Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
chiến kiện hanh dịch Saigon Mộng VNCH tran sung bình phạm Chia Thuong thang phan
Latest topics
September 2018
MonTueWedThuFriSatSun
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel

Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Wed Oct 04, 2017 12:20 am



NGƯỜI GÁC ĐÈN BIỂN

Henryk Sienkievich
(Nobel 1905)


Truyện ngắn này viết dựa theo một chuyện có thật mà J. Horain đã kể trong một bức thư gửi từ Mỹ về.
 
Một lần xảy ra chuyện người gác đèn biển ở Axpinoan - một nơi không xa Panama - bị mất tích. Chuyện đó xảy ra trong cơn bão nên người ta cho rằng có lẽ kẻ xấu số nọ đã bị sóng cuốn đi khi lần ra mép nước của đảo đá đặt tháp đèn. Điều đó càng có vẻ có lý, vì ngày hôm sau người ta không tìm thấy chiếc xuồng con mà ông ta vẫn thường xuyên buộc ở kẽ đá. Cần phải tìm ngay người thay chân gác đèn bị khuyết, bởi ngọn đèn biển này có ý nghĩa không nhỏ đối với giao thông trong vùng cũng như đối với tàu bè chạy từ New York đến Panama. Vịnh Muỗi vốn lắm doi cát và bãi cạn, tìm luồng lạch ban ngày còn khó, huống hồ ban đêm, nhất là giữa những lớp sương mù thường bao phủ vùng biển nhiệt đới bị mặt trời liên tục hun nóng nơi đây. Khi ấy đối với số đông tàu bè, ngọn đèn biển trở thành người chỉ đường duy nhất. Mối lo tìm người gác đèn thay thế đổ xuống đầu viên lãnh sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ở Panama, mà đó là mối lo chẳng nhỏ nhoi gì, bởi lẽ thứ nhất là phải tìm bằng được người thay thế trong vòng mười hai tiếng đồng hồ, thứ hai, người thay thế phải là người đặc biệt mẫn cán, không phải ai cũng có thể nhận được, và sau nữa, hiện chẳng có ma nào tình nguyện ứng cử vào chân ấy. Cuộc sống trên tháp đèn vô cùng khắc khổ, chí ít cũng chẳng hấp dẫn gì đối với dân miền Nam rỗng tuếch vốn ưa thích phiêu lãng tự do. Người gác đèn biển chẳng khác chi tù nhân. Trừ chủ nhật, anh ta không được phép rời khỏi cái đảo đá của mình.

Mỗi ngày một lần, thuyền từ Axpinoan chở ra đảo lương thực và nước uống rồi lại rời đi ngay, và khi ấy, cả cái đảo đá rộng chừng một mẫu [1] ấy không còn có một bóng người nào khác. Người gác đèn sống ngay trong lòng tháp đèn và tự lo liệu lấy. Ban ngày trông theo phong vũ biểu mà treo cờ hiệu các màu để báo thời tiết, ban đêm thì đốt đèn. Kể ra, đó cũng không phải là công việc nặng nhọc gì, nếu như không phải ngày vài lần leo những hơn bốn trăm bậc trên cái cầu thang cao ngất trôn ốc lên đỉnh tháp. Nói chung, đó là cuộc sống như trong tu viện, mà còn tệ hơn cả tu viện, bởi lẽ người gác đèn chỉ trần mỗi một thân một mình.
Vì vậy, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu ngài lãnh sự Fancônbritgiơ lo nghĩ không biết tìm đâu cho ra người gác đèn thay thế cho kẻ bạc phận, và cũng dễ hiểu niềm vui sướng của ngài khi ngay trong ngày hôm ấy tự nhiên có một người tìm đến xin nhận chân gác đèn. Đó là một ông lão tuổi ngoại bẩy mươi, song nom vẫn quắc thước khoẻ mạnh, lưng vẫn thẳng, dáng dấp có vẻ con nhà binh. Tóc ông lão đã bạc trắng, nước da bánh mật như người Krêôn [2] song cứ theo màu đôi mắt mà suy thì chắc chắn, ông không phải là người phương Nam. Vẻ mặt ông trầm ngâm, đầy u ẩn, song trung hậu. Thoạt trông, ngài Fancônbritgiơ đã thấy hài lòng, song ngài vẫn có nhiệm vụ thẩm tra người xin việc, vì vậy đã diễn ra cuộc đối thoại sau đây:
- Quê ông ở đâu?
- Thưa, tôi người Ba Lan.
- Từ trước đến nay ông làm nghề gì?
- Thưa ngài, tôi đi tìm việc.
- Người gác đèn phải là người thích ngồi yên một chỗ kia đấy.
- Thưa, chính tôi cũng đang cố tìm một chỗ yên thân.
- Ông đã đi lính bao giờ chưa? Ông có chứng nhận phục vụ trung thành với Chính phủ chứ?
Ông lão rút từ trong hầu bao một mảnh lụa nhàu nát, nom như một mẩu cờ cũ kỹ. Lão vừa mở ra vừa nói:
- Thưa, chứng nhận đây ạ. Huân chương chữ thập này tôi được thưởng năm ba mươi. Cái thứ hai là huân chương của Tây Ban Nha, tôi được thưởng trong cuộc chiến tranh Caclixtô. Cái thứ ba là huân công của Pháp, cái thứ tư tôi nhận được ở Hunggari. Rồi tôi đánh nhau ở Hoa Kỳ chống lại các bang miền Nam, nhưng ở đó người ta không tặng huân chương, chỉ phát có mẩu giấy này.
Fancônbritgiơ cầm lấy tờ giấy và bắt đầu đọc.
- Hừm, Xkavinxki? Họ của ông đấy à?... hừm. Tự tay đoạt được hai lá quân kỳ trong một trận đấu lê… ông đã từng là một người lính dũng cảm!
- Tôi sẽ là một người gác đèn mẫn cán, thưa ngài!
- Ngoài ấy phải leo lên tận tháp đèn ngày một vài lần cơ đấy, liệu chân ông có còn đủ cứng không?
- Thưa, tôi đã từng đi bộ qua cả miền đồng bằng.
- All right! Ông có biết qua loa nghề biển chứ?
- Tôi đã làm việc ba năm liền trên tầu săn cá voi, thưa ngài.
- Ông qua cũng nhiều nghề gớm nhỉ?
- Thưa, tôi chỉ chưa tìm được chốn yên thân.
- Sao vậy?
- Cái số tôi nó thế...
- Theo tôi, để làm nghề gác đèn thì ông hơi quá già đấy.
- Sir - ông lão chợt thốt lên bằng giọng đầy xúc động - Tôi đã mệt mỏi, đã chịu đựng nhiều quá rồi. Ngài cũng thấy đấy, đời tôi đã trải qua bao lận đận. Giờ tôi chỉ mong sao có một chỗ yên thân. Tôi già rồi, tôi chỉ cần yên tĩnh! Tôi muốn được tự nhủ với mình rằng: mày sẽ ngồi yên tại chốn này, đây đã là bến cảng của mày. Ôi, sir, việc này chỉ phụ thuộc vào mỗi một mình ngài mà thôi. Khó lòng có cơ hội thế này lần nữa. May mắn làm sao đúng lúc này tôi lại có mặt ở Panama kia chứ... Tôi van ngài... Thề có Chúa lòng lành, tôi như con tàu sẽ bị đắm chìm nếu không tìm được vào bến cảng. Xin ngài rón tay làm phúc cho thân già này… Xin thề với ngài là tôi ngay thực, nhưng... tôi ngán cảnh lang thang lắm rồi...
Đôi mắt xanh của ông lão biểu lộ lời khẩn cầu tha thiết đến nỗi ngài Fancônbritgiơ - vốn có tấm lòng nhân hậu và chất phác - cũng xúc động.
- Well - ngài nói - tôi đồng ý nhận ông vào chân gác đèn.
Nét mặt ông lão bừng lên lòng biết ơn khôn tả.
- Xin đa tạ ngài.
- Thế liệu hôm nay ông đã có thể ra tháp đèn được chưa?
- Thưa, đã.
- Vậy thì Good-bye! À, thêm một điều nữa, chỉ cần trễ nải một lần là ông sẽ bị thải hồi ngay đấy!
- All right!

Ngay chiều hôm đó, khi mặt trời chìm vào làn nước biển, đêm sập xuống sau một ngày đầy nắng gần như không hề trải qua hoàng hôn, người gác đèn mới đã nhận việc, ngọn đèn biển đã lại chiếu ánh sáng chói lọi trên sóng nước. Đêm vô cùng thanh tĩnh, một đêm điển hình của vùng nhiệt đới, đầy ắp sương mù màu sáng, làm thành một chiếc quầng rộng rực sắc cầu vồng với đường viền mềm mại không rõ nét chung quanh mặt trăng.
Chỉ riêng biển là xôn xao bởi thuỷ triều dâng lên mạnh. Ông lão Xkavinxki đứng trên ban công, ngay cạnh ngọn đèn to tướng. Trông từ phía dưới lên, nom ông lão như một chấm đen bé xíu. Ông đang cố gắng tập trung suy nghĩ về tình cảnh mới của mình, song những cảm xúc mãnh liệt chưa cho phép ông nghĩ suy mạch lạc. Ông lão có cảm giác của một con thú bị săn đuổi, cuối cùng đã tìm được một chỗ náu thân trong một khe đá hay một cái hang nào đó, nơi không một ai tới được. Thế là rốt cuộc thời yên tĩnh cũng đã tới với ông. Cảm giác của sự an toàn khiến tâm hồn ông lão tràn ngập một niềm hoan lạc không thể diễn tả thành lời. Vậy là rốt cuộc, trên cái đảo đá này, ông có thể quên đi cuộc sống lang bạt đã qua, những nỗi bất hạnh, những thất bại của ngày qua. Ông lão giống như một con tàu bị bão tố bẻ gẫy cột buồm, xé rách tả tơi cánh buồm, dứt đứt tung dây leo, ném từ cao mây trời xuống tận đáy vực sâu, con tầu bị những làn sóng sủi tung bọt trắng đánh cho tơi tả, song cuối cùng cũng tìm được vào bến cảng. Bức tranh của cơn bão tố lướt nhanh qua đầu óc ông, đối lập với tương lai yên ả sắp bắt đầu. Thực ra ông lão mới chỉ kể cho Fancônbritgiơ nghe một phần nhỏ những bước đường trôi nổi của mình, bỏ qua hàng ngàn nỗi thăng trầm khác. Bao giờ ông cũng chỉ gặp toàn bất hạnh. Cứ mỗi lần ông hạ trại, nhóm lửa lên ở một nơi nào đó với ý định sinh cơ lập nghiệp lâu dài tại đó, thì y như rằng gió bão lại nổi lên, giật tung cọc trại, thổi tan tành đống lửa, xô đẩy ông bước tiếp vào chốn phong trần.

Giờ đây, từ ban công đèn nhìn xuống những làn sóng loang loáng ánh sáng ông lão bồi hồi nhớ lại những gì đã trải qua. Ông đã từng đánh nhau khắp bốn phương trời, và trong cuộc đời phiêu bạt của mình đã thử làm qua hầu như tất cả mọi nghề để kiếm sống. Cần cù và trung thực, hơn một lần ông dành dụm được chút vốn liếng, nhưng chỉ để rồi sau đó lại bị mất trắng, mặc dù đã hết sức thận trọng đề phòng.
Ông đã từng đào vàng ở Ôxtralia, tìm kim cương ở châu Phi, làm xạ thủ ở Đông Ấn. Đã có thời ông lập nông trại ở California, song lại bị hạn hán khiến cho phá sản. Ông cũng đã từng thử nghề buôn bán với các bộ lạc nguyên thuỷ sống sâu trong vùng lục địa Braxin, song chiếc bè của ông bị vỡ tung trên sông Amazôn, còn ông - gần như trần truồng, không hề có lấy một tấc  sắt trong tay - phải lần mò suốt mấy tuần liền trong rừng thẳm, sống cầm hơi bằng quả dại, bao phen suýt làm mồi cho thú dữ. Ông đã từng mở xưởng rèn ở Hêlena, ở Arcanxôx, song rồi xưởng bị thiêu trụi trong một nạn cháy lớn bao trùm cả thành phố.
Sau đó ông bị rơi vào tay dân Idian trong rặng Thạch Sơn, và có lẽ chỉ nhờ một phép mầu nhiệm nào đó ông mới may mắn được các xạ thủ Canađa cứu thoát. Ông cũng đã từng làm thuỷ thủ trên chiếc tầu thuỷ chạy tuyến Bahia - Boocđô, rồi lại làm thợ săn trên tầu đánh cá voi, song cả hai chiếc tầu đều gặp nạn. Ông đã từng là chủ một nhà máy xì gà ở La Habana, để rồi bị kẻ chung lưng cuỗm mất tất cả vốn liếng đúng vào lúc ông phải nằm liệt giường vì bệnh vômitô. Cuối cùng ông phiêu dạt tới Axpinoan, và nơi đây hẳn sẽ là ranh giới chấm dứt những chuyện không may của ông. Liệu có còn gì có thể theo đuổi ông ra tận cái đảo đá này nữa cơ chứ? Cả nước, cả lửa, cả con người! Thật ra, nói cho cùng, thì từ phía con người ông lão Xkavinxki cũng không phải nhận quá nhiều điều bất hạnh. Trong đời, ông đã gặp được nhiều người tốt hơn kẻ xấu.
Ngược lại, dường như tất cả bốn thứ hung thần của thiên nhiên đều thi nhau săn đuổi ông. Những người quen biết ông lão đều nói rằng ông không có phúc, họ dùng điều ấy để giải thích mọi nỗi bất hạnh của ông. Bản thân ông rốt cuộc cũng đâm ra hơi mê tín. Ông tin là có một bàn tay độc ác và hằn thù nào đó cứ bám theo ông khắp nơi, trên mọi vùng đất, mọi vùng biển. Song ông không thích nói đến chuyện ấy. Thảng hoặc, khi có người hỏi xem đó là bàn tay kẻ nào, ông lão chỉ trỏ tay kín đáo về phía sao Bắc đẩu, ra hiệu là nó từ phía ấy đến...

Quả thực, những điều không may của ông lão xẩy ra thường xuyên đến lạ lùng, dễ khiến cho người ta thoái chí, nhất là những kẻ đã từng phải nếm trải chua cay. Song ông có được sức đề kháng lặng thầm nhưng mạnh mẽ bắt nguồn từ lẽ phải của con tim, cùng tính kiên nhẫn của người Idian. Hồi ở Hunggari, ông đã từng bị chọc mười mấy nhát lê cũng chỉ vì không thèm bám lấy cái bàn đạp chân được người ta ném cho để xin cứu mạng mà lại kêu lên: Pardon! Cũng tương tự như thế, ông không chịu hàng phục những tai ương của cuộc đời. Nhẫn nại như một con kiến, ông cứ bò dần lên. Một trăm lần bị đạp nhào xuống, ông lại bình thản leo tiếp lần thứ một trăm lẻ một. Ông lão là một loại người kì dị theo một kiểu riêng biệt. Người lính già ấy, người mà hoạ chỉ có Chúa mới hay, đã từng bị thiêu trong bao nhiêu ngọn lửa, đã từng tôi luyện trong bao nỗi cơ hàn, đã từng bị đánh đập và cùm kẹp, song vẫn mang một trái tim con trẻ. Trong thời gian bệnh dịch hoành hành ở Cuba, ông bị nhiễm bệnh cũng chỉ vì đã nhường toàn bộ số thuốc kí ninh khá nhiều của ông cho những người bệnh, chẳng giữ lại cho mình lấy một mảy may.
Ở ông lão còn một điều kỳ lạ nữa là sau ngần ấy chuyện đau lòng, ông vẫn không bị mất hi vọng, vẫn tràn đầy niềm tin rồi đây mọi sự sẽ tốt đẹp hơn.
Cứ khi mùa đông đến, ông lại hoạt bát hẳn lên, và háo hức đón đợi những sự kiện trọng đại, những sự kiện mà ông hằng trông ngóng, hằng sống cùng chúng suốt những năm tháng dài đằng đẵng... Song những mùa đông cứ nối nhau trôi đi, ông lão chỉ thu được mỗi một điều là mái tóc dần bạc trắng. Ông già đi và mất dần sinh lực. Tính kiên nhẫn của ông ngày càng gần với sự nản lòng. Sự bình tâm xưa nay ngả dần thành khuynh hướng tự thương thân, và người cựu chiến binh phong trần nọ biến thành một kẻ mau nước mắt, có thể xúc động vì bất cứ cớ gì. Thêm vào đó, thỉnh thoảng ông lão lại bị dày vò bởi một nỗi hoài vọng sâu thẳm được gợi lên chỉ do những khung cảnh không đâu: một cánh én chao ngang, một đàn chim lông xám trông giống chim se sẻ, một làn tuyết trên đỉnh núi hay chỉ một âm điệu thoáng qua nghe tựa như làn điệu mà ông lão nghe từ thủa nào...

Cuối cùng, chỉ còn một ý nghĩ duy nhất chế ngự ông lão, ý nghĩ về sự yên nghỉ, ý nghĩ đó chiếm lĩnh ông lão một cách hoàn toàn, nó cuốn hút mọi ước muốn và hi vọng khác. Kẻ lang thang vĩnh hằng ấy không còn khát vọng nào mãnh liệt và nhiều ý nghĩa hơn là tìm được một cái xó yên ả nào đó, nơi có thể nghỉ ngơi mà chờ đợi kết cục cuối cùng. Có thể một sự kì lạ nào đó của số phận đã ném ông qua hết thảy mọi đại dương và mọi miền đất, không cho ông kịp nghỉ lấy hơi, để giờ đây ông cho rằng đối với kiếp sống con người không có niềm hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc không phải phiêu bạt.
Quả thực, ông hoàn toàn xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, song vốn đã quá quen với những điều không may, ông chỉ dám nghĩ về niềm hạnh phúc ấy theo kiểu người ta ước đến một điều gì không sao đạt tới. Thậm chí, ông lão không dám ước điều đó nữa, ấy thế mà, đột nhiên, chỉ trong vòng mười hai tiếng đồng hồ, ông lão tìm được chính việc làm mà dường như ông đã chọn cho riêng mình trong số tất thảy mọi công việc trên cõi đời. Vì vậy, không có gì lạ, là khi đêm xuống, đốt ngọn đèn biển lên rồi, ông lão vẫn cứ bàng hoàng tự hỏi: phải chăng đây là sự thật? Và vẫn chưa dám khẳng định: phải, đó là sự thật! Trong khi đó thực tế thuyết phục ông bằng những chứng cớ không bác bỏ nổi. Và thế là giờ nọ nối giờ kia trôi qua, ông lão vẫn cứ đứng thần người ra trên ban công. Ông nhìn ngắm, tận hưởng và tự thuyết phục mình hãy tin vào sự thật. Dường như đây là lần đầu tiên được trông thấy biển, bởi lẽ những chiếc đồng hồ lớn ở Axpinoan đã điểm chuông nửa đêm từ lâu mà lão vẫn chưa chịu rời cái cao nguyên trên không trung của mình, vẫn đứng nhìn ngắm mãi. Biển ầm ì dưới chân ông. Thấu kính của ngọn đèn pha quét vào đêm những luồng sáng khổng lồ, bên ngoài những luồng sáng ấy mắt ông lão ngập chìm trong một chốn thăm thẳm tối tăm, đầy những điều huyền bí khủng khiếp.
Song dường như chốn xa thăm thẳm kia cũng đang chạy dần về phía ánh sáng. Những làn sóng dài từ trong bóng đêm nhô ra, réo lên ầm ì, ùa vào chân đảo, và lúc ấy có thể nhìn rõ những cái bờm đầy bọt của chúng lóng lánh sắc hồng trong ánh sáng ngọn đèn pha.
Thuỷ triều lên cao mãi, nhấn chìm dần những doi cát. Tiếng thì thầm huyền bí của đại dương từ khơi xa vọng về mỗi lúc một mạnh lên, ồn ã hơn, lúc nghe tựa tiếng súng đại bác gầm, lúc như tiếng xạc xào của những rừng cây khổng lồ, lúc lại nghe như tiếng huyên náo của bao giọng nói quyện vào nhau. Đôi khi tất cả lại bặt đi. Sau đó vọng đến tai ông vài tiếng thở dài não nuột, tiếng nức nở nghẹn ngào, rồi lại những tiếng nổ dữ dội.
Sau rốt, gió xua tan sương mù, song lại dồn về những đám mây đen rách tả tơi che khuất cả vầng trăng. Gió tây thổi mỗi lúc một mạnh. Những con sóng cuồng loạn nhảy chồm lên bờ đá dốc đứng, bọt liếm mãi lên cả vách tường xây. Cơn giông tố ì ầm phía xa. Trong khoảng không gian tối tăm xao động chợt sáng lên những ngọn đèn mầu xanh lá mạ treo trên đỉnh các cột buồm. Những đốm sáng mầu lục ấy lúc nhô lên, lúc chìm xuống, lúc lắc lư sang trái sang phải. Ông lão Xkavinxki đi xuống căn phòng của mình. Giông tố bắt đầu nổi lên ở ngoài kia, trên những con tầu, con người đang phải vật lộn với đêm sâu, bóng tối, sóng biển, nhưng trong căn phòng này vẫn yên ả và tĩnh mịch biết bao.
Thậm chí, ngay cả hồi âm của cơn giông bão cũng bị yếu đi nhiều khi xuyên qua các bức tường dầy; chỉ có tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ như ru đưa ông lão đã quá mỏi mệt vào giấc ngủ miên man. Giờ tiếp giờ, ngày nối ngày, tuần theo tuần cứ thế trôi đi. Dân biển thường kể rằng, thỉnh thoảng, khi biển cả gầm gào dữ dội, họ nghe như có tiếng ai đó gọi tên họ giữa đêm khuya tăm tối. Nếu cái vô biên của biển cả có thể lên tiếng gọi, thì cũng rất có thể, khi con người già đi, một thứ vô biên khác, tăm tối hơn và huyền bí hơn, cũng đã lên tiếng gọi. Con người càng mệt mỏi vì cuộc đời bao nhiêu thì đối với họ những tiếng gọi kia càng trở nên trìu mến bấy nhiêu. Song để có thể nghe thấy tiếng gọi ấy cần có sự yên tĩnh. Thêm nữa, tuổi già thường thích cô đơn, dường như lúc ấy con người đã cảm nhận được hơi hướng của nấm mồ. Đối với ông lão Xkavinxki, cây đèn biển cũng đã như phân nửa nấm mộ. Không gì đơn điệu hơn cuộc sống ngoài tháp đèn. Nếu có đồng ý nhận việc ấy chăng nữa thì chóng hay chầy những người trẻ tuổi cũng sẽ bỏ mà đi. Chính vì thế, người gác đèn thường là những người có tuổi, trầm lặng và kiệm lời. Giá có phải rời cây đèn của mình ra đi kiếm sống giữa đồng loại, người gác đèn sẽ ngơ ngơ ngác ngác như kẻ mới vừa bị đánh thức giữa giấc ngủ say. Trên tháp đèn thiếu đi mọi thứ ấn tượng vặt vãnh tạo nên vóc dạng của đời thường. Hàng ngày, người gác đèn tiếp xúc với toàn những mông mênh, không hình thù nhất định.

Trời là một, biển là hai, còn ở giữa hai thứ vô biên ấy là một hồn người cô đơn, ấy là kiểu cuộc sống, trong đó sự suy nghĩ biến thành một nỗi trầm tư miên man. Không có gì, thậm chí cả công việc, có thể đánh thức người gác đèn khỏi nỗi trầm tư đó.
Ngày nọ giống hệt ngày kia như hai hạt cườm trong cùng một chuỗi hạt, và sự thay đổi thời tiết là thứ duy nhất đổi thay. Song ông lão Xkavinxki chưa bao giờ thấy hạnh phúc đến thế. Lão thường dậy sớm, điểm tâm, lau chùi thấu kính của ngọn đèn pha, rồi sau đó ngồi mãi ở ban công nhìn đăm đắm ra khơi xa. Ông lão ngắm không biết chán những cảnh tượng diễn ra trước mắt. Trên cái phông màu xanh thẳm của biển cả thường nổi lên hàng đàn cánh buồm no gió phồng căng, chói lọi trong ánh mặt trời, khiến ông lão phải nheo mắt lại. Đôi khi, những chiếc tàu thuận mậu dịch phong giăng thành một dây dài nom giống hệt một chuỗi chim hải âu bay hải bằng.
Những cái phao tiêu màu đỏ đánh dấu luồng lạch khoan thai lắc lư theo sóng. Hàng ngày, vào chính ngọ, giữa những lá buồm, thấp thoáng hiện ra một cột khói khổng lồ màu xám. Đó là chiếc tàu thuỷ chở hành khách và hàng hoá chạy từ New York đến Axpinoan, để lại sau đuôi một dải nước ngầu bọt.
Từ phía bên kia ban công, ông lão Xkavinxki nhìn thành phố Axpinoan rõ như trên lòng bàn tay, với các bến cảng náo nhiệt của nó, với một rừng cột buồm và những tàu thuyền lớn bé. Xa hơn nữa là những ngôi nhà màu trắng toát và các đỉnh tháp nhọn hoắt của thành phố. Nhìn từ đỉnh tháp đèn, những ngôi nhà nhỏ xíu hệt như những tổ chim hải âu, thuyền bè nom như những con bọ sừng, còn người thì giống như chấm nhỏ li ti di động trên mặt đường lát đá màu trắng. Sáng sớm, làn gió đông nhẹ thổi, mang tới tai ông những thanh âm của cuộc sống loài người, trên đó nổi bật lên những tiếng còi tàu trầm bổng... Vào chính ngọ là giờ nghỉ trưa, toàn bộ khu cảng như ngừng hoạt động, những con chim hải âu ẩn vào các hốc đá, sóng yếu đi và trở nên biếng nhác. Vào lúc ấy, trên bờ, trên biển, cũng như trên tháp đèn, bao trùm một giây phút im lặng tuyệt đối. Những bờ cát vàng óng nhô lên khi sóng rút ra xa trông giống hệt như những đồ vật bằng vàng ròng đặt trên mép nước, cột tháp nổi bật trên nền trời màu thanh thiên. Từng luồng ánh sáng mặt trời dội từ trên cao xuống mặt nước, xuống bờ cát và vách đá dốc đứng. Khi ấy, ngay cả ông lão cũng như chìm vào một sự mỏi mệt đầy dịu ngọt. Ông cảm thấy được nghỉ ngơi một cách thật tuyệt diệu, và khi nghĩ rằng cảnh đời ấy sẽ còn kéo dài mãi thì ông chẳng thiết điều gì khác nữa. Ông lão thoả mãn với niềm hạnh phúc của mình. Song bản tính con người thường mau quen với số phận khi nó tốt đẹp hơn, nên lòng tin của ông lão ngày càng lớn lên. Ông nghĩ rằng nếu con người còn biết xây nhà an dưỡng cho các cựu chiến binh thì lẽ nào Chúa chẳng dành cho ông lấy một chỗ? Thời gian trôi đi, ông càng ngày càng tin vào điều đó. Ông sống đằm thắm với cây tháp, với ngọn đèn, với bờ đá dốc đứng, với những cồn cát và với nỗi đơn côi. Ông quen với những con chim hải âu thường chao lượn trên bãi đá và chiều chiều tụ họp trên nóc tháp đèn. Ông lão thường ném cho chúng những mẩu thức ăn thừa, chúng nhanh chóng quen thuộc với ông, đến nỗi về sau, mỗi khi ném thức ăn cho chúng, ông lão như bị vây bọc giữa một cơn bão những cánh chim trắng toát. Lão đi giữa bầy chim như mục đồng đi giữa đàn cừu của mình. Khi thuỷ triều xuống, ông lão thường lần ra các cồn cát để tìm bắt những con ốc biển ngon lành và nhặt những chú trai ngọc bị sóng đánh dạt vào. Ban đêm, dưới ánh trăng và ánh sáng ngọn đèn biển, ông đi kiếm cá vốn rất sẵn ở ven các bãi đá. Ông lão yêu hòn đảo trần trụi của mình, hòn đảo chỉ mọc lưa thưa toàn nhưng loài cây bé nhỏ, thân đẫm nhựa đặc quánh. Sự cằn cỗi của đảo được phong cảnh vùng quanh đấy bù đắp lại.
Vào những giờ ban trưa, khi bầu không khí trở nên trong suốt, từ đây có thể nhìn thấu toàn bộ vùng eo đất hẹp suốt sang tận Thái Bình Dương, một vùng đất trù phú mọc đầy cây cỏ tốt tươi. Những lúc ấy, ông lão Xkavinxki tưởng như trước mắt là cả một khu vườn lớn.
Những chùm dừa và sao sao khổng lồ kết thành những vòng hoa đầy đặn đến ngon lành, nằm ngay tiếp sau các ngôi nhà của Axpinoan. Xa hơn nữa, vùng giữa Axpinoan và Panama có thể thấy cả một khu rừng bạt ngàn, trên đó nổi bật lên những đám mây đỏ rực rỡ vào sáng sớm hay hoàng hôn. Đó là một khu rừng nhiệt đới thật sự, với làn nước lặng lẽ sát bên chân, dây leo quấn chằng chịt, với những cây sứa, cọ, thiết mộc, cao su, phong lan, rì rào không ngớt.
Qua chiếc ống nhòm công vụ của mình, ông lão không chỉ nhìn thấy các thân cây to, những tầu lá chuối rộng bản, mà còn trông thấy hàng đàn khỉ, hàng đàn chim ông lão và hàng đàn vẹt chốc chốc lại đột ngột bay vụt lên như một đám mây ngũ sắc bên trên khu rừng. Ông lão Xkavinxki biết rõ những khu rừng như thế, bởi sau khi chiếc bè của ông bị vỡ tung trên sông Amazôn, ông đã từng lặn lội nhiều tuần liền trong vòm cây cối rậm rì xanh thẳm đó. Ông hiểu rõ biết bao mối nguy hiểm, bao nhiêu cái chết ẩn náu dưới tán lá tuyệt vời trông như tươi cười kia. Trong những đêm lần mò giữa rừng sâu, ông lão từng nghe tiếng vượn hú thảm thiết cùng tiếng heo gầm gào. Ông đã từng gặp những con trăn khổng lồ vặn vẹo thân mình dài ngoẵng trên cây, ông biết rõ những cái hồ vẻ ngái ngủ trong rừng song trong lòng chứa đầy cá sấu và cá đuối điện. Ông lão hiểu rõ lắm kiếp sống cơ cực của con người trong những khu rừng hoang vu thăm thẳm ấy, nơi có những chiếc lá rộng gấp hàng chục lần thân người, nơi dầy đặc những đàn muỗi khát máu, nhung nhúc những con vắt háu đói và những con nhện độc khổng lồ. Chính ông đã từng trải qua, đã từng nếm phải, từng chịu đựng tất cả những thứ đó, nên giờ đây, khi từ trên cao nhìn xuống cái địa ngục ấy, ông cảm thấy niềm sung sướng của một con người có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nó mà không bị một mối hiểm nguy đe dọa. Cái tháp đèn bảo vệ cho ông tránh được mọi sự dữ. Cũng chính vì vậy ông chỉ rời khỏi tháp đèn của mình vào sáng chủ nhật mà thôi. Khi ấy ông thắng bộ lễ phục màu xanh thẫm với những chiếc khuy bạc, gắn lên ngực áo các loại huân chương, và mái đầu màu ngà ngẩng cao trong một niềm tự hào.
Khi ra khỏi nhà thờ ông nghe thấy tiếng xì xào tán thưởng của đám người Krêôn: “Chúng ta có một tay gác đèn bảnh thật!”.
“Mà ông ấy chẳng hề ra vẻ chút nào, mặc dù là dân Mẽo”. Sau lễ mi xa, ông lão quay về với tháp đèn, đầy hạnh phúc, bởi ông vẫn chưa dám đặt lòng tin vào đất liền. Cũng thường vào chủ nhật, ông đọc tin tức ở một tờ báo tiếng Tây Ban Nha mua trong phố hoặc tờ Diễn đàn New York mượn của ngài Fancôbritgiơ, và tỉ mẩn dò tìm những mẩu tin về châu Âu. Ôi, trái tim già tội nghiệp! Ở trên ngọn tháp đèn tít tận bán cầu xa xôi này vẫn đập về quê hương... Đôi khi, lúc chiếc thuyền chở thức ăn và nước uống ra đảo cho ông, ông lão từ tháp đèn lần xuống chuyện gẫu với gã Giônx, người canh gác cảng.

Nhưng rồi một thời gian sau đó, ông có vẻ trở nên hoang dã dần đi. Ông thôi không còn lai vãng vào phố, thôi đọc báo chí và cũng thôi những câu chuyện thời thế với gã Giônx. Hàng tuần liền chẳng ai nhìn thấy ông, mà ông cũng chẳng gặp người nào.
Dấu hiệu duy nhất chứng tỏ ông vẫn còn sống là lương thực người ta để lại trên bờ đá cho ông được lấy đi và ánh sáng ngọn đèn biển vẫn được đốt lên một cách đều đặn như mặt trời xứ này đều đặn nhô lên từ mặt biển. Hình như ông đã hoàn toàn dửng dưng với cuộc đời. Nguyên nhân của sự dửng dưng đó không phải là nỗi hoài vọng cố hương, mà ngay cả nỗi hoài vọng kia cũng dần nhuốm màu tuyệt vọng. Giờ đây, đối với ông, cả thế giới bắt đầu và kết thúc chính ngay trên hòn đảo này. Ông vui sướng với ý nghĩ là cho đến lúc chết sẽ không bao giờ phải rời khỏi ngọn tháp đèn, ông hầu như quên hết thảy mọi thứ khác trên đời ngoài tháp đèn của mình. Ông trở nên mê tín, cặp mắt xanh hiền hậu của ông ngày càng giống đôi mắt trẻ thơ, cứ nhìn đăm đắm vào một chốn xa xăm nào đó. Trong cảnh cô đơn triền miên, sống giữa quang cảnh vừa rất mực hoang sơ và vừa vô cùng khoáng đạt, ông mất dần đi cảm giác về bản thân mình, ông gần như thôi không còn tồn tại như một cá thể độc lập nữa, mà ngày càng hoà nhập, ngày càng tan lẫn vào môi trường chung quanh. Thực ra ông cũng chẳng ý thức được điều đó mà chỉ cảm nhận nó, song rốt cuộc, đối với ông, cả bầu trời, mặt nước, hòn đảo đá, ngọn tháp đèn, những cồn cát vàng óng, những cánh buồm no gió phồng căng, cả lũ chim hải âu cùng làn nước thuỷ triều lên xuống... tất cả hoà thành một khối duy nhất, mênh mông, một linh hồn bao la, huyền bí, và chính ông cũng đắm trong cảnh sống đặc biệt ấy, chính trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê ấy, ông lão tìm thấy cho mình một nỗi yên tĩnh vô biên, nỗi yên bình của một kẻ đã gần đất xa trời.

Nhưng rồi sự tỉnh thức vẫn cứ đến.
Hôm ấy, khoảng một giờ sau khi chiếc thuyền chở thức ăn và nước uống cặp đảo, ông lão Xkavinxki mới lần từ tháp đèn xuống lấy hàng, và ông chợt nhận thấy ngoài những thứ thường ngày còn có thêm một cái gói nữa.
Trên mặt vải thô dây bọc bên ngoài có dấu bưu cục Mỹ và nổi bật địa chỉ: “Ngài Xkavinxki”. Ngạc nhiên, ông rọc lần vải bọc ngoài và trông thấy mấy quyển sách. Tay run run, ông cầm lên một quyển nhìn lướt qua rồi lại thẫn thờ đặt xuống. Ông lấy tay dụi mắt, dường như không thể tin vào chính mắt mình, ông ngỡ như mình đang mơ - bởi vì đó là một cuốn sách tiếng Ba Lan!
Chuyện gì thế này? Ai có thể gửi sách cho ông cơ chứ? Thoạt đầu, ông lão không thể nhớ ra được là một lần nọ - ngay từ hồi đầu cuộc đời gác đèn biển của mình - ông đọc trong tờ “Diễn đàn” mượn được, tin về việc thành lập Hội liên hiệp kiều bào Ba Lan tại New York, và ông đã lập tức gửi ngay nửa tháng lương của mình cho Hội (thực ra, ngoài tháp đèn, ông lão cũng chẳng biết dùng tiền vào việc gì). Hội liên hiệp cảm cái ơn ấy nên đã gửi sách biếu ông.
Sách được chuyển theo cách thức thường tình nhất, song thoạt tiên, vì choáng váng, ông lão không nhớ ra chuyện ấy. Đối với ông, những quyển sách tiếng Ba Lan ở Axpinoan, trên cái tháp đèn của ông, trong nỗi cô đơn vô bờ của ông - là một chuyện siêu phàm, một việc thần kỳ nào đó, giống như chuyện cổ tích.
Như những người thuỷ thủ nọ nghe tiếng gọi của biển giữa đêm sâu thăm thẳm, giờ đây ông lão ngỡ như nghe thấy một tiếng nói yêu thương lắm, gần như đã bị lãng quên rồi, lên tiếng gọi tên mình. Ông lão lặng người đi, mắt nhắm nghiền, ông tin chắc rằng khi mở mắt ra thì giấc mơ nọ sẽ tan biến.
Nhưng không. Cái gói bị rọc vẫn đang hiển hiện nguyên vẹn trước mắt ông kia, nhuộm ánh hoàng hôn, và trên đó là quyển sách mà ông đã mở ra.
Giữa sự im lặng mênh mông của chung quanh, ông lão nghe rõ tiếng đập gấp gáp của trái tim mình khi lại chìa tay cầm lấy quyển sách. Đó là một tập thơ.
Phía trên là tiêu đề in bằng thứ chữ lớn, còn phía dưới là tên tác giả, cái tên không hề xa lạ với ông lão Xkavinxki. Lão biết đó là tên một nhà thơ lớn, nhà thơ có tác phẩm mà ông lão đã từng được đọc ở Paris hồi sau năm ba mươi. Rồi sau đó, trong những ngày chiến đấu ở Angiêri và Tây Ban Nha, ông nghe các bạn đồng hương bàn tán về danh tiếng ngày càng lớn của nhà thơ vĩ đại ấy, song hồi đó, tay ông đã quen với khẩu súng đến nỗi ông chẳng hề mó tới sách vở bao giờ. Năm bốn mươi lăm, ông lão sang Mỹ, và trong suốt cuộc đời dọc ngang sau đó của mình gần như ông không hề được gặp một người đồng hương nào, cũng chẳng được thấy một quyển sách Ba Lan nào cả. Chính vì thế, giờ đây trái tim ông đập dập dồn hơn và bàn tay ông càng lẩy bẩy hơn khi lật trang đầu sách. Trên đảo đá cô đơn của ông hình như đang diễn ra một điều gì đó hết sức trọng thể. Giây phút ấy mới thanh bình và yên tĩnh làm sao. Các đồng hồ lớn ở Axpinoan điểm chuông năm giờ chiều. Bầu trời trong sáng không một gợn mây, thoáng vài cánh hải âu chao lượn trong sắc xanh thăm thẳm. Đại dương đưa ru dìu dặt. Những con sóng khe khẽ rì rào lan trải êm dịu theo ven bờ cát. Phía xa nổi bật những ngôi nhà màu trắng chói lọi của Axpinoan và vút cao lên những khóm cọ đẹp tuyệt vời. Quả có một cái gì đó trọng thể, trang nghiêm và lặng lẽ. Giữa cái yên tĩnh của thiên nhiên chợt vang lên giọng run run của ông lão: ông đọc thành tiếng những vần thơ, dường như để có thể thấm thía hơn ý nghĩa của chúng.

Hỡi Litva! Tổ quốc ơi! Người như sức khoẻ,
Ai đánh mất rồi mới hiểu Người quí giá dường bao
Hôm nay con ngợi ca Người, diễm kiều và rạng rỡ,
Con tưởng thấy Người trong nhung nhớ khát khao. [3]
Ông lão Xkavinxki nghẹn ngào. Những dòng chữ nhảy múa trước mắt ông. Trong ngực ông dường như có thứ gì đó chợt bục ra và  một làn sóng từ trái tim như dâng lên, dâng cao mãi, khiến ông nghẹn lời... Mãi một lúc sau ông mới trấn tĩnh lại và đọc tiếp:
Hỡi thánh nữ đồng trinh, xưa Trenxtôkhôva từng che chở,
Và cổng thành Oxtra tùng chiếu sáng khi nao.
Từng bảo vệ cho con dân thành Nôvôgrôt
Như đã cứu đời con thơ ấu thuở nào
(Lúc mẹ mang xác con tới khóc dâng Người,
Thì mắt chết của con chợt mở bừng như phép lạ,
Chân núi bước đi, đến ngưỡng cửa thánh đường Người
Để cảm tạ Chúa Trời, sự sống con đã trả)
Một ngày kia Mẹ cũng sẽ mang con về với lòng Tổ quốc.

Làn sóng cuồn cuộn dâng cao, phá tung đập chắn của ý chí. Ông lão nức lên, ngã nhoài ra đất. Mái tóc bạc của ông xoã lẫn vào với cát. Ngót bốn mươi năm ông không được nhìn thấy đất nước, hoạ chỉ có Chúa mới hay đã bao năm nay ông không được nghe tiếng nói quê hương, ấy thế mà giờ đây, chính tiếng nói ấy lại tự đến với ông, băng qua cả đại dương mênh mông, tìm thấy ông mãi tận tít bán cầu bên kia, ôi tiếng nói yêu thương, thân thiết, tuyệt vời! Trong cơn nức nở rung chuyển cả thân mình ông không hề có nỗi đau, chỉ có một tình yêu vô biên chợt thức tỉnh, bên cạnh tình yêu ấy, mọi thứ khác đều trở nên vô nghĩa... Dường như qua tiếng nức nở ấy ông lão muốn xin Tổ quốc thân yêu xa xôi hãy tha lỗi cho ông, bởi ông đã già đến thế, đã mải vui thú đến thế với hòn đảo đá cô đơn của mình, đã đinh ninh rằng ngay cả lòng nhớ nhung Tổ quốc rồi cũng sẽ bị nhạt đi...
Giờ đây, khi ông lão đã “được trở về bằng một phép nhiệm màu” trái tim của ông chợt lên tiếng nói. Giờ phút nối nhau trôi đi, ông lão vẫn nằm yên không nhúc nhích. Những con chim hải âu bay lượn chao đảo chung quanh tháp đèn kêu lên xao xác dường như lo lắng cho người bạn già của chúng.
Đã đến giờ ông thường ném vụn thức ăn cho chúng nên một số con bay từ đỉnh tháp xuống sát chân ông. Sau đó, chúng kéo tới mỗi lúc một đông thêm và bắt đầu mổ khẽ vào người ông, cánh đập rối rít trên đầu ông lão.
Tiếng đập cánh ồn ào thanh thản và rạng rỡ, đôi mắt ông như tràn đầy cảm hứng. Ông ném cho lũ chim toàn bộ số thức ăn, và mặc chúng tao tác chia nhau, ông lại với lấy quyển sách. Mặt trời đã vượt sang bên kia khu vườn cùng cánh rừng hoang Panama và đang lặn dần sau eo đất giữa đại dương bên kia, song Đại Tây Dương hãy còn ngập tràn ánh nắng, bầu không khí vẫn sáng rực.

Ông lão đọc tiếp:
Lúc này đây xin hãy mang trái tim con khát khao nhung nhớ
Về với những đỉnh núi rừng, những đồng cỏ xanh kia...
Mãi lúc ấy, hoàng hôn mới xoá nhoà dần những nét chữ trên mặt giấy trắng, thứ hoàng hôn ngắn ngủi như một chớp mắt. Ông lão tựa đầu vào một tảng đá, khẽ nhắm mắt lại. Và khi ấy, “Thánh nữ đồng trinh từng bảo vệ Trenxtôkhôva” mang hồn ông về với “những cánh đồng lúa hắc mạch đẹp như tranh”. Trên trời hãy còn lưu lại những vệt sáng đỏ và vàng, ông lão bay theo những con đường ánh sáng ấy về phía phương trời thân yêu.
Ông nghe thấy tiếng rì rào của những rừng tùng bách, tiếng róc rách của những dòng sông quê hương. Mọi vật vẫn giống hệt như ngày xưa. Mọi vật hỏi ông lão: “Ông còn nhớ chứ?”. Ông nhớ chứ! Chính ra, ông vẫn đang nhìn thấy rõ ràng ngay trước mắt này là những cánh đồng ruộng mênh mông với những bờ ruộng dọc ngang, này là những đồng cỏ, những cánh rừng, làng mạc. Đã là đêm rồi ư? Thường vào giờ này, ngọn đèn pha của ông đã chiếu sáng đêm đen trên biển, song lúc này đây ông lại đang ở làng quê ông. Mái đầu già nua gục xuống ngực mơ màng.
Những bức tranh kéo nhanh và khá lộn xộn qua trước mắt ông. Ông không trông thấy mái nhà mình đâu cả, bởi chiến tranh đã khiến nó trụi đi, ông cũng không nhìn thấy mẹ cha, hồi song thân khuất núi khi ông hãy còn là đứa trẻ. Song ông nhìn thấy làng mình rõ như ông chỉ vừa mới rời làng ngày hôm qua mà thôi; một dãy dài những ngồi nhà với các ô cửa sáng đèn, con đập, cái cối xay, hai chiếc ao cạnh nhau đêm đêm vang lên những dàn đồng ca uềnh oàng của lũ ếch nhái.
Đã từng có lúc ông lão thức canh làng ban đêm, giờ đây kỉ niệm ấy chợt sống lại trong một chuỗi hình ảnh. Này đây, ông lại là chàng lính khinh kỵ, trẻ măng đang đứng canh... Từ phía xa, quán rượu mở những con mắt rực lửa, vang tiếng hát ca, tiếng gót giầy nện rầm rập giữa cái tĩnh mịch của đêm thanh, giọng vĩ cầm và baxet nỉ non. “U-ha! U-ha!” Đó là toán lính khinh kỵ, phi ngựa nhanh vun vút lửa toé ra dưới móng, chỉ có ông phải ngồi một mình đến phát ngán trên lưng chiến mã nơi đây! Thời gian biếng nhác trôi đi. Mãi rồi những ánh đèn cũng tắt đi, trước mắt giờ chỉ có sương mù dầy đặc. Hơi nước từ đồng cỏ bốc lên bao trùm gian thế trong một màn mù màu trắng đục. Bạn có thể bảo: trông hệt như đại dương. Song đó chẳng qua chỉ là cánh đồng cỏ thôi, chỉ cần chờ một chút, chim cuốc sẽ lên tiếng kêu trong bóng đêm. Thỉnh thoảng tiếng vạc kêu sương vang lên giữa những nhóm lau lách. Đêm thanh bình và mát lạnh, đêm đích thực Ba Lan! Tuy im gió, nhưng xa xa những rừng thông vẫn xạc xào... như sóng biển.
Chẳng mấy chốc ánh bình minh đã nhuộm sáng phương đông: gà đã cất tiếng gáy vang trong chuồng, con nọ đáp tiếng con kia, lan từ nhà này sang nhà khác, đâu đó tít trên cao, đàn sếu để rớt lại những tiếng kêu than.
Người lính khinh kỵ thấy tỉnh táo và tràn trề sinh lực. Người ta đang kháo nhau chi đó về trận chiến đấu ngày mai. Nào, nếu vậy anh cũng sẽ xông lên như những người khác, cũng thét lên trong tiếng cờ bay phần phật!
Mặc hơi gió đêm se lạnh, dòng máu thanh xuân vẫn sôi lên trong huyết quản như nhịp kèn xuất kích. Nhưng trời đã sáng rồi! Đêm mờ dần, những lùm cây, dãy nhà tranh, chiếc cối xay, những cây bạch dương hiện ra từ trong bóng đêm. Tiếng cần vọt nước ở giếng rít lên như chiếc chong chóng bằng sắt tây trên đỉnh tháp.
Ôi mảnh đất quê hương yêu dấu, Người biết mấy tuyệt vời trong ánh hồng rực rỡ của bình minh!
Ôi mảnh đất quê hương duy nhất, duy nhất của ta!

Khẽ nào! Người lính canh cảnh giác nghe thấy có ai đang đi lại gần. Hẳn người ta đến để bãi gác. Đột nhiên, tiếng ai đó vang trên đầu ông lão Xkavinxki:
- Này! Cụ già! Dậy đi chứ. Cụ làm sao thế? Ông lão mở mắt ra kinh ngạc nhìn người đang đứng trước mặt. Trong đầu lão, những mảnh cuối cùng của giấc mơ đang còn tranh chấp với thực tại.
Cuối cùng, những ảo ảnh mờ đi và tan mất. Trước mắt ông là gã Giônx người gác cảng.
- Sao thế? - gã Giônx hỏi - Cụ ốm à?
- Không.
- Cụ không thắp đèn pha. Cụ sẽ bị đuổi. Một chiếc thuyền từ Ghêrômô bị đâm phải bãi cạn. May không có ai chết đuối, nếu có cụ phải ra toà. Lên thuyền đi với tôi, tới lãnh sự quán cụ sẽ biết nốt sự tình.
Ông lão tái người: đúng là đêm qua ông không thắp đèn pha.

Vài ngày sau, người ta thấy ông lão Xkavinxki trên boong chiếc tầu thuỷ rời Axpinoan đi New York.
Ông lão đáng thương đã bị mất việc. Những chặng đường lang thang mới lại mở ra trước lão; một lần nữa, gió lại dứt tung chiếc lá héo khô, thổi bay qua đất liền và biển cả để thoả sức hành hạ. Trong mấy ngày đó, ông lão già đi, lưng còng xuống, riêng mắt ông vẫn lung linh sáng. Trên những nẻo đường vô định mới của cuộc đời, ông lão mang theo trên ngực quyển sách của mình, thỉnh thoảng ông lại đưa tay ghì chặt lấy như sợ rằng ngay cả nó cũng có thể bị mất đi.

Chú thích
[1] Nguyên văn: rộng khoảng 1 morga. Morga là đơn vi đo diện tích cổ, bằng 5600 mét vuông.
[2] Dòng dõi những người châu Âu di cư sang châu Mỹ La tinh, không lai với người da đen, da trắng.
[3] Đây là tác phẩm "Pan Tadeus" của thi hào Ađam Mixkiêvich (1798-1855) nhà thơ vĩ đại của nhân dân Ba Lan. Tác phẩm thi ca của ông tràn ngập lòng yêu nước.

NGUYỄN HỮU DŨNG dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sat Oct 07, 2017 11:01 am



QUAN CHÁNH ÁN

Rabindranath Tagore
(Nobel 1913)


Sau nhiều chuyện dan díu, Khirôđa tuy không còn trẻ lắm xong vẫn kiếm được một bạn trai mới để cưu mang mình, nhưng rồi chẳng bao lâu cả người này nữa cũng lại bỏ rơi chị như người ta vẫn vứt một tấm áo cũ. Chị cảm thấy ê chề, nhục nhã, và một lần nữa lại phải đi tìm một chốn nương thân khác để có miếng ăn hàng ngày.

Cũng như mùa thu, đoạn cuối tuổi thanh xuân đến với ta như một thời kỳ êm đềm, đầy quyến rũ, ở đó quả cây cuộc đời như hạt thóc đang chín vàng trong một bầu không khí êm ả, thanh thản. Những náo động của tuổi trẻ không còn thích hợp với thời kỳ này nữa. Nền tảng của cuộc đời ta ít nhiều đã được xây dựng vững chắc, nhân cách của ta đã được phát triển qua những khổ đau và vui sướng, trong một thế giới mà cái ác cũng như cái thiện đã hình thành nên tính cách ta. Đến lúc đó, ta đã rút bỏ các ước vọng của ta ra khỏi cái vương quốc kỳ ảo ở ngoài tầm tay và đặt chúng vào trong ranh giới của những sự việc có thể thành hiện thực. Ta không còn khả năng thu hút những ánh mắt choáng ngợp của một người tình trẻ, nhưng ta trở nên thân thiết hơn đối với những người quen biết cũ. Trong khi vẻ rực rỡ của tuổi trẻ chầm chậm tàn phai thì nội tâm, vốn không biết đến tuổi già, biểu lộ trên nét mặt và trong ánh mắt, bởi đã từng trú ngụ lại những nơi đó lâu dài.
Nụ cười ánh mắt và tiếng nói, tất cả đều hoà hợp với nhau ở con người và nội tâm con người.
Ta từ bỏ hy vọng về tất cả những gì đã không đạt được, và không còn
thương khóc nữa những ai đã rời xa ta. Ta tha thứ cho những kẻ đã làm ta thất vọng, nhưng còn có những người khác ở gần ta hơn, yêu mến ta thì ta gắn bó với họ. Những người còn ở lại với ta sau những bão táp, những tang tóc, những chia ly, ta kéo họ lại và cùng nhau xây dựng những tổ ấm vững chãi, giữa tình yêu thương của các bạn bè cũng tin cẩn, chắc chắn; chính ở đó, mọi nỗ lực của ta dừng lại và các ước vọng của ta được thực hiện.

Trong buổi chiều êm ái đó của tuổi trẻ, khi đến thời gian dành cho những niềm vui yên tĩnh, không gì bi đát cho bằng lại phải bắt đầu tạo lập những mối quan hệ mới, tìm những người quen biết mới, lao vào những cố gắng phù phiếm để gây dựng những mối liên hệ mới, dốc sức vào công việc tìm kiếm mỏi mệt và không biết đến đâu là cùng để có một cái gì vững chắc.
Thật đáng buồn cho số phận của ai đó ngay đến thời kỳ này vẫn không có một chiếc giường để ngả lưng, một ngọn đèn thắp sáng đón mình lúc bước chân về nhà ban tối.
Khirôđa nay đã đến đoạn cuối của thời thanh xuân. Một buổi sáng, chị thức dậy để nhận ra người tình đã bỏ trốn hồi đêm, cuỗm theo tất cả tiền bạc và các đồ trang sức của mình. Chị không còn chút gì để trả tiền thuê nhà, và cả để mua sữa cho đứa con trai mới lên ba.
Chị bỗng hiểu ra rằng trong suốt ba mươi tám năm của cuộc đời, chị đã không gầy tạo được cho mình một người bạn thân nào, không có lấy một nếp nhà riêng nào để sống và để chết. Và một lần nữa, hôm nay chị lại phải gạt nước mắt, tô hai hàng mi, quệt son lên môi, đánh phấn hồng lên má che giấu tuổi xuân tàn dưới một dáng dấp giả tạo, và kiên nhẫn bền bỉ đi bẫy những trái tim mới bằng những nụ cười.
Khi nghĩ đến tất cả những chuyện đó, chị không sao chịu nổi. Chị đóng cửa lại và lăn ra nhà, đập đầu xuống đất mãi không thôi. Suốt một ngày, chị cứ nằm sóng soài như thế, không ăn uống, như người chết dở. Tối đến căn buồng không ánh sáng mỗi lúc một tối đen.
Ngay lúc ấy, như đã từng xảy ra, một người tình cũ đến gõ cửa gọi: “Khirô ! Khirô!”. Khirôđa lao ra ngoài cửa, tay cầm một cán chổi, gầm lên như một con hổ cái. Người bạn tình trẻ tuổi kia vội lủi mất.
Đứa con chị khóc mãi vì đói đã chui vào gầm giường ngủ thiếp đi. Tiếng động làm nó tỉnh dậy và lại khóc, gọi mẹ trong bóng tối: “Mẹ ơi, mẹ”.
Khirôđa bế thốc đứa con đang khóc lên, ghì chặt vào ngực, chạy nhanh về phía cái giếng gần nhà, gieo mình xuống giếng.
Nghe tiếng rơi hàng xóm láng giềng cầm đèn chạy đến xúm quanh miệng giếng. Không để mất thời gian, họ lôi lên được hai mẹ con. Khirôđa mê man bất tỉnh còn đứa trẻ thì đã chết.
Chị được đưa vào bệnh viện và ít lâu sau bình phục. Sau đó chị bị quan toà khép vào tội giết người.

Môhit Môhan Đút là một quan toà nghiêm khắc. Ông đòi xử thật nặng và khép chị vào tội bị treo cổ. Các thầy cãi bàn luận về tình huống xảy ra hành động của người đàn bà tội nghiệp, cố tìm cách cứu lấy mạng chị nhưng không được. Quan chánh án dứt khoát coi chị không đáng được hưởng một sự khoan hồng nào.
Có một lý do khiến ông không thể khoan hồng.
Trước hết, ông gọi tất cả phụ nữ Ấn đều là nữ thần. Nhưng mặt khác, ông không tin một chút nào ở họ. Theo cách suy nghĩ của ông, phụ nữ có quá nhiều xu hướng phá vỡ các sợi dây gắn bó với gia đình, và chỉ cần hơi lỏng kỷ luật một chút là chẳng bao lâu sẽ không còn một người phụ nữ gia giáo nào trong cái lồng xã hội.
Còn một lý do khác khiến ông đi đến quyết định trên. Để bạn đọc được biết lý do này, chúng tôi thấy cần phải kể lại một phần tiểu sử của Môhit Môhan hồi trẻ.

Khi Môhit học năm thứ hai bậc trung học, ông hoàn toàn khác bây giờ, cả ở con người lẫn cách sống. Bây giờ, Môhit có thể khoe cái đầu hói điểm một vài sợi tóc phất phơ đằng sau đỉnh đầu và bộ mặt râu mày nhẵn nhụi.
Xưa kia, với cặp kính trắng gọng vàng, bộ râu và hàng ria mép, mái tóc húi theo kiểu Anh, ông là hình ảnh của vị thần Các tích, vị thần hào hoa sang trọng của người Ấn, theo thời trang thế kỷ XIX.
Anh chàng Môhit thời trẻ chăm chút từng ly từng tí đến cách ăn mặc,
không nề hà thịt rượu, và ngoài ra còn có một hai tật xấu khác đại loại như vậy.
Gần nhà Môhit là nhà một ông đã đứng tuổi, nguồn thu nhập ít ỏi. Ông ở với một trong mấy cô con gái, cô goá chồng trẻ tuổi, tên là Hemsasi. Cô còn trẻ lắm vì tuổi mới xấp xỉ mười lăm.
Bờ sông xa xa với lùm cây xanh nhạt trông đẹp lung linh như tranh vẽ nhưng khi đặt chân tới nơi thì nó không còn gì mê hồn quyến rũ nữa.
Trong cảnh cô đơn goá bụa ở mảnh đất heo hút này, các quan hệ giữa
người với người diễn ra ở xa như một khu vườn bí hiểm đầy lạc thú đối với Hemsasi. Cô biết đâu rằng hoạt động của thế giới này thật phức tạp và tàn nhẫn, và cũng đâu có biết rằng trong cái thế giới lẫn lộn chằng chịt những đau buồn, mệt mỏi, vui sướng, giàu sang, cũng như những mối ngờ vực, những nỗi hiểm nguy, những niềm ân hận và những khó khăn không cùng. Cô thấy cuộc sống ấy trôi đi nhẹ nhàng như một con suối trong trẻo, rì rầm. Cô những tưởng mọi con đường của thế giới trước mặt cô đều rộng rãi, thẳng tắp và huy hoàng. Cô nghĩ tất cả hạnh phúc đợi chờ ngay ngoài cửa sổ nhà mình. Chỉ có trong trái tim khốn khổ xốn xang của cô các ham muốn không được thoả mãn mới tìm thấy chất nuôi dưỡng chúng. Ngọn gió xuân nhẹ nhè thổi vào từng thớ thịt con người cô, trái đất mênh mông được bao bọc trong một làn hơi ấm áp. Hemsasi có cảm tưởng bầu trời xanh rờn run rẩy theo mỗi rung động của trái tim cô và xung quanh hạt nhân thơm ngát này cả vũ trụ đã xoè mở các nhành hoa của nó.
Ở nhà cô chỉ có bố mẹ và hai đứa em trai. Ăn sáng xong hai đứa em đi học, trưa về ăn cơm rồi lại đi học thêm ở một trường buổi tối gần nhà. Ông bố không kiếm đủ tiền thuê riêng một thầy giáo đến nhà dạy tư.
Những lúc ngơi tay công việc nội trợ, Hemsasi thường ngồi trong gian buồng cô quạnh của mình, đôi mắt buồn mơ màng nhìn người qua lại trên đường cái. Cô nghe thấy những tiếng kêu than the thé của bọn phu khuân vác đi qua. Cô tưởng như mọi khách qua đường đều vui vẻ, ngay cả những người hành khất cũng được tự do và những người bán hàng rong không phải đang vất vả, nhọc nhằn kiếm miếng ăn hàng ngày mà là những diễn viên vui sướng trong một vở kịch diễn trên sân khấu di động của cuộc đời.
Hết sáng đến chiều, lại tối, cô thấy anh chàng Môhit Môhan sang trọng ngạo nghễ đi lại với vẻ kiêu kỳ. Đối với cô, anh là hình ảnh của cái tận thiện tận mỹ của thánh thần, được Thượng đế phú cho mọi tài năng một người đàn ông có thể mong ước ăn diện và điển trai, anh chàng có mọi thứ trên đời và đáng được ban phát mọi thứ. Cũng như con búp bê trở thành người thực đối với em bé chơi búp bê, người goá phụ trẻ phủ lên Môhit một vành hào quang tưởng tượng như thế và đùa giỡn với vị thần mà cô ta tự tạo ra.
Thỉnh thoảng vào ban tối, cô thấy nhà Môhit rực rỡ ánh đèn, nghe thấy tiếng lanh tanh nhè nhẹ của những chiếc chuông nhỏ xinh móc ở các vòng chân các vũ nữ vọng đến cùng với tiếng hát của họ. Thế là Hemsasi ngồi suốt đêm, đôi mắt thèm khát dõi theo những hình bóng chuyển động trên mặt đất.
Trái tim cô bị tổn thương và đập mạnh trong ngực như con chim bị giam giữ trong lồng.
Cô không chê bai và cũng không trách móc vị thần cô đã tự tạo ra về
những trò chơi phóng đãng của anh ta. Như ánh lửa thu hút các con thiêu thân, như một ảo ảnh của các vì sao, ngôi nhà của Môhit tràn ngập ánh sáng và không khí vui vẻ, vô ưu đã hút lấy cô như thôi miên. Lời ca tiếng nhạc tạo ra một ảo ảnh thần tiên. Những ánh đèn cùng những hình bóng, những bài ca từ sân nhà bên ấy vượt sang hoà lẫn với những mơ ước và ham muốn của cô. Cứ thế cô xây lên trong óc tưởng tượng của mình một lâu đài kỳ ảo, và trong cảnh cô đơn giữa đêm khuya, cô đặt thần tượng tôn sùng của mình vào trong đó. Cô say sưa, ngây ngất chiêm ngưỡng nó, và như nén hương đốt trên bàn thờ, cô đem đốt trước hình ảnh đó tất cả tuổi thanh xuân của mình, những giờ phút vui buồn, cuộc sống ở thế giới này và thế giới bên kia, trong ngọn lửa của một khát vọng không sao cưỡng nổi.
Không bao giờ cô có thể tưởng tượng được rằng bên trong gian buồng kia, đằng sau tấm màn che của những đam mê âm ỉ có biết bao nhiêu cặn bã của mệt nhọc, hổ nhục, xấu xa và một cơn đói ghê gớm đang bốc cháy trong một làn hơi nóng bỏng tàn phá linh hồn. Từ xa, người đàn bà goá trẻ không biết rằng, đằng sau ánh đèn rực rỡ của những đêm không ngủ có một sự tàn bạo nhẫn tâm với con mắt ác độc đang đứng rình mồi.
Hemsasi sẽ sống như thế suốt đời, chìm đắm trong những mơ mộng về
một thiên đường giả cùng với vị thần hàng mã của cô nếu như không có chuyện bất hạnh cho cô là vị thần kia quay mặt lại, thiên đường lúc đó chạm đất, bầu trời tan ra thành mảnh vụn và kẻ đã từ bao nhiêu lâu một mình xây nên thiên đường này bây giờ bị ngã gục, nằm sóng soài trong cát bụi.
Một hôm, cặp mắt dâm đãng của Môhit nhìn vào người thiếu phụ choáng ngợp ngồi bên cửa sổ. Sau khi đã gửi cho cô nhiều lá thư dưới cái tên giả “Binốt Chanđra”, anh ta cuối cùng nhận được một bức thư trả lời run rẩy, ngập ngừng, đầy những lỗi chính tả và một tình cảm sâu nặng. Ngày tháng trôi qua đầy dông tố, khi thì say sưa hoặc lo lắng, khi thì chồng chất ngờ vực hoặc hy vọng hão huyền. Trong tâm trí u mê và choáng váng của người gái goá non trẻ, thế giới cứ quay mãi không ngừng cho đến khi nó chỉ còn là một cái bóng và biến mất.
Cuối cùng, con người khốn khổ tội nghiệp kia bỗng bị văng mạnh ra khỏi cái thế giới xoay tròn tít mù của giới đàn ông và bắn ra tít xa. Chúng tôi thấy không cần phải đi vào chi tiết.

Một tối, vào lúc khá khuya, Hemsasi trốn bố, trốn mẹ, trốn các em, cùng với Môhit Môham dưới cái tên giả Binốt Chanđra lên một toa tầu. Thần tượng bây giờ ở ngay cạnh, với tất cả cái chất thô, những sợi rơm, cùng những vật trang trí vàng son. Ngay tức thì cô gần như phát ốm vì hổ thẹn, hối hận, và những muốn chui ngay xuống đất vì tủi nhục.
Sau cùng, khi tầu bắt đầu chuyển bánh, cô phủ phục bên chân Môhit khóc lóc, van xin anh ta đưa về nhà, Môhit vừa lo vừa bực, lấy tay bịt miệng cô.
Bấy giờ con tầu đang lao nhanh trên đường.
Những biến cố trong đời hiện lên dồn dập trong óc kẻ sắp chết đuối, toàn bộ quá khứ được nhớ lại vào giây phút khủng khiếp đó. Ở đây cũng vậy, trong ngăn buồng tối om, kín mít trên tầu, Hemsasi trải qua những giờ phút tương tự. Cô thấy lại tất cả những người thân, người cha khi nào ngồi vào bàn ăn cũng có cô ngồi bên, thằng em út thích được cô dọn cơm cho ăn khi đi học về. Hemsasi nhớ lại những lúc mẹ và cô têm trầu buổi sáng, tối đến mẹ chải đầu cho cô. Mỗi góc nhà, mỗi việc nhỏ trong các công việc hàng ngày hiện lên thân thuộc trong óc cô. Lúc này, Hemsasi thấy cuộc sống cô đơn và ngôi nhà bé nhỏ của mình thực sự là thiên đường: têm trầu, tết tóc, quạt cho bố ngồi ăn, nhổ tóc bạc cho bố những hôm bố nghỉ, chơi đùa với hai thằng em trai, tất cả những điều đó hiện ra với cô như một hạnh phúc hiếm có, đắm chìm trong một bầu không khí êm đềm, yên tĩnh.
Cô tự hỏi: tại sao với chừng ấy báu vật trong cuộc đời người ta vẫn còn có thể cần đến một thứ hạnh phúc khác?
Hemsasi nghĩ giờ này tất cả những người con gái đoan chính đang ngủ tại nhà họ. Trước kia, cô chưa bao giờ hiểu được rằng giấc ngủ như vậy là tuyệt diệu, ngủ say khoẻ khoắn, trong chính gian buồng của mình, trên chiếc giường của mình trong đêm yên tĩnh. Sáng hôm sau, những người con gái ấy thức dậy tại ngôi nhà của họ, bắt tay ngay vào công việc hàng ngày không chút ngập ngừng. Hemsasi giờ đây không còn nhà, cô không biết sau đêm không ngủ này, sáng mai sẽ thức dậy ở đâu. Và ngày mai, trong buổi sáng khốn khổ ấy, cô sẽ phải nếm trải nỗi khổ nhục nào, và bao nhiêu sự lăng nhục, bao nhiêu nỗi ân hận sẽ chồng chất lên cô. Ánh nắng quen thuộc sẽ rọi chiếu xuống một ngôi nhà rất xa, ở một ngách phố nhỏ hẹp, Hemsasi oà khóc trong nỗi khắc khoải của trái tim tan nát, và kêu van, lặp đi lặp lại: “Trời còn tối, mẹ và các em tôi chưa dậy đâu, xin anh hãy đưa tôi về nhà.” Nhưng thần tượng của cô không thèm nghe. Nó đưa cô đi trên một toa tầu hạng hai đến cái thiên đàng mà cô đã mong ước từ bao nhiêu lâu.

Ít lâu sau thần tượng đó rời bỏ con tàu này lên một toa tàu hạng hai khác cũng tồi tàn như toa trước và trốn đi. Người đàn bà bị bỏ rơi chìm ngập trong tủi nhục.
Đó là một trong nhiều sự việc đã diễn ra trong quá khứ của Môhit. Thêm nhiều ví dụ khác nữa sẽ làm cho câu chuyện tẻ nhạt.
Sự việc mà ông ta là nhân vật chính dưới cái tên Binốt Chanđra có lẽ không còn ai nhớ nữa.
Môhit bây giờ là một người sống thanh khiết, tuân theo mọi lễ nghi của đạo Ấn một cách đều đặn, khắc khổ và dành phần lớn thời gian của mình vào việc luận bàn kinh thánh. Ông dạy dỗ con cái theo chế độ Yôga. Phụ nữ trong nhà ông bị đối xử nghiêm khắc, và để được che chở khỏi những cái xấu xa, họ bị giữ chịt trong khuê phòng, nơi mặt trời, mặt trăng và không khí thoáng đãng không được phép len vào.
Vì những sai trái của mình đối với khá nhiều phụ nữ, giờ đây Môhit trừng phạt thật nặng bất kỳ người đàn bà nào phạm phải một lỗi lầm xã hội, dù là bé nhỏ.

Sau buổi kết án tử hình Khirôđa được hai hôm, Môhit vốn thích ăn rau tươi, vào vườn rau nhà tù tự tay hái những thứ rau mà ông thích. Sực nghĩ tới vụ án Khirôđa, tò mò muốn xem người phụ nữ ấy nay có hối hận hay không khi nhớ lại những tội lỗi trong quá khứ xấu xa của mình, ông rẽ vào khu nữ tù.
Từ xa Môhit đã nghe thấy tiếng cãi cọ. Bước vào phòng giam ông thấy
Khirôđa đang cãi nhau với người giám thị, “Đúng là bản tính đàn bà”, ông cười thầm, “cái chết kề cổ mà vẫn không thôi cãi nhau, có lẽ xuống địa ngục họ còn cãi nhau với sứ giả của Thần chết”.
Môhit nghĩ bụng cần lập tức bảo cho chị ta biết điều hay lẽ phải và quở mắng thật nghiêm khắc để chị ta hối cải. Ông bước về phía Khirôđa với ý định đạo đức đó, nhưng vừa nhìn thấy quan toà Khirôđa đã ca thán: “Bẩm quan chánh án, con lạy quan, con xin quan bảo hắn trả lại cho con chiếc nhẫn”. Hỏi ra ông được biết Khirôđa đã giấu trong mái tóc một chiếc nhẫn, tên giám thị tình cờ nhìn thấy đã giữ lấy. Môhit lại cười thầm trong bụng:
“Một hôm nữa thôi là bị treo cổ, thế mà chị ta còn bận tâm đến chiếc nhẫn. Đúng là các đồ trang sức chiếm một chỗ lớn trong đời sống phụ nữ”.
Theo lệnh Môhit, người giám thị trao lại chiếc nhẫn cho ông.
Lật đi lật lại chiếc nhẫn trong tay, ông giật bắn người như đụng phải cục than hồng. Một mặt nhẫn có khảm một bức tiểu hoạ, chân dung một chàng trai trẻ vẽ trên ngà, và mặt kia có dòng chữ “Binôt Chanđra” khắc bằng vàng.
Môhit thôi ngắm chiếc nhẫn và nhìn vào khuôn mặt Khirôđa. Một gương mặt khác hiện lên trong dĩ vãng, xa xăm, hai mươi bốn năm về trước, một gương mặt đẫm lệ, chan chứa yêu thương, rụt rè, nhút nhát. Hai gương mặt có những nét giống nhau dễ nhận ra.

Ông lại nhìn chiếc nhẫn vàng và khi ngước mắt lên, người đàn bà tội lỗi, người đàn bà sa đoạ trước mặt được bọc trong một vầng hào quang. Chiếc nhẫn nhỏ bé đã biến chị thành hình ảnh sáng ngời của một nữ thần.

HOÀNG CƯỜNG dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tue Oct 10, 2017 12:10 am



SERENADE 

George Bernard Shaw
(Nobel 1925)


Kỷ niệm ngày sinh lần thứ 40, tôi tổ chức một buổi diễn kịch, là truyền thống vốn có tiếng từ lâu tại nhà riêng của tôi ở Beckenham. Như lệ thường, kịch bản do tôi tự viết, đó là một câu chuyện cổ tích, gồm ba màn, ý đồ xuyên suốt là tiếng tù và thần diệu của một chàng hoàng tử Ba Tư. Các vở diễn của tôi vốn có tiếng nên cũng không cần phải mô tả tỉ mỉ các diễn biến của chuyện. Tôi chỉ thấy cần phải lưu ý độc giả một chi tiết quan trọng ở màn hai, đó là khi ngày hội bị cắt ngang bởi tiếng tù và của chàng hoàng tử thổi vọng lên từ giữa lòng núi nam châm, nơi chàng bị mụ phù thuỷ gian ác cầm tù. Tôi đã mượn một nhạc công thổi kèn coócnê từ dàn nhạc của tôi đến thổi kèn co thay cho tiếng tù và. Anh ta sẽ được ngồi không phải ở trước sân khấu mà là bên dưới nhà, trong gian đại sảnh, nhằm tạo ra một ấn tượng về một khoảng cách xa xăm.
Cuộc vui bắt đầu khá suôn sẻ. Có thoáng vẻ thất vọng hiển nhiên khi mọi người được biết tôi sẽ không sắm vai trong vở diễn. Nhưng khách khứa cũng vui vẻ thể tất khi nghe tôi trình bày nghĩa vụ hai mang của mình, vừa là chủ nhà lại vừa là đạo diễn.

Chỗ ngồi tốt nhất trong phòng diễn dành cho nàng Linda Fitznightingale kiều diễm. Ghế cạnh đó tôi định để cho mình đã bị chàng Porcharlester êm thấm chiếm mất. Đó là một người đàn ông trẻ nhã nhặn, có chút khiếu của một giọng nam trung yếu nhưng lại không đủ chuyển sang một giọng nam trầm.
Bởi thẩm mỹ âm nhạc của nàng Linđa rất cực đoan nên trong mắt nàng, thành tích ít ỏi của chàng Porcharlester khiến anh ta chiếm được chút ưu thế hơn so với những người đàn ông tử tế và già dặn khác. Tôi quyết định cắt ngang cuộc chuyện trò của họ khi vừa được rảnh rang ít phút. Đã thành lệ là tôi luôn tự mình trông nom quá trình buổi diễn, cho đến khi nào mọi cái đã đâu vào đấy. Đến nỗi cuối cùng cô Waterloo, sắm vai nữ của vở diễn phải cất tiếng phàn nàn rằng sự lo lắng của tôi khiến cô ta cũng thấy bồn chồn lây và van nài tôi hãy lui ra ngoài nghỉ ngơi chút ít. Tôi hăng hái tuân lệnh rồi vội vã sải bước về phía nàng Linda. Thấy tôi lại gần Porcharlester đứng dậy nói: “Tôi vào ngó qua phía trong nhé: biết đâu còn gì chưa...”.
“Ồ, hẳn rồi”, tôi nói, sung sướng đã tống được anh ta đi. “Nhưng xin chớ can thiệp vào đấy nhé. Chỉ một sơ sẩy nhỏ là...”
“Thôi được”, anh ta cắt ngang: “Tôi vẫn biết ông hay cả lo mà. Tôi chỉ một mực đút tay túi quần được chưa?”
“Ông Colonel Green, lẽ ra ông đừng để ông ta nhúng quá sâu vào”. Linda lên tiếng khi chàng kia đã đi khuất. “Tôi chắc thế nào ông ta cũng sẽ bày đủ trò tai quái ở trong ấy.”
“Thôi kệ cho anh ta vui đùa”, tôi đáp. “Cung cách anh ta thật giống y như tướng Johnston, cái ông lão già khụ ấy. Thế việc học nhạc của cô đến đâu rồi?”
“Hiện nay tôi đang ngập đầu với Schubert [40]. Ôi, ông Colonel Green, ông có biết bản Serenade của Schubert không?”
“A! Một bản nhạc mê hồn! Tôi nghĩ đại loại là như thế này: Điđlêđi-đăm, điiđiđlêđi-đăm, điiđăm, điiđlêđai - đây”.
“Phải, cũng có thế thật. Ngài Porcharlester có hát nó không ạ?”
“Ông ta cũng thử đấy. Nhưng ông ta chỉ có ưu thế hát những loại gì đó tầm thường, không đòi hỏi diễn tả những tình cảm nghiêm túc, chiều sâu của cảm xúc, sự cảm thông trọn vẹn, đại để như là...”.
“Vâng, vâng. Tôi biết ông vẫn cho ông Porcharlester là khiếm nhã. Ông có thích bản Serenade không ạ?”
“Hừm! Nhưng mà, cái chính là - cô có thích nó không?”
“Tôi mê mẩn vì nó. Tôi ao ước về nó. Ba ngày gần đây, tràn đầy trong tôi là bản Serenade ấy”.
“Tôi xin thú nhận rằng nó luôn gây ấn tượng trong tôi là một khúc nhạc kỳ diệu. Tôi hy vọng giọng hát tuyệt vời của cô sẽ chứng minh điều đó ngay sau khi vở diễn của chúng ta kết thúc”.
“Tôi hát nó ư! Ôi, tôi đâu dám. A, ngài Porcharlester đây rồi. Tôi sẽ bắt ông ta phải hứa sẽ hát nó cho chúng ta nghe”.
“Green”, Porcharlester cất giọng hài hước xỏ lá: “Tôi không muốn bỗng dưng đến quấy rầy ông; nhưng anh chàng phải thổi điệu tù và thần tiên vẫn chưa đến”.
“Trời hỡi!” Tôi kêu lên. “Tôi lệnh cho anh ta phải có mặt vào đúng bảy rưỡi mà. Nếu anh ta không tới, vở diễn sẽ đi tong mất.” Tôi xin lỗi Linda và nhảy vội xuống đại sảnh.
Chiếc kèn co đã ở đó, nằm trên mặt bàn. Vậy là Porcharlester đã dùng mánh khoé đê tiện này để đẩy tôi đi. Tôi toan quay lên làm cho ra nhẽ thì chợt nhận ra rằng, hoá ra chàng nhạc công để nhạc cụ lại từ buổi diễn tập lúc sáng, còn anh ta có lẽ chưa đến. Nhưng một gã hầu do tôi gọi lại báo với tôi rằng anh ta đã đến đúng vào lúc bảy rưỡi, đã vào phòng ăn thông với gian đại sảnh theo đúng lệnh của tôi, và đã rời khỏi đó với một cốc vang và một cái bánh sănguych.

Vậy là Porcharlester đã lừa tôi. Người hầu trở ra làm tiếp công việc, bỏ lại tôi một mình, đầy tức giận trong gian đại sảnh, sự chú ý của tôi bỗng hiếu kỳ dừng lại ở cái vật thể cong cong màu đồng thau nhạt nằm trên bàn. Giữa đống đồ vật vô tri vô giác bao quanh, chiếc kèn nằm tách hẳn ra, câm lặng và bất động, nhưng dường như căng phồng lên bởi những âm thanh khủng khiếp, đang ý thức chờ dịp để trình diễn. Tôi lén đến bên bàn, lấy ngón tay trỏ thận trọng chạm vào cái van chiếc kèn co. Rồi tôi liều ấn xuống một cái: Nó kêu lên lách cách. Vẻ biết lỗi, tôi lùi lại khi nghe thấy tiếng động bên phía phòng ăn.

Rồi tiếng chuông báo hiệu kêu leng keng, báo cho người thổi kèn co bắt đầu phần diễn của mình. Tôi chờ gã nhạc công xuất hiện với đôi chút bẽn lẽn, hy vọng anh ta sẽ không nhận thấy tôi đã nghịch trộm nhạc cụ của anh ta như một đứa trẻ. Nhưng chẳng thấy anh ta đâu. Nỗi lo vọt tăng. Tôi xô vào phòng ăn. Ở đó, ngay đầu bàn, một gã lính đang ngồi ngủ say như chết: Trước mặt gã la liệt năm cái bình rượu rỗng. Tôi túm cổ áo gã lắc mạnh. Gã làu bàu, ngất ngưỡng giơ quả đấm lên huơ huơ, rồi lại gục xuống bất động.
Tức điên lên, vừa thề sẽ bắn bỏ gã bởi sự quấy phá này, tôi vừa chạy trở lại gian đại sảnh. Tiếng chuông lại vang lên. Hồi chuông thứ hai đòi tiếng tù và. Cả sàn diễn chờ đợi. Cùng quẫn, tôi không nghĩ ra cách gì để cứu vở diễn. Tôi vồ lấy cây kèn co, đặt cái đầu nhỏ của nó lên miệng và thổi phù một cái thật mạnh. Phí cả hơi! Chẳng có tiếng động nào phát ra. Tôi rũ ra vì gắng sức và chiếc kèn đồng tuột khỏi bàn tay ẩm ướt. Tiếng chuông lại vang lên khẩn cấp, phá tan bầu im lặng huỷ diệt. Thế là tôi chộp lấy cây kèn như cái mỏ cặp; căng phồng ngực lên, giúi cái miệng kèn lên môi, lấy răng cắn chặt như muốn nghiến đứt ra, tôi hung hăng khạc mạnh một cái. Kết quả phát ra một tiếng vang khủng khiếp, chói tai, bóng đèn quay vù vù, mũ của khách ngóc lên khỏi giá treo; tôi bịt chặt hai thái dương vừa lúc gã lính nhảy bổ ra, tái mét, như thể tiếng kèn đã dựng gã dậy, lôi gã ra đối mặt với một đám đông các khách mời sửng sốt ùa cả ra cầu thang.

***

Ba tháng sau đó, tôi mời một ông thày lão luyện về để học thổi kèn co. Tôi thấy bất ổn trước bộ dạng trung lưu lớp dưới cùng với cái mánh vặt chán ngắt của ông khi cứ nhắc đi nhắc lại rằng kèn 'o (như cách gọi của ông ta) có lẽ gần với tiếng người nhất trong tất cả các loại nhạc cụ. Nhưng ông thạo nghề và tận tâm, khiến tôi có đủ kiên nhẫn để chịu đựng, bất chấp một vài phản đối từ phía các vị láng giềng.
Cuối cùng, một hôm tôi đánh liều hỏi ông thày, liệu ông có cho rằng tôi đã đủ khả năng biểu diễn sớm cho riêng một người bạn nghe chưa.
“Ồ, ngài Colonel”, ông ta nói, “Nói thật nhé, ngài không có khiếu ấy đâu, ít ra là chưa phải lúc này. Sau nữa, ngài thổi dữ dội quá lắm. Tin tôi đi, thưa ngài, không cần phải vận hết cơ bắp vào đó, nó sẽ làm hỏng giọng mất. Ngài định chơi bản nhạc gì cho bạn ngài vậy?”
“Ông phải dạy tôi cái đó. Bản Serenade của Schubert.”
Ông ta chòng chọc nhìn tôi và lắc đầu: “Bản ấy không viết cho loại nhạc cụ này thưa ngài”, ông nói, “Ngài không chơi nổi đâu”.
“Lần đầu tôi chơi nó không mắc lỗi, ông sẽ được thêm năm ghi nê [41], ngoài tiền công”. Điều này đã đánh át sự do dự của ông ta. Dù tập tành cần mẫn tôi vẫn thấy bản Serenade thật không ổn và khó chơi. Nhưng cuối cùng tôi cũng thổi được tàm tạm.
“Thưa ngài Colonel, nếu tôi ở địa vị ngài”, - ông thầy bảo tôi lúc đút đồng năm ghi nê vào túi, - “Tôi sẽ giữ bản nhạc này lại cho mình và sẽ chơi một bản nào khác đơn giản hơn, cho bạn bè. Sau nửa giờ tập ngài có thể chơi kha khá được ở đây thật đấy; nhưng khi không có tôi bên cạnh, ngài sẽ thấy chẳng có gì chắc chắn đâu”.
Tôi phớt lờ những lời ám chỉ của ông ta, mà về sau mới thấy thật thấm thía. Nhưng khi đó tôi đang một mực ấp ủ ý đồ chơi khúc Serenade tặng nàng Linda. Nhà nàng nằm ngay cuối phía bắc Công viên Park Lane, thật lý tưởng cho ý đồ trên. Và tôi đã mua được một gã hầu để gã cho tôi vào một chỗ khá dễ chịu, nằm giữa ngôi nhà của nàng và con đường.

Cuối tháng sáu, một tối tôi được tin Linda quyết định ở nhà nghỉ sau cơn mệt mỏi nơi giao tiếp. Đó là cơ hội của tôi. Chín giờ tối, tôi đút cây kèn co vào túi du lịch, lên đường đến Marble Arch, đến nơi tôi xuống xe, đi bộ đến chỗ chủ định. Tôi sững lại bởi tiếng gọi của Porcharlester: “Chào ngài, ngài Colonel !” Không muốn bị cật vấn nên tốt nhất là tôi chặn trước bằng cách hỏi anh ta đi đâu.
“Tôi đến cô Linda,” anh ta đáp. “Nàng có nhã ý cho tôi hay tối nay nàng sẽ ở nhà một mình. Tôi không có ý giấu ông chuyện này, thưa ngài Colonel, vì ông là người trọng danh dự và ông thừa biết nàng tuyệt vời như thế nào. Tôi ngưỡng mộ nàng. Nếu tôi biết chắc rằng bản thân tôi chứ không phải đơn thuần là giọng hát của tôi khiến nàng ưa thích thì tôi sẽ là người đàn ông hạnh phúc nhất nước Anh đấy”.
“Tôi tin chắc rằng không phải là giọng hát của ông đâu”. Tôi nói.
“Cám ơn”. Anh ta kêu lên và tóm chặt tay tôi:
“Ông thật tốt khi nói như vậy. Nhưng tôi chẳng dám tự phỉnh mình cho là ông nói đúng đâu nhé. Tôi hầu như nghẹt thở mỗi khi nhìn nàng. Ông có biết rằng tôi đã không tài nào có đủ gan hát bản Serenade của Schubert từ khi nàng ngỏ ý đó là bản nhạc yêu thích của nàng”.
“Sao vậy nhỉ? Nàng không thích ông hát nó sao?”
“Tôi xin nói với ông, tôi không bao giờ dám hát nó trước nàng, mặc dù nàng luôn yêu cầu tôi. Tôi phát ghen lên với cái giai điệu chết tiệt ấy. Nhưng tôi nguyện làm tất cả để nàng vừa lòng và tôi định làm nàng bất ngờ vào ngày mai, tại phòng khách của bà Locksly. Tôi đã học và tập tành cật lực như trâu bò để hát được bản Serenade với phong cách hạng nhất. Nếu có gặp nàng, ông chớ hé môi một lời nào đấy nhé. Đó phải là một điều bất ngờ”.
“Tôi tin chắc ông sẽ làm nàng kinh ngạc”. Tôi nói, hớn hở bởi ý nghĩ rằng anh ta sẽ chậm chân hẳn một ngày. Tôi biết nếu đem so sánh, thì với nét rười rượi ngọt ngào, với sự ngăn đe thẳm tối, với sức mạnh tiềm ẩn sâu xa, thứ nhạc cụ tôi đang mang đây sẽ hơn đứt giọng anh ta và sẽ hứa hẹn là một diễn viên tài ba. Chúng tôi chia tay; tôi thấy anh ta đi vào nhà Linda.

Vài phút sau tôi đã ở trong vườn, quan sát họ từ chỗ của tôi, lúc này đã chìm vào bóng tối. Họ ngồi ngay bên cánh cửa sổ mở toang. Câu chuyện của họ không vọng được đến tai tôi. Tôi cho là anh chàng kia sẽ chẳng bao giờ ra về. Đêm se lạnh; chỗ tôi đứng lại ẩm ướt. Mười giờ - mười giờ mười lăm phút - mười rưỡi - Tôi đã định bỏ ra về. Nếu không có Linda chơi vài bản nhạc làm giảm bớt sự đơn điệu có lẽ tôi đã hết chịu nổi. Cuối cùng họ cũng đứng lên, và lúc này tôi đã có thể nghe rõ tiếng họ.
“Vâng”, nàng nói. “Đã đến lúc ông phải về rồi”. Tôi hết sức đồng ý với nàng! - “Nhưng lẽ ra ông phải hát khúc Serenade mới phải. Tôi đã chơi ba bản nhạc hầu ông còn gì?”.
“Tôi đang bị cảm ghê quá”, anh chàng nói. “Quả thực là tôi không thể. Chúc cô ngủ ngon nhé”.
“Thật vở vẩn! Ông chẳng hề có triệu chứng bị cảm. Thôi không sao! Tôi sẽ chẳng bao giờ yêu cầu ông nữa đâu. Chúc ngủ ngon, ngài Porcharlester”.
“Đừng ác với tôi thế, anh ta nói, “Có lẽ cô sẽ được nghe tôi hát chóng hơn là cô nghĩ đấy”.
“A, ông nói đấy ngụ ý. Chóng hơn là tôi nghĩ! Nếu ông muốn làm tôi ngạc nhiên thì tôi sẽ tha thứ cho ông đấy! Tôi mong sẽ gặp lại ông tại phòng khách nhà bà Locksly ngày mai nhé!”
Anh ta tán thành, rồi vội vã bỏ đi, tôi cho rằng vì anh ta sợ sẽ buột mồm tiết lộ ra kế hoạch của mình. Khi anh ta đi khuất nàng tiến về phía cửa sổ và ngước nhìn lên những vì sao. Chằm chặp ngắm nàng, tôi quên mất cả lòng kiên nhẫn: hai hàm răng bỗng run lập cập. Tôi nhấc cây kèn co khỏi túi xách.

Nàng thở dài; đến sát bên cửa sổ; và buông bức rèm trắng. Chỉ có bóng cánh tay nàng vươn ra như thể nàng làm vậy là để thúc giục tôi thể hiện mau những nỗ lực trước đó của mình. Nàng ngồi xuống để tôi nhìn thấy bóng ngồi nghiêng của nàng. Giờ của tôi đã điểm. Cả Công viên Park Lane tĩnh lặng như tờ.
Những chuyên động từ phố Oxford Street dường như cũng trở nên xa xăm không làm ai rối trí.
Tôi bắt đầu. Vừa nốt đầu tiên tôi thấy nàng đứng dậy và lắng nghe. Khi đoạn nhạc dài đủ khiến nàng nhận ra tôi đang chơi bản nhạc nào, nàng đặt cuốn sách xuống. Miệng cây kèn co giống như băng giá.
Đôi môi tôi buốt lạnh vụng về, đến mức dù chuyên chú hết sức vẫn hơn một lần tôi bị quấy rối bởi những âm thanh ùng ục vụng về mà những nhạc công lão luyện nhất cũng ít khi tránh được. Tuy nhiên, cho rằng căng thẳng, tôi trấn tĩnh lại được chút ít. Tiếp tục một cách tự tin hơn, tôi đã phần nào chuộc lại được sự chệch choạc ban đầu bằng cách chơi những nhịp cuối một cách trịnh trọng, uy nghi, và thậm chí đã đạt được độ rung kha khá ở nốt áp chót.
Khi tôi kết thúc trên đường phố vang lên tiếng cổ vũ, cho tôi thấy một đám đông đã tụ tập ở đó, và việc rút chạy tức thì là đương nhiên rồi. Tôi nhét cây kèn co trở lại túi du lịch và định chuồn khi đám đông vẫn túm tụm. Khi tôi chăm chăm tìm bóng Linda trên bức rèm che thì thấy nàng đang viết. Tôi nghĩ, có thể nàng viết cho tôi chăng? Nàng đứng lên; và bóng tối trùm lên cửa sổ khiến tôi không thể nhìn rõ cử động của nàng. Tôi nghe thấy tiếng chuông reo. Một phút sau cửa nhà bật mở. Tôi lùi vào sau chậu cây lô hội, nhưng nhận ra gã hầu tay trong, tôi khẽ huýt sáo gọi gã. Gã đi phía tôi, tay cầm một phong thư. Trống ngực tôi đập mạnh khi nhìn thấy nó.
“Thôi được, thưa ngài,” gã nói, “Cô Linda sai tôi đưa ngài cái này, nhưng xin ngài hãy mở khi đã về đến nhà”.
“Vậy cô ấy biết tôi là ai sao?” Tôi khao khát hỏi.
“Tôi cho là như vậy, thưa ngài. Khi nghe thấy tiếng chuông cô ấy gọi, tự tôi phải lên ngay đấy. Rồi cô ấy bảo: “Anh sẽ thấy một quý ông ở đâu đó trong vườn. Đưa cho ông ta tờ giấy này; và xin ông ta ra về ngay cho. Ông ta không được đọc thư ở đây”.
“Có đám đông nào ngoài kia không?” “Đi cả rồi ạ, thưa ngài. Chúc ngài ngủ ngon.”

Tôi chạy về con đường Quảng Trường Hamilton, gọi một chiếc xe ngựa. Mười phút sau tôi đã ở trong phòng làm việc của mình. Tay run rẩy tôi mở lá thư. Nó không nằm trong phong bì mà chỉ được gập làm ba và gấp góc lại. Tôi mở ra đọc.

Park Lane, 714, thứ sáu.
“Ngài Porcharlester thân mến”…
Tôi ngừng đọc. Nàng cho rằng buổi trình diễn vừa xong là của anh ta ư? Ngay lập tức, một câu hỏi quan trọng hơn loé lên, là tôi có quyền đọc lá thư không phải gửi cho mình không. Sự tò mò và tình yêu đã thắng thế. Lá thư tiếp tục như sau.
“Tôi thật tiếc rằng ông đã không thấy gì trong trí tưởng tượng của tôi về bản Serenade của Schubert ngoài duyên cớ để nhạo báng. Có thể trí tưởng tượng ấy là thái quá. Nhưng tôi đã không thổ lộ nó với ông nếu như không tin rằng ông có đủ khả năng hiểu nó. Liệu ông có thấy chút gì hài lòng không khi biết rằng ông đã cứu tôi hoàn toàn thoát khỏi cái bản Serenade ấy, xin hãy tin rằng, tôi sẽ không bao giờ nghe lại bản nhạc ấy với một cảm giác pha trộn kỳ quái giữa nỗi đau và sự bỡn cợt như thế này nữa. Tôi không hề biết rằng giọng người thường lại có thể phát ra được thứ âm thanh như vậy; tôi thiển nghĩ khi ông hứa hẹn sẽ cho tôi nghe giọng hát của ông chóng hơn là tôi mong đợi, có nghĩa là ông ngụ ý đến cuộc trình diễn này đây. Tôi chỉ còn biết thốt lên một lời này mà thôi: Adieu! [42]. Tôi cũng không có hân hạnh gặp lại ông vào ngày mai tại phòng khách của bà Lochsly bởi lễ đính hôn của tôi không cho phép tôi có mặt tại đó. Cũng chính vì lý do này tôi cũng chẳng còn cơ hội nào tiếp kiến ông trong mùa diễn này.
Người bạn chân thành của ông.
Linda Fitznightingale.

Tôi cho rằng nếu chuyển lá thư này cho Porcharlester chỉ càng làm cho anh ta thêm đau khổ một cách vô ích. Tôi cũng cảm nhận rằng ông thày kèn co của tôi thật có lý, tôi không có chút khiếu nào trong cái khoản kèn co Pháp này. Thế là tôi bỏ luôn.

Linda giờ đây đã là vợ tôi. Thỉnh thoảng tôi có gạn hỏi nàng, vì sao cứ một mực cắt đứt quan hệ với chàng Porcharlester đến vậy, dù anh ta cam đoan lời thề danh dự của một sĩ quan, một gentleman, rằng không mảy may có ý làm phiền lòng nàng.

Linda luôn từ chối thoả mãn tính hiếu kỳ của tôi.

LINH TÂM dịch.

[40] Schubert (1797-1828) - Nhà soạn nhạc Áo.
[41] Guinea: tiền vàng Anh cổ = 21 silinh.
[42] Tiếng Pháp - Vĩnh biệt!

** Nana Mouskouri - Serenade de Schubert
https://www.youtube.com/watch?v=5mLh-du29Oc

** Dạ khúc (SERENADE - Franz Schubert) - Thái Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=sDR-HxMAVXg
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Thu Oct 12, 2017 9:22 pm


Nữ văn sĩ Nam Phi, Nadine Gordimer (1923-2014) là người dấn thân chống kỳ thị chủng tộc, bà đã đoạt giải thưởng Nobel văn chương năm 1991.

CÁI TÌM ĐƯỢC

Nadine Gordimer
(Nobel 1991)

Mặc xác chúng mày. Người đàn ông từng gặp nhiều bất hạnh với đàn bà đã quyết định sống độc thân một thời gian.
Vì tình, đã hai lần anh kết hôn. Anh dọn ngôi nhà sạch hết những thứ mà vì lẽ gì đó cô vợ hai tận tâm đã bỏ sót khi rời đi cùng thu nhập - những bức tranh, cốc hiếm, kể cả mấy chai rượu hảo hạng dưới hầm. Anh vứt bỏ những cuốn sách mà cô vợ đầu tiên đã viết những dòng chữ yêu thương lên tờ ngỏ bằng tên của một cô dâu mới. Rồi anh đi nghỉ không có phụ nữ đi cùng. Bởi lẽ đầu tiên anh có thể nhớ; nhưng những ả đốn mạt và đĩ thõa anh nghĩ mình đã yêu ấy hoá ra lại tráo trở hệt như mấy cô vợ trung thực luôn thề thốt yêu thương anh suốt đời.
Anh một mình đến bãi tắm nơi những tảng đá lồi lõm nhô ra biển, sóng vỗ ì oạp tạo thành những hốc nước. Không có cát. Trên những phiến đá tựa chỗ kẹo nấu sôi, có vằn, sọc và lốm đốm, nhiều người - cả phụ nữ - nằm trên những chiếc chiếu bạc muối, xoa dầu thơm lên người. Năm ấy, tóc họ búi cao và được giữ lại bằng những vòng hoa nhân tạo đàn hồi hoặc buông xuống - họ bước khỏi mặt nước với những chuỗi pha lê bóng loáng trên ngực - từ cái cài mạ vàng có khoen móc vào tai đung đưa lấp lánh. Ngực để trần. Họ đeo mảnh vải hình tam giác lộn ngược có thể phát sáng trước vùng sinh dục bằng một sợi dây chạy qua kẽ mông nối với dây chạy vòng qua bụng và eo. Từ góc nhìn của anh, khi họ đi xuống biển thì trông họ khoả thân hoàn toàn; rồi khi họ rời mặt biển, hổn hển thở với vẻ hài lòng, tiến vào tầm nhìn của anh thì ngực họ dập dềnh, rũ xuống khi họ cúi người, cười vang trong lúc lau mình, chải tóc và bôi dầu. Cơ thể của vài người được chia ra từng phần rõ như mảnh vải được nhuộm kỹ: những cái sọc, những mảnh trắng hoặc đỏ tuỳ theo chỗ được quần áo che tránh khỏi sự thiêu đốt của mặt trời. Núm vú của đôi người đỏ ửng như những quả dâu tây, có thể thấy ngay họ đã không chịu bôi dầu. Có cả đàn ông nhưng anh không nhìn đàn ông.

Khi anh nhắm mắt, lắng nghe biển thì anh có thể ngửi thấy mùi đàn bà - mùi dầu. Anh bơi nhiều. Ra tận vùng vịnh phẳng lặng, giữa những người lướt gió dang tay giữ những cánh buồm sặc sỡ hay gần bờ nơi một tấm ván trượt hất tung bọt nước trắng xoá trùm lên đầu anh. Một nhóm các bà mẹ trẻ đưa con vào chỗ nước nông. Da thịt mềm mại, trần truồng áp sát da thịt mẹ chúng, những đứa trẻ bám chặt, sau đó tách ra nhưng dường như chúng vẫn có một phần da thịt đàn bà nơi chúng được hoài thai bởi những đàn ông như anh. Anh nằm phơi khô mình trên tảng đá. Anh thích độ lồi lõm của đá nhưng anh phải cựa quậy điều chỉnh các khớp xương sao cho các đường cong trên cơ thể thoải mái hơn trên mặt đá. Anh ngủ. Anh thức giấc nhìn những cái chân cạo lông đang đi gần đầu anh - đàn bà. Nước từ mái tóc ướt vung vẩy rơi xuống đôi vai ấm áp của anh. Đôi khi anh thấy mình lặn bên dưới họ, thân hình với làn da nhám của anh lướt qua như một chú cá mập.

Như cánh đàn ông thường làm trên bờ khi cô đơn, anh liệng đá xuống biển, nhớ cách giữ chúng nhảy lướt trên mặt nước. Nằm úp mặt xuống những lạch nước nhỏ cuối cùng, anh nhặt một vốc đầy đá biển bóng láng, đưa lại gần và bắt đầu quan sát như thể người lớn dừng lại xem trẻ con tần ngần ngắm một bông hoa, một chiếc lá - một viên đá, với những sọc cát của nó, thành phần màu sắc bí ẩn, độ lóng lánh ẩn chứa bên trong, sự cảm nhận (của chính anh) đã khám phá: hình thù quả trứng hay bầu dục của nó được bàn tay xoa dầu của biển mài nhẵn bóng.
Thật ra, những viên đá ấy không phải tất thảy đều là đá. Có những mẩu hình thoi màu hổ phách dẹt mà đại dương cắt ngọc đã đánh bóng từ những chai bia vỡ. Có cả những mẩu thuỷ tinh xanh da trời và xanh đậm (từ cái chai bị chìm khác) mà có thể chuyển sang màu lục ngọc và màu ngọc lục bảo.
Trẻ con nhặt chúng để vào mũ hoặc vào xô. Rồi một chiều nọ, trong mớ tài sản trộn lẫn với những mẩu nhựa dẻo bị vứt khỏi tàu chở hàng và cả những vật dụng bằng nhựa nổi lềnh bềnh tấp lên mọi bến bờ trên toàn thế giới, anh tìm thấy giữa những viên đá anh đang gạn trong tay giống như ông thầy tu lần tràng hạt, một vật quí giá thực sự. Giữa những viên cuội thuỷ tinh màu là một chiếc nhẫn kim cương sapphire. Nó không nằm trên bề mặt bờ biển đá nên rõ ràng là đã không bị một trong số những phụ nữ hôm ấy đánh rơi. Một người yêu, (hay là vợ bất hợp pháp) của một quý ông giàu có rớt khỏi thuyền ở ngoài kia, đeo đồ trang sức trong lúc đang cố vứt bỏ những vật vướng khác, hẳn đã để một trong số những chiếc nhẫn tuột khỏi tay chìm xuống nước, mà không hề phát hiện ra mãi cho đến khi lên lại boong thì vội đi tìm chế độ bảo hiểm trong lúc biển cứ kéo chiếc nhẫn chìm xuống sâu, sâu hơn nữa; và rồi thuỷ triều từ ngày này sang ngày khác, năm này nối năm kia dần dần xô dạt nó vào bờ. Chiếc nhẫn tuyệt đẹp mặt sapphire hình chữ nhật rộng được bao quanh bằng những viên kim cương tròn và một viên kim cương lớn được đặt một bên mặt đá sáng nối nó với vòng tròn được chạm sâu.
Mặc dù chiếc nhẫn được mấy ngón tay của anh tình cờ đào lên từ độ sâu chừng một tấc rưỡi nhưng anh vẫn nhìn quanh như thể chủ nhân của nó chắc chắn đang đứng bên cạnh.
Nhưng họ vẫn mải miết bôi dầu, lau bọn trẻ, nhổ lông mày qua những chiếc gương bé xíu, họ ngồi gác chân, vú uể oải tựa lên các bàn thấp nơi bọn bồi nhà hàng đã đặt mấy đĩa salad và những chai rượu vang. Anh mang chiếc nhẫn đến nhà hàng; có lẽ ai đó đã kể là bị mất. Chủ nhà hàng bước lùi lại. Bà ta hẳn đang được đề nghị mua món hàng ăn cắp của một kẻ gian lận. Chiếc nhẫn giá trị lắm. Hãy mang nó đến đồn cảnh sát.
Nghi ngờ dấy lên cảnh giác; có lẽ, trong nhà hàng ngoại quốc này, đã có nguyên nhân khiến người ta nghi ngờ. Thậm chí cả cảnh sát. Nếu không có ai nhận chiếc nhẫn thì một quan chức bản địa nào đó sẽ đút túi. Khác nhau là thế đấy - anh đút chiếc nhẫn vào túi hoặc an toàn hơn là vào túi đeo vai đang đựng tiền, thẻ tín dụng, chìa khoá xe và kính râm. Rồi anh quay lại bãi biển, nằm trên đá, giữa đám đàn bà. Suy nghĩ.

Anh đăng lời nhắn tin trên tờ báo địa phương.
Nhẫn được tìm thấy trên bãi tắm Blue Horizon, thứ ba, mồng một, kèm theo số điện thoại và số phòng của anh ở khách sạn. Bà chủ nhà hàng nói đúng; có rất nhiều cú điện thoại. Vài cú là của đàn ông nói rằng vợ, mẹ, bạn gái họ đã thật sự mất nhẫn ở bãi tắm ấy. Khi anh đề nghị họ miêu tả, họ thử vận may: một chiếc nhẫn kim cương. Nhưng khi bị buộc miêu tả chi tiết hơn thì họ chỉ có thể nói vòng vo.
Nếu là giọng phụ nữ khéo nịnh và tán tỉnh vờ vĩnh (thậm chí đôi người còn sụt sùi) được phát hiện là giọng đàn bà đàng điếm luống tuổi thì anh cúp máy ngay khi thị ta cố miêu tả chiếc nhẫn bị mất của mình.
Nhưng nếu giọng ấy quyến rũ và thỉnh thoảng trẻ trung, dịu dàng kể cả có phần do dự vì sự nói dối táo bạo thì anh mời người ấy đến khách sạn nhận dạng chiếc nhẫn.

Hãy miêu tả nó.
Anh để họ ngồi thoải mái trước ban công thoáng đãng với luồng sáng ngoài biển dò xét nét mặt họ.
Duy chỉ một người thuyết phục được anh rằng nàng thực sự đã đánh mất chiếc nhẫn; nàng miêu tả chi tiết rồi bỏ đi sau khi xin lỗi vì đã làm phiền anh. Những người khác - đôi người hấp dẫn hay thậm chí cực kỳ xinh đẹp, ăn vận trang nhã - hẳn đến vì mục đích khác nếu họ không bỏ đi cùng với sự miêu tả bịa đặt về chiếc nhẫn. Họ dường như tính toán chiếc nhẫn là một chiếc nhẫn; nếu có giá trị thì nó phải là nhẫn kim cương và một hoặc hai người tỏ ra thông minh khi xác nhận, vâng, chiếc nhẫn còn có mặt đá quý nhưng nó là đồ gia bảo (của bà) nhưng họ thực sự không biết tên của loại đá đó.
Thế còn màu sắc? Hình dáng?
Họ bỏ đi như thể bị xúc phạm; hoặc họ cười ngớ ngẩn như cảm thấy có lỗi, chỉ vì liều mạng mà họ đến thôi, thực là buồn cười. Và họ khó có thể giữ được lịch sự khi bỏ đi.

Rồi có một người mà giọng nói chẳng giống bất kỳ giọng của những người đã gọi, giọng nhã nhặn của ca sĩ, nghệ sĩ, có lẽ biểu lộ sự nhút nhát. Tôi đã hết hi vọng. Về việc tìm lại nó... chiếc nhẫn của tôi. Nàng đọc lời nhắn tin rồi nghĩ, không, không, chẳng ích gì đâu. Nhưng nếu có cơ hội là một phần triệu.
Anh mời nàng đến khách sạn. Nàng chắc đã bốn mươi, có vẻ đẹp tự nhiên với đôi mắt phớt xanh, tĩnh lặng đầy ấn tượng và chẳng cần trang điểm gì cả ngoài mái tóc đen màu lông công. Mái tóc mọc lên từ vùng đầu cao trên cái trán rộng và được búi thành cuộn quanh đầu, bóng mượt như những sợi lông chim mịn màng.
Chẳng có lấy một nếp nhăn nào ở khoảng ngực và cả mảng thịt săn chắc nơi vùng cổ của chiếc váy đen như tóc nàng. Bàn tay nàng sinh ra là để đeo nhẫn; nàng ngửa hai lòng bàn tay, xoè rộng các ngón cái và những ngón còn lại: Và khi động tác kết thúc, tôi thấy một tia sáng loé lên trong dòng nước.

Tả nó đi.
Nàng nhìn thẳng anh, ngẩng đầu để hướng cái nhìn ra xa và bắt đầu nói. Nàng nói rất tỉ mỉ, bạch kim và vàng... anh biết đấy, thật khó miêu tả chính xác một vật mình dùng quá lâu mà lại không còn để ý đến nó. Một chiếc nhẫn kim cương lớn... rất nhiều. Ngọc lục bảo và đá đỏ... ngọc rubi, nhưng tôi nghĩ chúng đã long ra trước khi...
Anh bước lại ngăn kéo của cái bàn trang điểm kiêm bàn viết của khách sạn và kéo từ dưới những tờ bìa miêu tả nhà hàng, chương trình TV cáp và dịch vụ phòng có sẵn, ra một phong bì. Nhẫn của cô đây anh nói. Ánh mắt nàng không đổi. Anh đưa cái phong bì về phía nàng. Tay nàng chầm chậm lướt về phía anh như thể đang ở dưới nước. Nàng cầm chiếc nhẫn từ tay anh rồi đeo vào ngón giữa tay phải. Nó không vừa nhưng nàng điều chỉnh động tác bằng sự thay đổi nhanh nhẹn và chiếc nhẫn trượt khít vào ngón tay thứ ba.
Anh đưa nàng đi ăn tối, chuyện chiếc nhẫn không được đả động gì đến.

Thế là lần nữa, nàng trở thành người vợ thứ ba của anh. Hai người sống với nhau tâm đầu ý hơn hơn bất kỳ đôi vợ chồng nào khác.

LÊ HUY BẮC dịch

***

HÔI CỦA 


Nadine Gordimer
(Nobel 1991)


Ngày nảy ngày nay [1] có một trận động đất: nhưng đó là trận động đất mạnh nhất từng ghi nhận được kể từ khi người ta chế ra thang độ Richter để đo lường những cảnh báo ngày tận thế.
Nó lật nghiêng cả một thềm lục địa. Những chấn động này thường gây lũ lụt; trận này thì ngược lại, nó đẩy lùi đại dương như bằng một cú thổi phù vĩ đại. Những gì ẩn kín nhất của thế giới chúng ta lồ lộ bày ra: nào những xác tàu đắm, mặt tiền những ngôi nhà, những ngọn chúc đài phòng khiêu vũ, nào bồn tắm, rương của bọn cướp biển, màn hình tivi, xe ngựa phát thư, thân máy bay, đại bác, tượng bán thân bằng cẩm thạch, súng AK, mui xe du lịch, bình đựng nước thánh, máy rửa chén tự động, máy vi tính, những thanh gươm bám đầy hàu, những đồng tiền biến thành đá. Cái nhìn sửng sốt lướt nhanh giữa những vật đó; đám người vừa mới rời bỏ những ngôi nhà lung lay của họ để chạy lên những ngọn đồi ven biển giờ lại chạy xuống. Nơi đâu tiếng gầm rống và gào thét của đất vừa mới làm họ kinh hãi, giờ có một sự im lặng trần trụi. Nước bọt của biển sáng lấp lánh trên những vật này; dường như thời gian không tồn tại, chưa bao giờ tồn tại dưới đó, nơi tính vật chất của quá khứ và hiện tại nằm ngổn ngang không theo thứ tự thời gian; tất cả là một, tất cả chẳng là gì - hoặc tất cả đều có thể có cùng một lúc. 


Người ta nháo nhào chạy đi lấy; lấy, lấy. Cái này ấy à - lúc nào, bất cứ lúc nào cũng có giá, một lúc nào đó sẽ có giá, cái nọ có thể hữu ích, cái này là gì đây, ờ chắc có người biết, cái này hồi xưa chắc là của người giàu, cái này giờ là của tôi, nếu mày không chộp cái ở đằng kia thì sẽ có kẻ khác chộp đó, chân lê lết trơn chuội trên rong biển và thụt sâu vào cát sũng, những thực vật biển há hốc mồm nhìn họ, chẳng ai nhận thấy rằng không có một con cá nào, mọi cư dân của chốn dưới đất này đã bị nước cuốn sạch. Cơ hội hôi của các cửa hàng - vốn là thói quen thường tình của thiên hạ trong những thời loạn lạc - thật không có gì sánh nổi. Niềm vui cuồng loạn khiến cho đàn ông, đàn bà và con cái họ có đủ sức lôi ra khỏi bùn và cát những gì mà chính họ chẳng biết rằng họ muốn, lảo đảo đi tới đi lui càng lúc càng nhanh; đấy không chỉ là thủ lợi nhờ tình huống ngẫu nhiên, đó còn là cướp đoạt sức mạnh của tự nhiên, cái sức mạnh từng khiến họ cuống cuồng chạy trong vô vọng. Lấy, lấy; trong khi vơ vét, họ có thể quên rằng nhà họ đã đổ nát hoang tàn và họ đã mất sạch những thứ của cải bị ràng buộc với thời gian. Họ xé rách sự im lặng bằng những tiếng í ới gọi nhau và dưới những tiếng gọi đó, giống như tiếng kêu của những con hải cẩu vắng mặt, họ không nghe một âm thanh từ xa đang tiến đến gần như một làn gió khổng lồ. Và biển trở lại, vùi lấp họ để làm giàu thêm kho tàng của nó. 

Đó là những gì thiên hạ biết; trong những mẩu tin truyền hình thật ra chẳng có gì để chiếu ngoài lớp váng màu thiếc của những vực sâu, trong những bài phỏng vấn những kẻ nhu nhược, gan cóc tía hay thận trọng đã không rời những ngọn đồi mà chạy xuống cùng đám người hôi của kia, cũng như các bài báo mô tả những cái xác mà vì lý do nào đó biển đã khước từ, dập trở lại một nơi nào đó trên bờ biển. 
Nhưng nhà văn biết một điều mà không ai khác biết: sự thay đổi lớn lao của trí tưởng tượng.

Giờ nghe đây: có một người suốt đời luôn mong muốn một cái gì đó. Ông ta có lắm thứ đồ - một số trong đó mắt ông thường xuyên bắt gặp, nên ông hẳn phải thích, ông không nhận thấy rằng đáng lẽ ông không nên mua một số trong đó nhưng vứt bỏ thì cũng chẳng được, có một cái đèn kiểu tân nghệ thuật ông dùng để đọc sách, và trên đầu giường ông có một bức tranh in Nhật Bản, bức Làn sóng lớn của Hokusai, thật ra ông không sưu tập đồ phương Đông, mặc dù nếu nó đã ở trên tường đối diện ông, hẳn nó không chỉ là một phần của đồ đạc trong nhà mà là một cái gì hơn thế, nó đã khuất tầm nhìn bên trên đầu ông suốt nhiều năm. Tất cả những vật đó - nhưng không phải cái này.

Ông về hưu, ly dị đã lâu, chọn một biệt thự cũ nhưng đủ tiện nghi trên ngọn đồi bên bờ biển làm nơi trú ẩn, quay lưng lại trước sự tấn công của thành phố. Một phụ nữ người làng đến để nấu nướng và quét dọn cho ông, ngoài ra thì chẳng giao thiệp với ông về bất cứ chuyện gì. Đó là một cuộc sống quá êm ả, ông đã gặp quá đủ những sự quấy rầy, dù dễ chịu hay không, nhưng cái cảnh tượng ông nhìn thấy từ cửa sổ nhà mình, một chuyện chưa bao giờ có thể xảy ra, chưa bao giờ được hạ cố ban cho con người, là một thứ mệnh lệnh. Ông là một trong những người lao ra giữa đáy biển lấp lánh, cái kho tàng mảnh vụn của quá khứ, vẫn là nó đấy, phô ra trần trụi.

Cũng như tất cả những người hôi của khác mà ông không trà trộn vào và cũng chẳng có cái gì chung với họ, ông hộc tốc chạy từ vật này qua vật khác, lật tung những mảnh vỡ đồ sứ, những bức tượng tạo nên bằng sự hủy diệt, ruồng bỏ và gỉ sét, những thùng rượu nho ngâm nước biển, một chiếc môtô đua đâm xuống biển, một cái ghế nha sĩ, bước chân ông dẫm lên những cái xương sườn người đang phân hủy và những thứ trời ơi đất hỡi nào đó ông chẳng biết là gì. Nhưng không như những người khác, ông chẳng lấy gì - cho đến khi, kìa, được trang điểm bằng những lọn rong biển màu nâu cam, kẹt cứng vỏ xà cừ và lỗ chỗ san hô màu đỏ, là vật ấy. (Một cái gương?) Dường như điều không thể là có thật; ông biết nó nằm chính ở đây, dưới đáy biển, chính vì vậy mà ông không biết nó là gì, không bao giờ có thể tìm thấy nó trước kia. Nó chỉ có thể bị phát lộ bởi một cái gì chưa từng xảy ra, cơn bùng nổ lớn nhất của trái đất chúng ta từng được đo trên thang Richter.
Ông nhặt nó lên, cái vật đó, cái gương, cát rơi ra khỏi nó, nước - vốn là cái nhìn trong sáng cuối cùng còn lại dành cho nó - lăn ra khỏi nó, ông mang nó đi cùng với ông, mang cái vật mà rốt cuộc là sở hữu của ông.

Và ngọn sóng lớn đến từ sau đầu giường ông cuốn ông đi. Tên ông, cái tên từng nổi tiếng trong giới cai trị trước kia ở thủ đô, không có trong số những người sống sót. Cùng với ông, giữa xương cốt những nạn nhân mới nhất, cùng những tên cướp biển và ngư phủ thuở xa xưa, có những kẻ mà dưới thời độc tài đã nhảy từ máy bay xuống để - cùng sự đồng lõa của biển - sẽ không ai tìm thấy họ. Ai đã nhận ra họ, ngày ấy, nơi họ nằm? 

Không hoa cẩm chướng, cũng chẳng hoa hồng trôi trên biển.
Năm sải nước sâu.

Trần Tiễn Cao Đăng dịch

Chú thích:
[1] Nguyên văn: Once upon our time, nhại lại câu thường gặp trong các truyện cổ tích: “Once upon a time” (ngày xửa ngày xưa); ND
.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri Oct 13, 2017 5:48 pm




Cố Thủ Tướng nước Anh Winston Churchill (1874-1965) người duy nhất là nguyên thủ một quốc gia đoạt giải Nobel văn học năm 1953.

RƠI XUỐNG BIỂN

Winston Churchill
(Nobel 1953)


Lúc hơn chín giờ rưỡi một chút người đàn ông đó té xuống biển. Con tàu chở thư ấy đang vội vã vượt Biển Đỏ để bù lại quãng thời gian tàu bị trôi dạt vì những dòng hải lưu ngoài Ấn Độ Dương.

Đêm trong veo, tuy rằng mặt trăng bị khuất sau những đám mây. Bầu không khí đầy những hơi ẩm. Mặt nước biển chỉ bị xao động theo đường con tàu vừa chạy qua, từ hai bên hông tàu, những gợn sóng dạt ra như những cái lông gắn ở đuôi mũi tên, những bọt sóng ở đuôi tàu chỗ cánh quạt cứ sủi lên vạch một đường hẹp dài chạy tới cuối chân trời đen sẫm.
Trên tàu đang có một buổi hoà nhạc. Hành khách vốn quá chán với sinh hoạt đơn điệu của chuyến hành trình đã tụ tập quanh chiếc dương cầm ở phòng hội. Các boong tàu vắng hoe. Người đàn ông đã nghe nhạc và hát theo những bản đàn, nhưng căn phòng quá nóng và ông muốn ra ngoài hút một điếu thuốc, hứng chút gió do tốc độ con tàu mang lại. Đó là luồng gió duy nhất trên Biển Đỏ này đêm nay.
Chiếc thang dây bên hông tàu người ta đã không gỡ ra từ khi rời cảng Aden và ông ta bước ra ngoài như bước ra một bao lơn. Ông tựa lưng vào lan can và trầm tư nhả từng ngụm khói vào không khí.

Chiếc dương cầm trỗi một nhịp điệu sống động và một giọng hát cất lên những câu đầu của bài “The Rowdy Dowdy Boys”. Tiếng quay của chân vịt tàu bị chìm đi nhưng vẫn còn nghe đều đặn theo tiếng nhạc. Ông ta biết bản nhạc này, nó đã từng làm mưa gió ở mọi nhà hát hồi ông rời quê nhà sang Ấn Độ bảy năm trước. Nó khiến ông nhớ lại những đường phố đông đúc và tươi vui đã lâu rồi không gặp nhưng sắp được thấy lại. Ông đang định hát theo bản nhạc thì thanh lan can, do không được bắt vít chặt, bất ngờ tuột ra và ông té ngửa xuống mặt nước ấm áp phía dưới làm nước bắn tung lên.
Trong giây lát đầu tiên ông ta quá ngạc nhiên không nghĩ được gì cả. Rồi ông nhận ra mình phải gào lên, thế là ông gào lên trước khi kịp trồi lên tới mặt nước. Nên chỉ phát ra một tiếng kêu bị bóp nghẹt, khản đặc, không thành lời gì cả. Trí óc kinh hoàng của ông bật ra chữ “Cứu tôi với” và ông gào nó lên một cách mê hoảng liên tiếp sáu bảy lần. Rồi ông lắng nghe.

Nào! Nào! Tránh đường ra.
Cho bọn trai du thủ du thực nào.

Đoạn điệp khúc đồng ca bay la đà trên mặt nước tới chỗ của ông vì con tàu đã vượt qua hẳn chỗ ấy. Tai nghe nhạc nhưng một nỗi kinh hoàng vô hạn đâm suốt trái tim ông. Bây giờ ý thức ông mới nhận ra rằng có thể chẳng ai biết mà vớt ông lên được.

Tiếng hát lại tiếp tục:
Rồi… tao… nói… Mấy nhóc,
Trời sinh những cuộc chơi cho ai?
Rum... tum... tidli... um...
Thằng nào dám uống với tao đây?

- Cứu tôi với! Cứu tôi với! - Ông ta gào lên, lần này thì với nỗi kinh hoàng đến tuyệt vọng.

Lâu lâu lại thèm một cốc
Lại thèm chốn la lối chơi
Ê! Ê! Tránh đường coi
Cho cái lũ du côn đây!

Những lời hát cuối kéo dài và nhỏ dần đến tắt hẳn. Con tàu vẫn lao tới trước. Lời ca đoạn hai bắt đầu nghe thấp thoáng và rời rạc với khoảng cách lúc mỗi xa. Cái khối sắt đen ngòm ấy cứ mờ dần đi, ánh đèn ở đuôi tàu ngày càng héo hắt.

Ông khởi sự bơi theo nó với tất cả sức lực, độ mươi sải tay thì dừng lại gào rú lên điên dại. Mặt biển chao sóng vì con tàu chạy qua đã bắt đầu yên lại, những đợt sóng lan ra chỉ còn lại gợn lăn tăn. Tiếng chân vịt quẫy động xình xịch loang dần lên cao rồi tan mất. Âm thanh của chuyển động của cuộc sống và âm nhạc tắt hẳn.
Con tàu chỉ còn là một đốm sáng mờ lẻ loi tàn dần trong tối đen của biển. Bóng lờ mờ của nó in trên nền trời xám đục.

Rồi sau cùng, ông ta cũng nhận thức ra và ngừng bơi.
Chỉ còn một mình - bị bỏ rơi. Khi hiểu ra thì trí óc bắt đầu quay điên cuồng. Ông lại bắt đầu bơi, có điều thay vì thỉnh thoảng gào lên thì ông cầu nguyện, những lời cầu rối loạn, rời rạc, những lời lẽ cứ trộn lẫn vào nhau.
Đột nhiên một tia sáng loé lên và sáng dần ở xa xa. Một nỗi vui mừng và hy vọng cuồn cuộn chạy qua trí óc. Họ đã dừng lại, quay mũi tàu và đi ngược lại. Cùng với hy vọng là lòng tạ ơn. Lời cầu nguyện của ông đã được đáp ứng. Những câu tạ ơn lắp bắp tràn qua đôi môi. Ông ngừng bơi và nhìn chăm chăm đốm sáng - linh hồn để cả trong con mắt. Trong khi đó ánh sáng cứ nhỏ dần đi một cách từ tốn nhưng chắc chắn. Rồi ông hiểu ra số phận mình đã được định đoạt. Sự tuyệt vọng thay thế niềm hy vọng, câu nguyền rủa thay cho lời tạ ơn, quạt cánh tay đập vào mặt nước, ông gào lên bất lực. Những câu chửi thề điên khùng nhất bật ra, cũng rối loạn rời rạc y như những lời nguyện cầu lúc nãy, và cũng không hề được đoái hoài.

Cơn mê loạn qua đi, càng bị thúc qua mau vì cảm giác mệt mỏi mỗi lúc càng tăng. Ông trở nên im lặng - im lặng như mặt biển, vì ngay cả những gợn sóng lăn tăn giờ cũng khuất hẳn và trở thành một bể mặt phẳng lì loang loáng. Ông bơi một cách máy móc theo hướng tàu chạy, lặng lẽ khóc thầm trong nỗi bi thảm của sự sợ hãi. Ngọn đèn sau lái tàu chỉ còn là một đốm vàng vọt chẳng lớn hơn mấy vì sao rải rác đâu đó sau màn mây trên trời.
Gần hai mươi phút sau, sự mệt mỏi biến thành kiệt quệ. Ý thức về điều tất yếu, điều không thể tránh khỏi đè lên ông. Trong nỗi rã rời đó lại có cảm giác thoải mái kỳ lạ - ông chẳng việc gì phải cố bơi cho tới kênh Suez cả.

Có một con đường khác. Cái chết, ông sẽ lui ra khỏi cõi tồn sinh này một khi ông đã bị bỏ rơi như thế. Ông bất giác giơ hai tay lên và chìm xuống.
Ông chìm xuống, xuống nữa trong khối nước ấm áp. Cái chết tóm lấy ông, ông bước vào cái chết đuối. Nỗi đau đớn vì cú tóm dã man ấy khiến ông nóng máu. Ông điên cuồng chống lại nó. Vung đạp chân tay, ông tìm đường trở lại với khí trời. Đó là một cuộc chiến gian nan, nhưng ông đắc thắng, thoát được và trồi lên tới mặt nước. Trên đó, nỗi tuyệt vọng đã chờ sẵn. Mệt mỏi quạt đôi tay qua lại ông rên lên trong nỗi bi thảm đắng cay:
- “Không được rồi... Tôi phải chết. Chúa ơi! Hãy để tôi chết.”

Vầng trăng lưỡi liềm chui ra khỏi những đám mây vây bủa, rọi một ánh nhợt nhạt dịu dàng xuống mặt biển. Dựng thẳng đứng trên mặt nước, cách chỗ ông chừng năm mươi thước là một vật tam giác đen bóng. Đó là cái vây lưng. Nó chậm rãi tiến về phía ông ta.

Lời kêu cầu sau cùng của ông đã được lắng nghe tới.

PHẠM VIÊM PHUƠNG dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sun Oct 15, 2017 12:11 am




KHU TRẠI NGƯỜI DA ĐỎ

Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Ven bờ hồ, một chiếc thuyền có mái chèo vừa ghé bến. Hai người da đỏ đang đứng đợi. Chờ chú bé Nick cùng bố của chú bước lên phía cuối thuyền xong, mấy người da đỏ bèn đẩy thuyền đi.

Bác Gêoocgiơ ngồi ở phía cuối mũi thuyền kia. Người thanh niên da đỏ vừa đẩy chiếc thuyền khỏi bờ, tới ngồi chèo bên Giêoocgiơ.
Hai chiếc thuyền khởi hành trong đêm tối. Nick nhận ra tiếng cọc chèo va nhau của chiếc thuyền kia đang ở phía trước họ một quãng trong màn sương mù. Mấy người da đỏ chèo thuyền với lối chèo trở mái nhanh nhẹn lạ thường. Nick nằm ngửa trong vòng tay bố chú. Mặt nước hồ lạnh ngắt. Mấy người da đỏ chở bố con họ chèo cật lực, vậy mà lúc đó chiếc thuyền kia vẫn lướt nhanh về phía trước trong sương.
Nick hỏi:
- Chúng ta đi đâu, bố?
- Tới khu trại của người da đỏ. Có một người đàn bà da đỏ đang đau nặng.
- Thế à, - Nick đáp.

Khi qua khỏi vịnh, họ thấy chiếc thuyền kia đã cập bến. Giêoocgiơ đang ngồi hút thuốc trong bóng tối, một người da đỏ kéo chiếc thuyền ghếch mũi lên bờ. Giêoocgiơ đưa thuốc lá mời hai chàng trai da đỏ.
Từ bãi cát đi ngược lên, qua một cánh đồng cỏ ướt sũng sương đêm, theo sau anh chàng da đỏ cầm ngọn đèn lồng vào rừng men theo một đường mòn dẫn tới con đường vẫn dùng để chở gỗ, con đường này chạy vòng về phía sau thì tới mấy ngọn đồi. Ánh chiều tà trên con đường chở gỗ nom tựa một cây gỗ bị đẽo hai bên thân. Chàng trai da đỏ từng bước thổi tắt ngọn đèn, rồi bọn họ đi dọc theo đường cái. Lúc tới chỗ rẽ, một con chó chạy lại sủa ầm ĩ.
Trước mặt họ le lói ánh lửa từ năm túp lều lụp xụp nơi trú thân của những người da đỏ làm nghề bóc vỏ cây. Thêm vài con chó nữa lao về phía họ. Hai chàng da đỏ nọ dẫn bố con Nick lại phía mấy túp lều. Trong túp lều dựng gần đường cái, ánh sáng từ một cửa sổ hắt ra. Một bà lão đứng bên cửa lều, tay cầm cây đèn.
Phía trong lều, một thiếu phụ da đỏ còn trẻ nằm trên chiếc giương gỗ. Cô trở dạ đã hai ngày nay.
Mọi bà lão trong khu trại này đều đã tới để đỡ đần giúp cô. Cánh đàn ông đành ra khỏi nhà, họ đi ngược mãi lên đầu đường cái rồi ngồi trong bóng đêm hút thuốc, cốt tránh phải nghe tiếng gào thét xé ruột của cô. Đúng lúc Nick cùng hai chàng trai da đỏ theo sau bố chú vừa tới nơi, cô lại cất tiếng rên. Bác Giêoocgiơ bước vội vào trong lều. Cô nằm trên chiếc giường gỗ thấp lè tè, đắp tấm mền bông to sù.
Đầu cô ngật sang một bên. Chồng cô ngồi phía đầu giường suốt ba ngày qua, không chịu nổi tiếng kêu đau đớn của vợ, anh ta đã dùng rìu tự chém vào chân, vô cùng đau đớn. Anh ta đang phì phèo một tẩu thuốc. Khắp phòng nồng nặc mùi xú uế.

Bố của Nick sai lấy nước bắc lên lò, trong lúc chờ nước sôi, ông bảo Nick:
- Bà ta sắp trở dạ đẻ đấy.
- Con hiểu.
Bố chú vặn lại:
- Mày hiểu làm sao được. Nghe bố nói đây. Người ta thường gọi cái điều bà ấy đang phải chịu đựng là đau đẻ. Đứa bé muốn được ra chào đời, còn bà ấy cũng muốn nó ra sớm. Bà ấy đã phải dùng tất cả sinh lực của mình để rặn đẻ ra. Và việc ấy xảy ra cùng lúc bà ấy cất tiếng kêu rên.
- Con có nhận thấy thế.
Chợt thiếu phụ lại gào lên.
- Trời ơi, bố, thế bố không thể làm gì để giúp bà ấy đừng kêu nữa à?
- Chịu. Bố không có bất kỳ cách nào hết. Nhưng việc bà ấy kêu lên chẳng đáng ngại. Bố không để ý tới chúng, vì biết chúng hoàn toàn không hệ trọng gì.
Anh chồng đang ngồi phía đầu giường co rúm người tựa lưng vào tường.

Người đàn bà từ dưới bếp lên, thưa với bác sĩ rằng nước đã sôi. Bố chú bước vào bếp, ông trút nửa chỗ nước trong chiếc ấm lớn vào một chiếc chậu thau. Ông mở khăn tay, lấy ra mấy thứ dụng cụ rồi thả vào chỗ nước còn lại trong ấm.
- Nước sôi kỹ rồi chứ?
Ông hỏi rồi bắt đầu kỳ cọ hai bàn tay trong chiếc chậu đựng nước nóng bằng miếng xà phòng ông lấy từ lều. Nick nhìn bố đang lấy xà phòng sát hết bàn tay này sang bàn tay kia. Trong khi bố chú vừa rửa hai tay hết sức cẩn thận, ông vừa nói:
- Con nhớ nhé. Nick, trẻ sơ sinh thường đầu ra trước, nhưng đôi khi cũng có thể không thế. Nếu thai không quay thuận chiều, chúng sẽ gây ra rất nhiều phiền toái. May ra thì bố không phải mổ cho bà ta. Chỉ lát nữa thôi là chúng ta sẽ rõ.

Khi đã vừa lòng với đôi tay, ông bước vào lều để bắt đầu làm việc.
- Này bác Giêoocgiơ, bác gập giúp tôi chiếc mền bông lại chứ? Tôi không thể mó tay vào được.
Sau đó khi ông sắp mổ, Giêoocgiơ và ba người đàn ông da đỏ phải ghì cho người đàn bà nằm bất động. Cô cắn ngay vào tay Giêoocgiơ, bác chửi:
- Đồ chó cái da đỏ đáng nguyền rủa!
Thấy vậy, anh chàng da đỏ chở Giêoocgiơ tới, bật cười với bác. Nick bưng chậu nước đưa cho bố. Công việc kéo dài căng thẳng.

Bố chú đã lấy được đứa trẻ ra, ông phát phát vào người cho nó thở mạnh rồi trao cho bà lão.
- Thấy chưa Nick. Một thằng nhóc cơ đấy, con có thích trở thành một học sinh y khoa nội trú không?
- Cũng được thôi, bố ạ.
Nó nhìn đi nơi khác nên không rõ bố nó đang làm gì.
- Đấy cứ làm như thế.
Bố chú nói rồi đặt một vật gì đó vào chậu.
Nick không dám nhìn vật đó.
- Còn bây giờ phải khâu vào đây vài mũi nữa, con có muốn nhìn hay không, tuỳ thích, Nick ạ, bố sắp khâu lại vết rạch này đây.
Nick không dám nhìn tiếp. Sự tò mò của chú biến mất từ lúc nào.

Bố chú đã xong việc và đứng dậy. Giêoocgiơ cùng ba người đàn ông da đỏ đứng lên theo. Nick bưng cái chậu vào bếp.
Giêoocgiơ nhìn bàn tay mình. Anh chàng da đỏ mỉm cười nhớ lại mọi chuyện.
- Để tôi bôi ít thuốc pêrôxít lên đấy cho bác Giêoocgiơ - bố Nick bảo.
Ông cúi mình xuống người đàn bà da đỏ. Lúc này cô ta nằm hầu như bất động, đôi mắt nhắm nghiền.
Nom cô vô cùng nhợt nhạt. Cô hoàn toàn không nhận thức nổi chuyện gì vừa xảy ra với đứa bé hoặc bất kỳ điều nào khác.

Ông thày thuốc đứng dậy.
- Đến sáng tôi phải về. Khoảng trưa nay cô y tá sẽ từ Igơna tới đây, và chắc cô ta sẽ mang theo những thứ cần thiết.
Ông cảm thấy mình đang được đề cao, và thích nói năng nhiều hơn như một cầu thủ bóng đá trong buồng thay quần áo sau một trận đấu.
- Đấy là một ca đẻ khó, bác Giêoocgiơ ạ. Tôi đã phải dùng dao nhíp để mổ tử cung, rồi phải khâu tới chín mũi cơ đấy. Chỉ khâu rất mịn.
Giêoocgiơ đứng tựa vào tường, mắt vẫn không rời bàn tay, bác ta nói:
- Chà, ông quả là người nhân đức, thế là yên ổn cả.
Người thầy thuốc hồ hởi đáp:
- Giờ bác hãy nhìn cái ông bố đầy vẻ hãnh diện mà xem. Thông thường họ là kẻ phải chịu đựng những nỗi tệ hại nhất trong các trường hợp cỏn con thế này. Để tôi báo cho anh ta biết tin vui. Phải thú nhận rằng anh chàng này chịu đựng khá đấy chứ.
Ông nhấc chiếc khăn khỏi đầu anh chàng da đỏ nọ, tay anh ta ướt đầm đìa. Ông ngồi ghé lên cạnh giường gỗ thấp, một tay cầm ngọn đèn và nhìn anh ta. Người da đỏ nằm quay mặt vào tường. Cổ anh ta bị rạch toác từ tai bên này sang tai bên kia. Máu chảy thành từng vũng ngay chỗ cơ thể anh ta dưới mặt giường. Đầu anh ta gối lên cánh tay trái, lưỡi dao cạo vẫn còn đó, lưỡi dao chổng ngược qua mấy lớp chăn.
- Bác Giêoocgiơ, bác đưa giùm tôi cháu Nick ra khỏi lều ngay lập tức - người thày thuốc vội vã nói.
Bây giờ thì chẳng cần phải làm gì nữa. Nick đứng ở cửa bếp. Chú đã nom rõ mồn một tất cả cảnh trên giường khi bố chú một tay cầm ngọn đèn, tay kia kê lại cho đầu anh chàng da đỏ nọ ngửa về sau.

*
Hai bố con họ đang rảo bước trên con đường gỗ đằng sau trại dẫn xuống hồ, thì trời vừa hé sáng.
Bố vô cùng ân hận vì đã mang con theo, Nick ạ. - Bố chú bảo, tất cả niềm sung sướng sau ca mổ thành công của ông chợt tiêu tan hết. - Đúng là bố đã đẩy con vào một nơi nhớp nhúa, quá ư khủng khiếp.
- Thế ra người đàn bà nào lúc sinh nở cũng phải trải qua những giây phút cực nhọc ấy hả bố?
- Không đâu, đây là một trường hợp hết sức hãn hữu.
- Bố ơi, tại sao ông ta lại tự tử thế ạ?
- Bố cũng không hiểu nữa, bố cho rằng ông ta không đủ sức chịu đựng nổi sự đau đớn của vợ.
- Vậy đã có rất nhiều người đàn ông tự họ giết họ thế sao, bố?
- Chẳng nhiều lắm đâu, Nick ạ.
- Thế đàn bà có nhiều người hành động như vậy không?
- Hầu như không bao giờ.
- Quả họ không bao giờ hành động như vậy cả ạ?
- Ừ phải, nhưng đôi khi họ cũng làm cơ đấy.
- Thế hả bố.
- Đúng thế.
- Bác Giêoocgiơ đâu rồi?
- Bác ấy đến ngay bây giờ.
- Chết có khó lắm không bố?
- Không, bố nghĩ gì chứ chết cũng khá dễ, Nick ạ Nhưng còn tuỳ.

Hai bố con lên thuyền, Nick ngồi phía sau, bố chú cầm mái chèo. Mặt trời đang nhô khỏi rặng đồi. Một chú cá Pecca phóng vọt lên làm thành một gợn tròn trên mặt hồ. Nó gợi cho ta cảm giác ấm áp trong cảnh giá lạnh tê buốt của buổi sáng hôm ấy.

Và cũng vào buổi sớm tinh mơ nọ, trên mặt hồ, ngồi sau thuyền với người bố đang đưa mái chèo, thằng bé vẫn đinh ninh rằng nó sẽ chẳng thể chết được.

NGUYỄN TUẤN KHANH dịch

***

Những người da đỏ đã đi rồi

Ernest Hemingway


Con đường đi Petosky chạy thẳng lên đồi từ nông trại của Grandpa Bacon. Nông trại của lão ở cuối đường. Dẫu vậy cứ như thể là con đường  bắt đầu từ nông trại của lão chạy tới Petoskey, dọc theo bờ rìa rừng lên ngọn đồi dài, dựng đứng  và cát phủ, để biến mất dạng trong cánh rừng nơi  con dốc dài của những cánh đồng kiềm mình lại  mà tựa vào rừng cây.

Sau khi con đường đi vào trong rừng trời mát và cát dưới chân chắc lại nhờ hơi ẩm. Con đường lên rồi xuống đồi xuyên qua cánh rừng hai bên đầy nhưng bụi dâu và cây dẻ gai non được cắt tỉa định kì để chúng khỏi che khuất lối đi. Mùa hạ những người da đỏ nhặt dâu rừng dọc theo đường rồi mang xuống nhà lều mà bán, xếp vào  những cái xô, dâu hoang đỏ từng chùm oằn nặng, phủ kín bằng lá quất giữ mát, dâu rừng đen muộn, chắc nịch và sáng tươi, hàng xô đầy. Người da đỏ mang chúng đi xuyên qua rừng đến  chỗ nhà lều bên bờ hồ. Bạn chẳng bao giờ nghe  thấy bước chân họ đến nhưng có họ đứng đó bên cửa bếp với những xô thiếc đầy dâu. Thỉnh  thoảng Nick, trong khi nằm võng đọc sách, ngửi  thấy những người da đỏ đi qua cổng vượt ngang  đống gỗ và vòng quanh nhà. Người da đỏ đều có  cùng một mùi. Đó là cái mùi ngòn ngọt người da  đỏ nào cũng có. Anh ngửi được cái mùi ấy lần  đầu tiên khi Grandpa Bacon cho người da đỏ thuê căn chòi sát doi đất và sau khi họ dọn đi anh  bước vào lều và tất cả toát ra cái mùi ngòn ngọt  đó.

Sau đó Grand Bacon chẳng thể nào cho người  da trắng thuê căn lều đó được và chẳng người da đỏ nào thuê nó nữa bởi vì gã da đỏ sống ở đó đã  đi vào Petoskey để uống say sưa vào ngày quốc khánh và, trong lúc quay về, đã nằm dài ra ngủ trên đường ray xe lửa đi Pere Marquette và bị chuyến tàu nửa đêm cán chết. Gã là một người  da đỏ cao lêu khêu, đã làm cho Nick cây chèo bằng gỗ tần bì. Gã sống một mình trong lều và  uống thuốc giảm đau rồi một mình trong đêm đi  xuyên qua rừng. Nhiều người da đỏ cũng có cái  kiểu ấy.

Chẳng có người da đỏ nào thành đạt. Trước  đây có những người da đỏ già sở hữu những  nông trại và khai thác chúng rồi già đi và mập ra  cùng quá nhiều lũ con rồi cháu. Những người da đỏ như Simon Green sống ở nhánh sông Hortons  và đã từng có một nông trại lớn. Thế nhưng  Simon Green chết, và con cái lão đã bán nông  trại đi để chia tiền mà ra riêng đâu đó.

Nick còn nhớ Simon Green ngồi trong chiếc  ghế trước cái lò rèn ở vịnh Hortons mà toát mồ hôi dưới nắng trong khi những con ngựa của lão được đóng móng. Nick thì lục thuổng đất bùn ầm lạnh dưới mái hiên nhà kho tìm trùn đã lấy mấy  ngón tay bới sâu vào đất và đã nghe được tiếng  chan chát gấp gáp của sắt bị búa đập. Anh rây  đất bùn vào lon đựng trùn rồi lấp lại chỗ đất đã  bị bới lên, dùng xẻng san bằng ra. Bên ngoài kia dưới nắng Simon Green ngồi trong ghế.
- Chào Nick, - lão nói khi Nick đi ra.
- Chào ông Green.
- Đi câu à?
- Vâng.
- Một ngày khá nóng đấy, - Simon mỉm cười.  - Hãy nói với ba cậu là chúng tôi sẽ có hàng lố chim mùa thu này.

Nick tiếp tục đi ngang qua miếng đất đằng  sau lò rèn mà bước vào nhà lấy cây cần câu và giỏ đựng cá. Trên đường trở lại nhánh sông, Simon Green cho xe độc mã đi dọc theo đường  làng. Nick vừa đi vào khu rẫy và Simon không  nhìn thấy anh. Đó là lần cuối cùng anh nhìn thấy  Simon Green. Mùa đông đó lão chết rồi mùa hè năm sau nông trại của lão bị bán đi. Ngoài cái  nông trại lão chẳng để lại gì. Tất thảy mọi thứ trên đời đều dồn cả vào cái nông trại. Một người  con trai của lão muốn tiếp tục làm nông nhưng  những đứa con khác làm áp lực với hắn rồi cái nông trại bị bán đi. Chuyện bán buôn tiền chẳng  được một nửa cái số tiền mà người ta tưởng.

Gã con trai của Green là Eddy muốn tiếp tục làm nông, đã mua một miếng đất quá đằng sau suối Spring. Hai đứa con khác mua một tiệm bi da lỗ ở Pellston. Họ hết tiền rồi bán xới luôn. Đó  là con đường người Da Đỏ ra đi.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tue Oct 17, 2017 12:25 pm



Kawabata Yasunari (1889-1972) là nhà văn Nhật bản đầu tiên nhận giải Nobel văn chương năm 1968. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Kawabata nổi tiếng với các tiểu thuyết “Xứ Tuyết”, “Ngàn cánh hạc”, và “Tiếng núi”, nhưng ông cũng viết nhiều truyện rất ngắn - loại truyện mà ông gọi là tanagokoro no shôsetsu (truyện ngắn trong lòng bàn tay). Những truyện này ít có cốt truyện, mà miêu tả những cảm xúc và trải nghiệm tức thời có những ý nghĩa lớn. Khi bạn đọc truyện sau đây, được viết năm 1945, khi vừa kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, hãy thử nghĩ về từng chi tiết nhỏ có ý nghĩa gì với nhân vật chính, Kimiko.



Quả lựu

Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


Trong gió lộng đêm ấy cây lựu đã trút hết lá.
Lá cây rơi nằm thành một lớp tròn quanh gốc cây.
Vào buổi sáng Kimiko giật mình khi thấy cây trơ trụi, và ngạc nhiên vì vòng tròn hoàn hảo của lá dưới cây. Nàng đã tưởng là gió sẽ xáo trộn chúng.
Có một quả lựu, một quả lựu rất đẹp, còn lại trên cây.
“Đến xem này mẹ”, nàng gọi mẹ nàng.
“Mẹ đã quên mất nó”. Mẹ nàng nhìn lên cây và bỏ vào nhà bếp.

Quả lựu làm Kimiko nghĩ đến sự cô đơn của hai mẹ con. Quả lựu phía trên hàng hiên cũng cô đơn và bị lãng quên.
Khoảng hai tuần trước, đứa cháu trai bảy tuổi của nàng đến chơi nhà, và đã để ý những quả lựu ngay. Nó leo lên cây. Kimiko cảm thấy nàng còn hiện diện trong đời.
“Có một quả lựu to ở phía trên đó”, nàng nói từ hàng hiên.
“Nhưng nếu con hái nó con không thể leo xuống được”.
Quả đúng vậy! Để leo xuống với những quả lựu trong cả hai tay thì không dễ. Kimiko cười. Nó là đứa cháu ngoan.
Cho tới khi nó đến hai mẹ con nàng đã quên mất quả lựu. Và đến bây giờ họ lại quên nữa.
Khi đó quả lựu ẩn mình trong lá. Giờ thì nó hiển hiện trên nền trời.
Có sức mạnh trong quả lựu và trong vòng lá dưới gốc cây. Kimiko đi chọc cho quả lựu rơi xuống bằng một cây tre.
Quả lựu chín đến nỗi những hạt lựu bung nứt vỏ. Những hạt lựu lấp loáng trong ánh nắng khi nàng đặt quả lựu trên hàng hiên, và nắng như thể chiếu xuyên qua chúng.
Nàng cảm thấy như hối tiếc.

Khoảng mười giờ khi ở trên gác với món đồ may, nàng nghe tiếng của Keikichi. Qua khung cửa không khóa, hình như chàng đã vòng qua vườn. Có vẻ khẩn cấp trong giọng nói của chàng.
“Kimiko, Kimiko!” - mẹ nàng gọi - “Keikichi đến này”.
Kimiko chưa xỏ chỉ vào kim. Nàng cắm kim trở lại vào chiếc gối cắm kim.
“Kimiko nói nó muốn gặp lại cháu trước khi cháu đi”, Keikichi sắp ra trận. “Nhưng chúng ta khó đi gặp cháu khi không có lời mời, mà cháu thì không đến. Hôm nay cháu đến thật là hay”.
Bà mời chàng ở lại ăn trưa, nhưng chàng đang vội.
“Vậy thì ít nhất hãy ăn một quả lựu. Chúng tôi tự trồng đấy” - Bà lại gọi Kimiko.

Chàng chào nàng bằng mắt, như muốn nói chàng có thể làm nhiều hơn việc chỉ chờ nàng xuống. Nàng dừng bước trên cầu thang.
Một cảm xúc ấm áp như đến với mắt chàng, và quả lựu từ tay chàng rơi xuống đất.
Họ nhìn nhau và cười.
Khi nhận ra mình đang cười, nàng đỏ mặt. Keikichi đứng dậy.
“Em bảo trọng nhé, Kimiko”.
“Anh cũng vậy nhé”.
Chàng đã quay đi và đang nói lời tạm biệt với nàng.
Kimiko nhìn cổng vườn sau khi chàng đi.
“Cậu ấy vội”, mẹ nàng nói. “Quả lựu đẹp thế chứ”.
Chàng đã để quả lựu lại trên hàng hiên.

Hình như chàng làm rơi quả lựu vì cảm giác ấm áp đến với mắt chàng khi chàng đang sắp mở quả lựu. Chàng đã không tách nó thành hai nửa. Quả lựu nằm với những hạt lựu hướng lên trên.
Mẹ nàng mang quả lựu vào nhà bếp rửa, rồi đưa cho Kimiko.
Kimiko cau mày và rụt tay lại, rồi, đỏ mặt một lần nữa, cầm quả lựu đi với vẻ bối rối.
Keikichi hình như đã lặt mấy hạt ngoài rìa.

Người mẹ nhìn nàng, hẳn là sẽ thấy lạ khi nàng không ăn. Nàng thờ ơ cắn vào quả lựu. Chất chua ngập trong miệng nàng. Nàng cảm thấy một niềm vui, như đang thâm nhập vào sâu trong nàng.
Thờ ơ, mẹ nàng đứng dậy.
Bà đến bên tấm gương và ngồi xuống. “Hãy nhìn tóc của mẹ. Mẹ chào tạm biệt Keikichi với búi tóc rối này”.
Kimiko nghe mẹ nàng nói đến lược.
“Khi cha con chết”, mẹ nàng nhẹ nhàng nói, “Mẹ sợ chải tóc. Khi mẹ chải tóc mẹ sẽ quên những gì mẹ đang làm. Khi mẹ tỉnh trí lại cứ như thể cha con đang chờ cho mẹ làm xong”.
Kimiko nhớ thói quen của mẹ nàng là ăn những gì thừa cha nàng để lại trên dĩa của ông.
Nàng cảm thấy điều gì đó níu kéo nàng, một niềm vui làm nàng muốn khóc.
Có thể mẹ nàng cho nàng quả lựu thay vì miễn cưỡng ném nó đi. Chỉ là vì thế! Đã hình thành một thói quen là không ném các đồ vật đi.

Một mình với niềm vui riêng tư của nàng, Kimiko cảm thấy mắc cỡ trước mẹ nàng.
Nàng nghĩ rằng đó là một lời tạm biệt tốt hơn mà Keikichi đã có thể nhận thức, và rằng nàng có thể đợi lâu đến bao nhiêu cũng được chờ chàng trở về.
Nàng nhìn về phía mẹ. Nắng đang chiếu trên những ô cửa giấy bên kia chỗ mẹ nàng ngồi nơi tấm gương.

Không hiểu vì sao nàng ngại cắn vào quả lựu để trên đầu gối nàng.

Võ Hoàng Minh dịch từ bản tiếng Anh
của E.G. Seidensticker.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sat Oct 21, 2017 8:10 am




CON QUỶ GIÀ

Pearl Buck
(Nobel 1938)


Cố nhiên bà lão Vương biết có chiến tranh. Từ lâu, mọi người đều đã biết chiến tranh tiếp diễn và bọn Nhật đang giết người Trung Hoa. Tuy nhiên, điều đó không hiện thực và chẳng hơn gì lời đồn đại vì không có ai trong dòng họ Vương bị giết cả. Làng Vương Tam Lý trên bờ sông Hoàng Hà, vốn là làng của bộ tộc bà lão Vương, chưa hề trông thấy một tên Nhật nào hết. Thành thử họ có bàn bạc gì về bọn Nhật thì cũng chỉ là nói có thế thôi.

Đó là một buổi chiều đầu mùa hạ, và sau bữa ăn chiều, bà cụ Vương leo các bậc lên đê, như mọi ngày, để xem mực nước sông đã dâng đến đâu. Bà sợ con sông này hơn bọn Nhật. Bà biết con sông có thể làm gì. Và lần lượt, dân làng theo bà lên đê và giờ đây, họ đứng đăm đăm nhìn dòng s
ông nước vàng đục tinh quái cuộn mình như một bầy rắn nghiến ngấu cắn vào bờ đê cao.
- Ta chưa bao giờ thấy nó lên cao thế vào cỡ này, bà Vương nói. Bà ngồi xuống một cái ghế tre do gã cháu nội Tiểu Trư mang tới cho bà và nhổ xuống nước.
- Cái con sông quỷ già này còn tệ hơn bọn Nhật, Tiểu Trư nói bạt mạng.
- Đồ ngu dại! Bà Vương vội mắng. Khéo Hà Bá nghe thấy đó. Nói chuyện gì khác đi.
Thế là họ bàn tán về bọn Nhật... chẳng hạn, anh Vương chủ lò bánh, cháu gọi bà cụ Vương bằng bà bác, hỏi: làm sao nhận ra được bọn Nhật khi thấy chúng đến đây, bà cụ Vương quả quyết:
- Các cháu sẽ nhận ra được bọn chúng. Bà đã có lần trông thấy một người nước ngoài. Y còn cao hơn mái chìa nhà bà, tóc màu bùn và mắt màu mắt cá. Kẻ nào trông không giống chúng ta - đó là một tên Nhật.
Mọi người lắng nghe vì bà là người già nhất trong làng và bất kỳ điều gì bà nói ra đều giải quyết một vấn đề gì đó.
Thế rồi Tiểu Trư lên tiếng theo cái lối đâm ngang của gã: - Bà không nhìn thấy chúng được đâu, bà ạ. Chúng nó nấp ở trên trời, trong những chiếc máy bay.
Bà Vương không trả lời ngay. Giá như trước đây, ắt bà đã quả quyết: “Bao giờ ta trông thấy máy bay thì ta mới tin là có nó”. Song le, đã có biết bao điều bà không tin mà vẫn có thực - chẳng hạn, Hoàng hậu mà bà không tin là có thể chết, thì lại chết thật.
Lại nữa, như nền Cộng hoà, mà bà cũng chả tin vì bà không biết nó là cái gì. Bà không biết, nhưng bây giờ bà chỉ lặng lẽ nhìn quanh con đê, nơi tất cả đang ngồi quây lấy bà. Trời rất dễ chịu và mát rượi, bà thấy chẳng việc gì cả nếu nước sông không dâng to đến mức thành lụt lội.
- Ta chả tin là có bọn Nhật, bà nói dứt khoát.
Mọi người cười bà một chút, nhưng không ai nói gì. Có người châm ống điếu cho bà - đó là vợ Tiểu Trư, cháu dâu cưng của bà - và bà hút.
- Hát đi, Tiểu Trư! Một người nào đó đề nghị.
Thế là Tiểu Trư hát một bài hát cổ bằng một giọng cao, run run. Bà lão Vương nghe và quên hẳn bọn Nhật. Buổi chiều thật đẹp, trời quang tĩnh đến nỗi rặng liễu rủ trên đê soi bóng xuống cả dòng nước ngầu bùn. Mọi vật đều yên bình. Hơn ba mươi nóc nhà họp thành làng tải ra rải rác mé dưới, không gì có thể phá vỡ sự yên bình này. Nói cho cùng, bọn Nhật cũng là người.
- Bà vẫn nghi ngờ những cái máy bay ấy, bà nhẹ nhàng nói với Tiểu Trư khi anh ngừng hát.
Nhưng không trả lời bà, anh lại tiếp sang bài khác.
Năm này sang năm khác, bà đã qua những buổi tối mùa hè như thế này
trên mặt đê. Lần đầu tiên vào lúc bà mười bảy tuổi, vừa mới cưới, chồng bà kêu to gọi bà ra khỏi nhà để lên đê và bà tới náu trong đám phụ nữ, mặt đỏ bừng bừng và hai tay xoắn vào nhau vặn vẹo, trong khi cánh nam giới hò la và bỡn cợt bà. Mặc dù thế, họ đều mến bà: “Cậu vớ được miếng thịt bỏ bát thật ngon lành”, họ nói với chồng bà như vậy: “Chân khí to”, chồng bà đáp, vẻ không tán thành, nhưng bà có thể thấy là ông vừa ý, thế là bà dần dần hết nhút nhát bẽn lẽn.
Tội nghiệp, ông đã bị chết đuối trong một vụ lũ lụt từ hồi còn trẻ. Và bà đã mất bao nhiêu năm chạy thầy chùa cầu xin cho ông thoát khỏi ngục tĩnh tội. Cuối cùng, bà đâm mỏi mệt, một phần cũng vì phải lo toan gánh vác tất cả, nào con nhỏ, nào ruộng vườn, cho nên khi thiền sư ngon ngọt dỗ:
“Mười quan tiền bạc nữa là anh ấy sẽ thoát khỏi hoàn toàn”, bà liền hỏi: “Vậy anh ấy còn mắc cái gì trong đó?”
- Chỉ còn bàn tay phải nữa thôi, nhà sư đáp.
Ấy thế là bà hết kiên nhẫn. Mười quan tiền bạc! Chừng ấy đủ nuôi cả nhà bà đến hết mùa đông. Vả lại bà còn phải thuê lao động để đóng góp phần mình vào việc sửa chữa đê cho khỏi bị lụt nữa.
- Nếu chỉ còn một bàn tay thì anh ấy có thể tự lực rút ra được, bà rắn rỏi nói.


Bà vẫn thường tự hỏi: tội nghiệp con người khờ khạo, chả biết anh ấy đã rút ra được chưa. Cũng như ban đêm bà thường buồn bã nghĩ rằng ông ấy vẫn nằm đó, đợi bà làm một cái gì để cứu ông ấy, ông là loại người như thế đó. Thôi được, có lẽ để khi nào vợ Tiểu Trư đẻ đứa con đầu lòng yên ổn trót lọt và bà dư dật thêm một chút, thì bà sẽ trở lại lo nốt việc cứu ông ra khỏi ngục tĩnh tội. Dù sao thì cũng chả thật vội lắm…
- Bà ơi, bà phải về đi thôi, giọng vợ Tiểu Trư nhẹ nhàng nói. Bây giờ, mặt trời đã lặn rồi, đang có sương mù dâng lên từ mặt sông.
- Ồ chắc ta phải về thôi, bà lão Vương tán thành.
Bà đăm đăm nhìn dòng sông một lúc. Cái con sông này, nó chứa đầy cả cái tốt lẫn cái xấu. Khi nào ngăn chặn cẩn thận, nó tưới nước cho ruộng đồng, nhưng hễ thả lỏng một vài phân là nó xô vỡ bờ như một con rồng gầm thét.
Chính chồng bà đã bị cuốn đi như thế - ông đã không trông nom cẩn thận đoạn đê của mình. Ông luôn luôn đi vá đê, luôn luôn đắp thêm đất lên mặt đê, thế rồi, trong một đêm, nước dâng cao và bục qua. Ông chạy ra khỏi nhà và bà bế đứa con trèo lên mái, nhờ đó, hai mẹ con sống sót trong khi ông thì chết đuối. Thế rồi họ lại đẩy con sông trở về sau những thân đê và lần này, nó đã ở lại đấy. Ngày ngày, bà đích thân đi tới đi lui, xem xét đoạn đê được giao cho làng phụ trách. Cánh nam giới cười nói với nhau:
“Nếu đê có làm sao thì có bà nội báo cho chúng ta biết”.

Chẳng bao giờ có ai trong số họ nảy ra ý nghĩ chuyển làng cách xa dòng sông. Họ Vương đã sống ở đây bao đời, một số thế hệ luôn luôn thoát khỏi nạn lụt và càng chiến đấu với con sông dữ dằn hơn bao giờ hết. Đột nhiên, Tiểu Trư ngừng hát.
- Trăng đang lên kìa! Anh kêu lên. Thế là không tốt đâu, máy bay thường đi vào những đêm sáng trăng.
- Mày học ở đâu những điều đó về máy bay vậy?
Bà lão Vương thốt lên. Tao thấy phát ớn, bà nói thêm, giọng nghiêm nghị đến nỗi không ai dám lên tiếng. Trong sự im lặng đó, bà vịn vào cánh tay vợ Tiểu Trư, chậm rãi bước xuống những bậc đất dẫn vào làng, tay kia dùng chiếc ống điếu làm gậy chống.
Đằng sau bà, dân làng từng người một lục đục theo xuống đi ngủ. Không ai dám ra về trước bà, nhưng cũng không ai ở lại lâu sau khi bà đã về.
Và cuối cùng, trong chiếc giường của mình đằng sau những rèm vải bông xanh ngăn muỗi mà vợ Tiểu Trư cài ghép thật kín, bà thiếp đi trong giấc ngủ bình yên. Trước đó, bà đã nằm thao thức một lúc nghĩ về bọn Nhật và thắc mắc tại sao chúng lại muốn đánh nhau. Chỉ có những kẻ rất thô lỗ mới muốn chiến tranh. Bà hình dung những người trong óc to lớn thô lỗ. Nếu họ đến, ta phải dỗ ngọt họ, bà nghĩ, mời họ uống trà và giảng giải cho họ điều phải trái - Có điều, tại sao họ lại phải đến một cái làng nông nghiệp thanh bình?

Cho nên, bà hoàn toàn không chờ đợi vợ Tiểu Trư thét lên bảo bà là bọn Nhật đã đến, bà ngồi dậy trên giường, miệng lẩm bẩm: “Các chén trà... đồ trà…”
- Bà không có thì giờ đâu! Vợ Tiểu Trư la lên. Chúng đến đây rồi… Chúng đến đây rồi.
- Đâu? Bà lão Vương hỏi to, lúc này đã tỉnh hẳn.
- Ở trên trời! Vợ Tiểu Trư rền rĩ.
Thế là họ chạy cả ra, trong tang tảng bình minh và ngước nhìn lên. Trên kia, như đàn ngỗng trời bay trong mùa thu, có những hình cánh chim to đùng.
- Cơ mà chúng là cái gì vậy? Bà lão Vương kêu lên.
Thế rồi, như một quả trứng bạc rơi, một cái gì trôi thẳng xuống và rớt vào một cánh đồng ở đầu đằng kia làng. Một cột đất phụt lên và tất cả chạy tới xem. Thấy một cái hố đường kính khoảng gần mười mét, to như cái ao. Họ sửng sốt không thốt lên lời, thế rồi, chưa ai kịp nói gì thì một quả trứng nữa và một quả nữa đã lại bắt đầu rơi và tất cả mọi người đều chạy, chạy… Tất cả mọi người có nghĩa là trừ bà cụ Vương.
Khi vợ Tiểu Trư nắm tay bà để lôi đi, bà cụ Vương giật ra và ngồi xuống, dựa vào bờ đê.
- Bà không thể chạy được, bà nói. Bảy mươi năm nay, bà không chạy, vì trước đó bà đã bó chân. Cháu đi đi. Tiểu Trư đâu rồi?
Bà nhìn quanh. Tiểu Trư đã biến mất rồi.
- Y như ông nội nó, bà nhận xét, bao giờ cũng chạy trước tiên.
Nhưng vợ Tiểu Trư không muốn để bà lại, có nghĩa là chỉ chịu rời khi bà nhắc rằng đó là bổn phận của cô.
- Nếu Tiểu Trư chết, bà nói, thì điều cần thiết là con trai nó phải được sinh ra trót lọt. - Và khi cô gái vẫn còn chần chừ, bà lấy chiếc ống điếu gõ nhẹ vào cô “Đi đi, đi đi” bà kêu lên.
Thế là, một cách miễn cưỡng, bởi lúc này, hai bà cháu gần như không
nghe thấy nhau vì tiếng gầm rú của những chiếc máy bay bổ nhào, vợ Tiểu Trư đành chạy đi cùng những người khác.

Lúc này, mặc dù mới có mấy phút trôi qua, làng đã tan tành và những mái rạ cùng rui mè gỗ đang cháy đùng đùng. Tất cả mọi người đều bỏ chạy.
Qua chỗ bà cụ Vương, họ la bà đi theo và bà vui vẻ đáp lại:
- Ta đi đây… ta đi đây!
Nhưng bà không đi. Bà ngồi lại một mình: giờ đây, bà đang theo dõi một cảnh tượng phi thường.
Vì chẳng mấy chốc đã có mấy chiếc máy bay khác đến, bà chẳng biết là từ đâu, nhưng chúng đánh
như những chiếc lúc đầu. Mặt trời chiếu xuống những cánh đồng lúa đang chín và trong không khí mùa hè trong veo, đám máy bay phăng phăng lao vun vút và khạc vào nhau. Khi nào kết thúc cuộc này, bà nghĩ bụng, bà sẽ quay về làng xem có sót lại gì không. Đó đây, một bức tường vẫn còn đứng vững chống đỡ cho một cái mái, từ đây, bà không nhìn thấy nhà mình được. Nhưng bà không phải không quen với chiến tranh. Có lần, bọn đạo tặc đã đến cướp phá làng và hồi đó, nhà cửa cũng bị đốt. Ờ, bây giờ chuyện đó lại xảy ra. Đốt nhà thì có thể là chuyện thường thấy, nhưng cái trò giao tranh loang loáng ánh bạc, lao vun vút trong không trung này thì chưa hề. Bà chẳng hiểu mô tê gì cả - những vật đó là gì làm sao chúng trụ lại được ở trên trời, thật không biết đằng nào mà lần.
Bà đành chỉ ngồi nhìn, mỗi lúc một đói.
“Mình những muốn nhìn một chiếc ngay gần kề”, bà nói to ý nghĩ của mình. Và giữa lúc đó, như đáp lại nguyện ước của bà, một chiếc trong đám đột nhiên chúc xuống và lảo đảo xoay lộn như bị thương, nó đâm xuống một cánh đồng mà Tiểu Trư vừa mới cày vỡ hôm qua để gieo đậu tương.
Và phút chốc, bầu trời lại trống không và trên mặt đất chỉ còn cái vật bị thương này cùng bản thân bà.


Bà thận trọng nhấc mình lên khỏi mặt đất, ở tuổi này, bà chẳng cần phải sợ cái gì. Bà quyết định là mình có thể lại gần xem nó là cái gì. Thế là, chống chiếc ống điếu bằng tre, bà chậm rãi đi qua cánh đồng. Đằng sau bà, trong sự yên tĩnh đột ngột, vài ba con chó làng xuất hiện và đi theo, len lét trườn mình bám sát bà. Khi đến gần chiếc máy bay rơi, chúng sủa như điên. Rồi bà lấy chiếc ống điếu đánh chúng:
- Im, bà mắng, vừa mới đây cũng đủ ầm ĩ để vỡ tai tao rồi còn gì.
Bà gõ gõ vào chiếc máy bay.
- Kim loại, bà bảo lũ chó. Chắc chắn là bạc đây, bà nói thêm. Đem nấu chảy ra, cả làng sẽ giàu to.
Bà đi quanh, xem xét thật kỹ. Cái gì làm cho nó bay được nhỉ? Nom nó như chết rồi. Không có gì động đậy hoặc phát ra tiếng gì bên trong nó. Rồi đi sang mé nó lật nghiêng, bà trông thấy một gã trai trẻ trong đó, lụn xuống thành một đống trong chiếc ghế nhỏ. Lũ chó gầm gừ, nhưng bà lại đánh và chúng lùi lại.

- Cậu chết rồi ư? Bà lễ phép hỏi.
Gã trai trẻ, nghe tiếng bà, gã cử động nhưng không nói gì. Bà tiến lại gần hơn và ngó vào cái hốc chỗ gã ngồi. Mạn sườn gã chảy máu.
- Bị thương! Bà kêu lên. Bà nắm lấy cổ tay gã.
Cổ tay ấm nhưng cứng đơ, và khi buông ra, nó rơi bịch vào thành cái hốc.
Bà nhìn gã chòng chọc. Tóc gã đen, da ngăm ngăm như người Trung Hoa. “Chắc cậu ta là người phương Nam”, bà nghĩ thầm. Chà, điều chủ yếu là gã còn sống.
- Cậu nên chui ra thì hơn. Già sẽ đắp cỏ thuốc vào mạn sườn cho cậu.
Gã thanh niên lí nhí điều gì nghe không rõ.
- Cậu bảo gì? Bà hỏi. Song gã không nhắc lại.
“Ta hãy còn khoẻ chán”, bà cả quyết như vậy sau một lát. Thế là bà vươn tay vào, ôm lấy ngang lưng gã vừa từ từ kéo gã ra, thở hổn hà hổn hển.
May sao, gã là người nhỏ con và rất nhẹ. Khi bà đưa được gã xuống đất, gã có vẻ như tìm thấy lại được chân mình; gã đứng run rẩy, bám lấy bà và bà xốc gã lên. - Bây giờ, nếu cậu đi được về nhà già, bà nói, già sẽ xem xét có cỏ thuốc ở đấy không?
Rồi gã nói một câu gì rất rành rõ. Bà lắng nghe và không hiểu một tiếng nào. Bà lùi ra khỏi gã và nhìn chằm chằm.
- Cái gì thế? Bà hỏi.
Gã chỉ lũ chó. Chúng đang đứng gầm gừ, lông cổ dựng đứng. Rồi gã lại nói, đang nói thì gục xuống đất. Lũ chó xô đến, thành thử bà phải vung hai tay đánh đuổi chúng.
- Cút đi! Bà quát. Ai bảo chúng mày định giết cậu ấy? Thế rồi, sau khi chúng lùi lại, bà xoay xở cách nào đó vực được gã lên lưng mình, và run rẩy, nửa cõng nửa kéo lê, bà tha gã về một ngôi làng bị tàn phá và đặt gã trên đường để đi tìm nhà, dắt cả lũ chó theo sau.

Nhà bà đi tong rồi. Bà tìm thấy chỗ đó khá dễ dàng: nó đối diện với cửa cống ăn vào đê. Trước đây, chính bà vẫn thường ngắm nhìn cái cửa cống ấy.
Thần tình làm sao, giờ đây nó không hề bị hư hại, cả con đê cũng không vỡ. Dựng lại nhà thì cũng khá dễ thôi. Có điều hiện tại, nó đi tong rồi.
Cho nên bà quay trở lại chỗ gã thanh niên. Gã nằm y nguyên trong tư thế bà đã đặt gã, dựa vào bờ đê, thở hổn hển và tái xanh tái xám. Gã đã mở phanh áo ngoài và cầm một cái túi nhỏ, lấy ra những băng vải, cùng một lọ đựng thứ gì đó. Và gã lại nói, và bà không hiểu mô tê gì. Gã bèn ra hiệu và bà thấy là gã cần nước, cho nên bà nhặt một chiếc bình vỡ trong đám vô số bình lọ vung vãi trên đường và lên đê múc đầy nước sông, mang xuống, rửa vết thương cho gã, và bà xé những dải gã rút ra từ những cuộn băng.
Gã biết cách đắp vải lên vết thương hoác miệng và gã ra dấu cho bà theo đó mà làm. Suốt thời gian đó, gã cố nói cho bà điều gì, song bà chẳng hiểu gì sất.
- Chắc là cậu ở phương Nam đến, bà nói. Cũng dễ thấy là gã có học vấn. Nom gã rất thông minh.
- Già nghe cậu nói tiếng khác với tiếng vùng này.
Bà khẽ cười một chút để khiến gã yên tâm thoải mái, song gã chỉ lầm lầm nhìn bà bằng cặp mắt lờ đờ. Cho nên bà tươi tỉnh nói:
- Giờ mà già này kiếm được cái gì cho hai ta ăn thì hay quá.
Gã không trả lời. Thực tế, gã nằm ngật ra sau, thở dốc nặng nề hơn và trân trân nhìn vào khoảng không như thể bà chẳng nói gì.
- Có cái ăn, cậu sẽ đỡ hơn, bà nói tiếp. Già cũng thế, bà nói thêm. Bà bắt đầu cảm thấy đói không sao chịu nổi.
Bà chợt nghĩ ra là ở cửa hàng anh Vương, có thể có chút bánh mì. Cho dù có lấm bụi vì vữa đổ thì vẫn cứ là bánh mì. Bà sẽ tới xem. Nhưng trước khi đi, bà dịch gã lính đi một tý cho gã nằm vào mép bóng râm của một cây liễu mọc trên bờ đê. Rồi bà đến cửa hàng bánh. Lũ chó đã đi khỏi rồi.

Như mọi thứ khác, cửa hàng bánh cũng tan hoang, không có ai ở đó. Thoạt đầu, bà không trông thấy gì ngoài đống vách lụn đổ. Nhưng rồi bà nhớ ra rằng lò ở ngay bên trong cửa ra vào, mà khung cửa thì còn đứng thẳng, đó một đầu hồi mái. Bà đứng giữa khung cửa ấy, và đưa tay lần lần dưới lớp mái đổ bên trong, bà sờ thấy cái vung gỗ của cái chảo sắt. Bên dưới vung, có thể có bánh mì hấp.
Bà nhẹ nhàng, thận trọng luồn cánh tay vào. Mất một lúc lâu, nhưng ngay cả nhẹ tay thế mà vôi, bụi cũng bốc mù lên khiến bà nghẹn thở. Tuy nhiên, bà đã đoán đúng. Bà lách bàn tay dưới vung chảo và sờ thấy lớp cùi mịn chắc của những ổ bánh mì hấp và lần lượt lôi ra bốn ổ.
- Khó mà chết nổi đồ cóc già như ta đây, bà vui vẻ nhận xét chẳng với ai cả và trên đường về, bà bắt đầu ăn một ổ. Giá có một mẩu tỏi và một chén trà... song thời buổi này, người ta không thể có đủ mọi thứ được. Chính lúc ấy, bà nghe thấy có những tiếng người.
Khi đến quãng có thể thấy gã lính, bà trông thấy một đám lính khác chẳng biết từ đâu đến vây quanh gã. Họ đứng nhìn xuống gã thương binh lúc này đang nhắm nghiền mắt.
- Mẹ già ơi, mẹ vớ đâu được tên Nhật này vậy?
Họ la hỏi bà.
- Tên Nhật nào? Bà bước đến chỗ họ, hỏi.
- Tên này! Họ nói lớn.
- Cậu ta là một tên Nhật à? Bà kêu lên, kinh ngạc hết sức. Cơ mà nom cậu ấy giống như chúng ta… mắt cậu đen… da cậu…
- Nhật đấy! Một người trong bọn họ hét lên với bà.
- Ờ, bà điềm tĩnh nói, cậu ta từ trên trời rơi xuống.
- Cho tôi mấy ổ bánh mì ấy! Một người khác thét.
- Lấy đi, bà nói, trừ ổ này để cho cậu ấy.
- Để cho một con khỉ Nhật ăn bánh mì thơm ngon à? Người lính nọ quát.
- Ta đồ rằng cậu ấy cũng đói chứ, bà lão Vương đáp. Bà bắt đầu ghét bọn này. Song le, xưa nay bao giờ bà cũng vẫn ghét bọn lính tráng.
- Ta muốn các người đi khỏi đi, bà nói. Các người làm gì ở đây? Làng ta xưa nay vẫn yên bình.
- Quả thật là giờ đây làng mẹ nom rất yên bình đấy, một gã trong bọn nhe răng cười nói, yên bình như một nấm mồ vậy.
- Ta đồ là thế, bà tán thành. Rồi bà hỏi: Tại sao nhỉ ? Đấy là điều ta không hiểu.
- Tại sao ư? Vì chúng muốn chiếm đất đai của ta, thật thế đấy.
- Đất đai của ta! Bà lặp lại. Chà! Chúng không thể lấy đất đai của ta được.
- Không bao giờ! Họ hét lớn.
Nhưng suốt thời gian đó, trong khi họ vừa nói chuyện vừa nhai bánh mì đã chia cho nhau, họ luôn quan sát chân trời phía đông.
- Tại sao các người cứ nhìn hoài về hướng đông thế. Bà lão Vương hỏi.
- Bọn Nhật từ phía đó tới, gã lấy bánh mì trả lời - Các người chạy trốn bọn chúng à? Bà ngạc nhiên, hỏi.
- Bọn tôi chỉ có một dúm người, gã phân trần. Bọn tôi được để lại bảo vệ một làng - làng Bảo An thuộc hạt…
- Ta biết làng ấy, bà cụ Vương ngắt lời. Cậu không cần phải nói dài dòng. Hồi con gái, ta đã ở đấy. Ông lão Bảo chủ tiệm trà ở phố chính ra sao rồi? Đó là anh trai ta đấy.
- Mọi người ở đó đều chết cả rồi, gã kia đáp. Bọn Nhật đã chiếm làng - một đạo quân lớn đã đến cùng với súng ống ngoại quốc và xe tăng, vậy bọn tôi làm gì được?
- Cố nhiên chỉ còn cách tẩu thoát mà thôi, bà tán thành. Tuy nhiên, bà cảm thấy choáng váng, sây sẩm. Vậy là ông anh trai duy nhất còn lại của bà đã chết! Giờ đây bà là người cuối cùng của gia đình cụ thân sinh ra bà.
Nhưng bọn lính lại tản đi, để bà lại một mình.
- Chúng sẽ đến đây, cái bọn lùn đen trũi ấy, họ nói. Tốt hơn hết là chúng ta đi tiếp thôi.
Tuy nhiên, một người - anh chàng xin bánh mì - nán lại một lúc đăm đăm nhìn gã thanh niên bị thương từ nãy nằm không nhúc nhích, mắt nhắm nghiền.
- Nó chết chưa? Anh ta hỏi. Rồi, bà Vương chưa kịp trả lời anh ta đã rút từ thắt lưng ra một con dao ngắn. - Chết hay không, tôi cũng phải cho nó một vài nhát dao này…
Nhưng bà lão Vương đã đẩy anh ta ra.
- Cậu không được thế, bà hách dịch nói. Nếu có chết rồi thì hà cớ chi phải để nó mang cái xác nát bươm xuống ngục tĩnh tội. Chính ta đây cũng là một phật tử tín thành.
Anh chàng cả cười: “À, thì thôi, nó chết rồi”, anh ta đáp; rồi thấy đồng đội đã cách xa, anh bèn chạy theo.

Đây là một tên Nhật ư? Còn lại một mình với cái thân hình bất động, bà thử nhìn kỹ nó. Lúc này, mắt gã nhắm nghiền, bà có thể thấy gã trẻ măng.
Bàn tay mềm oặt trong cơn bất tỉnh, nom như tay trẻ con, chưa định hình và còn đang phát triển. Bà sờ nắn cổ tay gã, nhưng không thấy tí mạch nào. Bà cúi xuống, gí vào môi gã nửa ổ bánh mì bà chưa ăn tới.
- Ăn đi, bà nói rất to và rất rành rọt, bánh mì đấy!
Nhưng không hề thấy trả lời. Rành là gã chết rồi. Chắc là gã chết trong khi bà đang moi bánh trong lò ra.
Vậy chả còn gì khác để làm ngoài việc tự bà ăn nốt ổ bánh. Và ăn xong, bà tự hỏi chẳng biết mình còn cần phải đi theo vợ chồng Tiểu Trư và toàn thể dân làng hay không. Mặt trời đang lên và mỗi lúc một nóng. Nếu phải đi thì đi luôn cho được việc. Nhưng trước hết bà phải leo lên đê để xem hướng đã. Họ đã đi thẳng về hướng tây và mạn này là một dải đồng bằng lớn trải đến tận cuối tầm mắt. Thậm chí bà có thể nhìn thấy một đám đông cách hàng dặm. Dù sao đi nữa, bà cũng có thể nhìn thấy làng bên và có lẽ họ đang ở đó.

Thế là bà chậm rãi leo lên đê, người nóng ran. Tới mặt đê, có một ngọn gió hây hẩy, thật dễ chịu. Bà choáng người thấy nước sông mấp mé ngọn đê.
Chà, nó vừa mới lên trong giờ qua.
- Đồ quỷ già? Bà nghiêm nghị nói. Mặc cho Hà Bá nghe thấy nếu ông ấy muốn. Ông ấy thật là ác, thế đấy - giữa lúc có bao chuyện rối ren thế này, lại còn doạ lụt nữa.
Bà cúi xuống, vã nước vào má và cổ tay. Nước mát lạnh, hình như ở nơi nào đó vừa mới mưa. Rồi bà đứng dậy nhìn quanh. Phía tây không có gì ngoài tốp lính vẫn nửa đi nửa chạy ở tận xa và đằng trước họ là làng bên in mờ mờ trên một gò đất dài. Tối mai là bà đến làng ấy. Chắc hẳn vợ chồng Tiểu Trư đang chờ bà ở đó.
Bà vừa toan xuống khỏi mặt đê và khởi hành thì trông thấy một cái gì đó trên đường chân trời phía đông. Thoạt đầu, chỉ là một đám mây bụi rất lớn.
Nhưng khi bà nhìn kỹ lại, nó rất nhanh chóng trở thành một lô những chấm đen và những vật lấp lánh. Rồi bà thấy ra đó là cái gì. Đó là một đám người - một đạo quân. Bà lập tức biết đó là đạo quân nào.
“Đó là bọn Nhật”, bà nghĩ bụng. Phía bên trên chúng là những máy bay cánh bạc vè vè. Chúng lượn vòng như đang tìm kiếm ai.
“Ta chẳng biết chúng bay đang tìm ai”, bà lẩm bẩm, “Trừ phi là ta và vợ Tiểu Trư. Cả họ chỉ còn mấy bà cháu ta. Chúng bay đã giết ông anh Bảo của ta rồi”.
Bà đã gần như quên là ông Bảo đã chết. Giờ thì bà nhớ lại rất rõ nét. Ông có cái tiệm thật tuyệt. - Lúc nào cũng sạch tươm, trà ngon và bánh bao nhân thịt, giá lúc nào cũng thế. Ông Bảo là người tốt. Ngoài ra, còn bà vợ và bảy đứa con ông thì sao ? Chắc họ cũng đã bị giết cả rồi. Bây giờ, những tên Nhật ấy đang tìm bà. Bà chợt nghĩ ra là chúng có thể dễ dàng nhìn thấy bà ở trên đê. Thế là bà lật đật bò xuống.
Xuống đến nửa chừng, bà bỗng nghĩ đến cái cửa cống. Cái con sông già cốc đế này, từ thuở ban sơ chỉ độc gieo tai họa cho người. Tại sao bây giờ nó không thể bù đắp lại chút ít mọi thứ độc ác nó đã làm nhỉ? Nó lại đang mưu toan điều độc ác, định lén trào qua bờ. Ờ, tại sao lại không nhỉ? Bà phân vân một lúc. Cố nhiên, thật đáng tiếc là cậu thanh nhiên Nhật vừa chết sẽ bị cuốn vào dòng nước lụt.
Cậu ta nom thật xinh trai và bà đã cứu cậu ta khỏi bị đâm nát người. Cố nhiên, chả bằng cứu sống cậu ta, song kể ra cũng gần gần như thế. Nếu cậu ta còn sống thì chắc hẳn sẽ được cứu thoát. Bà đến gần gã, kéo lên đến bờ đê. Rồi bà lại đi xuống.

Bà thừa biết cách mở cống. Bất kỳ đứa trẻ con nào cũng biết mở cửa kênh dẫn thuỷ nhập điền.
Nhưng bà còn biết cách mở toang cánh cửa cống lớn nữa kia. Vấn đề là liệu bà có thể mở đủ nhanh để né tránh kịp không?
“Ta chỉ là một mụ già mà thôi”, bà lẩm bẩm. Bà lưỡng lự thêm một giây nữa.
Ờ, kể ra cũng tiếc là không được thấy đứa bé vợ Tiểu Trư đã sinh ra, thế nhưng con người ta không thể thấy hết được mọi thứ. Bà đã thấy ối sự việc trên đời này. Dù sao đi nữa cũng phải có lúc kết thúc những điều mình thấy.
Bà lại liếc về phía đông. Bọn Nhật đang đi qua dải đồng bằng. Một tuyến đen dài, điểm hàng nghìn chấm lấp lánh. Nếu bà mở cái cửa cống này, dòng nước hung dữ sẽ ầm ầm đổ về phía chúng, ào vào cánh đồng, cuộn sóng thành một con hồ rộng nhấn chìm chúng cũng nên. Chắc chắn chúng sẽ không thể tiếp tục tiến lại gần bà, gần vợ chồng Tiểu Trư đang chờ bà ở đằng kia. Ờ, hai vợ chồng Tiểu Trư... chúng sẽ thắc mắc về bà - nhưng chúng sẽ không bao giờ ngờ rằng sự việc lại như thế này. Thành một câu chuyện hay đấy - giá bà có thể kể được cho ai nghe thì khoái biết mấy.

Bà quả quyết quay về phía cửa cống. Ờ, có người chiến đấu bằng máy bay, có người bằng súng ống, nhưng người ta cũng có thể chiến đấu bằng một con sông nếu như nó dữ dằn như con sông này. Bà vặn mạnh một cái chốt gỗ to tướng giật ra. Nó đầy rêu xanh bạc, trơn tuột. Nước vọt ra thành một tia mạnh. Khi nào bà giật thêm một chốt nữa, những cái còn lại sẽ tự khắc bật ra thôi. Bà bắt đầu kéo và cảm thấy nó tuột ra khỏi lỗ một chút.
“Làm thế này, mình có thể thoát được tĩnh tội”, bà nghĩ, “và biết đâu họ chả để cho mình đem theo ông xã luôn thể. Một bàn tay của ông ấy so với cái này thì nghĩa lý gì ? Thế rồi chúng mình sẽ...”
Cái chốt đột ngột tuột hẳn ra và cánh cửa bung mạnh, đập vào người bà, làm bà không thở được.

Bà chỉ còn kịp há mồm bảo con sông:
- Làm tới đi, con quỷ già!
Rồi bà cảm thấy nó túm lấy bà, tung lên trời. Nó ở bên dưới bà và xung quanh bà. Nó vui vẻ lăn bà ra chỗ này chỗ kia và rồi, bao bọc và ôm chặt lấy bà, nó ào ào lao tới quân thù.

DUƠNG TUỜNG dịch

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Mon Oct 23, 2017 7:45 am



BỐ VÀ TÔI

Paer Lagerkvist
(Nobel 1951)


Tôi còn nhớ một buổi chiều chủ nhật khi tôi mới khoảng mười tuổi, bố dắt tay tôi và chúng tôi đi dạo vào rừng để nghe chim hót. Chúng tôi vẫy tay chào mẹ tôi, bà phải ở nhà làm bữa ăn chiều nên không thể đi cùng chúng tôi. Chúng tôi không quan tâm lắm đến vụ chim hót, tuy rằng đấy là một điều gì đặc biệt và khác thường. Bố và tôi, đều là những người nhạy cảm. Chúng tôi, quen thuộc với khu rừng và các loài thú trong đó nên cũng chẳng quan trọng hoá gì về điều đó. Có điều chỉ vì hôm ấy là chủ nhật và bố được nghỉ. Chúng tôi thả bộ dọc đường ray xe lửa vốn là chỗ người ta không được phép đi, nhưng bố thì làm ở nhà xe lửa nên được cái quyền đó. Đi đường này chúng tôi vào thẳng khu rừng không cần phải đánh một đường vòng xa hơn.

Rồi tiếng chim hót và mọi chuyện khác bắt đầu ngay lập tức Chúng ríu rít trong các bụi cây; Lũ chim chích, chim hét, chim sáo; chúng tôi còn nghe cả tiếng của đủ mọi sinh vật bé nhỏ khác khi vào tới rừng. Mặt đất mọc đầy những cỏ chân ngỗng. Bên cây phong đã mọc lá mới, thông cũng đầy những chồi non xanh. Chỗ nào cũng có một mùi dễ chịu. Mặt đất đầy rêu tỏa hơi sương vì nắng chiếu. Mọi nơi là cuộc sống và tiếng động; những con ong nghệ bay khỏi tổ, ruồi nhuế bu quanh những chỗ ẩm.

Những con chim trong bụi vụt ra bắt chúng rồi bay trở vào. Đột nhiên một con tàu lao tới và chúng tôi phải lui xuống mé dốc đường tàu. Bố chào người tài công bằng cách đưa hai ngón tay chạm vào vành mũ: ông ta chào lại và vẫy tay. Mọi thứ như đều chuyển động. Chúng tôi đi dọc con đường, những thanh tà vẹt nằm đó rỉ nhựa đường trong ánh nắng, có một cái mùi của đủ mọi thứ, mùi dầu máy và cây hạnh trổ hoa, mùi nhựa đường và cây thạch nam, tất cả quyện vào nhau. Chúng tôi bước dài để đặt chân đúng vào những thanh tà vẹt, khỏi phải bước trúng lớp đá rải gồ ghề, khó đi, lại làm mòn giầy nữa. Đường ray chói trong nắng. Hai bên đường là những cột điện thoại cứ kêu lên u u khi chúng tôi đi qua. Vâng ! Đó là một ngày đẹp trời. Bầu trời rất trong, chẳng thấy có đám mây nào. Bố nói là khó có một ngày nào như thế này. Một lát sau, chúng tôi tới một cánh đồng lúa mạch ở mé phải đường ray, ở đó có những người nông dân chúng tôi quen đang dọn đất. Lúa mạch mọc dầy và đều; bố nhìn cảnh đó với vẻ hiểu biết và tôi có thể cảm thấy bố hài lòng. Tôi không hiểu việc nhà nông lắm vì tôi sinh ra ở thành phố. Khi chúng tôi đến một cây cầu bắc ngang một con suối vốn chẳng có mấy tí nước, nhưng hôm nay nước cũng lên đầy. Chúng tôi nắm tay nhau để khỏi bị lọt giữa hai thanh tà vẹt. Từ đây đến chỗ của người gác cổng xe lửa cũng chẳng còn xa là mấy, nơi đó chỉ thấy xanh um vì những cây táo và lý gai mọc đầy đến sát bên nhà.

Chúng tôi vào đó thăm và họ mời chúng tôi uống sữa. Chúng tôi ngắm những con heo, con gà, những cây ăn trái cây nào cũng rộ hoa rồi chúng tôi lại đi. Chúng tôi muốn tới bờ sông vì đó là chỗ đẹp hơn bất kỳ nơi nào khác. Có một điều đặc biệt về con sông, bởi vì ở khúc trên nó có chảy qua nhà cũ của bố. Chúng tôi chưa tới được chỗ đó thì chẳng muốn trở về, và cũng như mọi khi, lần này chúng tôi tới được đó sau khi đi bộ đã kha khá. Đây cũng gần ga xe lửa kế, nhưng chúng tôi không đến đó. Bố chỉ muốn xem các dấu hiệu dọc đường ray có còn ổn không. Ông lo nghĩ đến đủ mọi thứ. Chúng tôi dừng bên bờ sông, chỗ này nó chảy rộng rãi và hiền hoà trong nắng, những cội cây um lá soi bóng trên mặt nước tĩnh lặng. Trời thật sáng và tươi mát.

Một ngọn gió nhẹ từ những cái hồ nhỏ phía trên thổi tới. Chúng tôi men xuống mé sông thả bộ dọc theo đó. Bố chỉ cho tôi những chỗ để câu cá. Khi bố còn nhỏ, bố thường ngồi đó trên những tảng đá và rình câu cá măng suốt ngày. Thường thì ông chẳng câu được con nào, nhưng đó cũng là một cách thoải mái để vui chơi cho hết ngày. Bây giờ thì bố chẳng lúc nào có thời gian. Chúng tôi chơi loanh quanh một lúc dọc bờ sông, liệng những mảnh vỏ cây để xem chúng bơi theo dòng nước, rồi ném những hòn đá để xem ai ném xa hơn. Thế đấy, chúng tôi rất vui và sung sướng, bố với tôi. Một lúc sau chúng tôi hơi thấy mệt. Chúng tôi nghĩ chơi thế là đủ và chúng tôi khởi hành trở về nhà.

Rồi trời bắt đầu tối. Rừng trông thay đổi hẳn. Không hẳn tối hù, nhưng gần như thế. Chúng tôi đi vội vàng. Có lẽ mẹ lo lắng và chờ bữa tối. Bà lúc nào cũng sợ rằng có chuyện gì xảy ra, mặc dù chẳng có gì cả. Hôm nay là một ngày đẹp trời. Mọi sự hầu như xảy ra theo đúng kiểu của nó và chúng tôi rất hài lòng. Trời càng lúc càng tối, cây cối coi có vẻ kỳ quái hơn. Chúng đứng đó lắng nghe tiếng chân của chúng tôi như thể không biết chúng tôi là ai. Có một con đom đóm dưới một tàng cây. Nó nằm đó trong bóng tối và chăm chú nhìn chúng tôi. Tôi nắm chặt tay bố nhưng bố hình như không để ý cái ánh sáng lạ lùng đó: bố cứ đi tới miết. Trời tối hẳn khi chúng tôi tới được chiếc cầu ngang con suối. Nước chảy ào ào bên dưới như chực nuốt chửng lấy chúng tôi. Mặt đất như mở ra bên dưới. Chúng tôi cẩn thận bước trên những thanh tà vẹt, nắm chặt tay nhau để phòng khi lỡ té. Tôi nghĩ bố sẽ bế tôi qua, nhưng bố chẳng nói gì chuyện đó. Tôi nghĩ bố muốn tôi giống như bố, không nghĩ gì tới điều đó cả. Chúng tôi cứ đi. Bố rất bình thản trong bóng tối, bước đi mà chẳng nói gì. Bố đang nghĩ những điều riêng của bố. Còn tôi thì không thể hiểu được tại sao bố lại bình thản được khi mọi sự đều có vẻ ma quái đến thế. Tôi sợ hãi nhìn quanh. Nơi nơi chỉ là bóng tối Tôi thậm chí không dám thở sâu, bởi vì như thế sẽ hít cả bóng tối vào mình, và tôi nghĩ điều đó thật nguy hiểm. Người ta lúc đó sẽ phải chết sớm. Tôi nhớ rõ mình đã nghĩ như thế lúc đó. Bờ đường sắt thì rất dốc. Nó chìm vào đêm đen. Những cột điện thoại đứng im ma quái trên nền trời, lầm bầm thì thầm gì đó cứ như ai đang nói trong khi giấu mình dưới đất Những cái chụp bằng sứ trên cột điện nằm đó sợ hãi, rúm lại vì kinh hoàng, chúng đứng đó lắng nghe. Quả là phát ớn. Không có gì là thực, không có gì tự nhiên, tất cả đều như một bí mật. Tôi đi sát vào bố và thì thào:
- Sao lúc trời tối cái gì trông cũng phát ớn vậy.
- Đâu có con, đâu có gì phát ớn. - Bố đáp và nắm tay tôi.
- Nhưng nó phát ớn thật mà, bố.
- Không đâu, con đừng nghĩ thế. Mình biết rõ là có một thượng đế, phải không?

Tôi cảm thấy lẻ loi, bơ vơ quá. Thật là kỳ cục khi chỉ có tôi thấy sợ hãi, còn bố thì không. Thật là kỳ cục khi bố tôi với tôi không cùng cảm giác như nhau. Lại kỳ cục hơn nữa là những điều bố nói chẳng giúp, chẳng ngăn được tôi khỏi sợ hãi. Ngay cả điều bố nói về thượng đế cũng không ngăn được sợ hãi. Ý nghĩ về thượng đế cũng làm người ta phải sợ luôn. Thật đáng ớn khi nghĩ rằng ông thượng đế cũng có mặt khắp nơi trong bóng tối này, cho tới tận dưới kia bên dưới những cội cây, hay trong cả những cột điện thoại đang lầm bầm kia nữa - có lẽ rằng quả là ông ấy có ở mọi nơi. Nhưng mà người ta chẳng bao giờ thấy được ông ấy.

Chúng tôi cứ im lặng đi tới, mỗi người theo một cách nghĩ. Tim tôi như nghẹn lại, tưởng chừng bóng tối đã lọt vào tới đó và siết quả tim tôi lại.

Rồi khi chúng tôi đến một khúc quanh thì đột nhiên nghe thấy tiếng ầm ầm sau lưng. Chúng tôi giật mình đến không nghĩ suy kịp. Bố kéo tôi xuống khỏi bờ dốc đường ray và giữ chặt lấy tôi; một chuyến xe lửa chạy vụt qua; một chuyến xe đen ngòm. Nó chạy vụt qua, trên các toa không một ánh đèn. Vậy là sao ? Không thể có chuyến tàu nào giờ này. Chúng tôi đứng nhìn nó, sững sờ. Cái lò gầm lên trong đầu máy chỗ người ta đang hắt những xẻng than vào, những đốm đỏ bay tung toé trong màn đêm. Thật kinh hoàng. Người tài công trông mờ nhạt và gần như bất động với cái nhìn trừng trừng lạnh lẽo. Bố không nhận ra người đó - không biết ông ấy là ai. Ông ấy chỉ nhìn tới trước như thể đang lao thẳng vào bóng đêm, rất sâu vào bóng đêm, không cùng.

Bàng hoàng thở hổn hển tôi nhìn theo chuyến tàu man dại đó. Bóng đêm nuốt chửng nó. Bố dìu tôi lên bờ dốc và chúng tôi vội vã về nhà. Bố bảo: “Lạ thật! Bố vẫn không hiểu đó là chuyến tàu nào, mà bố cũng không nhận ra mặt tay tài công luôn”. Rồi bố chẳng nói gì thêm.

Tôi run rẩy khắp người. Điều đó dành cho tôi, vì tôi. Tôi nghĩ nó là như thế. Đó chính là tất cả những sợ hãi sẽ đến với tôi, tất cả đều mới lạ, chưa từng biết: tất cả những điều bố cũng chưa biết và cũng chẳng thể cứu giúp gì tôi. Cuộc đời với tôi sẽ như thế, và tôi sẽ phải sống trong một cuộc đời lạ lẫm, không giống như đời của bố, trong đó tất cả mọi người đều quen biết và an tâm. Nó không phải một thế giới thực, một đời thực, nó chỉ biết một mực lao vào bóng tối không cùng.

NHẤT CHIÊU dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Wed Oct 25, 2017 12:24 am



Patrick White (1912-1990) là người Úc đầu tiên được trao giải Nobel Văn học (1973) vì những tác phẩm có nghệ thuật phân tích tâm lý sâu sắc và bút pháp sử thi, nhờ đó đã mở ra một châu lục văn chương mới.
Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “The Tree of Man”, “The Vivisector” và “Voss”… Trong đó, tiểu thuyết Voss (1957) được đánh giá là tác phẩm hay nhất của P. White, thông qua cái chết của một nhà thám hiểm nói về cuộc vật lộn giữa lòng kiêu hãnh và sự nhẫn nhục của con người.

Đồng Dollar bất hạnh _ Audio Truyện Ngắn Chọn Lọc
https://www.youtube.com/watch?v=I3m3ar8Cy9Q

ĐỒNG ĐÔLA BẤT HẠNH
Patrick White
(Nobel 1973)


Tôi gọi điện thoại cho Hâysen Kinchơ xem có phải ông ta định đi vào thành phố không.
- Có, sẽ đi! Ông ta trả lời với một giọng khô khan, lạnh lùng.
- Tôi có việc cần phải giải quyết ngoài ấy. - Tôi trả lời và tỏ ý cho ông ta biết là tôi sẽ rất thích nếu được đi cùng xe với ông ta.
- Được ta có thể đi cùng.
Tôi biết Hâysen Kinchơ sẽ chẳng bao giờ đồng ý đi với bất kỳ ai quanh đây và chịu chấp nhận một điều gì tương tự như thế.
- Mười phút nữa tôi sẽ có mặt ở chỗ anh.
Tôi vội vàng mặc quần áo và chạy tới nhà ông ta.

Mùa đông năm nay ở chỗ chúng tôi lạnh khủng khiếp. Từ cửa sổ của nhà tôi có thể nhìn rõ cái vịnh lớn của con sông đóng băng trải dài mười ba dặm, từ phía nam lên phía bắc. Mọi người có thể đi xe trượt trên mặt sông đã đóng băng tới những đảo xa. Ô tô đuổi nhau trên con đường trước kia tàu thuỷ vẫn chạy. Tuyết trắng phủ kín hai bờ sông. Chỉ có màu xám của cây cối nổi bật trên nền trắng của một miền tuyết phủ.

Như tôi đã nói, xung quanh đây có lẽ chẳng ai được Hâysen cho đi nhờ xe bao giờ. Thậm chí trên thế giới này cũng chẳng có ai bao giờ được hưởng một cử chỉ thân thiện nào của ông ta. Đó là một người keo kiệt và cô độc hiếm có. Loại người như ông ta có lẽ chẳng bao giờ có chỗ đứng trong một xã hội công bằng.

Nhưng Hâysen Kinchơ không những sống đầy đủ, mà có thể nói, ông ta chết đuối trong sự giàu có của mình. Cũng chính vì thế mà tôi muốn biết rõ hơn về ông ta. Ông ta có một sức hấp dẫn kỳ lạ, một sức mạnh đặc trưng cho những người dũng cảm đi trên dây qua sông Nilagara hay nhào lộn trên không.

Những người mà ngắm nhìn họ, chúng ta thấy sợ hãi đến tim ngừng cả đập, chúng ta lo sợ cho cuộc sống của họ và không muốn nhìn thấy họ rơi xuống chết. Đôi khi tôi có cảm tưởng là Hâysen đoán biết được những ý nghĩ của tôi về ông ta. Chẳng có bằng cách nào, ông ta trông có vẻ chân thành một cách trơ tráo, có lẽ quan hệ của tôi với ông ta đã làm ông phấn khởi chăng? Tôi cho rằng tôi là người duy nhất trên thế giới này được ông ta tin như thế.
Hâysen là người đã có tuổi, thấp và gầy đét.

Tôi tới đúng lúc ông ta thắng yên cương cho ngựa trong chuồng. Đó là một con ngựa cái nhanh nhẹn và tuyệt đẹp nhưng nó rất sợ ông chủ và căm thù ông ta nữa. Tôi nhận thấy điều ấy qua ánh mắt dè chừng của nó. Không nhìn tôi, Hâysen nói to:
- Đóng cửa lại. Không thấy lạnh à? Đồ quỷ tha ma bắt!
Tôi đóng cửa và nhìn thấy trong chuồng cũng khá ấm áp.
- Tuyết sẽ rơi đấy, - tôi nói - Tôi tin rằng với thời tiết như thế, chắc anh sẽ không đi vào thành phố nữa chứ ông ta cười nhếch mép và cắt ngang lời tôi:
- Chẳng lẽ tuyết làm thay đổi thời tiết sao? Làm sao anh biết là tuyết sắp rơi?
- Trời tối sầm lại và có vẻ ấm lên chút ít...
- Tôi không chịu thua tuyết đâu. - ông ta cười mỉa mai. Tôi có cảm giác là ông ta đang theo dõi nét mặt của tôi. - Mở hộ tôi cái cửa!
Ông ta dắt ngựa ra rồi dựng lại trước bếp.
- Ta vào trong uống chút gì cho ấm người đã.
Tôi đi theo Hâysen vào bếp. Ở đó vợ và con của ông ta đang quấn quýt bên nhau. Người vợ là một phụ nữ có thân hình thon thả, nước da tai tái và sợ chồng đến chết khiếp. Các điền chủ xung quanh đây vẫn kể với nhau rằng Hâysen lấy bà về để bù vào món nợ mà bố bà ta không trả được.
“Lần ấy tôi hiểu rằng đó là thời gian tốt nhất để lấy vợ,” Hâysen vẫn thường nói như vậy.

Đứa con trai nhỏ ngồi trên sân. Người vợ chuẩn bị nước giải khát bằng sữa, trứng và rượu rum. Khi chúng tôi uống xong, Hâysen quỳ xuống trước mặt đứa con. Trong mắt đứa bé toát lên cái gì đó có vẻ căm thù. Đấy là một đứa bé tàn tật. Hàng xóm vẫn bàn tán thà rằng nó chết đi có lẽ đỡ khổ hơn. Nhưng Hâysen yêu con một cách đặc biệt. Ông ta âu yếm bế con trên tay. Thằng bé chỉ trợn tròn đôi mắt nhìn, rồi khóc ré lên khi người mẹ tiến đến gần.
- Cút đi! Cô đừng có quấy rầy chúng tôi...
Người vợ lùi lại và Hâysen chỉ tay vào đứa con, nói một cách huênh hoang:
- Một thằng bé tuyệt diệu, phải không?
Chẳng có ai trả lời ông ta. Hâysen gầm gừ cái gì nghe không rõ trong cổ họng và chơi với con một lúc nữa. Sau đó ông ta đặt con xuống nhà và ra lệnh cho vợ:
- Cô trông lấy nó !
Người vợ gật đầu một cách sợ hãi, đôi mắt lộ rõ nỗi đau khổ và khuất phục.

Chẳng thèm chia tay vợ, ông ta đi ra khỏi bếp.
Tôi theo Hâysen ra ngoài. Chúng tôi ngồi vào xe trượt và lấy chăn trùm lên người. Phía trước chúng tôi là chặng đường khá dài, những sáu dặm trên tuyết. Cơn bão tuyết tới gần.
Hâysen lập tức hiểu ngay tôi nghĩ gì khi thấy tôi nhìn ông ta:
- Bão tuyết tôi cũng không sợ, - ông ta nói khẽ và nhếch mép cười.

Tôi biết rõ rằng chả mấy chốc bão tuyết sẽ đuổi kịp chúng tôi. Tiếng rạn nứt lạo xạo của mặt tuyết đã đóng băng đổ dài theo vó ngựa. Xe trượt lướt trên mặt băng phát ra những âm thanh kỳ quặc.
Chúng tôi đi vòng quanh hàng rào rồi hướng về phía thung lũng đằng xa. Chúng tôi dừng lại trước cửa ngôi nhà cũ của Râyboóc cho ngựa nghỉ ngơi. Ngôi nhà đã lâu không có người ở, cửa khoá chặt. Những cánh cửa sổ được giữ chặt bằng các thanh gỗ đóng đinh chắn ngang.
- Đó là một gia đình xấu xa, bỉ ổi và ngu ngốc. - Hâysen gầm gừ giơ roi ngựa chỉ vào ngôi nhà.
Con trai cả của gia đình Râyboóc thì tôi biết. Đó là một con người tuyệt diệu. Một lần vào mùa thu, anh ta thu hoạch táo chẳng may bị ngã từ trên cây xuống chết. Vợ anh ta muốn làm ăn tiếp tục nhưng đã không cẩn thận vay tiền của Hâysen. Nhờ thế mà ông ta chiếm được cả trang trại này. Tất nhiên đấy không phải trường hợp tội lỗi duy nhất của Hâysen chứ.

Gió đã bắt đầu rít lên. Trên đường xuất hiện thêm nhiều đống tuyết bị đóng băng. Khi đi qua một đống tuyết to lên đến đỉnh thì chiếc xe bị nghiêng và cả hai chúng tôi ngã xuống. Con ngựa sợ hãi hí lên, nhưng Hâysen vẫn cầm chắc dây cương. Chúng tôi rũ tuyết, kéo xe trượt từ trong đống tuyết ra, thắng ngựa, rồi tiếp tục lên đường. Gió rét nổi lên mạnh hơn nữa. Mặt trời lúc nãy còn chiếu, giờ đã bị mây đen che kín.

Trước khi đi tiếp, Hâysen tiến lại gần con ngựa. Thông thường khi giận dữ người ta đánh hay mắng con vật. Nhưng Hâysen thì khác hẳn. Ông ta nắm chặt hai tai ngựa xoáy mạnh làm con vật đáng thương vặn cả người và cúi đầu sát tận đất. Đặc biệt ông ta không hề nói một câu nào.
Con ngựa vùng vằng giận dữ. Lúc này Hâysen mới lấy roi quấy túi bụi vào đầu gối con vật. Sau đó ông ta lại túm lấy tai ngựa vặn và nói:
- Bây giờ chắc mày sẽ không đi nhầm đường nữa. Nói xong ông lên ngồi cạnh tôi. Tôi im lặng. Tôi có thể can thiệp, nhưng có gì đấy nhắc tôi không nên dính vào. Con ngựa đi có vẻ khập khiễng. Song Hâysen thúc nó đi không thương tiếc. Càng bị thúc ngựa càng đi chậm, nên khi chúng tôi tới được văn phòng của Hâysen thì tuyết đã rơi phủ kín mọi nơi.
Tôi chia tay với Hâysen trên bậc thềm rồi đi vào phố giải quyết việc riêng.

Đi một quãng xa tôi nghe thấy Hâysen nói to:
- Ba giờ quay lại đây nhé!
Tôi gật đầu, tuy biết rằng ngày hôm nay chúng tôi không thể quay trở về được. Giải quyết xong mọi việc, tôi đi đến chuồng ngựa của nhà trọ xem tình hình con ngựa. Máu chảy ri rỉ từ chỗ sưng phồng ở đầu gối nó. Bên cạnh bão tuyết nổi lên càng mạnh hơn. Chủ nhà trọ nhổ nước bọt và nói:
- Chân ngựa sưng to lắm. Ngày hôm nay chắc chắn các anh không về nổi đâu.
- Tôi biết thế - tôi trả lời.
- Đồ man rợ - chủ nhà trọ chửi đổng, nhưng tôi biết là ông ta ám chỉ Hâysen.

Trước ba giờ, tôi đã có mặt ớ văn phòng của Hâysen. Đó là một căn phòng sát mái, tối tăm và lạnh lẽo. Ở vào địa vị như thế, Hâysen thừa khả năng có một địa điểm xứng đáng hơn. Khói từ lò sưởi bốc lên mù mịt đến khó thở. Trong phòng chẳng có gì để thông gió. Đồ đạc trong phòng chỉ có một cái bàn, hai cái ghế tựa và một cái két sắt chắc chắn đứng ở góc nhà. Hâysen tin rằng cất tiền ở đây là chắc chắn, còn tôi thì nghĩ chỉ cần tuốcnơvít thông thường cũng mở được.
Tôi gặp Hâysen ở bậc thềm. Nhận ra tôi, ông ta càu nhàu vẻ khó chịu:
- Tôi đi gọi điện thoại một tí. Đường nghe đâu không thể đi nổi.
Hâysen không có điện thoại trong phòng. Mỗi khi cần, ông ta lại xuống nhờ máy của cửa hiệu ở tầng mặt đất. Ông ta giữ thói quen ấy và chẳng bao giờ chịu thay đổi.
- Tôi sẽ đợi trong văn phòng. - Tôi trả lời Hâysen.
Vừa bước vào phòng, tôi vội đến che miệng lò sưởi và tìm cách thông gió. Nhưng chiếc cửa sổ duy nhất đã được đóng chặt bằng đinh. Một lúc sau Hâysen quay lại ...
- Quỷ tha ma bắt những đống tuyết ấy đi? - Hâysen nói với giọng bực tức. - Đường dây không liên lạc được.
- Đường dây nào?
- Điện thoại. Tới trại...
- Anh muốn báo tin rằng...
- Rằng ngày hôm nay tôi không trở về nhà được. Anh sẽ ngủ lại khách sạn.
- Còn anh thì không ư?
- Tôi ngủ ở đây. - ông ta cắt ngang.
Tôi nhìn lại căn phòng một lần nữa. Giường không có, chỉ có hai chiếc ghế tựa. Hâysen đoán được ý nghĩ của tôi.
- Tôi vẫn thường ngủ ở đây, tất nhiên là trên sàn.
Quan tâm đến suy nghĩ bên trong của Hâysen, tôi hỏi:
- Anh định báo cho vợ biết là anh không về chứ gì?
- Ồ, đời nào. Tôi muốn hỏi xem sức khoẻ của thằng bé ra sao...

Có tiếng chân bước thận trọng lên cầu thang.
Hâysen theo dõi và căng mắt nhìn ra cửa. Người đi lên đứng lại trong hành lang tối, chắc là đang tìm nắm đấm cửa. Cánh cửa bỗng mở, và Đin Mácsay bước vào. Nhà của ông ta nằm bên cạnh trại của Hâysen. Đin sống với vợ và năm đứa con trong một ngôi nhà nhỏ được ngăn cách với chuồng ngựa bằng hàng rào gỗ. Gia đình ông ta nghèo và sống vô cùng vất vả, mặc dầu phải làm việc từ sáng đến tối. Đin gầy như cò hương, cổ dài ngoẵng, hai gò má nhô cao, bộ ria phủ kín cả môi trên. Ông ta có đôi mắt chân thành, thật thà nhưng mệt mỏi.
Đin dừng lại trước cửa, hai mắt nhấp nháy, từ từ cởi chiếc khăn quàng cổ đã rách ra. Hai tay đi găng vẫn để nguyên.
- Vào nhanh lên ! Anh nghĩ tôi có lò sưởi ở đây để sưởi ấm cho cả thành phố chăng?

Đin đập đập gót chân vào nhau và đóng cửa lại.
- Xin chào ông Kinchơ, - ông ta cười gượng gạo và sợ hãi nhìn chủ trại.
- Anh muốn gì? - Hâysen hỏi, không thèm chào lại - Anh muốn trả tiền lãi hả?
- Vâng, thưa ông Kinchơ. Nhưng bây giờ tôi không thể trả hết được.
- Lại vẫn bài hát quen thuộc! Thế thì bao nhiêu? - Hâysen hỏi một cách giận dữ.
- Mười một đô la và năm mươi xu...
- Anh nợ hai mươi cơ mà!
- Tôi sẽ trả nốt khi nào gà nhà đẻ trứng.
Hâysen phá lên cười mỉa mai:
- À? Thế là quá kéo dài. Nếu như trang trại của anh đáng giá vài đồng tiền rách thì tôi đã tống cổ anh ra khỏi đó từ lâu rồi, thằng già đểu cáng ạ.
- Xin ông rủ lòng thương, ông Kinchơ. Tôi sẽ trả đến đồng xu cuối cùng. Đin trả lời một cách van xin, cầu khẩn.
Hâysen đặt tay xuống mặt bàn:
- Đồ nói dối! Nào hãy đặt lên bàn xem có bao nhiêu. Cuối tháng này là anh phải trả hết nợ.
Mácsay tiến lên gần bàn. Tôi ngồi cạnh lò sưởi.

Đôi mắt cận thị của Mácsay nhìn Hâysen rồi nhìn tôi. Dễ thấy là ông ta toàn thân lạnh cóng. Ông ta tháo găng tay, và lúc đó hiện rõ đôi tay sần sùi tím ngắt.
Đặt găng tay lên bàn, Mácsay rút từ túi chiếc áo khoác rách ra cái túi nhỏ đựng thuốc lá. Lắc lắc trong túi, Mácsay móc tiền ra. ông ta vừa đặt hai đồng năm mươi xu lên bàn là Hâysen lập tức vồ lấy ngay. Từ trong túi rơi ra một cái gì đấy. Chắc chắn là tờ giấy bạc. Tôi muốn nhắc cho Mácsay biết thì Hâysen đã dùng lòng bàn tay che lại rồi từ từ kéo về phía mình. Khi Hâysen nhấc tay lên thì tờ giấy bạc cũng không còn ở đấy nữa.
Mácsay móc những tờ giấy bạc cũ nát còn lại đưa cho Hâysen, Hâysen tính rất nhanh:
- Mười một đô la và năm mươi xu, đúng rồi. Đợi tí, tôi sẽ viết giấy chứng nhận cho anh. Đừng quên là anh phải trả hết nợ cuối tháng đấy nhé ...
Mácsay thẫn thờ nhìn Hâysen viết giấy chứng nhận. Cất túi thuốc lá vào túi áo khoác, Mácsay đứng chờ. Hâysen xé đôi tờ giấy đưa cho con nợ một nửa.
- Cám ơn ông, - Mácsay khẽ nói.
Hâysen gật đầu.
- Đừng có quên đấy nhé. - Hâysen nhắc lại lần nữa.
- Tôi sẽ cố gắng, thưa ông Kinchơ.
Mácsay quay người đi ra.

- Anh ta đánh rơi cái gì trong túi ra đấy? - Tôi hỏi.
- Một đô la. Thằng ngốc, nó mất một đô la...
- Anh có trả lại cho anh ta không ?
Hâysen cười ngất:
- Sao? Của cải của mình mà không biết giữ gìn, tôi phải trả lại cho nó ấy à? Nó sống khốn khổ như vậy là vì thế...
- Nhưng đồng đô la ấy là của anh ta.
- Hắn nợ tôi nhiều hơn thế nhiều.
- Thế cũng được, nhưng anh sẽ ghi thêm một đô la vào số tiền trả rồi.
- Thế anh cho tôi là thằng ngu à?
- Anh ta có thể buộc anh vào tội ăn trộm, - tôi nói mặc dù biết sẽ chẳng làm cho Hâysen nao núng.
Tôi thấy rõ tôi đã đem lại niềm vui cho Hâysen khi tôi tỏ ý kinh tởm về ông ta.
- Nếu như hắn không là thằng ngốc thì hắn đã không trả tám mươi đôla tiền lãi hàng năm vì nợ bốn trăm đôla. - Hâysen trả lời với giọng kẻ chiến thắng.
Tôi tò mò không hiểu anh ta có quay lại không khi biết mất tiền.
- Ngoài ra, hắn còn nói dối tôi nữa. Hắn nói có mười một đô la và năm mươi xu thôi mà. - Hâysen tiếp tục. Sau đó Hâysen cúi xuống viết cái gì đó trên bàn.

Tôi vẫn ngồi chăm chú theo dõi. Bỗng tôi nghe tiếng chân trên cầu thang.
Mácsay bước vội vào phòng với nét mặt hốt hoảng, ông ta chăm chú nhìn lên sàn, nhìn tôi, nhìn lên bàn rồi nhìn Hâysen.
- Tôi đánh mất một đôla, - ông ta nói. - Chắc chắn là tôi đánh rơi nó trong phòng này.
Hâysen cau mặt.
- Rõ ràng anh chỉ có mười một đôla và năm mươi xu.
- Đó không phải là đồng đôla của tôi...
- Anh nghĩ là tôi tin anh à? Ai có thể đưa cho anh một đôla? Có nghĩa là lúc nãy anh lừa dối tôi?
- Không phải tiền của tôi. Mácsay nhắc lại. Tôi phải mua thuốc hộ người khác.
- Thế anh nghi cho tôi ăn cắp của anh phải không?
Mácsay buông thõng tay một cách bất lực.
- Không, không, làm sao tôi dám nghi như thế được - Mácsay nhìn quanh một lúc rồi lắp bắp. Có thể là tôi đánh rơi ở chỗ khác...
Mácsay quay người và cúi đầu ủ rũ đi ra. Hâysen nhìn tôi, nở nụ cười đắc thắng.
- Anh đã thấy chưa ? - Ông ta nói.

Tôi rời khỏi văn phòng đi về khách sạn. Dọc đường tôi ghé qua hiệu thuốc mua ít thuốc ngủ.
Mácsay đang đứng cạnh quầy nói chuyện với người bán thuốc.
Bỗng tôi nghe thấy người bán hàng trả lời:
- Tôi không thể giúp anh được đâu, Mácsay ạ. - Bao nhiều lần anh không trả tiền tôi rồi...
- Biết làm thế nào bây giờ khi anh không tin tôi.
Mácsay buồn rầu nói rồi bỏ đi.

Nằm mãi trong khách sạn, tôi không tài nào ngủ được Tôi luôn nghĩ đến Hâysen.
Sang ngày thứ ba, bão tuyết đã tan. Tôi gặp Hâysen ở bưu điện.
- Chúng ta đi chứ ? - Ông ta nói.
- Có đi nổi không?
- Chắc chắn là có. - Ông trả lời và cười vui vẻ.
- Tại sao anh lại vội vã như vậy?
- Chẳng sao cả. Tôi nhớ thằng bé quá.

Khi chúng tôi lên đường thì con ngựa vẫn còn khập khiễng. Nhưng đi được chừng hai ba dặm, nó bắt đầu phi nước đại. Như mọi lần, sau cơn bão tuyết mặt trời chiếu sáng. Ánh sáng chiếu xuống nền tuyết trắng xoá phản chiếu lại chói chang. Cành cây hàng rào, đường dây điện... tất cả đều phủ một lớp tuyết mỏng. Rừng thông dưới thung lũng xanh thẫm, trông từ trên cao xuống giống như một bàn cờ tây ô trắng ô đen chen nhau. Dọc đường, Hâysen kể nhiều về đứa con. Còn tôi chỉ im lặng.

Khi dừng lại trước nhà, Hâysen vui vẻ mời tôi.
- Nào, chúng ta hãy vào nhà làm miếng gì cho ấm người đã. Để xem chàng công tử của tôi đang làm gì.
Tôi theo Hâysen vào nhà.
Mùa đông, bếp của Hâysen cũng là nhà ăn, và phòng ngủ, vì ông ta rất tiết kiệm củi đốt lò sưởi.

Bước vào nhà thì thấy vợ Hâysen từ giường nhổm dậy. Tôi không thể nhận ra chị ta nữa. Trông chị ta thiểu não, rũ rượi đau khổ.
- Chúng ta đã ở nhà. Con đâu? - Hâysen nói giọng oang oang.
Vợ nhìn chồng và bỗng môi rung rung. Chị mơ mộng mấp máy không ra lời rồi lại mím môi lại.
Cố gắng lắm mãi sau chị Mácsay mới nói được.
- Con... chết rồi...
Trong bếp sự sống như ngưng lại. Tôi nhìn lên thân hình thấp lùn của Hâysen, lúc này tôi có cảm giác là ông ta còn lùn thêm nữa. Mặt ông ta xám ngắt như người chết. Chỉ có các thớ thịt trên má khẽ động đậy.
- Con đâu! - Hâysen hỏi với giọng người cúm.

Người vợ nhìn lên giường. Hâysen nhìn theo vợ.
Bước mấy bước loạng choạng tới gần giường chúng tôi nhìn thấy thân hình co quắp của đứa bé. Chắc chị ta nằm ôm sưởi ấm thằng bé cho tới tận lúc chúng tôi về. Chiếc giường ngổn ngang chăn gối nhàu nát, chứng tỏ chị ta đã trải qua một tấn thảm kịch lớn.
Hâysen ngắm nhìn con, nhưng không động vào người nó. Ông ta giận dữ nhìn vợ.
- Em đã làm tất cả những gì em có thể.
- Cô đã làm những gì? - Ông ta hỏi.
- Con bị ho, - người vợ trả lời. - Em biết là con bị sưng phổi. Anh còn nhớ... em đã bảo anh mua thuốc cho con, nhưng anh nói là không cần, rồi con sẽ khỏi. Người vợ tiến tới cửa sổ.
- Em đã nhờ vợ Mácsay giúp đỡ. Cách đây không lâu con chị ấy cũng bị sưng phổi. Chồng chị ấy có việc phải đi vào thành phố. Chị ấy hứa là sẽ mua hộ thuốc. Em không dám nói là cho con chúng ta. Vì như thế chắc họ sẽ không mua hộ. Em có đưa cho chị ấy một đôla. Ngày hôm qua Mácsay trở về. Lúc đó tình hình của con đã rất nguy kịch. Em tới ngay nhà họ hỏi thuốc, Mácsay chỉ nhìn em rồi nói là không có.

Người vợ im lặng một chút rồi nói tiếp:
- Khi Mácsay trở về cũng còn chưa muộn lắm, nhưng sau đó thì không còn kịp nữa rồi...
Trông Hâysen như hoá đá. Ông ta đờ đẫn nhìn căn phòng, sau đó dần dần hồi tỉnh lại. Chắc là ông ta đã cảm thấy mối liên quan gì đó.
- Tại sao hắn không mang thuốc về? - Hâysen hỏi thầm.
- Bác sĩ không muốn bán chịu cho anh ta.
Nét mặt của Hâysen trở nên nhúm nhó, hai tay giơ lên, Hâysen thét to:
- Còn tiền? Chuyện gì đã xảy ra với đồng đôla?
- Mácsay nói rằng anh ta... đánh mất... trong phòng của anh.

Lão keo kiệt loạng choạng ngã dựa vào bức tường.
Da ông ta trông như da ngỗng, và trên mặt ông ta in rõ những nét nhăn nhó kinh khủng. Ông ta mở to mồm và rú lên khủng khiếp.

ĐINH VIỆT TÚ dịch.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sat Oct 28, 2017 10:36 pm



Wladyslaw Reymont (1867-1925), nhà văn Ba Lan được trao giải Giải Nobel Văn học 1924. Trước khi trở thành nhà văn, ông từng làm nhiều nghề khác nhau để sống: diễn viên sân khấu, phụ thợ may, công nhân, gác ba-ri-e đường sắt, thậm chí đã gọt tóc đi tu nên ông hiểu biết rất nhiều về những người cùng khổ trong xã hội.

SỐ PHẬN
Wladyslaw Reymont
(Nobel 1924)

 
Trời cuối thu, ẩm ướt và u buồn. Bầu trời thấp tè bởi những đám mây đen cuồn cuộn, giăng màn tang ảm đạm, nặng nề. Ngày tháng mười u ám, mịt mờ, run rẩy vì khổ đau; nỗi thất vọng nấc lên trong tiếng rít của gió, còn tiếng mưa tựa hồ tiếng rơi của những giọt nước mắt tuôn trào, không sao cầm nổi. Bởi bất kỳ nơi đâu trong tầm mắt ta chỉ nhìn thấy cảnh hoang tàn của làng quê, những vết tích tang thương của những cánh rừng bị tàn phá, những nhà thờ đổ nát, những gọng xương đen của những vườn cây ăn quả bị đốt trụi. Chiến tranh đã chà bàn chân sắt của nó lên khắp đất nước, khiến cho mọi miền trở thành một nghĩa địa khổng lồ, đây đó trồi lên những ống khói màu đỏ, nom y như những tấm bia mộ còn rỉ máu tươi. Thậm chí vẫn còn đó những bãi chiến trường nhơ nhuốc, tiêu điều, ngổn ngang những tàn dư ghê tởm của những cuộc giết chóc, những trận tàn phá và những đám cháy. Ngay cả đến khí trời cũng nồng nặc mùi xác thối và lửa thiêu. Trên xác người và trong cảnh hoang tàn cái chết đang cất lên bài ca đắc thắng của sức mạnh. Ở phía đằng đông vẫn còn thấy những cột khói đen ngòm cùng những ngọn lửa đỏ của những đám cháy. Những làng quê, những thành phố, những lâu đài ở nơi đó đang bị lửa thiêu và gió đưa về tiếng gầm mờ ảo, đơn điệu và ghê rợn của những cỗ đại bác dữ dằn. Còn trên con đường rộng chạy ngoằn ngoèo qua những cánh đồng mờ sương, những đoàn người hốt hoảng đang chạy trốn, nom tựa hồ một dòng bùn đen đang tuôn chảy. Người ta kéo những cỗ xe chất đầy đồ đạc và trẻ thơ, những con bò cái dắt theo bằng dây chão rống oang oang và những con chó lạc đường sủa não nùng. Dòng người chảy đi từ vùng ven, từ những bãi tro tàn và gạch vụn, từ những cánh rừng và những ngôi nhà ổ chuột, trông y như một đám rước dài vô tận, họ trốn đi mọi ngả, miễn sao chạy thật xa. Chốc chốc lại một đội kỵ binh phi ngựa vu vơ ập vào dòng người. Chốc chốc lại một chiếc xe ô tô vụt qua đường gầm rú điên loạn. Dân chúng chạy tản ra mọi hướng và lát sau, hiểm nguy qua đi, họ lại tiếp tục đi về phía trước. Họ còng lưng vác những bao đồ, họ mệt bơ phờ, họ rách, họ đói, họ bước đi trong cái im lặng ghê rợn, thê lương. Mặt  họ đanh lại vì mệt mỏi và tuyệt vọng. Có những con người chạy trốn đã hàng tuần nay mà chưa hề được nghỉ ngơi chốc lát, đầu óc họ chẳng còn tỉnh táo. Họ ngủ trong những hầm hào bỏ không, họ ăn bất cứ thứ gì ăn được, khi thì chút lương thực dự trữ còn lại, khi thì xác súc vật vừa tìm được, còn thường thì họ ăn những củ khoai tây hà thối, bới lên từ đất cóng.
 
Cơn lốc chiến tranh đã quét họ khỏi những căn nhà truyền đời và như những chiếc lá khô họ bị xua chạy về phía trước trong hoảng loạn vì sợ hãi. Bỗng nhiên, chừng như thây kệ làn sóng người không gì chặn nổi, một con chó to bự, to như chó sói, nom y hệt một con chó sói, lông màu hung, mịn màng, nanh to và đầu nhọn hoắt, vụt chạy khỏi đội hình đoàn người đang chạy trốn, nó sủa liên hồi, đoạn chạy ngược trở lại, người ta tưởng tự dưng nó sinh dữ tợn.
 
Chẳng ai biết con chó, chẳng ai giữ nó lại. Nó là con chó bị lạc, chẳng hiểu từ đâu. Mấy con chó khác rượt theo sau nó, nhưng một lát sau ngoan ngoãn quay trở lại. Còn nó lao đi như điên loạn. Một nỗi nhớ mạnh hơn tất cả mọi thứ đang kéo nó đi. Nó lao đi tìm làng quê của mình, chuồng của mình và những người chủ của mình. Chạy được một hồi nó ngồi lên ven đường, đôi mắt ngầu đỏ của nó ngó nhìn chung quanh. Mọi thứ đều lạ lẫm đối với nó: những cánh đồng nhơ bẩn xa lạ, những đống tro tàn và gạch vụn xa lạ, và bất thần nó vụt đứng dậy, chúi mũi xuống sát đất, lao thẳng về hướng đông, về nơi có chiến trận, từ đó tiếng đại bác vang vọng về và dân chúng vẫn đang đổ ra đi. Nó chạy ngang qua những cánh đồng mờ ảo, mịt mù.
 
Và ngày lại ngày nó uổng công đánh hơi tìm kiếm. Nó lùng sục khắp cả một vùng bán kính rộng tới vài dặm, nó bước chân trên mọi nẻo đường, nó đánh hơi ở mọi làng quê bị thiêu đốt, nó nhập vào những đoàn người đang đóng trại ở trong rừng, nó lang thang ở khu gần trại, nó đánh hơi khắp bãi chiến trường, nó bị ù tai vì tiếng đạn nổ và tiếng hô, tiếng thét, nó coi thường mọi hiểm nguy. Thảng hoặc một bàn tay nhân hậu bớt cho nó một mẩu bánh mì, còn thường thì nó bị người ta đá cho nó một phát khi nó sủa xin ăn. Nó gầy đi đáng sợ, nó trở nên man rợ, và vì đói lòng nó không chê bất cứ thứ gì ăn được.
 
Người ta đã nom thấy nó uống máu người, và do vậy thiên hạ nghĩ rằng, chắc còn ối chuyện khủng khiếp hơn thế, cho nên hễ nó toan xán lại gần người là gạch đá chào đón nó, gạch đá bay theo nó. Bởi thế nó khinh thường họ, nó tránh xa những làng quê thoát nạn. Nó chẳng buồn đến với lũ trẻ con gọi nó. Nó chỉ còn mải miết đi tìm chủ của mình. Và rồi nó bắt gặp dấu vết quen thuộc, nó nhận ra chính nó đã đi trên con đường này, đã chạy theo dân chúng, làng nó mạn trên, cách đây vài dặm. Nó sủa mừng và dồn hết sức lực còn lại lao đi. Nó nhớ trong đầu ngay phía bên kia quả đồi là làng của nó. Nó nhớ ở ngã tư đường có cây thánh giá dưới gốc mấy cây đại thụ, còn phía đằng sau là những dãy nhà màu trắng. Thế là nó lao về chỗ cánh đồng và ngồi ngẩn ra bên cây thánh giá: chẳng còn thấy cánh rừng bên kia sông, chẳng còn thấy ngôi nhà to cao giữa làng, thậm chí chẳng còn thấy những ruộng đồng nghiêng xuống lòng sông – chỉ thấy những đống gạch vụn, những bờ cát vàng dài vô tận, những vũng bùn, những ngọn cây trơ trụi trong những vườn cây ăn quả bị lửa đốt, gạch vỡ của những ống khói bị gẫy gục và bầy quạ đang nhẩy nhót trên những bãi hoang tàn và đổ nát. Những làn sương ẩm tựa hồ những mảnh giẻ rách quện chặt mọi thứ và rồi mưa đổ rào rào không ngớt. Dẫu mọi vật đã hoàn toàn đổi khác song con chó vẫn nhận ra làng của nó. Nó lùng sục từng xóm nhỏ, nó đánh hơi, nó sủa đổng, nó tìm kiếm trong những đống gạch vụn, ở từng góc sân, trong từng cái hố, nó lần theo từng dấu vết của con người mà vẫn không tìm ra chỗ từng có ngôi nhà chủ của mình. Cả làng tan hoang, đổ nát như vừa qua một trận động đất. Đâu đâu cũng thấy hàng dãy chiến hào sâu thẳm, những lưới dây thép gai, những đống gỗ, những đống gạch, những đống rơm mục nát, những dãy mồ nhấp nhô, những cây thánh giá màu trắng, những lò lửa đã lịm tắt từ lâu, những mảnh giẻ rách và những mảnh sắt kinh khủng còn dính máu người.
 
Nhưng chẳng ở đâu thấy dấu vết có người, ngay cả dấu vết của hầm trú ẩn cũng không. Con chó hoảng hồn. Nó ngồi cong lưng, chống hai chân, lông dựng đứng, đuôi khoanh tròn và sủa. Nó sủa dai não nùng và ghê rợn. Nó lao xuống bùn, bới đất bằng móng vuốt và nó rên ư ử vì nỗi đau không rõ nguyên do. Mấy con quạ theo dõi nó, khi thấy nó kiệt sức nằm thừ ra như đã chết chúng liền rời khỏi cây quệt mỏ, cất tiếng kêu, nhẩy về phía con chó.
 
Chúng chĩa mỏ nhọn, từ từ vây quanh con chó, nom chúng rất dữ tợn. Mấy con quạ bạo gan nhất giương móng vuốt bay lên; đàn quạ cánh đen, loài chim ăn thịt mỏ cong lúc này đã vây kín con chó; những tiếng quà, quà cụt lủn, khàn khàn mỗi lúc càng sát gần con chó bạc mệnh. Bỗng nó bật dậy và vụt chạy tới ngã tư có cây thánh giá, có những bụi cây gai và cỏ khô. Lũ quạ bay đuổi theo nó, rồi đậu trên cây thánh giá và những ngọn cây, kiên nhẫn đợi chờ. Con chó nằm sóng soài, kiệt sức và dường như nó khóc khi nó sủa nấc lên từng tiếng từ cổ họng. Một nỗi tuyệt vọng ngân lên trong tiếng sủa lúc này của nó. Nó chẳng thể lết đi được nữa, cái đói đang cào xé ruột gan nó. Nó chẳng còn nơi nào để mà tìm.
 
Thần chết đang lởn vởn trên đầu nó, cả đàn quạ đã đậu kín mấy bụi cây gai.
 
Những giờ đồng hồ dài dằng dặc đã trôi qua như vậy và khi thình lình có mùi nhà và mùi người bay vào mũi nó, nó nhẩy ra mặt đường, đoạn nó bò theo hướng có hơi người. Nó bắt gặp ở giữa làng, dưới đống gạch của bức tường nhà thờ bị đổ có mấy người nghèo đang nằm nghỉ. Một đống lửa lớn đang cháy ở đằng trước túp lều áp vào tường rào, dựng bằng những thanh gỗ và cành cây. Khoai tây nướng bốc mùi. Trên chiếc đệm rơm mấy đứa trẻ đang ngồi ôm lấy nhau, mấy người đàn bà ngồi quay mặt vào đống lửa, và một ông già đang dùng que sắt bới ra khỏi đống lửa những củ khoai tây nướng, đoạn lão quẳng cho mấy đứa trẻ và cả lão nữa cũng ăn ngấu nghiến. Con chó bò lại chỗ đống lửa, sủa nhỏ nhẹ.
-  Cút đi! - lão già quát lớn, giương cao thanh sắt dọa con chó.
 
Con chó nhảy sang bên, tuy nhiên cái đói cồn cào ruột gan và yêu cầu không cưỡng nổi là được đến với con người kéo nó trở lại. Thậm chí nó chẳng sủa, con chó ứa lệ van xin cho nó một chỗ bên đống lửa, van xin một lời nói ân huệ của con người. Lúc này lão già nhìn con chó bằng cặp mắt lạ kỳ đến nỗi khiến nó đứng sững lại, rồi nhìn thẳng vào mắt lão với vẻ nghi ngờ.
-  Này, chú chó cưng của ta ơi. Đừng sợ, đồ ngu – lão nói vỗ về, đoạn quẳng cho con chó miếng mồi khoai tây, cùng lúc đôi mắt đói của lão nhìn vuốt theo tấm lưng to của con chó. Chừng như thấu hiểu cái nhìn thèm thịt của lão, con chó từ từ lùi ra khỏi đống lửa.
-  Các con ơi, gọi nó đi! Con chó mới khôn làm sao! – Và lão gọi theo nó, ra sức vuốt ve mồi chài nó.
 
Tuy nhiên, những lời dỗ dành chẳng ăn nhằm gì. Con chó thở hổn hển, sùi bọt mép, miệng nó run cầm cập, người nó run bắn, nhưng nó vẫn phải canh chừng. Những cặp mắt kia đang dõi nhìn như muốn nuốt tươi nó và những cánh tay kia dường như đang muốn tóm lấy họng nó. Thế rồi lão già bất thần nện thanh sắt vào lưng nó, trước khi lão kịp đập thêm cú nữa con chó vùng chạy, kêu ăng ẳng vì đau đớn.
 
Đàn quạ bay đuổi theo con chó, rồi đậu trên những bụi gai dưới cây thánh giá, chỗ con chó lẩn trốn và tắt thở trong đau đớn.
 
Mưa vẫn rơi, mưa quất vào cành cây, nước mưa tuôn chảy dọc cây thánh giá. Đức Jesus bằng tôn, đầu đội vòng gai, lõa lồ, trên thân mình đầy những vết thương còn mới do đạn súng trường và đạn đại bác bắn vào, dường như đang giương mắt nhìn vào thế gian sầu thảm, rỉ máu, hoen ố vì những cuộc chém giết và thầm gọi:
- Hỡi Đức Cha, hỡi Đức Cha! Sao Người nỡ bỏ con?
 
Từ những miền xa xăm tiếng đại bác vẫn không ngớt vọng về - tựa hồ những chiếc búa đang nện không thương xót vào quan tài của mỗi sinh linh.

Lê Bá Thự dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Wed Nov 01, 2017 12:35 am


Miguel Asturias (1899-1974) nhà văn Guatemala
đã đoạt giải Nobel Văn học
m 1967.


JUAN ĂN KIẾN
Miguel Angel Asturias
(Nobel 1967)


… Tôi biết rằng những ai ăn giấc ngủ sẽ trở thành đất…

Nghe nói vậy đã khiến tôi bị nghiền nát. Tôi ăn giấc ngủ. Hoàn toàn bị nghiền nát. Chẳng cần phải giải thích điều đó. Tôi ăn giấc ngủ và cảm thấy… Làm thế nào nhỉ?... Tôi trở thành đất?... Làm thế nào để bỏ được tật ăn giấc ngủ để nuôi nỗi hoang tưởng ban đêm của tôi vốn là cái thực tại duy nhất của sự hiện tồn của bản thân?
Tôi cứ chong mắt thức thâu đêm trong khi những người thân của tôi ngủ ngon lành…

Ăn giấc ngủ… đó chẳng qua là một cách diễn đạt…
Trời oi nóng buộc tôi phải mở toang cửa sổ ra ngoài hiên. Bụi bậm do gió dồn tụ lại đọng trên cánh cửa bị hơi ẩm ban đêm vào những giờ ấy đã trở nên ẩm, xộc vào mũi tôi cái mùi đất ướt. Khi ra mồ hôi lại thở hít cái mùi ấy, tôi trở thành đất. Tóc tôi, nước nhãi tôi, thân xác tôi hoàn toàn vô cảm.
Thứ hương có vị đất ướt, có vị mồ hóng ngọt ấy tôi ngửi thấy nó vì tôi ăn giấc ngủ, không phải vì tôi ngủ mà vì tôi thức, vì tôi không thể nào nhắm mắt ngủ được. Và giờ đây tôi lo lắng bởi cái vị bùn trong mồ hôi tôi, vì thứ đất ướt bết trên mắt tôi, trong móng tay tôi, trong răng tôi...
Và không phải là những ai ăn giấc ngủ, những ai mất ngủ thì trở thành đất như những người chết. Không phải như thế đâu mà là chuyện khác cơ. Đó là cảm giác về một thứ đất sống, thứ đất mang cơn khát trước giếng nước, thứ khát khô họng và đó còn là cảm giác buồn buồn không thể chịu nổi đọng lại trên các đầu ngón tay đặt lên bình hoa. Và sau đó là cái nóng của chảo đặt trên lửa mà người ta cảm thấy trong lồng ngực mình. Tai tôi, mi mắt tôi có lẽ được rang khô bên cái chảo đặt trên lửa cháy.
Ăn giấc ngủ... tức là ăn giấc ngủ và không ngủ, nuốt giấc ngủ và thức trắng đêm... mà nghe đêm qua đi với tất cả động tĩnh của nó và có những lúc chẳng nghe thấy gì cả, tựa như mình đã thành đất rồi…
Thứ thịt mới ấy dần dà đông cứng lại. Có lẽ đúng hơn là nó đông cứng ngay lập tức. Không có thời gian để suy nghĩ. Nhưng mà nó dần dà, hết lỗ chân lông này đến lỗ chân lông khác, từ sợi tóc này sang sợi tóc khác. Kẻ trở thành đất vì ăn giấc ngủ là chủ nhân của một trí thông minh héo hắt nhưng không phải vì thế mà nó kém hơn trí thông minh của kẻ ngủ được vừa thức dậy. Trí thông minh của đất...

Ai làm kinh động?
Đó là một tiếng súng nổ... Một tiếng súng nổ xa xôi? Một con khỉ kêu... Tôi chỉ còn nghĩ đến con khỉ lông lá vừa nhảy qua cửa sổ, chạy vào ẩn ở bên cạnh tôi, đang run rẩy như bầu trời đêm nhấp nháy sao, hàm răng trắng cứ run cầm cập, đôi mắt nó lúc nhắm lại lúc mở ra theo nhịp điệu lúc nặng lúc nhẹ của cơn đau do viên đạn gây lên trên cánh tay nó.
Tôi định vỗ về an ủi nó và nó bằng ánh mắt hiền lành cảm ơn tôi. Tôi nói để nó yên tâm. Tôi kể cho nó biết rằng từ ngày tôi đến ngôi nhà ấy tôi không ngủ, tôi ăn giấc ngủ, tôi đang bị kết án trở thành đất. Nó không động đậy. Nó nghe tôi kể lể. Nó nghe những âm thanh phát ra từ miệng tôi và nó hiểu rằng tôi đang nói với nó, bởi vì, ôi con vật đáng thương, nó càng run rẩy hơn cái bàn tay đen những ngón dài cầm chắc lấy cái cánh tay đang rỉ máu và nó ấm ức khóc.

- Đúng mà, mình đã nghe... - Có tiếng nói bỗng vang lên như sấm. Đó là tiếng nói của người vừa bắn súng - Mọi cái thật là đẹp, nhưng con khỉ phải thuộc về tôi...
- Tại sao? - Tôi hỏi, mặt đương mặt với một người đàn ông da ngăm ngăm đen, mái tóc dài, và đôi mắt đỏ ngầu.
- Vì là của tôi...
- Anh nói sao? Của anh hả?
- Đúng thế, vì tôi đã bắn nó bị thương...
- Vì thế anh có quyền nhận nó là của mình?
- Dĩ nhiên!
- Đừng hòng. Bởi vì nó vào ẩn trong nhà tôi và tôi không giao nó cho anh.
- Tốt hơn hết là nên giao lại cho tôi, vì như thế nó có ích cho tôi hơn là cho anh. Tôi đang cần nó.
- Chớ có vào nhà tôi vì tôi cũng đã vũ trang rồi.
- Tôi cần có nó. Vợ tôi đang trở thành đất. Muốn cứu được cô ta phải có máu khỉ tưới lên người cô ta.
- Sẽ trở thành đất sao?... - Tôi vội hỏi. Hai mắt tôi cũng ngay lập tức biến thành dấu hỏi.
- Vâng, đúng thế, một đống đất non tựa như một tổ kiến phập phồng thở...

Con khỉ tiếp tục ra máu và nhảy bần bật. Trong cơn hấp hối, môi nó run rẩy, đôi mắt sống của nó đã đờ đẫn...
- Nào, chúng ta đi thôi... - tôi nói với người khách không chờ mà đến - may ra nó sẽ còn ít máu và chúng ta sẽ lấy để tưới lên người vợ anh... Có phải anh nói rằng vợ anh đang trở thành đất phải không?
- Vâng, đúng thế vì cô ấy ăn giấc ngủ...
- Đúng thế không?
- Anh làm sao vậy ? - anh ta hỏi tôi mà không trả lời câu hỏi của tôi khi chúng tôi ra khỏi nhà.
- Chẳng sao cả. Chẳng sao cả ! - tôi trả lời anh ta và bước gấp. Tôi lại hỏi - Chúng ta về liệu có kịp không ? ...
- Có lẽ kịp đấy... Chúng ta cần về đến nhà trước khi lũ kiến kéo đến ở cái đống đất có hình người đàn bà...
- Cái gì sẽ xảy ra nếu đám kiến... ?
- Nếu đám kiến đến ở đấy rồi - anh ta trả lời tôi thì không thể cứu nàng được nữa.
- Ôi nếu biết trước điều đó... Anh đến chậm quá. Trong lúc đó con khỉ này đã ra mất rất nhiều máu. Bây giờ hầu như nó đã kiệt máu rồi.
- Tôi phải tìm nó trong rừng. Mãi sau tôi mới nghĩ ra là nó chạy vào nhà anh.
Trăng mọc, nóng và bụi.
- Cái chết vĩ đại kia - anh ta nói, chỉ tay lên vầng trăng - ăn hết tất cả giấc ngủ của nó và đã trở thành đất, mặt trăng là đất, là thứ đất mà đám kiến bò đến trước khi máu khỉ tưới lên trăng... Vầng trăng là cái tổ lớn của những con kiến đen khi nó tối lại, là tổ lớn của kiến đỏ hoặc kiến vàng khi nó bừng sáng như lúc này.
- Còn xa lắm phải không ? - tôi lo lắng hỏi.
- Không còn xa lắm nữa đâu. Sau khe núi kia là nhà tôi. Hiển nhiên là con vật đáng thương này không đủ máu để cứu vợ tôi ...
- Chúng ta đi kiếm con khác - tôi đề nghị - Tôi bắn súng lục rất thiện nghệ.
- Điều đó tốt quá rồi nhưng chúng ta nên về nhà trước đã. Có lẽ con vật đáng thương này vẫn còn ít máu.

Chúng tôi dừng lại bên cạnh một túp nhà lá tường đất nép bên dưới mấy cây có tán lá đã khô. Đó là nhà anh ta.
- Vợ anh đâu ? - tôi nghi ngại hỏi.
Anh ta đứng lặng người với hai hàng lệ trào ra.
Hai hàng lệ này lăn trên khuôn mặt giá lạnh, xanh xám, nhăn nheo của anh ta.
Người vợ của anh ta chỉ còn là một đống đất hình người bị hàng nghìn, hàng nghìn con kiến đỏ đào thủng lỗ chỗ. Tôi ôm lấy anh trong lúc anh buông xác con khỉ xuống, người lả đi với những tiếng than vãn và những lời chửi bới .

Buổi sáng ấy, trên một chiếc thuyền độc mộc tựa như con cá sấu do một người Anh điêng lái tôi đã đi khỏi nơi ấy theo những con sông nhỏ nước trong và hiền lành để tới Carabi.
Từ đây tôi đi ngựa đến ga xe lửa. Tôi trở về thủ đô trên chuyến xe khách đầu tiên...
Người đàn ông đáng thương, chồng của người đàn bà trở thành đất do ăn giấc ngủ, không muốn đi cùng với tôi cho dù tôi đã hứa sẽ tìm việc làm cho anh ta ở thành phố. Anh ta không đi là vì muốn ở bên cạnh người vợ mãi mãi.
- Vợ tôi không chết - anh ta giải thích cho tôi - Vợ tôi vẫn sống, chỉ có điều là nàng trở thành đất…
- Nhưng anh không nhìn thấy...
- Tôi không nhìn thấy cái đã được nhìn mà chỉ nhìn thấy cái chưa được nhìn…
Anh ta ngừng im và ở lại.
- À ! - anh ta nói với tôi cứ như thể điều này sẽ an ủi tôi - bởi tất cả điều này ở đây, những tổ kiến của tầm cao mỗi người đều được nhìn thấy cũng như những cột mốc. Không phải là những tổ kiến đâu mà là đám người ăn giấc ngủ. Hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu kiến đen, kiến đỏ sống bằng giấc ngủ bị ăn ấy, giấc ngủ biến thành thứ mật đặc mà bọn gấu rất thích thú ăn. Những cái mõm dài của chúng… cái dáng chậm chạp cận thị của chúng...
Chúng không thấy rằng dưới lớp vỏ rất cứng, những con chiên thẩy đều biến thành thứ bột vàng quạch giống y hệt bụi của những người chết.

Chẳng có cách nào lôi anh ta đi khỏi nơi ấy. Anh ấy sợ cho vợ mình. Sau rất nhiều lần khẩn khoản van nài anh mới chịu thú thật với tôi rằng để cứu vợ mình anh ta phải thay đổi hình dạng, phải thôi không làm con người và phải biến thành gấu vàng, vừa có cái mõm dài vừa có cái vẻ chậm chạp cận thị của gấu.
- Bởi lẽ đó mà không thể...
- Nhưng điều ấy là không thể... - tôi nói.
- Tôi sẽ làm điều đó khi ở một mình và để đạt được hình thù con gấu tôi sẽ bắt đầu liếm đất mùn của tổ kiến cho đến khi đào được một cái rãnh có thể thò lưỡi vào trong tổ kiến để cho đám kiến bám vào đó. Kiến chính là giấc ngủ mà cô vợ tôi đã ăn.

Sau đó, hay đúng hơn, khi kiến bám vào lưỡi đông đặc, đông đặc như một đám mây thì tôi rụt đầu lưỡi lại cho nó vào trong mồm mình và tôi cứ việc ăn kiến cho đến khi không còn một con. Đó chính là lúc vợ tôi lại trở lại làm người như trước đây… và tôi sẽ tiếp tục là tôi, là Juan ăn kiến một cách quái đản.

NGUYỄN TRUNG ĐỨC dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sat Nov 04, 2017 4:44 pm




TRÁI ĐẤT
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


"Người phụ nữ khoác mặt trời, đi dép mặt trăng, và đội trên đầu chiếc vương miện mười hai ngôi sao: và với một đứa trẻ nàng gào khóc đau đớn trong cơn sinh nở và nỗi đau được giải thoát".

"Trước khi tôi biết nó, một nhà thờ Công giáo nhỏ đã được xây dựng bên cạnh con đường chạy dọc theo guồng nước, con đường nơi trước đây khá lâu tôi đã từng vui vẻ đi bộ. Ngoài ra, những bức tường đẹp đẽ bằng gỗ dài vô tận của nhà thờ đã bị đen lại bởi muội than, dưới bước chân, tuyết phủ kín mái". Đây là những dòng đã được viết trong một tác phẩm của Hori Tatsuo. Mái của nhà thờ thánh Paul được lợp ván, bên trong nó giống như những bàn tay đang cầu nguyện. Tất nhiên, thánh giá trên bệ thờ cũng được làm bằng gỗ.

Giờ đây, khi những dòng Hori Tatsuo viết đã được hai mươi lăm năm, một chàng trai trẻ và một cô gái đang đi dạo trong những bộ quần áo mà người ta sẽ nhìn thấy ở Karuizawa trong suốt những ngày giữa hạ.
Lúc đi qua phía trước nhà thờ này, mẹ anh đã nói một chuyện khủng khiếp. - Chàng trai dừng bước và nhìn nhà thờ khi anh nói với cô gái trẻ.
Cô cũng nhìn nhà thờ rồi nhìn vào mặt chàng trai.
- Nhưng anh tin mẹ anh. Bởi vì anh tin mẹ anh nên anh có một người cha rõ ràng.
Chàng trai không nói gì.
- Em là một đứa bé không cha, kẻ không có cách nào để tin tưởng mẹ cô ta được - một đứa trẻ hoàn toàn không cha. - Cô đi tiếp.
- Không có vẻ như em có thể biết cha em bởi vì tin tưởng vào mẹ mình.

Nếu người cha không tin người mẹ, nếu cha em cũng nghi ngờ mẹ em, khi ấy sự ngờ vực sẽ không có kết thúc.
- Nhưng, chẳng hạn, cứ cho là anh nghi ngờ, thì anh cũng đã có một người cha, người mà anh có thể nghi ngờ. Em không có cha thậm chí cả trong ảo tưởng. Em tự hỏi không biết có phải bản thân nhà tù chính là cha em không.
- Anh không có một điểm nào giống cha mình.
- Được rồi. Anh không. Và anh cũng không giống cả mẹ anh chút nào nữa.
- Tại sao lại thế?

"Nó không phải là con tôi. Ai mà biết một đứa trẻ như thế lại có thể là con tôi".
Những từ khủng khiếp đó mẹ của chàng trai nghe được từ chồng mình khi bà thông báo rằng mình đã có thai. Họ đã đi dạo trước nhà thờ hơn hai mươi năm trước.
Người phụ nữ trẻ, người biết duy nhất một người đàn ông, đã vượt qua cú sốc và sự sợ hãi. Cô thậm chí còn không thể tìm được sức lực đâu để mà thề thốt về lòng chung thủy của mình. Nếu chồng cô bác bỏ sự chứng minh của cô, thì cô không biết trông cậy vào đâu cả.
Như một bằng chứng, người phụ nữ trẻ mang đứa bé mà mình mới sinh đến nhà chồng để cho anh ta xem.
"Nó không phải là con tôi. Ai biết được một đứa trẻ như thế lại là con tôi". Anh ta lại không nhận đứa trẻ. "Nó là đứa con của tội ngoại tình".
Người phụ nữ trẻ mất hết lý trí và lao đến đâm đứa bé bằng một con dao đi rẫy đang nằm cạnh đó. Người đàn ông chụp lấy đứa con từ vợ mình và ngáng chân cô. Cô đâm vào chồng.
Ngay lúc đó hình ảnh của một bức tranh lóe lên trong tim người phụ nữ trong sạch, như thể được rọi sáng bởi một ánh chớp. Đó là một bức tranh tường trong một nhà thờ kính cổ xưa nhỏ bé, bức tranh cảnh cáo chống lại tội ngoại tình. Hai con rắn trắng treo trên ngực một người đàn bà, đang cắn họ. Một cây thương đâm xuyên qua vú một người phụ nữ vào trong ngực cô ta bởi bàn tay của Chúa: Chúa đã giết đàn bà bằng một cây thương. Cô gái kêu gào.
Vết thương của người chồng thật trầm trọng. Thay vì tha thứ cho cô, anh ta và gia đình đã tường thuật lại mọi chuyện. Vì thế người phụ nữ bị bắt.

Trong khi cô gái đang ở cùng các tù nhân trong nhà tù, thiên đường đã mở ra và cô nhìn thấy hình ảnh của Chúa.
Khi cô ở trong tù, một phụ nữ trẻ khác cũng bị đưa vào; người phụ nữ trẻ này đã giết người yêu của mình trong một cơn ghen. Khi cô ta biết được cô gái này đã có một đứa con, cô ta tỏ ra vô cùng ghen tỵ.
- Tôi muốn có con với anh ấy, nhưng bây giờ thì không thể nữa rồi - tôi đã giết anh ấy. - Cô ta níu lấy cô và khóc. - Tôi không thể. Cả đời tôi không bao giờ. Tôi không thể có bất kỳ một đứa con nào. Tôi sẽ phải ở tù cho tới khi quá già để có con. Đó là hình phạt chết người đối với người phụ nữ. Khi nghĩ đến điều đó - tôi muốn có một đứa con - đứa con với bất kỳ người nào, bằng bất cứ cách nào có thể.
- Bằng bất cứ cách nào có thể?
- Đứa con với bất kỳ ai.
- Thật chứ? Nếu thật thế, tôi sẽ làm cho chị có một đứa con nhé?
- Cô là đàn bà cơ mà?
- Tôi sẽ ra khỏi đây sớm. Đợi đến khi ấy. Tôi sẽ làm cho chị có một đứa con.

Sau khi được giải thoát khỏi nhà tù, cô quay trở lại thăm người phụ nữ hãy còn ở trong đó.
Người phụ nữ trong tù bắt đầu có thai.
Điều này gây ra một sự náo động mạnh mẽ khắp nhà tù: người phụ nữ sẽ không thú nhận cha đứa trẻ là ai. Không có cách nào để cô thậm chí có thể bắt đầu cố làm điều đó. Tất cả những người cai ngục và những người đàn ông khác trong tù bị thẩm vấn, nhưng những người cai ngục cho nữ tù nhân cũng đều là đàn bà. Không có người đàn ông nào đến gần họ được. Và cũng không có cách nào để cô có thể trốn khỏi nhà tù.
Bà xơ, người là giáo sĩ trong trại đã không nói đó là một phép màu, hay thần thánh ma quỷ, hay con trai của Chúa sẽ được sinh ra.
Tràn đầy hạnh phúc, người phụ nữ nuôi bé gái trong tù. Cô viết một lá thư để cảm ơn người bạn của mình.
Người phụ nữ không quay lại gặp cô lần thứ hai.

Bé gái được nhận làm con nuôi và lớn lên hạnh phúc. Cô là cô gái giờ đây đang đi dạo trước nhà thờ thánh Paul. Bất cứ lúc nào cô muốn, cô đều có thể đến gặp mẹ đẻ của mình, người hiện nay đã được ra tù. Cô cũng đã được nghe kể câu chuyện về sự chào đời của mình phía sau song sắt.
Chàng trai đang đi dạo với cô gái là đứa trẻ mà mẹ nó đã cố giết. Cha anh cuối cùng cũng đã tha thứ cho mẹ anh. Họ đã giảng hòa và vẫn sống với nhau.
- Vậy thì người đã bảo vệ anh và bản thân bị thương chính là cha anh? - Chàng trai đăm chiêu.
- Đúng thế. - Cô gái gật đầu. - Và em, một đứa trẻ không cha, sẽ sinh ra một đứa con có cha.
Chàng trai cũng gật đầu khi họ đi xuống con đường phía trước nhà thờ.

Và con rồng phun nước ra khỏi miệng nó như một dòng lũ cuồn cuộn phía sau người đàn bà, nó có thể khiến cô bị cuốn vào cơn lũ. Và trái đất đã giúp đàn bà, mẹ đất há miệng nuốt chửng cơn lũ mà con rồng đã phun ra khỏi miệng.


(1963)

ĐÀO THỊ THU HẰNG dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Thu Nov 09, 2017 6:34 pm


Naguib Mahfouz (1911 – 2006) nhà văn Ai Cập
đã được trao giải Giải Nobel Văn học năm 1988.

THIÊN ĐƯỜNG TRẺ THƠ
Naguib Mahfouz
(Nobel 1988)


- Bố ơi...
- Gì thế?
- Con và bạn Nađia bao giờ cũng ở cạnh nhau.
- Tốt lắm.
- Cả ở trong lớp, cả trong giờ chơi, cả ở nhà ăn.
- Rất tuyệt. Bạn ấy đáng yêu và ngoan ngoãn.
- Nhưng trong giờ thần học, con lại vào một lớp, bạn ấy vào lớp khác.
Người bố đưa mắt nhìn vợ đang thêu một tấm khăn thì thấy vợ mỉm cười:
- Và chỉ riêng trong giờ thần học thôi.
- Nhưng tại sao lại thế hả bố?
- Vì con theo một đạo, còn bạn ấy theo đạo khác.
- Thế là sao ạ?
- Con là tín đồ đạo Hồi, còn bạn ấy là tín đồ Thiên Chúa.
- Tại sao hả bố?
- Con còn nhỏ, bao giờ lớn, con khắc hiểu.
- Con lớn rồi.
- Chưa, con còn nhỏ.
- Nhưng tại sao con lại là tín đồ đạo Hồi?

Đến đây, người lớn phải kiên nhẫn và thận trọng để khỏi vi phạm các phương pháp giáo dục hiện đại.
- Bố theo đạo Hồi, mẹ theo đạo Hồi, nên con cũng là tín đồ đạo Hồi.
- Còn Nađia thì sao ạ?
- Bố mẹ bạn ấy theo đạo Thiên Chúa. Bởi vậy bạn ấy cũng theo đạo Thiên Chúa.
- Đó là tại vì bố bạn ấy đeo kính?
- Không, đeo kính không liên quan gì đến chuyện này. Chẳng qua ông của bạn ấy cũng theo đạo Thiên Chúa.
Anh sẽ kể về ông bà, cụ kỵ và tổ tiên xa nữa, xa mãi để con gái anh phát ngán mà nói sang chuyện khác. Nhưng nó đã hỏi:
- Thế theo đạo Hồi tốt hơn hay theo đạo Thiên Chúa tốt hơn hả bố?
Suy nghĩ một chút, người bố đáp:
- Cả hai đều tốt.
- Nhưng phải có một đằng tốt hơn chứ ạ?
- Cả hai tôn giáo đều tốt.
- Hay là con cũng theo luôn đạo Thiên Chúa, để con và Nađia không bao giờ phải tách rời nhau?
- Không, không được. Ai cũng phải theo tín ngưỡng của cha mẹ mình.
- Nhưng tại sao ạ?

Giáo dục hiện đại quả không phải dễ!
- Con không muốn lớn lên cái đã rồi hãy hỏi ư? - Anh trả lời bằng một câu hỏi:
- Không ạ.
- Thôi được rồi. Thế con có biết mốt là gì không ? Đó, người theo mốt này, người thích mốt khác. Theo đạo Hồi là mốt mới nhất. Bởi vậy, con vẫn phải theo đạo Hồi.
- Nghĩa là Nađia không còn hợp mốt?
Thật chẳng ra làm sao! Có lẽ anh đã phạm một sai sót nào đó. Bây giờ làm sao gỡ ra được đây?...
- Đó là vấn đề thị hiếu, nhưng ai cũng phải theo tín ngưỡng của bố mẹ.
- Con sẽ bảo bạn ấy rằng bạn ấy đã không còn hợp mốt, còn con đang theo mốt mới nhất, được không ạ?
- Tín ngưỡng nào cũng tốt, - người bố vội ngắt lời con, - cả tín đồ đạo Hồi, cả tín đồ đạo Thiên Chúa đều tin vào Thượng Đế.
- Nhưng tại sao họ lại tin trong những căn phòng học khác nhau ạ?
- Vì mỗi người tin theo cách riêng của mình.
- Theo cách riêng là thế nào ạ?
- Điều đó thì sang năm hoặc sang năm nữa con sẽ biết. Còn bây giờ con chỉ cần biết rằng tín đồ đạo Hồi tin ở Thượng Đế và tín đồ Thiên Chúa cũng tin ở Thượng Đế!
- Thế Thượng Đế là ai hả bố?

Tới đây thì người bố lúng túng. Sau đó, cố giữ bình tĩnh, ông hỏi:
- Thế ở trường cô giáo nói những gì về chuyện này?
- Cô đọc kinh Côran, và chúng con học thuộc các câu kinh nhưng con chẳng hiểu gì cả. Thượng Đế là ai hả bố?
- Là người sáng tạo ra tất cả mọi thứ trên thế giới này, - người bố ngập ngừng một chút rồi nói.
- Tất tần tật hả bố?
- Ừ tất tần tật.
- Thế Đấng sáng tạo nghĩa là gì hả bố?
- Nghĩa là người làm ra tất cả.
- Làm bằng cách nào ạ?
- Bằng ý chí vô biên của mình.
- Thế Thượng Đế sống ở đâu ạ?
- Ở tất cả mọi nơi trên thế giới.
- Nhưng khi chưa có thế giới thì Thượng Đế ở đâu?
- Ở cao lắm, tít trên kia.
- Trên trời ấy ạ?
- Ừ.
- Con muốn nhìn Thượng Đế một cái.
- Không thể được.
- Nhìn qua ti vi cũng không được ạ?
- Ừ.
- Thế tại sao bố lại biết Thượng Đế ạ?
- Là vì đúng như thế.
- Ai là người đầu tiên biết Thượng Đế ở trên kia.
- Các nhà tiên tri.
- Các nhà tiên tri ấy ạ?
- Ừ, ví dụ nhà tiên tri Muhamét chẳng hạn.
- Làm cách nào ông ấy biết được hả bố?
- Vì ông ấy có một sức mạnh đặc biệt.
- Mắt ông ấy rất tinh ạ?
- Ừ.
- Tại sao vậy hả bố?
- Vì Thánh Alla làm mắt ông ấy tinh.
- Nhưng tại sao mới được chứ, hả bố?

Mất hết bình tĩnh, anh đáp:
- Bởi vì Người có thể làm tất cả những gì Người muốn.
- Thánh là người thế nào hả bố?
- Thánh, rất hùng mạnh, rất khoẻ khoắn, có thể làm được mọi việc.
- Giống như bố ấy phải không bố?
Anh cố nén cười:
- Không ai bằng được Người.
- Thế sao Người lại phải sống ở trên kia?
- Vì đối với Người, mặt đất bé qua. Nhưng Người trông thấy tất cả mọi điều.
Cô bé ngẫm nghĩ một chút rồi nói:
- Nhưng bạn Nađia bảo Người đã từng sống trên mặt đất.
- Đó là vì Người biết hết những gì xảy ra trên mặt đất, chẳng khác gì Người sống ở đây.
- Nhưng bạn ấy nói rằng một bọn đã giết chết Người?
- Nhưng Người vẫn sống mãi và không bao giờ chết.
- Nhưng Nađia nói Người đã bị giết chết?
- Không phải đâu con ạ, chúng tưởng chúng đã giết chết Người, nhưng Người không chết, Người vẫn sống.
- Thế ông nội con vẫn sống?
- Không, ông mất rồi.
- Ông bị một bọn giết chết ạ?
- Không, ông tự chết thôi.
- Tại sao ạ?
- Ông bị ốm, cho nên ông chết.
- Thế em gái con cũng sẽ chết chứ ạ, vì nó đang bị ốm kia kìa?
Anh cau mày, trông thấy cử chỉ tức giận của vợ.
- Không, em con sẽ khỏi, chắc chắn như vậy.
- Thế tại sao ông lại chết hả bố?
- Vì ông ốm yếu và già cả.
- Bố cũng sẽ ốm yếu và già cả, tại sao bố không chết?

Người mẹ mắng cô bé, cô bé ngơ ngác không hiểu ra sao. Nó băn khoăn
nhìn mẹ rồi nhìn bố.
- Chúng ta chết là theo ý của Thượng Đế, khi nào Người muốn thế, - cuối cùng người bố đã tìm ra cách trả lời.
- Thế tại sao Người lại muốn chúng ta chết ạ?
- Mọi chuyện đều là do ý của Người.
- Thế chết là tốt hả bố?
- Không đâu, con.
- Vậy tại sao Thượng Đế lại làm điều không tốt?
- Người mà đã muốn, thì ai cũng phải chết thôi.
- Nhưng, chính bố vừa nói rằng chết là không tốt cơ mà?
- Bố lầm, con ạ.
- Thế tại sao mẹ lại tức giận khi con nói rằng bố sẽ chết?
- Vì Thượng Đế còn chưa muốn như vậy.
- Bao giờ Người muốn ạ?
- Người gửi chúng ta xuống thế giới này, rồi Người lại gọi về.
- Để làm gì?
- Để chúng ta ở đây làm những điều tốt, chừng nào chúng ta còn chưa phải rời bỏ thế giới này.
- Nhưng tại sao chúng ta không ở lại?
- Nếu mọi người không rời bỏ mặt đất, thì sẽ không đủ chỗ.
- Tất cả những gì tốt đẹp chúng ta sẽ để lại đây hả bố?
- Chúng ta sẽ đi tới một chỗ còn tốt đẹp hơn nữa.
- Tới đâu ạ?
- Lên trên kia.
- Lên với Thượng Đế?
- Ừ. Và chúng ta sẽ trông thấy Người?
- Ừ.
- Và như vậy là tốt hả bố?
- Tất nhiên.
- Vì vậy chúng ta mới cần phải đi khỏi đây?
- Nhưng chúng ta còn chưa làm tất cả những điều tốt mà chúng ta có thể làm.
- Còn ông nội, ông đã làm tất cả rồi?
- Ừ.
- Thế ông đã làm được những gì ạ?
- Ông đã xây dựng được một ngôi nhà và trồng được một khu vườn.
- Thế thằng Tutu, em họ của con bị chết hồi nọ thì đã làm được những gì ạ?

Người bố tuyệt vọng ném ánh mắt về phía người mẹ để cầu cứu. Sau đó
anh nói:
- Nó cũng đã xây dựng được một ngôi nhà nhỏ trước khi nó ra đi.
- Còn thằng Lơlu ở bên cạnh nhà mình cứ đánh con luôn và chẳng làm điều gì tốt cả.
- Nó là đứa hư.
- Và nó sẽ không chết chứ ạ?
- Nó sẽ chết khi nào Thượng Đế muốn.
- Mặc dù nó không làm được điều gì tốt?
- Mọi người đều chết cả. Nhưng ai làm được điều tốt sẽ được lên chỗ Thượng Đế, còn ai làm điều xấu sẽ bị thiêu trong lửa.

Cô bé buông một tiếng thở dài, im lặng vài phút.
Còn anh, anh cảm thấy mệt rã rời. Anh trả lời con gái anh có đúng không?
Nhưng vừa lúc ấy, cô bé đã lại nói:
- Con muốn lúc nào cũng ở bên cạnh Nađia.
Anh đưa mắt ngỡ ngàng nhìn con, cô bé liền giải thích rõ - Kể cả trong giờ thần học.
Anh cười vang lên. Người mẹ cũng cười.
- Anh không nghĩ rằng có thể bàn luận những vấn đề như thế với các con, - anh nói với vợ.
Người vợ đáp:
- Khi nào con gái mình lớn, anh có thể nói hết với nó những mối hoài nghi của anh.

Anh ngoảnh mặt về phía vợ, cố hiểu xem chị nói câu đó là nói thật hay nói đùa, nhưng anh thấy chị đã lại cúi xuống khung thêu.

VŨ ĐÌNH BÌNH dịch

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sat Nov 18, 2017 9:30 am



Kẻ phản bội hay một linh hồn bối rối
Albert Camus
(Nobel 1957)


“Đầu tôi rối mù cả lên! Cần phải lập lại trật tự trong đó. Từ khi họ cắt đứt lưỡi của tôi, hình như lại mọc thêm một cái lưỡi khác thì phải, tôi không biết nữa. Một cái lưỡi khác vẫn không ngừng quay trong đầu tôi, một thứ tiếng nói, không biết của cái gì hay của ai, đang nói đột nhiên ngừng bặt rồi lại tiếp tục nói và tôi nghe thấy những điều mà tôi không thể nói ra, quả là rối rắm và mỗi khi tôi mở miệng thì chỉ thành tiếng sỏi đá đập vào nhau khi bị lắc trong bị. Phải có trật tự, phải có kỷ cương, cái lưỡi đó nói, đồng thời nó nói thêm nhiều thứ khác nữa. Đúng thế, tôi rất thèm trật tự, ít nhất thì một điều đã rõ ràng: Tôi đợi cha truyền giáo đúng ra sắp phải đến thay chân tôi. Tôi đang ở đó, trên con đường, cách thị trấn Taghasa một giờ đường, nấp sau một đống đá lở, ngồi trên một khẩu súng cũ. Trời bắt đầu hửng sáng trên sa mạc. Vẫn còn rất lạnh. Chỉ lát nữa thôi trời sẽ nóng khủng khiếp, kiểu nóng làm tôi phát điên, từ bao nhiêu năm rồi, chính tôi cũng không sao đếm xuể... Không, tôi phải gắng sức thêm một lần nữa! Cha truyền giáo thế nào cũng phải đến, hoặc sáng nay hoặc chiều nay. Tôi nghe nói ông ta đến cùng với một người dẫn đường. Rất có thể hai thầy trò chỉ có một con lạc đà. Tôi sẽ đợi. Tôi đợi và chỉ cái lạnh mới làm được tôi run rẩy. Hãy kiên nhẫn thêm nữa, hỡi tên nô lệ bẩn thỉu!

Tôi đã quen kiên nhẫn từ lâu lắm rồi. Hồi tôi còn ở nhà, trên cao nguyên của dãy núi Trung Tâm, cha tôi thô lỗ, mẹ tôi dốt nát, ngày nào cũng vẫn món xúp thịt mỡ, đặc biệt là món rượu vang, chua và lạnh. Và mùa đông dài dằng dặc, gió lạnh thổi, những cây dương xỉ đáng ghét, bấy giờ tôi thèm ra đi dứt bỏ tất cả những thứ đó ngay một lúc rồi bắt đầu một cuộc sống dưới ánh mặt trời với làn nước trong vắt. Tôi đã tin lời ông cha cố, ông kể tôi nghe về trường dòng. Ngày nào ông cũng chăm lo cho tôi, ông có nhiều thời gian rảnh rỗi trong cái vùng Tin Lành này, nơi ông lướt đi sát những bức tường khi phải qua làng. Ông cha cố kể với tôi về một tương lai có ánh mặt trời. Đạo Thiên Chúa chính là vầng Thái dương, ông nói và ông dạy tôi đọc sách. Ông đã đem trở lại thứ tiếng La Tinh vào cái đầu đần độn của tôi. “Thằng bé này thông minh nhưng giống con lừa”. Cũng cần nói rằng cái sọ của tôi cứng đến nỗi suốt cả cuộc đời, qua bao nhiêu lần ngã, vậy mà đầu tôi không rớm máu lần nào. “Đầu của con bò cái”. Cha tôi cũng chỉ là thứ con lợn, vậy mà nói về tôi như vậy. Tại trường dòng tất cả bọn họ đều kiêu căng. Tuyển được một tên lính mới trong xứ sở Tin Lành ấy quả là một chiến công. Họ thấy tôi đến mà tưởng như nhìn thấy mặt trời mọc trên chiến trường Austerlitz [52]. Một mặt trời nhợt nhạt, đúng thế, bởi hơi men. Họ thì chỉ uống thứ rượu vang chua còn con cái họ đều hỏng răng, ha ha, phải giết lão linh mục thôi, đúng là phải như thế, nhưng không nguy hiểm gì hết. Đúng thế. Hắn ta xung vào chân truyền giáo vì ông ta chết từ lâu rồi, rượu vang chua loét đã ăn thủng dạ dày của hắn ta, cho nên hắn chỉ còn mỗi một việc là giết cha truyền giáo.

Tôi có món nợ cần thanh toán với hắn ta và với những thầy của hắn, những kẻ đã đánh lừa tôi, với cái châu Âu bẩn thỉu, toàn thế giới đều đã đánh lừa tôi. Sứ mệnh truyền giáo, họ vẫn chỉ có mỗi mấy chữ ấy trên môi, đến nơi dân cư man rợ và nói rằng “Đây là thượng đế của ta, các người hãy nhìn vào đó. Thượng đế của ta không đánh ai, cũng không giết ai. Người bảo ban bằng giọng nói dịu dàng, ai tát Người má này thì Người chìa má kia ra. Thượng đế của ta là vị thượng đế vĩ đại nhất trong các thượng đế, hãy chọn ngài, các người thấy đấy. Thượng đế của ta đã làm cho ta tốt đẹp hơn. Các người hãy thử xúc phạm ta đi, các người sẽ thấy.”
Đúng thế, tôi tin và tôi cảm thấy mình cao quí hơn, tôi trở nên cao to hơn, gần như điển trai, tôi mong được kẻ khác xúc phạm. Trong lúc tôi bước, ken chặt hàng ngũ và trong bộ áo chùng màu đen, mùa hè dưới cái nắng của xứ Grenoble, và khi đoàn chúng tôi gặp những đứa con gái mặc áo dài mỏng, tôi không cần ngoảnh mặt đi, tôi khinh bỉ chúng, tôi mong chúng xúc phạm tôi và đôi khi chúng cũng cười giễu chúng tôi. Khi đó tôi nghĩ; “Giá như chúng đánh mình và nhổ nước bọt vào mặt mình thì tốt”, nhưng tiếng cười của chúng, đúng thế, giống hệt như những cái miệng lởm chởm răng và những đầu nhọn đâm vào da thịt tôi. Sự sỉ nhục và nỗi đau đớn mới dễ chịu làm sao! Vị hiệu trưởng trường dòng đã không hiểu tôi khi tôi đau đớn, dằn vặt: “Trong con có điều lành!” Điều lành! Hoạ trong bụng tôi có rượu vang chua thì đúng hơn, nhưng như thế càng hay bởi vì nếu chưa xấu thì làm sao tốt lên được, tôi hiểu được điều đó trong toàn bộ những gì họ dạy dỗ tôi trong trường dòng. Bấy giờ tôi chỉ hiểu được có thế, một ý tưởng duy nhất và con lừa thông minh, tôi đã đi tới tận cùng, tôi đến trước bục sám hối, tôi đọc kinh nhật tụng, cuối cùng tôi muốn trở thành mẫu mực, để người ta nhìn tôi trở thành người tốt đẹp, và qua tôi người ta cúi đầu trước đấng thượng đế của tôi.

Vầng mặt trời man rợ! Mặt trời lên, thế là sa mạc đổi hẳn bộ mặt, không còn cái mầu xiclamen của những ngọn núi, ôi ngọn núi của tôi, ôi, tuyết mềm hiền dịu, không, đó là một kiểu màu vàng hơi xám, thời điểm khó nhìn, trước khi bừng lên sự chói loà vĩ đại. Chưa, chưa có thứ gì trước mặt tôi, từ đây cho tới tận chân trời, nơi cao nguyên mất hút trong một quầng màu sắc sặc sỡ dù vẫn còn mờ nhạt. Phía sau tôi, con đường trải dài tới tận cồn cát che lấp thị trấn Taghasa, cái tên gợi sắt thép ấy vẫn ong ong trong đầu óc tôi suốt bao nhiêu năm nay. Người đầu tiên nói đến cái tên ấy với tôi là ông linh mục già mắt thong manh sống ẩn dật trong nơi về nghỉ của ông ở nhà tu kín. Nhưng tại sao lại là người đầu tiên ? Ông ta là người duy nhất, và tôi, đấy không phải là dẫy phố bằng muối, những bức tường trắng dưới mặt trời đổ lửa đã làm tôi kinh ngạc trong câu chuyện kể của ông ta, không, mà là sự độc ác của dân chúng man rợ, và thị trấn đó đóng chặt cửa với tất cả những người xứ lạ, chỉ một người duy nhất đã tìm cách lọt vào, người đó mới có thể kể về những gì ông ta đã nhìn thấy tại đó. Dân chúng ở đó đánh đập và đuổi ông ta ra ngoài sa mạc sau khi xát muối vào những thương tích trên người ông ta, và nhét muối vào miệng ông ta. May thay ông ta đã gặp những kẻ du mục thương hại ông ta còn tôi thì từ ngày đó, tôi ngẫm nghĩ về câu chuyện của ông ta, về ánh lửa từ muối và từ vầng mặt trời, về căn nhà đặt linh vật và về những kẻ tín đồ nô lệ của linh vật đó. Người ta có thể tìm ra nơi nào man rợ hơn, đúng thế, đấy là sứ mạng của tôi, và tôi có bổn phận phải tới đó và chỉ cho dân chúng man rợ ấy thấy Đấng thượng đế của tôi.

Trong trường dòng người ta giảng giải cho tôi để can ngăn tôi, làm tôi nhụt chí, bảo rằng cần phải chờ đợi, rằng đây không phải là nơi có thể truyền giáo được, rằng tôi còn non nớt, tôi phải được huấn luyện một cách đặc biệt, phải biết tôi là ai và phải thử thách nhiều trước khi xem xét. Nhưng cứ chờ đợi mãi hay sao? Không. Còn nếu phải huấn luyện một cách đặc biệt và qua những thử thách thì cũng được thôi, nếu như những thứ đó được tiến hành ở thành phố Alger và lại giúp ích tôi tiếp cận gần đó thêm. Nhưng còn cái khác thì tôi lắc cái đầu bướng bỉnh của tôi và nhắc đi nhắc lại vẫn cái câu ấy: Tôi phải đến với cư dân man rợ, sống cuộc sống của họ, thuyết phục cho họ thấy ngay tại nhà của họ, thậm chí ngay cả trong căn nhà đặt linh vật, rằng chân lý của Đấng thượng đế của tôi mới là chân lý mạnh mẽ nhất. Dân chúng tại đó sẽ hành hạ tôi, sỉ nhục tôi, chắc chắn là như thế, nhưng tôi không sợ bị hành hạ, sỉ nhục. Đấy là thứ cần thiết để tôi chứng minh, và bằng những cách tôi nắm được, tôi sẽ khuất phục những kẻ man rợ ấy như vầng mặt trời hùng mạnh. Hùng mạnh, đúng thế, chính đấy là cái từ tôi nghiền ngẫm trên đầu lưỡi tôi. Tôi ước mơ đạt được quyền lực tuyệt đối, cái quyền lực bắt mọi kẻ khác phải quỳ gối, bắt đối thủ phải quy hàng, cuối cùng tôi cải đạo cho họ. Đối thủ càng mù quáng, càng tàn bạo, càng tin chắc vào bản thân nó, càng bị vùi trong một niềm tín ngưỡng bao nhiêu thì nó lại càng sớm thừa nhận quyền hành của kẻ khiến nó thất bại bấy nhiêu. Cải đạo cho những con người ngay thẳng chỉ hơi bị lầm lạc chính là lý tưởng tầm thường của những vị linh mục của chúng ta. Tôi khinh bỉ họ là giỏi giang nhường ấy mà làm được kết quả chẳng là bao. Họ thiếu niềm tin, nhưng tôi thì có. Tôi muốn cả những tên đao phủ cũng phải thừa nhận tôi, muốn bắt chúng phải quỳ gối và nói; “Hỡi thượng đế, đây là chiến thắng của ngài !”. Tôi muốn chỉ dùng lời lẽ mà chiếm được quyền lực trước một đạo quân những kẻ dữ tợn. Ôi, tôi đã quá tin vào lý lẽ của mình, chưa bao giờ tôi tự tin đến thế, khốn nỗi một khi tôi đã có một ý tưởng, tôi không thể rời nó ra được nữa. Đấy là sức mạnh của tôi, đúng thế, cái sức mạnh của tôi mà tất cả bọn họ đều phải thương hại.

Mặt trời vẫn lên cao thêm, trán tôi bắt đầu nóng giẫy. Những tảng đá xung quanh tôi nứt răng rắc rất khẽ, chỉ riêng nòng khẩu súng của tôi là còn mát, mát như cánh đồng cỏ, như trận mưa buổi tối, ngày xa xưa, khi nồi xúp trên bếp chín dần, cha và mẹ tôi đợi tôi về và đôi khi cười với tôi. Có lẽ hồi ấy tôi cũng có yêu quí cha mẹ. Nhưng thế là hết, một tấm màn nóng bỏng bắt đầu dâng cao lên từ mặt đường. Hãy đến đây đi, cha truyền giáo, tôi đợi cha, bây giờ tôi đã biết phải đáp lại lời kêu gọi kia như thế nào rồi. Các chủ nhân mới của tôi đã dạy cho tôi bài học và tôi hiểu rằng họ đúng, cần phải thanh toán món nợ tình cảm ấy. Hồi tôi trốn khỏi trường dòng ở thành phố Alger, tôi hình dung họ rất khác, những con người man rợ ấy. Trong toàn bộ mơ màng của tôi bấy giờ, chỉ đúng duy nhất có một điều, họ tàn ác. Bản thân tôi, tôi đã ăn trộm hòm tiền để dành, và vứt bỏ áo chùng, đã lặn lội qua dãy núi Atlas [54], những cao nguyên và sa mạc, người tài xế lái xe trên đường vượt sa mạc Sahara đã chế giễu tôi: “Ông đừng đến nơi đó?” Sao mà bọn họ nghĩ giống nhau đến thế. Những cồn cát như sóng biển kéo dài mấy trăm cây số, đỉnh cồn bù rối, chúng tiến lên rồi lại lùi xuống theo chiều gió thổi, rồi lại đến núi, nhọn hoắt như mũi giáo đen sì, sườn núi sắc như bằng gang và sau chặng đường ôtô ấy, lại cần đến một người dẫn đường để đưa tôi ra biển, nơi có những viên cuội màu nâu, trải dài đến vô tận dào dạt toả nắng, cháy thành muôn vàn ngọn lửa phản chiếu như qua những tấm gương soi, cho mãi đến ranh giới giữa miền đất da trắng và da đen, nơi hiện lên thị trấn bằng muối. Rồi món tiền mà tên dẫn đường cướp đi của tôi, tôi khờ dại đem khoe với hắn, nhưng hắn đã bỏ mặc tôi giữa đường, ngay đúng chỗ ngày đây, sau khi đánh tôi: “Đồ chó, đây là con đường mà tao hân hạnh qua lại. Mày cứ đi, đi nữa, và chúng sẽ dạy cho mày!”

Và họ đã dạy cho tôi thật. Ôi, họ y hệt như mặt trời, không bao giờ ngừng, trừ ban đêm, giáng xuống sức nóng và sự kiêu hãnh, lúc này họ cũng vừa mới đánh tôi dữ dội bằng những mũi giáo nóng bỏng đột nhiên xuất hiện từ dưới đất, được giấu trong tảng đá to kia, đúng thế, cho đến khi mắt tôi hoa lên và tôi không biết gì hết.
Bóng đêm nơi này đâm ra lại tốt. Làm sao có thể sống được trong thị trấn bằng muối, dưới lòng cái chảo lớn chứa đầy hơi nóng trắng bạch. Trên mỗi bức tường trắng đứng, được đẽo bằng mác và bào sơ sài những chỗ nhô lên do lưỡi mác để sót lại, ánh lên những ánh chói loà, cát vàng rải rác khiến những bức tường hơi vàng đi đôi chút, trừ phi có gió mạnh thổi qua quét đi những hạt cát đó và những bức tường lại trắng toát lên sáng chói, dưới một bầu trời cũng được quét sạch, trơ ra một màu xanh biếc. Tôi thành mù, trong những ngày đó, khi đám cháy bất động nổ lách tách hàng giờ liền trên mặt những sân trời trắng toát, cũng hoà lẫn vào mọi thứ khác, y hệt như một ngày nào đó, xa xôi lắm rồi, họ cùng tấn công vào ngọn núi muối, đầu tiên san nó thành bằng địa, sau đó khoét chúng thành đường phố, nhà cửa, hoặc như, hơn thế nữa, họ rạch địa ngục trắng của họ bằng cách dùng một đám vòi nước nóng bỏng đốt, để chứng minh rằng nơi không ai dám đến ở thì họ ở được, không phải chỉ trong ba chục ngày, nơi sức nóng buổi giữa trưa ngăn cản mọi sự tiếp cận giữa con người với con người bằng những hàng rào lửa vô hình và những tinh thể nóng bỏng. Nơi những cái lạnh giá ban đêm tiếp liền ngay. cái nóng lại buộc họ đứng bất động, cách xa nhau, trong những vỏ sò bằng muối mỏ, những dân cư trên một băng đảo khô khốc, những cư dân Esquimaux [55] đen đủi run rẩy trong những tảng băng dài vuông vắn. Đen ư? Đúng thế, bởi họ đều mặc áo choàng dài chấm gót bằng vải đen và muối lọt vào tận móng tay họ, họ nhai và nhăn mặt lại trong giấc ngủ địa cực. Muối mà họ uống cùng với nước lấy từ một khe suối duy nhất nứt ra giữa đá muối lóng lánh, để lại trên áo quần mầu sẫm của họ những đường trắng ngoằn ngoèo giống như những vết bò của loài ốc sên để lại trên tàu lá sau cơn mưa.
Mưa, ôi Thượng đế! Chỉ có thứ mưa đáng gọi là mưa, đó là trận mưa dài dằng dặc, tàn nhẫn, của bầu trời của Ngài. Rồi sau đó thị trấn như bị gặm nhấm, từ từ sụp đổ, tan hoàn toàn trong làn nước đặc sánh trôi theo những cư dân ác thú ra tận bãi cát. Chỉ một trận mưa duy nhất, hỡi thượng đế?

Nhưng thượng đế nào cơ chứ? Bởi họ chính là thượng đế của chính họ. Họ ngự trị trên những ngôi nhà khô cằn của họ, trị vì những tên nô lệ da đen mà họ bắt phải chết trong mỏ và mỗi vạt muối lại đòi một mạng người trong những xứ sở phương Nam.
Họ đi lặng lẽ, trùm những tấm mạng để tang, trong màu trắng của quặng muối trên các đường phố và khi màn đêm buông xuống, khi toàn thể thị trấn chỉ là một bóng ma đục sữa, họ khom người bước vào những ngôi nhà mà tường lấp lánh muối. Họ ngủ, giấc ngủ chập chờn, để sáng mai thức dậy họ lại tiếp tục ra lệnh và đánh đập. Họ nói rằng họ chỉ là một dân tộc, rằng thượng đế là có thật và cần phải vâng lệnh Ngài. Đấy là những chủ nhân của tôi. Họ không hề biết đến lòng thương và cũng như mọi ông chủ khác, họ muốn chỉ có mình họ, muốn tiến lên mình họ, muốn ngự trị mình họ, bởi vì chỉ họ mới đủ dũng cảm khoét muối thành cái thị trấn nóng như lửa này. Còn tôi…

Khi mặt trời lên cao, đầu tôi ong ong, mồ hôi toát ra như tắm, nhưng họ thì không sao. Giờ đây bóng đêm cũng hừng hực như lửa đất, tôi cảm thấy mặt trời đang ngự trị bên trên tảng đá trên đầu tôi. Và nó đánh xuống như búa, giáng lên tất cả các tảng đá và tạo nên một bản nhạc. Bản nhạc rộng lớn của buổi giữa trưa. Không khí run rẩy và những tảng đá lắc lư trên hàng trăm cây số, giống như ngày xưa tôi nghe thấy sự im ắng. Đúng thế. Đấy cũng chính là sự im ắng đó, đã tiếp đón tôi khi đám lính canh dẫn tôi lần đầu tiên đến trình diện họ, dưới ánh nắng gay gắt, tại giữa bãi rộng trung tâm thị trấn, từ đó nhìn ra, những dãy nhà xếp thành vòng tròn đồng tâm cứ cao dần lên đến bờ chiếc chảo mà vung là bầu trời xanh khô khốc. Tôi ở đó, bị họ hất cho ngã quỳ xuống, đúng giữa rốn của cái khiên trắng toát ấy hai mắt cay nhức bởi những tinh thể muối bay vào và hơi nóng từ các bức tường phả ra. Mặt tôi tái nhợt vì mệt, tai rỉ máu do bị tên lính canh đánh và họ đứng đó, to lớn, đen sì, nhìn tôi lặng lẽ.

Lúc đó đúng giữa trưa. Mặt trời hắt lửa, cả bầu trời phản chiếu xuống, những tấm tôn bị nung trắng. Vẫn là thứ im ắng ấy và họ nhìn tôi. Thời gian tiếp tục trôi nhưng họ vẫn nhìn tôi mãi. Phần tôi, tôi không chịu nổi những luồng mắt ấy, tôi mỗi lúc một thở hổn hển. Rồi đột nhiên, không nói một lời, tất cả bọn họ quay lưng, cùng bỏ rơi tôi và đi về một hướng... Tôi quỳ gối và chỉ nhìn thấy những chiếc dép đỏ và đen, nhưng bàn chân của họ mũi nhấc hơi cao, gót đập xuống đất, và khi bãi trống không còn ai nữa, bọn lính canh giải tôi về căn nhà thờ linh vật.
Ngồi xổm, cũng như lúc này núp bên dưới tảng đá và lửa nóng vẫn xuyên qua tảng đá xuống tôi, tôi đã bao nhiêu ngày sống trong bóng tối của căn nhà thờ linh vật, hơi cao hơn các nhà khác, bao bọc một hàng rào bằng muối, nhưng không cửa sổ, tối đen, với những ánh lấp lánh của tinh thể muối.

Nhiều ngày như thế. Họ cho tôi mỗi ngày thột thìa nước mặn và ít hạt ngũ cốc vất xuống đất như cho gà để tôi nhặt lấy ăn... Ban ngày cửa vẫn đóng kín, tuy vậy bóng tối cũng giảm đi đôi chút, như thể ánh nắng vẫn thấm qua được lớp muối. Không có đèn, tôi dò dẫm theo các bức tường, đụng vào những lá cọ khô khốc trang trí dính vào tường. Tôi lần vào sâu bên trong và thấy một cánh cửa, tôi sờ được thấy then. Rất nhiều ngày sau đó, nhiều lắm, không thể đếm xuể cũng như không đếm xuể giờ giấc.

Nhưng họ đã vứt những hạt ngũ cốc vào cho tôi thế là mười lần và tôi đào một cái hố để đại tiện. Tôi đã đậy nhưng mùi uế khí vẫn nồng nặc, đúng là một cái hang hốc của loài thú vật. Cuối cùng đến một hôm cửa mở ra và họ bước vào. Tôi ngồi xổm trong một góc nhà. Một người trong bọn họ bước đến gần tôi. Tôi thấy má tôi áp vào bức tường muốn nóng bỏng, mũi tôi ngửi thấy mùi lá cọ khô và mắt tôi nhìn người đó. Y dừng lại cách tôi chừng một mét, lặng lẽ nhìn thẳng vào mắt tôi, rồi ra hiệu cho tôi đứng lên. Cặp mắt y ánh lên như kim loại, không biểu lộ gì hết, mặt y màu nâu như mặt ngựa, rồi y giơ cao tay. Vẫn thản nhiên như trước, y véo vào môi dưới của tôi vặn từ từ tới lúc môi tôi bị rách ra, rồi vẫn không nhẹ bớt gọng kìm, y dùng mấy ngón tay đó vặn mạnh bắt tôi phải quay người lại và từ từ bước ra giữa phòng. Y giật mạnh môi tôi, buộc tôi phải quỳ xuống. Môi tôi đã toé máu. Sau đấy y buông tôi, quay lại đám người của y đang ngồi dọc theo bức tường. Họ nhìn tôi rên rỉ trong luồng ánh sáng sáng rực lọt qua ô cửa mở. Trong phòng không còn một góc nào tối. Trong luồng ánh sáng ấy xuất hiện tên phù thuỷ, tóc xoã, mình mặc một chiếc áo tết bằng ngọc trai, hai chân để trần ló ra khỏi chiếc váy tết bằng rơm, đeo mặt nạ bằng những ống sậy ghép vàonhau bởi sợi dây thép, trổ hai lỗ hình vuông để nhìn.

Gã phù thuỷ vào, theo sau là những nhạc công và đám phụ nữ mặc những chiếc áo màu sặc sỡ, rộng thùng thình, không thể đoán được vóc người bên trong của họ ra sao. Họ nhảy múa trước ô cửa bên trong, những động tác thô thiển, hơi thành nhịp một chút, trông như chỉ động đậy uốn éo thế thôi.
Cuối cùng gã phù thuỷ mở cửa sau lưng tôi. Đám chủ nhân của tôi vẫn ngồi đó, chỉ nhìn tôi và không nhúc nhắc gì hết. Tôi quay lưng lại và nhìn thấy linh vật hai đầu như hai lưỡi rìu, mũi là một sợi dây thép uốn cong như con rắn.

Họ nhấc tôi đến trước bệ thờ linh vật, bắt tôi uống một thứ nước đen sì, rất chua, chua loét, khiến đầu óc tôi nóng ran như lửa đốt. Thế là tôi cười vang: vậy là tôi đã được sỉ nhục, được hành hạ. Họ cởi hết quần áo tôi ra, lấy dầu nhờn lau khắp người tôi quất dây thừng tẩm nước muối vào mặt tôi. Tôi cười sằng sặc và cố quay đầu đi, nhưng mỗi lần tôi quay đi thì mấy người đàn bà đứng bên lại túm tai tôi kéo tôi quay mặt về phía linh vật và để tôi nhận sợi dây thừng tẩm nước muối quất vào mặt. Gã phù thuỷ tiếp tục quất tôi. Tôi chỉ nhìn thấy cặp mắt của gã đằng sau lỗ hổng vuông trên mặt nạ. Mặt tôi đầy máu nhưng tôi vẫn cười sung sướng. Họ dừng lại nhưng không ai nói gì, trong khi đó đầu óc tôi ong ong, nhức nhối. Họ bắt tôi đứng lên và ngước mắt nhìn linh vật. Tôi không cười nữa. Tôi hiểu rằng thế là từ nay tôi phải thở phụng, phải sùng kính nó. Không, tôi không cười nữa.

Nỗi sợ hãi và nỗi đau đớn làm tôi nghẹn cổ họng.
Thế là từ đó, trong căn nhà trắng toát, giữa bốn bức tường bị mặt trời bên ngoài nung nóng, mặt tôi căng ra, trí óc tôi mụ mẫm, đúng thế, tôi bắt đầu cầu nguyện linh vật. Chỉ còn mỗi nó và khuôn mặt ghê tởm của nó dù sao vẫn chưa đáng ghê tởm bằng thế giới bên ngoài. Đến lúc đó họ buộc hai cổ chân của tôi bằng một sợi dây thừng chỉ vừa đủ để tôi đi được những bước ngắn. Bây giờ đám phụ nữ lại nhảy nhót nhưng lúc này là trước bệ thờ linh vật. Các “ông chủ” tản dần ra ngoài.

Lúc họ ra hết, khép cửa lại, tiếng nhạc vang lên.
Gã phù thuỷ đã châm lửa vào một đống vỏ cây đặt dưới đất rồi nhảy múa xung quanh. Bóng gã in lên tường, to lớn và bị gãy theo những đương góc bập bềnh trên những mặt tường phẳng. Đám đàn bà lôi tôi vào góc nhà gã phù thuỷ vạch thành một hình chữ nhật xung quanh tôi. Tôi cảm thấy những bàn tay đàn bà khô và mềm mại. Đám đàn bà đặt trước mặt tôi một bát nước và một đống nhỏ hạt ngũ cốc rồi trỏ vào linh vật. Tôi hiểu rằng họ bảo tôi là phải nhìn lên đó. Gã phù thuỷ lúc gọi họ đến xung quanh đống lửa, quất roi vào họ khiến cho một vài người đàn bà rên rỉ. Sau đó họ bước đến trước bệ thờ và cúi lạy linh vật. Gã phù thuỷ vẫn nhảy nhót và đẩy đám đàn bà ra ngoài, chỉ còn lại một cô gái rất trẻ ngồi bên cạnh các nhạc công vẫn chưa bị đánh. Gã phù thuỷ túm lấy một dải tóc của cô gái, quay bàn tay quấn dần dải tóc vào đó cho đến lúc cô gái bật ngửa, cặp mắt trợn lên vì đau đớn. Cuối cùng, cô ngã ngửa ra đất. Gã phù thuỷ buông cô ra và hét lên gì đó. Đám nhạc công úp mặt hết vào tường, trong khi gã phù thuỷ vẫn trong chiếc mặt nạ có hai lỗ vuông, đảo mắt và miệng vẫn tiếp tục kêu to dần đến lúc không thể kêu to hơn được nữa. Cô gái lăn lộn trên sàn như lên cơn rồi chống hai tay và hai chân lên, cô kẹp đầu vào giữa hai cánh tay. Cô cũng kêu những tiếng nhỏ và gã phù thuỷ, miệng vẫn hét, mắt đăm đăm nhìn lên linh vật, gã bắt đầu làm tình với cô gái, động tác nhanh nhẹn nhưng phũ phàng. Lúc này không thấy được mặt cô gái vì cô chổng mông và nhữngvạt áo dày che lấp. Và tôi, do cảm giác cô đơn và hoang mang, tôi cũng kêu lên kinh hãi trước linh vật cho đến khi một bàn chân đá mạnh, hất tôi đập người vào tường, miệng tôi ngoạm vào muối trên tường giống như lúc này đây, tôi đang ngoạm vào tảng đá bằng cái miệng không có lưỡi, đợi kẻ mà tôi phải giết.

Lúc này mặt trời đã bắt đầu xế bóng. Qua khe đá tôi nhìn thấy mặt trời như một cái lỗ đục giữa tấm sắt tây nóng bỏng, giống một sa mạc không màu sắc Trên con đường trải dài trước mặt tôi không có thứ gì hết, kể cả một hạt bụi ở chân trời. Chắc hẳn họ đang lùng tôi. Nhưng không, chỉ đến cuối buổi chiều họ mới mở cửa ra và phát hiện được là tôi đã bỏ trốn. Bởi vì vào lúc đó họ thường cho tôi ra ngoài một chút sau cả một ngày quét dọn, lau chùi căn nhà đặt linh vật, thay các đồ dâng cúng. Rồi đến tối mới là giờ lễ. Thông thường họ đánh đập tôi, chỉ thỉnh thoảng mới không, bắt tôi thường xuyên thờ phụng linh vật, linh vật mà hình ảnh in sâu vào trí óc tôi như bị đốt bằng sắt nung đỏ, hằn vào ký ức tôi và bây giờ là vào niềm hy vọng của tôi. Chưa bao giờ có một Đấng thượng đế nào lại nắm giữ tôi và nô dịch tôi chặt chẽ đến như linh vật này. Toàn bộ cuộc sống của tôi, cả ngày lẫn đêm tôi đều dâng hiến cho nó. Nỗi đau đớn và cả nỗi không đau đớn, thậm chí cả niềm vui đều do nó ban cho tôi, thậm chí cả nỗi thèm khát, do ngày nào tôi cũng phải chứng kiến cái hành động làm tình lạnh lùng và tàn bạo bằng tai chứ không phải bằng mắt bởi lúc gã phù thuỷ làm chuyện đó, tôi phải úp mặt vào tường, nếu không sẽ bị đánh ngay. Nhưng mặt úp vào tường bằng muối, bị những cái bóng đen thú vật lay động trên vách áp đảo, tôi nghe rõ tiếng kêu kéo dài, cổ họng tôi khô khốc và một nỗi thèm khát khiến thái dương và dưới bụng tôi quặn đau.

Ngày lại ngày cứ tiếp tục như thế đến nỗi không phân biệt ngày nào với ngày nào bởi chúng hoà tan vào nhau trong một cái nóng thiêu đốt và sự phản chiếu của những bức tường muối lạnh lùng. Thời gian chỉ còn là một sự bùng nhùng không rõ hình thù cắt quãng đều đặn những tiếng kêu thét đau đớn chiếm đoạt. Tất cả chỉ như một ngày kéo dài dằng dặc không tuổi tác, nơi linh vật ngự trị giống như vầng mặt trời tàn ác ngự trị trên mái che bằng đá của tôi lúc này. Và bây giờ cũng như lúc đó, tôi khóc vì đau đớn và vì thèm muốn. Một niềm hi vọng độc ác thiêu đốt tôi. Tôi muốn phản bội. Tôi liếm nòng khẩu súng của tôi và linh hồn của nó bên trong; linh hồn của nó, chỉ những khẩu súng mới có linh hồn; mà đúng thế, từ ngày họ cắt mất lưỡi của tôi tôi đã học được cách thờ phụng linh hồn bất tử của lòng căm hờn.
Sao mà mọi thứ rối tung đến thế, sao mà tôi uất giận đến thế, cái nóng làm tôi mê đi, tôi cúi xuống, áp má vào khẩu súng. Ai đang thở hổn hển vậy?

Tôi không thể chịu nổi cái nóng dài dằng dặc, tôi không chịu nổi sự chờ đợi. Tôi cần phải giết ông ta.
Không một con chim nhỏ, không một ngọn cỏ, chỉ có tảng đá, một nỗi thèm muốn khô cằn, sự im ắng, những tiếng kêu của gã phù thuỷ và cô gái, cái tiếng nói bên trong của tôi đang nói và từ ngày họ huỷ hoại thân thể tôi, nỗi đau khổ kéo dài, phẳng lì. Và vắng vẻ thiếu cả đến nước của ban đêm, cái ban đêm mà tôi thường ao ước, khi bị nhốt cùng với Đấng thượng đế, trong cái hốc bằng muối. Chỉ trời đêm với những vì sao tươi tắn và những dòng suối tối tăm mới có thể cứu rỗi được tôi, bứt tôi ra khỏi những Đấng thượng đế độc ác của loài người, nhưng vì liên tục bị giam cầm tôi không sao được chiêm ngưỡng những thứ đó.

Nếu như kẻ truyền giáo kia đến trễ, tôi sẽ được thấy trời đêm ít nhất cũng mọc lên từ sa mạc, chiếm lĩnh bầu trời, cành nho lạnh sẽ rủ xuống từ đỉnh bầu trời tăm tối và tôi có thể uống ở đó thoả thích, thấm ướt cái lỗ đen ngòm và khô khốc không còn một thớ thịt nào mềm mại và sống động có thể làm cho ẩm ướt và mát mẻ. Tôi thèm được quên đi cái ngày mà nỗi điên rồ đã chi phối cái lưỡi của tôi.

Hôm đó trời nóng khủng khiếp, muối chảy ra hay ít nhất cũng là tôi tin như thế, không khí làm mắt tôi nhức buốt, gã phù thuỷ bước vào, không đeo mặt nạ. Gã gần như trần truồng, chỉ có một mảnh vải xám khoác trên người. Một cô gái mới bước theo sau gã, mặt săm những đường ngoằn ngoèo giống như mặt linh vật. Cô không nói năng gì, vẻ mặt đờ đẫn như một ngẫu tượng ác thần. Chỉ riêng thân thể gầy và phẳng của cô ta là có sinh khí. Cô ta nằm xuống bệ thờ linh vật trong lúc gã phù thuỷ mở cửa phía trong. Gã đi ra không hề nhìn tôi. Cái nóng tăng lên. Tôi không động đậy. Linh thần trên cao vẫn nhìn xuống tôi qua tấm thân bất động đang nằm bên dưới. Tuy vậy những thớ thịt trên người cô gái vẫn nhúc nhích. Khuôn mặt như mặt ngẫu tượng không thay đổi lúc tôi bước đến gần. Chỉ có cặp mắt mở to của cô nhìn tôi. Chân tôi chạm vào chân cô. Cô vẫn không nói gì, chỉ chăm chú nhìn tôi bằng cặp mắt mở to. Đang nằm nghiêng, cô từ từ xoay người để nằm ngửa ra, khẽ thu lại hai chân và choài hai đầu gối ra. Nhưng gã phù thuỷ đã rình và ngay lúc đó họ ùa vào, lôi tôi ra khỏi cô gái, đánh đập rất mạnh vào vật tội lỗi của tôi. Nhưng tội lỗi nào, tôi cười, thế đức hạnh thì ở đâu? Họ đẩy áp tôi vào tường, một bàn tay cứng như thép bóp chặt hàm tôi, một bàn tay khác cậy miệng tôi, kéo lưỡi tôi ra cho đến khi nó chảy máu và lúc đó chính là tôi kêu thét lên cái tiếng kêu của loài thú vật. Một nhát đưa nhẹ và mát mẻ, đúng thế, mát mẻ lướt trên lưỡi tôi. Lúc tôi tỉnh lại, xung quanh không còn ai. Một mình tôi trong đêm tối, ngồi tựa lưng vào tường, mồm đầy máu đã khô lại rồi. Một nắm lá khô bít đầy, kín miệng tôi. Một mùi là lạ, máu không chảy nữa nhưng tôi cảm thấy bên trong miệng rỗng thế nào ấy và chỉ thấy một nỗi đau khủng khiếp trong đó.

Tôi định đứng lên nhưng lại ngã vật xuống, sung sướng, tôi vô cùng sung sướng khi thấy mình sắp được chết. Cái chết đối với tôi lúc ấy sao dễ chịu đến thế. và trong bóng của nó không có một thượng đế nào ngự trị.
Tôi lại chưa chết. Một nỗi căm hờn trẻ trung một ngày kia đã vùng lên đồng thời với tôi, đi tới khung cửa phía trong, mở, đi ra rồi khép lại. Tôi căm hờn những đồng bào của tôi, linh vật vẫn ngồi đó và trong đáy cái hốc mà tôi bị nhốt, tôi đã làm một việc hay ho hơn là cầu nguyện y, tôi đã tin vào y và từ bỏ tất cả những gì tôi đã tin trước đó. Linh vật kia là sức mạnh, là uy lực, người ta có thể phá huỷ y nhưng không thể cải giáo cho y.
Y nhìn tôi bằng cặp mắt trống rỗng và han gỉ. Y là một ông chủ, là thượng đế duy nhất mà tính chất kèm theo là sự độc ác. Làm gì có ông chủ nhân đức?

Lần đầu tiên trên đời, do bị sỉ nhục quá nhiều toàn bộ xác thịt kêu thét với một nỗi đau duy nhất, tôi đã phó thác tôi cho y, và chấp nhận giáo lý tàn bạo của y, tôi sùng tín thói ác độc trên thế giới này chứa đựng trong y.
Là tù nhân trong vương quốc của y, thị trấn cằn cỗi khoét trong ngọn núi muối, tách rời khỏi thiên nhiên, bị tước mất những mùa đâm hoa kết trái ngắn ngủi và hiếm hoi của sa mạc, chịu đựng chi phối của những ngẫu nhiên, một đám mây bất ngờ, một trận mưa hung hãn và ngắn ngủi mà ngay mặt trời và những cồn cát cũng còn được biết tới, thị trấn mang trật tự với những góc vuông, những ngôi nhà hình hộp, những con người thẳng đuỗn, vậy mà tôi tự nguyện làm một công dân hằn học và bị hành hạ của nó, chối bỏ tất cả những gì mà người ta đã dạy dỗ tôi trước đây.

Tôi đã bị lừa. Chỉ có triều đại của sự độc ác mới không rạn nứt. Người ta đã lừa tôi. Chân lý hình vuông, nặng nề, đặc sệt. Chân lý không dung thứ sự đa dạng. Cái thiện chỉ là một điều ước mơ, một ý đồ mà người ta luôn luôn phải xem lại, bắt người ta phải cố gắng đến kiệt sức, một bến bờ mà người ta không bao giờ đạt tới. Triều đại của nó là điều không thể có. Chỉ có cái ác mới đi được tới những giới hạn tận cùng của nó và ngự trị một cách tuyệt đối. Chính cái ác mới là thứ cần sử dụng để tạo nên một vương quốc nhìn thấy được. Sau đấy người ta nghĩ lại, người ta hỏi như thế nghĩa là sao, chỉ duy nhất cái ác là hiện diện. Đả đảo châu Âu, lý trí, danh dự và thánh giá. Đúng, tôi cần phải cải đạo sang cái tôn giáo của các chủ nhân của tôi. Đúng, đúng, tôi là nô lệ, mặc dù hai chân tôi bị buộc dây và lưỡi tôi bị cắt.

Ôi cái nóng này làm tôi phát điên. Sa mạc kêu thét khắp mọi chỗ dưới thứ ánh nắng không thể chịu nổi. Và ông ta, Đấng thượng đế kia, Đấng thượng đế nhân từ, bây giờ chỉ nghe tên ông ta tôi đã buồn nôn, tôi chối bỏ ông ta bởi vì bây giờ tôi đã quá rõ ông ta rồi. Ông ta mơ ước viển vông và ông ta thích nói dối. Họ đã cắt lưỡi để lời lẽ của ông ta không lọt ra làm mê muội mọi người được nữa. Họ đã đóng đinh vào tận trong đầu ông ta, tội nghiệp cái đầu ấy, giống như cái đầu của tôi lúc này, rối tung rối mù cả lên. Sao tôi mệt thế này? Đất có rung đâu, tôi biết chắc là như thế. Không phải người bị giết là một người chính nghĩa. Tôi nhất định không tin là như thế. Làm gì có người chính nghĩa mà chỉ có những kẻ tàn ác tạo nên sự ngự trị của cái chân lý không bao giờ nguôi. Đúng thế. Chỉ cái linh vật kia mới có sức mạnh. Nó là đấng thượng đế duy nhất của cõi đời này. Mệnh lệnh của y là căm hờn. Đó cũng là cội nguồn của mọi sự sống, là làn nước tươi mát, mát như bạc hà làm lạnh miệng và đốt cháy dạ dầy.
Lúc đó tôi đã đổi tín ngưỡng. Họ thấy được điều đó. Tôi hôn bàn tay họ mỗi khi tôi gặp họ. Tôi là người của họ, tôi chiêm ngưỡng họ không biết mệt. Tôi tin cậy họ. Tôi hi vọng sẽ làm tàn phế những người phía chúng ta giống như họ đã làm tôi thành phế nhân. Và khi tôi biết tin một giáo sĩ sẽ đến truyền giáo ở đây tôi hiểu rằng tôi sẽ phải làm gì.

Ngày hôm nay giống như mọi ngày khác, nằm trong cái ngày dài dằng dặc đã khởi đầu trước đây bao nhiêu lâu. Cuối buổi chiều, tôi nhìn thấy một tên lính canh xuất hiện, chạy trên bờ cái chảo khổng lồ là thị trấn này. Vài phút sau, tôi bị giải về căn nhà thờ linh vật, cửa đóng. Một tên trong bọn giữ chặt tôi dưới đất, trong bóng tối, giơ sẵn thanh kiếm lên đe tôi. Thanh kiếm hình cây thánh giá. Nỗi lặng lẽ kéo rất dài, cho đến khi một tiếng động lạ rung chuyển cả thị trấn vốn xưa nay bình thản. Nhiều giọng nói vẳng đến tai tôi, một lúc sau tôi mới nhận ra là họ nói thứ tiếng của nước tôi. Nhưng khi những tiếng nói đó vẳng đến thì tên lính canh hạ mũi kiếm sát mắt tôi và hắn im lặng chăm chú nhìn tôi. Tôi vẫn còn nghe thấy hai giọng nói, một người hỏi tại sao căn nhà này lại phải canh giữ, hay ta phá cửa ra, thưa trung uý? Người kia đáp cụt lủn “Đừng!” rồi sau đó một chút, y nói thêm rằng bản thảo ước đã được ký kết. Thị trấn này chấp thuận một đơn vị gồm hai mươi chiến binh với điều kiện họ đóng quân bên ngoài hàng rào bao quanh thị trấn và họ tôn trọng phong tục tập quán của dân sở tại. Người chiến binh cười họ nhượng bộ nhưng viên sĩ quan không biết, cũng có thể đây là lần đầu tiên họ chịu nhận một người nào đó chữa bệnh cho trẻ con và người đó là cha tuyên uý, sau khi họ đã chiếm được đất. Người chiến binh nói rằng nếu như quân đội không có mặt ở đây thì dân chúng sở tại sẽ cắt tai ông tuyên uý mất. Viên sĩ quan đáp: “Không đâu, cha Beffort sẽ đến đây trước cả đơn vị đồn trú. Chỉ hai ngày nữa cha sẽ tới”. Tôi không nghe thấy thêm gì nữa, hồi hộp dưới mũi kiếm chĩa vào đầu tôi. Một bánh xe gài đầy kim và móc nhọn đang quay cuồng trong người tôi. Họ điên rồi ! Họ điên rồi! Sao họ lại để cho đám quân sĩ kia vào được thị trấn, xâm phạm sức mạnh bất chiến bại của họ, xâm phạm vào thượng đế chân chính thật sự và kẻ kia, tên giáo sĩ sắp đến kia, họ sẽ không cắt lưỡi hắn được và hắn sẽ huênh hoang thuyết giáo một cách hỗn hào về lòng nhân đức mà không phải trả giá, không bị lăng nhục gì hết. Triều đại của cái ác sẽ bị trì hoãn, sẽ lại xuất hiện nỗi hồ nghi. Người ta sẽ lại mất thời gian mơ tưởng những điều viển vông không thể thực hiện được, lại tốn bao công sức vô ích trong khi lẽ ra cần phải đẩy nhanh cho mau tới cái triều đại duy nhất có thể có. Và tôi nhìn lên mũi kiếm đang lăm lăm trên đầu. Ôi, sức mạnh duy nhất, hãy ngự trị trên thế gian này đi? Ôi, sức mạnh!

Thị trấn dần dần trở nên im ắng, cuối cùng cửa mở ra và tôi còn một mình, như bị thiêu đốt, cay đắng, cùng với linh vật. Và tôi đã thề với nó rằng tôi sẽ bảo vệ tín ngưỡng mới của tôi, bảo vệ những ông chủ thật sự của tôi, vị thượng đế bạo chúa, rằng tôi sẽ phản bội lại tín ngưỡng ngày trước bằng bất cứ giá nào.
Cái nóng giảm đi đôi chút. Tảng đá không còn rung lên nữa. Tôi có thể chui ra khỏi cái hốc, nhìn sa mạc đang được che phủ dần bằng những màu vàng, rồi màu vàng đất và cuối cùng là màu vàng xám. Đêm qua, tôi đã đợi cho họ ngủ, tôi đã mở khoá cửa bước ra đi theo cái cách mà sợi dây thừng buộc nối hai cổ chân tôi cho phép. Tôi thuộc phố xá, tôi biết đến nơi nào có thể kiếm được một khẩu súng, cổng nào không có lính canh và tôi có cảm giác như mình núp trong cái hốc đá này bao nhiêu ngày rồi.
Mau lên, thằng cha truyền giáo kia đến mau lên! Chỉ lát nữa thôi, họ sẽ tìm tôi, sẽ lục soát tất cả các ngả, các phía, họ không biết rằng tôi ra đây là vì họ, là để hầu hạ họ tốt hơn. Hai chân tôi run lẩy bẩy vì đói và vì căm hờn.
Ôi, kia rồi, nơi cuối đường hai con lạc đà hiện ra và lớn dần, chạy nước kiệu và tôi đã thấy bóng của chúng ngắn ngủn in trên cát hai kẻ đó cưỡi lạc đà vẫn với cái vẻ hồ hởi và mơ mộng như mọi khi. Vậy là chúng đây rồi!

Khẩu súng đâu, mau lên. Tôi nạp đạn thật nhanh. Ôi linh vật, vị thượng đế của tôi nơi kia, cầu cho sức mạnh của Ngài vững vàng, cầu cho nỗi uất hận được tăng gấp nhiều lần, cầu cho lòng hờn căm ngự trị không thương xót trên một thế gian đầy những kẻ đau khổ, đọa đầy, cầu cho cái tàn ác vĩnh viễn là ông chủ, cầu cho cái vương quốc trở lại, nơi trong thị trấn duy nhất bằng sắt thép và bằng muối kia sẽ có những bạo chúa đen đủi nô dịch và chiếm đoạt các cô gái một cách không thương xót. Và bây giờ, bàn tay này hãy nổ súng vào lòng thương cảm, nổ súng vào sự bất lực và lòng nhân từ, nổ súng vào tất cả những gì ngăn và làm chậm lại sự xuất hiện của cái ác. Hai phát súng nổ và kia rồi, chúng ngã xuống và hai con lạc đà chạy thẳng về phía chân trời, nơi hai bầy chim đen sì vừa cất cánh lên bầu trời nhợt nhạt. Tôi cười, cười mãi. Tên linh mục truyền giáo quằn quại trong tấm áo chùng bạc màu, hắn nghển đầu nhìn thấy tôi, tôi, thầy của hắn hùng mạnh bị buộc hai chân, tại sao tôi lại cười, tôi nín không cười nữa. Tiếng động phát ra khi báng súng này đập vào mặt hắn mới sướng tai làm sao. Hôm nay, hôm nay, rút cuộc thế là xong và trên khắp sa mạc, kể cả những nơi cách đây hàng giờ đường, những con chó rừng sẽ nghển mũi lên đánh hơi và sẽ chạy về phía nơi bữa tiệc xác chết đang đợi chúng.
Thắng lợi rồi! Tôi giơ cả hai tay lên trời, bầu trời đang lụi đi dần, một bóng màu tím hiện lên mờ mờ bên kia đường. Ôi, những đêm châu Âu, tổ quốc, thời thơ ấu, tại sao nước mắt tôi lại trào ra giữa lúc chiến thắng này?

Cái bóng kia nhúc nhích, không phải, tôi nghe tiếng động từ đâu đó vẳng lại và kia, chính là họ.
Họ đang chạy lao về phía tôi như một đàn chim đen đủi những vị chủ nhân của tôi, họ túm lấy tôi, ôi, họ đánh tôi, họ sợ thị trấn của họ bị tàn huỷ và vang lên những tiếng hô reo, họ sợ những tên lính đến trả thù sau hành động của tôi, tại thị trấn thiêng liêng kia. Bây giờ xin các vị cứ tự vệ đi, cứ đánh đập tôi đi. Chân lý thuộc về các vị kia mà! Ôi, các vị chủ nhân của tôi, họ sẽ chiến thắng được đám binh sĩ, sẽ đánh bại được lời lẽ và tình yêu thương, họ sẽ lên sa mạc, sẽ băng qua biển cả, sẽ dùng những cánh buồm đen của họ dìm đi làn ánh sáng của châu Âu. Các vị chủ nhân của tôi, các vị hãy đánh đi, đánh vào bụng tôi, đánh vào mắt tôi, hãy rắc muối lên khắp lục địa. Mọi cây cỏ, mọi thứ gì thanh xuân sẽ tàn lụi và từng đám người dây buộc hai chân như tôi bây giờ, sẽ bước bên cạnh tôi trong cái thế gian vắng tanh như sa mạc, dưới vầng mặt trời độc ác của thứ tín ngưỡng chân chính. Tôi không còn là kẻ duy nhất nữa. Ôi, cái ác đã tạo nên tôi, nỗi giận dữ của họ là chính đáng. Và khi họ căng hai chân hai tay trên tấm ván lính chiến, tôi cười, tôi sung sướng được đóng đanh câu rút như thế này.

Sao sa mạc yên tĩnh đến thế? Đêm đã xuống và tôi nằm một mình. Tôi khát cháy cổ. Vẫn còn phải đợi. Thị trấn ở đâu? Những tiếng động rất xa. Và bọn binh sĩ khéo đã thắng rồi. Không, không thể thế được. Nếu như binh sĩ thắng thì chúng chưa đủ tàn ác, chúng không biết cách cai trị, chúng sẽ lại nói rằng cần phải tốt hơn và rồi lại vẫn có hàng triệu người bối rối giữa cái thiện và cái ác, luôn luôn bị dằn vặt. Ôi, hỡi linh vật, tại sao Ngài lại bỏ rơi tôi? Thế là hết, tôi thấy khát cháy cổ, thân thể tôi nóng như bị thiêu, đêm tối tràn vào hai mắt tôi.

Giấc mơ dài dằng dặc ấy kết thúc, tôi tỉnh dậy, nhưng không, tôi sắp chết, trời bắt đầu sáng, ánh sáng đầu tiên của ngày này là dành cho những người sống, còn tôi thì chỉ là mặt trời trong hư ảo, là đám ruồi nhặng. Ai nói vậy? Không ai hết. Bầu trời không mở ra đối với tôi nữa rồi, không, thượng đế đâu có lên tiếng giữa sa mạc? Nhưng tại sao vẫn có tiếng nói nào đấy văng vẳng bên tai tôi: “Nếu như mi nhận cái chết vì hằn thù và sức mạnh thì ai sẽ tha thứ cho chúng ta?” Hay đấy là cái lưỡi khác trong miệng tôi, hay kẻ kia chưa chịu từ giã cõi đời vẫn nằm dưới chân tôi và nhắc đi nhắc lại. “Dũng cảm lên, dũng cảm lên, dũng cảm lên?” ôi, nếu như tôi lại lầm lần nữa? Những con người ngày xưa thân ái với nhau, những kẻ tôi có thể nhờ cậy, ôi, nỗi cô đơn, đừng bỏ tôi! Đây rồi, người là ai vậy, tơi tả, miệng đầy máu, ông đấy à, ông phù thuỷ? Vậy ra đám binh sĩ đã đánh bại được ông rồi, muối đang bốc cháy nơi kia, chính ông là kẻ tôi tôn làm ông chủ kính mến của tôi! Hãy bỏ cái vẻ hằn thù trên khuôn mặt ông đi, hãy lành hiền đi, tôi với ông đều lầm lẫn, chúng ta hãy bắt đầu lại, chúng ta hãy khôi phục thị trấn để thành một nơi tình thương.

Tôi muốn trở về nhà. Đúng, ông hãy giúp tôi, chìa tay ra, đúng thế, đưa tay cho tôi. Một nắm cát bị ném vào đầy miệng của tên nô lệ ba hoa.

VŨ ĐÌNH PHÒNG dịch.





Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Mon Nov 27, 2017 8:19 pm


Nhà văn Na Uy Knut Hamsun (1859-1952)

Tiếng gọi đời thường
Knut Hamsun
(Nobel 1920)


Ở gần khu cảng của Copenhagen, có một con đường tên là Vestervold, tuy mới nhưng vắng vẻ. Ở đó chỉ có vài ngôi nhà, mấy ngọn đèn hơi đốt và hầu như không người qua lại. Ngay cả lúc này, mùa hè, cũng khó mà thấy ai đi dạo ở đó.
Vậy mà, đêm qua tôi đã gặp một chuyện ngạc nhiên trên con đường ấy.

Tôi đang đi loanh quanh thì có một phụ nữ từ phía ngược đi tới. Quanh đó không bóng người. Ngọn đèn đường có đốt, nhưng vẫn tối, tối đến tôi không nhìn rõ mặt bà ta. Tôi thầm nghĩ, hẳn cũng là loài đi ăn đêm đây, và đi qua bà ta.

Đến cuối đường tôi thả bộ vòng lại. Bà ấy cũng quay lại và chúng tôi chạm mặt lần nữa. Tôi nghĩ bà ta đang chờ ai đó và bỗng tò mò muốn biết người đó là ai, thế là tôi lại đi qua bà ta.

Khi chạm mặt lần thứ ba, tôi khẽ bỏ mũ và nói:
- Xin chào bà! Chắc bà đang đợi ai?
Bà ta giật mình. Không - tức là, phải - bà ta đang đợi.
- Bà có phiền khi tôi cùng đi dạo với bà cho đến khi người ấy tới không?
Không - ít nhất bà ta cũng không phản đối điều đó, và còn cảm ơn tôi nữa. Thật ra, bà ta giải thích, bà chẳng đợi ai. Bà chỉ muốn hít thở khí trời, mà ở đây thì yên tĩnh.

Chúng tôi đi loanh quanh bên nhau, và bắt đầu nói về đủ thứ chuyện tầm phào. Tôi giơ tay cho bà khoác.
- Không, cám ơn ông - bà ta nói, và lắc đầu.

Đi dạo kiểu này mãi thì chẳng có gì hứng thú. Tôi không nhìn rõ được bà trong bóng tối, tôi bèn đánh một que diêm để xem đồng hồ. Tôi giữ yên cây diêm và nhìn bà ta.
- Chín rưỡi rồi, - tôi hỏi - Hay ta ghé vào chỗ nào đó uống cái gì đi? Ở Tivoli nhé? Hay National?
- Nhưng, ông không hiểu là tôi không thể đi đâu được sao?

Và đến bây giờ tôi mới nhận ra bà đeo một tấm mạng đen dài. Tôi. vội vàng xin lỗi, và đổ thừa cho bóng tối khiến tôi không được rõ. Và cung cách bà nhận lời xin lỗi của tôi khiến tôi tin rằng bà không thuộc loại gái ăn đêm thường thấy.
- Bà không khoác tay tôi được sao? - Tôi lại đề nghị - nó sẽ làm bà ấm hơn một chút.
Và bà khoác tay tôi.

Chúng tôi lại đi lên đi xuống vài vòng nữa, bà bảo tôi xem giờ.
- Mười giờ rồi, bà ngụ ở đâu vậy ?
- Ở Gamle Kongevei.
Tôi dừng bà ta lại:
- Tôi có thể đưa bà về nhà không?
- Không tiện đâu, - bà đáp - Không, tôi không thể để ông... Ông ở Bredgade phải không?
- Sao bà biết vậy? - Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Ồ, tôi biết ông là ai mà, - bà ta trả lời.

Ngưng một lát, chúng tôi khoác tay nhau đi về phía những phố sáng đèn. Bà đi nhanh nhẹn, tấm mạng dài phất phơ đằng sau.
- Ta nên nhanh nhanh một chút, - bà nói.

Đến cửa nhà bà ở Gamle Kongevei, bà quay lại như để cảm ơn tôi đã đưa bà về. Tôi mở cửa cho bà và bà chậm chạp bước. Tôi nhẹ nhàng đẩy vai vào cánh cửa và bước vào theo. Đến bên trong, bà nắm lấy tay tôi. Cả hai đều không nói một lời.

Chúng tôi theo cầu thang vượt hai tầng lầu và dừng lại ở tầng ba. Tự tay bà mở khóa và xô cánh cửa ra, bà nắm lấy tay tôi và dẫn vào. Có lẽ đó là một phòng khách nhỏ, tôi nghe tiếng đồng hồ tíc tắc trên tường. Khép cửa lại, bà ta sựng lại một chút rồi đột nhiên giơ tay ôm chầm lấy tôi và run rẩy, mê đắm hôn ngay vào môi tôi. Ngay vào môi tôi.
- Ông ngồi xuống đi, - bà bảo - Có cái trường kỷ đây, để tôi đi thắp đèn.
Và bà ta đốt một ngọn đèn.

Tôi nhìn quanh, bàng hoàng, nhưng lại tò mò. Tôi thấy mình ngồi trong một phòng khách rộng rãi, bài trí sang trọng với những cánh cửa khép hờ dẫn sang các căn phòng cạnh đó. Cả đời tôi cũng không thể nhận ra mình vừa tình cờ gặp loại người nào đây.
- Phòng đẹp quá! - Tôi kêu lên - bà sống ở đây hả?
- Phải, đây là nhà tôi.
- Nhà của bà à? Bà còn sống với bố mẹ hả?
- ồ, không, - bà ta cười. - Tôi già rồi, như anh sẽ thấy đây. - Và bà gỡ tấm mạng ra.
- Đó... thấy chưa! - Bà ta nói và ôm chầm lấy tôi lần nữa, thật đột ngột, như bị thôi thúc không kìm được.

Bà ta (phải gọi là nàng mới đúng) chỉ mới khoảng hai mươi hai, hai mươi ba, có một cái nhẫn trên tay phải, và do đó hẳn đã có chồng rồi. Xinh đẹp ư? Không hẳn nàng có nhiều tàn nhang, chân mày hầu như không có. Nhưng ở nàng có vẻ gì rất sôi nổi, và đôi môi của nàng đẹp kì lạ.

Tôi muốn hỏi nàng là ai, chồng ở đâu, nếu quả nàng có chồng, và căn nhà nay là của ai, nhưng nàng lao vào ôm lấy tôi mỗi khi tôi mở miệng và ngăn không để tôi hỏi.

- Tên tôi là Ellen, - nàng giải thích - Ông có muốn uống gì không? Bây giờ tôi có rung chuông gọi thì cũng chẳng có ai phiền. Nhưng có lẽ mời ông qua đây, trong phòng ngủ, chờ cho một chút.

Tôi đi vào phòng ngủ. Ánh đèn từ phòng khách soi qua đây phần nào. Tôi thấy hai cái giường. Ellen rung chuông và gọi rượu vang, rồi tôi nghe tiếng người hầu mang rượu vào và đi ra. Một lát sau Ellen đi vào phòng ngủ, nhưng nàng sựng lại ngay cửa. Tôi vội bước tới. Nàng khẽ kêu một tiếng nhỏ và bước lại tôi.

Đó là đêm hôm qua.
Rồi chuyện gì xảy ra? A, xin hãy kiên nhẫn! Nhiều chuyện lắm!

Đến mờ sáng hôm nay tôi mới thức dậy, ánh sáng tràn vào qua hai bên tấm màn. Ellen cũng thức giấc và mỉm cười với tôi. Đôi cánh tay của nàng trắng và mượt mà, bộ ngực vươn cao khác thường. Tôi thì thầm với nàng và nàng dùng môi để khép miệng tôi lại, hết sức dịu dàng. Ngày rạng dần.

Hai giờ sau tôi mới đứng dậy được. Ellen cũng đang lo mặc y phục, rồi nàng đi giầy vào. Chính lúc đó tôi mới thấy một điều mà đến nay còn làm tôi bàng hoàng như một giấc mộng kinh khủng. Lúc đó tôi đang ở chỗ bồn rửa mặt, Ellen qua phòng bên cạnh làm việc vặt gì đó, và vì nàng không khép cửa nên tôi liếc nhìn được sang phòng bên. Một luồng gió lạnh thổi vào người tôi qua ô cửa sổ, và giữa căn phòng đó tôi nhìn thấy một xác người nằm dài trên bàn. Một xác chết, trong quan tài, có bộ râu xám, xác đàn ông. Hau đầu gối xương xẩu nhô lên dưới tấm vải phủ trông như hai nắm đấm, khuôn mặt tái mét, nhợt nhạt một cách kinh khủng. Dưới ánh sáng ban ngày tôi nhìn rõ mọi thứ và tôi quay mặt đi, không nói nên lời.

Khi Ellen trở lại, tôi đã áo quần tươm tất và sẵn sàng ra đi. Tôi chẳng còn tâm trí đâu đáp lại vòng tay ôm của nàng. Nàng khoác thêm tấm áo nữa, có vẻ như muốn đi cùng tôi xuống tới mặt đường, và tôi để nàng đi theo, vẫn chẳng nói một lời. Đến cổng dưới, nàng nép sát vào tường như sợ bị nhìn thấy.
- Thôi, tạm biệt - nàng thì thầm.
- Đến mai nhé? - Tôi hỏi, phần nào vì muốn thử nàng.
- Không, mai không được.
- Tại sao không được?
- Đừng hỏi nhiều thế. Mai tôi phải đi dự đám tang, một người họ hàng vừa chết. Ông biết rồi đó.
- Thế còn ngày kia?
- Được, ngày kia, cũng ở cửa này. Mình sẽ gặp lại. Tạm biệt.

Tôi bước đi.

Nàng là ai? Còn cái xác nữa? Với bàn tay nắm chặt và khóe miệng trĩu xuống như thế... thật trớ trêu kinh khủng. Ngày kia nàng sẽ chờ tôi. Liệu tôi có nên gặp lại nàng không?

Tôi đi thẳng tới quán cà phê Bernina và hỏi mượn cuốn danh bạ điện thoại. Tôi tìm xem số nhà đó, đường Gamle Kongevei như thế, như thế... và... cái tên đây rồi. Tôi chờ một lúc tới khi người ta phát hành tờ báo buổi sáng. Tôi vội lật tới trang đăng cáo phó. Và như đã tin chắc tôi tìm thấy tên nàng ở đó, ngay dòng đầu; in chữ đậm "Chồng tôi, năm mươi ba tuổi, đã qua đời hôm nay sau một thời gian lâm bệnh". Lời cáo phó được ghi ngày hôm trước.

Tôi ngồi một lúc lâu và ngẫm nghĩ.

Một người đàn ông lập gia đình. Bà vợ trẻ hơn ông ta ba mươi tuổi. Ông bị một căn bệnh mãn tính dai dẳng. Một ngày đẹp trời kia ông ta chết.

Và người goá phụ trẻ thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri Dec 01, 2017 9:05 pm



Người lính trở về
Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Khi cuộc oanh tạc đánh phá tan hoang chiến hào của hắn tại Fossalta, hắn nằm bẹp dí, vã mồ hôi cầu khẩn Chúa. Chúa ơi cứu con khỏi nơi đây. Chúa ơi, xin cứu con. Nếu Chúa cứu con thoát chết, con sẽ làm bất cứ điều gì Chúa sai khiến, con sẽ tin nơi Chúa và sẽ bảo tất cả mọi người trên thế gian này chỉ có Chúa mà thôi, Chúa mến yêu ơi. Khi đạn pháo qua khỏi vòng tuyến, chúng tôi thu dọn lại chiến hào. Buổi sáng mặt trời mọc, mang đến một ngày nắng oi bức và yên tĩnh. Đêm sau, khi trở về Mestre hắn chẳng kể cho đứa con gái nơi hồng lầu biết về câu chuyện Chúa của hắn. Từ đó hắn cũng chẳng hề hé môi với ai.

° ° °

Hắn (Krebs) vào quân đội khi đang ngồi ghế nhà trường tại Methodist College, tiểu bang Kansas. Kia là tấm hình hắn mặc đồng phục đứng giữa sư huynh đệ của mình. Cả bọn cùng trang lứa với nhau. Hắn gia nhập Thủy quân lục chiến năm 1917 và chỉ trở về Hoa Kỳ khi sư đoàn II rút quân khỏi giòng sông Rhine vào mùa hè 1919. Còn kia là tấm hình hắn chụp bên giòng Rhine cùng hai cô gái Đức và người hạ sĩ. Hắn và người hạ sĩ trông quá khổ trong bộ quân phục, hai cô gái Đức chẳng phải là người đẹp, và con sông thì không rõ hình rõ dạng.

Hắn trở về quê hương Oklahoma của mình quá muộn màng. Đã qua thật lâu rồi giai đoạn thiên hạ tung hô chào đón người hùng trở về từ mặt trận. Các chàng trai đi quân dịch nơi quê hắn đã quay về vẻ vang trong thời điểm ấy. Bọn họ đã đón nhận tất cả sự nhiệt liệt hân hoan mừng buổi đoàn viên từ khắp nơi mọi phía. Sau đó sự việc lắng đọng theo thời gian, và mọi người cho rằng sự trở về muộn màng của hắn thật khôi hài đáng tội vì đã qua khá nhiều năm sau khi chiến tranh hoàn toàn kết thúc.

Lúc đầu hắn chẳng muốn bàn đến chiến tranh, đến những nơi mà hắn từng đi qua như Belleau Wood, Soissons, the Champagne, St. Mihiel và the Argonne. Về sau, khi hắn thấy cần phải nói thì chẳng ai buồn nghe. Quê của hắn đã nghe đầy tai về những câu chuyện tàn bạo kinh thiên động địa, về người thật, việc thật. Hắn nhận ra một điều, muốn được thiên hạ lắng nghe thì hắn cần phải nói dối cho câu chuyện của mình thêm ly kỳ hấp dẫn, và khi nói dối đến lần thứ hai thì hắn đâm ra thù ghét chiến tranh, thù ghét luôn việc đề cập đến nó. Tất cả các điều thêu dệt làm cho hắn mất cảm giác, mất cảm tình với những việc xảy đến với hắn trong thời chiến. Duy chỉ khi nào sâu lắng tâm tư hồi tưởng lại thời gian đã qua của mình, hắn mới thấy dễ chịu và có cảm giác nhẹ nhàng. Khoảng thời gian ấy đã qua thật lâu rồi. Khoảng đời ấy đã cho hắn hoàn thành một việc tối thượng thật đơn giản và tự nhiên, đó là nghĩa vụ duy nhất của người đàn ông. Trong khi người khác có thể sẽ làm một việc khác hơn, để mất đi niềm hào hùng, mất đi giá trị thiêng liêng vô cùng cao quý, và đánh mất luôn chính bản thân họ.

Thật ra lời nói dối của hắn hoàn toàn vô thưởng vô phạt, chẳng quan trọng gì và chỉ góp phần cho câu chuyện riêng tư của hắn mà thôi. Điều mà người khác biết đâu đã từng thấy qua, làm qua, hoặc nghe qua, và cho là sự thật. Toàn là những câu chuyện truyền miệng không chính xác, tuy nhiên lại thường tình xãy ra rất quen thuộc với người lính. Người quen biết với hắn, từng nghe câu chuyện kể tỉ mỉ về những người phụ nữ Đức bị xiềng cứng bên cỗ súng máy tại khu rừng Argonne. Họ chẳng ý thức chi cả về việc mình làm mà vì bị kích động do tinh thần yêu nước nhồi sọ. Bất cứ tay xạ thủ người Đức nào nếu không bị xiềng xích, sẽ làm cho câu chuyện của hắn kém phần xúc động. Tuy thế, hắn khó chịu khi nói không đúng sự thật hoặc phóng đại. Nếu vô tình gặp gỡ và trò chuyện với người từng đi lính như mình, hắn dễ dàng rơi ngay vào vị trí của kẻ già dặn kinh nghiệm giữa những người lính với nhau. Nhớ lại chuỗi ngày tháng làm hắn vô cùng hãi hùng, hắn hoang mang và mất phương hướng hoàn toàn.

Bây giờ là cuối mùa hạ. Hắn thường dậy muộn. Hắn thức dậy chỉ để bát phố, vào thư viện mượn hai quyển sách và về nhà ăn trưa. Sau đó ngồi trước hiên đọc sách đến chán và lại đi lang thang khắp nơi trong vùng, hoặc dành suốt buổi trưa nóng bức bên hồ bơi mát lạnh. Vào buổi tối, hắn dợt lại tiếng kèn của mình, dạo phố, đọc sách và đi ngủ. Đời sống của hắn xem ra thật vô tích sự, nhưng dưới mắt hai cô em gái hắn vẫn là người hùng. Mẹ hắn chiều con, để hắn ăn sáng tại giường nếu hắn muốn. Bà mẹ thường vào phòng khi hắn còn nướng cháy trên giường hỏi thăm về chiến tranh, nhưng sự quan tâm của bà mông lung không rõ rệt.

Trước khi vào quân đội hắn chưa hề được phép lái xe. Cha hắn kinh doanh trong ngành địa ốc, nên luôn cần sẵn chiếc xe để ông đưa thân chủ đi xem nhà đất vào bất cứ giờ phút nào thuận tiện. Chiếc xe đậu trường kỳ bên ngoài ngân hàng nơi ông làm việc trên lầu hai, chiến tranh đã chấm dứt và chiếc xe ấy vẫn còn đây, nguyên hình nguyên dạng. Nói chung mọi việc trong vùng hắn chẳng thay đổi điều gì, trừ mấy đứa con gái lớn lên. Tuy nhiên, đời sống của bọn họ thật phức tạp, và hoàn toàn xa lạ với thế giới của hắn khiến hắn chùn bước chẳng muốn tiến đến. Hắn chỉ thích ngắm họ mà thôi. Rất nhiều cô gái trẻ đẹp. Phần nhiều cắt tóc ngắn ngang vai (bobbed hair). Thời xa xưa khi hắn chưa vào quân đội chỉ có mấy đứa con gái nhỏ mới để tóc kiểu ấy.

Từ mái hiên nhà mình, hắn thích ngắm các cô gái đi ngang phía bên kia đường. Hắn thích nhìn họ bước dưới tàng cây bóng mát. Hắn thích mái tóc ngắn chấm vai và dáng dấp của họ. Thuở trước, họ không gây cho hắn chút ấn tượng gì vì hắn không hề để ý mấy đứa con nít bu quanh chiếc xe kem. Thật ra hắn chẳng thích con người thật của đám con gái ấy vì bọn họ phức tạp và hoàn toàn cách biệt với hắn. Thời gian gần đây hắn để ý một cô, nhưng chẳng muốn làm quen. Hắn thích con gái nhưng lại không muốn bỏ quá nhiều thời gian để được họ vì hắn sợ vướng vòng tằng tịu khổ ải. Hắn lại càng không muốn bận bịu với cuộc hẹn hò. Thật ra, hắn chẳng muốn nói dối điều này thế kia vì hắn nghĩ không đáng để phiền lòng.

Hắn sợ hậu quả. Hắn ngại ngần sợ phải sống ngao ngán với hậu quả thêm lần nữa. Hắn tha thiết muốn sống cuộc đời bình yên lâu dài không chi phối vì hậu quả. Hơn nữa, hắn chưa cần thiết có một người đàn bà. Quân đội đã dạy hắn như thế. Muốn tỏ ra mình cần có một người đàn bà bên cạnh thì đã sao, hầu như ai cũng làm được. Nhưng thật sự không hẳn thế. Đâu cần phải có đàn bà. Hắn nhớ nằm lòng một câu chuyện khá ngộ nghĩnh. Lúc đầu tên bạn bảo hắn đàn bà chẳng nghĩa lý chi với gã cả, rằng gã không bao giờ quan tâm đến họ, và họ đừng hòng động đến sợi lông chân của gã. Đoạn, tên bạn lại bảo gã chẳng thể sống thiếu đàn bà, rằng gã luôn cần có họ vì không có họ gã ngủ chẳng yên. Thật láo lếu. Nói nhăn cuội quanh quẩn cách nào cũng chỉ toàn láo lếu. Thật ra đâu cần phải có người đàn bà bên cạnh, trừ phi mình một lòng một dạ ôm ấp hình bóng họ trong tâm tư. Hắn học điều này từ quân đội. Sớm hay muộn cũng có một người. Khi thời gian đến hồi chín mùi, tự nhiên họ sẽ đến, đâu cần phải nghĩ ngợi mông lung. Sự việc gì, sớm hay muộn rồi sẽ đến, hắn lại học điều này từ quân đội.

Hắn chỉ thích một người con gái nếu người ấy đến với hắn âm thầm đừng nói năng tâm sự gì cả. Nhưng nơi này quá phức tạp, hắn tự hiểu rõ mình chẳng thể nào vượt qua thêm lần nữa. Hắn tự nhủ không đáng để gây thêm phiền toái. Nhớ thuở nào bên mấy đứa con gái người Pháp và người Đức. Ngày ấy, xứ lạ quê người đâu có thể dài dòng văn tự và đâu cần phải nói. Rất đơn giản là chỉ làm bạn nhau mà thôi. Hắn nhớ về nước Pháp, người Pháp. Xong hắn lại nhớ về nước Đức, người Đức. Nói cho cùng, hắn thích người Đức hơn. Hắn chẳng muốn rời nước Đức. Hắn chẳng muốn trở về quê hương, nhưng rồi hắn phải về. Ngồi bên mái hiên nhà mình.

Hắn để ý thích mấy đứa con gái đi ngang nhà từ phía bên kia đường. Hắn chiêm ngưỡng bọn họ và yêu mến dáng dấp của họ hơn mấy đứa con gái người Pháp và người Đức. Tuy nhiên, thế giới của họ không phải là thế giới của hắn. Hắn mong được quen một cô trong bọn, nhưng hắn nghĩ chẳng đáng. Hắn thừa biết họ rất xinh đẹp, nhưng hắn cũng biết mình không kham nổi những điều sẽ hỏi và câu chuyện sẽ kể bên giờ phút tâm tình. Hắn không tha thiết muốn làm quen một người nào cả mà hắn chỉ muốn thương thầm nhớ trộm chiêm ngưỡng cả bọn mà thôi. Nhưng hắn lại nghĩ chẳng đáng, chưa phải ở thời điểm này.

Hắn thường ngồi bên mái hiên đọc quyển sách viết về chiến tranh. Đó là sự kiện lịch sử, và hắn đọc về mối liên quan gắn bó mà hắn từng trải qua. Xưa đến nay chưa bao giờ hắn đọc được điều ưng ý như thế, và hắn ước ao phải chi có thêm tấm bản đồ. Hắn mong mỏi với niềm sung sướng được đọc các sự kiện lịch sử quý giá cùng với tấm bản đồ có đầy đủ chi tiết. Bây giờ hắn mới thật sự hiểu tận tường về chiến tranh, và tự biết mình là một người lính đã hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả.

Vào một buổi sáng khoảng tháng sau khi hắn trở về nhà, bà mẹ bước vào phòng hắn. Bà ngồi lên giường, vuốt chiếc áo.
- Mẹ vừa nói chuyện với cha con đêm qua. Cha có ý muốn cho con dùng xe vào buổi tối.
Hắn dật dờ chưa tỉnh hẳn.
- Cho con lái xe?
- Ừ.
- Mẹ xin cha phải không?
- Không. Do ý của cha con mà thôi.
- Con dám chắc mẹ đã xin với cha.
- Con xuống ăn sáng nhé.
- Chờ con sửa soạn chứ.

Bà mẹ rời phòng. Trong lúc tắm gội, cạo râu, thay quần áo, hắn nghe tiếng mẹ chiên xào dưới nhà. Lúc hắn đang ăn sáng đứa em gái mang thư vào.
- Anh dậy sớm làm gì? Không nướng nữa hở?
Hắn nhìn em. Hắn rất thương con bé này vì nó là đứa em gái ngoan nhất. Hắn hỏi em.
- Lấy báo cho anh chưa?
Con bé đưa cho anh tờ Kansas City Star. Hắn dở lớp giấy dầu bọc bên ngoài, và mở ngay trang thể thao. Hắn xếp gọn tờ báo, dựng tựa vào chiếc bình nước và tô cốm, để vừa ăn vừa đọc. Bà mẹ đứng ngay cửa bếp.
- Nè con, đừng làm dơ đó. để dơ, cha con không đọc đâu.
- Không đâu mẹ.

Đứa em gái ngồi xuống bàn, nhìn hắn đọc báo.
- Anh, chiều nay tụi em chơi banh baseball trong trường. Em sẽ ném banh nè.
- Giỏi
- Em chơi độc hơn mấy thằng con trai nữa đó. Em bảo tụi nó anh dạy em. Mấy con nhỏ kia sức mấy mà giỏi bằng em.
- Ừ.
- Em bảo tụi nó anh là bồ của em. Được không?
- Hừ!
- Bộ làm anh thì không làm bồ được sao?
- Đâu biết.
- Anh biết mà. Chừng em lớn, thì anh làm bồ của em.
- Ừ, thì bây giờ nè.
- Thật hở?
- Thật chứ.
- Thương em không?
- Thương chứ.
- Thương em hoài không?
- Thương mà, đừng hỏi nữa nghe.
- Chiều nay đến xem em chơi không?
- Có thể.
- Hừ! Anh hổng thương em. Nếu thương em thì anh phải đến xem em hạ tụi nó.

Bà mẹ từ nhà bếp bước vào phòng ăn. Bà cầm chiếc đĩa trên có hai quả trứng chiên, vài lát ba rọi nóng ròn, và một đĩa bánh kiều mạch. Bà mẹ bảo con gái:
- Con chạy đi chơi, để mẹ nói chuyện với anh.
Bà đặt đĩa trứng và thịt xuống mặt bàn, đẩy chai đường mật ăn với bánh về phía trước, đoạn ngồi xuống đối diện với hắn.
- Con, bỏ báo xuống. Mẹ muốn nói chuyện với con.

Hắn đặt tờ báo xuống xếp lại gọn gàng. Bà mẹ gỡ đôi kính ra.
- Con có kế hoạch gì chưa?
- Chưa!
- Sao chưa? con phải tính chứ?
Không phải bà mẹ gắt gỏng, nhưng bà lo âu. Hắn trả lời mẹ:
- Con chưa nghĩ qua.
- Con à, Chúa luôn xếp đặt cho mọi người có công việc để làm. Trong nước Chúa, chẳng có bàn tay nào nhàn rỗi vô tích sự cả.
- Con đâu phải ở trong nước Chúa!
- Con à, tất cả chúng ta đều ở trong nước Chúa.

Hắn xấu hổ và bất mãn. Bà mẹ tiếp tục kể lể.
- Mẹ rất lo cho con. Bên ngoài nhiều cám dỗ, và mẹ biết con là người yếu đuối. Ông con, cha con đã kể về cuộc nội chiến làm mẹ sợ hãi, và mẹ luôn cầu nguyện cho con. Mẹ cầu nguyện cho con cả ngày đêm, con ạ.

Hắn cúi nhìn lát thịt nguội lạnh trên đĩa. Bà mẹ thao thao không ngừng.
- Cha cũng lo cho con. Cha nghĩ, con mất đi hoài bão, niềm tin và chưa xác định được hướng đi cho mình. Con biết Charley Simmons chứ? Chỉ bằng tuổi con mà nó có công ăn việc làm đàng hoàng và còn sắp cưới vợ. Mấy đứa con trai xóm này đã yên nơi yên chỗ. Tụi nó có mục tiêu vạch cho mình hẳn hòi. Rồi con xem, những thằng như Charley Simmons sẽ làm được những điều ích nước lợi dân.
Hắn ngậm câm chẳng biết trả lời sao với mẹ.
- Con đừng có cái nhìn như thế. Con rõ hơn ai hết, mẹ thương con và mẹ muốn nói để con được tốt. Cha không muốn xen vào quyền tự do riêng tư của con. Ông ấy còn muốn con lái xe, và ra ngoài tiếp xúc với xã hội. Con muốn hò hẹn gặp gỡ cô nào thì tùy ý con. Cha mẹ đều mừng cho con vì cha mẹ muốn con có đời sống thoải mái, nhưng con phải có công ăn việc làm như mọi người. Con làm bất cứ công việc gì cha mẹ cũng không ngại vì công việc nào cũng đều có giá trị và đáng quý, nhưng con phải bắt tay vào mới được. Sáng nay cha bảo mẹ nói cho con hiểu, sau đó con có thể đi gặp cha.
- Chỉ vậy thôi hở mẹ?
- Ừ, con thương mẹ không?
- Không!
Qua chiếc bàn, bà mẹ nhìn hắn. Đôi mắt long lanh, bà bật khóc. Hắn bảo:
- Con chẳng thương ai cả.

Bậy quá. Hắn không biết nói sao cho mẹ hiểu, hắn không biết làm sao cho mẹ thấy. Nói ra điều ấy thật bậy, hắn chỉ khiến cho mẹ buồn mà thôi. Hắn bước qua bàn, cầm cánh tay mẹ. Bà mẹ tay ôm lấy đầu khóc nức nở. Hắn tần ngần.
- Con không cố tình. Con đang bực bội. Mẹ ơi, thật sự con không cố tình, chẳng phải con không thương mẹ.
Bà mẹ vẫn khóc. Hắn đặt cánh tay mình lên vai mẹ.
- Mẹ không tin con ư ?
Bà mẹ lắc đầu.
- Con xin mẹ. Tin con đi mẹ.
Bà mẹ ngước nhìn hắn, nghẹn ngào.
- Thôi được, mẹ tin con.
Hắn hôn tóc mẹ. Bà mẹ áp má vào hắn.
- Mẹ là mẹ của con. Mẹ đã ẵm bồng con khi con còn bé bỏng.
Hắn bối rối, đầu óc choáng váng mơ hồ.
- Con biết, mẹ. Con đã cố gắng ngoan ngoãn.
Bà mẹ hỏi:
- Con, cầu nguyện với mẹ nhé?
Hai mẹ con quỳ xuống bên cạnh chiếc bàn, đoạn bà mẹ cầu nguyện.
- Con cầu nguyện đi.
- Không được.
- Cố đi con.
- Không được.
- Mẹ cầu nguyện cho con nhé?
- Dạ.

Bà mẹ cầu nguyện cho hắn, xong họ đứng dậy. Hắn hôn mẹ, đoạn bỏ ra ngoài. Hắn đã cố gắng sống bình thường như mọi người, nhưng chưa được. Sự đời nhiều phức tạp còn xa lạ với hắn. Hắn tội cho mẹ mình, bà đã khiến hắn phải nói dối. Nếu hắn bỏ lên thành phố Kansas City tìm được công ăn việc làm hẳn bà rất hài lòng. Trước khi đi, hắn cần giải quyết một chuyện nữa. Hắn sẽ chẳng đến gặp cha mình. Hắn tránh điều này vì hắn không muốn gây thêm điều rắc rối. Mọi việc xem như tạm ổn. Bây giờ hắn muốn đến trường của đứa em gái, xem nó hạ đối thủ.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Wed Dec 06, 2017 6:10 pm




Đêm Nguyệt Thực
Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)
Phan Quang dịch

Nhiều bí ẩn khác trong cái khách sạn lập dị này chẳng đơn giản chút nào với Ana Magdalena Bach. Vừa đánh một que diêm, căn phòng đã vang lên tiếng chuông reo và đèn bật sáng, rồi một giọng đầy quyền uy báo cho biết đây là phòng cấm hút thuốc lá - mà nó lại là căn phòng duy nhất nàng có để thuê được trong đêm hội này. Nàng phải gọi người hướng dẫn cho mới hiểu, có thể dùng luôn tấm thẻ chìa khóa phòng để bật đèn, mở tivi, điều chỉnh máy lạnh, khởi động dàn nhạc.

Người ta bày cho nàng cách sử dụng bàn phím điện tử gắn ở bờ cái bồn tắm hình tròn để chỉnh lý các vòi nước, vòi nào thư giãn, vòi nào gợi tình... Tò mò đến cực độ, nàng cởi vội chiếc áo đẫm mồ hôi nắng nóng nghĩa trang, chụp lên đầu cái túi bịt tóc rồi gieo mình xuống bể nước đang cuộn sóng bọt bồng bềnh. Hưng phấn quá, nàng bấm số điện thoại đường dài gọi về nhà, gào lên sự thật với đức ông chồng: “Anh hãy tưởng tượng lúc này em cần anh tới mức nào”. Giọng nàng phấn khích đến nỗi qua dây nói anh chồng nhận rõ sự bốc lửa thật sự của nàng trong bồn tắm.
- Đồ quỷ cái, rồi tôi sẽ cho cô một trận!

Nàng đã tính chuyện gọi thức gì nhấm nháp ngay trong cái tổ ấm tò vò này để đỡ phải mặc áo quần, song bảng giá phục vụ buộc nàng thân hành xuống quầy cà phê dùng bữa tối giống như một kẻ túi cạn sạch tiền. Chiếc áo lụa đen bó sát người, hơi dài một chút so với thời trang nhưng lại ăn với mái tóc. Áo hở cổ quá, gây cho nàng cảm giác như đang ở trần, nhưng chiếc vòng cổ, đôi hoa tai và chiếc nhẫn ngọc bích giả cũng giúp nàng giữ được tinh thần và làm ánh mắt nàng thêm long lanh.

Lúc nàng xuống dùng bữa, đã tám giờ tối. Nàng ăn vội vàng. Khó chịu vì tiếng gào khóc của trẻ con và âm nhạc chói chang, nàng quyết định trở về phòng xem nốt cuốn tiểu thuyết khởi đọc từ ba tháng trước. Sự yên tĩnh ở sảnh khách sạn làm nàng bình tâm dần. Đi ngang qua quầy rượu, nàng để ý một cặp nhảy chuyên nghiệp đang trình diễn bản Vũ khúc Hoàng đế với kỹ thuật cực kỳ điêu luyện. Bị cuốn hút, nàng dừng lại trước quầy rượu cho đến khi cặp nhảy rời khỏi sàn, nhường cho khách. Một giọng nói trai trẻ và dịu dàng thì thào sau lưng, kéo nàng ra khỏi cơn mơ:
- Chúng ta cùng nhảy chứ?

Hai người đứng sát nhau đến nỗi nàng cảm nhận một thoáng rụt rè ở chàng trai qua mùi nước xức sau cạo râu. Thế là nàng quay lại nhìn và tưởng mình ngột thở: “Xin lỗi, - nàng bối rối - tôi đang không dùng trang phục khiêu vũ”. Chàng trai đáp ngay tức khắc:
- Thì chính bà tự chọn trang phục cho mình, thưa bà.

Câu sáo ngữ gây ấn tượng. Một cách vô thức, nàng đưa tay lên đôi vú còn gọn gàng, vuốt hai cánh tay trần, lướt qua phần dưới eo vẫn săn giòn, để chắc chắn đấy đúng là hình thể của mình. Rồi nàng quay lại, lần này không để nhận ra ai vừa nói mà nhằm săm soi chàng trai có đôi mắt đẹp, nàng chưa bao giờ thấy ai có mắt đẹp đến thế.
- Ông thật lịch sự - nàng duyên dáng bảo. Ngày nay chẳng người đàn ông nào dùng những lời như ông vừa nói.

Chàng tiến sát nàng hơn và lặng im đưa tay lặp lại lời mời. Thế là Ana Magdalena Bach, đơn chiếc và tự do trên cô đảo, bám lấy bàn tay chìa ra với tất cả sức mạnh cuồng nhiệt, như thể nàng vừa từ trên bờ vực thẳm lao xuống đấy.

Họ nhảy ba bài valse theo lối cũ. Qua mấy bước đầu tiên, nhìn tài nghệ khéo léo gần như ma mãnh của chàng trai, nàng cho đây là một vũ công chuyên nghiệp các khách sạn vẫn thuê để nhảy thêm rôm rả, và thế là để mặc cho chàng kéo vào những vòng quay vô độ, trong khi vẫn giữ khoảng cách bằng đôi tay. Chàng nhìn thẳng vào mắt nàng, nói: “Bà nhảy đẹp như tiên”. Nàng biết chàng nói đúng sự thật, nhưng nàng cũng thừa biết cậu chàng bày tỏ lời khen ấy với bất cứ người đàn bà nào cậu có ý định gạ gẫm.

Bài nhảy thứ hai, chàng trai cố ý riết sát thân nàng, nhưng Ana vẫn kiềm được, buộc anh chàng giữ đúng khoảng cách. Thế là chàng chăm chú nhảy khéo tựa thiên thần, chỉ đỡ nhẹ người nàng bằng đầu các ngón tay, như thể nâng niu một bông hoa. Đến bài nhảy thứ ba, nàng có cảm giác như đã quen chàng tự thuở nào.

Nàng không thể hình dung một người đàn ông khiêu vũ lối cũ mà có vóc dáng đẹp đến vậy. Nước da chàng hơi tái, đôi mắt chàng bốc lửa dưới lông mày rậm, mái tóc huyền nhoáng keo dính của chàng rẽ đường ngôi hoàn hảo. Chiếc áo lễ phục may bằng hàng tropical lụa bó sát thân, càng tôn dáng công tử hào hoa. Cử chỉ điệu đà cũng như mọi thứ ở người đàn ông này toát ra sự giả tạo, tuy nhiên đôi mắt lại đắm say như đang khao khát thiết tha.

Sau mấy bài valse, chàng thản nhiên dẫn nàng đến một cái bàn đặt nơi riêng biệt mà chẳng buồn ngỏ lời mời. Thật ra cũng chẳng cần: nàng đã biết điều gì khắc xảy ra, và hài lòng thấy chàng gọi sâm banh. Ánh sáng mờ ảo trong phòng trà thật dễ chịu, mỗi bàn lại có đủ khoảng cách riêng tư.

Ana nhẩm tính anh chàng hẳn chưa quá tuổi ba mươi, bởi anh chẳng hề biết gì về điệu boléro. Nàng hướng dẫn chàng nhảy theo vũ điệu ấy cho đến khi chân chàng bắt đúng nhịp. Tuy nhiên nàng vẫn giữ khoảng cách để chàng không nhận ra máu trong huyết quản nàng đang sôi lên bởi hơi rượu sâm banh. Nhưng chàng ép, thoạt đầu dịu dàng, sau đó với tất cả sức mạnh đôi tay ghì chặt thân nàng. Nàng chợt cảm thấy đùi mình chạm cái vật mà chàng trai cố ý cho nó chạm đúng vùng nhạy cảm nhất; và nàng tự nguyền rủa sao mạch mình đập nhanh đến vậy và hơi thở mình thì mỗi lúc mỗi gấp gáp. Dù vậy, nàng vẫn khước từ được chai sâm banh thứ hai. Chàng liền ngỏ ý mời nàng dạo chơi một vòng trên bãi biển. Nàng cố che giấu sự bối rối dưới một câu hỏi bâng quơ ra vẻ thương hại:
- Ông có biết tôi bao nhiêu tuổi rồi không?
- Tôi không sao tưởng tượng ra tuổi bà.
- Xấp xỉ cái tuổi mà ông đoán định.

Chưa nói hết câu, nàng đã thấy chán ngấy bấy nhiêu điều dối trá, và quyết định đặt thể xác mình trước một lựa chọn tuyệt đỉnh: hoặc lúc này hoặc chẳng bao giờ. “Tôi lấy làm tiếc”, nàng nói và đứng lên. Chàng giãy nảy:
- Có việc gì vậy?
- Tôi phải về. Tôi không quen uống sâm banh.

Anh chàng cố đề nghị một vài chương trình khác vô thưởng vô phạt, có lẽ bởi chưa biết khi một phụ nữ đã quyết định ra về, không quyền uy nào của con người hay của thần linh có thể giữ chân. Cuối cùng, chàng nhượng bộ:
- Vậy cho phép tôi tiễn bà chứ?
- Không dám phiền. Và rất thật lòng, cảm ơn ông về buổi tối chẳng thể nào quên này.

Vừa bước vào thang máy, nàng đã hối tiếc. Nàng tự giận mình ghê gớm, nhưng lại được an ủi bởi cảm thấy mình vừa xử sự đúng mực. Vào phòng, nàng tháo giày, nằm ngửa lên giường và châm điếu thuốc lá. Vừa lúc ấy có tiếng chuông réo. Nàng thầm rủa cái khách sạn này, đã bày đặt ra đủ thứ luật lệ hành hạ khách đến cả những chuyện thầm kín thiêng liêng của người ta. Nhưng không phải luật lệ réo gọi, đấy là chàng.

Trong ánh đèn nửa tối nửa sáng ở hành lang, chàng trai trông giống hệt người nặn bằng sáp bày trong viện bảo tàng. Nàng tay vẫn giữ quả đấm cửa, mắt nhìn thẳng vào anh chàng không chút thương hại, song cuối cùng vẫn để cho chàng vào. Chàng trai bước vào như chính đây là phòng mình.
- Cho tôi uống một thứ gì đi.
- Ông hãy tự phục vụ. Tôi hoàn toàn chẳng hiểu mô tê con tàu vũ trụ này nó vận hành thế nào.

Ngược lại, chàng ta biết tất. Chàng nhanh nhẹn hạ bớt ánh sáng, điều chỉnh nhạc nhỏ hơn, rồi lót hai ly sâm banh lấy ở minibar, cử chỉ thành thạo hệt một nhạc trưởng. Nàng sẵn sàng tham gia cuộc chơi, như thể không phải chính nàng vào cuộc mà đang sắm vai nàng. Hai người vừa nâng ly thì chuông điện thoại réo vang; nàng hoảng hốt nhấc máy. Một viên chức phụ trách an ninh của khách sạn, rất nhã nhặn, báo cho biết khách đến chơi không được phép ở lại trong phòng quá nửa đêm, nếu chưa đăng ký ở lễ tân.
- Không cần giải thích - nàng bối rối trả lời. Tôi xin lỗi.

Nàng đặt máy, mặt đỏ như gấc. Anh chàng như thể đã nghe rõ lời cảnh báo, nói: “Vớ vẩn”, rồi chẳng chút chờ đợi, mời nàng cùng xuống bãi biển ngắm cảnh nguyệt thực toàn phần. Tin này hoàn toàn mới mẻ đối với nàng. Từ tuổi thơ, nàng đã mê say xem nguyệt thực; mà sau cả một tối giằng co giữa nền nếp và cám dỗ, lần này chẳng thể viện ra lý do đáng giá nào để khước từ.
- Đi đâu cho thoát. Số mệnh mà. - chàng nói.

Đã viện dẫn tới siêu nhiên thì còn gì nữa mà ngại ngùng. Vậy là họ lên chiếc xe tải nhỏ của chàng đi xem nguyệt thực, bên bờ một cái vịnh kín đáo, chung quanh có rừng cọ bao phủ, tịnh không dấu vết khách du lịch. Nhìn về phía chân trời, thấy hồi quang xa xăm của thành phố; trên bầu trời trong, lơ lửng nàng nguyệt buồn bã cô đơn. Chàng đỗ xe khuất trong bóng cọ, tháo giày, nới thắt lưng và hạ lưng ghế ngồi cho thoải mái. Lúc này nàng mới để ý chiếc xe tải nhỏ có độc hai ghế ngồi đằng trước; chỉ cần ấn một cái nút có thể biến thành giường nằm. Chỗ trống còn lại trong xe dành cho một cái minibar, một dàn nhạc hi-fi Fausto Papetti đang chơi kèn saxo, và một góc vệ sinh đặt cái chậu rửa di động sau tấm rèm đỏ sẫm. Nàng hiểu ra mọi thứ:
- Chẳng có nguyệt thực đâu. Nguyệt thực chỉ xảy ra hôm trăng tròn, mà hôm nay trăng khuyết.
Chàng vẫn tỉnh bơ:
- Thì chờ nhật thực vậy. Chúng ta còn chán thời gian.

Chẳng phải rào đón thêm. Cả hai cùng biết sẽ làm gì; nàng hiểu đấy chính là cái điều khác duy nhất mà chàng ngỏ ý hiến dâng nàng ngay sau bài valse thứ nhất. Nàng ngạc nhiên trước cung cách khéo léo hệt nhà làm ảo thuật khi chàng từ từ cởi bỏ trang phục của nàng bằng đầu các ngón tay, cởi từng chiếc một, nhấc từng mảnh một, kéo từng khóa rút một, nhẹ nhàng như bóc một củ hành tây. Sau loạt đạn đầu của con bò tót, nàng gần như ngất xỉu vì đau đớn. Nàng cảm thấy vừa đớn đau vừa nhục nhã y như con gà mái đang bị xả thây từng mảnh. Nàng ngạt thở, mồ hôi lạnh vã ra thái dương, nhưng nàng cố sức vận dụng mọi bản năng sơ đẳng để khỏi cảm thấy mình quá kém cỏi, quá không ngang tầm; và thế là hai con người buông mình đắm đuối trong hoan lạc ái ân với sức mạnh những con thú.

Ana Magdalena không quan tâm chàng là ai; nàng chẳng hề thử hỏi cho biết. Chỉ khoảng ba năm sau cái đêm không thể nào quên ấy, nàng mới nhận ra anh chàng qua bức chân dung cảnh sát phác họa con quỷ dâm loạn đang bị truy nã suốt cả vùng Caraibes về tội lừa đảo và làm ma cô, chuyên bám váy các bà nạ dòng cô đơn mà vui vẻ trẻ trung. Và cũng có thể chính y là thủ phạm đã sát hại một vài trong số các bà.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Mon Dec 11, 2017 12:15 am



Cao Hành Kiện, nhà văn Trung Hoa lưu vong và công dân Pháp,
được trao giải Nobel văn chương năm 2000.

Trong công viên
Cao Hành Kiện
(Nobel 2000)



Dịch giả: Nguyễn Hồi Thủ
 
- Đã lâu lắm rồi mình không còn đi dạo công viên. Không lúc nào có thì giờ rỗi mà cũng chẳng còn thấy thú vị gì với chuyện ấy nữa…
- Mọi người ai cũng thế cả, hễ xong công việc là chạy thẳng về nhà, bao giờ cũng vội vã.
- Mình nhớ thuở bé cứ thích đến cái công viên này để nhào lộn trên cỏ.
- Bố mẹ dẫn đến đấy chứ.
- Dĩ nhiên rồi.
- Nhất là khi có đằng ấy ở đó.
- Mình còn nhớ chứ.
- Thuở đó đằng ấy còn có hai cái bím tóc.
- Còn đằng ấy thì mặc một cái quần yếm, trông ra vẻ lắm.
- Còn đằng ấy thì lại quá cao xa, trông rất kiêu.
- Thế à?
- Chứ sao, chả ai dám đến gần.
- Thế mà mình không nhớ đấy, ấy thế mà mình lại rất thích chơi với đằng ấy mới lạ chứ, và ngay cả đá bóng.
- Đùa, đằng ấy mà đá bóng à! Đi giày trắng nõn, lúc nào cũng sợ bẩn giày.
- Đúng đấy, hồi bé lúc nào mình cũng thích đi giày thể thao trắng.
- Trông cứ như là một nàng công chúa.
- Sao lại không, một nàng công chúa đi giày thể thao.
- Sau đó đằng ấy dọn đi nơi khác.
- Ừ nhỉ.
- Lúc đầu, chủ nhật đằng ấy còn hay đến nhà mình chơi, sau đó thưa dần.
- Lúc đó mình lớn rồi.
- Mẹ mình quý đằng ấy lắm.
- Mình biết chứ.
- Trong gia đình không có con gái mà.
- Mọi người đều bảo chúng mình giống nhau, trông như hai chị em.
- Này đằng ấy đừng quên là mình sinh cùng một năm mà tớ còn hơn đằng ấy những hai tháng đấy.
- Nhưng trông tớ lại lớn hơn đằng ấy, lúc nào cũng cao hơn một gang tay, ai cũng bảo tớ là chị.
- Ở tuổi đó con gái bao giờ cũng lớn nhanh hơn con trai. Mà thôi, mình nói chuyện khác được không?
- Nói chuyện gì bây giờ?

Dưới hai hàng cây bên lối đi là một rặng bách cắt gọn ghẽ; trên con dốc phía bên kia hàng bách, một cô gái mặc váy hồng cầm xắc tay đỏ đang ngồi trên một chiếc ghế đá dài.
- Mình cũng ngồi xuống đây một lát đã.
- Được.
- Mặt trời sắp lặn.
- Ừ đẹp nhỉ.
- Tớ không thích cái kiểu đẹp giữa cảnh giả tạo này.
- Đằng ấy chẳng bảo vẫn thích đi công viên mà.
- Đó là lúc mình còn bé. Sau đó mình lên sống ở miền núi, làm nghề đốn củi trong rừng hoang bảy năm liền.
- Gian khổ thế mà cũng chịu được.
- Đúng là đời sống trong rừng không phải dễ.
Người con gái mặc váy đứng lên khỏi ghế, ngóng về cuối lối đi, qua hàng rào cắt thẳng tắp, vài người từ phía này đi lại, trong số ấy có một thanh niên tóc dài xuống mang tai. Phía bên trên vòm cây và đầu tường, các tia nắng sắp tắt ngập trời một màu đỏ rực, ngả sang màu tím rồi vươn lên rẽ quạt theo hình thù khúc khuỷu những đám mây.
- Đã lâu lắm rồi tớ chưa nhìn thấy một buổi hoàng hôn đẹp như thế này, cả bầu trời rực lửa.
- Như một đám cháy.
- Như một đám cháy rừng.
- Nói đi, nói tiếp đi mà.
- Khi có đám cháy rừng, trời cũng y như thế này, lửa lan nhanh một cách mãnh liệt đến độ không ai có thì giờ đốn cây nữa. Cảnh tượng rất kinh hoàng, tất cả củi đốn rồi đều bay tung lên trời, chẳng khác nào những tàn rơm bay loạn trong bếp lửa. Lúc đó những con báo bắt đầu chạy trốn như điên khùng, nhảy cả xuống sông và bơi về phía người…
- Báo không tấn công người à?
- Chúng không còn thiết gì đến việc ấy nữa.
- Các anh không bắn chúng à?
- Bọn này cũng thế, sợ xanh mặt, đứng tất cả trên bờ, giương mắt nhìn như chôn chân tại chỗ.
- Thế không có cách nào chạy à?
- Cả cái khe núi cũng không là chướng ngại gì đối với lửa, những thân cây bên kia sông đều nạm đen, nổi “lốp bốp” rồi bắt đầu cháy trong một tiếng vang “ào…” lớn. Trong vòng mấy cây số chung quanh, khói, lửa tràn ngập tất cả, không khí ngột ngạt khó thở chỉ còn cách chờ cho lửa đổi chiều hoặc cháy đến bờ sông mới yếu đi mà lụi dần.

Cô gái mặc váy lại ngồi xuống ghế đá, đặt cái xắc tay bên cạnh người.
- Này, đằng ấy hãy kể về những năm tháng ấy đi.
- Có gì mà kể.
- Làm sao mà không có gì, tất cả những điều vừa kể chẳng là thú vị?
- Không đâu, những thứ ấy có gì là hay ho. Thôi, nói về chuyện của đằng ấy đi.
- Về mình à?
- Ừ về đằng ấy.
- Tớ có một đứa con gái.
- Nó mấy tuổi?
- Sáu tuổi.
- Nó giống đằng ấy nhiều không?
- Giống, mọi người ai cũng bảo thế.
- Có giống đằng ấy lúc còn bé không, trắng à? Nó cũng đi giày thể thao.
- Không, nó chỉ thích đi giày da thường, bố nó mua cho nó hàng lố.
- Đằng ấy sống có hạnh phúc không? Ông chồng thế nào?
- Anh ấy đối với mình tốt lắm, nhưng bảo là có hạnh phúc không thì mình cũng chẳng biết thế nào mà nói.
- Hiện giờ công việc làm ăn ra sao? Có gì thú vị không?
- Cũng được, nếu so sánh với những người cùng tuổi mình thì cũng khỏe: ngồi văn phòng, trực điện thoại, bàn giao hồ sơ lên ban giám đốc.
- Thư ký à?
- Thủ thư.
- Đó là một công việc đòi hỏi sự tin cẩn, như thế là được tin dùng đấy.
- Khá hơn làm công nhân một tý, còn đằng ấy, không tìm cách mà đổi đời đi chứ.
- Có đấy, cũng cố gắng làm nên giờ có khá hơn.

Trên bầu trời, ánh chiều đã yếu ớt, ngả sang màu đỏ sẫm, chỉ còn phía chân trời xa, dưới một viền mây đen kịt, là còn một vệt ánh sáng vàng nhạt chiếu lờ mờ lên các ngọn cây. Trên con dốc, mấy bụi cây đã trở thành các bóng đen. Người con gái vẫn ngồi đó, đầu cúi xuống trên ghế đá, cô ta làm một động tác như đang nhìn đồng hồ, rồi đứng lên, cầm xắc tay, xong lại đặt xuống ghế, ngong ngóng về phía lối đi bên kia hàng bách; rõ ràng là cô đã nhìn thấy mặt trăng vừa ló dạng từ mấy đám mây, cô quay người lại, bắt đầu đi từng bước chậm rãi, đầu cúi thấp.
- Cô này đang chờ ai đó.
- Không gì mệt bằng chờ đợi, thời buổi này mấy thằng con trai toàn cho con gái ăn thịt thỏ.
- Ở đây trong thành phố, con gái nhiều hơn con trai à?
- Thật ra con trai cũng không ít, nhưng con nhà đàng hoàng thì hiếm lắm.
- Trông cô bé này xinh ra phết.
- Con gái mà đi bước đầu thì đứa nào cũng khổ cả.
- Không biết thằng bồ rồi có đến không?
- Ai biết được, lo làm gì cho mệt đầu.
- May mà chúng mình cũng đã qua cái thời ấy rồi. Đằng ấy đã bao giờ đợi ai thế chưa?
- Chỉ có cái ông nhà mình là lúc nào cũng phải đợi thôi. Còn đằng ấy có hay bắt người ta đợi không?
- Tớ chưa bao giờ lỗi một cuộc hẹn nào cả.
- Đằng ấy hiện đang có cô nào phải không?
- Ừ cũng nhì nhằng.
- Thế sao không lấy nhau đi?
- Có lẽ rồi cũng phải thế.
- Đằng ấy có vẻ không thích cô ta mấy thì phải?
- Tớ chỉ thấy thương hại.
- Thương hại không phải là tình yêu. Nếu đã không yêu người ta thì đừng nói dối người ta làm gì.
- Tớ chỉ tự dối mình thì có.
- Nhưng thành ra cũng dối cả người ta nữa.
- Thôi bỏ chuyện ấy qua một bên đi.
- Ừ thì thôi.

Người con gái đã ngồi xuống. Bỗng nhiên, cô ta đứng bật dậy nhìn ra lối đi đã nhá nhem, chỉ còn lờ mờ một vệt đỏ nhợt nhạt cuối cùng ở phía chân trời. Cô lại ngồi xuống, như thể biết mọi người đang nhìn mình, cô cúi xuống, hình như đang sửa lại váy nơi đầu gối.
- Không biết anh chàng rồi có đến không?
- Chịu.
- Đáng lẽ anh ta không nên làm như thế.
- Có biết bao nhiêu thứ đáng lẽ người ta không nên làm.
- Cô bạn đằng ấy có xinh không?
- Trông chán mớ đời.
- Ai lại nói như vậy. Nếu không yêu người ta thì cũng đừng nói dối. Sao không tìm lấy một người mà mình yêu thích thật sự, một cô nào trẻ, đẹp đấy?
- Một cô gái đẹp mà thích tớ làm gì có trên đời này.
- Tại sao?
- Bố tớ có quyền cao chức trọng gì đâu.
- Đừng nói thế, tớ không muốn nghe ai nói như vậy cả.
- Thế thì đừng nghe nữa, chúng mình phải đi thôi.
- Đằng ấy đến nhà tớ đi.
- Tớ phải tìm một món quà gì cho con gái đằng ấy, để mừng chứ.
- Đừng nói thế.
- Có gì là xấu đâu?
- Chỉ giỏi châm chọc.
- Tớ có ý ấy đâu.
- Tớ chỉ muốn đằng ấy được hạnh phúc.
- Tớ không muốn nghe nói đến hai chữ đó nữa.
- Đằng ấy không hạnh phúc à?
- Tớ không muốn nói về chuyện đó nữa. Trong tất cả những năm tháng ấy, gặp nhau đâu có dễ gì. Nói làm gì những lời ác độc thế.
- Được rồi, chúng ta nói chuyện khác.

Đột nhiên người con gái đứng dậy. Ở cuối lối đi, một bóng đen đang đến gần, đi rất nhanh.
- Cuối cùng anh chàng cũng đã đến.
Đó là một thanh niên, đeo trên vai cái cặp vải. Nhưng người này tiến thẳng, không dừng chân, đi ngang qua chỗ cô gái rồi xa dần. Cô gái ngoảnh mặt đi.
Vẫn không phải người cô ta đang đợi. Trong cuộc đời thường như vậy, thế có lạ không?
- Cô gái khóc.
- Ai?

Cô gái ngồi, úp mặt vào hai bàn tay như muốn trốn. Lùm cây bên dốc mờ tối đến độ không còn rõ hình thù. Chỉ còn nghe thấy tiếng chim sẻ ríu rít.
- Vẫn còn chim à?
- Cứ phải ở trong rừng mới có chim đấy.
- Vẫn còn chim sẻ à?
- Này, đừng có khinh bạc như thế.
- Tớ lúc nào cũng thế thôi. Nếu không giữ được cái khinh bạc đó thì ngày hôm nay tớ đã không còn ở đây.
- Đằng ấy không nên quá hận đời. Đâu phải chỉ có mỗi đằng ấy phải chịu khổ đâu. Tất cả mọi người đều phải rời thành phố. Đằng ấy phải hiểu: một người con gái trẻ mà phải về miền quê, không gia đình, không quen biết còn gặp khó khăn nhiều gấp mấy đám con trai. Nếu tớ đã phải lấy chồng, ấy là vì không còn cách nào khác tốt hơn. Chính bố mẹ anh ấy đã xoay xở cho tớ về lại thành phố..
- Tớ có trách đằng ấy đâu.
- Đằng ấy cũng chẳng có quyền làm điều đó.
- Có ai có quyền được trách ai đâu.

Đèn đường đã sáng, luồng ánh sáng vàng xuyên qua vòm lá cây xanh. Bên trên thành phố, trong ánh sáng lờ mờ của khung trời đêm, ngay cả ánh những vì sao cũng bị che phủ, nhạt mờ. Trong khi đó những cột đèn giữa các bụi cây lại trở thành rực rỡ.
- Có lẽ mình nên đi đi thôi.
- Đúng rồi, mà đáng lẽ mình cũng chẳng nên đến đây làm gì.
- Người ta lại nghĩ mình là những kẻ yêu nhau. Nhỡ chồng đằng ấy biết được, ông ấy lại có thể hiểu lầm, đúng không?
- Anh ấy không thế đâu.
- Nếu thế thì cũng là người khá đấy.
- Đằng ấy có thể đến nhà tụi này chơi.
- Nếu ông ấy mời tớ.
- Nếu mình mời đằng ấy thì có khác gì nào?
- Nhưng đáng tiếc là tớ không biết địa chỉ nhà đằng ấy ở đâu, nên mới phải đến cơ quan tìm. Nếu không tớ đã đi thẳng đến nhà đằng ấy rồi.
- Bỏ cái kiểu lý sự ấy đi.
- Thôi, cãi nhau làm gì.
- Chính đằng ấy chọc tức người ta đấy chứ.
- Được rồi, tớ xin lỗi, tớ có cố ý đâu.
- Bây giờ ta nói chuyện khác đi.
- Ờ.

Cái lùm cây đã hoàn toàn chìm vào màn đêm, cả bóng người con gái cũng không còn rõ ràng nữa. Tuy nhiên ánh sáng đèn làm vòm lá cây dương xanh màu ngọc thạch như có ánh lân tinh. Một cơn gió nhẹ lướt qua làm rung động bề mặt lá óng ánh mịn màng.
- Hình như cô ta vẫn chưa đi về.
- Chưa, cô ta đang đứng tựa vào cây.
- Cách cái ghế khoảng mười thước là một thân cây lớn, đúng là trên đó có lờ mờ một bóng người dựa vào.
- Cô ta đang làm sao thế?
- Đang khóc.
- Đáng gì mà khóc.
- Tại sao?
- Khóc cho một người như thế thì chả bõ. Cô ta có thể tìm được một người con trai khác yêu cô mà được cô yêu. Cô ta nên đi về thì hơn.
- Cô ta vẫn còn hy vọng.
- Thật ra rồi giữa đường đời rộng lớn, thể nào mà cô ấy lại không tìm được con đường của mình.
- Đừng có tưởng cái gì mình cũng biết. Đằng ấy không hiểu một tí gì về đàn bà cả. Nếu muốn xúc phạm đến họ thì cũng dễ thôi. Đó là những sinh vật yếu đuối.
- Nếu họ biết mình yếu, sao không phấn đấu cho mạnh lên.
- Nói thì lúc nào nghe cũng hay lắm.
- Cần gì cứ phải tự làm khổ mình. Đau khổ trong cuộc sống cũng quá đủ rồi. Phải biết sáng suốt chứ.
- Có biết bao nhiêu điều phải thế này, phải thế kia.
- Tớ muốn nói con người đáng lẽ phải làm những điều phải làm.
- Đằng ấy nói toàn những câu vô nghĩa.
- Cứ thế đấy, đáng lẽ tớ chẳng nên đến gặp đằng ấy làm gì.
- Nói thế cũng lại là vô nghĩa.
- Được rồi chúng ta nên đi thôi, tớ mời đằng ấy đi ăn cơm.
- Tớ chẳng thích ăn gì cả. Có lẽ mình có thể nói chuyện gì khác.
- Nói về gì bây giờ?
- Về đằng ấy.
- Nói về thế hệ sau đi, con gái đằng ấy tên gì?
- Thật ra là tớ mong có một đứa con trai.
- Nhưng một đứa con gái thì cũng thế..
- Không, lớn lên con trai không phải chịu khổ nhiều như con gái.
- Trong tương lai, bọn trẻ sẽ đỡ khổ hơn vì chúng ta đã trả nợ cho chúng rồi.
- Cô ta khóc.

Chỉ có tiếng lá xạc xào trong gió; tuy nhiên, trong tiếng lay động của lá, người ta vẫn có thể phân biệt được tiếng thổn thức từ sau cái ghế và thân cây.
- Phải an ủi cô ta.
- Không được đâu.
- Cứ phải thử.
- Đi đi.
- Một phụ nữ mà làm chuyện này thì tốt hơn.
- Cô ta có cần đâu cái loại an ủi đó.
- Tớ không hiểu đằng ấy muốn nói gì.
- Đằng ấy chả hiểu gì cả.
- Thà không hiểu còn hơn.
- Hiểu nhiều quá lại càng nặng nợ.
- Nếu như thế, cần gì an ủi cô ta? Đằng ấy tự an ủi lấy mình còn hơn.
- Nói thế nghĩa là gì?
- Đằng ấy chẳng hiểu gì tình cảm con người cả. Nếu tình cảm chỉ là gánh nặng thì cũng chẳng cần hiểu làm gì.
- Thế thì chúng mình đi đi.
- Mình đi về nhà tớ?
- Chẳng để làm gì.
- Thế thì chúng ta chia tay như thế này à?
- Tớ đã mời đằng ấy đến nhà ăn cơm ngày mai rồi mà. Anh ấy sẽ có mặt.
- Tớ cho là tớ không nên tới làm gì, đằng ấy thấy thế nào?
- Thế nào cũng được.
Trong bóng đêm, tiếng thổn thức bị dồn nén càng trở nên rõ ràng. Nó nổi trôi, quyện vào tiếng lá xạc xào trong gió tối.
- Tớ sẽ gửi thư cho đằng ấy khi tớ lấy vợ.
- Tốt hơn là đừng gửi gì cả.
- Mai kia nếu tớ đi ngang đây, có lẽ tớ sẽ ghé thăm đằng ấy.
- Tốt hơn là đừng bao giờ đến.
- Đúng rồi, đó là một sai lầm.
- Sai lầm gì?
- Đáng lẽ tớ không bao giờ nên quay lại gặp đằng ấy.
- Không, đằng ấy làm điều đó là đúng.
- Đằng ấy và tớ, chúng ta chẳng có tội tình gì. Đó là lỗi lầm của thời đại. Tất cả cũng trở thành quá khứ rồi. Phải cố mà quên đi thôi.
- Riêng tớ, khó mà quên tất cả được.
- Có lẽ với thời gian…
- Thôi bây giờ đằng ấy đi đi.
- Đằng ấy không muốn đưa tớ đến xe buýt à?

Hai người đứng dậy. Tiếng thổn thức bị dồn nén không kìm hãm nổi vang lên từ chiếc ghế đá trống giờ đã khó phân biệt được, ở đằng kia, sau vệt thân cây đen, cái bóng người cũng nhòe nhoẹt trong bóng đêm.
- Có lẽ chúng mình nên khuyên cô ấy đi về nhà đi nhỉ?

Trong vùng ánh sáng đèn đường, những cây dương rung nhẹ tàn lá xanh non óng ả mịn màng.
.
 
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 424
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tue Dec 19, 2017 12:10 am



Lòng Cha

Rabindranath Tagore
(Nobel 1913)
Trí Hải chuyển ngữ


Rabindranath Tagore (hay Rabindranath Thakur)(1861-1941). Nhà thơ, nhà văn, triết gia, nhà giáo dục, nhạc sĩ, hoạ sĩ, đạo diễn, nhà văn xứ Bengal. Giải thưởng Nobel năm 1913.

***

Mini, bé gái năm tuổi của tôi, có lẽ không sống được nếu không nói ba hoa suốt ngày. Tôi nghĩ suốt đời cô bé đã không phí một phút giây nào im lặng. Mẹ nó thường không hài lòng về điều ấy, và thường ngăn cô lại, nhưng tôi thì không. Với Mini, im lặng là chuyện bất thường, và tôi không thể chịu đựng lâu. Bởi thế, câu chuyện giữa tôi và cô bé luôn luôn sinh động. Chẳng hạn một buổi sáng, khi tôi đang viết dở một chương tiểu thuyết thì cô bé lẻn vào, cầm lấy tay tôi mà nói:
- Cha! Lão bộc gọi con chó là con muông. Lão không biết gì cả, phải không cha?
Tôi chưa kịp giảng giải, thì cô bé đã chuyển sang một vấn đề khác.
- Cha nghĩ sao, cha? Bộc nói có con voi trong những đám mây, vòi nó phun nước, và thế là trời mưa. Có phải vậy không cha?
Trong khi tôi đang tìm cách trả lời câu này, bé đã hỏi một câu khác:
- Cha! Mẹ và cha bà con ra sao nhỉ?
Tôi cố lập nghiêm bảo :
- Ra chơi với Bộc đi, Mini. Cha đang bận.

Cửa sổ phòng tôi trông ra đường. Cô bé đã ngồi xuống dưới chân tôi, cạnh bàn viết và đang chơi một mình. Tôi đang suy nghĩ rất lung để viết. Bỗng cô bé Mini vùng chạy lại cửa và reo lên:
- Ông Cabul, ông Cabul!
Và quả thế, ngoài đường dưới kia, một người đàn ông miền Cabul đang tiến bước. Y mặc bộ quần áo trông có vẻ nghèo nàn và dơ dáy, buộc một thắt lưng dài, lưng mang chiếc bị, tay cầm những hộp nho khô. Không biết cô bé nghĩ gì khi thấy người này, nhưng cô bắt đầu gọi ông thật lớn. Ngay lúc ấy lão ta quay lại và nhìn lên cô bé.

Cô bé thấy vậy thất kinh hồn vía, chạy bay đến nấp bên mẹ. Cô tin chắc thế nào trong chiếc bị mà lão đang mang cũng có hai ba đứa trẻ con như cô. Người hàng rong ấy đã vào đến cửa và mỉm cười chào tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là mua một món gì đó, vì Mini đã gọi y vào nhà. Tôi mua ít vật dụng, và chúng tôi khởi sự nói chút đỉnh chuyện chính trị. Khi sắp từ giã, bỗng hắn hỏi:
- Còn cô bé đâu rồi, thưa ông?
Nghĩ rằng nên làm cho Mini hết sợ hão huyền, tôi cho đem cô bé ra. Cô đứng bên ghế tôi, nhìn chòng chọc vào người Cabul cùng chiếc bị. Y biếu cô cả đậu phụng và nho khô, nhưng cô nhất định không để bị dụ dỗ. Cô càng bám riết lấy tôi và càng nghi ngờ lão thêm.

Đấy là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa lão Cabul và cô bé. Tuy nhiên, vài hôm sau, khi đi ra có tí việc, tôi giật mình thấy Mini ngồi trên chiếc ghế nhỏ cạnh cửa ra vào, đang cười nói với lão Cabul ngồi dưới chân. Suốt đời, cô chưa bao giờ được ai ngoài cha cô, đã nghe cô một cách chăm chú như vậy. Cái túi áo của cô đã đầy ắp đậu phụng và nho khô của người khách lạ. "Sao ông cho nó làm gì thế?", tôi nói, vừa rút tiền trả cho lão. Ông thản nhiên nhận tiền cho vào túi.

Một giờ sau trở về, tôi mới thấy tai hại của đồng bạc tôi đưa ra. Người Cabul đã đưa cho Mini, và khi mẹ nó thấy đồng bạc, bèn vồ lấy cô bé:
- Con lấy đồng bạc ở đâu, bé?
- Ông Cabul cho con! Mini hớn hở đáp.
- Ông Cabul cho con! Mẹ nó thét lên - Mini, sao dám lấy bạc hở?
Vừa lúc ấy tôi đi vào cứu cô bé thoát nạn bị đòn. Tôi tiếp tục điều tra về đôi bạn.
Tôi khám phá đấy không phải lần đầu họ gặp nhau. Người Cabul đã đánh tan sự sợ hãi của cô bé bằng cách đút lót thật nhiều đậu phụng và nho khô.

Đến nay hai bên đã thành đôi bạn thiết. Họ có nhiều trò đùa mà họ rất khoái. Mini thường ngồi trước lão Cabul, nhìn xuống vóc dạng khổng lồ ấy với vẻ đường bệ của một bà chủ tí hon, khuôn mặt cười lên rạng rỡ, và cô hỏi:
- Ông Cabul, ông Cabul, ông đựng cái gì trong bị ấy?
Và ông lão sẽ trả lời bằng giọng mũi của người thượng du:
- Một con voi!
Không có gì đáng tức cười lắm, vậy mà họ hoan hỉ làm sao. Và riêng tôi, cuộc chuyện trò giữa một đứa trẻ với người lớn luôn có vẻ gì đó rất quyến rũ.

Rồi người Cabul, để khỏi thua bạn, bắt đầu hỏi lại cô bé:
- Còn cô, này cô bé, bao giờ thì cô về nhà ông nhạc?
Hầu hết các cô bé Ấn Độ đều sớm nghe danh từ ấy, nhưng chúng tôi thì không bao giờ nói những chuyện như thế với con gái, cho nên trước câu hỏi ấy, cô hơi bối rối. Nhưng cô không muốn để lộ sự lúng túng của mình, và đã hỏi lại:
- Còn ông có về đấy không?
Đối với giai cấp người Cabul này, thì từ ngữ về nhà ông nhạc lại có nghĩa là nhà tù, nơi họ được ăn ở miễn phí. Người ấy bèn trả lời:
- Ô, tôi sẽ đánh vỡ mặt ông nhạc ra!
Vừa nói lão vừa nắm tay hăm doạ một viên cảnh sát vô hình. Mini nhíu mày, rồi cười lên như nắc nẻ. Lão cũng cười theo phụ hoạ.

Đấy là vào những buổi sáng đầu thu, mùa các vua chúa ngày xưa lên đường viễn chinh dẹp giặc. Còn tôi không rời khỏi góc nhà quê hương, nhưng vẫn để tâm hồn phiêu du khắp chân trời góc bể. Mỗi khi nghe địa danh một nời nào, hồn tôi đã vươn tới chỗ ấy, và bóng một người xứ khác đến trên đường cũng khiến tôi dệt nên những giấc mơ xa xăm về quê hương của anh ta ở cuối chân trời, nghĩ đến những cuộc đời giang hồ lãng tử. Những xứ lạ hiện lên trong trí tôi càng sống động, có lẽ vì cuộc sống hiện tại của tôi quá giống với cỏ cây. Tiếng gọi viễn du réo rắc trong tôi, tựa hồ tiếng sóng triều gào thét. Bởi thế, trông thấy người Cabul này, trí tôi liên tưởng ngay đến những vùng núi non cằn cỗi trên cao, chen chúc với mây trời. Tôi mường tượng những đoàn lạc đà chở hàng đi trên sa mạc, những thương gia lưng đeo vũ khí hộ thân đang tiến về hướng bình nguyên. Tôi thấy và thấy trong trí tưởng…

Nhưng giữa lúc ấy, luôn luôn mẹ Mini sẽ xen vào, tha thiết dặn tôi phải "coi chừng lão ấy". Bà rất dè dặt mỗi khi nghe tiếng huyên náo ngoài đường, hay thấy người vào nhà, và luôn đi đến kết luận, một là kẻ cướp, hai là kẻ say, hoặc rắn hổ mang, bệnh sốt rét, phong cùi. Sau bao nhiêu năm kinh nghiệm giữa trường đời, bà vẫn chưa thắng lướt được nỗi sợ hãi triền miên trong lòng bà. Bởi thế, bà luôn luôn nghi ngờ về người Cabul, và thường van nài tôi phải coi chừng lão ấy. Nếu tôi cố xua đuổi nỗi sợ hãi vô căn cứ của bà bằng cách cười lớn, thì bà nghiêm mặt hỏi với dáng điệu rất trịnh trọng:
- Thế trẻ con không bao giờ bị bắt cóc ấy à ? Thế không phải ở Cabul còn có bán nô lệ ư? Một người đàn ông to lớn bắt một đứa trẻ xíu không được hay sao?
Tôi nói, không phải là không được, nhưng không lẽ nào có chuyện như thế. Tuy thế bà vẫn lo sợ. Nhưng vì nỗi sợ hãi ấy thật bâng quơ, nên không lý gì để cấm đoán lão vào nhà. Sự thân thiện giữa đôi bạn - một khổng lồ, một chim chích - vì thế vẫn tiếp tục không bị ngăn cản.

Hàng năm vào giữa tháng giêng, Rahman - tên người Cabul ấy, thường về xứ một lần, và khi sắp về, y thường rất bận rộn đi các nhà để thâu tiền nợ. Năm nay, tuy vậy ông vẫn còn thì giờ đến thăm Mini. Một người khác rất có thể nghi ngờ lão có mưu toan gì đấy, vì khi không tới được buổi sáng, lão cũng tới vào buổi chiều.
Ngay cả tôi, đôi khi cũng thấy chột dạ chút đỉnh lúc bắt gặp bóng người to lớn ấy đứng trong góc phòng của tôi. Nhưng khi Mini hớn hở reo lên "ông Cabul, ông Cabul" và đôi bạn khởi sự những trò đùa thường lệ, thì tôi lại yên tâm ngay.

Một buổi sáng vài ngày trước khi lão về nhà, tôi đang chữa lại bản thảo trong phòng viết. Trời rất lạnh. Qua song cửa, ánh mặt trời chiếu vào sưởi ấm hai chân tôi. Lúc ấy vào khoảng tám giờ, những khách bộ hành đi đường đang trùm khăn lạnh. Bỗng chốc tôi nghe ngoài đường huyên náo. Nhìn ra thì thấy Rahman đang bị còng tay dẫn đi giữa hai người cảnh sát, sau lưng là một lũ trẻ tò mò. Áo quần Rahman dính đầy máu, và một trong hai cảnh sát đang cầm một con dao. Tôi vội bước ra hỏi xem có chuyện gì. Từ mỗi người một ít, tôi được biết rằng một người lối xóm đã nợ Rahman tiền mua một cái khăn quàng, nhưng lại chối, bảo không từng mua nó. Trong lúc cãi vã, Rahman đã đánh người kia. Bấy giờ , trong cơn tức giận, phạm nhân chửi rủa đối phương đủ điều. Và điều tệ nhất đã xảy ra. Nhưng bỗng chốc từ hiên nhà tôi, Mini đã xuất hiện với tiếng reo thường lệ "Ông Cabul, ông Cabul". Gương mặt người Cabul rạng rỡ lên khi nhìn thấy cô bé. Hôm nay lão không mang chiếc bị, nên cô bé không thể nói về con voi với lão. Bởi thế cô hỏi sang câu thứ hai:
- Ông về nhà ông nhạc ấy à?
Rahman cười lớn bảo :
- Chính thế, bé ơi!
Rồi thấy câu trả lời không làm cô bé thích thú, lão đưa hai bàn tay bị còng lên:
- A ! Đáng lẽ tôi đánh cho vỡ mặt ông nhạc, nhưng tay tôi bị còng rồi.

Bị kết tội cố ý giết người, Rahman ở tù nhiều năm. Thời gian trôi nhanh, Rahman đã bị quên lãng. Công việc thường ngày trong chỗ ở thường ngày vẫn tiếp diễn, nên chúng tôi không bao giờ nghĩ đến một người thượng du nghèo khó đang chịu tù tội trong ngục thất. Cả đến cô bé Mini cũng đã quên mất người bạn cũ của nàng. Càng lớn, nàng càng có nhiều mối quan hệ với bạn gái, và không còn vào phòng làm việc của tôi như trước. Bởi thế tôi rất hiếm dịp nói chuyện với con.

Nhiều năm trôi qua, lại một mùa thu trở về. Chúng tôi đang sửa soạn hôn lễ cho cô gái Mini của chúng tôi. Đám cưới sẽ cử hành trong một dịp lễ. Với Mini, về nhà chồng, có nghĩa là ánh sáng của ngôi nhà cũng sẽ đi theo, để lại cha nàng trong bóng tối.

Buổi mai ấy thật tươi sáng. Sau những ngày mưa, không trung như đã được rửa sạch và ánh sáng mặt trời trông như ánh vàng ròng. Những tường gạch cũ kỹ ngoài đường phố cũng sáng lên dưới ánh nắng trong vắt. Từ rạng đông, những hồi còi đã vang lên báo hiệu hôn lễ. Mỗi hồi còi làm cho tim tôi rộn ràng muôn mối, đồng thời cũng làm tăng nỗi đau buồn của tôi trước cảnh chia ly. Mini sẽ về nhà chồng đêm ấy. Trong sân, lọng che rợp đất. Những đèn lồng và lục lạc được treo khắp các phòng và hiên nhà. Khắp nơi người ta vội vàng hối hả. Tôi đang ngồi trong phòng một mình tư lự thì bỗng một người đi vào lễ phép chào, và đứng trước mặt tôi. Đấy là Rahman, người Cabul dạo nọ. Ban đầu, tôi không nhận ra lão, vì lão không mang bị, mảng tóc dài đã được hớt cao, và vẻ cường tráng năm xưa không còn nữa. Nhưng khi lão mỉm cười, tôi lại nhận ra ngay.
- Ông về lúc nào thế, Rahman ?
- Tôi được thả tối qua.

Những lời ấy làm tôi hơi choáng. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với một người nào từng cố ý đã thương đồng loại. Lòng tôi đau nhói khi nhớ ra điều này, vì tôi nghĩ ngày ấy sẽ tốt hơn nếu hắn ta đừng xuất hiện.
- Hôm nay nhà có việc, và tôi đang bận. Có lẽ ông có thể đến vào một dịp khác chăng?
Lão liền quay đi, nhưng khi ra đến cửa, lão ngập ngừng bảo:
- Thưa ông, tôi có thể thăm cô bé một lát?
Lão tin tưởng rằng Mini vẫn còn bé xíu như ngày xưa. Chắc lão mường tượng cô bé sẽ chạy ra hớn hở gọi "ông Cabul, ông Cabul" như dạo nào, và họ sẽ cười đùa với nhau như trước.

Quả vậy, cũng như những ngày xưa, hôm nay lão cũng mang đến ít đậu phụng và nho khô gói kỹ trong bọc giấy. Những thứ ấy không biết làm thế nào lão kiếm được trong lúc mới ở tù về.
Tôi lặp lại:
- Nhà có việc, ông không thể gặp ai hôm nay cả.

Lão sa sầm nét mặt, và nhìn tôi với vẻ thèm muốn số phận của tôi, đoạn nói một lời chúc tụng rồi đi ra. Tôi hơi thương hại, muốn gọi lão trở vào. Nhưng lão đã tự ý quay trở lại, đến cạnh tôi và nói:
- Thưa ông, tôi đã đem lại chút quà này biếu cô bé. Ông có thể trao lại dùm tôi?
Tôi nhận gói quà, định trả tiền, nhưng ông ngăn lại:
- Ông thật quý hoá. Xin ông hãy nhớ đến tôi là đủ. Đừng cho tôi tiền. Ông có một cô con gái. Tôi cũng có một bé gái giống như thế ở quê nhà. Tôi nhớ con tôi, nên mang quà tới cho cô bé, chứ không phải để hòng kiếm chác gì đâu.

Nói xong, lão sờ tay vào túi trong, lấy ra một mảnh giấy dơ dáy, mở ra vuốt thật thẳng bằng cả hai tay trên mặt bàn. Mảnh giấy in hình một bàn tay nhỏ xíu. Không phải một bức ảnh, hay bức hoạ, mà chỉ là dấu mực in một tay bé con trên tờ giấy nhàu nát. Hình bàn tay của con gái lão, lão đã luôn mang theo bên trái tim mình, từ khi lão đến xứ này bán hàng rong năm này qua năm khác.

Mắt tôi ướt đẫm. Tôi quên rằng lão là một người thượng du nghèo khó, còn tôi…. Ồ không, tôi có gì hơn lão? Lão cũng là một người cha.
Bàn tay in của cô bé con lão ở vùng thượng du quê nhà xa xăm của lão, nhắc tôi nhớ đến con tôi. Tôi cho gọi ngay Mini vào. Cô bé đang mặc chiếc áo cưới bằng lụa đỏ, trang sức kiểu cô dâu, rụt rè tiến đến bên tôi. Người Cabul dường như kinh ngạc trước sự xuất hiện này. Lão không thể làm sống lại tình bạn ngày trước. Cuối cùng lão mỉm cười :
- Cô bé, có phải cô sắp về nhà ông nhạc đấy không?

Bây giờ thì Mini đã hiểu nghĩa danh từ "ông nhạc", nên không trả lời, đỏ mặt đứng trước lão, với vẻ e lệ của cô dâu mới. Tôi nhớ cái ngày họ gặp nhau lần đầu, và lòng tôi se lại. Khi con tôi trở vào nhà trong, Rahman thở dài buồn bã, ngồi phịch trên sàn nhà. Có lẽ lão bỗng nhớ rằng con gái lão cũng phải lớn lên nhiều, trong thời gian lão xa quê. Lão sẽ phải làm quen với cô bé trở lại. Chắc chắn lão không còn gặp lại một cô bé như ngày lão từ giã ra đi. Ngoài ra, biết đâu lại không có bao nhiêu chuyện xảy đến cho nàng sau mười mấy năm xa cách.

Tiếng còi lại vang lên, ánh mặt trời dịu của mùa thu lan khắp không trung, Rahman ngồi trên mảnh đất này mà tưởng như thấy trước mặt một miền núi khô cằn của quê hương. Tôi lấy ra một xấp bạc, và bảo:
- Rahman, hãy về quê với con gái ông đi. Cầu nguyện cho cuộc hạnh ngộ của cha con ông sẽ đem lại cho con gái tôi nhiều may mắn!

Sau khi biếu lão món tiền, tôi đã giảm bớt nhiều lễ lạc, như không thể bắt điện, cũng không thể mướn ban nhạc giúp vui, và điều này làm nhiều bà thất vọng. Nhưng với tôi, buổi hôn lễ thật rực rỡ hơn lên, khi nghĩ rằng ở miền đất xa xăm kia, có một người cha biệt tích tha phương đang được trở về gặp lại đứa con gái dấu yêu.
.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Thu Dec 28, 2017 3:32 pm



Mùa xuân tang tóc
Pearl Buck
(Nobel 1938)


Vào một buổi chiều cuối tháng hai nóng bức, anh nông phu Xiêu ngồi trước thềm nhà, chỉ một gian duy nhất, cảm thấy mùa xuân sắp đến trong thân hình gầy gò của mình.

Làm sao anh có thể nhận ra mùa xuân, một mùa đánh thức sự sống trên mặt đất và khích động nhựa sống trong cây? Anh không thể nói được. Những năm khác chuyện đó rất dễ. Anh chỉ cần ngắm các chồi trên cành liễu chung quanh nhà. Nhưng bây giờ thì các gốc liễu ấy không còn nữa. Trong mùa hè ghê gớm này, khi người ta chết hàng loạt vì đói, anh đã phải đốn từng gốc liễu đem bán.

Ngày trước, ba cây đào và sáu cây mơ cha anh trồng quanh nhà cũng đánh dấu mùa xuân với những nụ hồng. Nhưng khi các cây đào đang độ phát triển và trổ trái nặng trĩu anh cũng phải hy sinh chúng nốt.

Những năm trước, anh thích nhìn ra những cánh đồng mà anh canh tác không ngừng, mùa đông anh ươm giống, mùa xuân anh cấy mạ. Nhưng bây giờ các cánh đồng đó trở nên câm nín.

Lúa không nẩy mầm vì sau mùa gieo mạ đã lâu, nạn lụt vẫn chưa chịu rút. Bây giờ thì mặt ruộng như đất sét nứt nẻ, mới vừa khô.

Vào một ngày tương tợ như hôm nay, nếu còn con trâu và cái cày, Xiêu sẽ đi cày. Dù cho không còn một hạt giống để gieo, anh cũng ham muốn cày trở để cho đất có bộ mặt của một cánh đồng.

Nhưng con trâu của anh không còn nữa. Anh sẽ cho là ngu ngốc kẻ nào tiên đoán anh sẽ phải ăn thịt con trâu đó, con vật mà năm này qua năm khác cày bừa thửa ruộng của anh, đạp lúa cho anh vào những ngày mùa. Vậy mà anh đã phải đi đến mức đó.

Anh, vợ anh, cha mẹ anh và bốn đứa con của anh, tất cả đều đã ăn thịt con trâu.

Còn cách nào khác để trải qua những ngày mùa đông thê thảm đó, khi mà lúa gạo trong nhà đã cạn và anh đã phải đốn cây chung quanh nhà bán cũng như những món còn sót lại trong nạn lụt. Họ chỉ có sườn nhà và các quần áo đang mặc.

Với lại con vật cũng đói như mọi người. Nước ngập các đồng cỏ và người ta phải đi thật xa mới tìm được chút ít cỏ khô để nướng thịt và xương con trâu. Ngày ấy Xiêu thấy gương mặt cha mẹ già yếu của anh tái ngắt như những kẻ sẳp chết. Anh cũng đã chứng kiến cảnh con gái bé nhỏ của anh hấp hối, nghe tiếng khóc của các con anh. Trong tình trạng quá tuyệt vọng anh đã mất trí, anh cố thu góp sức tàn, xách con dao bếp đâm chết con trâu của anh, một điều mà trước kia anh thề không bao giờ làm.

Dù đau khổ ghê gớm, anh vẫn rên siết vì anh có cảm tưởng như giết em ruột của mình. Anh vừa thực hiện một sự hy sinh cuối cùng.

Vậy mà vẫn chưa đã, gia đình anh vẫn đói và không còn gì để hy sinh.

Rất nhiều người tản cư bồng bế nhau đi xuống miền Nam hoặc theo con sông đi ăn mày ở các thành phố.

Nhưng Xiêu không hề đi ăn xin. Nếu phải chết hết tất cả thì dù sao nằm xuống trên mảnh đất của mình cũng là một điều an ủi. Người bạn năn nỉ anh tản cư với họ. Y cũng đã đề nghị rằng cha của Xiêu đi trong khi Xiêu có thể lo cho mẹ anh. Nhưng may thay, Xiêu đã từ khước vì hai ngày sau, mẹ anh mất. Nếu bà nhắm mắt trong lúc tản cư thì phải bỏ xác dọc đường nếu không muốn làm trễ nải mọi người và gây thêm những vụ chết chóc khác.

Nhờ vậy, Xiêu có thể chôn cất mẹ trên đất của mình. Nhưng anh đã quá kiệt lực nên phải mất ba ngày mới đào được một lỗ có thể chôn tấm thân nhỏ bé và sình thúi.

Vợ anh và anh đã gây lộn về những bộ quần áo rách nát dùng trong việc tẩm liệm bà cụ. Nếu anh không cản thì vợ anh đã chôn bà cụ trần truồng để lấy quần áo người quá cố cho con mặc. Xiêu bắt người vợ phải trả lại chiếc áo cánh và mấy chiếc quần rách nát cho mẹ khi thấy đất lạnh phủ lên xác mẹ. Còn niềm đau xót nào lớn hơn đối với một người đàn ông! Nhưng không thể tránh được.

Sau đó, Xiêu cố chôn cất ba người thân khác một cách chu đáo hơn. Ba người đó là cha anh, đứa con gái bé nhứt và thằng con trai bịnh hoạn.

Nạn đói mùa đông năm ấy đã gây bao nhiêu tai biến cho gia đình anh dân cầy. Nếu trong các ao do nước lụt tạo ra không có chút ít tép thì có lẽ cả gia đình anh sẽ chết hết. Những con tép đó, người ta ăn sống mặc dầu lúc bấy giờ có nạn kiết lỵ bất trị. Có những ngày vợ của anh lết ra ngoài, bứt mấy đọt cỏ đem về ăn sống vì không có cỏ khô để nấu. Nhưng vị đắng của mấy đọt cỏ đó rất hữu ích vì nó đánh tan được mùi tanh của tép...

Bây giờ mùa xuân đã đến. Xiêu tiếp tục ngồi một cách nặng nhọc, đôi mắt nhìn qua các cánh đồng. Nếu có thể tìm lại được con trâu và cái cày mà họ đã chụp trong thời gian lụt lội tràn lan, anh sẽ ra đồng cày bừa. Ý nghĩ đó luôn luôn lảng vảng trong đầu óc anh. Anh dân cày thấy mình bất lực như chiếc lá bị cuốn theo dòng. Con trâu đã mất cũng như tất cả công cụ bằng gỗ hay bằng tre. Bây giờ anh còn lại những gì?

Có khi, trong mùa đông ghê gớm đó, anh cảm thấy may mắn vì cơn lụt đã để cho anh ngôi nhà trong khi bao nhiêu nhà khác bị cuốn trôi. Nhưng anh vụt hiểu là anh chẳng may mắn gì cả khi qua nạn lụt, anh vẫn còn sống, cũng như vợ anh và hai đứa con lớn của anh. Anh cảm thấy đôi mắt cay cay. Anh đã không khóc nhiều lần khi lắp đất lên thi thể mẹ mà các mảnh áo rách không đủ che thân. Anh thấy được an ủi phần nào khi để cho bà cụ mang theo những mảnh dẻ đó qua cõi hư vô. Còn bây giờ thì anh không tìm thấy một sự an ủi nào. Anh lẩm bẩm:
- Mình không còn một hạt giống nào để gieo. Đây là đất. Nếu còn hạt giống mình sẽ cào đất với móng tay của mình. Đất sẽ lên mầm. Mình biết đất của mình tốt lắm. Nhưng mà mình không có gì để cho nó. Đất bỏ không. Mùa xuân đã về, nhưng chúng ta rồi cũng sẽ chết đói và tuyệt vọng, anh ngắm mùa xuân tang tóc.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Mon Jan 15, 2018 2:20 pm



Sáu tấc đất
NADINE GORDIMER (Nam Phi)
Giải Nobel 1991


Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Nam Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Nam Phi cấm đoán. N. Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

Truyện ngắn Sáu tấc đất (Six feet of the country) dưới đây viết về đề tài những người nhập cư nghèo khổ, bất hạnh. Cái chết của một trong những người khốn khổ này là trung tâm câu chuyện. Nó cho thấy cách ứng xử của một xã hội quan liêu, phi lý không tình người và nỗi thống khổ lẫn sự nhẫn nhục vô bờ của những người thân, người chết sống dưới đáy xã hội; lồng vào đó là xung đột ngấm ngầm và ẩn giấu giữa 2 chủng tộc: trắng/đen, 2 giai tầng: giàu/nghèo. Được kể dưới ngôi thứ nhất - Tôi với điểm nhìn trần thuật khách quan, dửng dưng gắn với quan điểm của người da trắng, giàu nhưng có lương tri. Cách mở chuyện hơi dài, nhưng thắt nút và mở nút khéo, giọng kể vừa uể oải vừa mềm mại pha lẫn châm biếm.





Tôi và vợ tôi là Lerice thật sự không phải là nông dân. Để thay đổi cuộc sống, chúng tôi mua một trang trại nằm trên một con đường lớn, cách Johannesburg mười dặm. Tất nhiên trang trại không giải quyết được chuyện gì cho chúng tôi nhưng nó đã gây ra nhiều việc không trông đợi. Lerice sẽ nghỉ ngơi tại trang trại một hoặc hai tháng, sau đó sẽ giao lại cho những người giúp việc để lần nữa đi tìm một vai diễn thích hợp và trở thành một nữ diễn viên kịch như nàng mong muốn. Nàng lao vào điều hành trang trại với tất cả mê say như những mê say đã từng làm gợi lên cảm hứng cho các nhà soạn kịch. Tôi chắc đã bỏ trang trại từ lâu nếu không có nàng. Tay nàng trước đây nhỏ nhắn, mảnh mai và khéo léo, không trang sức cầu kỳ, giờ cứng như gan bàn chân chó.

Tất nhiên tôi chỉ có mặt ở trang trại vào buổi chiều và vào những ngày nghỉ cuối tuần. Tôi là thành viên của một hãng lữ hành đang làm ăn phát đạt và như tôi nói với Lerice, thì hãng cần phải như thế để có thể giúp tài trợ cho trang trại. Chuyện là thế dù tôi không đảm đương nổi công việc của trang trại, dù cái mùi ngai ngái của đàn gà mà Lerice nuôi làm cho tôi ghê sợ, phải tránh xa bãi nuôi, thì trang trại vẫn đẹp tuyệt vời, đặc biệt là vào những sáng chủ nhật, khi tôi thức dậy và đi ra bãi giữ ngựa. Tôi không chỉ ngắm nhìn những hàng cây chà là, hồ cá, chim sẻ đá đang tắm mình trong những buổi sớm ngoại ô mà còn ngắm nhìn những chú vịt trong đầm nước, những chú bò nhỏ người, chắc khỏe, mắt lơ mơ đầy thèm khát nhưng mệt mỏi đang dịu dàng liếm những chị bò cái. Lerice bước ra, tóc chưa chải, tay cầm cái vòi tắm gia súc. Nàng sẽ đứng và nhìn lơ mơ một lát, như thường thấy khi nàng đóng kịch. “Ngày mai chúng sẽ kết bạn”, nàng nói. “Đã là ngày thứ hai rồi. Anh hãy nhìn xem, anh chàng này yêu nàng ấy nhiều làm sao”...

Khi khách khứa đến thăm chúng tôi vào chiều chủ nhật, có thể tôi sẽ nói với khách mà như nói với chính tôi, khi tôi rót nước mời khách. “Hàng ngày lúc lái xe trở về nhà, băng qua những dãy nhà thị thành, anh tự hỏi làm sao chúng ta có thể chịu nổi... Tụi em có muốn đi loanh quanh không?”. Tôi đưa cô gái đẹp và anh chồng trẻ của cô ấy xuống bên bờ sông, bít tất dài của cô gái bị vướng vào bẹ bắp, chân bước qua những đống phân bò đầy ruồi nhặng. Cô gái vừa đi vừa nói “Thành phố quỉ quái căng thẳng. Anh bất mãn để đi tìm cơ hội chứ gì! Tuyệt vời thôi. Anh “bắt cá hai tay” khá thật”.
Và trong khoảnh khắc, tôi hoan hỉ như thể đã đạt được mục đích - những mục đích mà suốt đời có cố tôi cũng không thể - như thế sự thật là nếu bạn định “bắt cá hai tay” thì rất có thể không phải là một hay hai mà thay vào đó bạn phải đối mặt với tình huống thứ ba, một tình huống mà bạn chẳng bao giờ được chỉ vẽ...

Nhưng trong những khoảnh khắc hào hứng, khi tôi thấy Lerice xăng xái như đang bị chọc giận, tôi thấy nàng như là diễn viên, và khi nàng thấy cái mà nàng gọi là sự “ganh tị” của tôi đối với khả năng gây nên sự xăng xái của nàng là bằng chứng cho biết tôi không xứng là người bạn đời của nàng, lúc ấy chúng tôi mới tin là chúng tôi đã thật sự thoát khỏi sự căng thẳng của thành phố mà khách của chúng tôi nói. Khi người Johannesburg nói đến sự căng thẳng, họ không có ý nói đến đám đông người vội vã trên đường phố, đến sự vật lộn vì tiền hay sự cạnh tranh của thành phố nói chung. Họ muốn nói đến súng dưới cái gối của người da trắng. Họ muốn nói đến những khoảnh khắc lạ kỳ trên hè phố, khi người da đen không bước bên cạnh người da trắng.

Xa ở miền quê, cách thành phố mười dặm, cuộc sống dễ chịu. Ở miền quê do vẫn còn rơi rớt lại những dấu vết của thời sơ khai nên quan hệ của chúng tôi với người da đen còn rất phong kiến. Tôi cho rằng như thế là không đúng và lỗi thời; ở trang trại của tôi, cuộc sống dễ chịu hơn. Cửa sổ nhà chúng tôi không có chấn song chống trộm, chúng tôi không mua súng. Các cậu trai người ở của Lerice cùng với vợ con của họ sống trên đất của chúng tôi. Họ có thể ủ rượu mà không sợ bị cảnh sát bố ráp. Sự thật là chúng tôi luôn có phần tự hào bởi những người nghèo đó không có gì phải sợ khi sống cùng chúng tôi. Lerice còn trông nom con cái của họ bằng tấm lòng của một phụ nữ không sinh được một đứa con nào, và nàng còn chữa bệnh cho họ, cả người lớn và trẻ con, xem họ như những đứa bé những khi họ bị bệnh.

Do đó mà chúng tôi không thật ngạc nhiên khi vào một buổi tối mùa đông vừa rồi, cậu Albert đến gõ cửa lúc chúng tôi đã đi ngủ. Tối ấy tôi không ngủ cùng giường với Lerice mà ngủ ở phòng khách, vì Lerice làm tôi bực dọc, không thích nựng nịu nàng, đơn giản chỉ vì cái mùi bột talcum ngòn ngọt mà nàng xức sau khi tắm đã làm tôi khó chịu. Nàng đến phòng khách và gọi tôi dậy. “Albert nói có một cậu nào đó bị bệnh rất nặng”, nàng nói. “Anh đến đó xem sao. Không phải ngẫu nhiên mà cậu ấy đánh thức chúng ta dậy vào giờ này”.
“Mấy giờ rồi?”
“Mấy giờ cũng được chứ sao”, Lerice phát cáu lập luận.
Nàng đến lay tôi và tôi lơ mơ thức dậy. Thật ngốc nghếch khi không ngủ chung giường với nàng. Sau đó tôi biết việc nàng chẳng thèm nhìn tôi khi chúng tôi nói chuyện vào bữa ăn sáng hôm sau là do nàng đã bị tổn thương, bị tôi xúc phạm vì tôi đã không ngủ cùng giường. Và tôi đi ra khỏi nhà.
“Cậu nào bị bệnh?”, tôi hỏi Albert khi chúng tôi bước theo ánh đèn pin lẹt xẹt.
“Thưa ông chủ, anh ấy bị bệnh rất nặng”, cậu ta đáp.
“Nhưng là ai? Có phải Franz không?”. Tôi nhớ là tuần vừa rồi Franz bị ho nặng.
Albert không trả lời; cậu ta dẫn đường cho tôi và bước đi bên cạnh tôi trong đám cỏ khô cao ngồng. Lúc ánh sáng đèn pin quất vào mặt cậu ta, tôi thấy cậu ta rất bối rối. “Thế ai bệnh làm sao?”, tôi hỏi.
Cậu ta cúi thấp đầu để tránh bị ánh đèn pin quất vào. “Tôi không biết, thưa ông chủ, Petrus bảo tôi đi”.

Bực dọc, tôi thúc cậu ta đi nhanh về phía các túp lều. Và ở đó trên chiếc giường khung sắt với các chân làm bằng gạch, có một thanh niên đã chết. Trên trán anh ta vẫn còn những giọt mồ hôi nhỏ lạnh ngắt, thi thể anh ta vẫn còn ấm. Các cậu người ở im lặng và rã rời đứng xung quanh giường, như khi họ đứng xung quanh trong nhà bếp lúc có ai đó phát hiện là đã làm vỡ một cái đĩa. Có một chị vợ của một cậu nào đó lẩn quẩn trong bóng tối, hai tay vặn vẹo vào nhau dưới tạp dề.
Từ hồi chiến tranh tới giờ tôi mới thấy người chết. Nhưng cái chết này rất khác. Tôi cũng thấy bất lực, ngơ ngẩn như những người đứng xung quanh. “Sao như vậy?”, tôi hỏi.
Người phụ nữ vỗ nhẹ vào ngực và lắc đầu chỉ về phía người chết. Chắc là anh ta bị chết vì bệnh viêm phổi.
Tôi quay sang Petrus. “Cậu ta là ai vậy? Cậu ta làm gì ở đây?. Ánh sáng của ngọn nến trên nền túp lều cho thấy Petrus đang khóc. Cậu ta theo tôi bước ra ngoài.
Khi chúng tôi đã ở trong bóng tối bên ngoài túp lều, tôi đợi cậu ta nói. Nhưng cậu ta không nói. “Nào Petrus, cần phải nói cho tôi biết cậu ấy là ai. Cậu ấy có phải là bạn của cậu không?”
“Thưa ông chủ, nó là em của tôi. Nó từ xa đến đây để tìm việc”.

Câu chuyện làm cho tôi và Lerice có chút giật mình. Người thanh niên ấy từ xa đến Johannesburg để tìm việc, bị cảm lạnh do dọc đường phải ngủ ngoài trời, và đã bị ngã bệnh khi đến được chỗ người anh trai là Petrus ba ngày trước đây. Các cậu người ở của chúng tôi sợ không dám nhờ chúng tôi giúp đỡ vì chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ đến sự hiện diện của anh ta ở trang trại. Người vùng bị chận lại, không cho vào Nam Phi, trừ phi họ có giấy phép; người thanh niên kia là dân nhập cư bất hợp pháp đến tìm việc. Có rất nhiều người bà con của họ phải cuốc bộ bảy tám trăm dặm từ những nơi nghèo đói để đến với thiên đường của sự rách rưới, của các cuộc bố ráp, của các khu ổ chuột là Egoli - Thành phố Vàng, như tiếng Bantu dùng để chỉ Johannesburg. Đồng ý cho một người như thế nằm ở trang trại chúng tôi cho đến khi được một người nào đó thuê mướn là cả một vấn đề. Người thuê mướn phải là người sẵn lòng nếu như bị truy tố, do đã thuê mướn một người nhập cư bất hợp pháp thay vì nên thuê mướn những người hợp pháp, được các nhà chức trách thành phố xác nhận.

Vâng, đây là một người chẳng bao giờ còn có thể thức dậy được nữa.
“Anh nên nhắc họ là họ có thể báo cho chúng ta biết”, sáng hôm sau Lerice nói “Khi có người bệnh, ít nhất anh phải...”. Khi nàng bị căng thẳng vì một chuyện gì đó, nàng hay đứng giữa phòng, như một người sắp đi xa, vân vê những vật dụng thân quen nhất, như thể nàng chưa bao giờ thấy chúng. Tôi nhận thấy sự có mặt của Petrus ở nhà bếp vào sáng hôm sau đã làm cho nàng có cái dáng vẻ gần như là xúc phạm cậu ta.
Bất luận thế nào tôi thật sự cũng không có thời gian và không thích nhúng tay vào mọi chuyện dù nhìn vào ánh mắt đầy sự cảnh báo và giận dỗi của Lerice. Tôi biết là nàng muốn chúng tôi nhúng tay vào. Nàng là kiểu phụ nữ không quan tâm đến dáng vẻ của mình, dù dáng vẻ đó là thoải mái hay kỳ quặc; tôi không nghĩ là nàng sẽ quan tâm đến ngay cho dù nàng biết được dáng vẻ của mình rất lạ lùng, còn khuôn mặt thì rất khó coi. Tôi nói, “Được rồi, anh sẽ là người làm hết mọi chuyện nhơ bẩn”.
Nàng vẫn trừng nhìn tôi, tra vấn tôi bằng ánh mắt ấy, làm mất thời giờ, nếu nàng biết được như thế.
“Anh sẽ báo cho cơ quan y tế biết”, tôi nói lặng lẽ. “Các cậu người ở không thể mang anh ta đi chôn được. Hơn nữa, chúng ta thật sự chưa biết anh ta chết vì bệnh gì”.
Nàng vẫn cứ bình chân như vại, như thể nàng đã thôi không quan tâm đến vấn đề nữa, đơn giản chỉ vì nàng không còn thèm nhìn tôi.
Tôi không biết tôi bị phát cáu từ lúc nào. “Không khéo thứ bệnh làm cho cậu ta chết có thể lây lan”, tôi nói.
“Ai mà chắc được phải không em?”. Không có câu trả lời.
Tôi không thích việc phải nói chuyện một mình. Tôi bước ra ngoài gọi cậu người ở mở gara và chuẩn bị cho chuyến đi buổi sáng đến thành phố.

Như tôi đã đoán trước, sự việc trở nên rắc rối. Tôi phải thông báo cho cảnh sát cũng như cơ quan y tế biết và phải trả lời nhiều câu hỏi tẻ nhạt: Tôi đã quên không để ý đến sự có mặt của người đã chết như thế nào? Nếu tôi không giám sát những người ở thì làm sao tôi chắc được là những chuyện như thế sẽ không xảy ra vào bất cứ lúc nào? Vân vân, vân vân. Và khi tôi nổi nóng và nói với họ rằng nếu các cậu người ở của tôi đã làm xong phần việc của họ thì tôi không có quyền và cũng không muốn chõ mũi vào cuộc sống riêng tư của họ, tôi đã nhận được từ gã trung sĩ cảnh sát thô thiển một cái nhìn không động não suy tính mà do sự dung tục của một kẻ bị lý thuyết về chủng tộc thượng đẳng xâm chiếm - một cái nhìn vô nghĩa, ngu xuẩn. Gã nhìn tôi và cười toe toét, vừa khinh thị, vừa vui thích trước sự ngốc nghếch của tôi.

Tôi lại còn phải giải thích cho Petrus hiểu tại sao các nhà chức trách y tế phải mang xác đi để khám nghiệm tử thi và khám nghiệm tử thi là gì. Vài ngày sau khi tôi gọi đến cơ quan y tế để biết kết quả thì như chúng tôi nghĩ, người ta đã báo cho chúng tôi biết nguyên nhân tử vong là do viêm phổi và người chết đã được chôn cất tử tế. Tôi đi ra chỗ Petrus đang trộn cám cho gà và nói với cậu ta là mọi việc đều tốt đẹp, không có trục trặc gì cả, em trai cậu ta chết do đau ở ngực, Petrus đặt hộp thiếc đựng cám gà xuống và nói: “Khi nào chúng tôi có thể mang nó về, thưa ông chủ?”.
“Mang về?”.
“Xin ông chủ vui lòng hỏi họ là khi nào chúng tôi phải đến đó?”.
Tôi vô trở lại nhà và gọi Lerice. Nàng từ phòng ngủ bước xuống cầu thang và tôi nói: “Giờ anh không biết phải làm gì đây. Anh đã báo cho Petrus biết và cậu ta lặng lẽ hỏi khi nào thì các cậu ấy có thể đến và mang xác về. Các cậu ấy muốn tự mình chôn người đã chết”.
“Vâng, anh nên đi trở lại và nói cho cậu ta biết. Anh phải nói. Tại sao anh không nói?”.

Khi tôi đi ra trở lại để tìm Petrus, tôi thấy cậu ta rất nhún nhường. “Này, Petrus”, tôi nói, “cậu không thể đến và mang xác em trai cậu về. Người ta đã làm mọi chuyện - Người ta đã chôn rồi - cậu hiểu chứ?”.
“Ở đâu, thưa ông chủ?”, cậu ta nói chậm chạp, ngơ ngẩn, như thể cậu ta đang nói điều gì đó sai trái.
“Cậu biết đấy, em cậu là người lạ. Người ta biết em cậu không phải ở trang trại này và không nghĩ cậu ấy có người thân ở đây, do đó họ nghĩ họ phải chôn cất cậu ấy”. Chôn cất cho người nghèo chưa hẳn là lạ một đặc ân với họ.
“Ông chủ, xin ông giải thích với họ” Nhưng cậu ta không có ý muốn biết nơi chôn cất. Cậu ta dễ dàng quên đi cái cơ quan chức năng khó hiểu đã chôn em cậu; cậu muốn đưa xác về.
“Nhưng Petrus”, tôi nói, “làm sao tôi có thể mang xác em cậu về được.  Em cậu đã được mai táng rồi. Tôi chẳng thể nào giải thích được với họ”.
“Ôi, ông chủ!”. Cậu ta đứng đó, hai tay dính cám lem nhem duỗi thẳng xuống hai bên hông, một góc miệng giật giật.
“Trời ạ, Petrus, người ta sẽ không nghe tôi! Dù sao đi nữa thì người ta cũng không. Tôi xin lỗi, tôi chẳng thể làm gì được. Cậu hiểu chứ!”.
Cậu ta cứ đứng nhìn tôi, có lẽ cậu ấy nghĩ rằng người da trắng có đủ mọi thứ, có thể làm bất cứ chuyện gì; nếu họ không làm là bởi họ không làm.
Và sau đó trong bữa ăn tối, Lerice bắt đầu. “Ít nhất anh cũng nên gọi cho các nhà chức trách”, nàng nói.
“Lạy Chúa, vậy chứ em nghĩ anh là ai? Anh có thể làm cho người chết sống lại được sao?”.
Nhưng tôi không thể cạnh khoé chỉ vì cái trách nhiệm buồn cười đang đè trên cổ tôi. “Gọi cho họ”, nàng tiếp tục. “Và ít ra anh có thể nói lại với cậu ta rằng anh đã gọi và người ta giải thích là không thể”.
Sau khi uống cà phê, nàng biến mất chỗ nào đó trong nhà bếp. Một lát sau, nàng trở lại và nói, “Bố của họ sẽ từ xa đến dự đám tang. Ông ấy có giấy phép và đang trên đường đi”.

Thật không may, việc đem xác về là không thể. Các nhà chức trách nói dù có phần trái với quy định nhưng nếu đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh, họ sẽ cho phép khai quật. Với sự giúp đỡ của người làm dịch vụ tang lễ, tôi biết rằng việc khai quật sẽ tốn hai mươi pao. A, tôi nghĩ, vấn đề là ở chỗ này. Với tiền lương năm pao một tháng, Petrus sẽ không có hai mươi pao. Chắc chắn tôi sẽ không cho cậu ta số tiền đó. Tôi sẽ không đắn đo chi ra hai mươi pao hoặc hơn để trả tiền cho bác sĩ và mua thuốc thang để giúp cho anh ta khi anh ta còn sống. Một khi anh ta đã chết rồi thì tôi không có ý định khuyến khích Petrus quẳng đi số tiền còn lớn hơn cả tiền mua sắm quần áo của gia đình cậu ta trong cả một năm.
Tối đó trong nhà bếp, khi tôi nói với cậu ta, cậu ta nói, “Hai mươi pao?”.
Tôi nói, “Đúng vậy, hai mươi pao”.
Nhìn vào mặt cậu ta, tôi bỗng có cảm giác cậu ta đang tính toán. Nhưng khi cậu ta nói lại lần nữa, tôi nghĩ chắc cần phải suy xét lời nói ấy. “Chúng tôi phải trả hai mươi pao!”, cậu ta nói bằng giọng xa vắng, như thể một ai đó đang nói về một điều không thể với tới nên đành thôi không dám nghĩ tới nữa.
“Được rồi, Petrus”, tôi nói cho có rồi đi trở vô phòng khách.

Sáng hôm sau, trước khi tôi đi vào thành phố, Petrus xin gặp tôi. “Xin ông chủ nhận cho”, cậu ta nói và luống cuống đưa cho tôi một nắm tiền. Người nghèo thường là bên nhận chứ hiếm khi là bên đưa cho nên họ thực sự không biết làm thế nào để đưa tiền cho một người da trắng. Và đây, hai mươi pao tiền lẻ, có những tờ đã nhàu nát như giẻ rách, có những tờ còn tương đối mới, thẳng thớm. Đó là tiền của Franz, của Albert, của chị nội trợ Dora, của cậu làm vườn Jacob và có Chúa mới biết được đó còn là tiền của ai nữa trong số những người ở và những người mướn đất của chúng tôi. Khi cầm tiền, tôi giận hơn là ngạc nhiên; giận vì những người nghèo đã làm một cuộc quyên góp cho một việc vô bổ. Tôi nghĩ, người nghèo ở khắp mọi nơi đã sống thắt lưng buộc bụng để mong được chết thanh thản. Điều đó thật khó hiểu đối với những người như tôi và Lerice - những người xem cuộc sống là một cái gì đó cần phải được tận hưởng một cách xa hoa, còn chết là sự chấm dứt.

Chiều thứ bảy, những người ở được nghỉ việc, do vậy đó là một ngày thích hợp để tổ chức đám tang. Petrus và bố cậu ta mượn chiếc xe lừa để lên thành phố chở quan tài về. Trên đường về, Petrus nói với Lerice rằng mọi thứ đều tốt đẹp; quan tài đang đợi họ và được bịt kín để tránh cái cảnh tượng không hay do nó đã được chôn hai tuần lễ rồi. (Trước đó các nhà chức trách và người làm dịch vụ tang lễ đã thoả thuận êm xuôi với nhau về việc khai quật). Cả buổi sáng, quan tài được đặt trong lều của Petrus, đợi đưa đi chôn ở nghĩa trang nhỏ cạnh hàng rào phía đông trang trại của chúng tôi. Nghĩa trang ấy có từ thời vùng đất này còn là một khu vực canh tác lẻ tẻ chứ chưa có điền trang nông thôn hiện đại như bây giờ. Hết sức tình cờ, tôi có mặt cạnh hàng rào phía đông lúc đám tang đi qua do Lerice lại một lần nