần Ngọc làm nũng hết sức đáng yêu.
- Anh xin lỗi em. Đừng khóc nữa. Anh sẽ đền bù! Lỡ quên một lần, đừng giận anh nhé.
Tiếng Ngọc lại lè nhè trong máy:
- Mãy lần rồi anh có nhớ không? Lúc nào anh cũng nói với em như thế, nhưng chẳng thấy gì. Anh chỉ lo viết bài mà không viết thư cho em đọc. Anh lấy cớ là anh đã bẻ gẫy cây viết của anh rồi! Vậy mà anh vẫn viết. Em ghen mấy tờ giấy mà anh đang viết đó, anh có biết không?.
Tôi cười hòa dịu:
- Em biết là cây viết anh đã bẻ gẫy, giờ nó trở lại như cũ rồi. Để làm gì, em biết không? Để viết thư cho em đọc.
- Ừa! Phải như vậy em mới yêu anh! Anh phải nhớ lời và viết thư cho em đi.
- Anh viết. Em đang làm gì vậy?
- Đang nằm trên giường trùm chăn. Đọc thư của anh. Gọi điện thoại cho anh xem anh đang làm gì cho biết.
Tôi cười ngất trong máy:
- Em kiểm soát anh....kỹ ghê đi.
- Ơ! chuyện của người ta, khéo nói! Thả lỏng anh là có chuyện ngay.
- Ai bảo em không dọn về ở với anh. Nhiều lần anh nhắc, em nói chờ bán được nhà. Mãy năm rồi, em biết không, từ ngày chúng mình quen nhau?
Tiếng Ngọc thở dài:
- Anh cứ nhắc mãi chuyện ấy. Anh biết không, em đang lo, bực bội muốn ngộp thở rồi đây.
Được thể, tôi dọa:
- Em thả lỏng anh có ngày thiên hạ bắt cóc anh, chừng đó em đừng nhảy đổng, la hoảng nhé.
- Ghê thế à! Mà ai dám bắt cóc anh, anh thử cho em biết có được không?
Tôi đùa:
- Khi họ bắt cóc anh đem nhốt kín một chỗ thì làm sao em biết được.
Ngọc xẵng giọng:
- Em cấm anh không nói với em chuyện lẩn thẩn đó nữa nhé! Em đang buồn lắm đây. Anh thích ghẹo em không phải lúc.
- Buồn gì vậy, nói anh nghe. Mới gặp nhau hôm qua, trông em vui lắm mà.
- Thôi không nói nữa. Em hỏi nè! Tối nay rảnh, anh đến em nhé. Em làm cơm chờ anh. Dẫn bé Thư đến cho em, em nhớ con bé quá.
- Mãy giờ anh đến được?
- Bảy giờ. Em có chuyện muốn nói với anh. Thôi nhé. Em đi chợ đây. Bye! anh.

Tôi gác điện thoại. Nhìn đồng hồ, mới bốn giờ. Sắp sửa đến trường đón bé Thư, rồi tắm rửa, nghỉ ngơi. Chiều nay không phải lo cơm nước. Hôm nào mệt và lười tôi và bé Thư ra tiệm mua fast food về hai cha con ăn tạm cho qua bữa.
Tôi ngồi thẫn thờ trước tập bản thảo đang viết dở dang, đầu óc loay hoay suy nghĩ về "có chuyện muốn nói với anh" của Ngọc trong điện thoại. Mới hôm qua, hai đứa ở bên nhau vui vẻ trò chuyện thoải mái đâu có gì cần phải nói. Gần ba năm tôi và Ngọc quen nhau, yêu nhau, chờ ngày sống chung với nhau. Tính Ngọc thẳng thắn, có sao nói vậy, nói ngay, không chờ đợi, dù nửa đêm, Ngọc cũng gọi điện thoại để nói. Thế mà, bây giờ lại... vẫn có chuyện muốn nói.

Tôi quen Ngọc trong tiệc cưới tại một nhà hàng năm ấy. Không hiểu vô tình hay cố ý người bạn mời tôi và Ngọc đứng chụp hình chung với cô dâu chú rễ trong lúc hai người chưa hề quen biết. Đến lúc vào bàn tiệc, tôi lại được xếp ngồi cạnh nàng. Đêm đó Ngọc thật vui trong những câu chuyện trao đổi rất chân tình. Tôi đã bị cuốn hút nhan sắc kiều diễm, và phong cách lịch sự của Ngọc từ giây phút đầu tiên. Đến lúc dạ vũ tôi mời Ngọc ra sàn nhảy và được nàng chiều ý ngay. Rồi trong một bản valse êm dịu, Ngọc đã tựa đầu vào vai tôi rất tự nhiên. Nàng bảo nàng cảm mến tôi nên mới nhận lời khiêu vũ. Tôi lịch sự cám ơn Ngọc đã dành cho tôi vinh dự ấy. Khi ra về, Ngọc bịn rịn bên tôi ra đến bãi đău xe, và nàng hy vọng sẽ có được những lần gặp nhau sau này.
Tình yêu đến với hai người sau thời gian dài quen nhau. Ngọc tâm sự ngày mất nước chồng Ngọc vào tù như bao nhiêu người khác của chế độ cũ. Trước cảnh đất nước đang bị thống trị dưới bạo lực của việt cộng, Ngọc lo sợ nên theo bạn bè tìm đường vượt biên, gởi hai đứa con thơ bên ngoại chăm sóc. Nàng bảo tìm đường ra đi để cứu bản thân, gia đình, cha mẹ, chồng con đang kiệt quệ do chiến dịch đánh phá tư sản của giặc. Ngọc khôn ngoan, thông minh, chịu khó đã hội nhập cuộc sống xứ người thành công nhiều mặt. Ngoài giờ phút bận rộn cuộc sống, Ngọc để lòng nhớ thương hai đứa con đang ở quê nhà. Vì thế, khi có bé Thư bên cạnh, Ngọc rất vui và chăm sóc yêu thương như con ruột. Ngọc xin tôi hãy để nàng chăm sóc bé Thư. Tôi chấp nhận vì bé Thư cũng cần tình mẫu tử, mà bảy năm qua con tôi không có mẹ, vì người mẹ thân yêu không còn nữa trong một cuộc sinh khó. Nhưng con bé không làm vừa ý người lớn, nó chỉ thích vui đùa với Ngọc chốc lát rồi đòi về lại với tôi. Tôi phải thường xuyên đưa con tôi đến cho Ngọc khi nàng cần đến sự có mặt của nó để nàng được yêu thương chăm sóc và cũng là lý do tôi và Ngọc đến với nhau thường hơn.

Có lần tôi đề cập đến việc bảo lãnh chồng con, Ngọc xì xò:
- Anh ấy ở tù mười năm đủ tiêu chuẩn ra đi tái định cư. Em muốn để anh ấy tự lo, cần gì em sẽ giúp. Việc đi ở do anh ấy quyết định, em không khuyến khích, hối thúc hoặc ngăn cản.
- Nhưng hai đứa con em phải lo cho chúng qua với em.
- Trước sau gì con em cũng qua. Có anh ấy em bớt phần lo, chúng cũng đã lớn rồi. Em vẫn chu cấp tiền bạc hằng tháng đãy chứ anh. Vã lại, anh thấy không, có bé Thư bên cạnh là an ủi em nhiều lắm. Em cưng và thương nó ghê lắm. Anh mà hất hủi bé Thư là em...nghỉ chơi với anh ngay.
Nghe Ngọc giải bày, tôi nghĩ rằng chồng con của Ngọc vẫn còn đó, sớm muộn gì họ cũng sang định cư ở Hoa Kỳ, nếu chồng của Ngọc quyết định đi. Vậy thì cuộc tình của hai người hôm nay sẽ kết thúc ra sao? Đôi lần tôi đưa ý kiến, Ngọc bảo:
- Em yêu anh, chẳng ai cấm được em yêu anh. Anh đừng nghĩ vẩn vơ. Còn chồng con, em đã có cách giải quyết êm đẹp, nếu họ qua đây.
Tôi gặn hỏi cách giải quyết, nàng lắc đầu và chẳng bao giờ thố lộ, khiến tôi cũng chẳng còn quan tâm. Với tôi, tôi cũng sợ mất nàng khi chúng tôi đã đến với nhau.

Thú đam mê của Ngọc là đọc sách. Phải nói nàng là mọt sách. Đọc nhiều và lãnh hội nhiều trong sách vở. Nàng bảo có những quyển sách đọc đến hai ba giờ sáng cũng chưa muốn đi ngủ. Có lúc đọc đến trắng đêm. Ai tặng em món gì không bằng tặng sách. Vì vậy, thỉnh thoảng tôi phải ra tiệm bê nhiều sách về cho Ngọc.
Thấy tôi có thú vui ưa viết lách lăng nhăng những lúc rảnh cho vui cuộc đời trống vắng chứ chẳng làm nên trò trống gì, Ngọc bảo tôi:
- Em yêu anh có lý do, anh biết không? Một trong những lý do đó là em thích đọc văn của anh, trong sáng, giản dị, dễ tiếp nhận. Em lại còn mê mẩn cuốn hút bởi những lá thư của anh viết cho em, tình tứ, dễ thương và lãng mạn làm sao! Em cất giữ và trân qúi những lá thư ấy như một báu vật mà em có được. Thế đấy anh.
Rồi Ngọc ướm hỏi:
- Em thích viết lách lai rai như anh cho vui mà không biết phải làm sao? Phải học viết như thế nào hả anh? Anh biết không, trong người em cũng có dòng máu văn nghệ đấy anh ạ. Em cũng có thể viết được chứ?
- Ai cấm em làm chuyện đó. Đam mê tạo cho em một nghị lực để thực hiện ước muốn. Em khởi sự đi.
Tôi ra tiệm sách gom một số tuyển tập truyện của các nhà văn nữ mang về và bắt nàng đọc để xem người ta viết văn như thế nào. Từ đó, tìm cho mình một hướng đi riêng trong nghệ thuật viết.
Tôi giải thích cho Ngọc những gì tôi hiểu theo ý tôi để nàng thử có được một ý niệm:
- Không ai biết viết văn từ trong bụng mẹ đâu. Cững chẳng ai học hành nhiều ở trường lớp để dạy viết. Để viết được phải cần sự nhẫn nại bền bĩ, chịu khó và chịu khó...đừng bao giờ chán nản bỏ cuộc...cứ viết...và viết cho thật nhiều. Ban đầu khó khăn lắm, chưa hay lắm, dần dần sẽ đạt. Cần đọc nhiều, đi nhiều, hiểu nhiều, va chạm, tiếp xúc trải đời nhiều để có chất liệu dự trữ trong tiềm thức. Mỗi người có một lối viết riêng không ai giống ai. Em phải vận dụng giác quan, tâm và trí để nghe, nhìn, ghi nhớ và cảm nghiệm sâu sắc một vấn đề thật chín chắn rồi chuyển tải ý ra trang giấy. Nghe thì dễ, nhưng làm được là cả một vấn đề.
Ngọc cười đắc ý, khoe:
- Chuyện ấy em thấy cũng chẳng có gì là khó, em nhất định làm được mà anh.
- Anh thấy em thừa sức làm. Em cứ viết. Khi viết phải thật với lòng mình. Được như thế, bài viết dễ dàng đi vào tâm tư người đọc. Không phải em ngồi vào bàn trước tập giấy, trước computer mà em viết dễ dàng đâu. Có lúc ngồi suốt không viết ra được một câu. Nguồn hứng đến bất chợt không báo trước như tên trộm, em phải chộp nó ngay, nếu không nó biến mất khó còn cơ hội.
Sau khi nghe tôi giải thích lăng nhăng cái gọi là " kỹ thuật viết lách" không đầu, không đuôi, không theo trường lớp mô phạm nào, vậy mà Ngọc tỏ ra hứng thú rồi bắt đầu cuộc hành trình chữ nghĩa. Hai tuần lễ sau Ngọc chuyển cho tôi một xấp giấy dày cộm đầy chi chít chữ với lời căn dặn thật ngọt:
- Anh à, em viết được rồi đó. Anh chịu khó "lắp ráp, sửa chữa" lại cho em. Điều cần nói là cấm anh cười. Phải như thế. Anh mà cười là em giải nghệ liền liền cho mà xem. Xem được, email báo nào đó để xin trình làng đứa con đầu lòng. Ngọc trở giọng... thầy của em, thầy giúp em, em sẽ yêu thầy nhiều hơn..
Tôi cười, phác tay:
- Không được. Học trò mà...yêu thầy là... mang tội chết, thiên hạ cười quê lắm.

Thế là tôi hân hoan nhận lãnh nhiệm vụ "ăn cơm nhà vác ngà voi" tốn khá nhiều thì giờ cho nàng của tôi. Tôi cố gắng từng đêm chắt chiu làm công việc "tỉa cành, ngắt ngọn" thật công phu. Thật tình mà nói, viết thì dễ, nhưng sữa là chuyện không mấy dễ dàng. Còn Ngọc bỏ nhiều thì giờ mỗi ngày hăng say kỹ thuật "vò đầu, bóp trán", chừng năm bảy tháng sau gì đó, thơ văn của Ngọc cũng lai rai có mặt trên vài tờ báo dưới đất cũng như trên trời.
Ngọc tiếp tục "hành hạ" tôi:
- Anh là chuyên viên điện toán, anh phải hướng dẫn em thêm computer ở những phần khó hơn để em có thể chu du khắp mọi miền trái đất, tóm bắt thiên hạ trong tầm tay mình. Đồng thời em còn có thể làm được những gì em thích trên computer có sẳn.
Tôi luôn chiều người yêu cho nàng vừa ý. Ngọc thủ thỉ bên tai tôi:
- Em càng học càng cảm thấy ngu ghê đi. Dốt là phải học. Em còn phải học các lớp Anh văn chuyên ngành, chứ khả năng tiếng Anh căn bản của em giờ không làm được gì khi phải đối diện với những bộ môn văn học nghệ thuật, khoa học, chính trị, kinh tế... mà em thích. Được chứ anh?
- Được lắm chứ! chẳng có gì là khó. Anh khuyến khích em.

Tôi thích nhất ở Ngọc khi nói chuyện, hoặc thảo luận một vấn đề gì. Nàng thích đặt vấn đề, phân tích, lý luận sâu sắc sự việc. Ngọc có những ý kiến hay, hợp lý để giải quyết công việc, phương cách hành xử. Tôi rất hài lòng đã gặp được đối thủ. Chúng tôi không từ một vấn đề gì, dù lớn, dù nhỏ xảy ra chung quanh mình, khắp nơi, và ngay cả cuộc sống cá nhân. Gặp nhau chúng tôi thường có chuyện để nói do Ngọc hoặc tôi mở đầu. Khi vào vấn đề là say sưa đấu lý, đến khi tìm được đồng nhất mới thôi.
Nàng bảo:
- Thảo luận với nhau một vấn đề gì là nhu cầu bổ sung kiến thức, như con người cần khí trời để thở. Em muốn lồng ngực của em căng phồng đầy không khí, đồng thời cũng là cách tập ăn tập nói.
Ngọc lại kể lể:
- Ngày trước sống trong gia đình với chồng, em thật là chán. Em là người thích nói, thích thảo luận, ưa lý sự. Còn anh ấy không bao giờ nói hoặc bàn thảo một vấn đề gì. Suốt đêm ngày ngậm tăm. Chán ghê đi. Anh ấy và em đối nghịch nhau. Đi làm về hoặc những lúc ở nhà cứ lầm lỳ, có nói thì chỉ nói những gì cần, ngắn, gọn. Hình như anh ấy cần nghe hơn cần nói. Nhiều lúc không hiểu anh ấy nghĩ gì, thích gì, muốn gì. Không khí gia đình tẻ nhạt, mỗi người là một thế giới riêng, suy nghĩ riêng không đồng cảm. Anh biết không, mỗi lần em ra ngoài là có dịp nói thoải mái, cuộc sống rất vui, rất nhộn, thích thế nào đãy!

Tôi vừa tắt máy xe đã thấy Ngọc từ trong cửa ùa ra. Nàng nhìn tôi trong ánh mắt mừng vui với nụ cười tươi tắn. Ngọc duyên dáng trong nét đẹp thầm kín của người phụ nữ Á Đông đang độ tuổi hồi xuân đang cuốn hút tôi. Ánh mắt, nụ cười đó luôn thôi thúc và thách thức khối tình cảm trong tôi. Bây giờ là điểm tựa cuộc đời để tôi yêu và thích Ngọc khó có thể xa rời dầu biết rằng chồng con của nàng rồi cũng sẽ sang định cư.
Ngọc chạy vội đến mở cửa xe, chui vào ôm chầm bé Thư vào lòng nựng nịu, hôn lên má, lên trán cháu, khiến con bé ngộp thở đến dẫy dụa.
- Này, dì Ngọc hỏi, bé Thư nhớ dì Ngọc không nào? Dì Ngọc nhớ bé Thư quá trời! Con ở với dì nhé, đừng ở với Ba.
Ngọc xốc bé Thư vào lòng bế ra khỏi xe, nhắc lại ngọt ngào:
- Dì Ngọc nhớ bé Thư nè, thương bé Thư nhiều lắm!
Bé Thư ôm choàng qua cổ Ngọc nũng nịu, hỏi cắc cớ:
- Dì Ngọc thương bé Thư lắm hả? Vậy dì thương bé Thư dì để ở đâu hả dì Ngọc?
- Dì để trong tim dì đây này, bé chịu không?
- Không phải đâu, dì phải để trên đầu mà.
- Ai lại để trên đầu, không được đâu.
- Ba bé Thư bảo hễ thương ai thì phải để trên đầu.
Bé Thư vừa nói vừa chỉ chỉ vào cái đầu của nó. Ngọc cười ngoặt ngoẹo nhìn bé Thư rồi quay nhìn tôi:
- Anh dạy con là để trên đầu phải không?
Tôi giải thích:
- Bé Thư, ba nói con nhớ. Con thương dì Ngọc thì con để trên đầu, còn dì Ngọc thương con thì dì để trong tim của dì.
- à há!...bé Thư hiểu rồi.
Con bé lại hỏi gặn tôi:
- Ba à, dì Ngọc thương ba thì dì để ở đâu hả ba?
Tôi đáp nhanh:
- Dì Ngọc để trong tim của dì con ạ!
- Sao lạ vậy hè! Bé Thư thắc mắc.
- Thôi, con đừng hỏi lẩn thẩn nữa.
Ngọc lườm tôi, bế bé Thư đi nhanh vào nhà:
- Vô nhà dì Ngọc lấy đồ chơi cho bé Thư nhé! Đừng thèm chơi với ba nữa. Ba không thương bé Thư đâu. Dì Ngọc thương con. Bé Thư ở với dì Ngọc, dì mua cho con nhiều đồ chơi, chịu hôn? Ba không có đồ chơi cho bé Thư đâu.
- Bé Thư ở với dì Ngọc, bé Thư nhớ ba lắm. Hay là dì Ngọc về ở với ba đi.
Nghe bé Thư nói, tôi gặn hỏi:
- Em nghe con bé nó nói gì không? Bé Thư bảo em, em nghĩ sao?
Ngọc không trả lời câu hỏi, nét mặt thoáng buồn. Ngọc xếp đồ chơi ra trước mặt bé Thư. Con bé thấy đồ chơi nhiều, nó vui mừng, cầm nắm mân mê ngắm từng món đồ chơi mới lạ. Tôi đứng nhìn đứa con bảy tuổi, thơ ngây, mồ côi mẹ đang ở cạnh Ngọc, người đàn bà tôi yêu có thể là người mẹ của con tôi không?

Bé Thư say sưa các món đồ chơi mới lạ tíu tít hỏi Ngọc cách sử dụng. Ngọc nhẫn nại chỉ dẫn thỉnh thoảng cả hai cười đùa thật hồn nhiên. Lòng tôi tràn ngập niềm vui, ước mơ có được mái ấm gia đình mà tôi đã mất mát trong bao nhiêu năm qua. Ngọc rất đáng được thay thế và lấp đầy vào khoảng trống ấy. Nhưng nỗi ước mơ có thành không?
Nhà cửa vật dụng luôn sạch sẽ, ngăn nắp dưới đôi tay khéo léo của Ngọc tôi rất ưng ý. Ngôi nhà này đối với tôi rất quen thuộc từ khi hai đứa yêu nhau. Trên bàn ăn hôm nay có thêm bình hoa hồng màu đỏ sẩm tươi mát, một chai sâm banh, hai cái ly. Thức ăn Ngọc như đã làm sẳn đâu đó chỉ chờ mang lên. Tôi hỏi:
- Hôm nay có gì đặc biệt mà em thết đãi anh trang trọng thế?
Nghe tôi hỏi, Ngọc bỏ dở trò chơi với bé Thư, đứng dậy đến đứng đối diện dang hai tay choàng qua lưng tôi, cử chỉ quen thuộc của chúng tôi mỗi lần gặp nhau. Ngọc xiết chặt tôi trong vòng tay yêu thương và ngẩng lên nhìn tôi trong đôi môi chờ đợi. Một nụ hôn say đắm kéo dài cho đến lúc cả hai rã rời ngất ngây.
Ngọc nói trong hơi thở dồn dập sau nụ hôn say đắm:
- Anh của em! em yêu anh nhiều lắm! em nhớ anh quay quắt, em ngơ ngẩn những lúc vắng anh, mặc dù mới gặp nhau hôm qua, anh có biết không? Em không muốn mất anh, anh của em. Anh có hiểu em nói không? Em không muốn mất anh...dù có trở ngại nào chăng nữa cũng vượt qua anh nhé.
Tôi trấn an đồng thời khuyến khích Ngọc:
- Ngọc à, anh hiểu em. Chúng mình vẫn luôn bên nhau, vẫn yêu nhau, vẫn gặp nhau mỗi ngày. Anh có bao giờ muốn mất em. Em dứt khoát thu xếp, dọn về ở với anh và bé Thư. Ngay hôm nay, ngày mai, ngày mốt... nhen em... đừng kéo dài thời gian nữa.

Hai tay Ngọc vẫn ôm choàng qua lưng tôi, ngã người ra phía sau nhìn tôi. Nét mặt không được vui:
- Có lẽ...chưa thể được anh ạ, mà em chưa biết tính thế nào và cũng chưa biết phải làm sao đây? Thôi, thủng thẳng rồi hẳn hay.
Nghe Ngọc nói, tôi ngạc nhiên:
- Anh không hiểu em muốn nói gì. Chịu thôi. Em không thể nói được điều gì mà em chưa thể nói cho anh nghe sao?
Ngọc buông tôi ra, cười giòn giã:
- Thôi...không nói nữa, để chuyện ấy qua một bên. Bây giờ anh giúp em mở chai rượu chúng mình uống cho vui anh nhé. Dường như hôm nay em cảm thấy thích uống rượu với anh. Anh có thích không?
- Anh sẽ uống với em.
Tôi cầm chai rượu để khui. Tôi đang có suy nghĩ Ngọc đang có điều gì không bình thường. Mong đừng có điều gì không hay xảy đến tình yêu của tôi và Ngọc. Tôi rót hai ly rượu và đưa Ngọc một ly. Ngọc uống trọn một hơi, cười sặc sụa, nét mặt hồng hào. Nàng nhìn đăm đăm giục tôi:
- Sao anh không uống mà nhìn em khủng khiếp thế?
- Thì anh uống. Em xem.
Tôi cũng uống một hơi hết ly rượu. Ngọc nhìn tôi tình tứ:
- Hôm nay anh ăn cơm với em, và hai đứa mình phải uống hết chai rượu này. Em không đãi anh món ngon vật lạ nào đâu, mà chỉ các món anh ưa thích hằng ngày. Anh phụ với em một chút mang thức ăn ra bàn. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Ngọc đặt bé Thư ngồi cạnh nàng và chăm sóc thức ăn cho nó. Bé Thư trịnh trọng:
- Con mời ba ăn cơm. Con mời dì Ngọc ăn cơm.
Ngọc cười vừa ý:
- Anh dạy con lễ phép, em thích lắm.
- Chưa có gì, mai mốt anh sẽ cần đến em chỉ vẻ dạy dỗ con nhiều hơn.
- Anh giao cho em, tốt hơn anh để bé Thư ở với em có được không?
- Tại con bé, không phải tại anh. Chỉ cần chúng ta sống chung một nhà là bé Thư ở bên em ngày lẫn đêm.
Tôi dặn bé Thư:
- Từ nay con nhớ gọi dì Ngọc là má, bé Thư nhớ lời ba dặn.
Bé Thư thỏ thẻ nói một hơi dài:
- Thưa ba con nhớ. Con gọi dì Ngọc là má. Con có ba, con có má. Ở trường bạn con đứa nào cũng có ba có má. Mỗi ngày ba nó không đến rước, thì má nó đến rước mấy đứa bạn của con.
Rồi con bé quay sang Ngọc nhắc chừng:
- Ba con bận không đến rước con, thì má đến truờng rước con nhen má.
Ngọc vui vẻ hứa:
- Ừ! má sẽ đến trường ruớc bé Thư. Con cố gắng học giỏi, má thương con.
Nàng nhìn tôi, nói tiếp:
- Em không sinh bé Thư nhưng nó hết sức gần gũi với em như con ruột.
- Bây giờ nó là con của em, Ngọc ạ.

Bữa cơm đi qua thật vui, thoải mái, ấm cúng. Tối nay tôi và Ngọc uống khá nhiều rượu, mặt nàng ửng hồng, duyên dáng đáng yêu. Ngọc và tôi huyên thuyên nói chuyện cười đùa, còn thảo luận những vấn đề là thói quen của hai người khi ở bên nhau. Tôi gần như quên đi điều suy nghĩ trước bữa ăn cũng chỉ vì Ngọc đang rất hồn nhiên vô tư trong lúc ăn uống trò chuyện. Ngọc dọn dẹp lặt vặt vài công việc rồi đưa bé Thư vào phòng cho nó ngủ. Đêm đã gần khuya, vắng lặng. Trong ngôi nhà nhỏ ấm cúng của Ngọc tôi cảm thấy lòng thơ thới an lành. Công việc xong, Ngọc trở lại bàn với hai tách cà phê nóng. Nàng bảo:
- Anh uống cà phê với em nhé. Hôm nay anh phải ở lại đây suốt đêm với em. Em có việc cần muốn bàn với anh.
Tôi hỏi dồn:
- Lại chuyện cần. Có lẽ em dự tính chuyện chúng mình sống chung một nhà như anh đã thường nhắc nhở với em?
Ngọc không trả lời câu hỏi của tôi, nàng lại hỏi:
- Anh yêu em nhiều không? yêu em mãi chứ?
- Lúc nào em cũng hỏi như thế để làm gì?
- Nếu có gì phức tạp thì anh có đủ can đảm nhận sự thiệt thòi về mình không? Em hỏi thật đãy.

Tôi trố mắt nhìn Ngọc, trước câu hỏi nàng vừa hỏi tôi. Nhìn nét mặt của Ngọc lộ vẻ chán chường, tôi nói hối hả với sự bực dọc:
- Em nói vậy có nghĩa là gì? Lần đầu tiên, anh nghe em nói. Anh tin tưởng không có gì phức tạp. Qua gần ba năm chúng mình ở bên nhau anh nhận thấy không có gì là phức tạp như em vừa hỏi.
Giọng Ngọc trầm xuống thật xót xa:
- Có chứ! anh ạ. Nhưng anh à, từ lâu...em dấu anh, cũng vì em yêu anh, yêu say đắm, không muốn mất anh, không muốn tạo những bóng mờ trong tình yêu của chúng mình khi anh đã đặt trọn vẹn niềm tin vào em, vì tình yêu của chúng ta thật đẹp khó ai bì được. Anh của em, anh đừng giận em. Lỗi do em cả.
Tôi bàng hoàng hụt hẫng khi nghe Ngọc nói. Tôi cảm thấy như đang rơi vào một khoảng trống không để có thể sắp mất những gì mình đang có. Tôi lấy lại bình tĩnh:
- Ngọc! điều gì em cứ nói. Anh đủ sức chịu đựng để nghe em nói. Em nói đi.
Ngọc thở mạnh nói nhanh:
- Anh ạ! Từ lâu em vẫn dấu kín anh. Chồng và hai đứa con của em sắp qua rồi.
Tôi cố cười gượng mà cổ họng như uất nghẹn:
- Anh cứ ngỡ... ờ! ờ! là chuyện gì... quan trọng!! Chồng con em qua là vui cửa vui nhà. Anh chúc mừng em... được sum họp một nhà...
Ngọc ngắt lời:
- Anh Thế, sao anh cứ nói được là nói. Em cấm anh không được nói với em như vậy. Anh biết không, anh thường khuyên em về ở chung với anh, em lần lữa chần chờ chưa biết tính sao. Chồng em, anh Tạo ở tù về, lập hồ sơ H.O. xin tái định cư tại Hoa kỳ cùng với hai đứa con. Anh ấy hỏi ý kiến em và bảo phải lo cho anh ấy, đồng thời làm sponsor cho anh ấy về Florida. Đối với em, em không thể nào từ chối lời yêu cầu của Tạo, cũng chỉ vì em bị kẹt hai đứa con của em, nên em đành chấp nhận để hai đứa con qua với em. Tất cả công việc em đều dấu kín anh từ trước đến giờ. Anh Thế, anh hiểu cho em. Vì vậy, em phải lo, phải chu cấp mọi thứ cho anh ấy hoàn tất chuyến đi. Nói đúng ra, vì hai đứa con, nên phải lo như thế. Trong lúc đó, em yêu anh, yêu chết người, mất anh em mất tất cả. Chỉ có anh, mới đem hạnh phúc cho em. Từ lúc lập gia đình, ngoài Tạo, người chồng không tình yêu dành cho em, em chưa hề yêu một người đàn ông thứ hai, nhưng bây giờ yêu anh, yêu tha thiết, yêu không thể rời xa, có lẽ duyên nợ tiền kiếp phải trả kiếp này vào cuối đời. Em tin như vậy, anh có tin không?

Tôi cảm thấy choáng váng đầu óc không còn nghe thêm được gì nữa. Tôi hy vọng những lời Ngọc nói với tôi không phải là sự thật. Ngọc đang nói đùa với tôi chăng? Tình huống này, nếu đúng, tôi có thể xa Ngọc và mất nàng. Trước đây khi nghe vấn đề chồng con của Ngọc trước sau gì cũng sang định cư tại Hoa Kỳ, nhưng tôi vẫn đinh ninh rằng họ sẽ đến định cư ở một tiểu bang khác, chứ không về đây. Không lẽ cuộc tình của hai người sắp kết thúc? Tôi có thể có những phản ứng nào khi sự việc phức tạp đang và sắp diễn ra trong một cuộc tình. Hạnh phúc. Đau khổ! Người ta bảo rằng tình đẹp nhất khi còn dang dở, nhưng với tôi ngay bây giờ nó không đẹp mà đau đớn vô cùng.
Tôi gượng cười trong niềm chua xót, lại lập lại điều đã nói:
- Anh vui mừng cho em sắp được đoàn tụ với gia đình chồng con. Anh thực sự chúc mừng em, Ngọc ạ! Phần anh, như em biết, em chớ có gì phải bận tâm nơi anh. Có những cái mình phải hy sinh cho nhau...và anh....anh sẽ xin nhận sự thiệt thòi..! Em được trọn niềm vui là đủ cho anh vui rồi. Cứ như thế đi em.
Tôi cố gắng trong sự can đảm để nói được với Ngọc như thế, rồi nghĩ rằng tại sao tôi lại nói được những điều đó, mà khi nói ra rồi, cả tôi, cả Ngọc sẽ xót xa, sẽ đau khổ chua xót vô cùng.

Ngọc mím chặt môi, tái mặt, gằn từng tiếng:
- Anh Thế, em cấm anh... cấm anh không được nói nữa. Anh lại có thể nói được với em những lời cay đắng xót xa ấy sao? Anh tự do muốn nói mà không nghĩ sẽ đau lòng, xúc phạm tự ái em sao? Những điều anh nói ra có lẽ anh không còn nghĩ đến em. Anh Tạo và con em có qua là một việc, mà em yêu anh là một việc. Em không đánh đổi cái này để được cái khác. Anh phải hiểu cho em.
Ngọc lại khóc, khóc sướt mướt:
- Em không chơi với anh nữa đâu! Em ghét anh! Em ghét anh lắm! Anh đi về đi. Anh tàn nhẫn dằn vật em trong khi em đang bực bội chuyện nhà. Anh đâu có thực sự yêu em.
Tôi cố gắng trong nổi chán chường đến ngộp thở:
- Anh xin lỗi em, Ngọc ạ! Em đừng khóc. Vấn đề chúng ta phải giải quyết. Em nên bình tĩnh.

Ngọc vẫn khóc rấm rứt. Nàng đang khóc thật, khóc cho hoàn cảnh đang phải khó xử. Gần ba năm yêu nhau đã có bao nhiêu kỷ niệm, những thói quen, lề lối trong cuộc sống, niềm vui nổi buồn, những ưu tư suy nghĩ, được kết giao quen thuộc, gần gũi, gắn bó giữa hai con người như hình với bóng. Là người đàn ông, tôi có đủ can đảm và sức chịu đựng để nhận sự thiệt thòi. Đối với Ngọc thì không dễ dàng như thế, tôi hiểu.
Tôi hỏi để xua tan bầu không khí nặng nề khó thở:
- Bao lâu nữa thì chồng con em mới qua?
Ngọc ngẩng nhìn tôi đôi mắt đỏ hoe, gay gắt gằn từng tiếng:
- Chẳng có chồng, có con gì cả. Đừng hỏi thế. Chỉ có ông Tạo và hai đứa con của em mà thôi. Ba hôm nữa họ sẽ qua, em phải ra phi trường đón họ. Hôm đó, anh phải đi với em.
- Anh cũng thích đi, nhưng ngại lắm, có thể sẽ gây sự hiểu lầm nào đó cho người mới đến. Đáng tiếc.
Ngọc lại hỏi:
- Anh còn yêu em nữa không, anh Thế?
Tôi khựng lại vài giây:
- Vẫn yêu em như ngày nào. Tuy nhiên, anh nghĩ rằng đã đến lúc tình yêu chúng ta không có diện mạo, không còn hình dáng, không mang bản sắc thiết thực. Nó mong manh như làn khói bốc cao rồi tan biến, như bọt nước giữa đại dương vỡ òa trong bao la. Một tình yêu không chân dung chỉ còn giá trị cưu mang để nâng niu ấp ủ qua những giây phút suy tư, tạo nét ảo ảnh cho tình cảm theo từng lúc nhìn ngắm để tưởng nhớ.
Ngọc sững sờ, nức nở:
- Anh có thể nói với em những điều anh suy nghĩ như thế sao? Thật chua như dấm, đắng như bồ hòn! Em không nghĩ như anh nói. Em vẫn yêu anh, yêu thiết thực, không bao giờ xa nhau, không bao giờ như anh nói là tình yêu không dáng sắc, không chân dung. Nếu em không có anh, em sẽ phải sống như thế nào? Anh có tội nghiệp cho em khi phải thân tàn ma dại?
Khi chưa nói ra được, tôi quyết định cần phải nói, và khi nói được rồi tôi cảm thấy đau lòng cho điều suy nghĩ mình nói ra. Thực trạng dằn vặt, nhưng tôi lại không thể đánh mất lý trí suy xét. Tôi cân nhắc vấn đề:
- Anh không chối bỏ tình yêu của anh đối với em, nhưng anh phải có một cư xử công bằng và cao thượng. Em phải hiểu cho anh. Anh đề nghị với em phải có sự thu xếp khôn ngoan hơn để bảo vệ sự yên vui và hạnh phúc gia đình khi anh ấy qua. Đó là một quyết tâm đứng đắn mà cả anh và em phải làm.
Ngọc nói:
- Em đã thu xếp đâu vào đó. Khi Tạo qua đây, em lo công việc làm cho anh ta. Em giúp đở tiền bạc bước đầu cho Tạo. Ngôi nhà này em giao cho Tạo và hai đứa con của em, để sau đó, em về ở với anh, vì em không thể sống thiếu anh. Anh Thế, anh chấp nhận sự thu xếp của em. Với anh là tình, với Tạo là nghĩa, đôi bên em giải quyết cân bằng và hợp lý. Anh nhớ rằng, em phải có sự tự do lựa chọn cuộc sống cho riêng em. Gần hai mươi lăm năm em xa Tạo, coi như không còn gì nữa. Anh có biết không? Anh phải trả lời cho em bằng cách nào để em vui và tình yêu của anh và em vẫn không mất.

Tôi không có quyền ngăn trở, mà tôi phải khuyên nhũ, khuyến khích Ngọc. Sự quyết định của Ngọc thể hiện một tình yêu chung thủy với tôi. Tôi không thể tự dối lòng mà cảm thấy rất đồng tình khi nghe sự dàn xếp của Ngọc. Nhưng tôi có được an vui trong cuộc sống hạnh phúc bên Ngọc không? Tôi nghĩ đến những chỉ trích, phê phán, những búa rìu của dư luận, của người đời, sự đau khổ cùng cực của Tạo, tình mẫu tử của hai đứa con của Ngọc và nàng. Tôi không thể phó thác lương tâm mình trong đay nghiến ray rứt để lòng tôi không ổn, tâm không yên, cuộc sống chỉ là chuỗi thời gian tràn ngập mặc cảm tội lỗi. Tôi đang dằn co giữa lý trí và con tim.
Tôi khuyên giải Ngọc, tìm sự trì hoản:
- Dự tính của em có vội vàng đãy Ngọc ạ! Lúc này, em chưa thể tính như vậy được. Anh khuyên em làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ sau khi đón chồng con về trong ngôi nhà này. Anh xác nhận với em, anh vẫn yêu em như ngày nào với tình yêu chung thủy và cao thượng. Anh tin chắc rằng một thời gian nào đó qua đi, sẽ tạo cho em một an bình trong tâm hồn, một sự yêu đời trong cuộc sống bên chồng con. Đối với bé Thư, em không bao giờ mất nó. Nó là con của em....
Tôi ngừng nói, lòng nghẹn ngào như muốn khóc khi phải nói như thế với người mình hết dạ yêu thương. Tôi cố gắng dằn lòng, tiếp tục:
- Có thể bé Thư là con nuôi, nếu em muốn. Anh vẫn ở bên cạnh em khi em cần sự giúp đở. Chúng mình có yêu nhau nhưng không bao giờ được sống chung nhau. Lòng chúng ta vẫn hướng về bên nhau suốt cuộc đời. Nếu em yêu anh, phải chìu theo ý anh một tí nhé, nghe lời anh. Mình chớ bao giờ làm điều gì phải bi lụy đến người khác. Gìn giữ hạnh phúc cho người khác có nghĩa là mình đã sống trong hạnh phúc đó em.

Ngày tháng đi qua, Ngọc chìu theo ý tôi bằng quyết tâm nhẫn nại chịu đựng để thực sự đi vào cuộc sống bên chồng con, và bây giờ đã tìm lại được sự yên vui trong mái ấm gia đình mà trước kia đã đánh mất. Thỉnh thoảng Ngọc thường ghé đến với tôi để tâm sự, để được nói chuyện, thảo luận những vấn đề này nọ và nhất là để cùng chia xẻ niềm vui trong đam mê văn chương chữ nghĩa mà nàng đã quyết định tiếp nối con đường đi. Ngọc đã dành rất nhiều thì giờ để đọc và viết để như cố quên thời gian đi qua. Chính đó là niềm vui để Ngọc dễ dàng vượt qua trong ngày tháng sống bên Tạo. Tôi vẫn yêu Ngọc bằng cuộc tình trong sáng, nhẹ nhàng, thánh thiện, không lợi dụng, không gây nhiễu loạn lương tâm. Ngọc luôn xác nhận tình yêu của chúng tôi đã có được từ tiền kiếp và trói buộc đến đời này, kiếp này để phải nợ, để phải có trách nhiệm hoàn trả vào cuối cuộc đời mỗi người trong oái oăm duyên kiếp, bằng những tấu khúc chào mời, bằng những cho nhau hương tình sung mãn, ươm lầu Mộng Hoa cho tình được rạng ngời. Nếu phải trắc trở, ngăn cách thì nguyện ước chờ nhau... chờ nhau mãi nghìn năm sau. Kiên nhẫn chờ đợi đến những nghìn năm sau cho duyên lại thắm, tình lại nồng trong sự chúc phúc của Đất Trời bền vững đến tóc bạc răng long:

Hương xưa tình đã trao tình,
Oái oăm duyên kiếp chúng mình gặp nhau.
Anh đan tâm sự tuổi sầu,
Ngấm sâu ánh mắt ươm lầu Mộng Hoa.
Gót hài duyên dáng mượt mà,
Phút giây sung mãn tình ta rạng ngời...!
Hồng trần trong nửa cuối đời,
Uy nghi tấu khúc chào mời gọi nhau...
Chờ nhau nhé...! mãi nghìn sau...!!
Hoàng thiên chúc Phúc bạc đầu lứa đôi...!

(Sưu Tầm)

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Wed Jun 06, 2018 12:16 am



Duyên Phận và Mệnh Số
Lê Nguyễn Hằng


Từ San Jose, tôi đón xe đò Hoàng xuôi Nam. Từ hôm cùng với mấy đứa con của Hà bí mật bàn tính chuyện tổ chức buổi lễ sinh nhật thứ 60 cho Hà ở San Diego, tôi rất nôn nóng chuẩn bị cho chuyến đi này. Đây không phải một họp mặt sinh nhật bình thường như những lần trước. Đến đó tôi sẽ gặp lũ đông đủ lũ bạn “quỷ sứ” của trường tiểu học và trung học ngày xưa.

*
Hà là một người chị họ con bà bác, chỉ hơn tôi một tuổi và học cùng lớp nên hai chị em thân nhau hơn bạn. Hai đứa từ giã Hà Nội cùng gia đình di cư vào Nam và cùng định cư tại Tuy Hòa, cùng ở gần nhà nhau trong khu “Bắc Kỳ di cư” từ ngày “tóc còn để chỏm.”

Dù là vai chị nhưng vì xuýt xoát tuổi nhau, lại học cùng lớp nên hai đứa tôi vẫn mày tao. Hà và tôi lúc nào cũng ngồi bàn đầu và sát cạnh nhau vì chúng tôi vừa nhỏ tuổi lại vừa nhỏ con, cùng nổi tiếng là “cây gạo”. Chúng tôi thân nhau đến độ cắt tóc và mặc quần áo giống nhau.

Ngoài giờ học ở trường, hai đứa thường đến nhà nhau học bài chung. Đi thi Tú Tài I ở Quy Nhơn và Tú Tài II ở Nha Trang đều ngồi cạnh nhau vì tên cùng vần.
Đậu Tú Tài Toàn xong, như chim rời tổ, mỗi đứa một nơi, Hoành vào Saigon học tiếp, Hà đi Nha Trang, riêng tôi ở lại Tuy Hòa đi làm giúp đỡ gia đình một thời gian.
Cuộc sống nổi trôi theo dòng đời, tôi thuyên chuyền vào Saigon, mãi đến năm 1974, mới tình cờ gặp lại Hà ở Chợ Bến Thành thì cả hai đã tay bế tay bồng, mỗi đứa đều có hai con gái và một con trai. Gia đình Hà rất hạnh phúc, hai vợ chồng làm cùng nghề. Phong, chồng Hà cưng chiều vợ hết mực.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 như cơn hồng thủy đổ ập lên đầu mọi người, chúng tôi mất liên lạc một lần nữa. Gia đình tôi may mắn được di tản và định cư tại Mỹ, còn Hà ở lại sống với gian truân thử thách.

Phong bị đi tù cải tạo như hàng vạn quân dân cán chính khác. Hà lo sợ hoảng hốt vì chồng đi biệt tăm không trở về sau 10 ngày như lời hứa hẹn của chính quyền, cũng không có tin tức còn sống hay chết dù chỉ một lời nhắn. Cũng như những gia đình của miền Nam phải đối mặt với cuộc sống mới khó khăn vô định, Hà bắt đầu bán tất cả những gì có thể, từ cái TV, tủ lạnh, bộ bàn thờ, giường tủ, bát đĩa, xoong nồi đến những bộ quần áo, giầy dép của hai vợ chồng đều từ từ bỏ Hà ra đi để đổi lấy gạo và thức ăn nuôi ba đứa con đang sức lớn mà không được ăn đủ no. Hà phải thoát ra khỏi cái vỏ ốc của một phụ nữ yếu đuối mong manh, bươn chải theo những người bạn đi buôn để có tiền nuôi con và chờ tin tức của chồn
Rồi Hà được tin về Phong từ những trại tù ở những tỉnh miền Bắc xa xôi chưa bao giờ Hà nghe tên. Những chuyến thăm nuôi vất vả, ngủ đêm chờ đợi ở bến xe, rồi băng rừng lội suối, đi bộ trên những đoạn đường mấp mô gập ghềnh khó khăn để rồi nhìn thấy một hình hài quắt queo, nhăn nhúm của chồng chỉ làm Hà thêm quyết tâm cố gắng làm ra tiền dù phải vất vả trăm bề để nuôi chồng sống sót mong một ngày trở về.
Gần sáu năm sau, Phong ra tù, tinh thần và thể xác đều kiệt quệ. Hà đau lòng nhìn thấy chổng tàn tạ rũ rượi như tàu lá héo trong khi các con ở trường thì bị trù dập vì là “con của ngụy”, học thì bị nhồi sọ những giáo điều cũ kỹ, không tưởng, bịa đặt và láo khoét. Để phụ với mẹ kiếm sống, sau giờ học, chúng đi bán bánh kẹo nên phải học cách mánh mung, gian trá.

Thời ấy, bên cạnh phong trào đi bán chính thức đang rầm rộ, có những chuyến vượt biên không chính thức cũng diễn ra trong âm thầm, các con Hà cũng được tập nói dối trơn tru khi bị hạch hỏi tra gạn về những chuyến vượt biên hụt của gia đình.
Ngay khi Phong trở về từ nhà tù, hai vợ chồng đã quyết định phải tìm cách mang các con ra đi, dù có cùng bỏ mạng trên biển cả còn hơn sống trên quê hương mà như trong cõi chết.
Cả gia đình đã vài lần cùng đi nhưng thất bại và đồng tiền Hà dè xẻn, dành dụm đã cạn dần, cuối cùng phải quyết định để Phong đi một mình trước rồi Hà sẽ tìm đường đem các con đi sau.

Ngày Phong ra đi, Hà đeo vào cổ anh sợi dây chuyền có tượng Phật Bà Quan Âm nhỏ bằng vàng giả, giống hệt như cái nàng đang đeo, Hà bảo anh rằng gặp cơn hoạn nạn thì nhớ cầu Phật Bà che chở.
Ba tháng, rồi sáu tháng, chờ mãi không được tin tức gì của chồng, chỉ nghe người ta xì xào là chuyến ghe đó bị chìm, cả gia đình chủ tàu cũng không ai sống sót.
Hà bèn liều mạng dùng mấy lạng vàng cuối cùng dẫn các con đi với gia đình một người bạn. May mắn thay mẹ con Hà đã đến được bến bờ tự do.
Năm 1983, tôi được tin Hà đã một mình vượt biển mang theo ba đứa con, Linh 14. Nga 11 và Nhi 4 tuổi, vừa được Lộc, người em kế rất thân với Hà, bảo lãnh ra San Diego ở với vợ chồng cậu ấy, cả gia đình tôi lập tức xuống vùng Nam California để gặp Hà.

Phút tương phùng, chúng tôi ôm nhau mừng rỡ trong nước mắt. Nhìn một Hà gầy guộc, đen xạm, dấu tích của những ngày lao động cơ cực, tôi không khỏi đau xót nhớ đến một Hà xinh đẹp, duyên dáng, ăn mặc thanh nhã nhưng hợp thời trang của thời đi học và trước năm 1975.
Hà ôm lấy tôi nức nở: “Anh Phong bỏ tao đi rồi Hằng ơi, gần một năm rồi còn gì.” Tôi thương bạn quá đỗi nên an ủi: “Đã chắc gì, nhiều khi anh ấy trôi giạt vào một hoang đảo nào đấy thôi, từ từ xem.” Tôi nói nhưng thực sự không tin điều mình nói. Tôi nhìn những ngón tay xương xẩu của bạn mà lòng xót xa. Tôi đã ở lại mấy ngày với Hà và lũ nhỏ để chia sẻ, an ủi với Hà những bất hạnh, giúp ý kiến cho Hà trong những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ lạ.
- Rất may là Hà và tụi nhỏ đã đến bến bờ tự do, thôi thì muộn còn hơn không! Hãy làm lại từ đầu, nước Mỹ sẽ là nơi cho chúng mặc sức học hành và phát triển tài năng. Tôi nói. Hãy nhìn về phía trước Hà ơi…

Mới vừa được tạm ổn dưới mái nhà của Lộc, “họa vô đơn chí” vẫn không buông tha người bạn khốn khổ của tôi. Ở chung trong gia đình với người em được gần sáu tháng, Lộc mới trên ba chục tuổi đang khỏe mạnh, có việc làm tốt, bỗng nhiên đột tử chỉ sau một cơn nhức đầu. Hà đã lăn lộn vật vã khóc thương Lộc, người em mà Hà thương nhất trong các anh chị em. Được tin, dù đang bận việc sở cho cuối tài khóa, tôi cũng lập tức chạy xuống thăm để nâng đỡ tinh thần bạn tôi.
Tôi vừa bước vào cửa, Hà đã rũ xuống tay tôi như cây chuối bị đốn. Tôi chỉ còn đủ sức dìu Hà vào phòng đặt nằm trên giường, kéo gối và đắp mền cho thẳng thắn rồi ghé nằm xuống bên cạnh, tay tôi lại chạm vào đôi vai gầy gò đang rung lên từng hồi theo tiếng kể lể thảm thiết đứt quãng của bạn mà lòng đau như cắt. Lúc đó tôi thực sự oán trách ông Trời. Chúa ơi, Phật ơi, các Ngài ở đâu mà để cho một người đàn bà chân yếu tay mềm như Hà gánh hết oan khiên khổ nạn của cuộc đời! Chỉ trong hai năm mà chồng mất tích, hai đứa em vượt biển bị chết và bây giờ cái phao cuối cùng để Hà bám vào cho sự sống cũng không còn nữa.” Tôi chỉ có thể nắm chặt hai bàn tay lạnh giá run rẩy của bạn như một lời hứa “bên mày luôn có tao, Hà ơi.”

Về lại San Jose, hằng ngày tôi điện thoại xuống an ủi, động viên và khích lệ tinh thần Hà để vượt qua những tai ương nghiệt ngã đeo đẳng. Phải mất mấy tháng Hà mới lấy lại bình tĩnh và lo cho cuộc sống thường nhật. Lúc đầu rất khó khăn vì Hà chưa biết lái xe và các con còn nhỏ. Nhờ tính tần tiện và vén khéo, tiền trợ cấp cũng đủ cho mẹ con sống và ăn học. Cũng may, một mình lo cho bốn mẹ con vừa ăn vừa học lại thêm bài vở của mình, Hà không có rảnh một phút để buồn tủi cho thân phận cô đơn vất vả của mình trên đất lạ. Các con cũng biết thương mẹ khổ sở nên chịu khó học hành và ngoan ngoản vâng lời mẹ dạy.

Tuy tiếng Anh hơi yếu, nhưng nhờ quyết tâm và vốn liếng chữ nghĩa có sẵn, Hà đã lấy được mảnh bằng đại học sau bốn năm miệt mài kinh sử. Hè năm 1987, Linh xong trung học và Hà đậu bằng cử nhân. Tôi xuống San Diego dự lễ ra trường của hai mẹ con. Chúng tôi thật là hạnh phúc!
Biết là Hà không có thì giờ và tâm trí để đi mua sắm, thỉnh thoảng trong những chuyến công tác xuống Santa Ana, tôi vẫn ghé thăm Hà cùng 3 đứa con và những khi đi “shopping”, thấy quần áo hay ví tay mà tôi thích, tôi mua luôn một cặp, để hai đứa tôi vẫn còn được mặc quần áo giống nhau như ngày xưa còn bé.

Khi chúng tôi có thì giờ tâm sự, tôi nói bóng gió xa gần về sự lẻ loi đơn chiếc của Hà:
- Mày cứ thui thủi một mình làm tao không yên tâm tí nào.
- Còn đám con tao đấy thôi. Hà ngắt lời.
- Con khác. Chúng nó có đời sống riêng. Mày phải cần kiếm một bờ vai của một người đàn ông cho mày tựa những lúc cuộc đời làm khó mày, hay những lúc mày ốm đau xuống tinh thần là những điều không đứa con nào có thể cho được.

Lúc nào Hà cũng gạt đi:
- Tao đã sống quá nửa đời người, qua bao nhiêu khổ đau nghiệt ngã, đâu còn thiết tha gì chuyện tình ái. Tao chỉ mong cho mấy đứa nhỏ ăn học thành tài, sống cuộc đời ngay thẳng đạo đức như ông bà nội ngoại và vợ chồng tao đã dạy, muốn vậy thì chính tao phải là một tấm gương tốt cho chúng nó noi theo, với lại…
Tôi ngắt lời:
- Với lại gì?
Hà ngập ngừng:
- Với lại… tao vẫn có một linh tính mơ hồ là anh ấy chưa chết cho nên tao vẫn… đợi. Mày có nghĩ tao hoang tưởng thì tao cũng đành vậy thôi.

Không chịu thua, thỉnh thoảng tôi vẫn gợi tên những người đàn ông yêu mến Hà và muốn cho Hà hạnh phúc. Họ thấy không cách nào gây được sự chú ý của Hà nên đã nhờ cậy đến tôi, nhưng những lời bóng gió, khuyên nhủ, dỗ dành của tôi đều như gió thoảng mây bay, Hà vẫn một mực ôm ấp và gìn giữ tình yêu cho chồng. Bây giờ Hà đã 60, nhưng tình yêu ấy không hề suy giảm.
Hà cũng tâm sự về con. Thằng Linh có tính nghệ sĩ, nó nói với tao rằng:
- Từ bé con đã mê hội họa và đàn dương cầm, con xin phép Me cho con học hai môn này.
- Mẹ biết con thích những thứ đó, nhưng hãy thực tế một chút đi con. Gia đình mình nghèo, con là anh cả trong nhà thay ba con làm cột trụ gia đình, con nên chọn một nghề có thể nuôi sống gia đình và giúp đỡ bà con nội ngoại còn đang sống nghèo khổ thiếu thốn ở Việt Nam. Sau này, con vẫn có thể học thêm những món ưa thích kia cho con vui và giải trí, nghe lời me đi con.

Thế là Linh chọn nghề bác sĩ, ngành giải phẫu cho Mẹ vui lòng với lý do rất nhân bản là để cứu giúp những người đau ốm bệnh tật ngoài việc kiếm đủ tiền nuôi gia đình.
Nga là một đứa con gái hiền lành, nền nếp dễ bảo, lúc nào cũng muốn làm vừa ý mẹ, nó học làm dược sĩ để cùng hợp tác với Linh trong vấn đề thuốc thang cho bệnh nhân. Hai anh em vẫn thường bàn cãi sôi nổi về những phát minh y khoa và dược khoa.
Nhi, bé út nhưng ngỗ nghịch và hay lý sự nhất nhà. Mặc dù rất thương mẹ, nhưng đôi khi cũng làm phật ý mẹ, Nhi luôn làm theo ý mình. Nó bảo trong nhà có hai bác sĩ là quá nhiều rồi, nó muốn làm kỹ sư. Nhờ có dòng máu thông minh của cả ba lẫn mẹ, Nhi đã trở thành một chuyên gia xuất sắc trong ngành của mình và làm chủ nhiều bằng phát minh.

Người bạn mà tôi rất thương yêu và khâm phục ấy, một người đàn bà chân yếu tay mềm như thế đó, trải qua bao nhiêu gian truân, đau thương trong cuộc đời, đã đơn thương độc mã chiến đấu với cuộc sống mới khó khăn trên đất Mỹ, bắt đầu với hai bàn tay trắng cùng ba đứa con nhỏ dại và mấy cái khăn tang dấu kín trong lòng đã vượt thoát khỏi nghịch cảnh, tự xây dựng cho mình một cơ sở làm ăn vững vàng nhờ bản tính trung thực, nhã nhặn và ba đứa con thành công trong những lãnh vực khác nhau.

Đã gần 35 năm, kể từ ngày mẹ con Hà đến được nước Mỹ. Còn số phận của Phong, người chồng mất tích trong chuyến vượt biển trước đó thì sao?
...
Sau chín ngày lênh đênh trên biển cả, con tầu hết dầu, chết máy, thả neo trông đợi thuyền tàu nào tới cứu. Rồi ngày qua ngày, không thấy gì ngoài bầu trời mênh mông và biển dữ cuồng nộ. Khi thì mưa tầm tã, lúc lại nắng chang chang rát mặt, đêm bao la đen tối đến rợn người. Những mảnh khăn trắng treo trên cột buồm không mảy may làm xúc động những con tầu đi ngang, những lời lạy lục van xin cũng không động tâm những người trên các chuyến tàu vô tình kia. Mỗi ngày là một thách đố cho sự sống còn của mấy chục mạng người trên chiếc thuyền mong manh ấy. Lương thực đã hết. Cái chết đầu tiên đã làm mọi người hoang mang, hoảng loạn. Ngày hôm sau, hôm sau nữa lại thêm những cái chết cô đơn trong đói khát, nằm ngồi ngổn ngang. Tiếng khóc than tuyệt vọng tắt dần. Phần Phong, cũng chỉ còn sức để lặng lẽ cầu nguyện.

Thuyền cứ lênh đênh trôi cho đến khi vừa nhìn thấy bờ ở xa xa thì chiếc tàu bị đội lên, một tiếng soạc khủng khiếp và chiếc tàu bị nứt rạn do đá tảng cứa vào, tiếng la hét vang dội, nhưng không ai còn sức lực nào để có thể bơi vào được tới bờ.
Phong chỉ nhớ được rằng khi chiếc tàu lật úp, đập lên người Phong, chàng thấy đau nhói ở đùi bên trái và máu ra lênh láng, chàng cố vẫy vùng trong tuyệt vọng, cuối cùng bám được một mảnh gỗ của chiếc ghe, phó mặc cho số mạng…
Sau cơn trôi dạt vô vọng không biết bao lâu, Phong bỗng thấy quanh mình lao xao tiếng người, rồi chàng dần hồi tỉnh. Một thanh niên cho Phong biết là khi tàu của họ được vớt sau khi đã chết gần hết thì thấy trên bờ xa xa hình như có một thân người, họ đến nơi thấy chàng còn thoi thóp thở nên kéo chàng nhập chung vào nhóm người cùng ghe của họ và tất cả 9 người đều được hội Hồng Thập Tự chăm sóc sức khỏe.
Phong bị con thuyền đập vào gẫy chân trái, máu ra nhiều mà không được cứu chữa ngay, nên bị nhiễm độc và bác sĩ phải cưa chân trái của chàng tới trên đầu gối.

Lúc tỉnh dậy, Phong thấy mình cụt một chân, tay trái bị bó bột, toàn thân đau đớn vì xương sườn bị dập. Thấy mình đã thành người tàn phế, chàng không muốn sau này trở thành gánh nặng cho vợ con nếu chàng may mắn tìm được họ vì vậy chàng chỉ muốn tự vẫn, hóa kiếp cái hình hài dị dạng này cho xong một đời người. Một tuần sau mọi người đã có mặt trên đảo Pulau Bidong, Malaysia.

Nhờ sự giúp đỡ của các bác sĩ, nhất là sự chăm sóc tận tình của một nữ y tá người địa phương tên Wani Avarat và lời khuyên răn của những thuyền nhân khác, Phong dần dần nguôi ngoai nhưng vẫn nhất quyết không trở thành một gánh nặng cho vợ con với một tinh thần sa sút và một thân xác tàn tật.
Cô y tá Wani, một người đàn bà trẻ góa chồng và không có con, tìm thấy trên mặt của chàng còn phảng phất nét thông minh tuấn tú của một người có học thức dù bao năm bị tù đầy vùi dập và chuyến vượt biển thập tử nhất sinh của Phong nên ngoài việc lưu tâm săn sóc thể chất, cô luôn luôn động viên tinh thần cho Phong. Chờ khi Phong tỉnh táo, cô đã đề nghị với chàng để cô bảo lãnh ra sống với cô ở Mã Lai với lời hứa là Phong có thể đi tìm và trở về với gia đình của chàng bất cứ lúc nào.
Nhờ có sự khuyến khích của cô Wani, Phong dần dần hồi phục. Sau khi đã được lắp chân giả, Phong đi học lại và cũng theo ngành y tá. Hai người sống với nhau hạnh phúc cho đến hai năm trước đây, cô Wani bị bệnh ung thư. Để đền đáp mối ân tình cho người đã cứu mạng sống của mình, Phong đã tận tụy săn sóc Wani, nhưng cuối cùng, Wani vẫn không thể vượt qua cơn bệnh ngặt nghèo. Hai năm trước đây, Wani đã giã biệt cõi đời. Từ đó Phong xin làm thiện nguyện và rồi trời đã xếp đặt cho chàng có cơ duyên làm việc cùng toán với Linh, một bác sĩ giải phẫu từ Hoa Kỳ sang làm thiện nguyện tại một làng nghèo bên Mã Lai.

Ngày cuối của công việc thiện nguyện, sau khi đã hoàn tất một ca giải phẫu cho bệnh nhân, Bác sĩ Linh mời y tá Phong ra ngoài sân bệnh viện uống cà phê cho tỉnh táo. Sau mấy ngày làm việc với ông y tá đứng tuổi của địa phương có nước da nâu sạm và đôi tay gân guốc, hai người đều đeo khẩu trang nên Linh không thấy rõ chi tiết trên khuôn mặt, ngoại trừ đôi mắt sâu thẳm u uẩn của ông ta. Nay xong công việc, khẩu trang đã gỡ bỏ, thong thả bên ly cà phê, bác sĩ và y tá biết nhau cùng là người Việt, trò truyện bằng tiếng Việt, Linh bỗng cảm thấy một cái gì gần gũi thân quen khác thường.
Khi ông Phong cúi xuống dập tàn thuốc lá, nhìn khuôn mặt khắc khổ của người bạn lớn tuổi mới quen, Linh bỗng giật mình khi thấy trên cổ ông ta một sợi dây chuyền có tượng Phật Bà. Phải rôi, cũng sợi dây chuyền ấy, tượng Phật Bà ấy, Linh từng thấy Mẹ mang trên cổ hàng ngày. Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng mẹ vẫn mân mê cái tượng đã xám xỉn lâm râm lời cầu nguyện. Linh kiên nhẫn gợi chuyện và ngồi yên lắng nghe về chuyến hải hành đầy khủng khiếp của Phong.

Bây giờ thì Linh đã chắc chắn người y tá già ngồi trước mặt là người cha mất tích suốt tuổi niên thiếu của mình vì nơi chốn và ngày đi của ông ấy đều trùng hợp với cha mình.
Hai bố con nhận ra nhau. Linh ôm ông, chàng khóc như chưa từng khóc trong đời, chàng thương cho sự bất hạnh của Ba và nhất là cho Mẹ đã bao năm vò võ ở vậy nuôi con chờ chồng.
Trên đây là chuyện do chính Linh kể lại cho tôi nghe. Chú bé 13 tuổi khi theo mẹ đến Mỹ năm xưa nay đã là một bác sĩ giải phẫu 48 tuổi. Hàng năm, thay vì đi du lịch ngắm thắng cảnh thế giới, Bác sĩ Linh dành 2 tuần lễ nghỉ phép, đi theo đoàn thiện nguyện đến chữa bệnh ở những nơi mà người dân thiếu may mắn trong vùng Đông Nam Á. Nhờ đó mà sau 35 năm thất lạc, bố con có dịp nhận ra nhau. Giấc mơ đoàn tụ bao năm thành sự thật. Sinh nhật mẹ Hà cũng sắp tới. Đâu còn món quà sinh nhật nào quí hơn. Mọi thủ tục bảo lãnh, đưa Bố Phong từ Mã Lai vào Mỹ được lặng lẽ hoàn tất. Mọi diễn tiến, với sự đồng ý của bố, anh em Linh giữ kín, mẹ Hà hoàn toàn không hay biết.

Là người thân trong nhà, tôi được các cháu của Hà nhờ mời dùm đông đủ các bạn học cũ của chúng tôi từ thời ở Tuy Hoà về dự sinh nhật mẹ năm nay. Nhưng cũng chỉ tới giờ chót, mới được cho biết câu chuyện, mà còn nghe cháu Nga dặn đi dặn lại “không cho mẹ biết trước, nghe dì”.

*
Sinh nhật của Hà năm nay được tổ chức tại nhà cháu Linh. Tuổi sáu mươi sắp đến, nhưng Hà vẫn tươi tắn, rạng rỡ cùng các con chào đón các bạn cũ, bạn mới.

Trong phòng khách rộng lớn của ngôi nhà, bánh sinh nhật và các bàn ăn đã sẵn sàng. Đúng giờ phút định trước, ánh sáng thay đổi. Hà được mời đứng giữa Linh và Nhi, con trưởng và con út. Tất cả được thông báo bắt đầu những phút trân trọng nhất của đông đủ gia đình cùng ra mắt trong tiệc sinh nhật. Linh rời mẹ, trong lễ phục nghiêm chỉnh, bước lên mấy bước, cầm micro, hướng về phía mẹ Hà:
- Thưa Mẹ. Chúng con xin cám ơn Mẹ và tất cả bà con bạn bè có mặt hôm nay. Đây là lần đầu tiên đông đủ gia đình ta cùng mừng sinh nhật mẹ. Xin mẹ cho phép con có vài lời về gia đình chúng ta. Hơn bốn mươi năm trước đây, Sàigòn sụp đổ, miền Nam đổi chủ, bố chúng con phải đi tù cải tạo. Từ ngày ấy, tuy còn là đứa trẻ mới sáu bẩy tuổi, con vẫn không quên những ngày tháng mẹ vất vả, cực nhọc thay bố nuôi chúng con. Sau 6 năm tù đầy, trở về với gia đình không được bao lâu, mẹ lại phải cắn răng để Bố một mình ra đi và từ đó mất tích. Có tin chuyến tầu vượt biển có bố đi theo đã tan tành, không còn ai sống sót. Sau nhiều tháng vô vọng, mẹ lại một mình mang chúng con ra đi, lo cho chúng con thành người trên đất Mỹ. Đã 35 năm qua, hàng ngày, mẹ không ngừng cầu nguyện gia đình có ngày được đoàn tụ. Hôm nay, xin Mẹ quay nhìn sang phía trái...

Không chỉ Hà mà tất cả cùng nhìn theo hướng tay của Linh. Từ bao giờ, trên lối đi từ phía cầu thang, em gái Nga của Linh xuất hiện trong áo dài vàng rực, bên vai Nga là một người đàn ông cao gầy. Trong ánh nến bập bùng ven lối đi, cả hai đang bước ra. Từng bước. Từng bước chậm.
Cả sảnh đường bỗng im lặng tới mức nghe được từng hơi thở.

- Thưa Mẹ, Linh tiếp tục nói, em Nga đang cùng Ba bước về phía Mẹ. Hôm nay Ba đã trở về từ một nơi xa xôi để dự lễ sinh nhật của Mẹ và đoàn tụ với gia đình. Và thưa Ba, Mẹ và em Nhi đang chờ Ba. Thưa bà con, thưa các bạn, sau bao năm cầu nguyện, đây là lần đầu tiên Ba Mẹ chúng tôi chúng tôi thấy lai nhau. Cám ơn Trời Phật đã đáp ứng lời cầu nguyện kiên trì của bốn mẹ con mình.
Hai bố con Phong và Nga đã đến trước mặt mẹ con Hà. Họ đứng lặng nhìn nhau. Hà bước tới, tưởng như mình đang bước trong cơn mơ. Đúng Phong đây rồi, Phong bằng xương bằng thịt vẫn thường hiện ra trong giấc ngủ của nàng làm lệ ướt gối chăn. Dù có bao nhiêu nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt, dù có bao vết thương, vết sẹo trên thân thể chàng, dù Phong có bước đi chân thấp chân cao, đây vẫn là người chồng mà Hà một đời yêu thương mong nhớ và chung thủy đợi chờ. Họ lặng lẽ ôm nhau. Linh cũng đã lặng lẽ bước lại đứng cạnh bố mẹ và các em. Đúng là đông đủ cả nhà đang đoàn tụ. Cả sảnh đường đang im lặng bỗng cùng lúc vỡ òa. Rồi Phong sẽ nói, Hà sẽ nói, không biết bao lời chúc tụng sẽ được nói lên.

Ai bảo là “phước bất trùng lai?”

Cuối cùng thì bạn tôi sau những đau thương, mất mát khủng khiếp trong cuộc đời, bây giờ được đền bù xứng đáng.
Tôi trao cho Hà món quà sinh nhật của tôi tặng và Linh được yêu cầu đọc mấy dòng tôi viết trong tấm thiệp mừng bạn. Đó là mấy câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Tôi đã chép những câu thơ trên cho bạn tôi và viết thêm đoạn tường thuật này tặng chung các Bà Mẹ Việt Nam.

Lê Nguyễn Hằng


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Mon Jun 11, 2018 12:05 am



QUÁ CẢNH
Lưu Na


Cô rửa tay rồi băng qua hành lang ngắn để đến station 1.  Dưỡng đường cấu trúc như chữ H, với 2 stations một cho bệnh nhân dài hạn và một cho bệnh nhân ngắn hạn chiếm hai cạnh của chữ H, và hành lang ngắn kéo thêm ra một khúc dành cho bệnh nhân rối loạn thần kinh.  Cô là nhân viên thường trực của station 2 chuyên chăm sóc bệnh nhân ngắn hạn với vật lý trị liệu giúp tiến trình hồi phục, nhưng những ngày tăng ca cô sẽ đến phía nào cần. Hôm nay là lần thứ 2 cô qua dãy người già.

Ca chiều bắt đầu lúc 3 giờ, ngay sau ca làm việc chính của cô. Cô nhận danh sách bịnh nhân xong thì bắt tay với việc đi từng phòng thay tã hoặc tắm rửa cho các cụ theo lịch trình đã giao. Một trợ tá trông 10 bịnh nhân không phải dễ, nhưng quen việc thì đâu cũng vào đó. Y tá nhắc cô để ý đến một cụ bà vừa trở về từ bệnh viện tối qua. Bà bị nhiễm trùng đường tiểu, đã chữa hết nhưng phải cho uống nhiều nước và thay tã cũng như bôi kem thường xuyên. Cô vào phòng. Bà nằm giường trong, lọt thõm giữa đống chăn gối, chỉ thấy một mớ tóc rối tựa chỉ xám nhẹ như gòn lều phều nhô lên.
– Chào bác, cháu tên Phượng, hôm nay cháu sẽ chăm sóc cho bác nha.
- A, chào em, chà, em là người mới phải không?
- Thưa không, cháu làm bên dãy kế đã lâu nhưng hiếm khi qua bên này đó thôi.
- Mà sao thấy em quen quen…

Thì cô cũng thấy cụ quen quen mà chưa kịp nghĩ ra ai.  Cô cười cười dạ dạ, bắt đầu gỡ lớp chăn gối ra để chăm sóc cho cụ.
– Ấy, em đắp chăn lại cho tôi, lạnh quá.  Cái tiếng “ấy” làm cô giật mình. Năm tháng qua lâu rồi mà âm sắc của tiếng “ấy” vẫn làm cô thót ruột. Người xưa…  Cô nhẹ nhàng trấn an, vỗ về để bà cho cô làm việc.  Mọi hôm cô thay tã mặc quần áo cho bệnh nhân rất nhanh, mà hôm nay thì cứ như thợ vụng mất kim, quên đủ thứ làm lung tung. Cô không biết bao lâu nữa cụ sẽ nhận ra cô. Rồi cũng xong, cô lè lẹ chào cụ rồi đi ra.
Hai giờ làm qua đi như chớp mắt, đã đến giờ cơm. Cô vào phòng bế cụ vào xe lăn đẩy ra phòng ăn.

Cụ chỉ còn ăn được thức ăn xay nhuyễn. Thức ăn của dưỡng đường chắc chắn không vừa khẩu vị và đòi hỏi của cụ, cô thầm lo. Bây giờ ngồi cạnh để đút cơm cho cụ cô mới trả lời được cái lấn cấn vấn vương trong óc từ lúc đầu ca. Cụ chắc không nhận ra cô là ai, bởi những lúc cụ nhìn vào mắt cô mà nói chuyện thì cô chỉ thấy một đứa trẻ, dẫu tinh ranh nhưng vẫn chỉ là một đứa trẻ ngoan ngoãn há miệng nuốt từng muỗng cháo đặc. Không còn cái đòi hỏi cơm phải nóng phải tươi, không được cơm nấu sáng chiều ăn.  Cô cẩn thận xin phép cụ để đi lấy nước trà nóng, nhưng cụ cũng gạt phăng, em cứ cho tôi ly nước lọc đủ rồi… Cô nhận ra mình đã quá căng thẳng và chi ly cho một công việc đã làm không cần suy nghĩ trong 10 năm qua. Người đàn bà uy quyền và khắc nghiệt đã biến mất, mà con sâu cái kiến là cô vẫn dúm lại khi nhớ kiếp xưa.

Anh ta có thường vào thăm cụ? Cô tự hỏi và thầm lo. Cô ra bàn y tá hỏi thăm hồ sơ và hoàn cảnh của cụ.
– À, gia đình ở xa nên chỉ thỉnh thoảng vào thăm. Hình như ông con trai làm ở San Jose, đây chỉ có đứa cháu ghé vào một tháng đôi bận.
- Hình như con dâu không ưa cụ nên không chịu dọn về gần.
- Hồi mới vào đây cụ oán than lắm, mà chỉ mới vài năm giờ đã quên hết…
Cô lui bước chẳng còn biết phải cảm nghĩ gì. Cả nỗi oán hận thương tâm năm xưa dường chỉ còn là chuyện mơ hồ, dù cô cả đời không tìm lại được một chốn an bình để nương thân vì kỷ niệm cũ. Cô muốn hô vạn tuế thời gian mà chỉ dấy lên được chút ngậm ngùi trong cõi lòng trống lặng bấy lâu.

Khi mới xa anh, cô cũng bước thêm nhiều bước khác. Khởi đầu là một người đàn ông nhân hậu. Qua lại được 3 năm thì sắp đặt hôn nhân. Nhưng người đàn ông nhân hậu ấy muốn rước mẹ qua ở chung để phụng dưỡng vì mẹ đã cam lòng ở góa nuôi con. Người yêu kế thì chỉ một năm sau tuyên bố muốn cô làm nội trợ để chăm sóc nhà cửa chồng con mà thôi. Đến người thứ 3, cô giã từ sau vài tháng quen biết vì sợ cái viễn ảnh đại gia đình chung sống đề huề mà anh thường xuyên ca ngợi. Ở đời có bao nhiêu cái “ấy”?
- Ấy, để mẹ làm. Anh con đi làm về đã mệt lắm rồi mà còn phải rửa bát thì tội nghiệp quá.
- Ấy, con giúp mẹ cái chân một lúc rồi hẵng ngủ. Tuổi già mà vẫn phải cực nhọc sáng tối, con trai thì chỉ biết nghĩ đến vợ, đến tiền.
- Ấy, con để mẹ thái thịt rửa rau giúp cho, kẻo lấm tấm áo. Tặc, làm bếp thôi mà, đâu cần phải quá tươm tất.
- Ấy, mẹ mới gặp thằng Phong ngoài chợ. Nó cũng ở gần mình thôi, chắc con vẫn gặp nó thường nên biết mà.

Mỗi một cái “ấy” là mỗi lần vai anh hơi nhô lên, tấm lưng thẳng như buồm trước gió. Nhưng cái tên Phong gieo ra thì đầu anh quay về phía cô độ một phân một ly một sợi tóc nhưng mắt không chạm mặt không nghiêng, rồi tất cả chìm vào một thứ im lặng ngột ngạt nặng nề. Cô đợi anh hỏi một câu, cô đợi một ánh mắt nghi ngờ, cô đợi một cái chép miệng, cô đợi một sự dằn vặt, một cánh cửa sập mạnh. Chỉ một ngụm nước nhỏ hắt ra cửa, rồi là hòa bình yên tĩnh. Mọi góc nhà căng phồng hơi tĩnh lặng, cô phát giác mình chỉ thở lúc ra khỏi nhà đến sở, và mọi cử chỉ của mình khi trở về căn nhà ấy đều như những cái huơ tay không trọng lượng của kẻ đã dật dờ dưới đáy hồ sâu. Những tiếng “ấy” chỉ còn vang oa oa như âm thanh của sóng. Cô không còn nhớ mình ra đi lúc nào và cách thế nào.

Cô đã định sẽ từ chối sang cánh ấy, mà rồi vẫn gật đầu khi xếp hỏi.  Không biết nên mắng mình tham tiền hay ngu hay liều.
Bà vẫn vui vẻ như một đứa trẻ lên tám, cười khanh khách và trêu ghẹo trả với các bạn già quanh bàn ăn.  Cái khắc nghiệt đã bóc sạch đã rã ra tro bụi. Khi nào bà sẽ nhận ra cô?
Cô giơ muỗng lên, bà ngoan ngoãn há miệng. Từng muỗng từng muỗng, không cằn nhằn khiếu nại dở ngon, khóe miệng bên trái trễ xuống, thức ăn tràn ra ngoài cũng không còn biết vì bà đã bị liệt nửa phía bên ấy.  Cô cẩn thận lau mặt lau tay cho bà, rồi xoa má.  Bà cười hả hê như đứa trẻ sung sướng được nâng niu.  Bà vòi ra sát cửa để ngắm vườn hoa ngoài sân, cô vội vội đẩy bà đến chỗ rồi còn chạy vào lo cho các bệnh nhân khác.  Khi cô trở lại, bà đã ngủ gật trên xe lăn. Cô đẩy bà về phòng, khẽ lay xem bà có mở mắt.

- Em cho chị đánh răng đã chứ?
- Dạ, dạ, được ngay.
- Cô thật giống con dâu tôi.
Cô lóng cóng rớt ống kem đánh răng.
– Thật đấy, con dâu bác đẹp lắm. Giọng bà chợt đanh lại. Đẹp chỉ tổ hại, nhưng thằng con mình thì cũng chả ra gì.

Cô muốn khóc. Chắc bà buồn cô quạnh. Chắc bà tủi nỗi đơn lạnh không người viếng thăm. Nhưng dĩ vãng như làn chớp lóe trong tâm trí rồi tắt lịm, bà lại cười vu vơ sờ sờ tay áo mân mê cúc áo của cô.
– Cái áo đẹp quá, mai ta nhờ con mua cho ta một tấm, phải màu đỏ mới sang.
- Dạ được, thưa bác.
- Cám ơn.
Vừa dứt chữ bà đã nhắm tịt mắt ngã vào giấc ngủ.  Mớ chỉ rối màu xám nổi bật trên nền gối trắng, bồng bềnh theo hơi thở.

Mười một giờ đêm cô rảo vào phòng bà lần chót trước khi ra về.
– Con đấy à, vào đây mẹ nhờ một tí. Cô nghĩ thầm “ngày tàn của bạo chúa,” hồi hộp bước đến bên giường. Bà thức, mặt ráo hoảnh, mắt nhìn cô đăm đăm.
– Đã lâu không thấy anh con về thăm, hay hai đứa mày có việc gì?
- Khuya rồi sao bác không ngủ, nhắm mắt lại đi.  Bà ngơ ngác, chút lấp lánh nơi đáy mắt chợt tan biến.  Bà nằm yên hồi lâu vẻ suy nghĩ, cô thắc thỏm đợi chờ, rồi như tan bùa “tỉnh,” bà nhoẻn miệng cười nhe 2 nửa hàm răng gập ghềnh như rung rinh trước gió.
– Ố kề, thế bác ngủ nhá, cháu có thiếu chỗ thì cứ leo vào đây nằm chung với bác!!!
Cô bước những bước rã rời qua hành lang.

***

Điện thoại reo ầm ĩ, cô lè nhè trả lời.
–Dậy qua đây ăn sáng. Tám Xề hớn hở gọi, cô uể oải xuống giường. Cũng phải một giờ sau mới xà được vào căn nhà nhỏ với hàng rào trắng xinh xắn. Cô không nhớ đã bao lâu mình chưa ghé qua bạn.

Tám Xề mở cửa, cô bật cười. Mái tóc dài búi thành hai búi như Na Tra, mụ mặc cái váy đỏ với áo thun dài tay màu xanh navy và tấm tạp dề thêu hoa vàng kèm đường riềm nhún chung quanh, chân mang dép trắng.  Cả người mụ rực rỡ màu sắc. Không cần nhìn cô cũng biết trong bếp đang tưng bừng xoong nồi bốc khói trên bếp và thau rổ rau hành đang mờ mịt giăng nơi bồn rửa dưới những tia nước trong mát đầu ngày. Mụ thường chất lên người quần áo sặc sỡ và vung tay nấu nướng om sòm những khi bế tắc trong tâm hồn. Cô thong thả ngồi xuống bàn ăn la liệt giấy tờ bao bị đồ dùng và hoa!!

Mụ cầm cán chảo, cái chảo to và nặng của mấy ông đầu bếp trong nhà hàng Tàu, xốc xốc.  Lửa bốc cao theo khói trắng, chực với tới mớ đậu cô ve đậu hòa lan cà rốt bông cải trắng ớt đỏ ớt vàng đang tung trên cao theo những cái hất tay của mụ. Xong. Đổ ngay ra một đĩa xanh tươi sắc màu.  Mụ quay vù như bông vụ sang cái bàn bếp nhỏ kề, huơ dao phay, bụp bụp bụp.  Một đĩa heo quay không quay, mụ nhấn mạnh, cái này chiên trong chảo dầu sôi, thẩy ra bàn. Cô thò tay bốc một miếng. Dòn rụm. Mụ la làng chưa xong chưa xong, đừng vội. Lại vù một vòng tới bàn bếp xắt xắt gọt gọt băm băm, hất muỗng đường nặn miếng chanh, chấm chấm mút mút.

Xoay thêm vòng nữa, mụ quơ ra hai tấm đĩa trắng muốt, một cái khuôn sắt nhỏ hình trái tim.  Đặt khuôn lên đĩa mụ bắt đầu nhồi cơm vào khuôn.  Tích tắc, một trái tim trắng nằm gọn giữa đĩa.  Mụ bắt đầu gắp rau xào thắm sắc để một bên, heo quay dòn một bên.  Bây giờ mụ mới trình làng món chấm: một tô nhỏ nước mắm chanh đường pha đặc với chanh vàng chanh xanh thái hột lựu trộn với những lát ớt đỏ, những vòng xả bào ngà xinh, tỏi trắng bằm nhuyễn, và một muỗng mè rang vàng rắc bên trên.  Bát nước mắm trở thành món chủ đạo trên bàn ăn nóng sốt.
Cô cà khịa:
- Cái này đâu phải ăn sáng?
- Bồ ngủ trưa đến toét cả mắt thì phải ăn bữa lỡ chứ còn sáng với suốt gì.

Cô hùng hổ tấn công các món ăn, nhưng mụ chỉ chậm chạp rỉa tí chút.  Không cần hỏi, cô biết con thú hoang đang tự liếm láp vết thương của mình.  Hỏi, chỉ thêm buồn với nhau.  Cô nhìn những sợi tóc rối vương bên trán mụ thầm nghĩ đến mớ chỉ xám rối của bà cụ trên giường gối nhà dưỡng lão.  Tóc sợi buồn chẻ xuống hồn xưa…
– Cứ để đó, lát nữa dọn, mình ra vườn chơi. Mụ phán khi cô buông đũa.
Cây mãng cầu đã lớn, những tấm lá mướt xanh xuôi xuống như thảm lá dựng.  Hai cái xác héo ngồi bên nhau ngắm trời xanh.
– Tục tục tục, co..óot. Trời đất, gà, mụ nuôi gà. Cô lõ mắt nhìn mụ đang bập bập miệng,
– Đô Đô, Đô Đô…

Một chị gà mái nâu tà tà bước tới, cô còn nghi ngại không rõ nó biết nghe tiếng người chăng thì chị ta xà tới đứng bên cạnh để mụ luồn tay xuống cánh cào cào xoa xoa. Được hai phút, mụ vỗ hông chị Đô đô như mẹ phát vào mông con, thôi đi đi. Đô Đô rõ ràng hiểu, nó tà tà bước xéo.  Cô chưa kịp hết ngạc nhiên thì một chị gà khác tới. Chị này mới oách.  Hai cổ chân chị xòe hai vòng lông gần phết đất, chị bước những bước chầm chậm oai vệ nhưng đầu nghiêng một bên và rõ ra một chân cà nhắc.
– Đây là Survival. Tớ cho nó tên đó vì nó thoát móng chồn hoang rạng sáng nhảy qua tường vào bắt gà. Chết mất 2 con, còn con này tớ ra kịp cứu được nó nhưng gãy một chân và mù mắt trái. Mụ lại xoa xoa vuốt vuốt rồi lại vỗ mông đẩy ra.
Cô cười thú vị vương chút băn khoăn. Mụ muốn chiêu dụ Tư Đục về lại nơi này, hay là tìm quên nỗi tang thương của hai kẻ hai phương dù chỉ cách nhau hơn một giờ xa lộ?

Cô lẩn thẩn nghĩ đến bà, đến đời người như củ hành tây.  Thêm một cảnh đời là thêm một lớp cay mắt hăng mũi, rồi đến lúc nào đó củ hành tây không còn có thể thêm một lớp nào nữa cả thì thời gian lại ngược vòng bóc đi từng lớp tuổi đời của củ hành khô. Bà chỉ còn là cô bé ngây thơ rắn mắt, sống trong thiên đàng vô ưu. Bà véo von hát Hai Mươi Bốn Giờ Phép rồi cười cười tay chỉ xuống lòng bảo “cái vũng tuyệt vời thì chỉ là cái vũng này chứ có gì đâu.” Cô không còn lo bà nhận ra mình vì ý thức chỉ về với bà trong một vài phút rồi tan biến và bà lại cười khanh khách vô tư. Cô cũng không còn lo đụng mặt lúc anh đến thăm bà. Một lần nữa anh đã lỡ niềm hạnh phúc, được cận kề vui với tuổi của mẹ cha. Ngày nào đó bà sẽ trở về cái nguyên thủy của loài người, một mầm sống trong mênh mông vô tận, có muốn cũng chẳng còn dịp. 

Một ngày nào đó khác, cô cũng sẽ vô ưu. Hạnh phúc khổ đau, nhân hậu khắc nghiệt, đạo đức ác gian, trí thức bần cùng…, từng chặng – mọi chặng đời đã qua sẽ qua đều chỉ là quá cảnh phút giây của chuyến tàu sự sống. 
We are only passing through. Người xưa, thôi hãy xưa.

Lưu Na
05242018
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Fri Jun 15, 2018 5:45 pm



MỐI TÌNH QUA NHỮNG BỨC THƯ
O. H. Leslie (Mỹ) 

Sáng hôm thứ bảy ấy, khi nghe tiếng chuông cửa, Margaret Lowen vén rèm cửa sổ thì thấy khách đến thăm bà là một người đàn ông. Bà đã quấn tóc vào lô, bà không trang điểm, và chiếc áo bà mặc trên người chỉ cốt thoải mái chứ không đẹp. Nhưng Margaret đã nhiều tuổi nên bà không quan tâm đến hình thức bên ngoài nữa. Năm mươi ba năm sống trên đời đã dạy bà biết thế nào là sự ngu ngốc của thói huênh hoang.

Bà ra mở cửa. Người đàn ông hấp háy mắt, vẻ kinh ngạc:
- Đây là nhà bà Lowen?
- Vâng.
Đó là một người đàn ông béo tròn, ánh mắt trông như ngái ngủ. Ông ta cầm trong tay một chiếc phong bì dày cộm.
- Bà là Margaret Lowen?
- Chính tôi đây.
Người đàn ông tự giới thiệu:
- Tôi là trung uý Berger, ở đồn cảnh sát quận 8. Sau khi ông ta giơ ra tấm thẻ, bà để ông ta vào nhà.
- Ông cần gì, thưa ông trung uý?
- Tôi làm phiền bà một chút thôi, thưa bà. Có phải người ta vẫn gọi bà là Margie?
- Không! – Bà ta tức giận đáp.
- Xin lỗi, nhưng tôi muốn hỏi một phụ nữ vẫn được gọi là Margie Lowen kia, cũng ở địa chỉ này.
- À, đó là cháu gọi tôi bằng bác. Nó là con của em trai tôi. Cậu ấy rất quý tôi nên đã lấy tên tôi đặt cho con gái. Ông cần gì nó?
- Cháu gái bà cũng ở nhà bà chứ thưa bà?
- Vâng. Nhưng giờ nó không có ở nhà. Nó đến nghỉ cuối tuần ở chỗ chị tôi. Có chuyện gì vậy?
Bà mời viên cảnh sát vào phòng khách.

Vừa ngồi xuống, ông ta đã rút từ phong bì ra một xếp giấy.
- Xin hãy nói cho tôi đôi điều về cháu gái bà, thưa bà Lowen. Cô ấy ở nhà bà đã lâu chưa?
- Khoảng 6 năm rồi. Từ khi bố mẹ nó bị giết. Tôi coi nó như con vậy.
- Cô ấy bao nhiêu tuổi?
- Tháng ba tới nó sẽ tròn hai mươi ba tuổi.
- Điều tôi sắp nói có thể làm bà bị đột ngột và khó chịu. Nhưng tôi đành phải nói thôi. Thưa bà, chừng hai năm nay cháu gái bà bắt đầu trao đổi thư từ với một kẻ tên là Raoul Collins… Bà có biết chuyện đó không?
- Không. Nhưng…
- Có lẽ gã Raoul Collins ấy tìm được tên của cháu gái bà qua sự trung gian của một câu lạc bộ làm quen. Rồi hai người viết thư cho nhau đều đặn. Điều đáng buồn gã Collins ấy đang bị tù.
- Sao kia?
- Xin lỗi bà, nhưng đó là sự thật. Còn ít tuổi gã đã nhập hội với bọn xấu và đã giết chết một người trong khi ăn trộm một cửa hàng áo lông thú. Lẽ ra gã phải lên ghế điện, những vì tuổi quá trẻ gã chỉ bị tù chung thân. Bây giờ gã mới chưa đến ba mươi tuổi. Ngồi tù buồn chán, gã mới thư từ này nọ đó mà…
- Tôi không tin – Margaret Lowen kêu lên – Margie không dính líu với loại người đó.
- Thưa bà, chắc hẳn chuyện này có một khía cạnh mơ mộng. Ông ta cúi xuống lật giở mấy tờ giấy trên đầu gối.
- Chúng tôi tìm thấy tất cả những thư này trong xà lim của Collins. Các bức thư của cháu gái bà. Và tấm ảnh này nữa. Ông ta giơ tấm ảnh ra:
- Đây có phải cô Margie không ạ?
- Đúng, nó đấy… - Bà hãy đọc thử một, hai bức thư ở đây xem.
Margaret cầm lên một bức.
“Raoul yêu quý. Anh nói rằng anh sẵn sàng bỏ hết mọi thứ trên đời để được ở bên em. Em cũng muốn như anh vậy. Giá có cách gì để ước mơ của đôi ta được thực hiện, dù em có phải hy sinh đến mấy trong khi chờ đợi, các lá thư của chúng ta sẽ lấp đầy khoảng trống. Chúng ta có thể mơ ước và sống với tình yêu của chúng ta bằng lời lẽ, cho dù từ ngữ chưa chắc đã diễn tả hết tình cảm nồng cháy của chúng ta.”

Margaret đặt bức thư xuống và nói:
- Tôi không tin Margie lại đẩy sự việc đi xa thế này. Nó chín chắn lắm cơ đấy. Và hơi kín đáo nữa. Nhưng rất biết điều. À, mà sao ông lại đến đây?
- Chiều hôm thứ năm vừa rồi, Raoul Collins đã cầm đầu một cuộc vượt ngục tập thể. Hai tù nhân bị giết, nhưng gã trốn thoát.
- Thật khủng khiếp…
- Collins cần tiền, cần một chốn nương thân. Gã không có gia đình. Cho nên có thể gã sẽ tới thẳng đây…
Margaret cảm thấy tim đập thình thịch.
- Thế thì kinh quá! Chúng tôi biết làm thế nào đây?
- Bà đừng sợ. Gã đến đây tìm kiếm một đồng minh, chứ không phải một kẻ thù. Bà cứ bình tĩnh thì sẽ không có gì đáng ngại. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ bố trí người quanh đây hy vọng sẽ bắt được gã trước khi gã vào nhà.
- Nhỡ không bắt được?
- Nếu gã vào gặp được bà, bà chỉ cần gọi số này. Ông ta rút từ trong túi một mảnh giấy ghi số điện thọai. - Chỉ vài giây sau chúng tôi sẽ có mặt. Chúng tôi sẽ rất biết ơn bà đã giúp đỡ.
Đã ra đến cửa, viên cảnh sát dừng lại.
- Còn điều này, ở địa vị bà, tôi sẽ không cho cô cháu gái biết chuyện này. Cô ấy có thể hành động… thiếu thận trọng.
- Vâng, thưa ông. Tôi không muốn bất cứ chuyện gì xấu xảy ra với Margie. Nó chiếm một khoảng quá lớn trong tim tôi…
- Tốt lắm, vậy xin tạm biệt bà.

Sau khi viên cảnh sát đã đi, Margaret đi tới siêu thị gần đó mua một số thứ cần thiết. Công việc quen thuộc đó giúp bà giải thoát được những ý nghĩ lo lắng. Về nhà, bà để nguyên quần áo ngủ một giấc cho đến lúc chuông đồng hồ điểm sáu tiếng.
Khoảng bảy giờ, trời tối, bà cảm thấy sờ sợ. Nhiều lần bà vén rèm nhìn ra phố và tưởng tượng có những cảnh sát đang nấp sau các thân cây và bụi cây, nhưng bà không trông thấy ai.
Tám rưỡi tối, khi bà nhìn màn ảnh ti- vi mà chỉ thấy các hình ảnh cứ loáng thoáng chứ bà chẳng hiểu gì, bà tưởng như chuyến viếng thăm ban sáng của viên cảnh sát chỉ là một giấc mộng. Đúng lúc ấy bà nghe có tiếng động ở tầng hầm. Bà tắt tivi và nhìn chăm chăm về phía đó. Lát sau, bà thấy quả đấm cửa xuống tầng hầm hơi xoay, rồi cánh cửa hé mở, một bóng người xuất hiện. Đó là một người còn trẻ, tóc xén ngắn, râu rậm, môi mỏng.
Anh ta khẽ nói:
- Tôi không có ý định làm hại bà, thưa bà. Bà hiểu chứ? Cho nên bà đừng sợ. Nếu bà không kêu lên, mọi chuyện sẽ tốt đẹp.
- Ông… ông muốn gì?
- Bà biết rõ tôi muốn gì. Bà là bác của Margie, đúng không? Bà phải biết mọi chuyện chứ…
- Margie không có đây, - bà đáp bằng giọng yếu ớt.
Anh ta lại gần nắm lấy khuỷu tay bà.
- Chúng ta sang phòng khác đi. Anh ta đưa bà sang gian phòng vẫn dành cho khách ngủ lại và bảo bà ngồi xuống ghế. Rồi anh ta áp người sát tường, quãng gần cửa sổ, để quan sát đường phố.
Yên tâm, anh ta tới đứng khoanh tay trước mặt bà:
- Margie đâu?
- Ông hỏi làm gì?
- Tôi cần biết cô ấy đâu.
- Hãy để cháu gái tôi được yên!
- Nghe đây, thưa bà. Tôi rất vội. Tôi cần gặp Margie ngay.
- Margie không có ở đây. Nó… nó ở chỗ các bạn nó.
- Bạn nào? Ở đâu?
- Tôi không biết!
Anh ta đứng trước mặt Margaret, vẻ đe doạ. Nhưng rồi giọng anh ta dịu xuống:
- Xin hãy nghe tôi, bà cần hiểu những gì hiện đang có giữa Margie và tôi. Tôi thề là tôi không muốn làm hại cô ấy. Tôi chỉ muốn gặp và nói chuyện với cô ấy thôi. Bà cần giúp đỡ tôi, thưa bà.
- Tôi đã bảo là tôi không biết nó ở đâu mà!

Anh ta tức tối đi đi lại lại, hình như anh ta không biết phải đối xử thế nào với bà bác của người con gái anh ta yêu. Ánh mắt anh ta dừng trên tấm ảnh đặt ở bàn.
- Cô ấy xinh đẹp quá…
Margaret nuốt một tiếng nức nở:
- Ông hãy để cho nó được yên! Đúng là ông chưa biết nó đâu… Nó chỉ là một đứa trẻ con…
- Tôi biết tất cả những gì tôi cần biết. Anh ta trở lại phía bà vẻ thô bạo. - Bà có biết tôi bị bắt năm bao nhiêu tuổi không? 17 tuổi! Và tôi đã ngồi tù bao nhiêu năm không? 11 năm!
Bà quay đi, nhưng anh ta túm lấy vai bà bắt bà phải chịu đựng cái nhìn của anh ta.
- Bà có biết ở trong tù người ta có thể cảm thấy cô đơn đến mức nào không? Xung quanh có hàng nghìn kẻ như mình… nhưng người ta vẫn cô đơn. Bà có biết hậu quả của nỗi cô đơn ấy không?
- Tôi biết! – Bà nói một cách tuyệt vọng. - Tôi biết!
- Bà tưởng bà biết đấy thôi. Thực ra, bà chẳng biết gì cả. Margie đã cho tôi một số điều mà…

Nản lòng, anh ta buông vai bà và tiến về phía cửa sổ buồn rầu nhìn ra ngoài.
- Thôi được, - Margaret nói bằng một giọng không âm sắc.
- Sao?
- Được… tôi… tôi sẽ gọi Margie. Nếu quả thật ông muốn thế.
Mặt anh ta rạng lên. Margaret đứng dậy và như trong mơ; bà ta quay số điện thọai bà đã nhẩm mãi đến thuộc lòng.
- Trung uý Berger đây, - tiếng ở đầu dây đằng kia nói.
- A-lô, tôi là bác của Margie… Ở nhà có người muốn gặp nó.
Ngay lập tức…
- Collins đang ở chỗ bà phải không? Nếu đúng thế, bà chỉ việc trả lời “vâng”.
- Vâng, vâng. - Bà hãy giữ gã lại. Chúng tôi sẽ có mặt ở đó trong vòng một phút.
- Tốt lắm. Vâng, tôi hiểu.

Vừa đặt ống nói xuống, bà suýt hét lên vì cảm thấy một bàn tay nắm cánh tay mình. Quay lại, bà thấy sát mặt bà là gương mặt đầy râu ria của Raoul Collins, hai mắt anh ta trợn lên tức giận.
- Bà đã gọi cảnh sát.
- Không…
- Nói dối! Tôi hiểu rồi. Đây là một cái bẫy!
- Tôi van ông, - Margaret nói bằng giọng nức nở, - ông hãy đi khỏi đây đi, chúng tôi không thể làm gì được cho ông đâu… Mà họ sắp tới rồi đấy…
- Vậy là bà thú nhận rằng bà đã gọi cảnh sát!
Anh ta điên cuồng xông vào Margaret. Bà hét lên một tiếng chạy sang phòng bên. Anh ta đuổi theo, nhưng khi anh ta túm được bà, thì bà đã cầm trong tay chiếc đài cắm nến bằng bạc. Bà dứ dứ vũ khí ấy để tự vệ thôi, nhưng trong cơn tức giận anh ta lao thẳng vào bà nên bà buộc phải giáng mạnh một cái. Raoul Collins gục xuống. Tóc anh ta bê bết máu.
Trong một phút bà đứng lặng người ở phía trên anh ta, cố trấn tĩnh lại. Rồi bà không thể chịu thêm nữa. Bà quỳ xuống ôm lấy đầu anh ta trong đôi cánh tay gầy, để mặc cho nước mắt chảy giàn giụa.
- Tình yêu của tôi, - bà rên rỉ. – Tình yêu tội nghiệp của tôi…

Mãi quá nửa đêm, cảnh sát mới rời khỏi nhà bà. Các sự việc đã làm Margaret kiệt sức, nhưng nhu cầu viết thư mạnh hơn cả sự mệt mỏi. Bà cầm lấy tấm ảnh cô cháu gái, tấm ảnh mà bà đã gửi cho Raoul Collins cách đây hai năm, và xé vụn ra.

Rồi ngồi vào bàn, chọn một tờ giấy xanh nhạt và viết:
Raoul yêu quý,
Bác gái em vừa cho em biết sự việc xảy ra, em rất đau khổ thấy anh phải chịu một thử thách kinh khủng như thế. Nhưng liệu anh có cho em là nhẫn tâm nếu em thú thật với anh đôi điều? Em sung sướng lắm, Raoul. Em sung sướng vì cuộc vượt ngục điên rồ của anh không thành và anh lại quay về nhà tù.
Em sung sướng vì chúng ta lại có thể viết những bức thư này, lại có thể trao đổi những bức thông điệp này của tình yêu và lòng trìu mến xiết bao quan trọng trong cuộc đời của hai chúng ta.
.  
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Thu Jun 28, 2018 7:05 pm



Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng
Truyện ngắn Nhất Linh (1935)


(Tặng tâm hồn Bồ Tùng Linh, tác giả Liêu Trai)
Câu Truyện Mơ Trong Giấc Mộng của cố Văn Hào Nhất Linh.
Đã được đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 10, in tại Hà Nội năm 1935

Một đêm trăng mờ trên sông Thương. Con thuyền lờ đờ trôi bên cạnh một dãy lau cao, gió thổi qua xào xạc. Sinh ngồi dựa vào mạn thuyền, đôi mắt mơ màng nhìn một thiếu nữ tóc trần, mặc áo lụa trắng, đương ôm vào lòng một cây đàn hờ hững gảy vài tiếng rời rạc. Một cơn gió mạnh thoảng qua. Sinh hỏi thiếu nữ:
– Ở giữa sông, mà lạ thật, có mùi hoa nhài thơm lạ?

Thiếu nữ nghiêng đầu để Sinh nhìn rõ trên mái tóc mấy bông hoa nhài trắng cài trong làn tóc đen, rồi thiếu nữ đăm đăm nhìn nước trôi cạnh thuyền như muốn ôn lại trong trí những việc xảy ra từ thời quá khứ ra xa xăm. Một lát thiếu nữ thở dài, buồn rầu nói:
– Em thích nhứt hoa nhài… vì hình như kiếp trước đời em là đời hoa nhài.
Sinh cười nói đùa:
– Tuyết của tôi có linh hồn một nhà thi sĩ
Tuyết nghiêm nét mặt:
– Em không nói đùa đâu. Anh không thấy người ta vẫn bảo hoa nhài là một bông hoa đĩ, vì hoa nhài chỉ nở ban đêm, thế mà đời em – em nói ra cũng không hỏi thẹn gì – là đời một gái giang hồ.
Rồi nửa buồn rầu nửa đùa cợt, Tuyết cất tiếng hát:
Ngẫm xem hoa ấy thân này…

Tuyết đặt đàn ngồi sát lại gần Sinh:
– Anh muốn tin hay không tin tuỳ ý anh, nhưng em thì em cho đời em với đời hoa nhài có liên lạc với nhau. Mà người ta bảo hoa nhài là một thứ hoa đĩ, thật đúng lắm. Để em kể anh nghe lại cái hồi em mới bắt đầu bước chân vào cuộc đời giang hồ này:
“Năm ấy em mới mười sáu tuổi. Một đêm nhà vắng, cũng về mùa hè, có cả trăng mờ như đêm nay. Em nằm một mình ở ngoài hiên cho mát và vơ vẩn nhìn ra ngoài. Bỗng em thấy trên cái sân gạch rộng, lờ mờ dưới bóng trăng hiện ra ba người con gái mặc toàn đồ trắng, nhẹ nhàng đi lướt qua sân. Em thấy làm lạ, vì trong nhà, ngoài em ra, không có một người con gái nào khác nữa. Em ngồi nhổm dậy nhìn ra thì thấy ba người con gái đi đi lại lại chơi bời cười nói trên sân coi như nhà của họ. Em ngạc nhiên bước ra sân, toan hỏi, thì cả ba cô con gái cùng đến xúm lại bên em, cầm tay em tỏ nỗi mừng rỡ, rồi bảo em:
– Chị Tuyết đây rồi! Chúng em tìm chị mãi.
Thấy em ngạc nhiên, một cô hỏi:
– Chị quên chúng em rồi sao? Sao mà chóng thế. Bạn cũ của chị đây mà, chị nhớ ra chưa?

Thế là từ lúc ấy, em mang máng nhớ dần ra rồi, em thấy hình như có gặp họ ở đâu nhiều lần rồi. Em chỉ nhớ mang máng thế thôi, chưa kịp nghĩ ngợi gì cả, thì ba cô đã cầm tay em kéo đi, vừa đi vừa nói chuyện, nói chuyện lâu lắm, nhưng em không nhớ nói những chuyện gì. Lúc đi với họ, em thấy trong người nhẹ nhõm và quanh người lúc nào cũng phảng phất một thứ hương thơm ngát, nhưng không đoán ra được là thứ hương gì. Bỗng một cô nói:
– Thôi khuya rồi, xin từ biệt chị.
Rồi cả ba cô sát lại người em, ôm lấy em: em thấy hoa cả mắt, cả hương thơm ở người ba cô bạn làm em choáng váng, tê mê, thiêm thiếp đi một lúc. Khi tỉnh dậy thì cả ba cô đi đâu mất và khi em giơ vạt áo lên thì thấy đẫm mùi hoa nhài. Có tiếng cười khúc khích. Em giật mình thức dậy mới biết là mình vừa nằm mê.
Em quay mặt ra ngoài cho tỉnh hẳn, thì thấy ngay ở đầu phản bên gối em, ba bông hoa nhài trắng và to vừa mới nở, gió thổi chùm lại với nhau và quay cả về phía em nằm, hương thơm đưa thoang thoảng”.

Sinh cười bảo Tuyết:
– Nằm bên hoa, ngửi thấy mùi hoa mê như thế là thường.
Tuyết nói:
– Anh để em kể hết đã… “Từ lúc ấy trở đi, em thấy em đổi khác hẳn, rồi ngay ngày hôm sau, em gặp một chàng trẻ tuổi, em mê người ấy, và từ đó, thân em không còn là thân một cô con gái mười sáu tuổi trong sạch nữa. Em trở về thì mấy bông hoa hôm trước, cánh đã héo tàn, vàng úa. Bắt đầu từ đó, em bước dần mãi vào con đường nhơ nhuốc… cho đến ngày nay. Nhiều lúc em muốn trở về với cái đời trong sạch kia, nhưng không thể nào được nữa, hình như có một sức mạnh vô hình bắt em phải sống, phải mãi mãi sống cái đời khốn nạn này”.

Tuyết nhắc cây đàn lên gẩy xong bài Xuân Nữ Thân, rồi cúi mặt buồn rầu, hai bên má nước mắt chảy ràn rụa. Muốn khuây buồn cho người bạn một đêm, Sinh giơ tay khẽ rứt mấy bông hoa nhài ở mái tóc Tuyết, rồi cầm vứt xuống sông. Hai người cùng nhìn theo mấy bông hoa trôi theo giòng nước. Một cơn gió thoảng qua, Sinh nói:
– Để làm gì cái bông hoa ấy nó quấy rầy cuộc vui của hai người đêm nay. Hết hoa, một cơn gió qua là hết cả hương thơm ám ảnh…
Tuyết mỉm cười chua chát:
– Hết thế nào được. Cái hương ấy nó đã thấm sâu vào da thịt em, nó đã tắm cả linh hồn em, gió nào thổi cho sạch được.

Mặt trăng lộ ra, trời sáng hẳn. Tấm áo của Tuyết đã trắng lại trắng thêm, nổi hẳn lên trên nền lá sậy đen. Bỗng Sinh chăm chú nhìn vào mặt Tuyết, và ngạc nhiên thấy mặt Tuyết dưới ánh trăng mỗi lúc mặt trắng dần… trắng như mầu trắng của một bông nhài mới nở. Chàng ngạc nhiên hơn nữa, khi một cơn gió thoáng qua đưa lại phía chàng mùi hương nhài thơm nức như ở trong áo Tuyết bay ra….

Sinh dụi mắt. Lúc bỏ tay ra, thì thấy ánh sáng soi vào giữa mắt mình và thấy mình nằm trên cái ghế mây giải ở đầu hiên nhà. Lúc đó Sinh mới hay rằng mình mới vừa nằm một giấc chiêm bao. Thấy lẫn trong gió có mùi thơm hoa nhài, Sinh quay mặt nhìn ra: ngay ở đầu ghế, một cánh nhài gió thổi hắt về phía chàng để lộ ra trong đám lá một bông hoa nhài mới nở trắng nuột dưới ánh trăng. Hương thơm vẫn thoang thoảng và bông hoa rung rinh trước gió, Sinh tưởng tượng như đương còn thì thầm kể lại câu truyện chàng được nghe trong giấc mộng.

Nhất Linh
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sat Jul 07, 2018 10:06 pm



Đợi Chờ
Truyện ngắn Khái Hưng


(Truyện ngắn này được đăng lần đầu tiên trên Tuần Báo Ngày Nay số 17, in ngày chủ nhật 19/ 07/ 1936 tại Hà Nội)

Cây im, sông lắng đợi xuân về
Thế Lữ

Linh cho ngựa phi nước kiệu lớn, qua dặng đồi cỏ tranh, hấp tấp, vội vàng như người đi đâu có việc gì cần kíp.

Tới chỗ sông Thương lượn khúc chảy ven đường Bố Hạ, quanh một quả đồi rộng trồng cam, Linh kìm cương, nhẹ nhàng nhẩy xuống đất, buộc ngựa vào một cây trẩu trụi gần hết lá. Đã một tuần nay, từ khi cam bắt đầu rám đỏ, sáng sáng, dùng xong bữa điểm tâm sơ sài, Linh lên ngựa đi thăm lấy lệ mấy nơi vừa phá hoang trồng chè, rồi phi thẳng tới đây ngồi đợi.

Chàng đợi người năm ấy. Sự mong mỏi làm rạo rực lòng chàng và như man mác cả linh hồn vạn vật.
Vì có lúc ngắm cảnh quanh mình, chàng thấy những khóm cây yên lặng nghiêng mình trên bờ cao, soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lá sắc và nhọn với hàng bông trắng đứng im tăm tắp và loáng thoáng lẩn trong không. Cả những làn mây nhạt đương lững thững trôi trên ngọn đồi xa cũng ngập ngừng dừng lại. Hình như cùng chàng mong ngóng người xưa, cỏ cây, mây, nước cũng trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Tiếng chim sơn ca hót trong cỏ rậm. Linh giật mình quay nhìn theo con đường đỏ, và cảm thấy tất cả nỗi thất vọng của một tấm lòng vơ vẩn đợi chờ…
Nhưng qua giậu nứa đan mắt cáo, màu vỏ cam mới rám hồng vẫn nhắc nhỏm gợi nhớ nhung.

*
**

Cách đây hai năm, và cũng trong tháng chạp. Một hôm cưỡi ngựa đến bên sông thăm vườn cam sắp trẩy, Linh gặp một chiếc ô tô đỗ cạnh đồi. Tưởng đó là xe khách đến chơi và tài xế không biết lối vào trong ấp, Linh cho ngựa lại gần, nghiêng mình nhòm qua cửa xe. Trong xe, một bà ngót năm mươi tuổi và một thiếu nữ đầy đặn nở nang, nước da hồng hào rám nắng, mà thoạt trông chàng ví ngay với màu da cam bắt đầu rám chín dưới luồng gió heo may.
Chàng ngồi thẳng người lên, lễ phép nói:
– Xin cụ tha lỗi cho, tôi tưởng bạn đến chơi.
Nhưng thiếu nữ rất lịch thiệp đã thò đầu ra ngoài mỉm cười đáp lại:
– Thưa ông, me tôi không dám. Vả lầm thì ai chả có khi lầm.
Câu trả lời, Linh cho là vô vị. Song nụ cười tình tứ điểm theo, chàng ngắm thấy ngọt như mật ong, thơm như hoa cam sành mới nở, và có mãnh lực làm cho chàng lúng túng mất vài giây. Sự lúng túng ấy chàng che đậy bằng một câu hỏi, giọng run run:
– Thưa cô, xe liệt máy?
Nụ cười càng tình tứ hơn, tuy đôi lông mày bán nguyệt tô thêm chỉ hơi díu lại một cách rất nũng nịu, dễ yêu.
– Thưa ông, xe không chết máy, nhưng hết dầu xăng.
– Vậy ý hẳn bác tài đi mua dầu xăng?
– Không, anh ấy đến hàng nước kia hỏi xem có thể mua lại ở đâu được vài lít xăng để đủ chạy từ đây đi Kép. Vậy thưa ông, ông có biết thì xin ông làm ơn bảo giùm cho.
Linh mỉm cười:
– ồ! Tưởng hỏng máy, chứ nếu chỉ hết dầu xăng, thì tôi xin biếu cụ và cô.
Bà cụ sung sướng vội hỏi.
– Thưa ông, nhà ông ở gần đây?
– Thưa cụ, cũng không xa. Đây là đồn điền của tôi.
Thiếu nữ vẻ mặt ngạc nhiên.
– Đồn điền của ông? Chắc là rộng lắm!
– Thưa cô, cũng không rộng lắm, độ hai nghìn mẫu thôi.
Thiếu nữ mở cửa xe bước xuống, gọi:
– Anh tài!
Tức thì một người vận âu phục màu vàng từ trong hàng nước cạnh bến phà đi lại. Linh xuống ngựa, nói:
– Bác cưỡi ngựa theo con đường này vào ấp bảo người nhà tôi đưa cho một bi đông ét xăng, rồi cầm ngay ra đây…
– Thưa ông, cháu không cưỡi ngựa bao giờ.
– Chà, khó gì!
Linh ngẫm nghĩ một giây rồi chép miệng nói tiếp:
– Thôi được, để tôi đi lấy cho.
Thiếu nữ vội gạt:
– Chết thế thì phiền ông quá!
Nhưng Linh đã nhẩy lên lưng ngựa, dựt cương ra về, và nháy mắt, chàng đã biến vào trong cỏ tranh cao, rậm.

*
**

Lúc trở lại, Linh chỉ thấy người tài xế nằm ngủ trên nệm xe. Chàng dừng lại ngồi thở, trời rét, cái áo lót của chàng ướt đẫm mồ hôi, vì chàng đã cho ngựa phi mau quá.
Bỗng có tiếng cười nói trong vườn cam. Linh vội vàng cởi bỏ vào trong xe cái bi đông dầu xăng buộc sau yên, rồi cho ngựa thong thả lên đồi. Tiếng thiếu nữ nói qua hàng giậu:
– Chúng tôi đương đợi ông ra để xin ông một quả cam.
Linh hấp tấp rẽ cương qua cửa vườn.
– Thưa cụ, cam ở đây còn chua lắm, chưa ăn được. ở trong ấp có một ít đã thực chín rồi và ngọt lắm, xin mời cụ và cô quá bộ vào chơi.
Bà cụ từ tạ:
– Xin cảm ơn ông, chúng tôi xin về… Ông đã cho chúng tôi vay dầu xăng?
Linh buồn rầu đưa mắt nhìn thiếu nữ:
– Thưa cụ, có dầu xăng rồi.
– ồ! thế thì may quá. Cảm ơn ông quá. Không có ông giúp thì mẹ con tôi chẳng biết làm thế nào mà về được đến nhà.
– Thưa cụ, ấp cách đây có hơn hai cây số, xin mời cụ quá bộ vào chơi. Thưa cụ, tôi ở nơi hẻo lánh này chẳng mấy khi được hân hạnh đón tiếp khách quý.
Thiếu nữ nể lời ân cần mời mọc của chủ ấp, áy náy nhìn mẹ:
– Thưa me, hay là me vào chơi một lát cho ông chủ bằng lòng. Vào ăn quả cam Bố Hạ rồi lại đi ngay.
Quay về phía Linh, nàng mỉm cười, láu lỉnh nói tiếp:
– Rồi ông để chúng tôi đi ngay nhé?
Linh, trên mặt lộ đầy vẻ biết ơn:
– Xin vâng.
– Vậy vào nhé, me nhé?
Bà mẹ mắng yêu con
– ừ thì vào. Gớm chết! Cô Phụng đi đâu cô cũng la cà hết ngày hết buổi.
Linh sung sướng chạy vội ra cửa vườn gọi tài xế.

*
**

Một giờ sau, Linh đưa Phụng đi xem khắp vườn cam, quýt, trong khi bà mẹ ngồi nghỉ bên lò sưởi, vì đứng ở ngoài lâu chân tay bà rét buốt.
Nhờ có một nền giáo dục lịch thiệp nhận được ở trường học và ở một gia đình theo lối mới Phụng đối với ông chủ ấp không chút ngượng ngùng, e lệ. Nàng cười nói dễ dàng, hỏi nhiều câu mà Linh phải lấy làm kinh ngạc, tưởng các cô thiếu nữ không bao giờ dám nghĩ tới.
Đến một gốc quít cỗi, nàng ngắt một quả rồi vờ quay đi ăn vụng. Nhưng nàng quay lại ngay, phá lên cười và kêu:
– Bắt lấy con ăn cắp quýt cho tôi!
Linh cũng cười, nói một câu mà vừa buột miệng thốt ra, chàng cho là rất sáo:
– Nó được hân hạnh cô chiếu cố là may cho nó.
– Vậy tôi lại muốn chiếu cố đến nó nữa.
Vừa nói Phụng vừa với một quả ở cành cao nhưng không tới.
– Cô để tôi lấy giùm.
Linh phải nhảy lên mới với được cả cành quít chĩu chịt gần chục quả.
– ồ phí quá, ông nhỉ?
Linh toan ngắt ra từng quả nhưng Phụng vội gạt.
– ấy, ông cho xin cả để tôi mang về giữ làm kỷ niệm.
Hai tiếng kỷ niệm ở miệng mỹ nhân nói ra, Linh nhận thấy âu yếm, thấm thía tâm hồn. Chàng toan đáp lại một câu tình tứ, nhưng không tìm ra được, đành chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn thiếu nữ. Giữa phút thần tiên ấy, có tiếng gọi:
– Phụng, xin phép ông về thôi!
Lần đầu tiên trong đời, Linh cảm thấy tất cả cái ý nghĩa buồn rầu, sầu thảm của chữ “về”.
– Phụng, đi về!
– Vâng, con đây.
Nàng bỏ cả nửa quả quít vào mồm nhai ngốn ngấu. Còn một nửa có lẽ vì đãng trí, nàng đưa cho Linh:
– Trời ơi! Quít ngọt quá! Ông nếm thử mà xem.
Rồi nàng chạy vội lại chỗ mẹ.
Linh thở dài, lững thững theo sau…

*
**

Lúc xe mở máy. Linh mới chợt nhớ ra rằng chưa hỏi địa chỉ của Phụng.
Trong một giờ được một mình ở bên người đẹp, Linh chỉ mê man nghĩ đến hiện tại mà chàng biết rằng ngắn ngủi. Và chàng chỉ cảm thấy từng phút từng giây đương lạnh lùng rơi vào quãng không.
Kẻ ở người đi rồi hiện tại sẽ thành dĩ vãng sẽ thành một kỷ niệm như cành quít mà Phụng đã đem về nhà để giữ làm kỷ niệm.
Nhưng cái kỷ niệm giây phút ấy đối với Linh đã thành vĩnh viễn thiêng liêng.
Năm, năm, cứ đến tháng chạp khi cam ngoài vườn bắt đầu rám đỏ dưới luồng gió heo may, Linh lại cảm thấy thân thể và tâm hồn rung chuyển. Rồi trong vườn hiện ra hình ảnh một thiếu nữ tươi tốt, hồng hào thướt tha bên gốc cam, gốc quít.
Linh chờ đợi, mong ngóng.
Chàng chờ đợi, mong ngóng cho tới hết mùa cam. Vì Phụng có hứa với chàng rằng mỗi năm cứ đến mùa cam nàng sẽ lại cùng mẹ một lần lên thăm ấp của Linh. Lời hứa ấy có lẽ Phụng đã thốt ra theo cách xã giao trong câu chuyện thù ứng. Nhưng Linh tin là lời hứa thành thực. Chàng cũng không hiểu sao chàng lại tin như thế nhưng chàng cũng không thể không tin được.

Đã hai năm chàng chờ đợi…
Và trên bờ sông cao khóm cây vẫn yên lặng nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước xanh rêu không động, những bụi lau lá sắc và nhọn vẫn đứng thẳng hàng, bông trắng loáng thoáng lẫn trong không. Và trên ngọn đồi xa, làn mây bạc vẫn ngập ngừng dừng lại. Cùng chàng mong ngóng người năm ấy, vạn vật trầm ngâm mong ngóng xuân về.

Khái Hưng
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Fri Jul 13, 2018 12:10 am

.

Chút Tình Mong Manh
Thạch Thảo


Hôm nay tôi làm người “viễn khách” trên chính quê hương mình. Trở về thăm lại Vũng Tàu sau nhiều năm xa cách, đôi lúc tôi cũng tự hỏi “Vì đâu và vì sao mà nhiều người phải rời bỏ quê hương dắt díu nhau đến xứ người sống đời tị nạn?” Hỏi để mà có hỏi, chứ tự trong thâm tâm tôi cũng đã có câu trả lời. Đó là do tập đoàn lãnh đạo CSVN bắt đầu một cuộc trả thù tàn bạo và dã man nhất đối với quân nhân QLVNCH và công nhân viên chức chế độ cũ, đưa dần dân tộc tới chỗ diệt vong.

Ngày xưa, gần cầu Cây Khế, sắp bước vào ranh giới Vũng Tàu, có một tấm biển chào đón du khách:
Trăng, nước, gió, mây, dương rũ bóng.
Vũng Tàu cảnh sắc đẹp như mơ...


Vũng Tàu 1967-68, Hình: Michael Holt

Nhưng hôm nay thì đã khác xưa rồi, Vũng Tàu đón tôi về như một người khách lạ. Những kios dễ thương ở bãi trước và bãi sau đã biến mất, thay vào đó là những công trình du lịch với mục đích duy nhất là moi tiền của Việt kiều khi về nước. (Một danh từ mới xuất hiện sau này để chỉ những người phải bỏ nước ra đi.) Tôi không nằm trong số người về VN “du lịch”, nhưng tôi cũng đã có mặt nơi đây để làm tròn nghĩa vụ đối với đấng sinh thành.



Tuổi thơ của tôi đã gắn chặt với Vũng Tàu mang nhiều kỷ niệm. Tìm lại những hình ảnh cũ, tôi đã đi một vòng ngang qua những chốn ngày xưa tôi quen biết, như ngôi trường tôi đã học, như Linh Sơn Cổ Tự mà hằng tuần tôi đã cùng các bạn sinh hoạt, vui đùa bên mái hiên chùa. Giờ thì mái ngói chùa đã phủ rêu phong, trải bao đời sương gió. Sư ông trụ trì đã viên tịch ở tuổi 80. Cô Bảy không con cái, sống nương nhờ cửa Phật, ngày xưa thường hay nấu cơm cho chúng tôi ăn, cũng đã mất. Sau cuộc đổi đời tàn bạo và khắc nghiệt nầy, chị Bột - người huynh trưởng của đoàn Oanh Vũ - cũng đã vào chùa, ngày ngày nghe câu kinh, tiếng kệ. Ngôi trường vẫn còn đó, nhưng tường bên ngoài đã được tô sơn nhếch nhác với nhiều khẩu hiệu nhố nhăng.

Những con đường thân quen, những địa danh ấm áp, đã bị chia ngang xẻ dọc. Ngọn hải đăng giờ đây đã quá già nua... không còn đủ sức soi đời trên biển đêm. Thích Ca Phật Đài, nơi thu hút rất nhiều khách thập phương, giờ phải mua vé vào cổng. Nơi đây lại còn cấm mang theo máy ảnh, khiến du khách muốn chụp hình kỷ niệm thì thì phải trả với giá cắt cổ.

Với tôi, Vũng Tàu giờ đây biển không còn hát... Đứng trên dinh Thành Thái nhìn ngang ra biển, nơi đó có hòn đá ngầm, tôi không còn nghe tiếng sóng vỗ như mời gọi những đôi tình nhân hò hẹn vào những đêm chờ nước rút.

Xuôi dòng ký ức tìm về kỷ niệm của một thời ấu thơ, đầy cực khổ, đầy nắng gió, nhưng cũng đầy ắp tình cảm tử tế giữa người đối xử với người, tôi tưởng như mới xảy ra ngày nào.

- Sau lưng nhà nghỉ mát công chức, có quán ăn Thanh Đạm của gia đình tôi, chuyên nấu thức ăn miền biển, mở cửa 7 ngày. Ngoài giờ đi học, tôi cũng phụ giúp gia đình buôn bán. Tôi còn nhớ mãi lời của một người lính trận đến quán của chúng tôi đã từng hỏi:
- Xin cô giới thiệu món ăn của quán này. Có món gì đặc biệt?
- Thưa ông, nơi đây chúng tôi có cơm chiên Thanh Đạm, canh “sún” (canh chua, nấu với tương hột và sả ớt, dưới dạng lẩu và ăn với bún), và chuối “bom”,...
- Cô chủ nhỏ giới thiệu món ăn nghe dễ thương thật. Món đặc biệt của quán, sao toàn là súng với bom không vậy?

Người lính chiến ấy vẫn thường đến quán Thanh Đạm dùng cơm, mỗi khi đơn vị về dưỡng quân ở hậu cứ. Để rồi có một ngày, trong cuộc hành quân sau cùng, người Lính đó ra đi chẳng trở về. Sau nầy nghe đâu anh đã đền nợ nước!!!

- Tôi nhớ quán kem Anh Đào có Mai Anh và Trang Đào, hai người bạn thời trung học của tôi.
- Tôi nhớ quán bi da Thanh Cảnh với những bàn bi da như nam châm lôi cuốn thanh niên, có Kim Chi và Kim Phụng, hai người bạn mới lớn của tôi, cũng đã từng làm ngây ngất bao chàng trai đa tình.
- Tiệm hình Kim Phượng đã cho tôi những tấm hình đầu đời để dán vào lưu bút ngày xanh.
- Tiệm may Thăng Long đã có người bạn chung lớp là Nghiêm Hoàng Mai, có người yêu là SQ/TĐ4/TQLC, nhưng sau nầy lập gia đình với một huấn luyện viên trường truyền tin. Bạn tôi giờ này đang định cư ở Florida.
- Gần nhà tôi có rạp xi-nê Võ Ngọc Chấn, rạp Duy Tân... là những nơi có nhiều bóng tối, che chở cho những nụ hôn thầm...



Để rồi hôm nay... Tôi nghe lòng mình hoang dại. Gặp lại người xưa... biết nói sao cho vừa!!!

Điền Trang của tôi “với một thời đã yêu và một thời đã chết” đang đứng trước mặt tôi. Đã gần 50 năm rồi còn gì. Có phải chính anh đó không? Người bạn tuổi tròn trăng của tôi, bây giờ quá già - già hơn số tuổi - đến nỗi tôi nhận không ra, khi gặp nhau trong một buổi họp mặt với bạn bè của một thời trung học Vũng Tàu.

Gặp lại Điền Trang, ký ức xa xưa bỗng hiện về như đang xảy ra trước mắt. Đó là những kỷ niệm buồn mà chúng tôi cố gắng quên và cũng là lý do khiến chúng tôi chia tay nhau vĩnh viễn. Chàng xuất thân từ trường TSQ. Khi chúng tôi quen nhau thuở đó, chàng đã ra trường và đang phục vụ ở SĐ21/BB. Một lần về phép, chúng tôi lén lút hẹn hò bên ghế đá công viên. Mẹ tôi đang từ quán ăn Thanh Đạm, đột nhiên trở về nhà, không thấy tôi. Bà tức tốc bao xe ngựa đi tìm... chung quanh nhà thờ, sân chùa Tịnh Độ, những kios ở bãi trước... Cuối cùng Bà cũng tìm được tôi. Bà tịch thu giấy phép, căn cước quân nhân của chàng. Sau 2 ngày năn nỉ, Mẹ tôi mới trả lại giấy tờ, báo hại lần đó chàng về đơn vị trễ phép bị phạt. Phần tôi nào đã được yên thân. Mẹ tôi bắt tôi đến trước bàn Phật, thắp nhang và hứa từ nay xin chừa, sẽ chăm chỉ học hành không còn hẹn hò đi chơi để Mẹ phải lo lắng nữa...

Chúng tôi bặt tin nhau từ dạo ấy. Đôi lúc tôi cũng thầm trách,
- “Tại sao chàng cố chấp?”
Còn Mẹ tôi nữa... Sao Người lại khó khăn với con cái như thế? Phải chăng vì Ba tôi mất sớm, Mẹ phải vất vả nuôi dạy con cái nên tính tình quá khó khăn? Ngày tôi vào trường Nữ Quân Nhân cũng vậy, tôi đã bị mẹ đánh tới tới nát 2 cây chổi lông gà, không cho vào lính. Ấy thế mà tôi cũng gan, lì, ở hết 8 năm. Đã là con người, ai cũng có khối óc, trái tim, và nguồn rung cảm của tâm hồn...
- “Sao Mẹ không thông cảm cho con?”

Chúng tôi đã mất nhau cũng vì tự ái của tuổi trẻ. Ký ức đau thương nầy đã từ lâu tôi luôn quyện nó vào tim và xem như một kỷ niệm buồn!
Chúng tôi đã ứa nước mắt khi gặp lại nhau. Cả hai giờ tóc đã ngả màu sương. Tôi muốn hỏi:
- Anh bây giờ làm gì? Cuộc sống gia đình ra sao? Có hạnh phúc không?”

Tôi được biết qua bạn bè, Điền Trang sống lặng lẽ bên đời vốn quá nhiều bon chen, vật chất. Trong cuộc sống riêng tư, Anh là người chậm rãi và điềm đạm. Anh như đã quá xa những nuối tiếc của một thời mới lớn, đang chán chường nếp sống hiện tại, và cũng chẳng nghĩ đến tương lai.

Bạn của tôi đó, giờ đây với một thân hình già nua, mang đủ thứ bịnh trong người, nhất là chứng bịnh Gout luôn hành hạ mỗi khi thời tiết thay đổi, đang kiếm chút tiền chạy ra chợ mua vài viên thuốc uống cho đỡ đau nhức qua ngày đoạn tháng... Trời ơi! Nửa mảnh đời còn lại chàng sẽ làm gì và sẽ được gì? Bên nầy chúng tôi vẫn luôn cố gắng giúp đỡ bạn bè mỗi khi có thể. Tôi thường sinh hoạt với hội đồng hương Vũng Tàu vốn có nhiều liên lạc với những người bạn xưa cũ ở VN, vậy mà tuyệt nhiên tôi vẫn không hề nghe tin tức gì của Điền Trang, ngoại trừ lần nầy khi tôi về thăm lại quê hương.

“Người ơi gặp lại làm chi? Trăm năm biết còn có chút duyên gì hay không?”
Điền Trang ơi! Bất chợt có ngày nào, anh đọc được những dòng nầy, xin hãy tưởng tượng như thế nầy:
- Tôi đang ở một mình bên sườn đồi, có dòng suối nho nhỏ và cỏ xanh êm ả. Lá vàng khô sẽ quạt mát hồn tôi những chiều...

Tôi ở đó, sẽ nhớ đến từng CÁI NHỚ và NỖI NHỚ nào đậm mãi trong hồn. Tôi sẽ gởi nó theo những chòm mây xám vẫn bay ngang trên đỉnh đầu, để mang đi và rớt rụng bên những khung cửa sổ... bởi vì nơi đó đã có những “thương yêu”.

Nếu có duyên nợ ở kiếp sau thì xin hãy cho chúng tôi:
“Nếu là chim, xin được làm chim liền cánh,
Nếu là cây, xin được làm cây liền cành,
Nếu là người, xin được sống cho tình yêu...”

Bên ngoài một vài tiếng kêu của loài chim ăn đêm chợt vang lên. Thỉnh thoảng cơn gió về khuya lùa qua khung cửa sổ, khiến tôi rùng mình thoáng lạnh và bàng hoàng tỉnh mộng, trở về với thực tại của mình. Xin vĩnh biệt tình hồng! Nếu có phút giây nào chợt nghĩ đến Anh, tôi sẽ thầm gọi hai tiếng “CỐ NHÂN”.

Cuối năm 2014.
Thạch Thảo
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Wed Jul 18, 2018 9:45 am




Câu Hát Tìm Nhau
Quế Hương

Chương 1

Tôi gặp lão lần đầu trong quán thịt chó của bà Tư béo, nơi tôi đến bỏ rượu gạo hàng chiều sau giờ đi làm. Lão xuất hiện với bộ dạng một người lỡ đường, tay bị, tay mũ cối, gương mặt rỗ hoa lấm tấm bụi đường và mồ hôi. Tưởng lão là người ăn xin, bà Tư đuổi như đuổi tà:
- Đi ra! Để người ta bán, đừng có hãm tài.
- Thưa bà, tôi không xin. Tôi tận Hà Bắc vào đây tìm người quen. Bà cho tôi hỏi... bà có biết người này.

Lão chìa ra mảnh giấy bọc ép nylon như thẻ căn cước, ghi dòng chữ: Hai Xuân, người Bắc Ninh, có chồng tên Tuất. Sau 1975 có người gặp sinh sống ở Đà Nẵng.
- Mơ hồ thế có trời biết! Không đường, không số nhà... Già rồi lẩm cẩm. Con cháu sáng suốt không sai đi tìm. Thôi đi chỗ khác. Đây cũng là dân ngụ cư thôi! Không biết!
Bà chủ quay ngoắt, dềnh ngang bộ mông núng nính đi vào bếp. Lão lẩm bẩm:
- Cả tuần nay... hỏi ai cũng trả lời chừng đó!
Thương hại lão, tôi gợi chuyện:
- Thế bà Xuân người như thế nào?
- Cô ấy người dong dỏng. Trắng tươi. Hát haỵ Xinh đẹp.

Bàn thịt chó bên cạnh lập tức nhao lên:
- ồ ! Cháu lão hả? Bao nhiêu tuổi? Để tụi này tìm giúp coi có “xơ múi” chi không?
- Cô ấy thua tui một tuổi?
Cái quán ven đường bỗng òa vỡ tiếng cười. Tiếng đập bàn, la ó, huýt gió, hô hố... náo loạn.
- Thế thì "cố" chứ "cô" gì! Làm tụi này tưởng bở bố ạ! Cỡ ấy ra nghĩa địa tìm dễ hơn.
- Mà cố Xuân là gì của lão? - Gã để râu xồm xoàm vừa nhai vừa hỏi.
- Xưa cô ấy là bạn hát quan họ của tôi.
- Lão vượt đường dài ở tuổi này để tìm một bạn hát xưa già khú đế à?
- Vâng.
- Trời ơi... là trời... ở mô rớt xuống ông ngố đa tình như ri hở trời! - Gã giọng Huế cùng bàn cúi gập người rên giữa một tràng cười. Còn lão điềm tĩnh, kiên định hỏi tiếp:
- Mua bản đồ thành phố ở đâu mấy chú?
- Thôi lão ơi, có khát tợp ít ngụm rồi mua vé về nhà nằm nghỉ. Kiếp sau yêu cho dài ngày rộng tháng.
Rồi để thưởng câu nói mà gã tự cho là ý vị ấy, gã để râu ngửa mặt lên trời, ném điệu nghệ một miếng dồi chó vào miệng, nhai nghiến ngấu, tợp một ngụm rượu, khà một tiếng khoái trá.
- Ngoài tôi, chỉ có món xào và rựa mận là để bát đĩa. Còn các món khác đựng trong lá tất... Ăn bốc mới đúng điệu. - Đột ngột lão góp ý.
- Coi bộ cũng là dân nghiện mộc tồn.
- Phải thật thoải mái, không cần giữ ý tứ. Bữa ăn phải đượm mùi hoang sơ của những người lục lâm tứ chiếng.
- Mở đầu được đấy ! Mần ly rượu nói tiếp đi!

Câu chuyện xoay quanh chó: cách chọn chó, nấu chó, ăn chó... Lão sành đến nỗi những cái mặt đỏ gay, những cái miệng bóng nhẫy đều quay về phía lão hóng chuyện. Cái mông núng nính của bà Tư cũng yên vị trên chiếc ghế dựa hồi nào. Bà chủ đang há hốc miệng nghe lão bày cách chế biến từ bảy món cầy cơ bản thành mười món hoặc hơn nữa. Lạ là lão sành món “hương nhục” đến thế lại từ chối động đũa vào đĩa chó. Bà Tư đích thân bưng đến đặt trước mặt lão để mong thụ giáo. Lão giải thích hễ lão cầm đũa là phải ăn no mới thôi. Cái thứ này hễ ăn là say, ăn mãi... ăn thì phải đúng điệu với bạn tri ân để say còn khóc cười cho hả...
- Khách của tui đủ giới, ở khắp thành phố này - bà chủ lên tiếng - Dò tìm một cố Xuân nói giọng Bắc, vấn khăn, cao dong dỏng, biết hát quan họ không phải là khó. Tui sẽ nhờ anh em... sẽ để lão ăn thịt chó thỏa thuê không lấy tiền... với điều kiện lão giúp tôi tiếp khí sắc cho quán. Dãy này bốn quán... phải có ngón nghề đặc biệt mới kéo khách về mình...

Chương 2

Quán thịt cầy của bà Tư béo từ độ có lão bỗng đông khách hẳn. Thịt bao giờ cũng lớn bùi, bé mềm, cả tơ cả cứng cho đủ vị cuộc đời. Lá sen, lá dong riềng, lá chuối được thay đĩa men. Quán có đến mười hai món “hương nhục”, thơm điếc mũi. Buổi tối quán tắt đèn điện thắp đèn cầy ăn thịt cầy... âm âm u u thế mà gọi mời đáo để. Những câu chuyện về đời, về chó của lão dưới ánh nến bao giờ cũng khiến khách ăn cảm thấy bữa rượu thịt đậm đà. Bữa nào lão không tới, họ lại ăn uể oải đòi lão có mặt. Bọn họ gọi lão là "lão Tầm Xuân". Cái quán ven đường rôm rả hẳn lên khi ông lão mặt rỗ hoa, ăn mặc nhếch nhác bước vào. Họ hát ong ỏng đón lão:
“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thaỵ Già rồi tiếc vẫn chưa nguôi. Xắn quần anh lội suối, khòm lưng anh vượt đèo...”.

Có hôm, men rượu không giải được nỗi sầu vô vị, họ lại đem lão ra giải buồn. Họ đổi những tin “dỏm” về cố Xuân bằng những câu chuyện của lão hoặc một cú tẩm quất sướng ê người. Nếu quán vắng khách, họ nằm ườn ngay trên nền quán, ưỡn tấm thân trẻ trung rã rời cho lão tẩm. Xương bật giòn tan, còn bọn họ lè lưỡi: “Hồi trẻ, lão phải vật trâu!”
- Hồi trẻ, tôi giật đến hai giải thi vật - Hứng chí lão khoe.
- Thế mà không vật nổi cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay xinh đẹp.
Cả bọn cười ồ còn lão bỗng tiu nghỉu. Lão ngừng đấm hỏi:
- Lần này "dỏm" không đó?
- Dỏm 50%. 50% có thể thật. Đứa nào nói dối 100% hộc bia ra ngay.

Chân dung cố Xuân thay đổ xoành xoạch. Khi thì cố Xuân ở tận bên làng biển An Hải, mù vì khóc lão. Khi thì ở trên Hòa Khánh, điếc đặc. Khi thì ở tận Hòa Cường, suốt ngày ho sù sụ...
Có lúc bọn trẻ kéo vào quán một bà già nghễnh ngãng, ré lên: "Lão Tầm Xuân ơi, cố Xuân đây nè!". Bà già chửi te tua còn bọn chúng cười hô hố. Chỉ có lão không nói một lời. Tôi có cảm tưởng có cái gì nặng hơn chiếc lá khô vỡ tan tành trong lòng lão. ôi lão Tầm Xuân! Lão tìm trong cuộc đời nước chảy mây trôi như một hình bóng của ký ức thì tìm sao đặng? Những cuộc "gặp" ấy để lại trong lòng lão dư vị cay đắng. Lão ngồi uống rượu suông, mắt mờ đục như có khói và lão hát. Dĩ nhiên không phải để cho chúng tôi nghe! Lão hát hay lắm. Hay đến nỗi có lần tôi phải chở vợ đến nghe. Nàng đứng ở ngưỡng cửa nghe lão hát bài ruột: "Khi tương phùng, khi tương ngộ. Xuôi lên bộ, văng vẳng tơ tình. Chiêm bao lần chẵn năm canh. Bao lần anh ngồi tựa trăng thanh. Thương nhớ sâu oanh. Lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ gặp mặt sánh đôi. Suốt năm họa là. Duyên bén ngãn, văng vẳng tơ tình. Trước không phải, sau đền duyên ba sinh".

Khó tưởng tượng một giọng hát say đắm ngọt ngào dường kia lại thoát ra từ một lồng ngực hom hem phô những giẻ sườn. Vợ tôi bảo không phải lão hát mà tình yêu lão hát. Nàng có đôi chút học vấn để nhận xét: đằng sau vẻ ngù ngờ, xấu xí, già nua kia là một trái tim thực có một cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp trên đời. Cô Xuân ấy không bao giờ già, không bao giờ xấu, không bao giờ chết trong lão!

Sau lần nghe lão hát và những câu chuyện tôi kể về lão, vợ tôi bỗng trở nên “ái mộ” lão. Nàng bảo tôi chở lão đến nhà chơi rồi lão trở thành khách quen thuộc của cả nhà. Họ cũng bị lão “mê hoặc” như cả quán cầy tơ của bà béo. Lũ con tôi quý lão vô cùng. Lão bày chúng hát nghêu ngao những bài quan họ. “Sớm đi chơi hội, tối về quay tơ. Dải yếm phất phơ. Miếng trầu, mồi mốc. Miếng ăn, miếng buộc. Miếng gối đầu giường. Muốn tìm người thương. Tìm đâu cho thấy?”...
Lão cho chúng những đồ chơi thật ngộ - những con vật bằng lá dừa biết ngúc ngắc, con gà trống bằng đất sét lòe lọet xanh đỏ tím vàng kẹp chiếc kèn lá có thể cất tiếng gáy... Bếp nhà ấm áp khi có lão. Lão nếm rượu chính xác như đo, hàn giúp cái xoong, cái nồi rất khéo. Lão mơ màng kể cho chúng tôi nghe những ngày hội Lim, những liền anh áo the khăn xếp, liền chị thắt lưng hoa lý, yếm đào con nhạn, mắt lá răm lúng liến hát thâu đêm. Tôi ngồi nghe lão tả những làn điệu quan họ đắm say miên man dìu dặt và yêu cầu lão hát nhưng thường lão lắc đầu. Lão bảo hát quan họ phải có đôi, có bạn, có chỗ. Ký ức lão còn giữ nguyên vẹn những ngày hội quê lão: Hội làng, Hội Xuân, Hội mùa... Trai thi mạnh, gái thi mềm. Thi hoa, thi vật, kéo co, hát chèo, nấu cơm, đánh đu, cờ người...

- Lão gặp cố Xuân ở những ngày hội đó à?
- Vâng. Đó cũng là ngày hội quan họ, cả vùng như ngấm men say, phát cuồng vì hội lễ. Năm ấy anh cu Rỗ là tôi tròn 18 tuổi, được cử vào bọn quan họ làng để luyện giọng thi hát với bọn quan họ làng bên kia sông. Nhà tôi ba đời hát quan họ. Tôi luyện trên dưới 200 giọng, thế mà khi hát đôi với cô ấy tôi run. Tâm hồn tôi lơ lửng không đặt hết vào lời. Cô ấy là tiên quan họ. Ngày xưa cô Tấm cũng đẹp thế là cùng! Giọng hát sóng sánh. Mắt đen lóng lánh. Môi cắn chỉ đỏ thắm. Cần cổ như cuống hoa huệ... Tôi say, say lời hát, say cô ấy, quên cả ngón ruột phải tung ra vào phút chót để thắng dứt điểm. Cuộc thi kéo dài đến ba ngày. Tiếng trống dứt mới giật mình ngơ ngẩn. Dĩ nhiên tôi thua...

Chương 3

- Đa tình thế sao không lấy?
- Lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời hát. Kết nghĩa quan họ như kết nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời mình mà có khi còn đến đời sau. Làng tôi có nhiều cặp quan họ khi đầu bạc răng long, tình yêu trong câu hát xưa vẫn không tàn. Có dịp gặp nhau trên chiếu quan họ, họ lại sống lại thời xuân sắc. Anh em kết nghĩa quan họ gặp nhau “xuân thu nhị kỳ”, đến thăm nhau, ăn uống, vui chơi, ca hát với nhau. Mỗi bên có chuyện vui buồn đều tổ chức đi lại thăm viếng. Tôi nhận ra một điều: người ta có thể cho nhau niềm hạnh phúc to lớn biết dường nào và chẳng lần nào giống lần nào... Rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng. Bọn quan họ chúng tôi đến chia vui. Tôi đau lòng hát miên man...

Mắt lão bỗng mơ màng xa vắng. Rồi một giọng hát trẻ trung đằm thắm da diết cất lên: "Ăn quả nhãn lồng. Ước sao người ấy tôi bồng trên taỵ..”. Không phải lão Tầm Xuân tóc bạc da mồi hát mà anh cu Rỗ tóc đen như mun, da mầu đồng, có giọng hát Trương Chi hát! Cô ấy hiểu lòng tôi, chú ạ!
Lão lại ngưng hát, kể: Tôi hát bài "Khi tương phùng, khi tương ngộ" ngang nửa bài thì cô ấy xen ngang, hát tiếp: "Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ họp mặt sánh đôi... Trước không phải, sau đền duyên ba sinh". Chúng tôi cắt câu quan họ làm đôi, mỗi đứa giữ một nửa. Hẹn kiếp sau chắp lại.
Sau đó là chiến tranh... nạn đói... Câu quan họ tan tác trăm phương. Tôi vào Vệ quốc quân, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại, tôi về làng thì nghe cô ấy đã theo chồng... nghe nói vào Nam.

Rồi tuổi già đến. Già buồn lắm chú ạ! Cô đơn và bất lực. Chết không đáng sợ bằng tuổi già. Sống đến đó, người ta mới nếm tận cùng chén đắng cay của đời. Tôi sợ hình ảnh ông hàng xóm ngày nắng được bế cả người lẫn chăn ra hong nắng. Nắng rực rỡ đọng thành từng vũng quanh ông ấy, còn ông ấy nhăn nhúm trong cái chăn rách... Tôi có cảm tưởng ông được đem phơi cho chết vi trùng. Có bà, được mua cho một cỗ hậu sự thật tốt. Lâu không chết, áo quan bị mọt đục. Ngày nắng con cháu đem ra phơi, trở qua lật lại rửa ráy càu nhàu... Luật đời chú ạ! Già thì lụi tàn, phải chết. Sống lâu thành nợ của mọi người ngay con cái cũng chán... Một lần tôi ốm, trận ấy ốm thương hàn, thập tử nhất sinh. Trong những cơn mê, tôi cứ nghe một giọng hát lảnh lót níu tôi lại trần thế: "Người về bỏ bạn sao đành. Người về em vẫn đinh ninh tấm lòng...". Giọng cô ấy! Chỉ có cô ấy mới có cái giọng la đà sát ngọn cỏ, cao vút chạm mây xanh, thầm thì luồn lách trong da trong thịt. Tôi tỉnh lại đang mơ màng thì nghe giọng dâu con thở than gần hết ngày tốt mà cha chưa chịu đi. Tôi mở mắt, chúng nó lại ríu rít hỏi han, làm ra vẻ vui mừng... Sau lần ốm ấy, tôi nghĩ đến chuyện đi tìm cô ấy. Chính cô ấy níu tôi lại cuộc đời này. Tôi phải đi tìm nửa câu quan họ cắt đôi. Trẻ không lấy nhau được, già ở bên nhau, hát với nhau cho đỡ côi cút. Trước sau vẫn là bạn có gì sai trái đâu?
Lão im bặt. Đôi mắt già nua chìm trong cõi vắng. Thời gian với lão chỉ là lớp bụi mờ. Gió thổi, bụi bay, dĩ vãng lại hiện ra nguyên vẹn trước mắt lão. Đêm ấy, lão hát miên man bên bếp lửa tàn. Một mình hát, một mình nghe, một mình mở hội đồi Lim, lúng liến, đắm say, chân tình lai láng.

Thế mà sau một tuần đi công tác xa về, con tôi đã mếu máo níu áo ngoài cửa đòi tôi đi tìm lão Tầm Xuân. Thì ra lão đã bỏ đi... Tự nguyện theo lão là con chó mập ú của bà Tư cầy. Dường như chán gặm xương đồng loại, nó bỏ theo lão Tầm Xuân.
Tôi cũng vô tình quên lão nếu không có lần gặp lại ở Hàng Xanh, Sài Gòn cách đó hai năm.
Đó là một buổi trưa nắng chang chang. Con hẻm em gái tôi ở vang lên tiếng rao lạc lõng: “Ai hàn xoong hàn nồi, mài dao mài kéo không...?
- Tiếp liền sau một giọng hát cất lên :"Khi tương phùng khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình... thương nhớ sầu oanh, lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi...”. "ôi!". Lão. Lão chứ còn ai nữa. Không kịp xỏ dép, tôi chạy nhào ra hẻm gọi ơi ới: “Lão mài dao... lão Tầm Xuân". Lão quay phắt lại rồi ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Mới hai năm mà lão già thêm nhiều. Lão đã thực sự già thêm nhiều. Lão đã thực sự già! Gương mặt chằng chịt nếp nhăn lỗ chỗ nốt rỗ như tấm gỗ mọt. Đôi mắt mờ đục, giọng hát khào khào. Lão mang lỉnh kỉnh dụng cụ hàm mài. Câu quan họ lầm lũi lạc theo, lạc lõng trong thành phố hoa lệ. Con chó vàng của bà Tư cầy lẽo đẽo theo bên. Chỉ khác là nó không còn mập ú nữa, nó xơ xác gầy nhom như chủ.

Chúng tôi tấp vào quán nước bên đường. Ở đó tôi được biết vì sao lão bỏ đi đột ngột. Bà chủ quán thịt cầy cùng dãy với bà Tư béo bảo có gặp một bà người Bắc đi xin ở Gia Định biết hát quan họ và y hệt cô Xuân của lão. Thế là họ đi!... Quán bà Tư mất hấp lực, đâu lại vào đấy. Tôi nghĩ thế nhưng không nói ra, sợ lão buồn. Tôi định bụng khuyên lão trở về quê. Không ngờ lão cũng nói:
- May gặp nhau lần cuối... Tuần sau tôi về chú ạ. Tiền tàu xe đủ rồi... Tôi về để mười ba tháng Giêng tới dự hội Lim lần cuối. Hội Lim giờ đâu như xưa nữa... Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trống vào hội giục giã lòng tôi. Tôi yếu rồi! Tôi đã nghe đất gọi Quê gọi. Đành hẹn kiếp sau vậy...

Chương 4

Tôi nhìn lão, còn lão nhìn dòng xe cộ nườm nượp đến chóng mặt. Chiều tà dần trong đôi mắt mầu hoàng hôn.
- Lâu ngày gặp lại, tui với lão mần đích đáng một bữa thịt chó đi! Ở đây có Bồng Lai quán nghe nói khá lắm, ăn hoài không đã miệng. Tui mời lão.
- Cảm ơn chú! Nhưng năm rồi tôi không đụng thứ đó. Tôi sẽ không đụng cho đến ngày cuối đời...
Lão cúi xuống vỗ về vào lưng con vàng. Con chó ngước đôi mắt nặng trĩu yêu thương nhìn lão rồi không dằn lòng nổi, nó đứng trên hai chân sau, vừa kêu ư ử hài lòng vừa liếm khắp người lão.
- Chú thấy đấy! Cứ tưởng tượng nó thành những đĩa dồi, đĩa luộc, đĩa xào, xáo... là tôi lợm giọng rồi... Không có nó tôi không sống nổi ở đây đến hai năm... Nó sưởi ấm tôi, kéo tôi đứng dậy, nó bị đánh què cẳng vì ăn cắp của người ta để cho tôi ăn những ngày tôi ốm... Nó từng sung sướng... theo tôi nó mới cực thế này... Nó...
Lão nghẹn ngào, mắt hấp háy. Giọt lệ tuổi già chắt mãi mới thành dành cho kẻ đồng hành bốn chân!

Khoảng mươi hôm sau, con dao chặt thịt bị mẻ, em tôi nhắc:
- Không thấy lão mài dao kéo vào xóm... cái lão thật lạ, không lo kiếm khách chỉ lo hát... Có đồng nào mua đồ ăn lại chia đôi cho chó một nửa. Con chó cũng đáo để, không bao giờ ăn trước chủ dù có đặt trước miệng... Người già cũng lạ! Trại dưỡng lão em làm có một bà già... nhập trại ba năm không nói một lời, tưởng câm, khi gần chết hóa ra biết hát. Cái giọng cái điệu, cái lời na ná như lão mài dao.
- Đâu? Bà ấy ở đâu? - Tôi chụp tay nó.
- Ở trong, sắp chết rồi. Mà anh hỏi làm gì?
Tôi kéo áo nó, bắt nó chở đi rồi tôi sẽ giải thích. Dọc đường tôi kể vắn tắt chuyện lão Tầm Xuân đi tìm nửa câu quan họ. Tôi linh cảm đó là cố Xuân.
- Ba năm trước, một người đàn ông sang trọng, gương mặt tràn trề nhân ái dẫn bà ấy vào trại. Ông ta bảo với Ban quản đốc ông ta thấy bà già cơ nhỡ, ngủ trước hiên nhà nên thương xót dẫn giúp vào đây. Ba năm ở đây, bà ấy sống lặng lẽ như bóng không hề nói, nằm quay mặt vào vách. Nhưng cách đây một tháng, dường như không nén được nỗi đau đớn, bà ta khóc rống lên: "Hắn là con tôi, cái thằng dẫn tôi vào đây chính là con tôi". Mấy hôm nay bà ta hát... không ăn, không uống... chỉ phều phào hát... - Em tôi kể.

Bây giờ nằm trước mặt tôi, trên chiếc chiếu tỏa mùi khai thối trải trên nền gạch loang lổ là bà cụ tóc trắng như bông vấn vành khăn nhung đã sờn, mỏng như giấy, mặt vàng, hơi thở dốc...
"Dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp..."
Hình hài ấy không còn nét nào giống lão Tầm Xuân tả. Thời gian cho, thời gian lấy hay tôi đã lầm? Tôi định lui ra nhưng chiếc lá khô ấy bỗng khẽ khàng động đậy. Rồi từ lồng ngực thoi thóp hơi tàn, phều phào những tiếng, lời rời rạc. "Bạn tình ơi! Duyên bén ngãi, trước không phải... sau đền... duyên... ba sinh".
Đúng rồi! Cố Xuân đây rồi! Tôi reo to giữa những gương mặt già nua ngơ ngác - Lão Tầm Xuân ơi! Nửa câu quan họ đây rồi.

Lão tìm ba năm, nay biết tìm lão ở đâu.
Bà cụ mấp máy môi hát, âm sắc yếu dần... yếu dần... Nhanh trí, tôi nắm lấy bàn tay còn xương với da ấy và tôi lập lại lời hát của lão Tầm Xuân: "Khi tương phùng, khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình..." Giọng hát vụng về thô ráp như đọc của tôi cất lên, và lạ lùng thay, nó tựa những giọt nước cành dương diệu kỳ... Mí mắt bà lão động đậy, ngực phập phồng rồi giọng hát yếu ớt cứ rõ dần hòa với cái giọng vịt đực ồ ồ của tôi. Những bà già trên nền nhà lập tức ngồi dậy. Họ không hiểu nhưng họ vỗ tay như những đứa trẻ. Họ reo, họ hò, họ hát ru... Những đôi mắt mờ mờ đục chất ngất nỗi buồn và bất hạnh bỗng háo hức như mắt trẻ con. Một bà lão lục đục trong hai ba lần áo một cái gói nhỏ mở hai ba lớp nylon bày một nhúm thịt chà bông, chần chừ ngắm rồi nhón tay bốc hai sợi thịt đem tới đút vào miệng tôi một sợi, miệng cố Xuân, bị lời hát đẩy ra, còn trong miệng tôi, trào thành nước mắt!

Tôi lập tức đạp xe đi quanh vùng Gia Định tìm lão Tầm Xuân nhưng bóng lão bặt tăm... Hình như lão đã về quê rồi. Em gái tôi góp ý nhắn lão trên tivi. Mẩu tin kỳ quái được nhắc lại hai hôm: “Lão Tầm Xuân! Đã tìm ra nửa câu quan họ. Đến gấp trại dưỡng lão số 3, đường... Mau lên kẻo không kịp".
Không kịp thật. Cố Xuân hắt ra hơi thở cuối cùng, lão vẫn bặt tăm. Chiếc xe tang của trại đưa cố đến lò thiêu. Không một vành khăn, không dòng nước mắt.

Có lẽ giờ này lão Tầm Xuân đang lê bước trở về. Nửa câu quan họ lầm lũi theo lão... Chơi vơi... Chơi vơi...
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sun Jul 29, 2018 10:50 am




Bến Đò Năm Xưa
Truyện ngắn Khái Hưng


(Bến Đò Năm Xưa. Truyện ngắn của Khái Hưng đã đăng trên Tuần Báo Ngày Nay số 21, in ngày chủ nhật, 16/08/1936 tại Hà Nội)




Nguyên dừng lại trên đê cao, nhìn xuống con sông sâu. Và chàng mang máng nhận thấy rằng mười lăm, mười sáu năm về trước chàng đã đến đó một lần.

Dòng nước về mùa đông cũng cạn, cũng chảy lờ đờ. Bụi lau mọc ven bờ, lá vẫn xơ xác như xưa, hàng bông trắng vẫn se sẽ lao đao trước gió. Nhất là cây gạo thân thẳng và cao, ngạo nghễ đứng bên sườn đê rướn ngọn chọc trời, thì chàng không thể nhầm nó với một cây gạo khác được. Gốc nó phía trên tựa da trăn đầy những khoanh mốc trắng, phía dưới nổi lên những bướu tròn hùng tráng như những bắp thịt rắn chắc của nhà lực sĩ.

Nguyên đương tỉ mỉ nhận xét điều ấy, thì đưa chàng đi sâu thêm vào thời ký vãng một làn khói lan tỏa ra ôm ấp lấy cái mái rạ rồi từ từ bay tản mạn trong đám lá xanh. Bấy giờ chàng mới kịp để ý đến túp lều bé nhỏ, xiêu vẹo, túp lều mà mười lăm năm về trước chàng đã thấy nằm núp dưới gốc cây gạo. Cho đến cả mảnh lưới nâu vắt phơi trên cái lao sặt, vại nước đặt trên khóm mía ở đầu nhà, mọi vật đối với ký ức chàng như đối với con mắt nhà mỹ thuật, một bức tranh sơn bỏ quên lâu năm trong xó tủ, bây giờ bỗng đem ra lau sạch bụi và treo lên tường.

Chiếc xe sắt đã trèo hết cái dốc đê và phăng phăng xuống bến để khiêng vào thuyền sang sông. Nguyên lững thững theo xuống. Nghe tiếng gầm gừ, chàng quay lại giật mình kinh ngạc: Con chó trắng bông dương cặp mắt thao láo dữ tợn nhìn chàng đi qua. Chàng nhớ lần trước chàng cũng thấy con chó bông trắng như hệt thế nằm bên khóm chuối kia gần đàn gà con đang bới đống rác bẩn tìm sâu. Chàng chau mày tự nhủ thầm: “Hình như ta đã để ở nơi này một kỷ niệm trong giây phút.”

Ý nghĩ ấy làm cho chàng bật cười. Nào phải bây giờ chàng mới có cái cảm tưởng, cái cảm giác như thế về dĩ vãng. Nhiều khi lần đầu bước chân vào một phòng khách lạ chàng chẳng thấy bàn ghế, đồ đạc bầy ở đó có nhiều quen thuộc, thân mật với chàng là gì?

– Mời ông xuống đò cho thuyền sang ngang. Chúng tôi ngồi chờ tê cả chân.
Ðương tò mò ngắm những xác vờ rải trắng trên làn cát ướt, nghe lời thúc giục, Nguyên quay lại. Trong chiếc thuyền nan, ngồi bên cái xe kéo, hai người đàn bà và một người đàn ông khoác áo tơi lá, gió thổi kêu lạt sạt. Và đứng ở đằng lái, lả lơi vịn vào con sào, một thiếu nữ óng ả, thon thon, tấm áo nâu đổi vai, hai vạt trước buộc gọn gàng ra phía sau lưng.

Nguyên bước lên thuyền trân trân nhìn cô lái, khiến cô bẽn lẽn cuối gằm mặt xuống, cắm sào xoay mũi, “Lạ! người này nữa! Ta cũng đã gặp rồi, mà gặp ở đây, ở bến đò này!”
– Cô vẫn chở đò ở đây?
Cô lái cho đó là một câu trêu ghẹo, bỡn cợt, nên lặng ngảnh trông đi, không đáp.
– Tôi nhớ mang máng lần trước tôi gặp cô cũng ở bến đò nầy, nhưng đã lâu lắm, đến hơn mười lăm năm rồi.
Tiếng cười rộ của bọn sang ngang làm cho Nguyên ngơ ngác:
– Mười lăm năm trước mà ông gặp chị Thà thì chị ấy đương chập chững tập đi.
– Ờ nhỉ!

Nguyên ngây người suy nghĩ “Ô! mình lẩn thẩn quá thực. Hồi đó, cô ta mới độ lên hai, lên ba!” Rồi chàng cũng cười theo. Nhưng chàng vẫn ngờ vực: “Chẳng lẽ mình mơ mộng đến thế được?” Một câu nói tiếp của một người đàn bà khiến chàng tỉnh ngộ:
– Mười lăm năm về trước thì họa chăng ông gặp bu chị Thà.
Người ấy quay ra nói chuyện với người ngồi bên:
– Chị Thà, chị ấy giống bu chị ấy như đúc.
Nguyên mỉm cười: “Phải, bu chị ấy. Có thế chứ, ta lầm sao được.” Chàng lấy làm tự phụ về trí nhớ của mình. Rồi chàng lại đăm đăm ngắm nghía cô lái đò: “Xinh xắn thế kia thảo hèn ta nhớ lâu, nếu quả thực người mẹ ngày xưa cũng đẹp như cô con ngày nay.”

Giữa lúc ấy anh sẩm cất tiếng hát. Cái giọng khàn khàn, đùng đục. Nguyên nhận thấy như đã rầu rãi nắng mưa, chẳng khác thanh sắt vứt lay vứt lắt, bị rỉ ăn luỗng từng chỗ. Nhưng cái giọng ấy, cũng vẫn cái giọng lần trước. “Hừ! chẳng lẽ anh sẩm này lại cũng là con anh sẩm ngày xưa.”
Anh mù ngửa mặt như nhìn qua đôi kính râm, đầu lắc lư, tay kéo nhị, há hốc miệng gào:
“Công cha như núi Thái Sơn, sữa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

Người đàn ông chừng một ngày mấy lần qua sông nên thuộc lòng câu sẩm chợ, ngồi đập chân xuống sàn thuyền gõ nhịp, môi mấp máy lẩm bẩm hát theo. Còn hai người đàn bà thì thản nhiên như chỉ có bọn họ trong thuyền, oang oang nói chuyện:
– Sợi nhà bà ngâm được mấy buổi?
– Sợi nhà tôi ngâm được bốn đêm.
– Ờ! khá đấy! Nhà bà tràng vốn nên ngâm được lâu.
Nguyên kinh ngạc. Mấy mẩu chuyện, lần trước chàng đã nghe thấy không thiếu không thừa, không sai một tiếng. “Thì ra dưới trời này mọi vật không bao giờ thay đổi.”

Anh sẩm hát: “Ba năm bú mớm…”
Nguyên ném một xu vào cái thau sắt tây thủng, rồi cúi xuống ngắm bóng mây trắng lướt theo con thuyền êm lặng, trên giòng nước trong xanh.
Bài Lưu Thủy của anh sẩm nhắc Nguyên biết rằng thuyền đã tới bến. Chàng mỉm cười vơ vẩn, lấy làm lạ rằng mình đã lắng tai nghe hết bài hát. Mọi lần ở các bến phà, hễ anh sẩm cất tiếng, là Nguyên vội đãi anh một, hai xu để xin anh ngồi im cho. Nhưng lần này, bài ca tầm thường đã gợi trong lòng chàng một mối cảm hoài man mác, và đưa chàng trở lại với thời xưa. Vì thế chàng đã im lặng để những câu hát vô vị chạy lướt qua trí nhớ như bóng mây lướt trên mặt nước im trong.

Nguyên trả cô lái năm xu, rồi toan nhảy lên bờ.
– Ấy, ông để cháu giữ thuyền cho chắc chắn đã, chẳng ngã.
Nguyên đứng dốn lại hỏi:
– Bến đò này ở nơi hiu quạnh lắm nhỉ?
– Vâng, ở đây buồn lắm. Nhưng được cái cách phố phủ có sáu, bẩy cây số.

Lúc ấy có một người đứng trên đường gọi:
– Thà ơi, mày đi hộ tao, để tao chở thuyền cho. Tiền đây này!
Người đàn ông quẩy gánh củ cải nặng, bước xuống nước, bảo Nguyên:
– Bu chị Thà đấy. Có phải người thầy gặp lần trước không?
Nguyên ngửng đầu lên nhìn: “Ừ, bu con giống nhau thực!”
Cô lái đò nghe nói, mủm mỉm cười, gọi mẹ:
– Bu ơi, tiền đò đây này, bu giữ lấy. Ông cho năm xu đấy.
Người đàn bà quần áo lôi thôi nhem nhuốc chạy vội lại:
– Cám ơn thầy.

Bác gánh củ cải bảo bà ta:
– Này bà, bà có nhận được ông nầy không?
Nguyên cười, cho câu hỏi ấy vô lý hết sức. Nhưng chàng kinh ngạc xiết bao, khi thấy người đàn bà đăm đăm nhìn mình rồi vui vẻ chào:
– Ồ chào thầy! Trông thầy vẫn thế nhỉ. Không già đi mấy.
Nguyên còn ngơ ngác cố nhớ lại thì người đàn bà đã nói tiếp:
– Ngày ấy thầy mặc áo tơi dạ, chứ không phải áo sơn này. Với lại cái “bao-ly” của thầy có quai mà to hơn nhiều, tôi xách lên bờ nặng sái cả cánh tay. Mà thầy vui tính lắm, nói đùa luôn mồm.
Nguyên đáp:
– Bây giờ già rồi, nên mất cả vui tính.

Thế rồi Nguyên lên xe. Cái xe gỗ lạch cạch lắc lư, nhảy trên con đường gồ ghề, lồi lõm, không mấy khi được hân hạnh có chiếc ô-tô qua lại. Nhưng Nguyên không thấy khó chịu như lúc ở quãng đường bên kia sông. Còn văng vẳng bên tai câu nói của người đàn bà chở đò: “Thầy mặc cái áo tơi dạ… cái bao-ly của thầy có quai.” Và chàng nghĩ thầm: “Sau mười lăm, mười sáu năm, người ấy còn nhớ mình mặc áo tơi dạ và cái va-li của mình có quai! Người ấy lại nhớ cả mình vui tính nữa.”
Chàng tưởng tượng – tưởng tượng chứ không phải nhớ vì chàng không còn nhớ – chàng tưởng tượng ngay ra một cảnh gặp gỡ ở bến đò, cuộc gặp gỡ giữa cô lái xinh tươi với ông khách có duyên qua bến và như nghe thấy tiếng cười ròn tan trong luồng gió lạnh, như nhìn thấy cái liếc mắt lẳng lơ đưa theo dịp chèo đập nước.
Rồi kẻ đi người ở. Tình vẫn man mác phảng phất như chút hương nhạt trong hai tâm hồn có lẽ không bao giờ gặp nhau.
“Cái áo tơi dạ của thầy… cái bao-ly có quai của thầy…”
Cùng với cảnh chuyến đò gặp gỡ, một cảnh khác hiện ra trong tưởng tượng. Cảnh chờ đợi, nhớ mong. Nguyên như được ngắm cô lái, một đêm trăng ngồi tựa gốc cây gạo nhìn xuống dòng nước mà gửi hồn ruổi theo người khách lạ. Qua khóm lau thưa, lấp ló ngọn lửa con thuyền đánh cá. Xa xa, tiếng chó sủa trong lũy tre âm u.

Rồi hình ảnh người qua đò một ngày một phai cho đến khi mười lăm năm sau, một hôm người ấy trở lại…
Trên đường đất gồ ghề, lồi lõm, chiếc xe sắt hục hặc nhảy chồm như con ngựa bất kham… Nhưng Nguyên vẫn yên lặng bình tĩnh theo giấc mộng liên miên…

Khái Hưng
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Sat Aug 04, 2018 8:36 am

.

Bán chồng cho bạn
Truyện Ngắn Thy Vân


Nàng không ngủ được, câu chuyện nàng nghe hồi sáng cứ vang vọng mãi trong đầu, hành hạ nàng. Quay sang thấy anh vẫn thở đều, giấc ngủ ngon với gương mặt đầy toại nguyện. Nàng cố dằn để không đánh thức anh dậy nửa đêm hỏi cho ra lẽ. Kinh nghiệm của người phụ nữ nhạy cảm và từng trải dạy cho nàng biết sự điềm tĩnh và thận trọng không bao giờ thừa. Dạo này công việc làm ăn gặp nhiều trục trặc đã khiến nàng trở nên lơ là gia đình, có lẽ đây là cái giá nàng phải trả cho sự tham vọng của phụ nữ, nàng đã quá chủ quan và đặt niềm tin không đúng chỗ.

Nàng đã từng rất tự hào vì có một người chồng luôn ủng hộ sự nghiệp của mình, không đòi hỏi ở nàng trách nhiệm quá cao trong việc làm vợ. Nàng không thể thường xuyên nấu cho chồng những bữa cơm ngon, không thể mỗi tuần cùng chồng về thăm ba mẹ hai bên, không thể có những ngày lễ lãng mạn để ngủ nướng và cùng nhau ăn sáng trên giường, nhưng nàng đã cố gắng rất nhiều để gia đình được no đủ, để họ hàng hai bên được chăm lo chu đáo và hơn hết là để chồng nàng chuyên tâm nghiên cứu. Nàng không muốn chồng nàng vì mưu sinh mà bỏ phí tài năng và đam mê trong góc phòng thí nghiệm. Anh đã từng nói rất biết ơn nàng vì điều đó. Lẽ nào nàng đã sai?

Nàng may mắn có một cô bạn gái thân thiết như chị em ruột từ những ngày ấu thơ. Bạn nàng khôn ngoan lanh lợi, sớm thành đạt và có một người chồng giàu có dù đôi khi nàng thấy những tia buồn trong mắt bạn khi nghe cô tâm sự về cuộc hôn nhân không có tình yêu. Họ hiểu nhau, tin nhau, trong lúc việc kinh doanh sa sút chính cô bạn thân đã không ngần ngại cho nàng mượn một số tiền lớn mà không cần thế chấp. Và cũng chính nàng đã là bờ vai, là chỗ dựa, là nơi trút lòng, sẵn sàng bỏ buổi họp để bên cạnh bạn khi cuộc hôn nhân thiếu tình yêu kia có dấu hiệu rạn nứt. Lẽ nào nàng đã sai?

Đôi ba tin đồn ác ý về mối quan hệ mập mờ giữa hai người nàng hết sức tin tưởng đến tai nàng cũng chẳng mảy may nghi ngờ. Nàng vẫn biết thói đời thêu dệt nhiều chuyện oái oăm, con người ta luôn thấy chút gì đó thích thú trước những bất hạnh của đồng loại. Tuy nhiên nàng cũng thừa nhạy cảm và đủ thông minh để thiết lập một hàng rào bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Những câu chuyện vu vơ về mối quan hệ ngoài luồng của ai đó. Những tâm sự đàn bà về người chồng đầu ấp tay gối. Những tín hiệu ngầm như cảnh báo. Những khẳng định chắc nịch của lòng tin về sự chung thủy và cả những tia quan sát ngấm ngầm sẵn sàng chặn đứng mọi tội lỗi có thể. Nàng đã chu đáo, đã cẩn thận, đã tự tin như thế. Lẽ nào nàng đã sai?

Nàng nhìn hai con người trước mặt mình, hai con người nàng đã yêu thương tin tưởng biết dường nào, nay bắt tay cùng nhau phản bội nàng. Cuộc gặp gỡ ba người mà nàng cố tình sắp xếp khiến cho đối phương không dấu kịp sự ngỡ ngàng. Nàng thấy lòng hơi hả hê khi nhận ra vị trí phán xét của mình trước hai con người tội lỗi không dám nhìn thẳng vào mắt nàng. Họ không nhìn nàng và cũng không dám nhìn nhau. Nàng đã hồi hộp chờ đợi giây phút này, để tuôn ra muôn ngàn lời chì chiết chửi rủa thậm tệ, nàng nghĩ ra tất cả những câu đau đớn nhất có thể, nàng biết rõ từng điểm yếu của đối phương vì đã có thời nàng coi họ là máu thịt của chính mình.


Nàng có thể giết họ, chỉ bằng một câu nói. Vậy mà giờ đây, nàng không thể thốt nên lời, nàng nhìn họ đăm đăm rồi vội quay đi, cố ngăn không cho những giọt nước mắt trào ra. Không được khóc, nàng tự nhủ, mình không được khóc. Chính họ mới là người phải khóc vì đã phản bội mình. Lòng kiêu hãnh giúp nàng ngẩng mặt lên ngạo nghễ. Họ cất lời xin lỗi càng khiến nàng thêm tức giận. Đồng thanh đồng khí làm sao!
- Tại sao lại là hai người? – Nàng hỏi mà không mong một câu trả lời - Hai người thèm nhau tới thế sao?
- …!
- Dù sao đây cũng chẳng phải chuyện tốt đẹp gì. Tôi cũng không muốn làm to chuyện để mọi người cười chê, chúng ta nên giải quyết trong nội bộ ba người thôi.
Nàng nhếch môi cười khi bắt gặp cái thở phào dù rất khẽ. Dám làm mà còn sợ người ta biết, hèn thế!
- Nếu em mở lòng tha thứ, chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu như không có chuyện gì xảy ra, anh hứa sẽ…
Nàng giơ tay ngăn chồng nói tiếp.
- Em sẵn sàng để hai người đến với nhau mà tận hưởng hạnh phúc! Cứ yên tâm!
- Không, mình không…!
Nàng lại trừng mắt khi cô bạn vừa mở lời. Trong lúc này, nàng mới là người được quyền lên tiếng và quyết định chứ không phải họ. Bất kỳ câu nói nào phát ra từ hai cái miệng đáng ghét kia cũng có nguy cơ làm cơn giận trong lòng nàng bùng nổ.
- Đổi lại chúng ta có một thỏa thuận – nàng nhìn cô bạn đang ủ dột cúi đầu – cậu đã cho mình mượn năm trăm triệu cách đây ba tháng. Mình là người sòng phẳng và không muốn nợ nần ai, nhất là với cậu, cho nên mình bán anh ta cho cậu để trừ nợ. Cậu lấy anh ta và chúng ta không còn nợ nần gì nhau.
- Em! Sao em có thể…?
- Tại sao không? Điều kinh tởm nhất là ngoại tình với bạn vợ anh còn làm được thì anh có quyền gì mà trách móc ai? Đúng, tôi bán anh cho cô ta đó, năm trăm triệu là quá tốt rồi chứ con người anh thực ra không đáng một xu. Tuy nhiên cô ta thèm khát anh như vậy thì bỏ năm trăm triệu ra lấy anh về mua vui chắc cô ta chẳng tiếc đâu, đúng không?
Nàng nhìn hai gương mặt tái xanh vì hổ thẹn và bị xúc phạm, biết mình đã đánh đúng chỗ yếu nhất. Trái tim nàng có giây lát sung sướng hả hê. Hai con người trí thức, tự tôn và hiểu biết kia, câu nói của nàng còn đau đớn, nhục nhã hơn vạn lần xỉa xói chửi rủa mỉa mai. Nàng xách túi đứng lên, nhìn hai người ngồi đó bằng ánh mắt khinh bỉ nhất mà nàng có thể.
- Thế nhé, nếu có ai quen hỏi thăm tôi sẽ nói ngắn gọn là bán chồng cho bạn thân với giá năm trăm triệu, còn những việc khác hai người muốn giải thích thế nào thì tùy, tôi không quan tâm, từ nay chúng ta không còn bất cứ quan hệ nào với nhau nữa. Chúc may mắn!

Nàng kiêu hãnh quay bước đi, biết chắc hai người ngồi lại sẽ vì câu nói của mình mà không thể yên ổn. Đối với nàng đây mới thực sự là đòn trừng phạt đáng giá.
Nàng dắt xe, nổ máy, cố giữ cho tay mình bớt run rẩy. Trong sự thích thú hả hê khi làm cho đối thủ kinh hãi, nàng nhận thấy cả nổi đau ngấm ngầm mà giờ đây chỉ còn riêng với mình, nàng cảm nhận nó trào sôi dữ dội. Nàng đeo khẩu trang, đeo kính, mặc áo khoác, che đậy mình thật kỹ và chạy đi. Dưới lớp bọc kín đáo, nỗi đau vùng lên thổn thức và nước mắt nàng không ngừng tuôn rơi. Trong dòng người hối hả trên đường, không ai hay có một người đang dấu gương mặt đầm đìa sau lớp khẩu trang. Nàng lướt đi như trôi vào cõi mộng du.

Sân bay Tân Sơn Nhất một ngày nhiều gió, người đàn bà trung niên quấn lại chiếc khăn quàng cổ, dõi mắt nhìn trời xanh như tìm kiếm một hình ảnh quen thuộc, một mảnh trời quê mà bà nghĩ có lẽ suốt đời mình chẳng bao giờ gặp lại. Đã hai mươi năm kể từ ngày bà rời bỏ quê hương, mang theo trong tim nỗi đau như cắt và cả lòng tin đã vụn vỡ, hy vọng xứ người xa lạ có thể làm hàn gắn một vết thương. Nhưng người đàn bà càng thành đạt bao nhiêu càng thấy lòng mình nhức nhối bấy nhiêu vì vết thương tưởng chừng như hóa thạch vẫn thầm âm ỉ trong tim. Sống trong nỗi giận hờn đau đớn suốt hai mươi năm, một ngày chợt nhận ra tóc đã bạc màu, môi thôi thắm tươi và mắt đã hằn những vết thời gian, lại chợt thèm quay quắt trở về, trở về để thứ tha, để quá khứ không còn hành hạ đêm đêm, để tìm cho mình phút bình an cuối cuộc đời. Tha thứ cho người và cho cả chính mình.

Căn nhà nhỏ hơn bà nghĩ, giản dị đến không ngờ. Trước sân trồng bụi hoa nguyệt quế xum xuê, loài hoa mà bà vẫn yêu thích. Bà hít một hơi rồi nhấn chuông, lòng không dưng hồi hộp kỳ lạ. Một người phụ nữ gầy gò khắc khổ bước ra mở cửa, họ nhìn nhau, sững sờ, ca nước trên tay chủ nhà rơi xuống vang một tiếng khô khốc.
Họ ngồi trong phòng khách, đã hai mươi phút trôi qua mà vẫn chưa ai cất nên lời, ngập ngừng bà hỏi một câu khách sáo:
- Hai người vẫn khỏe chứ?
- Tôi vẫn khỏe, nhưng ông ấy thì…
Chủ nhà ngập ngừng đưa mắt nhìn vào nhà trong.
- Ông ấy bệnh à?
- Ông ấy đột quỵ, nằm một chỗ đã năm năm nay rồi!
- Vậy ư? Ông ấy vốn rất khỏe mà. Hai người thay đổi nhiều quá, suýt nữa tôi không nhận ra.
- Còn bà vẫn đẹp như xưa, thậm chí còn đài các hơn rất nhiều, thời gian có vẻ như không làm ảnh hưởng tới bà mấy. Chắc bà sống rất hạnh phúc?
- Hạnh phúc? Nếu tôi thật sự hạnh phúc liệu hai người có thấy thanh thản hơn không? Hai người cũng đang rất hạnh phúc cơ mà.
Bà chủ nhà giật mình trước cái nhìn của vị khách, bà thu người trong cái ghế, thân hình gầy ốm càng có vẻ teo tóp lại trước vẻ tự tin và ánh mắt nhiều hàm ý kia. Mất một lúc lâu bà chủ nhà mới lên tiếng:
- Chúng tôi không hạnh phúc như bà nghĩ đâu. Ngày đó, sau khi bà bỏ đi, chúng tôi đã sống những ngày thật kinh khủng dưới sự lên án và dè bỉu của những người thân quen. Chúng tôi có lỗi và phải chịu hình phạt. Nhưng hình phạt lớn nhất, kinh khủng nhất không phải là cái nhìn của dư luận mà chính là câu nói sau cùng của bà: “Bán chồng cho bạn với giá năm trăm triệu!”. Câu nói đó ám ảnh hai chúng tôi đến tận bây giờ.
- Tôi không nghĩ sau việc làm của hai người thì còn có điều gì khiến hai người phải e ngại!
- Thật ra mối quan hệ của chúng tôi chỉ là một phút không kiềm chế mình. Tôi không phải là thanh minh! Nhưng chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đến với nhau, nhất là ông ấy, ông ấy vẫn rất yêu bà và chưa bao giờ có ý định bỏ bà cả.
- Nhưng rốt cuộc hai người vẫn đến với nhau!
- Phải, có lẽ vì chúng tôi quá cô đơn và cùng chịu chung một nỗi giày vò. Điều đó đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn, chứ không phải là tình yêu. Chúng tôi sống cùng nhau để động viên nhau, an ủi nhau, cùng nhau chờ đợi…
- Chờ đợi điều gì?
- Sự tha thứ của bà!
- Thật khó tin!
- Phải, có lẽ bà không tin, nhưng hơn hai mươi năm sống chung chúng tôi trên danh nghĩa luật pháp vẫn không phải là vợ chồng. Chúng tôi không có giấy hôn thú, ông ấy không muốn đăng ký kết hôn vì đối với ông ấy bà là người vợ duy nhất! Cuộc sống của chúng tôi thật chẳng dễ dàng. Ông ấy không còn đam mê nghiên cứu, công việc của tôi cũng gặp khó khăn, có lẽ đó là quả báo. Chúng tôi ở chung một nhà, ăn chung một mâm cơm, ngủ chung một giường và cùng chung một người để nghĩ đến. Chúng tôi không dám nhìn vào mắt nhau, không dám ôm nhau ngủ, thậm chí không dám cả việc có con, tất cả chỉ vì nỗi ân hận và sợ hãi dày vò. Chúng tôi cô đơn và mệt mỏi, tận cùng, như một cái giá phải trả. Năm năm trước ông ấy đột quỵ, nằm liệt một chỗ, nói năng cũng trở nên khó khăn, vậy mà ông ấy vẫn luôn gọi tên bà. Chúng tôi luôn cầu mong một ngày nào đó bà quay về và tha thứ cho chúng tôi.

Người đàn bà ngồi nghe, lặng người, tâm trí hoang mang. Lẽ ra bà phải thấy thích thú, hả hê lắm khi chứng kiến cộc sống thương tâm của hai người đã từng hủy hoại lòng tin yêu trong bà. Vậy mà giờ đây, trước người đàn bà một thời bà căm hận, bà chỉ thấy một nỗi xót xa không nói nên lời.
- Bà cho tôi vào thăm ông ấy!
Bà không dám tin vào mắt mình nữa, hai mươi năm, hai mươi năm làm người ta thay đổi đến thế này ư? Nằm bất động trên giường là một người đàn ông gầy gò, già nua và mỏi mệt. Bà không dám tin đây chính là người đã từng là chồng mình, đã từng là người đàn ông bà hết mực yêu thương, đã từng là người đàn ông làm bà đau đớn vì yêu và hận suốt mấy chục năm trời.
- Ông có nhận ra ai đây không?
Đôi mắt người đàn ông nhìn bà thật lâu, cái nhìn ban đầu vốn lãnh đạm phút chốc trở nên thảng thốt
- Yến… Yến!... Em Yến,… vợ… vợ anh!
Người đàn ông lắp bắp, khuôn miệng méo xệch, những âm từ rời rạc vang lên, vội vã, vui mừng lẫn tủi hổ. Bà nhìn ông, bật khóc. Bà bước tới, nắm bàn tay giơ ra chờ đợi, bà căm giận ông, nhưng muôn ngàn lần không muốn ông phải khổ sở thế này. Đôi mắt người đàn ông ầng ậc nước, cái nhìn dán vào mặt bà như tìm kiếm, van nài, cái nhìn khẩn khoản đầy hy vọng.
- Đừng… đừng… bán… anh!

Bà sửng sờ nhìn ông nghe lòng nghẹn đắng. Trời ơi, hóa ra câu nói của bà đã ám ảnh ông đến tận bây giờ. Thốt nhiên bà thấy ghê sợ chính mình, bà thấy mình cũng độc ác, cũng hèn hạ, cũng nhẫn tâm, thậm chí nỗi đau bà gây ra cho đối phương còn kinh khủng gấp mấy lần. Tại sao, tại sao khi đó bà lại nói ra câu nói độc địa đó? Phải chăng vì lời nói tàn nhẫn đó mà chính bản thân bà suốt hai mươi năm vẫn không được một ngày vui vẻ?
- Tha… tha thứ… cho anh!
Ông vẫn lắp bắp nói, ông có lẽ nuốn nói rất nhiều, phải chi ngày đó bà cho ông một cơ hội lên tiếng, bà đã để cơn giận lôi mình đi quá xa. Nước mắt ông vẫn ứa ra làm hai người đàn bà nghẹn ngào tức tưởi không thốt nên lời.
- Ông ấy vẫn còn rất yêu bà! Ông ấy và cả tôi nữa đều mong nhận được sự tha thứ từ bà, có vậy chúng tôi chết mới nhắm mắt được.
- Khi tôi quay về đây là tôi biết mình cần phải làm gì. Bản thân tôi mang nỗi căm hận trong lòng cũng chưa từng có một ngày được sống yên ổn. Tôi tha thứ cho hai người, và tôi cũng muốn tha thứ cho chính mình. Chúng ta đều đã già, hãy sống những ngày còn lại thật vui vẻ. Những hỉ nộ ái ố của cuộc đời đã không còn dành cho chúng ta nữa rồi.

Bà quay sang ông, dùng tay lau đi những giọt nước mắt đang ứa ra trên gương mặt nhăn nhúm vì xúc động của người bà một thời yêu thương, và nở một nụ cười nhẹ nhàng.
- Em đã tha thứ cho anh từ rất lâu rồi! Tha thứ cho cả hai người! Anh và cô ấy!
Người đàn ông gật gật đầu, môi nở một nụ dẫu méo mó nhưng đầy sức sống, nước mắt vẫn cứ chảy ra, chảy ra không sao ngăn lại.

Người đàn bà rời khỏi căn nhà đơn sơ sau buổi trùng phùng. Bà chủ nhà bịn rịn tiễn chân, lúc quay vào nhận ra trên bàn một phong bì trắng. Có một lời nhắn gửi lại: “Đây là năm trăm triệu ngày xưa bà cho tôi mượn, tôi xin trả lại đồng thời rút lại lời nói khi đó, tôi không bao giờ bán chồng cho bạn với giá bao nhiêu đi nữa. Mọi chuyện đã xảy ra xin hai người hãy quên đi để cả ba chúng ta có thể có những ngày cuối đời thanh thản! Thân ái. Bạn gái thân của bà: Phi Yến.”

Thy Vân
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Tue Aug 14, 2018 7:44 am



Đêm Tân Hôn
Truyện Ngắn: Mai Thảo


Đường cúi xuống nhìn đồng hồ. Đúng 10 giờ đêm. Anh nhớ lại thật nhanh trong một lần cuối cùng những khoảng thời gian đã được anh xếp đặt cho việc thi hành và thực hiện dự định.

Mỗi khoảng thời gian đều đứng trên một chỗ đứng riêng: 10g30 vào phòng Liệu. Đúng 11 giờ trở ra. Gặp Liệu, giãi bày cặn kẽ với Liệu trong 30 phút, không hơn không kém. Làm thế nào nói hết đầu đuôi ngọn ngành với Liệu trong 30 phút ngắn ngủi? Thừa thì giờ. Nhưng có đủ thì giờ để Liệu hiểu, suy nghĩ, cân nhắc và ưng thuận? Đường tự trả lời thầm: Liệu sẽ ưng thuận. Anh cũng không hiểu tại sao anh có thể chắc chắn được ở điều đó, ở một người khác dù người ấy là Liệu.

Anh tin ở anh. Nhưng anh lại phải tin ở Liệu, tin một cách liều lĩnh như con người tin ở một cuộc phiêu lưu, tin rằng bên kia đêm sẽ có cái ánh sáng rực rỡ của một ngày. Cả cái chương trình tỉ mỉ, kết quả của bao nhiêu đêm suy nghĩ không ngủ chỉ có 30 phút dành cho những lời anh sẽ nói với Liệu là Đường không cầm nắm được. Cũng chẳng còn cách nào khác. Đành là phải tin chết ở Liệu vậy. Ở đôi mắt Liệu nhìn anh một hôm nào, ở một câu nói dịu dàng của Liệu với anh về Hà Nội, một lần gặp mặt tháng trước, ở đôi tay thon nhỏ của người thiếu nữ. Tin một cách trừu tượng mong manh ở những ngón tay thon nhỏ, ở một đôi mắt hiền hậu, nhưng mà phải tin.

Vậy anh sẽ về phòng Liệu và đi ra lúc 11 giờ đúng. Bữa tiệc sẽ kéo dài và sẽ bế mạc vào 3, 4 giờ sáng. Trước lúc đó không được, vì sớm quá rượu chưa ngấm men, chúng nó còn tỉnh táo thì dễ hỏng việc. Giữa bữa tiệc, anh phải khởi hành chậm lắm là lúc 12 giờ 30. Muộn hơn sẽ không đủ thì giờ đến Văn Điển trước 5 giờ sáng. Đường nhớ lại những vọng gác trùng điệp ở dọc đường, những bốt canh rải rác đến tận cánh đồng cỏ hoang vu sau quận Văn Điển. Đường sẽ nói mấy câu, chúng nó sẽ uống sâm banh và anh sẽ vờ say. Con mắt anh sẽ nhíu lại một vẻ đờ đẫn, bàn tay anh sẽ vung lên trong những dáng điệu nghiêng ngả choáng váng. Chúng nó cười phá lên. Anh nháy mắt với chúng nó, nhìn vào buồng trong. Chúng nó lại cười phá lên.

Bây giờ là là một giờ đêm. Đường chỉ có thể ở phòng Liệu tới 1 giờ rồi phải trở lại bàn tiệc, lần thứ nhì, lần cuối cùng. Đúng 2 giờ sáng lên đường. Đường đã tính đi tính lại, phải ba tiếng rưỡi đồng hồ để đi một đoạn đường 15 cây số, men theo bờ ruộng lầy lội, trong đêm tối nhoà nhạt trên những lối đi tắt ngoài đồng xa cách những làng xóm và những bốt gác. Phải tính cả đến việc đi bộ qua ruộng đêm sẽ mất nhiều thì giờ hơn là đi trên đường lớn.
Đến Văn Điển, 6 giờ kém 30. Trời mùa đông lúc đó mới hé sáng. Đúng 6 giờ thì Đường phải bước lên con đường số 1. Ngày vừa lên thì chương trình cũng vừa thi hành xong.
Đường kiểm điểm lại một lần nữa. Tất cả đều được sắp đặt ổn định. Anh bắt đầu thi hành chương trình bằng cách mỉm cười đánh diêm châm một điếu thuốc lá.
Tên Trưởng ty Công an ngó anh chăm chú hỏi:
-“Cười gì thế Đường?”
Y ngồi ngay bên cạnh anh. Đêm nay cũng như từ ba năm, lúc đứng lúc ngồi, bao giờ y cũng ở bên cạnh anh. Cái thân hình cao lớn của Đường lại là cái bóng của nó, bé nhỏ, xiêu đổ. Nó bám hút lấy anh như một loài đỉa như một con rắn độc nguy hiểm lại như một loài mèo có đôi mắt lặng lờ giảo quyệt. Nó vẫn luôn luôn dò xét anh từng cử chỉ bé nhỏ, từng câu nói vụn vặt. Đêm nay nó lại ngồi ở chỗ cũ như một cái bóng, nghĩa là ở bên cạnh anh. Đường nghĩ rằng anh sẽ thích thú ghê gớm nếu bây giờ trước cái ánh sáng chói chang của năm ngọn đèn măng sông, trước tất cả bọn chúng nó, anh được đứng dậy, xoay người vào tên Trưởng ty, thu hết sức căm giận đấm về phía trước mặt. Nắm đấm sẽ làm tối tăm một đôi mắt cú vọ mở đến đứt kẽ vì kinh ngạc, và thằng Trưởng ty Công an sẽ ngã sấp gập xuống mặt bàn. Thì anh sẽ giải thoát cho anh được một thứ gánh nặng, một cái bóng tối, một ám ảnh bền vững ma quái đã chứa nén quá lâu ngày.

Nhưng nắm tay không được phóng ra vì Đường vừa nghĩ tới chương trình của mình. Anh nén lại, rồi nghiêng sang tên Trưởng ty, thì thầm:
-“Nghĩ gì thì anh biết đứt đi rồi. Anh chỉ được cái xỏ lá”.
Miệng nói anh khẽ đấm vào hông tên Trưởng ty, nháy mắt nhìn vào trong buồng. Nó nhìn theo, nháy lại ra ý hiểu rồi cười ngặt nghẽo:
-“Thì chốc nữa tha hồ “dùng”. Đi đâu mà cuống lên thế”.
Nhân cơ hội, nó đùa nó thêm ngay một câu:
-“Đẹp nhất Vân Đình đấy, cậu tư bản cậu tranh mất của chúng tớ. Chán rồi cho chúng tớ mượn nhé. Cộng sản mà!”
Đúng rồi, cộng sản mà! Nó bảo Đường cho nó mượn Liệu, nó đang làm sáng tỏ cái chủ nghĩa của chúng nó đấy. Đường nghẹn thở vì câu nói thô bỉ mà vẫn phải cười đáp lại:
-“Ờ, tháng sau tớ chán tớ cho cậu mượn”.

Tên Trưởng ty cười lớn. Mặt nó hồng lên rồi thẫm lại dần dần. Men đang ngấm vào từng tí một. Đường yên lặng theo dõi men rượu đang thấm lắng qua người nó từng tí một. Đường có cảm tưởng như anh nhìn thấy những lối đi của men trong người tên Trưởng ty. Những khuôn mặt khác cũng đã bắt đầu lên màu. Những mẩu tàn thuốc 555 và 999 rơi vãi trên khắp mặt bàn trắng tinh. Vỏ cam đổ ngổn ngang chung quanh những thành đĩa. Một vài cốc rượu đổ nghiêng không có một bàn tay nào buồn nhấc lên. Đường đưa mắt nhìn theo dọc bàn, tất cả những tai to mặt lớn đều có mặt. Tên Chánh án Toà án Quân sự Liên khu ngồi ở giữa, tên Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh ngồi đối diện. Ngoài ra thì toàn là những cán bộ cao cấp. Chúng nó ăn mặc áo nâu rách xơ xác nhưng chúng nó uống hàng thùng sâm banh, ăn hàng chục cân cam, ăn hết chim đến gà lại đến những món vây bóng Đường đặt mua từ trong Hà Nội. Tháng trước, được tin Đường cưới vợ, mời chúng dự tiệc cưới, thằng nào cũng giục Đường phải cho người vào Hà Nội mua vây bóng, thuốc lá và rượu mạnh. Nhất là thuốc lá và rượu mạnh.

Bây giờ là vào cuối tháng Chín năm 1950. Con đường duy nhất từ Vân Đình vào Hà Nội qua vùng La Khê ra chợ Văn Điển vừa bị Công an cộng sản cắt đứt. Hàng trăm gia đình tới đó đều bị bắt ở chung quanh La Khê rồi từ La Khê áp tải thẳng vào trại số 5 của Lý Bá Sơ. Con đường độc đạo cuối cùng từ vùng cộng sản vào Hà Nội thế là không còn nữa. Chúng nó đặt bốn trạm kiểm soát ngoài La Khê, trong xóm, cả về phía bên kia La Khê. Những bờ ruộng, cỏ mòn úa dưới những vết chân của những đoàn người dời bỏ khu vực cộng sản qua đó, lại mọc lên hoang rậm như cũ.

Đường quyết định trốn về Hà Nội cùng một lúc khi anh được tin con đường về bị cắt đứt và những gia đình xấu số đã bị bắt giải vào Liên khu IV. Nhưng anh cảm thấy anh không thể trì hoãn được nữa. Trong Hà Nội đưa tin ra cho anh biết mẹ anh bị đau nặng, bệnh tê của thầy anh lại tái phát, gần mười đứa em nhỏ của anh không còn người trông nom, Chính phủ Quốc gia trong đó cần một người thông thạo tất cả những đường lối tổ chức ngoại thương để thiết lập những bang giao thương mại rộng lớn với ngoại quốc. Anh phải về Hà Nội. Về bằng bất cứ cách nào: đường bộ, đường thuỷ, nhưng phải về ngay.

Cộng sản cũng biết Đường cần phải về Hà Nội và anh sẽ về bằng bất cứ cách nào. Lúc đó chúng đang mơn trớn những người trí thức tản cư ra hậu phương, Đường lại quen biết nhiều, sợ ầm tiếng, chúng không dám thủ tiêu anh ngay.
Nhưng chúng cho canh phòng anh hết sức chặt chẽ. Đường ở dưới Sêu Đặng chúng ngầm cho nhân viên Công an đến ở nhà bên cạnh. Thằng này ngủ thằng khác thức thay phiên nhau canh giữ anh suốt ngày đêm. Anh lên Vân Đình chúng bỏ Siêu Đặng lên theo. Canh gác ngày càng nghiêm mật vì chúng không thể để cho anh đi thoát. Chính chúng cũng cần những người như anh, vì giao thương với quốc tế, cả khu vực cộng sản chỉ có anh là đủ năng lực và nhiều kinh nghiệm nhất. Để mất anh là một sự tai hại ghê gớm. Đường cũng biết vậy. Ngày lại ngày những cái mắt của một cái lưới vô hình cứ nhỏ lại mãi. Và những cái bóng cộng sản lẩn khuất chung quanh khởi đầu chỉ thấp thoáng, càng ngày càng hiển hiện rõ rệt thêm.

Những buổi tối ra ngồi bên sông Vân Đình nhìn về chân trời Hà Nội đã sáng lên một vùng ánh sáng lung linh hư ảo, nghĩ đến mẹ, đến một lũ em nhỏ, đến những dự định của anh trong vùng Quốc gia, Đường mím môi nhìn xuống mặt nước tối, cố nghĩ ra một lối trốn thoát khỏi thiên đường cộng sản. Con đường có mấy chục cây số mà hiểm trở hơn hàng nghìn cây số núi rừng. Anh nóng ruột tưởng chừng muốn phát điên lên. Anh biết rằng ngồi đâu đứng đâu cũng có ít nhất là một tên công an lẩn khuất gần gũi đâu đó. Mỗi hành động mỗi cử chỉ của anh đều được ghi nhặt. Nhiều lúc Đường muốn đánh liều cứ đi, phó thác hoàn toàn cho may rủi, nhưng rồi anh lại thôi, cái lẽ giản dị là con người anh không bao giờ chịu hành động hoàn toàn theo may rủi. Nhiều đêm muốn thử xem sao, anh giả vờ mở cửa ra ngoài phố là y như rằng đã có một cái bóng đứng gần nhà hoặc ở dưới một bóng cây, hoặc dưới một mái hiên tối. Đường biết rằng chúng theo dõi anh từng bước, cả ngày lẫn đêm.
Làm thế nào để có được một đêm không bị theo dõi? Chỉ cần một đêm không bị theo dõi. Nhưng làm thế nào?

Bỗng nhiên một hôm Đường gặp Liệu.
Ý nghĩ vụt đến như một tia chớp. Đường quen Liệu từ ngoài Hà Nội. Cùng tản cư ra hậu phương, họ gặp nhau ở Vân Đình, nhưng lần nào hai người cũng chỉ hỏi thăm nhau qua loa. Cho đến buổi chiều mà Đường nhất định đặt Liệu vào cái động cơ chính trong dự tính trốn thoát của anh. Anh liền dành cho Liệu một thái độ mới. Anh đến thăm Liệu nhiều lần. Những đêm có trăng sáng anh đến đón Liệu đi chơi thuyền trên sông Vân Đình. Liệu có một cửa hàng thuốc tây nhỏ ở cuối phố. Tên Trưởng ty Công an vẫn mua thuốc sốt rét ở cửa hàng của Liệu.

Hơn một tháng trôi qua, hai người trở nên thân thiết nhau, Đường hỏi Liệu làm vợ. Chờ tới lúc Liệu vừa chính thức nhận lời, Đường liền tung cái tin anh lập gia đình ở hậu phương trong khắp các giới bạn hữu thân thuộc. Anh cho tên Trưởng ty Công an biết trước nhất.
-“Ố ố, anh mà cũng lấy vợ địa phương à? Nghe đồn anh có vị hôn thê nào ở trong Hà Nội cơ mà? Tên Trưởng ty vừa hỏi vừa đo ý tứ Đường”.
Anh cười to:
-“Ở đâu thì lấy vợ và lập nghiệp ở đó chứ? Phụ nữ Hà Nội lấy Tây lấy Tàu hết rồi, chúng mình lấy cái hạng đàn bà trong vùng bị chiếm ấy sao được anh?”
-“Thật anh lấy vợ không?”
-“Thật. Đêm 30 tháng này tôi mời tất cả các anh đến ăn cưới.
-“Tại sao không cưới ngay đầu tháng, lại phải chờ đến 30?”
-“À còn phải thu xếp cho linh đình chứ! Kháng chiến thì kháng chiến cũng phải có ba con năm, ba con chín, mô-ét săng-đông cho các anh hôm đó chứ không các anh lại cho đi an trí thì hết đời”.

Câu này Đường chỉ nói đúng một phần. Thực ra, chọn ngày cưới vào đêm 30 anh đã nghĩ đến cái bóng tối đen đặc của một đêm cuối tháng. Đêm 30 không có trăng mới đi được.
Hôm nay đã là đêm 30 rồi. Đường nghĩ lại tất cả chuyện đã xảy ra để anh có thể tới được cái quyết định cuối cùng này. Tụi cán bộ vẫn nói cười ầm ầm chung quanh. Mặt chúng nó đỏ gay. Những cái đầu ngả nghiêng xoả sợi trên những ly rượu. Rồi giọng tên Chủ tịch tỉnh lè nhè:
-“Này “đồng chí” Đường, cô dâu đâu gọi ngay ra đây!”
Mấy tên khác ùa lên phụ hoạ nhâu nhâu kêu la cô dâu phải ra trình diện.
-“Lại xấu hổ chớ gì! Đêm nay thì tha hồ mà xấu hổ”.
Cả bọn cười thét lên. Một đứa đập bàn:
-“Dân chủ cộng hoà, thanh niên phụ nữ giải quyết sinh lý với nhau là thường, xấu hổ cái cóc khô gì? Thôi cho đồng chí Đường vào công tác với cô dâu vậy, nhưng phải lập tức ra ngay”.
Đường nhìn đồng hồ. Nghĩ đến dự định, anh liền đứng ngay dậy:
-“Cả làng đã dạy, tôi xin tuân theo mệnh lệnh, nhưng xin được công tác nửa tiếng nhé!”

Nói đoạn, Đường đứng dậy, giả vờ loạng choạng xô ghế, đi thẳng vào phòng Liệu. Anh đóng cửa cẩn thận, rồi tiến lại phía đầu giường. Liệu ngồi cúi đầu một vẻ e thẹn, khép nép. Liệu giật mình khi Đường nói rất nhỏ nhưng rất rõ ràng câu thứ nhất:
-“Tôi muốn nói với Liệu một chuyện rất quan trọng. Xin Liệu bình tĩnh…
Đường kể hết cho Liệu nghe. Anh chỉ định cưới Liệu để lấy cớ trốn đi. Chúng nó canh gác anh đêm ngày. Sự canh gác này chỉ có thể chểnh mảng trong một đêm tân hôn. Vì thế, anh phải giả vờ hỏi Liệu làm vợ. Anh cho chúng nó ăn uống thật say. Chúng nó vừa tưởng anh vào động phòng. Anh sẽ trốn thoát ngả sau. Anh sẽ đi suốt đêm về Văn Điển.
Đường nói xong ngừng lại. Liệu ngồi nghe, chết lặng người đi. Liệu bằng lòng lấy Đường vì yêu Đường thành thực. Không ngờ Đường chỉ dùng nàng như một thứ nguỵ trang để che giấu và thực hiện âm mưu của anh.

Đã gần hết nửa tiếng. Đường nói tiếp, vừa đủ cho Liệu nghe thấy:
-“Bây giờ thì tất cả sự thành bại nằm trong tay Liệu. Liệu có thể ra báo thẳng cho tên Trưởng ty Công an ngoài kia để trả thù tôi về cái việc đã làm tai tiếng và lỡ dở cả cuộc đời của Liệu. Tôi bắt buộc hành động như vậy vì không còn cách nào khác. Như thế là hèn nhát, là tàn nhẫn, nhưng mẹ tôi đau nặng ngoài Hà Nội, các em tôi còn nhỏ cả. Bây giờ Liệu đã biết tôi không có ý lấy Liệu làm vợ, Liệu có toàn quyền định đoạt”.
Đường quay gót đi ra cửa.
Đến cửa buồng thì Liệu gọi tên anh. Đường quay lại.
-“Bao giờ anh lại vào đây?”
Liệu hỏi thẩn thờ như trong giấc mộng.
-“12 giờ đúng. Tôi đã dự tính, tiệc rượu sẽ kéo dài đến 3, 4 giờ sáng. Còn tám món nữa mới đến tráng miệng. Nhưng Liệu hỏi để làm gì?”
Liệu đáp:
-“Anh cứ làm đúng chương trình của anh đi”.
Hai người nhìn nhau giây lát. Đường quay trở ra. Tiệc rượu ồn ào bên ngoài.

10 đến 12 giờ. Ngồi ở buồng ngoài, giữa những tên cán bộ cộng sản ăn uống, cười đùa như phá, giữa những vỏ chai, những tàn thuốc, những màu khói, Đường nghĩ đến một cái đích xa vời bé nhỏ lúc đó là Hà Nội, là tự do và đến một người rất gần là Liệu, Liệu ở buồng trong, giữa cái đêm tân hôn kỳ lạ nhất của đời người đàn bà.
12 giờ kém 5. Đường lại giả vờ. Anh ngã thật mạnh vào tên Trưởng ty Công an.
-“Ê, làm gì đấy! Chưa uống đã say hử?”
Đường tạo giọng nói ngất ngưởng nhất:
-“Say thật đấy? Chẳng uống được… các anh ép tôi, các anh hại tôi…”
Giọng anh bét nhè thêm:
-“Đêm tân hôn của tôi… các anh hại tôi…”

Cả bàn tiệc rung chuyển trong những tiếng cười tiếng thét. Tên Chánh án Quân sự hét thật to, cầm cả một vỏ chai đập thẳng vào mặt tường. Tiếng thuỷ tinh vỡ tan tành trên mặt đất.
-“Thôi nó say, cho nó vào với cô dâu”.
-“Cho vào! Cho vào!”
Đường đứng lên, càng giả vờ loạng choạng hơn:
-“Thế còn các anh? Không, tôi ở lại…”
Chúng nó giậm chân, thét lên:
-“Cho vào. Để mặc chúng tớ. Chúng tớ còn say tới sáng. Còn rượu cứ đưa đây là được rồi. Rượu đâu? Rượu đâu?”
Đường chỉ vào góc buồng. Giữa một đống vỏ không, còn đến gần 20 chai sâm banh chưa mở nút.
-“Tốt, được. Thôi vào đi”.

Đường đi loạng choạng thêm vài bước nữa. Vừa qua cửa buồng, anh đóng nghiến cửa lại. Anh gục đầu xuống. Tấn kịch đóng với chúng nó từ chập tối làm anh mệt lả. Anh dựa đầu vào vách. Tiếng nút rượu mở lốp bốp bên ngoài. Tiếng cười, tiếng đập phá, tiếng thuỷ tinh vỡ. Một lát, Đường ngẩng lên lo lắng. Trước mặt anh, rất gần, Liệu đứng yên lặng. Liệu đã thay áo đen từ bao giờ. Cái áo cưới màu hồng vứt dưới đất, ở một chân giường.
Đường ngạc nhiên lại gần. Hai người nhìn nhau, rồi Liệu nói:
-“Tôi bằng lòng để anh đi”.
-“Tôi cám ơn Liệu”.
-“Nhưng tôi cũng đi với anh”.
Đường mở mắt thật to. Điều này ở ngoài chương trình. Hai người trân trân nhìn nhau một lúc nữa. Sau cùng họ mỉm cười. Đường nắm lấy tay Liệu. Hai người cùng đi ra cửa sau.

Ra đến ngoài, vừa đúng 1 giờ đêm. Phố Vân Đình vắng tanh vắng ngắt. Lần đầu tiên trong mấy năm trời, đêm ấy không có cái bóng đen đứng rình ở bên kia đường. Chúng nó còn đang canh gác mấy chai sâm banh.
Đường dắt Liệu đi xuống bờ ruộng. Hai người cứ men theo thân lúa mà đi ra khỏi địa hạt Vân Đình. Tiếng cười nói từ một bàn tiệc nào cứ xa, cứ nhỏ dần rồi mất hẳn. Đường và Liệu đến một cánh đồng bát ngát. Đêm tối đen đặc chung quanh.
Liệu hỏi nhỏ:
-“Ông Đường, mấy giờ rồi?”
-“Thưa cô, ba giờ”.
Họ tự biết không còn là vợ chồng.
-“Ở đây là đâu ông?”
-“Lối về Văn Điển cô ạ”.

Hai người lại im lặng đi tiếp. Bàn tay Liệu nằm gọn trong tay Đường. Anh dắt người thiếu nữ đi men theo những bờ đất nhỏ. Yên lặng một đoạn thật dài.
Bỗng Liệu cất tiếng:
-“Tại sao ông chờ mãi đến đêm nay mới cho tôi biết?”
-“Tôi cũng thấy như vậy là không phải, nhưng tôi không dám tin cô. Sợ cô biết trước, câu chuyện dễ bại lộ”.
-“Đúng”, Liệu nói vắn gọn “nhưng nếu tôi không thoả thuận thì sao? Tôi ở lại thì ông nghĩ thế nào?”
-“Tôi chỉ định về một mình”.
-“Ông có sự tính đến trường hợp tôi báo tên Trưởng ty Công an biết không?”
-“Có. Nhưng đến lúc vào buồng lần thứ nhất trở ra, tôi có cảm tưởng cô sẽ không làm thế!”
-“Ông tin ở cái gì chứ?”
-“Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ ở cái nhìn, ở sự im lặng của cô lúc đó”.
Họ nói chuyện thì thầm với nhau suốt đoạn đường còn lại. Họ cũng cười khi nghĩ đến những tên công an cộng sản vẫn còn ngã nghiêng, vẫn còn tuý luý trong bữa tiệc thâu đêm và chúng vẫn yên trí rằng hai người còn ở buồng bên cạnh.
Đường thích thú về cái ý nghĩ chúng không thể nào ngờ được anh lại bỏ đi, đúng vào đêm tân hôn, Đường đã bỏ đi, Liệu đã giúp anh. Họ đã thoả thuận đổi một đêm tân hôn thành một đêm đi tìm đời sống và tự do ngoài khu vực tăm tối. Chỉ có một điều làm Đường băn khoăn là anh cho làm thế, anh đã làm hại đời Liệu.

Tờ mờ sáng hôm sau, hai người đến quận Văn Điển bình yên vô sự. Đường xin cấp giấy thông hành cho anh, cho Liệu. Xong xuôi rồi, anh đưa Liệu ra bến xe.
-“Thôi bây giờ Liệu có thể về Hà Nội một mình. Chúng ta sống với nhau một đêm kỳ lạ nhất. Tôi cám ơn Liệu và tất cả. Tôi sẽ giữ những kỷ niệm đẹp nhất về Liệu”.
Người thiếu nữ nhìn anh qua khung xe. Đường lặng người, vừa ngạc nhiên, vừa cảm động. Nước mắt Liệu chảy ướt hai gò má. Liệu mỉm cười qua nước mắt:
-“Anh tưởng anh bỏ em được ư? Anh sẽ gặp mẹ anh, các em nhỏ của anh. Nhưng em, em sẽ gặp ai? Anh đã làm xong xuôi kế hoạch của anh. Nếu bây giờ là kế hoạch của Liệu thì anh nghĩ sao?”
Đường sốt sắng:
-“Tôi chịu ơn Liệu nhiều vô cùng. Liệu bảo gì tôi cũng làm. Liệu cũng có kế hoạch ư?”
-“Có. Anh lên đây. Anh cùng về với Liệu”.
Hai người nhìn nhau rưng rưng. Đường lặng lẽ lên ngồi bên cạnh Liệu. Phía trước mặt họ, con đường số 1 chạy thẳng về một hướng thành phố.

Đường đã vượt khỏi biên giới của cộng sản. Đường không vượt được biên giới của tình cảm. Anh đã ở lại vĩnh viễn trong biên giới của người thiếu nữ.

Hai người hiện có mặt ở miền Nam.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Wed Aug 22, 2018 12:55 am



Tình Tuyệt Vọng
Truyện Ngắn Khái Hưng


Một đêm lễ Noel. Chung quanh chiếc bàn bầu dục phủ khăn trắng trên bày la liệt các món ăn lạnh, năm người ngồi như có chiều mỏi mệt, có dáng buồn rầu. Vì thức khuya chăng? Lúc đó đã gần hai giờ sáng. Vì nghe bài thuyết giáo quá nghiêm khắc của cố B vừa diễn ra ở nhà thờ chăng?
Tối hôm ấy, hăm bốn tháng chạp tây, cũng như mọi năm, năm người bạn vừa đi dự lễ "Nửa đêm" về, tuy trong năm người không ai theo đạo Thiên Chúa. Chẳng qua sống trong cảnh phong lưu, họ chỉ tìm cơ hội để cùng nhau yến lạc cho thỏa thích.
Nhưng sao gà vịt đầy bàn, sâm banh đầy cốc, mà chủ khách ngồi ủ rũ như chẳng muốn ăn, như chẳng buồn uống?

Người ủ rũ nhất là thi sĩ Văn Châu. Linh hồn chàng như đương phiêu diêu nơi xa. Mà chính chàng đã gây nên làn không khí lạnh lùng tẻ ngắt ấy nó lan rộng, nó bao bọc lấy cái bàn tiệc đương đầy những tiếng cười đùa vui vẻ. Chàng nghĩ thơ chăng? Chàng say rượu chăng? Ðều không phải. Chàng chỉ nhớ tới một ngày trong quãng đường đã qua, ngày bạn Tùng Thiện cưới vợ mà chàng đi phù rể.

Văn Châu còn nhớ rõ ràng buổi chiều hôm ấy lái chiếc ô tô theo con đường cong queo về một cái làng hẻo lánh đón dâu. Nghe nói trong đám phù dâu có một cô đẹp lắm, chàng nóng lòng mong cho chóng đến lúc lễ nhà thờ. Một lát, như bầy tiên nữ xuống trần, các cô ung dung yểu điệu, từ trong buồng bước ra. Bỗng Văn Châu ngây người đứng nhìn đăm đăm, không chớp mắt. Chàng không hiểu cớ gì, nhưng mới thoạt trông thấy cô dâu là chàng đã đem lòng yêu ngay, cái yêu vô nghĩa lý, nhưng nó mạnh mẽ vô chừng, tưởng như hai người vốn sẵn duyên kiếp từ đời nào, đã hẹn hò cùng nhau ở kiếp nào mà đến bây giờ mới gặp gỡ.

Từ bấy đến nay đã năm năm. Ðã năm năm Văn Châu ngày ngày đến chơi nhà bạn, trong lòng chôn một mối tình vô lý.
Một lúc lâu, Tùng Thiện uể oải cất tiếng hỏi:
- Ăn xong rồi ta làm gì?
- Rồi ta lại ăn!
Mọi người cười ồ. Cười, vì câu trả lời của bà Tùng Thiện có lý thú, nhưng nhất là vì bà Tùng Thiện đẹp, đẹp lộng lẫy, đẹp rực rỡ. Trong bọn năm người, trông bà lộ hẳn ra, nước da trắng hồng, đôi mắt sáng quắc như hai ngôi sao, cặp môi son cười tươi tựa đóa hoa hồng hàm tiếu.

Cái vui lúc chập tối, hầu biến mất hình như đã theo cái khôi hài của một mỹ nhân mà trở lại xung quanh bàn bầu dục. Phải có nhan sắc diễm lệ như thế thì muốn gì mà chẳng được! Muốn người buồn... người phải buồn, muốn người vui, người phải vui.
- Chị Tùng Thiện nói thì ra dáng khỏe lắm, nhưng chỉ thấy chị ngồi nhìn đĩa, chẳng chịu đụng tới món nào.
Bà chủ vừa nói vừa cười, vừa đặt vào đĩa bà khách quý cái đùi gà thiến quay. Ngồi đối diện vợ, Tùng Thiện nói đùa:
- Ðã thế thì xực hết cái đùi gà, thì bắt ăn một cánh vịt nữa.
- Sợ gì!
Ngồi sát cạnh bà Tùng Thiện, chủ nhân Văn Bình mỉm cười nói tiếp:
- Thế mới thực đáng là bậc đàn chị chứ.
- Còn anh Văn Châu chỉ ngồi mà nhìn thôi à? Hay lại tìm vần thơ đấy?
- Thưa bà không. Trí tôi đang ôn lại bài thuyết giáo của nhà giáo sĩ diễn ban nãy.
- Nghĩ tới làm gì! Chúng ta cứ yên trí rằng thế nào cũng sẽ được lên thiên đường cả là đủ rồi.
- Thưa bà, trừ tôi, vì tôi phạm một tội nặng lắm.
- Thú đi, tôi rửa tội cho.
- Tội tôi không thể thú mà cũng không thể rửa được... vì tôi chôn sâu nó ở trong lòng, tôi âu yếm nó, thờ phụng nó...
- Trời ôi! ai lại thờ phụng tội lỗi bao giờ?
- Văn Châu, bạn yêu quý của chúng ta phạm "tội khả ái" rồi mợ ạ.
- Tội khả ái nghĩa là gì thế?
- Là tội đáng yêu.
Văn Châu đỡ lời:
- Là ái tình tuyệt vọng.
Bà Tùng Thiện nhíu đôi lông mày, ngẫm nghĩ:
- Tôi vẫn không hiểu.

Tùng Thiện mỉm cười, âu yếm nhìn bạn, rồi quay lại nói với vợ:
- Có gì mà mợ không hiểu. Thí dụ Văn Châu yêu một người đàn bà, yêu ngay từ buổi, ngay từ phút mới gặp lần đầu. Song yêu mà không bao giờ dám hé môi, vì người mình yêu có lẽ là vợ bạn thân. Ðó, tình tuyệt vọng, tội khả ái chỉ là thế.
"Này! anh Văn Châu, anh cho phép tôi thay lời người anh yêu trộm, nhớ thầm mà an ủi anh mấy câu:
"Ở đời không có hạnh phúc nào cao thượng bằng hạnh phúc của ái tình tuyệt vọng... Yêu nên chiều, chiều nhưng không dám, không dám nên kính trọng, kính trọng nên càng yêu. Sướng lắm, sướng trong tinh thần, trong linh hồn, trong lý tưởng. Anh đừng tưởng anh yêu thế là có tội. Không có tội, thì anh cứ yêu, nhưng cứ yêu như thế mà thôi.
"Nếu anh lại muốn vượt qua giới hạn cái yêu suông - anh cho là suông thì nó suông, chứ thực ra nó không suông đâu! - Nếu anh lại muốn ái tình đó được hoàn toàn, - hoàn toàn như ý anh tưởng tượng. - thì ngày mà anh quả quyết phạm vào tội nhục thể sẽ là ngày đưa đám cái hạnh phúc tuyệt đích của anh. Vì nếu người đàn bà có chồng cự tuyệt anh, thì anh mặt mũi nào còn dám nhìn tới người anh kính yêu xưa nay nữa. Mà nếu người đàn bà xiêu lòng vì những lời cuồng bột tà dâm, thì thiên tiểu thuyết ái tình của anh sẽ đầy dẫy những sự khốn nạn, nhỏ nhen, nhơ nhuốc nó bắt anh tự khinh anh và bỉ người mà trước anh yêu, anh kính. Cho đến cái tình bằng hữu thiêng liêng kia cũng thành giả dối, giả dối với lương tâm anh.
"Vậy thì anh cứ yêu, cứ yêu như anh đương yêu. Yêu như thế không có tội gì hết, mà người chồng dẫu có biết, cũng chỉ thương anh chớ không ngờ vực anh đâu".

Bà Tùng Thiện nhích một nụ cười:
- Cậu rõ đáng ghét. Câu chuyện khôi hài, mà làm như người đứng diễn thuyết... Sao không thêm một tràng "vạn tuế" vào luôn thể!
- Chứ sao! Ái tình vạn tuế! Bằng hữu vạn tuế!
Mọi người vỗ tay, cười vang. Văn Châu đứng dậy lớn tiếng hô:
- Thiếu niên vạn tuế!
Rồi nâng cốc sâm banh nói luôn:
- Xin uống cạn cốc này để mừng cho tuổi thiếu niên, cái tuổi có đủ các đức tốt, cả đức hay tha thứ... Xong rồi, tôi đọc cho các anh, các chị nghe bài đoản thi tôi dịch của Arvers sang quốc văn.
- Ðọc đi đã, rồi mới uống rượu!
- Bài ấy tôi dịch đã năm năm nay, có chỗ nào kém, các anh phủ chính cho nhé!
- Nhún mãi! mỗi cái đọc đi!
Văn Châu cúi mặt xuống nhìn bàn, đọc thẳng một hơi bài thơ đã thuộc lòng:

Lòng ta chôn một khối tình.
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu.
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi! người đó ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần.
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi.

Người dù ngọc nói hoa cười.
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Ðường đời lặng lẽ bước tiên.
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình.
Một niềm tiết liệt đoan trinh.
Xem thơ nào biết có mình ở trong.
Lạnh lùng, lòng sẽ hỏi lòng.
"Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây."

Mọi người vỗ tay. Tùng Thiện nói:
- Ừ có thế chứ! suýt nữa anh quên mở túi thơ của anh ra. Nhưng trời gần sáng rồi, xin nhà thi sĩ nâng cốc lần cuối cùng để chúc tụng với chúng tôi cái lòng trinh tiết của bà Nodier và những tấm ái tình tuyệt vọng của nhân loại.

***

Ðêm hôm ấy, tuy ngủ được có trong vòng hai tiếng đồng hồ, nhưng là cái đêm khoái nhất của đời Văn Châu. Cảm phục tấm lòng quân tử của bạn, lương tâm Văn Châu như vừa trút được một khối nặng, nó đè nén đã suốt năm năm.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    Tue Aug 28, 2018 12:15 am



CHÉN TRÀ MẠN SEN
Khái Hưng (1896-1947)


Nguyên ngồi xuống ghế tựa, đưa mắt nhìn một lượt các vật bầy trong gian phòng ấm cúng, thân mật.

Lần đầu, chàng nhận lời đến nhà thăm cô bạn gái quen biết ở một buổi họp nói chuyện văn chương. Nhưng gian phòng, chàng tưởng như đã bước tới nhiều lần rồi, tuy không nhớ vào hồi nào.

Người hầu gái bưng đặt trên kỷ hai chén trà mạn sen và nói cô chủ nàng sắp ra.
Hương trà thơm ngát càng phảng phất gợi trong ký ức những kỷ niệm lờ mờ xa xa.
- Anh Nguyên!
Nguyên vội đứng dậy, ngả đầu chào, và đỡ bàn tay nhỏ nhắn để bắt.
- Anh tha lỗi cho em, em để anh đợi lâu quá... mời anh xơi nước.
Nguyên cười một nụ cười vơ vẩn, ngồi xuống ghế. Giọng nói ấy, tiếng cười ấy, chàng cũng đã nghe thấy từ mười mấy năm về trước.

Bỗng chàng chú ý đến bức hình một thiếu nữ đặt trên lò sưởi.
- Thưa cô, ảnh ai, tôi trông quen quen.
Thiếu nữ phá lên cười.
- Anh không nhận ra? ảnh ma măng đấy, chụp đã gần hai mươi năm nay, giống em thế mà anh không nhận ra được?
Nguyên lần lượt nhìn thiếu nữ và người trong ảnh.
- Nàng giống thật, giống lắm... Nhưng mà...
- Nhưng mà sao, thưa anh!
- Không.

Nguyên bưng chén trà uống cạn, rồi đứng dậy cáo biệt.
- Anh vội vàng thế ! Hãy ngồi chơi đã. Ðẻ em vừa về Hà Thành thăm em. Mẹ em biết tiếng anh nên chỉ muốn được gặp anh.
- Thưa cô, quả thực hôm nay tôi bận lắm, xin để khi khác.
- Vâng, thì anh về, nhưng xin anh một chữ ký vào tập thi này.
Thiếu nữ ra tủ rút một quyển sách vừa mua đưa cho Nguyên. Chàng mỉm cười tự phụ của tác giả ngắm tác phẩm của mình ở trong tay cô gái đẹp.
- Cô mua? Rõ tôi vô tâm quá, chưa gửi tặng cô.
- Mua cũng thế. Nhưng anh cứ đề tặng đấy nhé, để một câu gì thật thân mật... Mà xin anh ký tên thật cho chứ đừng ký tên biệt hiệu.

Nguyên đỡ lấy quyển sách suy nghĩ một lát rồi viết:
"Kính tặng cô Ý Lan.
Người bạn già của cô".
Ý Lan có ý không bằng lòng, lạnh lùng đưa tay bắt tay Nguyên.

* * *

Về nhà, Nguyên buồn rầu chống tay ngồi nghĩ. Trời! Thảo nào mà chẳng ngờ ngợ. Thì ra Ý Lan là con Anh Tú.

Mười tám mười chín năm trước chàng cùng học với Tú trường cao đẳng sư phạm. Tình bè bạn của hai người tuy rất thân mật song chỉ là tình bè bạn và không bao giờ vượt ra ngoài giới hạn tình bè bạn.
Anh Tú là thế, mà Nguyên cũng tưởng là thế.
Mãi lúc Anh Tú lấy chồng, Nguyên mới kịp nhận ra rằng tình yêu đã ngầm nhóm từ lâu trong tim chàng.
Rồi mỗi người đi một ngả trên đường đời. Nguyên cố quên và cố xa lánh người bạn gái đã vô tình làm cho chàng mang một vết thương lòng.

Nhưng vết thương ấy hàn kín ngay. Ðối với người dễ quên, dễ sướng như Nguyên, chẳng một sự thống khổ nào có thể ăn sâu vào tâm hồn được. Vì thế, nay chàng vui với cô Tuyết, mai chàng thân với cô Lan, kia chàng chung sống với cô Hồng. Về những bài thơ của chàng vì chàng vẫn thích chơi văn, mỗi khi gặp duyên mới, lại hay, lại vui tươi, lại mới mẻ như hồi quen Anh Tú. Ngày nay thời gian đã điểm bạc đầu chàng, mà lời cùng ý trong thơ của chàng vẫn trẻ, mà trái tim của chàng vẫn không già. Ðến nỗi đứng trước các cô thiếu nữ, chàng quên hẳn tuổi mình, và tưởng mới mười bảy mười tám như bọn họ, tựa một bầy học sinh nghịch ngợm.

Ban nãy, chén chè mạn sen hương ngát đã nhắc chàng nhớ tới biết bao chén trà mạn sen trong quãng đời dĩ vãng, từ chén thứ nhất ở phòng khách nhà Anh Tú, một buổi chiều xuân đôi bạn tri kỷ ngồi nói chuyện tương lai.

***

Mấy hôm sau, Ý Lan viết thư khẩn khoản mời Nguyên đến chơi ngay.
Nguyên vừa bước vào phòng khách, Ý Lan đã vội vàng giới thiệu chàng với khắp mọi người, với bầy trẻ của nàng và cả với Anh Tú, thân mẫu nàng nữa...

Anh Tú kinh ngạc đăm đăm nhìn Nguyên :
- Trời! Tưởng ông bạn của Ý Lan là ai té ra anh Nguyên.
Ý Lan thích chí, cười khanh khách :
- Ồ! Mẹ biết anh Nguyên?
- Lại chẳng biết!
Mặt Nguyên nóng bừng, Nguyên ấp úng chào:
- Thưa bà...
Thấy người bạn xưa ngơ ngác, Anh Tú hỏi:
- Anh quên tôi rồi?
Nguyên mỉm cười:
- Thưa bà, tôi quên thế nào được.
Anh Tú ngắm nghía bạn:
- Vẫn trẻ nhỉ?
- Thưa bà, ở đời vẫn có hạng không bao giờ già.
- Dễ thường hạng người ấy uống thuốc tiên.
- Chính thế. Thuốc tiên của họ là lòng vô tư lự.

Ý Lan cướp lời của mẹ :
- Thưa mẹ, anh Nguyên đã nhiều tuổi rồi, sao con trông còn trẻ thế?
Nguyên mỉm cười:
- Thưa cô, cũng khá nhiều tuổi, nghĩa là gấp đôi tuổi cô.
Ý Lan kinh ngạc, kêu:
- Băm sáu?
Nguyên thản nhiên:
- Băm bảy.
Ý Lan buồn rầu, lặng lẻ nhìn Nguyên.

* * *

Rồi mấy tháng sau, Ý Lan lấy chồng.
Nguyên buồn, vì Nguyên đã bắt đầu yêu Ý Lan thắm thía, yêu đậm đà.
Nhưng cũng như thời Anh Tú lấy chồng, cũng như thời cô Lý, cô Liên, cô Phụng đi lấy chồng, cái buồn ấy chẳng thể mọc rễ trong trái tim chàng được: nó cũng mau bị chàng quên, như mùa xuân tới, người ta quên mùa xuân qua.

Rồi trên con đường vô gia đình của chàng, biết đâu một ngày kia chàng không gặp, không yêu các cô bạn gái khác, các cô Hương, cô Lý, cô Liên, cô Phụng?
Chàng yêu, sẽ yêu cho đến ngày vĩnh biệt cõi trần, yêu cái xinh đẹp, yêu cái dịu dàng, mềm mại lộng lẫy, rực rỡ, kiều diễm, vì tâm hồn thi sĩ.

Rồi cũng cây hồng gặp mùa xuân nảy nở ra những bông hoa thơm, mỗi ân ái tình hoặc tha thiết hoặc nồng nàn lại làm nảy nở dưới ngọn bút chàng những áng thơ lời văn xinh đẹp ý tứ âu yếm, dịu dàng như chén trà mạn thoang thoảng hương sen.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm    

Về Đầu Trang Go down
 
Tuyển Tập Truyện Ngắn Tình Cảm
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến