Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
tran thang Chia sung Mộng VNCH Thuong hanh
Latest topics
July 2018
MonTueWedThuFriSatSun
      1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
3031     
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)

Go down 
Tác giảThông điệp
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sun Jul 01, 2012 3:05 am



Dino Buzzati sinh năm 1906 tại Belluno, mất năm 1972 ở Milano (Italia). Trước khi viết văn, ông là họa sĩ, nhạc sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường và phụ trách mục phê bình nghệ thuật cho Corriere della Sera, một nhật báo quan trọng nhất nước Ý.

Với Sa mạc Tartari (1940), tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, ông đã trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20. Nhiều truyện dài của ông đã được chuyển thành kịch bản sân khấu, phát thanh và truyền hình. Truyện Con chó gặp Chúa, đã được trình diễn trên đài truyền hình Pháp.
Ông viết nhiều tiểu thuyết nhưng hình như thể loại yêu thích của ông là truyện ngắn. Chủ đề quen thuộc của Buzzati là những ám ảnh và nỗi bất an của kiếp người, sự chạy trốn thời gian, định mệnh, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, mong manh của tình yêu, bí ẩn của nỗi đau và cái ác...
Bằng bút pháp độc đáo ông dắt người đọc ra khỏi cuộc sống thường ngày để bước vào một thế giới khác, rồi đẩy họ vào những sự kiện nghịch lý, ly kỳ và đầy bí ẩn. Bí ẩn vì nằm ngoài cánh cửa của đời sống thường nhật nhưng cũng có thể đồng hiện hữu với diễn biến thường ngày mà chúng ta đã vô tình không nhận thấy để cuối cùng phải kinh ngạc, suy nghĩ... trong một niềm xúc động sâu xa. 




Những ngày đánh mất
Dino Buzzati  (Ý)


Vài ngày sau khi mua biệt thự, một bữa về nhà Ernst Kazirra thấy một gã đàn ông đang lách ra ngõ phụ trổ qua tường, trên vai vác một thùng gỗ rồi chất nó lên xe cam nhông.

Anh chưa kịp chận thì gã đã bỏ chạy. Anh phải đuổi theo bằng xe hơi. Chiếc cam nhông chạy ngoằn ngoèo đến tận ngoại biên thành phố rồi mới chịu dừng trên lề một bờ vực.

Kazirra xuống xe và bước đến. Gã lạ mặt đang khuân một thùng gỗ, khệnh khạng đi vài bước rồi quăng xuống hố. Dưới đó đã có chất hằng nghìn thùng gỗ khác, rất giống nhau.

Anh đến trước mặt gã đàn ông và hỏi: “Tôi thấy anh mang những thứ này từ khuôn viên nhà tôi. Anh bỏ cái gì trong đó? Còn những cái thùng gỗ này là đồ quái gì vậy?”

Gã lạ mặt nhìn anh rồi tủm tỉm cười. “Tôi còn nhiều lắm trên xe cam nhông, để vất đi. Ông không biết à? Chúng là những ngày."

“Những ngày gì?”
“Những ngày của ông”.
“Những ngày của tôi?”
“Những ngày đã mất của ông. Những ngày mà ông đã hoang phí. Có phải ông đã đợi chúng không? Chúng đến rồi đấy. Nhưng ông đã dùng để làm gì? Ðấy, ông xem, còn nguyên vẹn. Bây giờ thì...”

Kazirra đảo mắt. Những thùng gỗ đang chất thành một đống lớn. Anh lần xuống hố rồi đến mở một thùng.

Trong đó có một con đường mùa thu, và ở cuối đường người yêu của anh, Graziella đã vĩnh viễn bỏ đi. Nhưng anh đã không thèm gọi.

Anh mở thùng thứ hai. Trên chiếc giường nằm trong một căn phòng bệnh viện, người em trai Giosué đang đau nặng và có ý mong anh. Nhưng anh đang bận áp phe ở một nơi nào đó.

Anh mở thùng thứ ba. Ngoài cổng một căn nhà cũ nghèo nàn, con chó Duk trung thành đã đợi anh từ hai năm nay, gầy đến trơ xương. Mà anh đâu có muốn quay về.

Anh chợt nghe nhói lên ở chỗ này, ngay cuống bao tử. Gã lạ mặt đang đứng hiên ngang trên bờ vực, bất động như một kẻ thi hành công lý.

“Ông ơi!” anh gọi lớn. “Ông làm ơn nghe tôi nói. Ông cho tôi xin lại ba ngày. Tôi van ông. Ít nhất ba ngày này. Tôi giàu lắm! Tôi sẽ trả cho ông bất kỳ giá nào ông muốn.”

Gã lạ mặt phát một cử chỉ bằng tay phải, nửa như ngầm chỉ một nơi nào không thể đến, nửa như muốn nói là đã quá trễ rồi và không còn cách nào cứu vãn. Bóng gã vụt nhòa đi trong không gian và lúc đó đống thùng bí ẩn cũng đột nhiên biến mất.

Rồi bóng đêm tràn xuống.

Trương Văn Dân dịch
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 350
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sun Feb 11, 2018 12:51 am

.

Dino Buzzati (1906-1972) là nhà văn và nhà báo Ý. Tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông là Il deserto dei Tartari / Le Désert des Tartares (1940) thành công khắp thế giới và được dịch ra nhiều thứ tiếng (Bản dịch Pháp ngữ được thực hiện năm 1949 và dựng phim năm 1976). Giới phê bình nhận xét rằng văn ông ảnh hưởng nhiều của Kafka, Sartre và Camus.


Chết nhầm
Dino Buzzati


Bản dịch: Miêng
Dịch theo bản tiếng Pháp: Le défunt par erreur, trong quyển Le K, do Jacqueline Remillet dịch từ tiếng Ý.– nxb Lafont, 1967.


Một buổi sáng, danh hoạ Lucio Predonzani 46 tuổi, từ lâu đã ẩn cư trong căn nhà ở vùng quê Vimercate, sửng sờ khi mở tờ báo hằng ngày vì nhận thấy nơi trang ba, phía dưới bên phải, trên bốn cột, cái tựa như sau:

NGHỆ THUẬT Ý ĐỂ TANG
hoạ sĩ Predonzani đã chết

Và ở dưới có mấy dòng in nghiêng: Vimercate, 21 tháng 2. Sau cơn bịnh ngắn ngày và bác sĩ bó tay, hoạ sĩ Lucio Predonzani vừa từ trần hai hôm nay. Người quá cố đã bày tỏ ý muốn là cái chết của mình chỉ được công bố sau tang lễ.
Tiếp theo là bài báo rất tán tụng khoảng một cột, ký tên nhà phê bình nghệ thuật tiếng tăm Steffani. Còn có cả tấm hình từ hai mươi năm trước.

Choáng váng, không tin vào mắt mình, Predonzani cuống cuồng đọc lướt qua bài viết tiểu truyện người chết, mặc dù vội vã, cũng phát hiện trong chớp mắt vài câu với sự dè dặt độc địa, nhét đó đây bằng lối ngoại giao không chối cãi được, giữa hàng loạt hình dung từ ca tụng.
– Mathilde! Mathilde! – Vừa lấy lại hơi thở là Predonzani gọi ngay.
Từ phòng bên cạnh, vợ ông trả lời “Chuyện gì vậy?”.
Ông khẩn khoản :
– Đến đây, đến ngay Mathilde!
– Chờ chút. Em bận ủi đồ.
– Anh bảo đến đây đã mà!

Giọng ông lo âu đến nỗi vợ đặt bàn ủi xuống, chạy ào đến.
– “Nè… đọc đi!” Hoạ sĩ rên rỉ đưa tờ báo cho vợ.
Bà cầm tờ báo, xanh mặt, và với tính phi lý tuyệt vời của đàn bà, nức nở tuyệt vọng. Bà bập bẹ trong nước mắt:
– Ôi, Lucio của em, Lucio tội nghiệp của em, kho báu của em…

Hoạt cảnh cuối cùng khiến người đàn ông phẫn nộ.
– Em điên rồi hả Mathilde? Bộ em không thấy là anh đây à? Bộ em không hiểu đây là một nhầm lẫn, một sự nhầm lẫn kinh khủng sao?

Mathilde ngừng khóc ngay tức khắc, nhìn chồng, mặt bà bình tĩnh lại, và rồi thình lình cũng nhanh chóng như hồi nãy đã cảm thấy goá bụa, bị khía cạnh khôi hài của tình huống thọt léc, bà nổi cơn cười như điên.
– Ôi Trời ơi, tức cười quá! Ôi, ôi, thiệt tình! Tha lỗi cho em Lucio, nhưng anh biết không… một tang tóc cho nghệ thuật… mà anh thì ở đây tươi tắn hồng hào!
Bà tru tréo vừa phì cười. Ông nổi cáu:
– Thôi, đủ rồi! Em không nhận thấy sao? Kinh khủng, thực là kinh khủng! A, hắn sẽ biết tay ta, cái thằng giám đốc tờ báo đó! Cái trò đùa bỡn này! Hắn sẽ phải trả giá đây.

Predonzani vội vã ra phố, chạy thẳng đến toà báo. Viên giám đốc tiếp ông với thái độ nhã nhặn:
– Xin mời, họa sư thân mến, xin mời ngồi. Không không. Chiếc ghế này tiện nghi hơn. Một điếu nhé? Ô, mấy cái bật lửa này chẳng bao giờ được việc, thật bực. Cái gạt tàn đây… Và bây giờ tôi xin nghe: ngọn gió nào đưa ngài tới đây vậy?

Hắn giả vờ hay thực sự không biết tờ báo mình đã đăng những gì? Predonzani đâm sửng sốt.
– Nhưng mà?… nhưng mà?… báo hôm nay… trên trang ba… Có loan tin cái chết của tôi…
– Về cái chết của ngài ư?

Viên giám đốc lấy tờ báo xếp nằm trên bàn, mở ra, thấy, hiểu (hay giả vờ như hiểu), hơi bối rối một lát, ô! chỉ đúng vài sát na, rồi lấy lại bình tĩnh một cách tuyệt hảo, ho húng hắng.
– Ờ! Ờ nhỉ! Quả thực có chút nhầm lẫn chen vào… một bất đồng nhỏ…
Có thể nói như là ông bố quở mắng lấy lệ đứa con trước người qua đường bực mình vì đứa bé.

Predonzani mất kiên nhẫn. Ông hét lên:
– Bất đồng nhỏ? Ông đã giết tôi, đó là điều ông đã gây cho tôi! Thật là quái dị!
Viên giám đốc điềm tĩnh:
– Vâng, vâng. Có thể là … Tôi cho rằng… hơ… bối cảnh của thông tin có… hơ… hơi vượt quá ý định của chúng tôi… Mặt khác, tôi hy vọng rằng ngài nhận thấy giá trị chính xác của sự ngưỡng mộ mà tờ báo chúng tôi đã bày tỏ về nghệ thuật của ngài chứ?
– Sự ngưỡng mộ đẹp đẽ quá! Ông làm tôi sạt nghiệp thì có!
– Hem, tôi không chối cãi là có sự nhầm lẫn nho nhỏ lẩn vào trong…
– Cái gì! Ông nói rằng tôi đã chết khi tôi còn sống?… Và ông gọi đó là nhầm lẫn à? Nghe phát điên được! Tôi đòi một sự cải chính với hình thức đúng đắn ngay ở chỗ bài báo này! Và tôi dành mọi quyền truy tố ông đòi bồi thường thiệt hại.
– Thiệt hại? Coi kìa, thưa ông – từ “hoạ sư” đổi sang “ông” đơn giản, dấu hiệu xấu rồi – ông không nhận thức được cái may mắn đặc biệt đến với ông ư? Bất kỳ hoạ sĩ nào cũng sẽ nhảy dựng lên vì vui mừng cao như vầy …
– May mắn?
– Phải, may mắn chứ! Tại sao ư? Khi một hoạ sĩ chết, giá tranh của họ tăng vọt lên đáng kể. Không chủ ý, vâng rõ ràng như thế, không chủ ý, tôi xin xác nhận, chúng tôi đã mang lại cho ông một dịch vụ không-định-giá-được.
– Còn tôi thì sao? Tôi phải làm người chết hả? phải biến mất, phải bay hơi đi hả?
– Tất nhiên, nếu ông muốn lợi dụng cái tin giật gân này… Chúa ơi! Ông không muốn cơ may này vuột mất chứ? Suy ngẫm lại tí nào: một cuộc triển lãm tưởng niệm khéo tổ chức, có quảng cáo rùm beng… Chúng tôi sẽ làm hết khả năng để phát động… Một áp phe nhiều triệu đấy, hoạ sư thân mến ạ.
– Nhưng tôi, tôi là cái gì trong tất cả các trò đó? Tôi phải biến mất à?
– Nói nghe… Ngài không có một người em trai nào sao?
– Có, chi vậy? Nó sống bên Nam Phi.
– Tuyệt hảo! Và anh ta giống ngài chứ?
– Khá giống. Nhưng nó để râu.
– Tuyệt vời! Vậy, hãy để râu ngài cũng mọc đi, rồi nói rằng ngài là ông em. Mọi việc sẽ trôi chảy như phong thư gửi bưu điện thôi mà… Cứ tin tôi đi: nên để mọi việc xuôi theo dòng vẫn hơn… Và xin hiểu cho tôi: một đính chính kiểu này… chả biết nó sẽ phục vụ ai… Riêng ngài, tha lỗi cho sự chân thật của tôi nhé, ngài sẽ là một nhân vật buồn cười… Phản đối vô ích, những người chết đi sống lại không bao giờ dễ thương hết cả… Và trong thế giới nghệ thuật, ngài biết rõ mọi sự như thế nào mà, sự sống lại của ngài sau từng ấy ca ngợi, sẽ gây ấn tượng xấu, và chỉ mang hương vị khả nghi thôi…

Predonzani không biết nói không. Trở về căn nhà ở vùng quê. Giam mình trong phòng và để râu mọc. Vợ ông để tang. Bạn bè đến thăm bà, đặc biệt là Oscar Pradelli, cũng là hoạ sĩ, nhưng luôn là cái bóng mờ bên cạnh ông. Rồi người mua tranh bắt đầu kéo đến: thương gia, nhà sưu tập, người đoán thấy thời cơ. Nhiều bức tranh trước kia khó nhọc lắm mới đạt đến bốn năm mươi nghìn, bây giờ bán dễ dàng với giá hai trăm. Và, trong chỗ ẩn cư bí mật của mình, Predonzani làm việc cật lực, bức này tiếp bức kia, dĩ nhiên là đề ngày tháng lùi lên.

Một tháng sau – râu đã mọc khá đủ rồi – Predonzani liều lĩnh ra ngoài, làm như là người em đến từ Nam Phi. Ông mang kính và bắt chước giọng lai ngoại quốc. Thiên hạ bảo ông giống người anh kinh khủng.

Do tò mò, vào một trong những cuộc đi dạo đầu tiên sau khi ru rú tự giam mình, ông đi đến tận nghĩa trang. Trên tấm đá cẩm thạch to trong hầm mộ gia đình, một người thợ đẽo đang khắc tên cùng ngày sinh, ngày mất của ông.
Ông nói với anh ta mình là em kẻ quá cố. Ông mở khoá cánh cửa nhỏ bằng đồng thanh, bước xuống nhà mồ nơi quan tài dòng họ chồng chất lên nhau. Nhiều làm sao! Một chiếc mới tinh thật đẹp. “Lucio Predonzani”, ông đọc thấy trên tấm bảng đồng. Nắp được gắn vít. Với nỗi lo sợ tối tăm, ông co ngón tay gõ lên mặt quan tài. Nó vang vang, rỗng ruột. May quá!

Lạ lùng. Dần dà những cuộc thăm viếng của Oscar Pradelli thường xuyên hơn, Mathilde rạng rỡ, có vẻ trẻ lại. Chắc chắn sự tang chế có vẻ hạp với bà. Predonzani quan sát sự biến thái của bà với tình cảm thích thú và lo ngại trộn lẫn. Một tối ông cảm nhận thèm muốn bà, điều mà nhiều năm nay không đến với ông nữa. Ông thèm muốn bà goá của mình.

Về phần Pradelli, sự xum xoe của gã quả là không hợp lúc sao? Nhưng khi Predonzani lưu ý Mathilde điều này, bà phản ứng hầu như hung hăng: “Anh sao vậy? Tội nghiệp Oscar. Người bạn thực sự duy nhất của anh. Người duy nhất chân thành hối tiếc anh. Anh ấy chịu khó an ủi nỗi cô đơn của em, còn anh thì nghi ngờ anh ấy. Anh nên xấu hổ!”.

Trong khi đó, cuộc triển lãm di cảo được tổ chức và thành công rực rỡ. Thâu được năm triệu rưỡi, sau khi đã trả hết chi phí linh tinh. Sau vụ đó thì Predonzani và tác phẩm của ông nhanh chóng rơi vào quên lãng. Tên ông được nhắc đến càng lúc càng hiếm ở các mục báo và trong tạp chí nghệ thuật. Và chẳng bao lâu nữa, ông sẽ biến mất trên đó hoàn toàn.

Với sự kinh hoàng hối tiếc, ông xác nhận rằng ngay cả không có Lucio Predonzani, thế giới vẫn tiếp tục vận hành như trước: mặt trời mọc lên, lặn xuống như trước; mấy cô giúp việc rũ thảm mỗi sáng như trước; tàu lửa lao đi; người ta ăn uống cười đùa; và đêm về trai gái hôn nhau, đứng, tựa vào hàng rào sẫm tối công viên, như trước.

Cho đến một hôm, trở về sau cuộc dạo chơi ngoài đồng, ông nhận ra chiếc áo choàng của người bạn thân Oscar Pradelli bỏ ở phòng đợi. Căn nhà yên ả, thân mật lạ lùng và mời mọc. Và từ đó thoát ra những tiếng nói thật nhỏ, những thì thầm, những hơi thở dịu dàng.
Ông nhón gót quay ra cửa. Ra ngoài nhẹ nhàng và đi đến nghĩa trang. Đó là một đêm êm ả mưa lâm râm.

Khi đứng trước nhà nguyện nhỏ gia đình, ông nhìn quanh. Không một ai. Ông bèn mở cánh cửa đồng.
Không vội vàng, trong khi đêm xuống, bằng con dao nhíp, ông từ từ vặn mấy cái vít đóng chiếc quan tài mới tinh, quan tài của mình, của Lucio Predonzani.
Ông mở nó ra, rất trầm tĩnh, nằm vào đó với tư thế cho là đúng với người chết trong giấc ngủ ngàn thu. Ông thấy thoải mái hơn mình tưởng.

Không dao động, ông kéo nhẹ nhàng cái nắp bên trên mình. Khi chỉ còn lại một khe hở nhỏ, ông vểnh tai nghe ngóng một lát, lỡ có ai gọi mình. Nhưng không ai gọi cả.

Ông bèn để cái nắp đậy lại hoàn toàn.
 
Miêng
Paris, Nov. 2009
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 426
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Mon Feb 19, 2018 3:29 pm



Dino Buzzati (1906-1972) là nhà văn và nhà báo Ý.
Ông viết nhiều tiểu thuyết nhưng hình như thể loại yêu thích của ông là truyện ngắn. Chủ đề quen thuộc của Buzzati là những ám ảnh và nỗi bất an của kiếp người, sự chạy trốn thời gian, định mệnh, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, mong manh của tình yêu, bí ẩn của nỗi đau và cái ác...
Bằng bút pháp độc đáo ông dắt người đọc ra khỏi cuộc sống thường ngày để bước vào một thế giới khác, rồi đẩy họ vào những sự kiện nghịch lý, ly kỳ và đầy bí ẩn. Bí ẩn vì nằm ngoài cánh cửa của đời sống thường nhật nhưng cũng có thể đồng hiện hữu với diễn biến thường ngày mà chúng ta đã vô tình không nhận thấy để cuối cùng phải kinh ngạc, suy nghĩ... trong một niềm xúc động sâu xa. 


NHỮNG NGƯỜI BẠN

Dino Buzzati


Ông lão làm đàn luýt Amedeo Torti và bà vợ đang ngồi uống cà phê. Lúc đó bọn trẻ đã đi ngủ. Như lệ thường, hai người nhìn nhau yên lặng. Nhưng đột nhiên bà vợ nói:
”Tôi phải nói với ông một việc… Suốt ngày hôm nay tôi luôn có một cảm giác rất lạ… Như là tối nay ông Appacher sẽ đến thăm chúng ta.”
“Thôi, không có đùa về chuyện này đó nhé!” Ông chồng đáp lại bằng một thái độ cáu gắt. Bỡi vì Toni Appacher, bạn thiết của ông  và là nhà chế tạo đàn violon, đã chết hai mươi ngày trước đó.
“Em biết, em biết… là một điều ghê gớm” bà vợ nói ”nhưng đó là một ý tưởng mà em không sao từ bỏ được.”
”À, giá như…” Ông Torti lẩm bẩm với một sự mâu thuẫn mơ hồ nhưng không muốn đào sâu  đề tài. Và ông lắc đầu.

Hai người im lặng. Lúc đó là mười giờ kém mười lăm. Một lát sau có tiếng chuông cửa. Tiếng chuông kéo dài, giục giã. Cả hai  giật nẩy mình.
“Ai mà đến vào giờ này?” bà vợ lẩm bẩm.
Họ nghe có tiếng dép lết thếch của cô làm phòng Ines trong hành lang, tiếng mở cửa, rồi có tiếng thì thầm. Lát sau cô ta xuất hiện trong phòng khách; mặt tái mét.

“Chuyện gì vậy Ines?” Bà vợ hỏi.
Cô làm phòng lấm lét nhìn ông chủ, giọng cà lăm :”Thưa… mời ông ra… xem… ngoài đó…!”
“Mà ai? Ai vậy?” bà chủ hỏi  bằng giọng giận dữ, dù đã biết chắc người ngoài đó là ai.
Cô Ines cúi gầm người xuống, như người ta thường làm khi thố lộ một bí mật. Lời lẽ của cô tuôn ra nhẹ như gió thổi:”Có… có… ông chủ ơi, ra mà xem… Thầy Appacher đã trở lại!”
”Bậy!” Ông Torti giận dữ, cáu gắt trước thái độ bí ẩn của cô gái rồi quay sang bà vợ: ”Để tôi ra cho… bà cứ ngồi đây.”

Ông bước ra, đụng phải cạnh tủ ngoài hành lang, rồi kéo mạnh cánh cửa mở ra phòng ngoài.
Nơi đây, có ông Appacher đang đứng, vẻ rụt rè. Đó không giống ông Appacher như lệ thường mà gầy gò hơn và hình thù thì không rõ nét. Đó là một bóng ma? Có lẽ  chưa phải vậy. Có lẽ là ông ta chưa giải phóng hết những thứ mà loài người gọi là vật chất. Một con ma, nhưng còn một phần khá lớn thịt xương. Ông ta ăn mặc như thói quen ngày nào, bộ complet màu xám, áo chemise sọc xanh da trời và thắt cà vạt hai màu, đỏ và xanh nước biển. Ông đứng, vẻ bồn chồn, hai tay  mân mê chiếc mũ lát rộng vành (xin hiểu cho: con ma quần áo, con ma cà vạt… vv).

Ông Torti không phải là người dễ bị ấn tượng. Ngược lại là khác. Thế nhưng ông ta đứng trân trân, như ngạt thở. Một người bạn tái xuất hiện trong nhà mình mà trước đó 20 ngày chính ông đã tiễn linh cửu của bạn ra nghĩa trang đâu có phải là một chuyện đùa.
“Amadeo!” gã Appacher miệng mỉm cười, khe khẽ  gọi tên ông như để thăm dò.
“Anh ở đây à? Ở đây à?” lão Torti gào lên như sỉ vả, bởi từ những tình cảm trái ngược và xáo động trong lòng lão, chẳng hiểu sao, chỉ nẩy sinh một sự tức giận. Gặp lại người bạn cũ chẳng phải là niềm an ủi tuyệt vời sao? Lão Torti chẳng phải sẽ sẵn sàng trả tiền triệu để thực hiện được cuộc gặp mặt này sao? Vâng, đúng vậy, lão sẽ trả mà không cần nghĩ ngợi. Lão sẽ trả với bất cứ giá nào.  Thế tại sao ngay lúc này lão không cảm nhận được niềm hạnh phúc đó? Tại sao lão chỉ thấy tức giận? Có lẽ là sau nỗi kinh hoàng, khóc lóc, nén mình vì lợi ích, lão chẳng muốn phải làm lại từ đầu? Hay là trong những ngày chôn cất, niềm xót thương cho bạn đã trút ra đến cạn kiệt và lúc này có lẽ chẳng còn gì nữa?

”Vâng, tôi đây” gã Appacher trả lời, tay vẫn mân mê vành mũ lát.
”Nhưng tôi… anh biết là giữa chúng ta, chẳng nên khách sáo… có lẽ tôi làm phiền anh…”.
“Làm phiền à? Anh gọi là làm phiền à?” Lão Torti lớn giọng, vì cơn giận đang lôi cuốn lão.” Anh trở về từ nơi mà tôi chẳng cần biết là đâu, và… trong tình trạng này… thế mà anh gọi là làm phiền à! Can đảm quá vậy, ông bạn!”
Rồi lão Torti như nói một cách tuyệt vọng với chính mình :”Bây giờ thì tôi biết phải làm sao đây?”.
“Nghe tôi nói nè, ông Torti… Ông đừng giận dữ… Đó đâu phải là lỗi ở tôi… Thế giới bên kia (gã phát một cử chỉ mơ hồ) lộn xộn quá…. Tóm lại là tôi phải ở lại bên này thêm một tháng nữa… Khoảng một tháng thôi chứ chẳng hơn đâu… và anh đã biết là căn nhà của tôi đã bị người khác chiếm giữ…”
”Vậy thì sao? Bộ anh muốn nói là anh sẽ ở lại đây để ngủ à?”
”Ngủ hả? Bây giờ thì tôi đâu có ngủ nữa… Không phải ngủ đâu anh… Tôi chỉ cần có một góc nhỏ… tôi hứa sẽ không làm phiền, tôi không ăn, không uống và không… nói trắng ra là tôi chẳng cần dùng toa lét… Anh biết không? Thực ra là để tránh phải đi suốt đêm, có khi đi dưới mưa.”
”Nhưng mưa… làm anh ướt à?”
”Dĩ nhiên là không thể làm tôi ướt” gã khẽ cười ”nhưng mà nó cũng làm tôi khó chịu lắm”        
”Vậy là anh muốn trú qua đêm ở đây?”
“Vâng, nếu anh cho phép…”
”Tôi cho phép anh!… Tôi không hiểu… Môt người thông minh, một người bạn cũ… Một người đã từng trải biết bao kinh nghiệm ở trường đời… làm thế nào mà không hiểu nhỉ? À, mà anh chưa bao giờ có một mái gia đình!”.
Gã kia, bối rối, bước từng bước giật lùi về phía cửa. ”Xin lỗi anh, tôi tưởng… Chỉ có một tháng thôi mà…”
”Vậy là anh chẳng muốn hiểu phải không?” Lão Torti làm như mình bị xúc phạm. ”Không phải vì tôi mà tôi bận tâm đâu… bọn trẻ con!… Chính là vì bọn trẻ con!… Bộ anh tưởng cho 2 đứa bé thơ ngây chưa đến mười tuổi trông thấy anh là chẳng có gì, sao? Đáng lý anh phải biết là tôi đang ở trong hoàn cảnh nào chứ. Xin lỗi anh nếu tôi quá thẳng thắn nhé, xem đây, anh là một con ma… và nơi nào có những đứa con của tôi, tôi không thể để cho một con ma hiện diện, ông bạn thân yêu ạ…”
”Vậy là không được?”
”Ông bạn thân yêu ơi, tôi chẳng biết nói sao…” Lão Torti bỏ lửng câu nói. Gã Appacher đột nhiên biến mất. Lão Torti chỉ kịp nghe thấy tiếng chân chạy thật nhanh xuống cầu thang.

***

Sau buổi hoà tấu, ông Mario Tamburlani giám đốc nhạc viện trở về nhà lúc không giờ ba mươi phút. Đứng trước ngạch cửa của căn hộ nhà mình, vừa mới vặn một vòng trong ổ khoá thì nghe tiếng gọi khẽ đằng sau lưng mình: ”Nhạc trưởng, Nhạc trưởng!”. Giật mình quay lại, ông thấy Appacher.
Nhạc trưởng Tamburlani là một người được biết đến như một nhà ngoại giao giỏi, savoir faire [1], có khả năng ứng xử trong mọi tình huống ở đời. Người ta có thể xem đó là tài năng hay thủ thuật, nhưng chính nhờ nó mà ông ta đã leo đến đỉnh cao dù với tài năng khiêm tốn của mình. Trong tích tắc ông ta cân nhắc tình hình.
“Chào ông bạn yêu mến” Ông ta  reo lên với một giọng thân tình và thống thiết rồi chìa tay cho bạn nhưng ý tứ dừng lại ở khoảng cách chừng một mét.” ôi bạn ơi, nếu anh biết là khoảng trống…”
“Cái gì, cái gì” gã kia hỏi lại vì thông thường các giác quan của ma rất ít nhạy bén. ”Xin lỗi ông, bây giờ tôi không còn nghe rõ như ngày xưa…”
“Ồ, tôi hiểu mà… Nhưng ông bạn  cũng nên hiểu là tôi không thể nói lớn. Bà xã tôi, Alda, đang ngủ và…”
”Xin lỗi, ông có thể cho tôi vào một lát không? Tôi đã đi bộ rất nhiều giờ rồi…”
”Không, không được đâu. Con  Blitz sẽ  đánh hơi và biết ngay.”
“Sao, ông nói sao?”“ Blitz, con chó lai sói của tôi ấy, ông biết nó mà… Nó sẽ sủa ầm lên và cả chung cư này sẽ bị đánh thức…”          
”Vậy là… chỉ vài ngày mà cũng không được sao?”
”Ông đến ở với tôi hả? Ui chao, ông bạn Appacher ơi, Được chứ, được chứ… đối với một người thân thiết như ông… Nhưng, tha lỗi  nhé, với một con chó như vậy chúng ta sẽ  phải làm sao?”
Lý do đó làm gã Appacher sững sờ. Ông liền tìm cách khêu gợi tình cảm :”Nhạc trưởng, một tháng trước khi  đọc điếu văn ở nghĩa trang  ông đã khóc lóc thảm thiết trước khi người ta phủ đất. Ông còn nhớ chứ? Tôi đã nghe rất rõ tiếng nức nở của ông.”
”Ông bạn ơi, xin ông đừng nhắc đến nữa… nó làm tôi ngạt thở (rồi ông ta đưa một bàn tay lên ngực)… Ôi chúa ơi, hình như con Blitz…”
Lúc đó, từ phía trong căn hộ có tiếng gầm gừ.
“Ông bạn… chờ một chút nhé… tôi vào trong một lát để dỗ cho con chó khó ưa này ngoan ngoãn. Ông bạn thân ơi… chỉ một lát thôi nhé.”
Rồi nhanh như con lươn ông lách mình vào bên trong và đóng cửa, cài chốt cẩn thận. Sau đó, yên lặng.
Gã Appacher đợi vài phút. Lát sau gã gọi nhỏ :”Nhạc trưởng Tamburlani, Nhạc trưởng Tamburlani”. Nhưng phía trong không có tiếng đáp lời. Gã gõ nhẹ lên cánh cửa. Mà chỉ có sự yên lặng tuyệt đối.

Đêm nặng nề trôi qua. Lúc này gã Appacher định thử đến nhà Gianna, một cô gái dễ dãi và tốt bụng, mà lão đã từng ăn ngủ với cô nàng. Cô Gianna cư ngụ  ở một căn hộ hai phòng trong một chung cư ở khá xa trung tâm thành phố. Khi gã đến thì đồng hồ đã chỉ ba giờ hơn. Cũng may là, cửa chính của toà nhà chỉ khép hờ, như vẫn thường xảy ra trong các khu chung cư đông đúc như tổ ong. Appacher mệt nhọc leo lên tầng năm. Lúc này gã đã mệt mỏi vì đi quá nhiều rồi.

Dù bên ngoài tối đen nhưng gã Appacher không mấy khó khăn  tìm ra cửa vào căn hộ. Gã gõ nhè nhẹ. Gã phải đợi khá lâu mới nghe được tiếng động ở bên trong. Sau đó là giọng ngái ngủ của cô gái: ”Ai vậy? Ai mà đến vào giờ này thế?”
”Có một mình em hả? Mở cửa cho anh đi… Toni đây”
“Giờ này à?” nàng lập lại câu hỏi, tuy không vui lắm nhưng vẫn giữ vẻ chiều bạn như thường lệ ”chờ đó… em ra ngay.”. Gã Appacher nghe tiếng lê dép uể oải trên sàn nhà, tiếng bật công tắc điện rồi tiếng vặn chìa trong ổ khoá. Rồi, cửa mở, Gianna sắp sửa chạy về giường nằm, để mặc  người đàn ông, thì hình dáng của gã Appacher đã làm nàng giật mình. Nàng sững sờ nhìn gã một lát và từ trong cõi mù mờ ngái ngủ bỗng phát sinh một trí nhớ kinh hồn.” Mà anh… mà anh… mà anh…”. Ý nàng muốn nói: mà anh đã chết, bây giờ tôi nhớ ra rồi. Nhưng không có can đảm. Nàng bước giật lùi, hai tay giang ra như sẵn sàng xô đẩy nếu anh có ý tiến đến gần nàng.”Mà anh… mà anh…” Sau đó nàng nói to, như hét.” Đi ra… làm ơn đi ra đi!” nàng van lơn, đôi mắt giương ra trong nỗi kinh hoàng.
“Anh van em, Gianna… Anh chỉ muốn nghỉ ngơi một chút thôi mà”.
“Không, không, Đi ra, đi! Sao anh có thể nghĩ là… Anh làm em nổi điên rồi đó. Đi ra, đi. Bộ anh muốn đánh thức cả chung cư này hả?”
Rồi thấy gã Appacher không  có ý  nghe lời, cô gái, mắt vẫn không rời ông bạn quý, đưa tay sờ soạn tìm  một cái gì trên một chiếc kệ nằm ở phía sau lưng mình. Và những ngón tay nàng rờ trúng chiếc kéo.
“Anh đi, anh đi mà” gã đàn ông lắp bắp  nhưng cô gái, bằng tất cả can đảm của sự tuyệt vọng, đã chỉa mũi kéo vào ngực gã. Mũi kéo không gặp phải trở ngại, xuyên  thật ngọt vào bóng ma.
”Ồ, Toni, tha lỗi, em không muốn thế” nàng giật mình nói thế, trong khi gã mỉm cười:
”Không, không… ui chao… nhột quá… anh van em… nhột quá!” rồi gã bật cười như một thằng điên. Bên ngoài,  tiếng cửa của căn hộ bị đấm lên thật mạnh. Rồi một giọng nói hét lên giận dữ: ”Chuyện gì đây?  Bây giờ là bốn giờ sáng. Chúa ơi, vừa vừa thôi chứ!”. Gã Appacher vụt biến đi như một cơn gió.

Bây giờ thì thử đến nơi nào nữa? Đến cha xứ của nhà thờ thánh Calisto chăng? Phải rồi, đến với cha Raimondo, người bạn cũ từ thời học trung học, người đã đến ban phép và an ủi lúc gã còn nằm trên giường bệnh trước khi sắp về nước Chúa? Nhưng ”Đi ra, đi ra… đồ quỉ” chính là sự chào đón của  đức cha xứ ngay khi gã làm đàn violon xuất hiện.
”Con là Appacher đây, cha không nhận ra sao?… Đức cha Raimondo, xin ngài cho tôi nương náu ở đây với ngài. Lát nữa  trời đã sáng rồi. Không có ai cho tôi tá túc cả. Tất cả bạn bè đều từ bỏ tôi. Ít ra là ngài…”
“Tôi đâu có biết ông là ai” đức cha xứ trả lời với giọng u sầu và trịnh trọng. Anh có thể là ma quỷ hay có khi chỉ là một ảo giác, tôi không biết rõ. Nhưng nếu anh thật là Appacher thì, đây, anh cứ vào đi, đó là chiếc giường của tôi, anh cứ nằm xuống và nghỉ ngơi…”
”Cám ơn, con  xin cảm ơn cha. Con biết thế nào…”
”Anh đừng quan tâm” ông cha xứ tiếp lời một cách êm ái” anh đừng bận tâm nếu tôi đang bị đức tổng giám mục nghi ngờ… Tôi xin anh đừng quan tâm, nếu sự hiện diện của anh ở nơi này có thể làm rối thêm tình thế, để nó thành nghiêm trọng hơn… Tóm lại là anh đừng quan tâm gì đến tôi. Nếu anh được phái đến nơi này để làm tôi sạt nghiệp thì xin xem đó là ý Chúa! Mà… anh làm gì vậy? anh bỏ đi à?”

Và chính vì những tình huống này mà loài ma - nếu có vài con ma bất hạnh buộc phải sống trên trái đất - chúng không muốn sống với chúng ta mà nó thường tìm đến những căn nhà bỏ hoang, giữa những phế tích tàn lụi của các ngôi tháp, giữa những nhà nguyện lẻ loi trên vách đá, hay trên những cụm đá cô đơn trên bờ biển mà sóng vỗ rì rào, rì rào rồi dần dần làm cho đổ nát.

TRƯƠNG VĂN DÂN
Chuyển ngữ từ nguyên tác: Gli amici của Dino Buzzati.

[1] biết ứng xử (Nguyên văn bằng tiếng Pháp)

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 393
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Thu Mar 01, 2018 5:50 pm


Dino Buzzati sinh năm 1906, mất năm 1972 ở Milan (Italy).
Trước khi viết văn, ông là họa sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường của tờ Corriere della Sera. Với Hoang mạc Tácta (1940), ông trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20.
Chủ để quen thuộc của Buzzati là sự chạy trốn thời gian, định mệnh loài người, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, bí ẩn của nỗi đau và cái ác.


CHIẾC ÁO KỲ DỊ
Dino Buzzati (Ý)


Mặc dù thích ăn mặc trang nhã nhưng ít khi tôi quan tâm đến cách phục sức và áo quần kẻ khác.

Thế nhưng trong dạ hội tại nhà một người bạn ở Milano tôi đã gặp một người đàn ông, khoảng 40 tuổi, đẹp lộng lẫy trong bộ quần áo rất thời trang. Tôi chưa biết ông ấy là ai vì gặp mặt lần đầu; và điều thường xảy ra là rất khó nhớ tên người lạ mặt trong khi giới thiệu. Tuy thế cũng có lúc chúng tôi tình cờ ngồi gần nhau rồi bắt đầu câu chuyện. Ông ta là một người hiểu biết, ăn nói bặt thiệp nhưng trên mặt sao có vẻ buồn buồn. Rồi có lẽ trong một lúc thân mật quá đáng - Phải chi Chuá đã cản ngăn – tôi đã khen lối cắt may tuyệt xảo về bộ đồ ông ta đang mặc và còn dám hỏi thêm ai là thợ may của ông ta.

Gã đàn ông nở một nụ cười rất lạ; dường như gã đang chờ tôi hỏi câu hỏi đó: ”Không ai biết lão đâu, nhưng lão ta đáng là một bậc thầy. Lão rất kén khách và làm việc rất tuỳ tiện”.
“Nghĩa là tôi…?”
“Ối dào, ông cứ hỏi thử xem. Tên lão ta là Corticella, Alfonso Corticella, nhà ở phố Ferrara số 17″.
“Chắc đắt tiền lắm phải không?”.
“Có lẽ vậy, nhưng thật tình thì tôi không biết: Bộ đồ này lão ấy may cho tôi đã ba năm nhưng đến nay vẫn chưa gởi phiếu tính tiền”. “Tên ông ta là Corticella? phố Ferrara số 17 phải không ?” “Ðúng đấy” gã đàn ông lạ mặt trả lời rồi bỏ đi nhập bọn với một nhóm khác.

Ở phố Ferrara số 17 tôi thấy một căn nhà bình thường như những căn nhà khác và chỗ ở của Alfonso Corticella không khác gì chỗ ở của những người thợ may bình thường. Chính ông ta bước ra mở cửa cho tôi. Ðó là một lão già, tóc hãy còn đen nhưng chắc là được nhuộm.

Tôi hơi bất ngờ vì lão ta không hề làm khó dễ. Ngược lại, hình như lão ta đang phấp phổng muốn tôi trở thành một khách hàng. Tôi giải thích đã biết được địa chỉ của lão ta như thế nào, ngợi khen tài may cắt rồi yêu cầu may cho tôi một bộ đồ. Chúng tôi chọn một xấp vải màu xám tro, lão ta lấy số đo và bảo rằng sẽ cho người mang đến nhà để thử. Tôi có hỏi giá, nhưng lão bảo là không vội gì, trước sau gì mình cũng sẽ thỏa thuận. Thật là một người dễ thương, ban đầu tôi nghĩ thế, nhưng lúc sau, trên đường trở về nhà, tôi mới nhận ra rằng lão già ấy đã để lại trong tôi một nỗi bức rứt lạ lùng (có lẽ vì nụ cười nhơm nhớp và quái dị của lão). Ðột nhiên tôi không còn ý định gặp lại lão ta. Nhưng đã quá trễ, tôi đã đặt may quần áo. Và chừng hai mươi ngày nữa thì xong.

Khi người ta mang đồ đến thử, tôi đứng ngắm mình vài phút trước gương. Ðúng là một kiệt tác. Nhưng không hiểu vì sao tôi không muốn mặc nó nữa; có lẽ vì chợt nhớ đến lão thợ may quái đản. Thế rồi nhiều tuần lễ trôi qua trước khi tôi chọn mặc.

Tôi còn nhớ cái ngày hôm ấy. Ðó là một sáng thứ ba, vào tháng tư và trời đang đổ cơn mưa. Khi mặc xong bộ đồ – áo vest, quần và gillet – tôi vui mừng nhận ra là không có chỗ nào chật hay căng cứng như vẫn thường xảy ra với những quần áo mới. Bộ đồ ôm chẽn lấy người tôi một cách tuyệt vời.

Thường thường thì tôi không bỏ gì cả vào túi phải, tất cả các giấy tờ tôi đều cho vào túi bên trái. Tôi nói thế để giải thích vì sao sau vài giờ ở sở, tình cờ thọc tay vào túi phải, tôi chợt nhận ra bên trong có một tấm giấy. Có lẽ đó là phiếu tính tiền của lão thợ may?

Nhưng không. Ðó là tấm giấy bạc 10 nghìn lia *[1]

Tôi giật nẩy người. Chắc chắn không phải tôi bỏ vào nhưng cũng thật vô lý nếu nghĩ đó là trò đuà của lão thợ may. Chẳng lẽ lại là món quà của bà làm phòng, người duy nhất sau lão Corticella có cơ hội đến gần chiếc áo? Hay là bạc giả? Tôi đưa ra ánh sáng để nhìn cho kỹ và đối chiếu với nhưng tờ bạc khác. Ðúng là bạc thật và không còn gì để nghi ngờ.

Chỉ còn một cách giải thích có thể tin được: sự sơ ý của lão Corticella. Một người khách nào đó đến trả tiền lúc lão ta không có sẵn bóp, để tránh cất bừa lão đã tạm cho vào túi áo của tôi đang móc vào một hình nhân gỗ nằm gần đó. Trường hợp tương tự như vậy vẫn thường xảy ra luôn.

Tôi nhấn chuông gọi cô thư ký với ý định nhờ viết một bức thư cho lão Corticella để trả lại số tiền không phải của tôi. Nhưng không hiểu sao, tôi lại cho tay vào túi áo một lần nữa.

– Thưa ông cần chuyện gì?… Ông không được khỏe à ? Cô thư ký vừa bước vào vừa hỏi, chắc cũng vừa nhìn thấy khuôn mặt tôi tái lên như của một xác chết. Trong túi áo, những ngón tay của tôi vừa đụng phải cạnh của một tấm giấy khác, trước đó mấy phút chưa hề có.
– Không, cũng chẳng có gì nghiêm trọng. Tôi nói. Tôi hơi chóng mặt một tí nhưng dạo này vẫn hay xảy ra luôn. Có lẽ do quá mỏi mệt. Cô có thể ra ngoài, tôi định đọc cho cô đánh máy một bức thư nhưng không gấp lắm, để khi khác làm cũng được.

Cho đến khi cô gái bước hẳn ra khỏi phòng tôi mới dám rút tấm giấy từ túi áo ra. Ðó cũng là một tấm giấy bạc 10 nghìn lia. Tôi làm thử một lần thứ ba nữa, và lần này tờ bạc thứ ba lại xuất hiện.

Trống ngực tôi đánh liên hồi. Tôi có cảm tưởng là mình đang bị lôi cuốn, vì những lý do bí ẩn, vào một chuyện cổ tích mà người ta vẫn kể cho con nít nhưng chả ai tin là có thật. Viện cớ là không được khoẻ, tôi bỏ sở trở về nhà. Tôi cần suy nghĩ một mình. May thay bà lão làm phòng cũng đã đi rồi. Tôi đóng cửa, hạ màn sáo xuống. Rồi bắt đầu nhanh nhẹn rút những tấm giấy bạc, tấm này đến tấm khác, từ chiếc túi thần kỳ tưởng chừng như bất tận.

Tôi làm công việc đó với một sự căng thẳng thần kinh ghê gớm, phập phồng lo là đến một lúc nào đó phép lạ sẽ ngừng hiệu nghiệm. Tôi muốn làm đến chiều, suốt buổi tối cho đến khi tích trữ thành bạc tỉ. Nhưng sức của tôi có hạn và đến một lúc cũng yếu dần.

Trước mặt tôi là một đống bạc cao ngất. Ðiều quan trọng là làm sao cất giấu để không ai có thể nghi ngờ. Tôi đổ cái rương đựng thảm và sắp xếp những tờ giấy bạc thành từng đống nhỏ, vừa đặt vào đáy rương vừa đếm nhẩm. Tất cả vừa đúng 58 triệu lia.

Sáng hôm sau bà lão làm phòng đánh thức tôi dậy, ngạc nhiên thấy tôi ngủ mà vẫn còn mặc nguyên quần áo. Tôi gượng cười giải thích là tối qua đã hơi quá chén rồi cơn buồn ngủ kéo đến bất ngờ.
Một nỗi lo: bà lão yêu cầu tôi cởi áo để đem chải cho thẳng nếp.
Tôi vội đáp là đã đến giờ phải đi và không còn có thể thay đồ kịp nữa .

Sau đó tôi hối hả đến một tiệm bán y phục để mua một bộ đồ mới, cũng loại vải tương tự; tôi sẽ đưa nó cho bà dọn phòng; còn chiếc áo kia, chiếc áo mà chỉ trong vài ngày sẽ làm tôi trở thành một trong những người đầy quyền lực trên thế giới, tôi sẽ cất dấu vào một nơi an toàn nhất.

Tôi không hiểu là tôi đang sống trong một giấc mơ, có hạnh phúc không hay đang bị ngạt thở dưới sức nặng quá lớn của định mệnh. Ngoài đường phố, qua lớp áo choàng, tôi luôn luôn sờ soạng nơi có cái túi thần kỳ. Mỗi lần như thế tôi lại thở phào nhẹ nhõm. Dưới làn vải tiếng rào rạo của những tờ giấy bạc chạm nhau đã mang lại cho tôi câu trả lời đầy khích lệ.

Nhưng một sự trùng hợp ngẫu nhiên đã làm nguội lạnh niềm vui mê hoảng của tôi. Sáng hôm sau các nhật báo đều tường thuật đầy đủ chi tiết về vụ cướp xảy ra ngày hôm trước. Một chiếc xe tải bọc thép của ngân hàng, sau khi thu tiền ở các chi nhánh để mang về trụ sở đã bị bốn tên cướp tấn công và hốt trọn trên phố Palmanova. Khi mọi người đổ xô chạy đến, bọn chúng đã phải bắn để thoát thân; và có một khách bộ hành bị chết. Nhưng điều làm tôi vô cùng kích động là số tiền bị cướp: 58 triệu lia (như số tiền của tôi).

Lẽ nào có một mối liên quan về sự giàu có bất ngờ của tôi và số tiền do bọn cướp chiếm đoạt, vì hai việc đã xảy ra đồng thời? Thật vô lý nếu có ai nghĩ thế. Còn tôi, tôi không phải là một kẻ mê tín. Nhưng sự việc cũng làm cho lòng tôi dao động. Và hoang mang.

Chuyện đời thì các bạn cũng thừa biết: càng có nhiều bao nhiêu, người ta càng ham muốn bấy nhiêu. Tôi đã giàu rồi, nếu xét đến thói quen khiêm tốn và gỉan dị của tôi. Nhưng cái bóng mờ của cuộc sống giàu sang không giới hạn cứ thôi thúc mãi. Ngay tối hôm ấy tôi lại bắt tay vào việc. Giờ thì tôi tiến hành một cách bình tĩnh và ít căng thẳng hơn. 135 triệu khác lại được cất chồng bên đống tiền hôm trước.

Ðêm hôm đó tôi không chợp mắt được. Linh tính đang báo hiệu một điều gì nguy hiểm? Hay là nỗi dày vò lương tâm của kẻ nhận được may mắn mà không hề có một công lao xứng đáng nào? Hoặc một nỗi ân hận mơ hồ? Ngày hôm sau khi trời chưa kịp sáng tôi đã nhảy xuống giường, mặc quần áo và vội vã chạy ra ngoài để tìm mua tờ báo.

Vừa đọc xong tôi như bị ngộp. Một trận hoả hoạn ở kho xăng đã thiêu huỷ toàn bộ khu nhà trên phố San Cloro. Ngọn lửa đã lan ra và đốt cháy két sắt của một cơ quan bất động sản, biến ra tro số tiền 135 triệu. Trong lúc cứu chữa, hai nhân viên cứu hoả đã bị thiệt mạng.

Giờ tôi phải kê khai ra đây từng tội ác của tôi chăng? Phải, bởi vì lúc này tôi thừa biết là số tiền mà chiếc áo lạ kỳ đã cho tôi tìm thấy đã đến từ tội ác, từ máu, từ những tuyệt vọng, từ chết chóc; nó đến từ địa ngục. Nhưng trong tôi vẫn còn ngự lại sự dối lừa của lý trí, đang chối từ mọi thú nhận về bất kỳ một trách nhiệm nào. Và cứ thế những cám dỗ cứ tiếp tục tái diễn – dễ quá mà – và cái bàn tay cứ thọc vào túi rồi những ngón tay tham lam cứ nắm chặt những tờ bạc mới. Tiền. Những đồng bạc tuyệt vời.

Không cần bỏ căn nhà cũ (để tránh bị dòm ngó) nhưng trong một thời gian ngắn tôi đã mua được một căn biệt thự, sắm nhiều bức tranh đắt giá, di chuyển bằng xe hơi sang trọng và bỏ việc làm ở sở vì lý do sức khoẻ; tôi đi du lịch khắp nơi trên thế giới bên cạnh những người đàn bà trẻ đẹp.

Tôi vẫn biết cứ mỗi lần tôi rút tiền từ chiếc áo thì ở một nơi nào đó lại xảy ra một biến cố đau thương và bi thảm. Nhưng đó chỉ là một ý thức rất mơ hồ vì không có bằng chứng gì rõ rệt. Rồi dần dần sau những lần lấy thêm tiền, lương tâm tôi bắt đầu thoái hoá, trở nên đốn mạt. Còn lão thợ may? Tôi đã gọi điện thoại cho lão ta để hỏi phiếu tính tiền nhưng chẳng có ai trả lời. Tôi có đi tìm lão ở phố Ferrara, nhưng người ta bảo lão đã di cư ra nước ngoài mà không ai biết chính xác là đâu. Tất cả những điều này dường như đều có ngụ ý chứng tỏ, dù tôi vẫn chưa hề hay biết, rằng tôi đã thoả hiệp với quỷ.

Cho đến một hôm, trong ngôi nhà mà tôi đã sống từ nhiều năm, một buổi sáng người ta tìm thấy một bà lão 60 tuổi chết ngạt vì gas; Bà ta đã tự tử vì đánh mất 30 nghìn lia tiền hưu bổng lãnh ra từ bữa trước (và đã lọt vào tay tôi).

Ðủ rồi. Ðủ rồi. Tôi phải huỷ bỏ chiếc áo quỷ quái này để khỏi phải rơi vào đáy vực. Tôi không thể nhượng lại cho ai vì trò chơi đốn mạt này sẽ tiếp diễn (Ai mà có thể cưỡng lại được sức cám dỗ của nó?). Cần phải huỷ nó thôi.

Tôi lái xe đến một thung lũng vắng vẻ trên dãy núi Alpe. Dừng xe trên một bãi cỏ tôi đi về hướng khu rừng. Không có ai đi theo. Vượt qua khu rừng tôi đến một vách núi lởm chởm đá. Nơi đây, giữa hai tảng đá khổng lồ nằm bên lòng núi, tôi đặt lên chiếc áo khốn nạn, chế xăng và châm lửa. Sau ít phút nó chỉ còn là một đống tro.

Nhưng khi tia lửa cuối cùng vừa đảo lên và sắp tắt, từ phía sau lưng tôi vang lên một giọng người như chỉ cách chừng vài ba thước: Trễ quá rồi, trễ quá rồi! Hoảng hồn, tôi quay đầu như con rắn. Nhưng không có ai cả. Tôi chăm chú nhìn xung quanh, nhảy từ mõm đá này sang mỏm đá khác để tìm kẻ khốn nạn nào vừa lên tiếng. Nhưng chẳng thấy gì. Chỉ có đá và đá.

Dù vừa trải qua một trận đứng tim nhưng khi xuống thung lũng lòng tôi cũng nhẹ nhõm phần nào. Rốt cuộc tôi đã được tự do. Và giàu nữa, thật may.

Khi đến bãi cỏ thì chiếc xe hơi của tôi không còn nữa. Và khi trở về thành phố thì cái biệt thự lộng lẫy của tôi cũng biến đi đâu mất; thay vào đó là một mảnh đất hoang có mấy cọc gỗ dựng tấm bảng: Ðất để bán của thị xã. Rồi những trương mục ở ngân hàng, tôi cũng chả biết giải thích ra sao, đã hoàn toàn trống rỗng. Những bó cổ phần cất trong các hộc an toàn cũng biến đi đâu mất.Và bụi, chỉ toàn là bụi nằm trong đáy của chiếc rương đựng thảm.

Giờ thì tôi lại bắt đầu làm việc một cách khó khăn, tôi phấn đấu với nhiều cay đắng và điều lạ nhất là hình như chả mấy ai ngạc nhiên về sự phá sản đột ngột của tôi.

Nhưng tôi thừa hiểu rằng câu chuyện chiếc áo vẫn chưa chấm dứt. Tôi biết là một ngày nào đó chuông cửa sẽ reo, tôi sẽ ra mở cửa và trước mắt sẽ xuất hiện nụ cười quái đản của lão thợ may khốn nạn, đến để đòi thanh toán món nợ năm xưa.

Trương Văn Dân chuyển ngữ từ nguyên tác: LA GIACCA STREGATA

Chú thích:

* Tiền Ý: 10 nghìn Lire
(năm 1996) tương đương 7 đô la Mỹ: Lúc tác giả viết trị giá lớn hơn nhiều.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 426
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sat Mar 10, 2018 7:05 am



GẶP GỠ EINSTEIN
Dino Buzzati (Ý)
Dịch giả: Đoàn Tử Huyến


Một tối tháng Mười, sau ngày làm việc căng thẳng, Albert Einstein đang một mình dạo chơi dọc con đường hai bên trồng cây của thành phố Princeton thì xảy ra một việc lạ lùng. Hoàn toàn bất ngờ và không có bất cứ một nguyên nhân đặc biệt nào, khi ý nghĩ tự do chuyển từ sự vật này sang sự vật khác giống như con chó xổ xích, ông đã đạt đến được cái suốt đời từng là mục đích ông gắng hướng tới trong các mơ ước của mình. Trong một thoáng, Albert Einstein chợt thấy xung quanh mình cái gọi là không gian cong, và ông kịp xem xét nó từ một góc cạnh, hệt như bây giờ bạn đọc có thể xem xét quyển sách này trên tay.

Người ta cho rằng, trí tuệ của con người không đủ sức để nắm bắt hiện tượng uốn cong của không gian – không chỉ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu mà còn có cả một chiều thứ tư bí ẩn nào đó nữa: sự tồn tại của nó đã được chứng minh, mặc dù nó nằm ngoài khả năng cảm nhận của con người. Xung quanh chúng ta có một bức tường nào đó và con người, đang tiến thẳng về phía trước trên đôi cánh tư duy không mệt mỏi của mình, bay lên mỗi lúc một cao hơn, bỗng đụng phải. Cả Pithagore, cả Platon, cả Dante, cho dù họ có sống đến tận ngày hôm nay đi nữa, cũng không thể vượt qua được bức tường đó, vì rằng một chân lý như vậy không khuôn vừa trong kích thước bộ não của chúng ta.

Tuy nhiên, cũng có người cho rằng có thể nắm bắt được không gian cong bằng những năm tháng dài thí nghiệm và tư duy cực kỳ căng thẳng. Một vài nhà bác học, trong khi thế giới xung quanh họ sống cuộc sống bình thường, các lò cao và các đầu tầu nhả khói, hàng triệu người bỏ mạng nơi chiến trận, còn trong bóng tối của các công viên thành phố những cặp tình nhân âu yếm hôn nhau, thì các nhà bác học cô đơn đó, bằng nỗ lực trí tuệ phi thường của mình – ít ra là trong các huyền thoại cũng nói như vậy – đã nhìn thấy được, dù chỉ trong một thoáng chốc ngắn ngủi (dường như có một sức mạnh nào đó nâng họ lên phía trên vực thẳm rồi lại ngay tức khắc kéo họ về chỗ cũ) và kịp xem xét cái không gian cong – đỉnh cao không thể đạt tới của tòa vũ trụ.

Nhưng thường thường, về hiện tượng kỳ lạ này, người ta không đưa ra khoe khoang và không ai chúc mừng các anh hùng, không có các dàn kèn đồng chào đón, các cuộc phỏng vấn, các tấm huân chương kỷ niệm, vì rằng những chiến thắng đó mang tính chất hết sức cá nhân, chỉ đơn giản là một người nào đó có thể nói: tôi đã cảm thận được không gian cong. Bởi vì không hề có giấy chứng nhận, không hề có ảnh chụp, không hề có bất cứ một cái gì tương tự khả dĩ chứng minh điều đó là có thật.

Thế nhưng, khi những khoảnh khắc đó xuất hiện và tư duy của chúng ta trong đà bay mạnh mẽ dường như tìm được khe hở rất khó nhận thấy trên bức tường, luồn qua đó, lọt vào cái thế giới đóng kín đối với chúng ta, và cái trước đây chỉ là một công thức trừu tượng được sinh ra và phát triển ở ngoài chúng ta, chợt trở thành chính bản thân cuộc sống của chúng ta, ôi, khi đó, trong nháy mắt, biến thành mây khói tất cả những nỗi lo buồn, bận bịu ba chiều của chúng ta, và chúng ta – sức mạnh trí tuệ con người mới kỳ lạ làm sao! – vụt bốc lên cao và bay lượn trên một cái gì đó rất giống như sự vĩnh cửu.

Chính đó là điều xảy ra với giáo sư Albert Einstein vào buổi tối tháng Mười nọ. Trong bầu không khí trong suốt tựa pha lê, đây đó những ngọn đèn đường cháy sáng như muốn ganh đua với ánh sao Vệ Nữ, và trái tim – một khối cơ bí hiểm của con người – thỏa sức hít vào mình cái thanh bình ngọt lành của Chúa. Mặc dù Albert Einstein, một nhà thông thái và không vướng bận bả vinh hoa thường tình trần thế, vào thời điểm đó ông cũng cảm thấy mình trội vượt hơn hẳn mọi người, giống như một kẻ ăn mày kiết xác nhất chợt nhận thấy túi mình đầy ắp vàng ngọc.

Nhưng ngay tức khắc, dường như để trừng phạt thói cao ngạo ấy, chân lý bí ẩn đó vụt biến mất đi cũng nhanh hệt như lúc hiện đến. Liền đó, Albert Einstein nhận thấy chỗ mình đang đứng là một nơi hoàn toàn xa lạ đối với ông. Nhà bác học bước dọc theo con đường nhỏ hai bên trồng cây xanh, bốn phía không hề thấy nhà cửa, lều quán. Chỉ có một cột bơm xăng, sơn sọc vàng đen loang lổ với quả cầu bằng kính chiếu sáng ở phía trên. Bên cạnh, trên chiếc ghế bằng gỗ, một gã da đen ngồi đợi khách hàng. Gã mặc áo liền quần bảo hộ lao động, đội mũ thể thao bóng chày màu đỏ chói.

Albert Einstein đã định đi ngang qua thì gã da đen đứng lên và đi thẳng về phía ông vài bước.
– Mister!- Gã gọi.
Giờ đây, khi gã đứng, có thể thấy rằng đó là một người rất cao, khuôn mặt dễ coi, cân đối một cách đáng ngạc nhiên, rất đẹp trai theo kiểu châu Phi. Gã cười lộ hàm răng trắng lóa trong bóng tối vừa buông xanh biếc.
– Thưa ngài, – gã da đen nói – ngài có lửa không ạ? – Gã chìa ra điếu thuốc lá hút dở đã bị tắt.
– Tôi không hút – Einstein đáp và dừng lại, phần nhiều là do ngạc nhiên.

Gã da đen lại lên tiếng.
– Thế ngài có thể cho tôi tiền uống rượu được không? – Gã cao lớn, trẻ khỏe và trơ tráo.
Einstein lục lọi các túi.
– Tôi không biết… Tôi không mang theo gì cả… Tôi không quen… Tôi, quả thật, đáng tiếc… – Ông nói rồi toan bước đi tiếp.
– Cám ơn ngài! Gã da đen nói – Nhưng… xin lỗi.
– Anh còn cần gì nữa? – Einstein hỏi.
– Tôi cần ông. Chính vì vậy mà tôi ở đây.
– Cần tôi? Có chuyện gì thế?
– Tôi cần ông. – Gã da đen nói. – Cho một việc bí mật. Và điều đó tôi chỉ có thể nói thể nói thầm với ông mà thôi.

Hai hàm răng trắng của kẻ lạ mặt như trở nên trắng hơn vì trời lúc này gần như đã tối hẳn. Gã ghé sát vào tai Einstein.
– Tôi là quỷ Iblich. – Gã thì thầm – Tức là Thần Chết, đến đây để bắt linh hồn ông.
Einstein lùi lại một bước.
– Tôi thấy – giọng ông trở nên gay gắt, – tôi thấy anh có vẻ đã quá chén.
Gã da đen bước đến bên hàng cây xanh, bẻ một cành nhỏ và chỉ trong chớp mắt những chiếc lá xanh biến màu, héo rũ xuống và trở nên xám xịt. Gã chúm miệng thổi, và tất cả, những chiếc lá, cả cành cây, tan thành đám bụi nhỏ.
Einstein cúi đầu.
– Hừm, quỷ thật! Có nghĩa đúng là hết… Nhưng sao, ngay tại đây, buổi tối… ngoài phố thế này à?
– Tôi được lệnh như vậy.

Einstein nhìn quanh, nhưng bốn phía không một bóng người. Vẫn con đường nhỏ, những ngọn đèn đường và xa xa phía dưới, ở ngã tư, lấp loáng đèn ôtô. Ông nhìn lên trời – bầu trời trong và sáng. Những ngôi sao vẫn cháy rực rỡ ở các vị trí của mình. Riêng sao Vệ Nữ vừa lặn khuất nơi chân trời.
Einstein nói:
– Này, anh hãy hoãn cho tôi một tháng. Làm sao mà anh lại đến đúng cái lúc tôi đang hoàn thành một công trình! Tôi xin anh cho tôi chỉ một tháng thôi.
– Cái mà ông định phát minh – gã da đen nói, – ông đi với tôi, đến bên đó sẽ tìm thấy ngay.
– Đó là những chuyện hoàn toàn khác nhau: liệu tất cả những gì chúng tôi dễ dàng biết được ở thế giới bên kia có đáng giá không? Công trình của tôi có một giá trị nghiêm túc. Tôi đã trăn trở đeo đuổi nó ba chục năm. Và giờ đây, khi chỉ còn lại một ít nữa…
Gã da đen cười khẩy.
– Ông bảo là một tháng à?… Thôi được, nhưng ông chớ có lẩn khi hết hạn đấy. Cho dù ông có trốn xuống tận đáy của hầm mỏ sâu nhất, tôi cũng tìm ra ông.
Einstein định hỏi thêm một câu nữa, nhưng người đối thoại của ông đã biến mất.

Một tháng là khoảng thời gian rất dài khi phải sống xa người ta yêu dấu nhưng lại hết sức ngắn ngủi khi anh chờ đợi sứ giả của thần chết. Tưởng như nó ngắn hơn cả một tiếng thờ dài. Và rồi nó đã hết. Một buổi chiều, khi chỉ còn lại một mình, Einstein tìm đến nơi đã hẹn. Vẫn cột xăng ấy, vẫn chiếc ghế dài ấy, còn ngồi trên ghế là gã da đen, chỉ có điều bây giờ đã khoác thêm ngoài bộ bảo hộ lao động một chiếc áo capốt nhà binh cũ – trời đã chuyển sang rét đậm.
– Tôi đã đến đây. – Einstein khẽ chạm tay vào vai gã, nói.
– Thế công việc của ông ra sao rồi? Xong chưa?
– Chưa, chưa xong được – Nhà bác học buồn rầu đáp – Hãy cho tôi thêm một tháng. Một lần này nữa thôi, tôi thề đấy. Tôi tin là lần này sẽ hoàn thành được. Anh biết không, tôi làm việc như điên suốt ngày đêm, mà vẫn không kịp. Nhưng còn lại có chút xíu nữa thôi.
Gã da đen xoay người, nhún vai.
– Tất cả loài người các ông chẳng khác gì nhau. Không bao giờ chịu vừa lòng. Sẵn sàng quỳ gối để xin gia hạn. Bao giờ cũng tìm ra lý do…
– Nhưng vấn đề tôi nghiên cứu rất phức tạp. Chưa bao giờ có ai…
– Tôi biết, tôi biết – gã Thần Chết cắt ngang lời ông – Ông tìm chìa khóa để mở cửa vào vũ trụ chứ gì?
Cả hai im lặng. Cảm thấy thật lạnh lẽo trong bóng tối đầy sương mù của trời đêm đã thật sự sang đông. Trong những đêm như thế này chẳng ai muốn bước ra khỏi nhà.
– Thế nào? – Einstein hỏi.
– Thôi được, ông về đi… Nhưng nên nhớ là một tháng trôi qua chóng lắm.

Và quả thật, nó trôi qua lúc nào không biết. Chưa bao giờ thời gian nuốt chửng cả bốn tuần lễ một cách ngấu nghiến như vậy. Vào đêm tháng Mười Hai hôm đó, một ngọn gió giá băng thổi những chiếc lá rụng cuối cùng xào xạc lăn trên mặt đường rải đá. Những sợi tóc bạc của nhà bác học xổ ra dưới vành mũ bêrê bay phất phơ. Và vẫn lại cột xăng ấy, bên cạnh là gã da đen ngồi xổm, mũ trùm kín đầu, và dường như đang ngủ gật.
Einstein bước đến, rụt rè chạm tay vào vai gã.
– Tôi đã đến.
Gã da đen va hai hàm răng vào nhau và co rúm người lại trong chiếc áo capốt:
– Ông đấy à?
– Vâng, tôi.
– Nghĩa là ông đã làm xong.
– Vâng, nhờ trời, tôi đã làm xong.
– Cuộc đấu thế kỷ đã kết thúc? Thế nào, ông đã thấy cái ông tìm ra rồi chứ? Đã mổ xẻ được vũ trụ rồi à?
– Đúng thế. – Einstein mỉm cười đáp và khẽ hắng giọng ho. – trong một chừng mực nào đó có thể nói giờ đây mọi chuyện với vũ trụ đều đã ổn thỏa.
– Vậy thì ta đi. Ông đã sẵn sàng chịu chuyến đi này chứ?
– Tất nhiên, đó là điều kiện mà.

Gã Iblich bỗng nhảy vọt dậy và phá ra cười – cười rất to, rất cởi mở, rất da đen. Rồi gã chọc ngón trỏ bàn tay phải vào bụng Einstein khiến ông loạng choạng suýt ngã.
– Thôi được, thôi được, ông bạn bịp già lõi ạ… Ông về nhà đi… chạy nhanh lên, nếu không muốn viêm phổi… Bây giờ tôi tạm thời không cần ông nữa.
– Anh tha tôi?… Nếu thế thì tất cả những trò kia để làm gì?
– Để cho ông hoàn thành công trình của mình. Chỉ có vậy thôi. Và tôi đã làm được điều đó… Nếu tôi không dọa ông thì ai biết được ông còn kéo dài bao lâu nữa.
– Công trình của tôi? Thế anh cần nó để làm gì?
– Tôi thì chẳng cần để làm gì cả… nhưng các sếp trên của tôi, ở dưới kia, những chúa quỷ cấp cao hơn… họ nói rằng ngay từ những phát minh đầu tiên của mình ông đã phục vụ cho họ rất đắc lực… Mặc dù ông không có lỗi, nhưng đúng là như vậy đấy. Ông có thích hay không, thưa giáo sư quý mến, nhưng địa ngục đã áp dụng các phát minh của ông rất hiệu nghiệm. Bây giờ chúng tôi đầu tư những khoản chi phí cho trang thiết bị, phương tiện…
– Vớ vẩn! – Einstein phẫn nộ quát lên – Hỏi trên thế giới có cái gì vô hại hơn không? Đó chỉ là những công thức, thuần túy trừu tượng, khá là khách quan…
– Đúng rồi! – Iblich hét vang, lại chọc ngón tay vào bụng nhà bác học. – Ôi, ngài cừ quá! Hóa ra người ta cử tôi đến đây phí công vô ích? Theo ngài, họ đã làm gì? Không, không đâu, ngài đã làm việc rất tốt. Các sếp của tôi ở dưới kia sẽ rất hài lòng! Ôi, giá như ngài biết được!…
– Giá như tôi biết được cái gì?
Nhưng gã da đen đã biến mất.

Không còn cả cây xăng, không còn cả chiếc ghế dài. Chỉ có màn đêm, gió lạnh và những ánh đèn ôtô xa xa phía dưới kia. Thành phố Princeton bang New Jersey.
.
 
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 393
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Fri Mar 23, 2018 7:40 pm



Dino Buzzati sinh năm 1906, mất năm 1972 ở Milan (Italy). Trước khi viết văn, ông là họa sĩ và nhà báo, từng là phóng viên chiến trường của tờ Corriere della Sera. Với Hoang mạc Tácta (1940), ông trở thành một trong những tên tuổi lớn của thế kỷ 20.
Chủ để quen thuộc của Buzzati là sự chạy trốn thời gian, định mệnh loài người, sợ hãi đối với hư vô, thất bại của sự sống, bí ẩn của nỗi đau và cái ác.



NGÀY TẬN THẾ
Dino Buzzati (Ý)


Một buổi sáng khoảng mười giờ, một nắm đấm khổng lồ xuất hiện trên bầu trời thành phố. Rồi từ từ mở ra và giữ nguyên như vậy, không di chuyển, như là một cái vòm khổng lồ của sự hủy họai. Trông giống như đá, nhưng không phải là đá; trông giống như thịt nhưng không phải. Ðó là Thượng đế, và là ngày tận thế. Một tiếng rì rầm, mà ở đây trở thành rên rỉ, ở kia nghe như la hét, lan truyền trong những khu của thành phố, cho đến khi lớn dần thành một giọng độc nhất, hoà hợp và dễ sợ, dâng cao the thé như tiếng kèn trompet.

Luisa và Pietro đang ở trong một quảng trường nhỏ, sưởi ấm bởi ánh nắng sớm, bao bọc bởi khung cảnh lạ và một phần là những khu vườn. Nhưng trên bầu trời, ở một độ cao khó lường, bàn tay treo lơ lửng. Cửa sổ được mở tung giữa những tiếng kêu khóc sợ hãi, trong khi những tiếng la hét ban đầu của thành phố dần chìm xuống, và những người phụ nữ nửa kín nửa hở nhìn ra để xem sự khải huyền. Người ta rời nhà, rất nhiều trong số họ vùng chạy. Họ cảm thấy sự cần thiết phải di động, phải làm gì đó, bất cứ thứ gì, nhưng họ không biết hướng về đâu.
Luisa bật khóc nức nở không kìm được: “Em biết mà,” cô lắp bắp giữa tiếng thổn thức, “Em biết là mọi sự sẽ phải kết thúc như thế này, không phải khi mà ta đang ở nhà thờ, không phải khi ta đang cầu nguyện. Em không cần biết, không cần để ý, và bây giờ em cảm thấy mọi sự sẽ phải diễn ra như thế này!”
Pietro phải làm gì để an ủi cô? Thậm chí anh cũng đang khóc như một đứa nhỏ. Phần lớn mọi người mắt đều giàn dụa, đặc biệt là phụ nữ.
Chỉ có hai thầy dòng, hai người đàn ông nhỏ bé lanh lẹn, đi ngang vui vẻ như là như họ đang trên đường đến dự tiệc. “Giờ là rồi đời những người thông thái!” họ vui sướng cảm thán, rảo bước tiếp thật nhanh, hướng về những khách bộ hành có danh vọng nhất.

“Các ông chẳng còn thông thái nữa, nhỉ? Giờ bọn tôi là người thông thái!” họ lên giọng châm chọc. “Luôn bị nhạo báng, luôn bị xem là ngu độn — giờ để xem ai là người thông thái cho biết!” Vui vẻ như lũ học trò, họ đi ngang qua giữa một đám đông đang lớn dần, những người nhìn họ trừng trừng nhưng không dám làm một cử chỉ cản trở.
Ít phút sau khi họ đã mất hút vào một ngõ hẹp, một người đàn ông nhào theo tìm họ một cách đầy bản năng, như là một cơ hội đã bị để cho vuột mất. “Lạy Chúa!” anh ta gào lên, tự đấm vào trán mình, “quên nghĩ là họ có thể rửa tội cho bọn ta.” “Tức thật!” ai đó tiếp lời thật nhanh, “Bọn ta thật là ngu! Họ hiện ra ngay trước mũi mình mà lại để cho họ đi mất!” Mà ai có thể đuổi kịp với những thầy dòng nhanh nhảu?

Trong lúc đó thì đàn bà và những người đàn ông độc ác, những người trước kia tỏ ra ngạo mạn, giờ đang trở về từ nhà thờ, chửi rủa, thất vọng và đầy chán nản. Những người giáo sỹ nghe xưng tội thông minh hơn đã biến mất – người ta cho hay – có lẽ bị mua bởi những người có thế lực và những tay đại tư bản công nghiệp. Thật là lạ, nhưng mà tiền bạc kỳ diệu thay bảo toàn được uy tín của nó cho dù đây là ngày tận thế; người ta đoán chừng rằng có thể vài phút, vài giờ, hay vài ngày còn sót lại, nhưng làm sao biết được. Về những giáo sỹ còn sót lại, một đám đông chật ních dễ sợ tạo thành trong nhà thờ nên có họ cũng như không. Người ta nói rằng những vụ xô xát nghiêm trọng thường xảy ra gây bởi những đám người quá đông, và rằng những tên lường gạt mặc áo thầy tu còn đề nghị gọi điện thoại đến tận nhà để nghe xưng tội với giá cắt cổ. Mặt khác thì những cặp còn trẻ hối hả đắm mình làm tình lần cuối cùng, duỗi dài trên cỏ trong vườn, không hề tỏ ra một chút ý định giả vờ kiềm chế nào. Bàn tay, lúc đó, đã đổi sang màu tro, cho dù mặt trời vẫn còn chiếu sáng, và như là một kết quả, còn đáng sợ hơn nữa. Tiếng đồn rằng thảm họa sắp xảy ra bắt đầu lan nhanh; một vài người tin chắc họ sẽ chẳng thấy buổi trưa.

Vừa lúc đó một tu sỹ còn trẻ được phát hiện trên một ban công nhỏ, duyên dáng của một biệt thự, cao hơn mặt đường một chút (ban công được lên tới bởi hai dãy tầng cấp hình nan quạt). Với đầu thu giữa hai vai, anh ta chạy như là sợ bị thấy đi ra từ đó. Thật là lạ khi thấy một tu sỹ vào giờ này, trong căn nhà xa xỉ đó cư ngụ bởi những gái làng chơi hạng sang. “Một tu sỹ! Một tu sỹ!” được nghe la lên khắp mọi nơi. Với tốc độ của ánh sáng, đám đông thành công trong việc chận anh ta lại trước khi vị tu sỹ đi mất. “Hãy rửa tội cho chúng tôi! Hãy rửa tội cho chúng tôi!” họ kêu khóc với anh ta. Anh chàng tái mặt, bị lôi kéo đến một chỗ xinh xắn nhô ra từ ban công như là một bục giảng được che phủ; có vẻ như là được xây nên cho mục đích này. Hàng tá đàn ông đàn bà lập tức họp lại với nhau, tạo thành tiếng hò hét, tràn lên từ phía dưới, trèo lên những chỗ trang trí nhô ra, bám vào những cây cột, và gờ của lan can; mà sau hết có vẻ không cao lắm.

Vị tu sỹ bắt đầu nghe xưng tội. Rất nhanh anh lắng nghe những lời bí mật không kịp thở từ những người xa lạ (những người mà vào lúc này không còn quan tâm đến việc người khác có nghe họ hay không). Trước khi họ kết thúc anh làm dấu thánh giá nho nhỏ bằng tay phải, giải tội cho họ, và lập tức quay sang người có tội kế tiếp. Nhưng có nhiều người quá. Vị tu sỹ nhìn quanh, chóng mặt, cố ước lượng cái biển tội lỗi đang dâng cần được tẩy sạch.

Bằng cố gắng hết sức, Luisa và Pietro cũng đến được dưới chân anh ta, chờ tới phiên mình, và được nghe xưng tội. “Con không hề đi lễ, con nói dối,” cô gái trẻ gào thật nhanh trong một cơn điên bị sỉ nhục, sợ rằng cô sẽ không kịp giờ, “và sau đó là tất cả những tội lỗi gì cha muốn cộng hết cũng được, thật đấy, và con không phải nói điều này bởi vì con sợ những người ở đây, hãy tin con, chỉ vì con ao ước được ở gần Chúa, con thề với cha,” và vị tu sỹ bị thuyết phục bởi lòng thành của cô. “Ego te absolvo,” anh ta thì thầm, và quay sang lắng nghe Pietro.

Bây giờ thì một sự mong chờ không diễn tả được dâng lên trong bọn đàn ông. Một người hỏi: “Còn bao lâu nữa thì đến giờ phán xử cuối cùng?” Một người khác, có vẻ hiểu biết, nhìn đồng hồ. “Còn mười phút,” ông ta nói giọng đầy quyết đoán. Vị tu sỹ nghe người đàn ông và thình lình cố rời bước. Nhưng, chưa thỏa mãn, đám đông giữ anh ta lại. Trông anh ta như đang lên cơn sốt. Rõ ràng làn sóng lời xưng tội đến với anh ta không khác hơn lời thì thào vô nghĩa lý; anh ta làm dấu thánh giá cái này tiếp theo cái kia, lặp lại câu Ego te absovo đầy máy móc.

“Còn tám phút!” một giọng đàn ông trong đám đông cất lên. Vị giáo sỹ run rẩy thật sự, anh ta giậm chân lên mặt đá cẩm thạch như là một đứa trẻ đang làm nũng. “Còn tôi? Còn tôi thì sao?” anh ta bắt đầu khẩn nài, tuyệt vọng. Họ đã lường gạt anh sự cứu rỗi tâm hồn anh, những người đáng nguyền rủa; quỷ sứ bắt hết họ đi, không cần biết bao nhiêu. Nhưng làm sao tự anh có thể giải thoát cho anh được?

Anh ta gần khóc. “Còn tôi? Tôi?” anh ta hỏi một ngàn tín đồ, tham lam được vào thiên đường. Nhưng không có ai để ý đến anh ta cả.

Nguyễn Ðức Thanh Quang dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 350
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Tue Mar 27, 2018 7:42 am



VÌ TÔI LÀ CON CỦA MẸ
Dino Buzzati (Ý)

 
Nhiều năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn còn thầm hỏi hai người tài xế đã nói gì trên đường chở linh cửu mẹ tôi đến nghĩa trang .
            
Ðó là một cuộc hành trình dài hơn 300 km, tuy đường vắng người nhưng xe đi rất chậm. Lũ con chúng tôi theo sau bằng xe hơi, giữ khoảng cách chừng 100 thước, và đồng hồ đánh dấu tốc độ 60 km/giờ. Có thể loại xe tang được chế tạo để di chuyển chậm nhưng sao tôi cứ nghĩ là có một quy luật nào đó, xem tốc độ là một điều bất kính với người đã khuất. Ðiều này hơi vô lý – bởi tôi tin mẹ tôi sẽ rất thích nếu xe chạy 120 km/giờ, ít ra cũng tạo cho người cái cảm giác về một chuyến đi bình thường như những dịp hè về Belluno nghỉ mát.
 
Bữa đó là một ngày tháng sáu tuyệt vời, hai bên con đường quen thuộc mà mẹ tôi đã đi qua lại hằng trăm lần đang hiện ra những cánh đồng bát ngát mà bây giờ người không nhìn thấy nữa. Mặt trời lúc ấy đã lên cao, hơi nóng trên đường nhựa bốc lên làm đoàn xe phía trước giống như đang lửng lơ trong không khí.        
Ðồng hồ vận tốc chỉ 60 km/giờ, xe tang như đứng yên một chỗ vì có nhiều xe qua mặt, trên đó chở những người đang sống tự do, hay những cô gái thả tóc bay trong gió, ngồi cạnh các thanh niên trên xe mui trần. Rồi những xe cam nhông, kể cả loại kéo rờ mọt cũng vượt qua phía trước… Tôi nghĩ  sao mà dại thế, phải chi người ta chở linh cửu mẹ tôi trên một xe thể thao màu đỏ, phóng hết tốc lực để hiến dâng cho người thêm chút  nữa về đời sống thực, thay vì chậm chạp lăn trên đường  như  một đám tang.
           
Bởi những lý do đó nên  tôi muốn biết là hai người tài xế đã nói những gì; một người khoảng ba mươi lăm tuổi cao chừng thước tám, khuôn mặt hiền lành, còn người kia cũng to con với màu da sạm nắng. Tôi thoáng thấy họ ngay từ lúc khởi hành và chợt  nghĩ  với vóc dáng như thế, họ không mấy phù hợp với việc lái xe tang; một chiếc cam nhông chở ống sắt có lẽ  sẽ thích hợp với họ nhiều hơn.          
Sở dĩ tôi muốn biết là họ đã nói với nhau những gì bởi vì đó là câu chuyện cuối cùng của loài người, những lời lẽ cuối cùng của cuộc sống mà mẹ tôi còn nghe được; vì trong cuộc hành trình dài và nhàm chán đó thế nào mà hai gã tài xế  không nói chuyện với nhau. Còn việc sau lưng họ có linh cửu mẹ tôi thì đối với họ nào có quan trọng gì, dĩ nhiên, công việc này đã quá quen với họ, nếu  không  chắc  họ đã chọn nghề khác.           
Ðó là những lời cuối mà mẹ tôi còn nghe được vì  sau khi đến nghĩa trang, các nghi lễ của nhà thờ sẽ bắt đầu, và từ lúc ấy những âm thanh và lời  lẽ sẽ không còn dành cho cuộc sống này nữa, mà  dành cho một thế giới khác.
           
Họ đang nói với nhau về chuyện gì? Về sự oi bức? Về thời gian cần thiết khi quay lại? Họ kể chuyện gia đình hay bàn về kết quả các trận túc cầu bữa trước? Họ chỉ cho nhau những quán ăn ngon nằm rải rác trên đường rồi tiếc rẻ vì không ngừng lại được? Hay bàn tán về xe hơi với những hiểu biết về cơ giới như những tay sành sõi? Tuy là tài xế xe tang, nhưng có mấy ai dính líu đến ngành cơ khí mà không đam mê máy móc? Hay họ tâm sự với nhau về những cuộc phiêu lưu tình ái? Mày còn nhớ con bé tóc vàng bán nước ở cái quán cạnh cây xăng mà bọn mình thường dừng lại? Ðúng là con đó đó. Thôi đừng xạo cha nội, tao không tin. Thiệt mà, tao thề liền đó… Hoặc họ đang kể cho nhau những chuyện tiếu lâm tục tĩu? Bởi vì hai gã đó cứ tưởng chẳng có ai; cái hòm gỗ đóng kín nằm đằng sau như không hiện hữu, vì họ đã quên rồi…          
Và mẹ tôi phải nghe những lời đùa bỡn ấy cùng với những trận cười khoái trá? Chắc thế, người đã nghe và con tim đớn đau của người lại co thắt thêm lên, chẳng phải vì xem thường hai gã đàn ông lạ mặt mà chính vì nỗi cay đắng là phải nghe những lời lẽ đó thay vì nghe giọng nói của những đứa con  mà người hằng yêu thương.
           
Tôi còn nhớ lúc gần đến Vicenza, khi cái nóng trưa tròn bóng làm rung mờ bóng hình mọi vật, đã bàng hoàng nghĩ lại là thời gian sau này tôi đã sống quá ít bên cạnh mẹ. Rồi chợt nghe một mũi nhọn buốt đau giữa ngực, như người ta thường gọi là niềm ân hận.
      
Ngay lúc ấy - không hiểu sao trước đó vẫn chưa hề xảy ra - âm vang giọng nói của người bắt đầu dội lại trong tôi, của những buổi sáng đến phòng người trước khi ra  tòa soạn: “Mẹ có khoẻ không?” “Đêm qua mẹ ngủ được?” (mà tôi biết  là  nhờ những mũi thuốc an thần)  “con đi làm nghen mẹ”  “ừ thôi con đi đi ”.
Tôi  bước được vài bước trong hành lang thì giọng nói đầy sợ hãi của người vọng đến: “Dino!” Tôi quay lại. “Con về ăn trưa chứ?” “Dạ”  “Còn bữa cơm chiều?”.
“Còn bữa cơm chiều?” Chuá ơi, trong câu hỏi bình thường đó có ẩn chứa một ước vọng nhỏ nhoi. Người không yêu cầu cũng không đòi hỏi gì ở tôi, chỉ nói để hỏi thăm một tin tức thế thôi.
Nhưng tôi đang có những cuộc hẹn hò ngu xuẩn, với những đứa con gái chưa chắc đã thương yêu gì tôi, thậm chí còn cóc cần đến tôi nữa… nhưng ý nghĩ trở về nhà lúc tám giờ ba mươi tối trong căn nhà buồn thảm, đượm không khí già nua bệnh hoạn như nỗi chết cận kề đã làm tôi sợ hãi; mà đã có mấy ai can đảm thú nhận những điều kinh khủng này, dù rằng rất thật? “Con cũng không biết nữa, con sẽ điện thoại về sau” - Tôi thường trả lời như thế. Và tôi chắc thông báo là sẽ không về. Có lẽ người cũng  biết là tôi sẽ nói thế nên hai tiếng  “đi đi”  mang một nỗi buồn vô tận. Nhưng tôi là một đứa con ích kỷ. Ích kỷ như tất cả mọi đứa con.
Lúc đó tôi không hề ân hận, không hề ăn năn hay có một ray rứt nào. “Con sẽ điện thoại về”, và người đã thừa hiểu là tôi sẽ không về nhà ăn tối.

Mẹ tôi già nua, bệnh tật và biết là ngày tàn sắp đến nên rất hài lòng nếu tôi về ăn tối ở nhà để bà bớt cô đơn. Bà chỉ cần tôi hiện diện, dù không nói lời nào hay đôi khi gắt gỏng về những việc bất như ý trong ngày. Nằm bất động trên giường nhưng bà sẽ thấy ấm lòng và được an ủi nếu nghe tiếng lục đục của tôi ăn cơm trong bếp.
Nhưng tôi thì không. Tôi quả thật là thằng khốn nạn và ngu đần vì trong khi tôi đi khắp thành phố Milano để vui chơi cùng bè bạn thì chính đấng sinh thành, điểm tựa thật và duy nhất, sinh vật có một không hai trên cõi đời có khả năng thông cảm và yêu thương, trái tim duy nhất có thể rướm máu vì tôi (và tôi sẽ không bao giờ tìm được dẫu sống thêm ba trăm năm nữa) đang nằm chờ chết.

Tôi chỉ cần nói vài lời với người trước bữa ăn tối về công việc và sinh hoạt trong ngày, tôi ngồi trên đi văng và mẹ nằm duỗi cẳng trên giường. Rồi sau bữa cơm tối, mẹ vui lòng để tôi đi đâu mặc kệ; người đâu có tiếc gì, trái lại, còn  vui mừng nữa nếu tôi có những cơ hội giải khuây. Nhưng trước khi ra khỏi nhà để lao mình trong đêm tối tôi sẽ đến chào người:  “Mẹ đã chích thuốc chưa?” “Chích rồi, mẹ hy vọng là đêm nay ngủ được”.
Mẹ chỉ yêu cầu có thế. Nhưng ngay cả điều nhỏ nhoi này tôi cũng không làm được, do lòng ích kỷ thấp hèn. Bởi vì tôi là con; và trong sự ích kỷ của kẻ làm con tôi đã không cần biết là mình đã thương mẹ bao nhiêu. Ðể bây giờ, trong khoảng khắc cuối đời, trên đường ra nghĩa trang, người phải nghe những lời tán gẫu, những chuyện tiếu lâm và tiếng cười  thô lỗ của hai gã đàn ông lạ mặt. Ðấy là món quà cuối cùng mà cuộc đời đã dành cho mẹ.
         
Giờ thì quá muộn rồi. Không còn gì nữa. Đã muộn quá rồi. Gần hai năm qua, tảng đá đã hạ xuống để mãi mãi đóng kín ngôi mộ trong lòng đất, nơi ánh sáng lờ mờ có linh cửu của ông bà, cha mẹ nằm chồng chất lên nhau. Ðất đã lấp kín những đường rãnh, đây đó mọc lưa thưa vài chùm cỏ dại. Mấy chậu hoa mới đặt trong chậu đồng vài tháng trước giờ  phai tàn đến nỗi không còn nhận ra hình dáng. Không. Những ngày mẹ bệnh hoạn và biết mình sắp chết chắc chắn sẽ không bao giờ lùi lại. Mẹ vẫn câm lặng, mẹ không trách móc gì tôi và có thể là người đã tha tội cho tôi, bởi vì tôi là con của mẹ. Mà chắc là mẹ đã tha tội cho tôi. Thế nhưng cứ mỗi lần nghĩ đến, tâm hồn tôi lại bất an.
            
Mỗi một niềm đau sẽ được khắc lên tấm bia bằng chất liệu diệu kỳ, so với nó cẩm thạch vẫn còn mềm như đất sét. Và thời gian dù vô tận cũng chưa đủ để làm nó phai mờ. Sau một triệu thế kỷ niềm đau và nỗi cô đơn của mẹ do tôi gây ra sẽ còn mãi  mãi. Và tôi sẽ không thể nào cứu vãn. Tôi chỉ còn biết thở dài, và hy vọng là người nhìn thấy.
Nhưng mẹ không nhìn thấy tôi. Người đã chết, xác thân bị huỷ hoại, không còn sống nữa hay đúng hơn là chẳng còn gì ngoài sự mục rữa hình hài đã bị tháng năm xúc phạm, theo sự phân hủy kinh hoàng và đau đớn của thời gian.

Không còn gì? Ðúng là không còn gì. Mà quả thật về mẹ tôi đã không còn gì nữa?
           
Biết đâu! Có khi, nhất là trong những buổi chiều đơn độc, tôi lắng nghe một cảm xúc lạ lùng. Có một điều gì đó xâm nhập trong tôi mà trước đó vài giây chưa hề có, như một bản thể mơ hồ ngự trị trong tôi làm tôi không còn cô độc, và mỗi cử chỉ, mỗi một lời  đều như có chứng nhân của một linh hồn bí ẩn. Mẹ! Nhưng phép lạ chỉ kéo dài rất ít, chừng một giờ rưỡi chứ không hơn. Rồi sau đó dòng đời lại tiếp tục nghiền nát tôi dưới những bánh xe khô khốc và bạo tàn của nó.

Nguyên tác: I due autisti 
Trương Văn Dân chuyển ngữ
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 426
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sat Mar 31, 2018 2:45 pm


 
Sáng Thế
Dino Buzzati (Ý)


Bấy giờ Đức Chúa Vạn năng vừa xong việc với vũ trụ: các ngôi sao, tinh vân, hành tinh, sao chỗi được xếp đặt lộn xộn một cách phóng túng. Ngài đang hài lòng ngắm nghía tác phẩm của mình thì thấy một trong hằng hà sa số những kỹ sư - chuyên viên thiết kế tiến lại gần ngài với vẻ mặt hết sức bận rộn.

Đó là thần Odnom, một trong những vị thần thế hệ mới thông minh và năng động hơn cả (Bạn nhất thiết phải quên ngay các vị thánh có cánh mặc áo trắng đi nhé; cánh và áo trắng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của các họa sĩ thời xưa, chẳng qua vì họ thấy vẽ thế thì đẹp).

- Con muốn gì chăng? - Chúa Sáng Thế thân mật hỏi.
- Vâng, thưa Đấng Tối cao. - Vị thần kiến trúc trả lời. - Trước khi ngài đặt chữ Hết và ban phước cho tác phẩm tuyệt diệu của ngài, con muốn dâng ngài xem một đề án nhỏ mà con với vài đồng nghiệp trẻ vừa nghĩ ra. À, vài thứ phụ thôi, hết sức vặt vãnh so với toàn bộ phần còn lại, một chi tiết nhỏ, nhưng chúng con cho rằng có lẽ cũng thú vị.

Từ cặp tài liệu đang cầm ở tay, thần rút ra một tờ giấy có vẽ một dạng hình cầu.
- Xem nào. - Đấng Vạn Năng nói, tất nhiên là ngài đã tỏ tường toàn bộ đề án, nhưng ngài ra vẻ không biết gì và giả vờ tò mò để làm vừa lòng những kiến trúc sư giỏi nhất của ngài.
Kế hoạch rất cụ thể, có đủ những đánh giá cần thiết.
- Xem xem, đây có thể là gì nhỉ? - Đấng Sáng thế nói, tiếp tục màn ngoại giao của mình. - Ta có thể bảo đây là một tinh cầu, nhưng chả phải chúng ta đã xây hàng tỷ tỷ tinh cầu đó sao? Có cần phải làm thêm một cái nữa, với kích thước hạn hẹp thế này không?
- Thực ra đây đúng là một hành tinh nhỏ. - Vị thần - kiến trúc sư thừa nhận. - Nhưng không như hàng tỷ hành tinh khác, nó có vài thứ độc đáo.

Thần giải thích rằng nó sẽ quay quanh một ngôi sao, ở khoảng cách để nó có đủ nhiệt lượng cần thiết nhưng không quá nóng; thần liệt kê chi tiết bản dự toán với số lượng từng thứ và giá cả tương ứng. Và với mục đích gì? Chả là nếu hội đủ mọi điều kiện cần như thế, trên tinh cầu nhỏ nhoi ấy có thể tạo tiếp ra một hiện tượng rất lý thú: Cuộc sống.

Hiển nhiên là Đấng Sáng thế chẳng cần nhiều giải thích dài dòng. Hiểu biết của một mình ngài hẳn là hơn tất cả những thần-kiến trúc sư, thần-đốc công, thần-thợ nề cộng lại. ngài mỉm cười. Ý tưởng về hòn bi nhỏ lạc giữa vô hạn không gian, mang hằng hà những sự sống cứ sinh ra, giao phối, nhân lên và chết làm ngài thích thú. Tất nhiên thôi, bởi cho dù dự án là do thần Odnom và các cộng sự đề ra, thì tính cho cùng nó vẫn là từ ngài, khởi nguyên của vạn vật.

Yên tâm trước sự tiếp nhận thân tình của Thượng đế, thần-kiến trúc huýt lên một tiếng sáo chói tai và lập tức hàng nghìn, tôi đang nói gì nhỉ, hàng nghìn à, không, hàng trăm nghìn và có thể đến hàng triệu vị thần khác hiện ra ngay trước mặt.

Điều này làm Đấng Sáng thế hoảng hốt. Nếu chỉ có một vị đề đạt ý kiến thôi thì cũng được đi. Nhưng nếu mỗi vị thần kia mang đến nộp một đề án riêng với các giải thích cần thiết thì chuyện này phải kéo dài đến vài thế kỷ mất. Tuy nhiên, với lòng tốt vô biên, ngài đành chuẩn bị chấp nhận thử thách. Bọn hay quấy quả là một tai ương vĩnh cửu. Ngài chỉ biết thở dài...

Odnom làm ngài yên tâm. Không có gì phải sợ. Đám đông các thần này đều là các nhà vẽ mẫu. Ủy ban điều hành của tinh cầu mới đã đặt họ vẽ các loài sinh vật - cây cối và động vật - cần thiết cho tinh cầu mới. Odnom và đồng nghiệp đã không lãng phí thì giờ. Thay cho việc đưa ra các kế hoạch trừu tượng, họ đã tiên liệu các chi tiết nhỏ nhất. Và có lẽ tự thâm tâm, họ muốn đặt Đấng Tối cao trước sự đã rồi với một công việc hoàn hảo đến thế. Nhưng chẳng cần phải vậy.

Cuộc diễu hành đáng chán của bọn xin xỏ mà ngài chờ đợi hóa ra lại biến thành một dạng huy hoàng và vui tươi. Ngài không chỉ chăm chú xem xét phần lớn - nếu không phải tất cả - các bức vẽ cây cỏ sinh vật mà còn hăng hái tham gia vào các tranh luận liên tục nảy ra giữa các tác giả.

Mỗi nhà tạo mẫu hiển nhiên đều mơ ước tác phẩm của mình được thông qua, được khen nữa thì càng tốt. Nhưng trình độ tạo mẫu là hết sức khác nhau. Như bất cứ nơi nào trong vũ trụ, một số đông những kẻ tầm thường phải lăn lưng ra chế tạo cái mà chúng ta có thể gọi là "nền tảng vững chắc" cho tự nhiên: các thợ vẽ, tuy thường có trí tưởng tượng khá hạn chế, nhưng cần cù bù thông minh, họ đã lần lượt vẽ ra các vi sinh vật, rêu, địa y, côn trùng, đại khái những loài mà thời đó được xếp vào loại ít quan trọng nhất. Rồi đến các nghệ sĩ tài năng, bọn ngông cuồng, bọn lòe bịp cố gắng tỏa sáng và thu hút chú ý bằng cách tạo ra các loài kỳ dị, phức tạp, hoành tráng và đôi khi quái đản. Vài loại trong số đó, ví dụ rồng với hơn chục cái đầu, tất nhiên là bị từ chối và vứt vào sọt rác.

Các bức vẽ được thể hiện trên loại giấy xịn nhất với màu sắc và độ lớn bằng vật thật. Điều này rõ ràng đẩy tác giả của các sinh vật bé nhỏ xuống hàng thứ yếu. Các tác giả của vi khuẩn, virus và các loài tương tự gần như không được ai để ý, mặc dù công lao của họ là không thể phủ nhận. Họ xuất hiện với những miếng giấy bé bằng tem thư, có những ký hiệu li ti mà con mắt người thường của chúng ta không thể thấy được (nhưng mắt họ thì thấy, tất nhiên). Trong đám này có tác giả của các động vật thân khớp, đi đi lại lại với quyển ký họa to bằng cái mắt muỗi, chờ những người khác tán thưởng vẻ duyên dáng của các vi động vật tương lai nhang nhác giống gấu con, nhưng chẳng ai thèm để ý. May thay Đấng Toàn năng vốn chẳng bỏ sót điều gì, đã gửi cho vị này một cái nháy mắt làm ấm lòng, đáng giá bằng cái bắt tay nhiệt tình nhất.

Một cuộc tranh cãi gay gắt nổ ra giữa tác giả của lạc đà hai bướu và lạc đà một bướu, ai cũng cho rằng mình là người đầu tiên nghĩ ra cái bướu, như thể đó là một sáng chế thiên tài. Cả hai được công chúng đón nhận một cách khá lạnh nhạt: Phần lớn cho rằng chúng xấu đến thảm hại. Chúng được chấp nhận chẳng qua là cho công bằng.

Dự án về khủng long bị đa số la ó phản đối. Một nhóm các thần táo bạo nhiều tham vọng đã tổ chức một cuộc diễu hành, giương cao những tấm bảng khổng lồ có hình loài động vật lực lưỡng này. Sự phô trương như thế rõ ràng đã gây ấn tượng mạnh. Dù sao thì loài thú ngoại cỡ này cũng là sự thổi phồng hơi quá đáng và không có nhiều khả năng là chúng sẽ sống sót. Nhưng để khỏi làm các nghệ sĩ dũng cảm thất vọng - họ đã đổ bao tài năng công sức vào đó - Đấng Sáng thế Tối thượng vẫn cho thông qua.

Một trận cười nổ ra trước hình vẽ con voi. Độ dài của cái mũi có vẻ hơi quá đáng, thậm chí lố bịch. Tác giả vặc lại là đấy không phải cái mũi, mà là một cơ quan đặc biệt, có thể gọi là cái vòi chẳng hạn. Từ này khá là thích đáng và được vài người hoan hô. Đấng Toàn năng mỉm cười. Và con voi cũng thành công lọt qua vòng thi.

Đối lại, cá voi dành được thành công tức thời và ngoạn mục. Sáu vị thần bay tới, khiêng một tấm ván ngoại cỡ có chân dung con vật khổng lồ. Nó tạo được thiện cảm cho mọi người và khơi dậy sự hoan hô nhiệt liệt.

Nhưng làm sao mà nhớ hết được cuộc kiểm điểm vô tận ấy? Trong số những cái đinh nổi trội nhất, chúng tôi có thể kể ra một số loại bướm lớn màu sắc sặc sỡ, trăn khổng lồ, cây cù tùng, chim thủy tổ, chim công, chó, hoa hồng, bọ chét. Tất cả đồng thanh tiên đoán một tương lai lâu dài và xán lạn cho ba loài cuối cùng này.

Trong lúc đó, giữa đám đông các thần đang chen chúc sôi nổi quanh Đấng Toàn năng, khao khát được ban khen, một vị đơn độc đi đi lại lại với cuộn giấy cặp nách: thật là một kẻ quấy rầy bậc nhất khó chịu! Hắn có gương mặt sáng sủa, thật thế, cái này không ai phủ nhận. Nhưng hắn mới đáng ghét làm sao! Đến hai chục lần là ít hắn sấn sổ chen vai thích cánh người khác hòng leo lên hàng đầu, thu hút sự chú ý của Đại Chủ nhân. Nhưng sự hăng máu kiêu ngạo của hắn làm người ta phát ghét. Và các đồng nghiệp giả đò không thấy, đẩy hắn ra hàng sau.

Nhưng điều này chẳng làm hắn chùn lòng. Ối chà! Cuối cùng hắn cũng chen được đến chân Đấng Sáng thế, và trước khi đám đồng nghiệp có thì giờ ngăn trở, hắn trải cuộn giấy ra trưng thành quả tài năng của mình trước những con mắt thần thánh. Các bức vẽ thể hiện một động vật trông khá đáng ghét, nếu không nói là đáng ghê tởm, tuy nhiên đập vào mắt người ta vì sự khác biệt hoàn toàn so với những thứ được trình diễn cho đến lúc đó. Một bên là con đực, một bên là con cái. Như nhiều động vật khác, chúng có tứ chi, nhưng ít nhất nếu suy đoán từ hình ra, thì chúng chỉ dùng có hai chi để đi lại. Không có lông, nếu không kể vài túm chỗ này chỗ kia, nhất là trên đầu, như một cái bờm. Hai chi còn lại lòng thòng bên hông trông khá nực cười. Cái mõm hơi giống khỉ, loài đã vượt qua vòng thi. Hình dáng không được thanh nhã, hòa hợp và đẹp như các loài chim cá hay sâu bọ cánh cứng mà nguều ngoào, lóng ngóng, hơi nhờ nhạt thế nào đó, như thể đúng lúc quyết định, tác giả vào đâm mệt và nản chí.

Đấng Toàn Năng liếc qua:
- Không thể nói là chúng thật đẹp được! - Ngài vừa nhìn vừa bảo, thân tình giảm nhẹ sự nghiêm khắc trong phán xét. - Nhưng có thể con vật này có vài công năng đặc biệt chăng?
- Vâng, lạy Chúa tôi. - Kẻ đáng ghét khẳng định. - Nói một cách khiêm tốn thì đây là một sáng chế kỳ diệu. Đây sẽ là đàn ông và đây là đàn bà. Tách biệt với khía cạnh hình thể mà con thừa nhận là còn cần tranh cãi, con đã tìm ra cách để chúng có thể - xin ngài tha thứ cho sự táo gan của con - giống ngài, thưa Đấng Tối cao. Đây sẽ là loài duy nhất trong mọi vật có được lý trí, loài duy nhất biết đến sự tồn tại của ngài, loài duy nhất sẽ thờ cúng ngài. Vinh danh ngài chúng sẽ xây những ngôi đền vĩ đại, và chúng sẽ lao vào những cuộc chiến đầy chết chóc.
- Chà chà chà! Con muốn nói đây sẽ là loài có trí tuệ à? - Đấng Toàn Năng nói. - Tin ta đi, con của ta, không, không có loài trí tuệ nào hết. May thay cho đến nay vũ trụ vẫn được miễn trừ khỏi chúng. Và ta hy vọng sẽ tiếp tục như thế cho đến tận cùng các thiên niên kỷ. Con của ta ơi, ta không chối rằng sáng tạo của con thực sự là thiên tài. Nhưng con có thể bảo đảm sự thành công của nó chăng? Cái loài con đã nghĩ ra này có các phẩm chất đặc biệt, có thể thế, nhưng nếu xét theo điệu bộ của chúng thì có vẻ đây sẽ là nguồn rầy rà vô tận. Tuy nhiên, ta phải nói là ta rất sung sướng thừa nhận tài năng của con. Thậm chí ta có thể trao huy chương cho con. Nhưng ta nghĩ con nên từ bỏ ý đồ này thì hơn. Cái loài này, nếu ta mềm lòng mà tạo ra thì khá chắc chắn là một ngày chúng sẽ mang lại những phiền hà tệ hại nhất. Không, không, bỏ đi thôi.
Và ngài đuổi kẻ quấy rầy đi với một cử chỉ đầy tình phụ tử.

Tác giả của con người cau có bỏ đi dưới những nụ cười thầm ranh mãnh của đồng nghiệp. Muốn làm ra vẻ xuất sắc à... Sau đó đến lượt tác giả của gà gô đen.

Đó là một ngày đáng nhớ và vui vẻ như mọi giờ phút huy hoàng trong hy vọng và đợi chờ những điều tốt đẹp đang trên đường hình thành nhưng chưa hoàn tất. Trái Đất sẽ sinh ra với những kỳ quan tốt đẹp và tàn ác, với sự an lạc và sợ hãi, tình yêu và cái chết. Loài nhiều chân, loài sồi, giun sán, đại bàng, tò vò, linh dương, đỗ quyên. Sư tử!

Kẻ đáng ghét vẫn đi đi lại lại, không mệt mỏi và, ôi dào, trông đến là chán, với cái cặp tài liệu của hắn. Hắn không rời mắt khỏi ngôi cao, cố tìm trong mắt Đại Chủ nhân một dấu hiệu bãi bỏ lệnh cũ. Tuy nhiên các đề tài Người đang theo dõi lại hoàn toàn khác: chim ưng và trùng đế giày, chim ri và cây bông, khuẩn cầu và cá chép.

Cho đến lúc Trái Đất đã đầy tràn những loài đáng yêu và ghê tởm, hiền lành và hoang dã, khủng khiếp, tí xíu, lộng lẫy. Tiếng rì rầm của xao động, của tim đập, tiếng rên rỉ, âm ư, lúc rúc, líu lo bắt đầu nổi lên từ rừng từ biển. Đêm xuống. Các nhà tạo mẫu nhận được sự đồng ý tối thượng, bỏ đi, thỏa mãn về mặt này hay mặt khác. Mệt mỏi, Đấng Tối cao ở lại một mình trong không gian vô hạn lấp lánh sao. Ngài chìm vào giấc ngủ, thanh thản...

Ngài cảm thấy gấu áo của mình bị ai kéo nhẹ. Ngài mở mắt nhìn xuống và thấy kẻ quấy rầy đã quay lại: hắn lại mở bức vẽ ra và đăm đăm nhìn ngài khẩn khoản. Con người! Ý tưởng mới điên rồ và nguy hiểm làm sao. Nhưng tận sâu xa, đó cũng là trò chơi quyến rũ, là sự cám dỗ lớn lao đến chừng nào. Nói cho cùng, có thể nó cũng đáng công. Dào, thôi thì ra sao thì ra. Với lại vào lúc sáng thế người ta cũng nên lạc quan.

- Nào, đưa đây. - Đấng Toàn năng nói và cầm lấy bản vẽ định mệnh.
Và ngài hạ bút ký.

Phan Mai dịch từ tiếng Pháp
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 350
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Fri Apr 06, 2018 12:05 am



Ngọn Tháp Eiffel

Dino Buzzati (Ý)


Cái thời tôi làm việc xây cất tháp Eiffel là một thời đẹp. Và tôi đã không cảm nhân được rằng lúc ấy tôi đang có hạnh phúc.

Công trình xây dựng tháp Eiffel là một điều vĩ đại và thật tuyệt vời. Giờ đây, các bạn không thể hiểu được điều ấy nữa. Tháp Eiffel từ nay không còn có gì giống như ngày xưa nữa. Bắt đầu là kích thước. Tháp như đã bị rút nhỏ lại. Tôi mà khi nào đi ngang qua phía dưới, tôi hay ngước mắt lên và nhìn. Nhưng tôi khó mà nhận ra được cái thế giới mà tôi đã sống những ngày đẹp nhất trong đời. Các du khách bước vào thang máy, leo lên tầng nhất, trèo lên tầng nhì, reo thảng thốt, cười, chụp ảnh, với những cuộn phim màu. Tội nghiệp... họ không biết, họ chẳng có thể bao giờ biết được.

Ngày nay người ta đọc trong các sách hướng dẫn du lịch rằng tháp Eiffel cao ba trăm thước, cộng thêm vào ngọn ăng-ten viễn thông hai mươi thước. Đó cũng là điều mà các báo thời đó đăng tải, trước khi công trình xây cất bắt đầu. Và ba trăm thước cũng đã là một sự điên rồ đối với công chúng.

Xì, ba trăm thước. Tôi lúc đó đang làm tại công trường Rungis, gần Neuilly. Tôi là một công nhân cơ khí giỏi. Một buổi chiều, trên đường về nhà, một người đàn ông đội mũ cao thành, lối bốn mươi tuổi chận tôi lại.
- Có phải ông là André Lejeune không?
- Vâng, chính tôi, thế còn ông là ai?
- Tôi là kỹ sư Gustave Eiffel và tôi muốn đề nghị với ông một chuyện. Nhưng trước tiên, tôi cần phải cho ông xem cái này. Xe tôi đậu đây này.

Tôi trèo lên xe của viên kỹ sư, ông ta đưa tôi tới một nhà kho rộng lớn nằm trên một bãi đất trống ở vòng đai thành phố. Ở đấy có khoảng ba mươi người trẻ tuổi đang cặm cụi im lặng ngồi làm việc trước những bàn vẽ to lớn và không buồn ngẩng mặt lên ném một cái nhìn về phía chúng tôi.

Viên kỹ sư dẫn tôi đến cuối phòng. Nơi đó, một tấm bảng cao hai thước được kê sát tường và trên bảng có vẽ hình một cái tháp.

- Tôi xây dựng cho Paris, cho nước Pháp, cho cả thế giới, cái tháp mà ông thấy đó. Bằng sắt. Đó sẽ là ngọn tháp cao nhất trần gian.
- Cao bao nhiêu? - Tôi hỏi.
- Đồ án chính thức dự trù một chiều cao ba trăm thước. Nhưng đấy là con số mà tôi đã thỏa thuận với chính quyền, để khỏi làm họ kinh hoảng. Thật sự ra sẽ cao hơn rất nhiều.
- Bốn trăm à?
- Cậu trẻ ơi, cứ tin tôi đi, hiện tại tôi không thể nói gì cho cậu. Chúng ta đừng vội hăng tiết lắm. Nhưng đúng là một công trình tuyệt diệu và một sự vinh hạnh dù chỉ được tham gia. Tôi đích thân đến tìm ông vì nghe nói ông là một thợ máy tuyệt hảo. Lương tháng ông bao nhiêu tại Runtiron?
Tôi cho ông ta biết số lương của tôi.
- Nếu anh đến làm việc cho tôi, viên kỹ sư đột ngột thay đổi lối xưng hô thân mật, anh sẽ lãnh gấp ba lần nhiều hơn.
Tôi nhận lời.

Nhưng viên kỹ sư hạ giọng nói thêm:
- Tôi quên mất một chi tiết, anh bạn André thân ạ. Tôi rất muốn anh cộng tác với chúng tôi, nhưng trước tiên anh phải hứa với tôi điều này.
- Tôi hy vọng rằng đó không phải là một điều đụng chạm đến danh dự, tôi nói mò, trong lòng hơi chao động bởi vẻ bí ẩn của ông ta.
- Giữ bí mật, ông ta nói.
- Bí mật gì?
- Anh có thể hứa danh dự với tôi rằng anh sẽ không nói với ai, ngay cả những người thân của anh, về việc làm của chúng ta? Không kể với bất cứ một ai về những gì anh sẽ làm và anh sẽ làm như thế nào công việc ấy? Không tiết lộ những con số, những kích thước, những dữ kiện? Hãy suy nghĩ kỹ càng, hãy suy nghĩ về điều này trước khi ký kết nơi đây. Bởi vì một ngày nào đó có thể sự bí mật này sẽ đè nặng trên vai anh.
Ông ta đưa tôi một mẫu đơn in sẵn, với tờ giao kèo việc làm mà trong đó có ghi điều cam kết giữ bí mật. Tôi hạ bút ký.

Công trường bao gồm cả những hàng trăm công nhân, có thể lên đến vài nghìn người. Chẳng những tôi không bao giờ quen biết hết tất cả mà tôi lại càng không thấy mặt tất cả mọi người vì chúng tôi làm việc theo từng ê-kíp, không tiếp nối nhau và trọn ba ngày đêm liền.

Sau khi nền móng đã được xây, chúng tôi, những tay thợ cơ khí bắt đầu ráp dựng những trụ sắt. Giữa chúng tôi, ngay từ đầu, ít có lời trao đổi, có lẽ vì lời thề nguyền. Tuy nhiên, với những gì tai nghe lượm lặt được, tôi hiểu ra rằng các bạn thợ thuyền của tôi đã nhận công việc làm này chỉ vì số tiền lương đặc biệt. Nói thật ra, không một ai tin rằng cái tháp sẽ được xây xong. Mọi người đều nghĩ rằng đây là một chuyện điên rồ, trên sức người.

Thế nhưng, sau khi bốn chiếc chân khổng lồ bằng sắt được cắm chặt trong đất, thì cái sườn sắt vươn cao lên thấy rõ. Phía bên kia của khu đất được rào kín, chung quanh công trường rộng lớn, những đám đông tụ tập ngày đêm, để nhìn ngắm chúng tôi đang thi đua trên cao, trông như những con côn trùng bé tí đong đưa trên mạng nhện.

Các vòm hình vòng cung nơi bệ đã được hàn chặt, bốn cột sườn gần như nhô thẳng lên và sau đó vút lên không trung để rồi nhập lại thành một trụ càng lúc càng mảnh mai khi càng vươn lên cao. Vào tháng thứ tám, chúng tôi đã lên đến độ cao 100 và tất cả công nhân viên được đãi một chầu tiệc trong một quán ăn bên bờ sông Seine.

Tôi không còn nghe thấy những lời than van tuyệt vọng nữa. Ngược lại, một niềm hứng khởi kỳ lạ xâm chiếm lấy những người thợ, những ông xếp ê-kíp, những chuyên viên kỹ thuật, những viên kỹ sư, tựa như chúng tôi đang sắp đứng trước một biến cố hi hữu. Một buổi sáng, vào những ngày đầu tháng mười, chúng tôi bị chìm đắm trong màn sương mù.
Chúng tôi cứ ngỡ rằng một lớp mây thấp đang đọng trên nền trời Paris, nhưng không phải thế. Hầu hết những nơi chung quanh không khí vẫn trong lành.
- Ê! Nhìn tí xíu cái ống kia kìa.

Claude Gallumet nói với tôi. Anh ta là một trong những tên thợ nhỏ con nhất và tháo vát nhất trong nhóm của tôi. Anh đã trở thành bạn thân của tôi. Từ một cái ống to bằng nhựa gắn vào cái sườn sắt, một luồng khói trắng phun ra. Có tất cả bốn ống, mỗi ống ở một góc tháp. Từ đó tuôn ra những cụm khói dày dặc dần dần tụ lại thành một đám mây lơ lửng, không lên không xuống, và dưới cánh dù bông to ấy, bọn chúng tôi tiếp tục làm việc. Mà tại sao thế? Vì sự bí mật đó ư?

Chúng tôi được các nhà thầu xây cất khoản đãi một chầu tiệc khác khi chúng tôi đạt đến độ cao 200, và ngay cả báo chí cũng nói đến. Nhưng chung quanh công trường không còn đám đông đứng xem nữa, cái mũ sương mù kỳ cục ấy hoàn toàn che giấu chúng tôi khỏi tầm mắt nhìn của họ. Và báo chí khen ngợi cái mẹo ấy: sự cô đọng của hơi nước – họ giải thích như thế - khiến các thợ xây cất những tòa kiến trúc cao ngất trong không gian không chú ý đến cái vực thẳm phía dưới họ; và điều đó giúp họ tránh được sự chóng mặt. Bậy thật: trước hết bởi vì chúng tôi hoàn toàn đã quen với cái trống không; và ngay cả khi bị chóng mặt, chúng tôi sẽ không gặp tai họa gì vì mỗi người chúng tôi đều mang một sợi dây nịt da chắc nịch được nối dần vào một sợi dây cột vào những thanh sườn sắt xung quanh.

Hai trăm năm mươi, hai trăm tám mươi, ba trăm… hai năm đã trôi qua. Chúng tôi đến giai đoạn cuối của cuộc phiêu lưu chăng? Một buổi chiều chúng tôi được triệu tập dưới cái vòm lớn hình chữ thập dưới chân tháp và ông kỹ sư Eiffel nói chuyện với chúng tôi. Sự ký kết của chúng tôi – ông ta lên tiếng – đã đến ngày mãn hạn, chúng tôi đã chứng tỏ sự bền chí, sự gan dạ, sự can đảm của mình và hãng sẽ cho chúng tôi một khoản tiền thưởng đặc biệt. Ai muốn nghỉ việc thì cứ đi. Nhưng ông ta, kỹ sư Eiffel, hy vọng rằng sẽ có những người tự nguyện sẵn sàng tiếp tục. Tiếp tục việc gì? Ông kỹ sư không thể giải thích cho chúng tôi được, chỉ xin chúng tôi hãy tin tưởng nơi ông ta, điều đó rất đáng làm.

Cũng như nhiều người khác, tôi ở lại. Và thế là trở thành một sự thông đồng điên rồ giữa chúng tôi mà không một người ngoại cuộc nào nghi ngờ gì cả bởi lẽ mỗi người trong chúng tôi hơn bao giờ hết giữ sự trung thành đối với việc bí mật kia.

Và chính thế mà vào độ cao 300, thay vì bắt đấu thiết lập chiếc sườn cho đỉnh úp trên cùng, chúng tôi lại dựng thêm những cột trụ mới bằng thép chồng chất lên nhau hướng về vòm trời cao hun hút. Thỏi chồng thỏi, sắt chồng sắt, kèo chồng kèo, và những đinh ốc và những nhát búa bổ, vừng mây vang rền âm thanh như một thùng đàn. Riêng chúng tôi, chúng tôi ở tận bảy từng mây.

Cho đến lúc mà, cứ mải miết trèo lên cao, chúng tôi trồi ra khỏi vùng mây nằm tụt lại phía bên dưới chúng tôi, và người dân Paris vẫn tiếp tục không nhìn thấy chúng tôi vì cái tấm chắn bằng hơi nước kia, nhưng thật sự chúng tôi liệng trên không trung tinh khiết và trong sáng của những đỉnh cao. Và vào những buổi sáng có gió chúng tôi trông thấy tận xa xa dãy núi Alpes phủ tuyết.

Từ nay chúng tôi ở trên một độ thật cao mà sự di chuyển lên và xuống của những tay thợ chiếm hơn một nửa giờ làm việc. Vào thời đó chưa có thang máy. Từng ngày một thời gian làm việc hữu hiệu càng vơi dần đi. Đã sắp đến lúc mà, khi vừa lên đến đỉnh, chúng tôi lại phải chuẩn bị đi xuống. Và cái tháp ngừng cao thêm nữa, dù chỉ một thước thôi.

Thế là được đưa ra quyết định dựng trên cao, cho chúng tôi, giữa những giàn sắt, những túp lều gỗ, như những tổ chim, mà người ta sẽ không nhìn thấy từ thành phố bởi lẽ những căn nhà này sẽ được che bởi lớp mây mù nhân tạo. Chúng tôi ngủ trên đó, ăn trên đó, và khi chiều xuống chúng tôi chơi bài nếu không buồn cất tiếng ca vang những bài xướng lừng danh về các ảo tưởng và thắng lợi. Chúng tôi thay phiên nhau xuống phố và chỉ vào những ngày lễ lộc.

Và thế rồi từ đó chúng tôi bắt đầu nghi ngờ sự thật tuyệt vời này và hiểu dần dần lý do của sự bí mật. Chúng tôi không còn có cảm tưởng rằng mình là những người thợ máy nữa, mà chính thị là những người tiên phong, những nhà thám hiểm, chúng tôi là những vị anh hùng, những bậc thánh. Dần dần chúng tôi ý thức ra rằng công trình xây dựng tháp Eiffel sẽ vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt, giờ đây chúng tôi mới tự giải thích được vì sao ông kỹ sư đã đòi hỏi cái bệ quá khổ như thế và bốn cái chân sắt khổng lồ ấy hoàn toàn quá mức. Việc xây dựng sẽ không bao giờ ngưng và cho đến cuối thời tháp Eiffel sẽ tiếp tục vươn lên trời, vượt qua những tầng mây, những bão bùng, những chốp đỉnh của Hi Mã Lạp Sơn. Ngày nào mà Chúa còn cho chúng tôi sức lực thì chúng tôi vẫn còn tiếp tục vặn xiết đinh ốc ráp dính các trụ thép vào nhau, càng lúc càng cao thêm lên, và sau chúng tôi các con cháu chúng tôi sẽ tiếp nối công việc, và không một ai trong cái thành phố Paris bẹp dí này sẽ biết một điều gì cả, cái thế giới đáng thương này sẽ chẳng ngờ vực gì cả.

Cố nhiên, phía dưới, không sớm thì muộn họ sẽ mất kiên nhẫn, sẽ có những sự phản đối và những cuộc chất vấn tại Nghị Viện, vì lý do gì mà chúng nó vẫn chưa hoàn tất xong cái tháp vô tích sự ấy? Ba trăm thước theo dự tính đã đạt xong từ đây, thế thì còn chờ gì nữa đề mà không xây đĩnh tháp? Nhưng chúng tôi sẽ tìm ra cớ, chắc chắn là chúng tôi sẽ cài được trước người của chúng tôi tại Nghị Viện hoặc trong các Bộ, chúng tôi sẽ thành công trong kế hoạch làm cho sự việc bị đình trệ lại, người ta sẽ đành chịu, và riêng bọn chúng tôi sẽ mãi mãi lên cao hơn nữa trên trời, một chốn lưu đày tuyệt vời.

Bên dưới, dưới vùng mây trắng, một loạt súng nổ rền vang. Chúng tôi xuống một đoạn đường khá dài, chúng tôi đi xuyên qua đám mây, đến chỗ tận cùng thấp nhất của lớp sa mù, chúng tôi nhoài người ra nhìn về phía công trường qua ống viễn kính, những lực lượng cảnh sát, những đội hiến binh, những đoàn vệ binh cộng hòa đang tiến tới. Ở đấy có nào các đại đội, các tiểu đoàn, các đội quân, quỷ tha ma bắt chúng nó đi cho rồi!

Họ đưa đến chúng tôi một sứ giả của Nghị Viện: hãy hàng đầu và đi xuống ngay. Ồ bọn chó đẻ! Quyết định tối hậu trong vòng sáu giờ, sau đó, họ sẽ nổ sùng với những nòng súng trường, súng liên thanh, đại bác hạng nhẹ, cái đó cũng khá tốt cho bọn mi đấy, đồ con hoang.

Một tên phản đồ bẩn thỉu đã phản bội chúng tôi. Người con trai của ông kỹ sư Eiffel, bởi lẽ ông cụ đã qua đời và đã được chôn cất từ lâu, mặt mày xanh như một tàu lá chuối. Làm sao chúng ta có thể chống đỡ được đây? Nghĩ đến gia đình họ hàng thân thương, chúng tôi đành quy hàng.

Họ tháo gỡ bài thơ mà chúng tôi đã nâng cao lên tận mây xanh, họ chặt đứt mũi tên ở ba trăm thước cao, tại đó họ cắm ngay trước mắt chúng tôi cái thứ mũ úp dị hình thật sự tồi tệ mà bạn còn trông thấy cho đến ngày nay.

Vừng mây che giấu chúng tôi trước kia không còn nữa, họ còn kiện cáo lên tòa đại hình bên sông Seine, vì cái đám mây ấy. Cái tháp bị thui chột được quét trọn lên một lớp sơn bóng màu xám, những lá cờ dài được treo lòng thòng phất phơ trong nắng, hôm nay là ngày lễ khai trương.

Vị Tổng Thống đến nơi, trang phục trong chiếc áo vét đuôi dài và chiếc mũ cao thành, trong cỗ xe hoàng cung mui gập được kéo bởi bốn con ngựa. Như những lưỡi lê, các hồi kèn lệnh của đội kèn đồng bay vút trong ánh sáng. Các khán đài danh dự tươi sáng lộng lẫy với các quan khách phu nhân y trang cầu kỳ sang trọng. Vị Tổng Thống duyệt binh hàng ngũ phân đội thiết giáp. Những người bán huy hiệu và các phù hiệu mũ đi qua lại trong đám đông. Nắng, những nụ cười, sự thoải mái, sự trang trọng. Từ phía bên kia vòng rào cản, lạc lõng trong đám đông người cùng khổ, bọn chúng tôi, những người thợ già nua mệt mỏi của cái tháp, chúng tôi lặng nhìn nhau, và những dòng nước mắt chảy xuống hàm râu bạc xám của chúng tôi. Chao ôi! tuổi thanh xuân …

(Antony, dịch vào những ngày đầu hạ 2006.)

https://www.youtube.com/watch?v=ho40kj4bdgI
Tháp Eiffel - Biểu tượng của nước Pháp
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 393
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Sun May 06, 2018 10:14 pm



THỜI HẠN

Truyện ngắn Dino Buzzati (Ý)


Với nụ cười dễ mến trên môi, ông bác sĩ ra hiệu cho vợ bệnh nhân rồi tiến ra phía cửa. Người đàn bà hiểu ý.
         
Ra đến hành lang, ông nghiêm mặt và nói bằng giọng thông cảm:
"Thưa bà, đây thực là một bổn phận không thể thoái thoát. Chao ôi, tôi phải trình bày sự thật với bà... ông nhà..."
"Nguy lắm sao?" - Bà vợ hỏi.
"Thưa bà " - Ông ta nói: "Rất tiếc là... Tình trạng đã đến lúc... Cần phải nhìn thẳng vào sự việc..."
"Chúa ơi, bộ bác sĩ muốn nói là ..."
"Không phải đâu, chưa cần phải cuống lên như thế... nhưng có thể nói là... có thể nói là trong vòng ba tháng. Phải, chừng ba tháng nữa..."
"Không còn cách gì sao?"
"Thưa bà, bà cũng biết là không có bất kỳ một giới hạn nào đối với Chúa; nhưng, với những gì mà nền khoa học nghèo nàn của chúng ta cho phép đánh giá thì... Tôi xin nhắc lại tối đa là ba tháng. Phải, ba tháng."       
Trái tim của người đàn bà như thắt lại. Bà gập người quằn quại. Bà đưa hai tay lên che mặt và khóc rống lên "Chúa ơi, Chúa ơi! Tội nghiệp anh quá, Giulio ơi!"
        
Khi vị khoa trưởng đứng bên giường ra dấu mời vợ người bệnh bước ra ngoài, bà liền bước theo.
         
Vừa ra khỏi phòng, người thầy thuốc nhẹ nhàng khép cửa lại. Sau đó ông cố lấy giọng đã chuẩn bị cho những tình huống đặc biệt:
"Thưa bà"- Ông ta nói " Ðối với một thầy thuốc thì đây là công việc khó khăn nhất. Tuy nhiên tôi buộc phải nói thật... chồng bà..."
"Nguy lắm hả bác sĩ?"
"Thưa bà" - Vị trưởng khoa hạ thấp giọng: "Ðó là  lý do mà tôi khó trình bày". Nhưng điều thiết yếu là bà hãy..."
"Vậy là... Vậy là... Hình như ông muốn nói..."
"Bà nên hiểu là không nên nói trước những gì sẽ xảy ra. Nhưng... tôi có thể giả sử là... một năm nữa... phải, ít nhất là một năm."
"Như vậy là không thể chữa được?"
"Thưa bà, không có điều gì là không thể, ngay cả phép lạ cũng có thể xảy ra. Nhưng đối với những gì mà khoa học cho phép tôi hiểu... thì có thể nói chừng một năm."      
Người đàn bà khốn khổ run lẩy bẩy, bà cúi đầu đưa hai tay phủ mặt và bật khóc, tuyệt vọng: "Tội nghiệp mình quá, mình ơi!"
               
Rồi có lúc tia nhìn của vị bác sĩ chuyên khoa và vợ của người bệnh giao nhau. Bà ngầm hiểu là ông đang mời mình ra ngoài.
         
Họ bỏ bệnh nhân ở lại. Ra đến hành lang, sau khi đóng cửa phòng, vị giáo sư cố lấy giọng nhỏ nhẹ và đầy thông cảm:
"Tôi thật khó xử khi phải thi hành một bổn phận hoàn toàn ngoài ý muốn. Thưa bà, tôi buộc lòng phải báo cho bà hay... chồng bà..."
"Nguy lắm sao, thưa bác sĩ"   
Người thầy thuốc khả kính trả lời:
"Thưa bà, nói dối trong những trường hợp như thế này là một hành động không đứng đắn. Bởi thế  tôi không thể dấu bà là..."
"Thưa bác sĩ, xin bác sĩ cứ nói tất cả sự thật."
"Xin bà nhớ là không nên đặt cái cày phía trước con trâu. Chưa phải xảy ra liền đâu... Tôi cũng không thể nào nói một cách chính xác được... nhưng ít nhất cũng được ba năm nữa"
"Như vậy là không còn hy vọng?"
"Tôi thật có lỗi nếu cố tạo cho bà những ảo tưởng vô ích... tiếc là tình trạng đã rõ ràng quá rồi... chỉ trong vòng ba năm."        
Người đàn bà bất hạnh không kiềm được nữa. Bà quỵ xuống, hét to và nước mắt tuôn trào xuống má: "Ôi, anh ơi!"
       
Trong phòng người bệnh yên lặng như tờ nhưng dường như nhờ thần giao cách cảm mà bà vợ của bệnh nhân biết được là vị bác sĩ lừng danh muốn bước ra ngoài để thưa chuyện với bà.
           
Họ cùng ra ngoài hành lang và khi chắc rằng bệnh nhân không thể nghe được, vị thầy thuốc cúi xuống áp sát tai người vợ và nói vừa đủ nghe:
"Thưa bà, đây là phút khó khăn nhất của nghề y... Nhưng tôi không thể nào làm khác hơn là báo cho bà ... chồng bà..."
“Không còn cách gì nữa?"
"Thưa bà", ông ta nói: "Tôi sẽ không thành thật nếu cố dùng lời lẽ quanh co với dụng ý..."
"Khổ chưa. Thế mà tôi cứ hy vọng..."
"Không, thưa bà. Tôi không muốn giấu bà bất cứ điều gì, nhưng tôi cũng chẳng muốn thấy bà đớn đau thảm thiết khi hãy còn quá sớm. Ðúng là tôi đã thấy ngày định mệnh sẽ đến gần nhưng không thể đến trước hai mươi năm."
"Ðây là một bản án không có khoan hồng?"
"Cũng có thể là như vậy. Tôi không thể che giấu sự thật. Nhiều lắm là hai mươi năm. Tôi không thể bảo đảm hơn thế đâu."       
Người đàn bà rụng rời. Ðể khỏi té, bà phải chống tay vào tường, rồi nghẹn ngào: "Không, không thể nào như thế. Tội nghiệp anh quá Giulio ơi!"

Ông bác sĩ đằng hắng ho rồi nhìn người đàn bà đang đứng trước mặt mình phía bên kia giường bệnh, ngầm ý mời bà bước ra ngoài.
           
ừa ra đến bên ngoài, bà ta nắm lấy tay vị thầy thuốc và hỏi bằng giọng lo âu: "Thế nào, thưa giáo sư?"
Vị bác sĩ trả lời bằng giọng như đang tuyên bố lời phán quyết:
"Thưa bà, cho phép tôi được nói thật. Chồng bà..."
"Chúng ta đành  bó tay cam chịu sao?"
Người thầy thuốc hơi lúng túng:
"Tôi xin hứa danh dự là nếu có bất kỳ khả năng dù mong manh nào... Nhưng thế này thì...."
"Chúa ơi, khủng khiếp quá. Chúa ơi"
"Tôi thông cảm với bà. Xin cho phép tôi được chia sẻ nỗi đau này nhưng đây không phải là bệnh đột quỵ. Tôi nghĩ là thời gian để nó  gây ra sự bất hạnh cũng phải rất dài... ít nhất là  năm mươi năm."
"Và sẽ không có cách nào tránh khỏi?"
"Thưa bà không. Tôi xin nói với tất cả tấm lòng, bà hãy tin lời tôi. Có thể có một xê xích nào đó, nhưng không thể nào nhiều hơn năm mươi năm.”
             
Sau đó là sự yên lặng. Rồi bỗng nhiên người đàn bà khóc thét, tưởng như có cục than hồng đang đốt cháy tâm can: "Hu...u Hu...u! Không thể như thế được. Tội nghiệp chồng tôi. Tội nghiệp mình quá, mình ơi!"    
Nhưng bất thình lình bà ta điềm tỉnh lại. Bà nhìn chòng chọc vào mắt người thầy thuốc rồi nắm chặt cổ tay ông:
"Giáo sư ơi, thế thì... Tôi vừa nghe ông nói một điều kinh khủng. Nhưng tôi nghĩ sau năm mươi năm, nửa thế kỷ, sau năm mươi năm thì tôi, ông cũng thế... Như vậy không phải là một bản án cho tất cả hay sao?"
         
"Thưa bà, đúng vậy. Sau năm mươi năm tất cả chúng ta  đều sẽ được vùi sâu dưới ba tấc đất, hay có thể là thế. Nhưng có một điều khác biệt đã cứu vớt chúng ta nhưng nó lại là bản án cho chồng bà. Ðối với chúng ta, ít ra cũng chưa có gì được minh định. Chúng ta có thể sống thêm nữa, có lẽ bằng tất cả những niềm vui ngu xuẩn, như khi chúng ta mười, mười hai tuổi. Chúng ta cũng có thể chết sau một giờ, sau mười ngày, sau một tháng... Nhưng điều đó không quan trọng. Bởi vì đó là một chuyện khác. Nhưng với chồng bà thì không. Ðối với ông ta thì bản án đã được tuyên xử. Sự chết, tự nó có lẽ cũng chưa phải là một điều kinh khủng. Trước sau gì chúng ta cũng đều chết cả. Nhưng miễn là chúng ta đừng bao giờ biết nó, dù sau một thế kỷ, hai thế kỷ, cái thời gian chính xác mà nó sẽ xảy ra."

(Bản dịch của Trương Văn Dân)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 350
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Tue May 15, 2018 4:20 pm



Nô Lệ
Truyện ngắn Dino Buzzati


Vô tình, do một sự tình cờ ngẫu nhiên, khi mở cửa nhà với chiếc chìa khóa của mình, Luigi đã không gây ra một tiếng động nào.
Ông ta nhân cơ hội đó, với sự vui thích làm một điều bất ngờ, rón rén đi nhẹ vào nhà.
Chỉ vừa mới vào trong, ông đã đoán trước là có Clara ở nhà. Về điều đó, chưa bao giờ ông ta lầm. Ta dư hiểu thế nào sự hiện diện của một người đàn bà làm thay đổi bầu không khí chung quanh. Ông cảm thấy một nguồn an ủi từ đó. Ông yêu nàng đến độ mà mỗi lần đi đâu về, mặc dù thật là phi lý, ông lo sợ rằng nàng đã bỏ đi vĩnh viễn trong thời gian ấy.

Ông đi đến cuối phòng ngoài mà không làm sàn nhà kêu kẽo kẹt, tiếp tục với ít rủi ro hơn trên nền gạch bông của hành lang. Từ từ ông nghểnh cổ dò xét nhà bếp.
À! Clara đang ở đấy. Ông nhìn thấy chiếc lưng nàng, cách xa ông không đầy hai thước. Nàng đang đứng và, không một chút nghi ngờ sự hiện diện của Luigi, bận bịu sửa soạn gì đó trên bàn. Chỉ cần nhìn sau gáy nàng, ông biết nàng đang mỉm cười. Thật là một con người đáng yêu và tuyệt vời biết mấy! Hẳn là nàng đang soạn một trong những món ăn ông hằng ưa thích và nàng đang sung sướng thưởng thức trước sự hài lòng của ông.

Đột ngột, nàng nhích sang một bên, bây giờ nàng nghiêng người khoảng ba phần tư về phía Luigi, ông nhìn thấy đường cong rắn chắc của gò má nàng, những ngọn lông mi, chiếc đầu mũi biểu lộ vẻ thật cao cả và xấc xược, nét phác của đôi môi lúc ấy đang vểnh lên vì một nụ cười (hay vì sự cố gắng chăm chú?).
Rời gương mặt dấu yêu kia cái nhìn của ông lướt xuống đôi bàn tay nay đã lộ ra. Luigi sau cùng nhìn thấy được Clara đang làm gì.

Trên một chiếc khay có lót một tấm khăn thêu. một tá loại bánh nhỏ xếp lớp với nửa quả mứt anh đào nằm ngay giữa mặt bánh; thật đúng là thứ bánh mà ông nhấm nháp đầy thú vị; những chiếc bánh xem chừng như đã hoàn toàn xong. Thế nhưng Clara vẫn tiếp tục sờ nắn chúng như thể mang lại cho chúng nét chấm phá cuối cùng.
Nhưng quả thật là một công việc lạ lùng! Với hai ngón tay trái Clara tách những quả mứt anh đào, và đúng vào chỗ ấy, với một loại quả bóp con hay chiếc lọ con mà nàng cầm trong bàn tay phải, nàng cho rơi xuống - hình như là thế - một nhúm bột trắng. Sau đó nàng đặt quả anh đào về chỗ cũ vừa nhấn chặt lên mặt bánh.

Quả thực tình Clara yêu ông thật! Có bao giờ mà một người đàn bà nào khác đã dành cho ông, một gã đàn ông đã già nua với diện mạo nói đúng ra là xấu xí, nhiều ân cần yêu thương thế? Và thật là một thiếu nữ tuyệt vời, một mẫu người tử tế và hay ho! Hẳn tất cả mọi người đều ganh tị ông.
Ngẫm nghĩ về sự may mắn gần như khó tin của mình, Luigi định lên tiếng, khi ông chợt thấy kinh ngạc về sự chăm chú đặc biệt của Clara mà trong đó - chỉ lúc này ông mới nhận ra - có một cái gì đó lén lút, tựa như một người đang làm một điều bị cấm đoán. Và thình lình - cú sét vào một sáng nắng đẹp - một mối nghi hoặc khủng khiếp xâm chiếm lấy ông: và nếu bất đồ chất bột trong quả bóp nhỏ kia là thuốc độc?

Cùng lúc đó, do một sự kết hợp những ý nghĩ chớp nhoáng, một loạt sự kiện vụn vặt mà ông không hề để tâm đến hiện về trong trí nhớ ông; ngay lúc này, khi chấp nối chúng lại kề nhau, chúng mang vẻ đáng ngại. Một số cử chỉ lạnh lùng của Clara, một số hành động bất mãn, một vài ánh mắt khó hiểu, một vài sự nằn nì lạ thường để ông ăn nhiều hơn, để ông dùng lại thêm món này món nọ.
Với một tâm trạng phẫn nộ đang bộc phát lên, Luigi tìm cách xua đuổi ý tưởng quái gở ấy. Làm thế nào mà lại tưởng tượng ra một điều phi lý như thế? Nhưng ý tưởng đó lại vội trở về ngay trong một sự hăm hở càng ác liệt hơn. Và thế rồi, bất chợt, những mối tương quan giữa ông và Clara hiện ra dưới một khía cạnh mới, mà ông chưa hề cân nhắc đến. Có thể nào một người đàn bà như Clara lại yêu ông thật tình chăng? Nguyên do nào, nếu không phải là quyền lợi, đã giữ nàng lại bên ông? Các bằng chứng cụ thể về tình thương nàng dành cho ông là gì? Những âu yếm vuốt ve, những nụ cười mỉm, những chăm chút ẩm thực? Một người đàn bà đóng kịch rất là dễ dàng. Và trong trường hợp của nàng, sự chờ đợi sốt ruột thừa kế một gia tài kếch sù phải chăng đến từ bản năng?

Đúng ngay lúc đó, Luigi buông tiếng thở dài, nàng bất thình lình quay lại và trong khoảnh khắc của một giây, nhưng có thể còn ít hơn nữa, có thề không phải là thế, có thề đó chỉ là tác dụng của trí tưởng tượng bị kích động cao độ của ông, gương mặt yêu dấu kia biểu lộ nét kinh hoàng, nhưng tức khắc, với một sự nhanh chóng không tưởng được, gương mặt kia điềm tĩnh trở lại, hé nở lại một nụ cười.
- Trời! Anh làm em hết hồn! - Clara kêu lên. - Nhưng tại sao lại đùa giỡn như thế, cưng của em?
Ông ta:
- Em đang làm gì thế?
- Anh không thấy à? Mấy cái bánh của anh...
- Thế còn quả bóp con kia, là gì thế?
- Quả bóp con nào?

Clara xòe hai bàn tay ra cho thấy nàng không có gì trong tay cả, chiếc lọ đã biến đi nơi nào chả ai biết.
- Không, không, cái bột mà em đang rắc...
- Bột gì? Anh thấy bậy rồi sao, cưng ơi? Em đang để mấy trái mứt anh đào... Còn anh? Nói cho em nghe đi, bác sĩ đã nói gì với anh?
- Tặc! Anh có cảm tưởng ông ta chả hiểu gì cả... Ông ta nói về chứng viêm dạ dày... viêm túi mật... Vấn đề là ở chỗ các cơn đau của anh không khỏi... và càng ngày anh càng thấy yếu sức hơn.
- Ồ! Bọn đàn ông các anh, chỉ cần đau một chút thôi là đã xìu rồi... Nè, ráng lên tí xíu đi, hồi xưa anh cũng đã từng bị đau như vậy.
- Đúng, nhưng chưa bao giờ đau như lần này.
- Ồ! Cưng ơi, nếu là bịnh nặng, anh đã ăn không thấy ngon.

Ông quan sát nàng, ông lắng tai nghe nàng nói. Không. Nàng không thể nào đang nói dối, không thể nào nàng đang diễn kịch. Nhưng thế còn cái quả bóp con hay chiếc lọ con, ông đã trông thấy nó hẳn hòi, nó ở đâu mất rồi? Với sự nhanh nhẹn của một ảo thuật gia, Clara đã giấu được nó trong người chăng? Trên chiếc bàn trong bếp không có gì cả, trên những chiếc tủ khác cũng không có gì nốt, trên nền nhà cũng không, không cả trong thùng rác.

Bây giờ ông tự hỏi: và tại sao Clara có ý đầu độc mình? Để hưởng tài sản của mình ư? Tuy nhiên làm sao nàng biết được nàng là người thừa kế toàn bộ gia sản của mình? Chưa bao giờ mình hở môi thổ lộ điều này với nàng. Và tờ di chúc, nàng đâu có đọc nó.
Có chắc chắn là nàng đã không đọc nó chăng? Thêm một mối hoài nghi nữa. Luigi hấp tấp đi vào phòng làm việc, ông mở một ngăn kéo, từ đó ông lấy ra một chiếc hộp, từ cái hộp ông lôi ra một phong bì đã gấp lại với địa chỉ: Di Chúc.
Phong bì đã dược dán kín. Nhưng Luigi đưa nó đến gần chiếc đèn để trông rõ hơn. Lạ nhỉ, sát dưới ánh đèn người ta nhận thấy một vệt nhòe chảy dọc theo cái nắp bì thư: tựa như bức thư đã được mở ra bằng hơi nước và được dán lại với keo.
Một nỗi lo sợ úp chụp lấy ông. Sợ chết ư? Sợ bị thủ tiêu ư? Không tệ hơn thế nữa. Nỗi khiếp sợ mất Clara. Tại vì ông hiểu rằng nàng có ý định giết ông. Và tất nhiên ông phải phản kháng lại bằng cách này hay cách nọ. Lột mặt nạ nàng ư? Tố cáo nàng ư? Cho cảnh sát bắt giữ nàng ư? Cuộc hôn nhân của hai người sẽ đổ vỡ dù cách nào đi nữa. Nhưng không có nàng, không có Clara, làm thế nào Luigi có thể sống được?

Sự cần nói chuyện với nàng, được một lời giải thích trở nên mãnh liệt và cùng lúc ấy niềm hy vọng dai dẳng rằng ông đã lầm, rằng tất cả chỉ là một ý nghĩ ngông, rằng không có thứ thuốc độc đó (dù trong thâm tâm ông, ông biết rất rõ là có).
- Clara! - Ông gọi.
Tiếng nàng vọng từ gian bếp phụ:
- Nè, Luigi, ra đây, bàn dọn xong rồi.
- Anh ra đây. - Ông trả lời.

Ông sang phòng ăn và ngồi xuống ghế. Có món cháo loãng nấu với cà chua.
- Clara, ông nói.
- Có chuyện gì vậy? - Nàng hỏi với một nụ cười.
- Anh cần nói với em một điều.
- Anh làm gì mà bí mật vậy...
- Mới vừa lúc nãy, khi anh vào nhà, và trong lúc em đang làm bánh, và khi anh nhìn thấy em... tóm lại anh cần nói với em... một điều cần thiết tuyệt đối...

Nàng vẫn nhìn ông miệng mỉm cười: Nàng vô tội chăng? Hay đó là niềm sợ sệt? Hay là sự mỉa mai?
- Khi anh vào nhà, ông nói tiếp, anh nhìn thấy em trong lúc em đang làm việc và em cầm trong tay một thứ gì đó, một loại quả bóp nho nhỏ, và hình như với cái đó em để cái gì lên bánh.
- Anh bị lóa mắt rồi, nàng trả lời một cách thản nhiên.
- Anh mong như thế hơn.
- Tại sao vậy?
Nàng có một giọng nói thật chân thật đến độ ông tự hỏi rằng có phải ông đã nằm mơ. Nhưng cơn sốt đang hoành hành ông.
- Em nghe này, Clara, anh sẽ không cảm thấy an tâm nếu anh không nói tất cả với em... Khi anh thấy em làm cái việc đó...
- Nhưng anh cho biết việc gì mới được chứ? Anh nằm mơ sao?
- Đề anh nói xong... trong một giây... thật là nực cười, anh biết thế...

Trong lòng ông run sợ, trong khi giây phút khó tránh dần dần đến, có thể đây là lần cuối ông trò chuyện với Clara, lần cuối cùng ông nhìn thấy nàng, và ý nghĩ ấy lảm ông điên lên; và mặc dù thế ông không thể nào im được, không thể được.
... Trong một giây... một ý nghĩ phi lý... đừng nhìn anh như thế... anh thích nói thật lòng... anh chợt có ý nghi ngờ em...
- Em làm sao?... và nụ cười trở thành một tiếng cười lớn.
- Đáng cười lắm, anh biết... cái ý nghi ngờ, em nghĩ xem, là em muốn đầu độc anh...

Vừa nhìn trừng vào mắt ông, Clara tiếp tục cười nhưng không phải là một giọng cười vui, nó lạnh lẽo, đó là một lưỡi dao bằng thép sắc bén. Và rồi nàng nghiến răng; và giọng nói nàng chất chứa căm hờn.
- À! Thì ra vậy? Anh tin như vậy à?... Lòng tin của anh là như thế? Tình yêu của anh là như thế?... Tôi đã để ý anh từ lâu rồi... Đã vậy tôi còn làm bánh cho anh ăn... Và giờ đây anh lại nói với tôi là bánh có thuốc độc, hả?
Ông tỏ vẻ cuống cuồng:
- Em nghe anh, Clara, đừng giận, đừng...
- À! Bánh của tôi có thuốc độc? Anh sợ cho cái sức khỏe bé nhỏ của anh à, ông sợ đau phải không? Vậy anh biết tôi sẽ làm gì không? Tôi sẽ đổ bánh vô thùng rác.
Vừa đứng lên khỏi bàn ăn nàng mang chiếc khay bánh và đi về phía bếp vừa luôn miệng thét to hơn:
- Tôi sẽ đổ bánh vô thùng rác... Nhưng tôi sẽ không ở thêm một giây nào nữa trong cái nhà này. Tôi chán cái nhà này cũng đã từ lâu rồi. Tôi đi đây. Và tôi hy vọng rằng nhờ ơn Chúa tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại anh.

Kinh hoàng, Luigi nối gót nàng:
- Đừng, Clara, anh van em, đừng làm như thế, anh đùa mà, anh van em, đưa cho anh những chiếc bánh nhỏ của em.
- Không! - Nàng nói. - Bây giờ thì tôi không đưa cho anh nữa, cho dẫu anh có vì thế mà chết.
Để giữ nàng lại ông ôm lấy vòng eo nàng. Nàng đứng lại nét mặt trơ ì.
- Hãy tử tế với anh, đưa cho anh những chiếc bánh nhỏ đi.
Clara xoay người lại, nâng chiếc mâm cao lên. Ông xoè bàn tay ra.
- Tôi đã nói với anh là khôôông. Tôi đổ bánh vô thùng rác. Và tôi đi ngay, anh có hiểu chưa?
Ông vội quỳ gối xuống, ôm lấy chân nàng:
- Clara, anh van em… - Ông rên rỉ. - Em không thể bỏ đi được, em không thể, Clara, hãy tử tế với anh, đưa cho anh bánh.
- Xin lỗi đi! - Nàng nói vẻ đắc thắng, chiếc khay vẫn giơ cao.
- Vâng, Clara, tha lỗi cho anh.
- Nói: "Tha lỗi cho anh." ba lần.
- Tha lỗi cho anh, tha lỗi cho anh, tha lỗi cho anh.
- Tôi sẽ cho anh một cái. - Người đàn bà nói.
- Không, anh muốn tất cả.
- Tốt, ăn đi nhưng phải quỳ gối. - Và nàng hạ chiếc khay xuống.

Clara vẫn còn đây, Clara sẽ không bỏ đi. Bằng một sự khuây khỏa ti tiện của tâm hồn, Luigi nhón lấy một chiếc bánh con và cắn ngấu nghiến vào. Cái chết là một thiên đường, chính vì nó đến từ nàng.

Antony, 29.10.2006
Đức Lâm
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 350
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Fri May 25, 2018 7:36 pm

.

Đêm Yên Tĩnh
Truyện ngắn Dino Buzzati (Ý)


Nàng thốt lên một tiếng thở dài trong giấc ngủ. Ở đầu giường đằng kia chàng đang ngồi trên đi-văng đọc sách dưới ánh sáng của ngọn đèn ngủ được che bằng một chiếc chụp đèn hình nón. Chàng ngước mắt nhìn lên. Nàng khẽ rùng mình, lắc đầu như thể muốn rũ bỏ cái gì đó, mở mắt ra rồi nhìn chằm chằm vào chàng trai với một vẻ sững sờ như thể mới nhìn thấy chàng lần đầu. Sau đó nàng hơi mỉm cười.

- Có chuyện gì thế, em yêu?
- Không có chuyện gì, không biết tại sao em lại có một cảm giác lo âu sợ hãi.
- Em hơi mệt vì đi đường, chuyện ấy là bình thường, với lại người em hơi nóng, em đừng lo, sáng mai em sẽ thấy không sao cả.
Nàng im lặng vài giây, đôi mắt mở to vẫn nhìn chàng chằm chằm. Đối với họ là những người ở thành phố về đây, thì sự yên tĩnh của căn nhà quê cũ kỹ này là hoàn toàn quá sức tưởng tượng. Nó hoàn toàn là một khối im lìm khép kín có vẻ như đang chứa đựng bên trong một sự chờ đợi, như thể các bức tường, xà nhà, đồ đạc trong phòng, tất cả có vẻ như đang nín thở.

Sau đó nàng bình tĩnh hỏi:
- Anh Carlo, có cái gì ở ngoài vườn thế?
- Ngoài vườn ư?
- Carlo, em xin anh, vì đằng nào thì anh cũng đã đứng lên rồi, xin anh ngó ra ngoài một chút coi, bởi vì em có cảm giác như thể…
- Như thể có ai đó chăng? Em nghĩ gì lạ thế? Ai có thể ở ngoài vườn vào lúc này? Kẻ trộm ư? - Rồi chàng bật cười. - Bọn trộm có những việc khác cần làm hơn là lảng vảng quanh những căn nhà tồi tàn như thế này.
- Em xin anh, Carlo, anh cứ ngó qua một chút xem.
Chàng đứng lên, mở cửa kính rồi cửa chớp, nhìn ra ngoài và tỏ vẻ ngạc nhiên. Buổi chiều vừa có bão lớn, vậy mà giờ đây, trong một không khí trong lành đến khó tin, mặt trăng tròn trịa đang rọi ánh sáng vằng vặc xuống khu vườn bất động, hoang vắng và tĩnh lặng, bởi vì cả những con dế và những con ếch cũng đang ngủ bên trong cảnh im lìm.

Đó là một mảnh vườn rất đơn sơ, trên đó có một bãi cỏ phẳng phiu với một lối đi rải sỏi trắng chạy vòng quanh và chia ra thành nhiều lối đi nhỏ, và chỉ có xung quanh vườn là được trồng những luống hoa tươi. Nhưng nó chính là khu vườn tuổi thơ của chàng, một phần đau đớn trong cuộc đời của chàng, một biểu tượng của những nỗi niềm hạnh phúc mất mát, và trong những đêm trăng, nó luôn có vẻ như muốn nói chuyện với chàng bằng những lời bóng gió say sưa và không thể hiểu nổi. Ở phía Đông, trong cảnh sấp bóng tối tăm, hiện lên một hàng rào cây duyên xen lẫn những khoảng trống hình vòng cung, phía Nam có một đám cây táo nhỏ, phía Bắc có một lối bậc thang dẫn đến mảnh vườn rau cùng căn nhà kho thơ mộng chứa thóc lúa, phía Tây là căn nhà ở. Tất cả đang yên nghỉ trong cảnh gợi cảm và tuyệt vời mô tả thiên nhiên ngủ say dưới ánh trăng mà không ai có thể giải thích được. Mặc dù vậy, như mọi lần, quang cảnh đó gây cho chàng một nỗi vò xé sâu xa như đứng trước một vẻ đẹp ý vị mà tất nhiên chàng có thể thưởng ngoạn nhưng không bao giờ có thể chiếm hữu được nó.
- Carlo. - Ma ria vẫn nằm trên giường lo lắng cất tiếng gọi, vì nàng thấy chàng đứng nhìn bất động bên cửa sổ. - Có ai thế?
Chàng đóng cửa kính để mặc cửa chớp vẫn mở rồi quay trở vào.
- Không có ai cả, em yêu. Chỉ có ánh trăng vằng vặc. Chưa bao giờ anh thấy một sự yên tĩnh đến như vậy - Chàng cầm lấy sách rồi lại ngồi xuống đi-văng.

Lúc này là mười một giờ mười phút. Đúng lúc đó, ở đầu vườn phía Đông Nam, trong bóng tối của hàng cây duyên, một chiếc nắp hang ẩn trong đám cỏ từ từ hé mở để lộ ra lối vào của một chiếc hang sâu mất hút dưới lòng đất. Bỗng chốc có một hình hài thô đậm đen đùa chui ra khỏi hang rồi lao nhanh ra ngoài theo đường zích zắc.
Trên thân cây có một con châu chấu nhỏ đang nghỉ ngơi trong trạng thái no nê khoan khoái, chiếc bụng xanh của nó phập phồng theo nhịp thở. Những chiếc móng vuốt của một con nhện đất hung dữ cắm sâu vào ngực con châu chấu rồi cấu xé con vật. Cái thân thể bé nhỏ của con châu chấu giẫy giụa làm cho những chiếc chân sau dài ngoằng của nó rung lên, nhưng chỉ rung được một lần. Những chiếc gọng kìm khủng khiếp bắt đầu bứt gãy chiếc đầu của nó và bây giờ chúng sục sâu vào trong bụng. Từ những vết rách trào ra dòng dịch vị và kẻ sát nhân bắt đầu vục mồm vào uống một cách say sưa.
Vì quá say sưa với bữa chén, con nhện không kịp thời nhận ra được một con vật đen đúa khổng lồ đang tiến đến gần từ phía sau. Bốp? Vẫn nắm giữ con châu chấu trong chân, con nhện cùng với nạn nhân của nó mất hút vĩnh viễn vào trong họng của một con cóc.

Nhưng toàn bộ khu vườn vẫn chìm trong cảnh bình yên và thơ mộng linh thiêng.
Một mũi tiêm độc cắm sâu vào bắp chân mềm của một con sên đang di chuyển chậm chạp về phía vườn rau. Nó còn bò thêm được hai centimet nữa với đầu óc quay cuồng, để rồi nó nhận ra rằng cái chân không còn nghe theo nó nữa và rằng thế là nó đi đứt rồi. Mặc dù nó đang dần dần ngất lịm, nhưng nó vẫn cảm thấy hai hàm răng của con sâu đang cắn xé thịt da nó để khoét sâu cái thân thể béo mập và mềm mại đáng tự hào của nó.
Trong cơn hấp hối nhục nhã cuối cùng, nó vẫn còn kịp nhận ra, với một cảm giác thỏa mãn còn rớt lại, rằng cái con sâu vừa tấn công nó đã bị một con nhện khổng lồ bóp chết và xé xác trong nháy mắt.

Xa xa ở đằng kia đang diễn ra một thiên diễm tình thơ mộng. Với chiếc đèn nhấp nháy bật hết cỡ, một con đom đóm đực bay lượn xung quanh đốm sáng bất động của một nàng đom đóm vô cùng hấp dẫn đang nhàn rỗi đậu trên một chiếc lá. “Đồng ý hay không?” “Đồng ý hay không?” Nó tiến đến gần cô ả thử vuốt ve ả và được ả cho phép. Dục vọng ái tình đã làm cho nó quên mất rằng một bãi cỏ dưới ánh trăng có thể trở thành một địa ngục như thế nào. Đúng lúc nó đang ôm ấp cô ả đom đóm thì một con bọ da màu vàng lao tới xé tan nát bụng nó. Chiếc đèn nhỏ xíu của nó vẫn không ngừng nhấp nháy như đang hỏi “Đồng ý hay không”, trong khi tên kẻ cướp đã nuốt được nửa người của nó.
Trong khi ấy ở cách đó không quá nửa mét đang diễn ra một sự hỗn loạn dã man. Nhưng nó chỉ diễn ra trong giây lát. Một vật gì đó có kích thước khổng lồ đáp xuống nhẹ nhàng từ trên cao như một tia chớp. Con cóc ban nãy cảm thấy trên lưng mình có một sự quằn quại chết người, nó định ngoái lại nhìn. Nhưng nó đã bị nhấc bổng lên không trong móng vuốt của một con cú già.

Nhưng nếu anh ngắm nhìn khu vườn thì sẽ chẳng thấy gì cả. Toàn bộ khu vườn vẫn chìm trong cảnh thơ mộng và yên bình linh thiêng.
Cái buổi hội chợ của tử thần đó đã được bắt đầu từ chiều tối. Giờ đây nó đang diễn ra ở mức quyết liệt nhất. Và nó sẽ tiếp tục cho đến sớm mai. Khắp khu vườn chỗ nào cũng có cảnh tàn sát, giết chóc, hành hình. Những con dao mổ cắm vào não những chiếc móc phạt đứt chân, móc vảy và thọc sâu vào phủ tạng, những chiếc răng cắn xé, những chiếc ngòi tiêm nọc độc và chất gây mê, những sợi dây bắt trói, những chất dịch ăn mòn có khả năng làm hóa lỏng cả những kẻ nô lệ còn sống. Từ những cư dân bé nhỏ nhất làm tổ trong đám rêu phong, như nhũng con giun tí xíu, những con vật thân khớp…, đến những con sâu, con nhện, bọ da, đến những loài động vật nhiều chân, và cứ thế lên đến những loài động vật cấp cao hơn như thằn lằn, bọ cạp, cóc nhái, chuột chũi, chim cú, một đội quân đông đúc những kẻ sát nhân đang triển khai tàn sát, chém giết, hành hạ, mổ bụng, cắn xé nhau. Như thể trong một thành phố lớn đêm đêm có hàng vạn tên sát nhân khát máu và được vũ trang đến tận răng chui ra khỏi hang ổ lẻn vào nhà người ta mà cắt cổ người ta trong lúc người ta đang ngủ.

Bất chợt ở dưới vườn anh chàng ca sĩ dế mèn bỗng nín bặt vì bị một con chuột chũi phang một cú chết người vào đầu. Nằm cạnh bụi cây là chiếc đèn đã tắt của một con đom đóm bị một con bọ da cắn nát. Giọng hát của con ếch biến thành tiếng nấc nghẹn trong miệng một con rắn nước. Và con bướm nhỏ thì không còn có dịp được quay trở lại va đập vào cửa kính sáng đèn vì nó đang phải giẫy giụa trong dạ dày của con dơi. Nỗi khủng khiếp, kinh hoàng cùng với sự huỷ diệt, hấp hối và chết chóc dành cho hàng nghìn sinh mạng của Thượng đế chính là cái được coi là giấc ngủ đêm của một khu vườn rộng ba mươi trên hai mươi mét. Và sự việc như vậy cũng đang diễn ra trên những cánh đồng ở quanh đây, nó cũng diễn ra ở cả bên kia dãy núi đang phản chiếu lấp loáng ánh trăng với vẻ nhợt nhạt và huyền bí. Và trên khắp bề mặt trái đất chỗ nào cũng giống như vậy ngay khi đêm xuống: cảnh huỷ diệt triệt hạ, giết chóc. Và khi đêm tối tan đi rồi mặt trời xuất hiện, thì một sự phá phách đẫm máu khác lại bắt đầu, với những tên sát nhân khác, nhưng vẫn với một sự tàn bạo như nhau. Sự việc đã tồn tại như vậy kể từ khi thế giới hình thành và mãi mãi sẽ vẫn như vậy cho đến ngày tận thế.

Ma ria trằn trọc trên giường thốt ra những câu nói rời rạc vô nghĩa. Sau đó nàng lại mở đôi mắt to hoảng hốt:
- Anh Carlo, giá mà anh biết em đã mơ một giấc mơ khủng khiếp như thế nào, em mơ là ở ngoài kia có ai đó đang bị giết.
- Thôi nào, cố mà bình tâm lại đi, em yêu, anh cũng sẽ đi ngủ bây giờ đây.
- Carlo, xin anh đừng giận, nhưng em vẫn có cái cảm giác kỳ lạ ấy, rằng ở ngoài vườn đang xảy ra một điều gì đó.
- Liệu đầu óc em định nghĩ về cái gì vậy?
- Anh đừng từ chối em, anh Carlo ạ, vì quả thực là em rất muốn anh ngó ra ngoài một chút.

Chàng lắc đầu mỉm cười, đứng dậy mở cửa kính nhìn ra ngoài.
Thế giới đang yên nghỉ trong một sự tĩnh lặng vô hạn tràn ngập ánh trăng. Vẫn cái cảm giác mê hoặc ấy, vẫn một nỗi bất an bí hiểm ấy.
- Ngủ yên đi em, chẳng có ma nào cả, chưa bao giờ anh được chứng kiến một cảnh yên bình như thế này.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 393
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Mon Jun 25, 2018 8:38 pm



NHỮNG GÃ THỢ SĂN
Truyện Ngắn Dino Buzzati (Ý)


Roberto Saggini, quản trị viên một xưởng giấy nhỏ, 46 tuổi, tóc hoa râm, dừng xe trước tiệm thuốc lá vào lúc hai giờ khuya, không hiểu sao hãy còn mở cửa.
Ðợi một lát, anh ra ngay gã nói với cô gái ngồi bên cạnh. Ðó là một cô gái đẹp, dưới ánh sáng của ngọn đèn đường, đôi môi đỏ của cô hiện lên như một đoá hoa.
Trước cửa tiệm không còn chỗ nên gã phải đậu xe cách một quảng khá xa. Lúc ấy là một tối tháng năm, bầu không khí của mùa xuân ấm áp nhưng đường phố vắng tanh.

Gã vào tiệm để mua thuốc lá; Khi ra đến ngạch cửa thì chợt nghe từ xa vọng lại những tiếng gào quái đản.
Tiếng rú phát ra từ căn nhà phiá trước? Từ con hẻm nhỏ? Hay từ lớp nhựa trải đường đang phát sinh những hình thù ma quái? Hai, ba, năm, bảy bóng người đang tiến đến theo hình vòng cung để bao vây chiếc xe hơi. Ðánh đi! Ðánh chết thằng già!
Tiếng rú vang lên nhức óc, khi ngân dài, khi ngắt quãng như trống thúc quân. Trong giờ vắng lặng của đêm khuya nó đánh thức giấc ngủ của toàn khu phố, và mọi người đều rùng mình nấp kín trong chăn, phó mặc cho thượng đế số phận kẻ bất hạnh đang bị bọn du côn quần những đòn hội chợ.

Roberto đánh hơi thấy sự hiểm nguy. Bọn chúng đang nhắm vào anh. Ðó là thời điểm mà những người trên 40 tuổi phải suy đi tính lại nhiều lần trước khi liều lĩnh xuất hiện trên đường phố vào những giờ khuya khoắt. Ngoài 40 họ là những lão già. Và đối với người già, thế hệ trẻ vốn mang lòng khinh bỉ. Nỗi oán ghét âm thầm kích thích lòng căm giận của cháu với ông bà, của con với cha mẹ. Hơn thế, chúng còn lập ra những câu lạc bộ, những đoàn thể căm hận người già, xem họ như những kẻ trách nhiệm cho sự không hài lòng của chúng – Dù những buồn phiền, thất vọng hay bất mãn đó rất bình thường của tuổi trẻ dẫu họ sống ở bất cứ nơi đâu. Trong đêm tối các toán tiểu trừ được gởi đi, nhất là đến những vùng ngoại ô để săn đuổi những lão già. Nếu tóm được một người nào đó, chúng sẽ đánh cho tơi tả, lột truồng, quất bằng roi, vẩy sơn lên thân thể họ rồi sau đó cột vào thân cây hay trụ điện. Trong một vài trường hợp có kẻ đã quá tay và đi xa hơn thế. Rồi khi ánh bình minh vừa ló dạng, người ta kinh hoàng nhìn những xác chết đã biến hình trên đường phố.
Vấn đề của bọn trẻ! Những dằn vặt muôn đời của ngàn năm lịch sử, cam chịu từ đời cha đến đời con đã bắt đầu bùng nổ. Báo chí, truyền thanh, truyền hình và phim ảnh lại còn tham gia, ủng hộ. Bọn trẻ được ngợi khen, được ve vãn, được cổ động và khuyến khích để chiếm lĩnh quyền hành bằng bất cứ phương tiện nào. Thậm chí có cả những lão già, phần vì sợ phong trào đang lan rộng nên phụ hoạ theo để kiếm điểm, phần cũng muốn chứng tỏ rằng, dù đã 50, 60 tuổi nhưng tinh thần của họ hãy còn trẻ lắm, rằng họ hoàn toàn chia xẻ với những nguyện vọng và niềm đau của bọn trẻ. Ảo tưởng. Tất cả chỉ vô ích. Dù họ có nói thế này hay thế nọ, bọn trẻ vẫn chống đối, vẫn xem mình là chủ nhân của thế giới, vẫn cương quyết đòi lại những quyền hành cho đến nay còn nằm trong tay các lão già. Tuổi già là một tội, như các biểu ngữ giăng cao của họ.
Ðấy là mục đích cuả những cuộc thanh trừng ban đêm mà chính quyền luôn sợ hãi và sẵn sàng nhắm một con mắt. Ðáng kiếp họ, những lão già thối thây lẽ ra phải ở nhà, ai bảo đi ra đường khiêu khích bọn trẻ làm chi.
Những lão già sánh đôi với các cô gái trẻ thường được chiếu cố một cách đặc biệt. Lúc ấy trò vui của những tên bạo loạn đạt đến đỉnh cao nhất. Trường hợp thường xảy ra là người đàn ông bị cột lại, bị quất bằng roi và chứng kiến cô bạn gái hứng chịu mọi xúc phạm trên thân thể bởi những người đồng trang lứa.
Roberto Saggini đo lường sự nguy hiểm. Gã thầm tính: Mình sẽ không chạy kịp đến chiếc xe hơi. Nhưng mình có thể trốn vào tiệm thuốc lá. Những thằng khốn nạn ấy sẽ không dám vào theo. Còn cô ấy thì có đủ thời gian.
Silvia! Silvia! Cho nổ máy và chạy đi. Nhanh lên! May quá, cô ấy liền hiểu ý . Như một tia chớp cô chuyển sang bên tay lái, mở máy, cài số rồi lao nhanh về phiá trước với tiếng máy nổ rền vang.

Gã đàn ông thở một hơi dài nhẹ nhõm. Bây giờ gã phải lo cho mình. Gã quay người lại định tìm lối thoát trong tiệm thuốc lá. Nhưng ngay lúc ấy cửa tiệm vừa đóng ập lại. Mở cửa, mở cửa giùm đi! gã van lơn, nhưng bên trong không có ai đáp lại. Như mọi lần, khi những cuộc thanh trừng của bọn trẻ xảy ra, mọi người đều rúc vào trong vỏ ốc. Không ai muốn bị liên can.
Không thể mất một giây nào nữa. Dưới ánh sáng của ngọn đèn đường, bảy, tám tên đang chầm chậm tiến về phía gã, không vội, vì quá chắc sẽ tóm được con mồi.
Trong đám đó có một tên cao lớn, mặt tai tái, đầu cạo trọc, mặc chiếc áo thun đỏ có in chữ R màu trắng. Chết mẹ rồi, Saggini than lên như thế. Chữ R ấy báo chí đã nói liên tục từ mấy tháng nay. Ðó là dấu hiệu của Sergio Regora, tên chúa đảng hung dữ, mà người ta đồn rằng chính tay hắn đã hành tội hơn 50 lão già.
Cách duy nhất là chạy liều. Phía bên trái ở cuối đường có khu đất dùng làm khu giải trí. Làm thế nào đến được nơi đó bình yên rồi trong hỗn độn của lều trại mình sẽ trốn thoát dễ dàng.
Gã vụt chạy, nhanh như chớp – sức gã còn khoẻ lắm – nhưng đuôi mắt cũng vừa thấy từ bên phải một cô gái đang tiến đến chận ngang đường. Cô cũng mặc một chiếc áo thun đỏ có in hình chữ R màu trắng. Cô gái tuy hơi lùn nhưng khuôn mặt khá xinh, cái miệng rộng đang gào to:
Ðứng lại! Con heo già đứng lại! Bàn tay phải cô lăm lăm cầm chiếc roi ngựa bằng da. Cô gái định cầm roi quất vào mình gã. Nhưng gã đàn ông đang ngon trớn nên cô đã không thể ngăn được mà lại còn bị hất nhào xuống đất trước khi kịp trở tay.

Vòng vây được mở rộng, Saggini thu tất cả hơi sức lướt nhanh vào khu đất được chiếu sáng lờ mờ. Gặp chiếc hàng rào dựng tạm để phân ranh khu giải trí, gã phóng qua rồi chạy về nơi tối nhất. Nhưng bọn trẻ vẫn bám riết ở đằng sau.
Nó định trốn à, thằng chó chết, Sergio Regora gào lên, nhưng không cần hấp tấp vì tin chắc sẽ tóm được con mồi. Ðịnh chống lại chúng ông ư?
Một tên đàn em tiến đến gần: Thưa đại ca em cần trình với đại ca một việc. Bọn trẻ đang dừng lại ở ranh giới khu giải trí.
– Ðịnh nói bây giờ à?
– Dạ, hình như tên đó là ba em.
– Sao? Con heo già đó là cha mầy à?
– Dạ, hình như ổng!
– Càng tốt chứ sao !
– Dạ, nhưng…
– Cái gì đ
ó? Tao mong là mầy không có ý phá đám.
– Dạ đâu có.
- Nhưng em thấy sao…
– Mầy thương lão à?
– Úi chà, thương gì cái lão ngu ấy. Em đâu có ưa cái thói hách dịch của lão.
– Vậy thì sao?
– Dạ thưa đại ca, nhưng em thấy sao sao ấy.
– Mầy đúng là con sứa – Nhục ơi là nhục – Với cha tao thì tới giờ chưa xảy ra nhưng tao chắc sẽ vô cùng thích thú. Thôi, đi đi. Phải tóm cổ cho bằng được lão ấy…

Saggini ngồi thu hình trong bóng tối, hơi thở hổn hển sau cơn chạy vắt giò lên cổ. Gã nép mình dưới chân lều, có lẽ là của một đoàn xiếc nhỏ, cố tìm cách ẩn núp dưới những vạt che.
Cách bên cạnh chừng năm, sáu mét là một xe carovan có ánh đèn từ cửa sổ đang chiếu sáng. Không gian bị xé rách bỡi tiếng hú của bọn du côn.
Có tiếng động trong xe rồi một người đàn bà mập mạp chợt ló đầu ra khung cửa nhỏ, tò mò.
Bà ơi, bà ơi, Saggini khẽ kêu lên từ chỗ nấp không lấy gì chắc lắm.
Cái gì đó, giọng người đàn bà lãnh đạm.
Tôi van bà. Cho tôi vào đi. Tôi bị đuổi. Bọn trẻ định giết tôi.
Không được đâu! Chúng tôi không muốn bị phiền.
Tôi sẽ trả bà hai mươi nghìn lire [1]* nếu bà cho tôi vào.
Cái gì? Hai mươi nghìn lire *. Không được đâu. Chúng tôi là những người làm ăn lương thiện. Nói xong bà rút lui và đóng cửa.
Saggini nghe tiếng móc xích ở bên trong rồi ánh đèn cũng tắt ngấm .

Yên lặng. Không còn nghe tiếng nói và tiếng chân người. Băng đảng đã bỏ cuộc rồi sao? Một chiếc đồng hồ từ xa điểm lên báo hai giờ mười lăm phút. Một chiếc đồng hồ từ xa điểm lên báo hai giờ ba mươi phút. Một chiếc đồng hồ từ xa điểm lên báo hai giờ bốn mươi lăm phút.
Chú ý không gây tiếng động, Saggini chậm rãi đứng lên. Lúc này có lẽ mình trốn được.
Bất ngờ một tên khốn nạn nhào tới và vung cánh phải với cái gì trong tay không thấy rõ. Saggini trong chớp mắt vụt nhớ đến nhiều năm trước một người bạn đã từng căn dặn: Nếu có kẻ nào đó định tấn công, chỉ cần cho nó một cú vào cằm, vừa đánh vừa nhảy lên; như thế không phải chỉ có sức của cú đấm mà là toàn thân đánh nó.
Saggini thực hành ngay cú nhảy và nắm tay va phải một vật gì cứng ngắt, gây nên một âm thanh khô khốc.
Ái da, kẻ lãnh đòn hét to lên rồi ôm cằm rên rỉ. Khuôn mặt hắn nhăn lên vì đau đớn rồi ngã ngửa về đằng sau. Saggini chợt nhận ra con mình. Mầy hả Ettore? Rồi gã cuí xuống định chăm sóc nó.
Nhưng ba bốn bóng người chợt hiện ra trong bóng tối. Nó đây rồi, nó đây rồi, đánh chết thằng già!
Như một thằng điên, Saggini nhảy từ vùng tối này đến vùng tối khác, theo sau là hơi thở dồn dập của những kẻ săn người, càng lúc càng hung dữ và gần gũi sau lưng. Bất ngờ một thanh sắt quất trúng ngay mặt gã, đau kinh khủng. Gã chạy một cách tuyệt vọng, cố tìm một chổ núp ở xung quanh nhưng bọn trẻ đã dồn gã đến giới hạn của hàng rào. Khu giải trí không có thể mang lại cho gã sự cứu rỗi nào nữa.
Xa xa cách chừng vài trăm thước gã vừa thoáng thấy những bậc thang. Sức mạnh của tuyệt vọng đã làm gã vượt qua khoảng cách đó mà không hề bị đuổi theo. Sự nhặm lẹ đó làm cho bọn trẻ bị bất ngờ và chỉ đến phút cuối, khi gã đã chạy đến bìa một khu rừng nhỏ, báo động mới được đưa ra:
Phiá đó, phiá đó… Nó định trốn trong rừng. Ðánh chết thằng già!

Cuộc săn bắt lại tái diễn và gã biết mình thoát chết nếu kéo dài đến lúc bình minh. Nhưng còn thiếu bao nhiêu giờ nữa? Những chiếc đồng hồ đây đó điểm giờ, nhưng lòng bấn loạn gã không thể đếm được những tiếng gõ chuông. Gã cắm cúi lướt qua nhiều trũng thấp, leo những dốc cao, chạy băng qua con sông nhỏ... nhưng cứ mỗi khi quay đầu lại, ba bóng người vẫn ráo riết bám theo bén gót.
Khi sức đã gần tàn, gã cố leo qua một bức tường dựng đứng. Từ đỉnh, gã chợt thấy trên những nóc nhà phía xa bầu trời đã bắt đầu ửng sáng. Nhưng đã quá trễ rồi.
Gã cảm thấy hoàn toàn kiệt sức. Từ cái má bị thương những tia máu đang dần dần rịn chảy. Và Regora sắp đến kịp. Gã vừa thấy trong bóng tối lờ mờ hai hàm răng trắng dã loé ra cười đắc thắng.
Hai người đứng đối diện nhau, trên đỉnh một ngọn đồi có nhiều cỏ dại. Regora cũng chưa cần phải đánh. Ðể tránh hắn, Saggini lùi ra sau một bước, không dẫm lên điểm tựa nên ngã nhào xuống dốc lởm chởm những bụi gai và mõm đá. Từ dưới sâu nghe vọng lại tiếng dội của khối thịt; sau đó là những tiếng rên.
Nó chưa chết. Nhưng cũng được trị một trận nên thân. Regora phát biểu. Giờ thì chúng ta chuồn thôi. Biết đâu bọn cảnh sát không nổi hứng đi lùng bất tử.
Bọn trẻ rời đi từng nhóm, vừa đi vừa bàn tán về cuộc săn đuổi vừa qua, xen những trận cười khoái trá. Nhưng cuộc săn đã kéo dài quá đỗi. Chưa có thằng già nào đã làm cho bọn chúng nhọc nhằn đến thế. Và bọn chúng cũng bắt đầu thấm mệt. Không hiểu sao nhưng bọn chúng vô cùng mệt mỏi. Nhóm trẻ tan dần.

Regora đi với cô con gái. Chúng vừa đi đến một quảng trường được chiếu sáng.
– Cái gì ở trên đầu anh thế? cô gái hỏi
– Còn em? Em cũng vậy. Chúng tiến đến gần nhau, người nọ chăm chú nhìn người kia.
– Chúa ơi! Mặt anh ghê quá! Sao lại có những vệt trắng trên tóc thế kia?
– Em cũng thế! Mặt của em cũng rất gớm. Một nỗi lo bất ngờ. Ðối với Regora cảm giác này chưa xảy đến bao giờ. Hắn tiến gần một cửa kính để soi cho kỹ. Trong khung kính hắn vừa nhìn thấy một gã đàn ông khoảng năm mươi tuổi, đôi mắt và gò má xệ xuống, còn caí cổ thì nhăn như cổ chim rái cá. Hắn cố gượng cười và thấy trên miệng đã mất hai răng cửa.
Một cơn ác mộng chăng? Hắn chợt quay lại. Ðứa con gái đã biến mất tự lúc nào và từ cuối quảng trường đang bất ngờ xuất hiện ba tên trẻ tuổi. Bọn chúng năm đứa, tám đứa. Chúng hú lên những tiếng hú dài ghê rợn:
Ðánh đi! Ðánh chết thằng già!
Regora bắt đầu chạy với tất cả tàn lực của mình. Nhưng sức của hắn giờ hãy còn quá ít. Tuổi trẻ, cái quãng thời gian đầy kiêu hãnh và bạo tàn dường như phải kéo dài thật lâu, không bao giờ chấm dứt. Nhưng để đốt cháy nó chỉ cần một đêm thôi. Bây giờ hắn không còn gì để phung phí nữa. Bây giờ thằng già chính là hắn. Và đã đến phiên mình.

(Milano 1996)

[1] * Tiền Ý. Hai mươi nghìn lia trị giá (1996) khoảng 14 USD. Lúc tác giả viết trị giá lớn hơn nhiều.

TRƯƠNG VĂN DÂN
Chuyển ngữ từ nguyên tác: cacciatori di vecchi
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 426
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   Tue Jul 03, 2018 7:54 pm




COLOMBRE
Truyện Ngắn Dino Buzzati (Ý)


Khi Stefano Roi tròn mười hai tuổi, thay vì xin quà tặng cho ngày sinh nhật, nó yêu cầu ba nó, là thuyền trưởng và chủ nhân một chiếc tàu buồm, dẫn nó ra khơi.
“Khi con lớn” nó nói “con cũng sẽ đi biển như ba. Và con muốn chỉ huy những chiếc tàu đẹp và to hơn nữa.”
“Xin Chuá ban phước lành cho con” ba nó trả lời. Và hôm ấy cũng chính là ngày thuyền ra khơi, ông vui vẻ dẫn thằng bé đi theo.

Ðó là một ngày biển lặng và rực rỡ ánh mặt trời. Vì lần đầu được đặt bước lên tàu nên Stefano sung sướng chạy tung tăng khắp nơi, trố mắt nhìn những máy móc kỳ lạ rồi dừng lại quan sát những thao tác phức tạp lúc xoay buồm. Nó tò mò hỏi nhiều câu ngộ nghĩnh làm các thuỷ thủ phì cười, nhưng ai nấy cũng đều kiên nhẫn giải thích cho nó. Khi chạy đến đuôi tàu, thằng bé chợt đứng lại. Nó chăm chú quan sát một cái gì thấp thoáng trên mặt nước, thoạt ẩn thoạt hiện, cách xa hai, ba trăm thước ngay chỗ cuối của làn bọt trắng bám phía sau lưng tàu.
Mặc dù thuyền đang lướt nhanh theo chiều gió, nhưng vật ấy cứ giữ nguyên một khoảng cách. Và tuy chưa biết đích thực là cái gì, nhưng hình dạng kỳ quái của nó đã thu hút thằng bé một cách mãnh liệt.

Người cha không thấy con đi dạo trên bong, ông lớn tiếng kêu nhưng không nghe đáp lại, đành rời phòng chỉ huy để đi tìm.
“Stefano, con làm gì mà đứng như trời trồng vậy?” ông hỏi sau khi thấy nó đứng ở đuôi tàu, mắt đăm đăm nhìn vào làn sóng phía sau.
”Ba ơi, đến xem cái này”
Người cha tiến đến, chú mục nhìn theo hướng chỉ của con, nhưng ông chẳng thấy gì cả. ”Có cái gì đen đen thỉnh thoảng nhô lên mặt nước” thằng bé nói “đang chạy theo chúng ta”.
“Tuy tuổi bốn mươi, nhưng mắt ba còn tốt lắm. Song ba có thấy gì đâu.”

Nhưng thằng bé cứ tiếp tục nài nỉ, ông đành phải đi lấy ống nhòm rồi sau đó chăm chú nhìn ra khơi, chỗ cuối đám bọt trắng. Stefano thấy mặt cha tái mét.
“Cái gì vậy? Tại sao mặt ba trắng thế?”
”Chuá ơi, phải chi cha con ta đừng trông thấy nó” ông thuyền trưởng buồn rầu than thở. ”Bây giờ ba rất sợ cho con. Cái mà con trông thấy nhô lên từ mặt nước và chạy theo chúng ta, không phải là một vật tầm thường. Ðó là Colombre. Nó là một loài cá mà bất cứ thủy thủ ở đại dương nào trên thế giới cũng đều kinh sợ. Ðó là một loài cá mập rất kỳ bí và nguy hiểm, tinh ranh hơn cả loài người. Có những lý do mà có lẽ không ai biết được là nó tự chọn một nạn nhân và sau đó theo sát, năm này qua năm nọ, suốt một đời, cho đến khi không xé được xác gã. Ðiều kỳ dị là chuyện này: Không có ai có thể trông thấy nó nếu không phải chính nạn nhân hay những người cùng chung huyết tộc“.
”Ðó không phải là một chuyện cổ tích sao?”
“Không. Ba chưa bao giờ trông thấy nó. Nhưng đã nghe người ta tả nó rất nhiều lần, nên ba nhận ra ngay. Cái mặt như con tê giác, cái mồm luôn luôn ngậm lại và há ra, còn cái hàm răng thì kinh khiếp lắm. Stefano, thật không còn nghi ngờ gì nữa, tiếc rằng Colombre đã chọn con làm nạn nhân nên khi nào con còn đi trên biển nó sẽ không bao giờ để con yên. Hãy nghe ba nói đây: Bây giờ chúng ta trở về đất liền, con lên bờ và kể từ nay dù bất kỳ lý do nào con cũng không được xuống thuyền. Con phải hứa với ba. Nghề đi biển không thể là phương tiện mưu sinh của con được nữa. Con ơi, con nên an phận và nhớ là trên đất liền con cũng có thể làm giàu được“.
Nói xong điều đó, ông cho quay thuyền đi ngược vô cảng và lấy cớ thình lình bị đau, ông cho thằng bé lên bờ. Rồi ông lại ra khơi, không có nó.

Thằng bé hoàn toàn bị kích động. Nó đứng trên bờ nhìn dõi theo cho đến khi cột buồm cuối cùng chìm khuất ở phía chân trời. Biển hiện ra mênh mông và trên cầu tàu chẳng còn ai nữa. Nhưng cố nheo mắt, nó còn thấy một chấm đen đang nhấp nhô trên sóng nước: con Colombre “của nó” đang trồi lên hụp xuống, kiên nhẫn chờ đợi nó.
Kể từ lúc ấy thằng bé được tách rời khỏi biển bằng rất nhiều nguyên cớ. Ba nó gởi đi học ở một thành phố cách xa biển hằng trăm cây số. Và có một quãng thời gian dài trong môi trường mới, Stefano không còn nghĩ ngợi gì về con hải quái. Thế nhưng trong những dịp về thăm nhà, khi có một phút rảnh rỗi, việc đầu tiên của nó là chạy đến cầu tàu, tưởng chỉ để kiểm lại xem chơi chứ trong thâm tâm nó vẫn nghĩ là mình đang làm một điều thừa thãi. Sau nhiều thời gian, giả sử rằng câu chuyện mà ba nó kể là có thật đi nữa, con Colombre chắc cũng đã bỏ cuộc săn rồi.
Nhưng Stefano đứng sững, kinh hoàng, tim đập lên loạn xạ. Trên mặt biển, cách cầu tàu chừng hai ba trăm thước, con cá khốn nạn đang trồi lên hụp xuống một cách chậm rãi, thỉnh thoảng ngoi đầu lên mặt nước quay nhìn về phía đất liền, dường như đang hồi hộp chờ xem khi nào Stefano tái xuất hiện.
Cứ thế, ý nghĩ có một kẻ tử thù đang chờ đợi nó ngày đêm trở thành một nỗi ám ảnh không rời. Và mặc dù đang sống trong một thành phố xa xôi, nhiều đêm thức giấc nó vẫn mang cảm giác bất an. Ðúng là nó đang ở một nơi an toàn, giữa nó và con Colombre có một khoảng cách hằng trăm cây số. Thế nhưng nó biết rằng, phiá bên kia những dãy núi, những cụm rừng, những bình nguyên, con cá mập vẫn đang đợi nó. Và nếu như nó có chuyển đi đến một lục địa nào xa xôi hơn nữa, thì con Colombre chắc cũng sẽ theo rình rập trên một bờ biển nào đó gần bên, như sự ngoan cố bạo tàn của định mệnh.

Là một đứa bé khôn ngoan và chăm chỉ, Stefano tiếp tục học với kết quả khả quan và khi lớn lên nó tìm được một việc làm có lương cao tại một cửa hàng trong thành phố. Lúc ấy ba nó đã chết vì bạo bệnh, chiếc tàu buồm của ông đã được mẹ nó bán đi và nó được thụ hưởng một gia tài kha khá. Công việc, bạn bè, giải trí, tình yêu đầu đời… đến giờ thì Stefano đang sống cuộc đời của nó, dù ý nghĩ về Colombre vẫn còn ám ảnh, vừa như một nỗi đau, vừa như một ảo ảnh đầy hấp dẫn; Nhưng thời gian chẳng những không làm mờ nhạt, mà dường như còn kích thich thêm lên.
Những thỏa mãn được đem lại từ cuộc sống an nhàn và sung túc tuy rất lớn nhưng sự quyến rũ của vực thẳm lại còn lớn hơn nhiều. Khi tròn hai mươi hai tuổi, Stefano xin nghỉ việc và từ giã bạn bè trong thành phố để trở về quê cũ, xin phép mẹ cho nó tiếp tục nghề nghiệp của cha. Người đàn bà, Stefano chưa bao giờ tiết lộ với mẹ về chuyện con Colombre, rất vui mừng trước quyết định hiếu thảo của con. Có một người con bỏ biển để sống trên đất liền, trong lòng bà lúc nào cũng xem như một sự phản bội truyền thống gia đình.

Kể từ đấy Stefano bắt đầu những cuộc hải hành, anh chứng tỏ mình hội đủ các phẩm chất cần thiết cho người đi biển, sức chịu đựng dẻo dai, và một tinh thần can đảm. Anh đi, đi mãi và sau đuôi của chiếc tàu buồm, không kể ngày đêm và thời tiết xấu, tốt, con Colombre vẫn mệt nhọc đuổi theo. Stefano thừa biết đấy là sự nguyền rủa và là sự phán xét của mình, nhưng có lẽ do chính ý nghĩ này mà anh không bao giờ tìm cách xa lánh nó. Và trên tàu không có ai trông thấy con quái vật đó, trừ anh.
“Bọn mầy có thấy gì ở phía ấy không?” thỉnh thoảng anh chỉ về phía đuôi tàu và hỏi bọn thủy thủ.
“Không.Chúng tao không thấy gì cả. Cái gì thế?”
“Tao cũng không biết nữa. Hình như là…”
“Bộ mầy trông thấy con Colombre hả” bọn thủy thủ cười lớn, và khi cười chúng đưa tay rờ sắt, như người ta thường làm để xả xui.
“Tại sao bọn mầy cười? Tại sao chúng mầy rờ sắt?”
“Bỡi vì Colombre là một con vật không tha thứ. Và nếu nó đuổi theo chiếc tàu này có nghĩa là một người trong chúng ta đã tận số.”

Nhưng Stefano không chịu buông ra. Sự hăm doạ liên tục hình như chỉ làm anh tăng thêm nghị lực, niềm đam mê biển cả và can đảm trong những giờ phút chiến đấu với hiểm nguy.
Sau khi tin là mình đã thạo nghề, với số tiền của cha để lại anh hùn vốn với một người bạn để mua một tàu hơi nước chở hàng, sau đó anh thành chủ nhân và nhờ những chuyến hàng may mắn, cuối cùng anh đã tậu được một thương thuyền và dần dần đạt đến những cái đích cao hơn. Nhưng những thành công và hằng triệu đồng kiếm được cũng chẳng giúp anh gỡ được nỗi ám ảnh xa xưa trong tâm hồn; Trái lại anh cũng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bán tàu để lui lại đất liền hay lao vào một cuộc mưu sinh khác.
Hải hành, hải hành… chính là ý nghĩ duy nhất của anh. Vừa đặt chân lên đất liền sau một chuyến hải trình, lòng anh đã xốn xang và muốn khởi hành ngay. Anh thừa biết là ngoài khơi có con Colombre đang đợi anh, và Colombre đồng nghĩa với sự phá sản hoàn toàn của đời mình. Nhưng có hề chi. Sự kích thích không sao kiềm chế, cứ thúc anh lên đường để tiếp tục lênh đênh từ đại dương này đến đại dương khác.
Cho đến một hôm, Stefano đột nhiên nhận thấy mình già, già lắm; và không có ai bên cạnh ông có thể biết được tại sao, giàu như thế, ông chưa chịu bỏ cái nghề bạc bẽo trên sóng nước. Ông già nua và bất hạnh một cách đắng cay, bởi vì nguyên cả sự hiện hữu của đời mình ông đã tiêu phí hết trong một cuộc trốn chạy điên cuồng, để tránh mặt kẻ tử thù trên biển. Nhưng sự cám dỗ của vực thẳm còn lớn hơn niềm vui về một đời sống an nhàn và sung túc.

Một buổi chiều, trong khi chiếc tàu tráng lệ của ông còn thả neo ngoài bến cảng nơi ông đã sinh ra, ông linh tính là mình sắp chết. Ông cho gọi người sĩ quan phụ tá tin cẩn, yêu cầu không được ngăn cản những gì ông sắp làm. Viên sĩ quan đành phải hứa trong danh dự.
Có được sự bảo đảm này rồi, Stefano tiết lộ chuyện con Colombre đã đuổi theo ông một cách vô vọng từ năm mươi năm qua. Viên sĩ quan lắng nghe với dáng điệu thất thần.
“Nó đã đuổi theo tôi đến tận cùng thế giới” ông nói ”bằng một sự trung thành mà ngay cả những người bạn cao quý nhất cũng không thể làm hơn. Bây giờ thì tôi sắp chết. Nhưng chắc nó cũng đã già và mệt mỏi kinh khủng lắm. Tôi không thể phản bội nó.”
Thổ lộ xong, ông cho thả một chiếc thuyền con xuống biển rồi leo lên, sau khi bảo lấy cho mình một thanh lao sắt.
“Giờ tôi đi tìm nó đây” ông nói thế. “Tôi không thể để nó thất vọng. Nhưng tôi sẽ chiến đấu với tất cả tàn lực.”
Bằng những động tác mệt mỏi ông chèo ra khơi. Các sĩ quan và thủy thủ nhìn thấy ông biến mất ngoài xa, trên mặt nước phẳng lặng, chìm hút trong bóng tối của đêm đen. Bầu trời lúc ấy có một mảnh trăng lưỡi liềm đang le lói sáng.

Ông không phải nhọc công nhiều. Bất thình lình cái mặt khủng khiếp của Colombre nhô lên từ phiá hông thuyền.
“Tao đây“ Stefano gầm lên. ”Mầy cứ tấn công đi” và ông thu hết tàn lực, giương cao thanh lao sắt để chuẩn bị phóng ra .
”Uúi, Uúi” tiếng con Colombre vang lên với giọng điệu thiết tha giống như lời cầu khẩn ”đi không biết bao nhiêu đường giờ mới gặp được mầy. Tao cũng mệt gần chết. Mầy bắt tao bơi muốn hụt hơi luôn. Mà mầy cứ trốn, trốn mải. Mầy thiệt chả hiểu gì cả“.
“Hiểu cái gì?” Stefano hét to lên.
“Ðâu phaỉ tao chạy theo để xé xác mầy như mầy vẫn tưởng. Tao chỉ vâng lệnh Thủy vương đến giao mầy cái này đây“.
Con cá mập lè lưỡi để dâng cho lão thuyền trưởng một vật nhỏ tròn tròn lấp lánh.

Stefano cầm lên tay và chăm chú nhìn. Ðó là một viên ngọc có kích thước hiếm thấy. Ông nhận ra ngay là viên Hải Ngọc nổi tiếng mà ai mang nó sẽ có được may mắn, quyền lực, tình yêu và sự bình thản trong tâm hồn. Nhưng giờ thì đã lỡ trễ rồi.
“Trơì ơi!” ông lắc đầu một cách buồn bã và nói lớn lên. ”Tất cả là một sự sai lầm. Tao đã hoang phí sự hiện hữu của tao và lại còn huỷ hoại cuộc đời mầy nữa“.
”Vĩnh biệt, thằng đàn ông khốn khổ” Colombre vội đáp lời.
Rồi nó lặn xuống vùng nước đen mất dạng.

Hai tháng sau có một chiếc thuyền nhỏ tấp lên một bãi đá do những đợt sóng phản hồi. Một vài chàng ngư phủ trông thấy nên tò mò tiến đến xem. Trên chiếc thuyền con, vẫn ở tư thế ngồi, có một bộ xương người trắng hếu: ở giữa những kẽ tay còn kẹp chặt một viên đá cuội hình tròn.

Colombre là một con cá có kích thước lớn, nhìn rất gớm và rất hiếm hoi. Tuỳ vùng biển và phong tục của thổ dân sống trên bờ, nó cũng còn được gọi là Kolomber, Kahloubrha, kalonga, kalu-balu, chalung-gra. Lạ một điều là các nhà sinh vật không có ai biết nó. Vài người còn dám cho là không hiện hữu.

TRƯƠNG VĂN DÂN Chuyển ngữ
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)   

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn Quốc Tế: Những ngày đánh mất - Dino Buzzati (Ý)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến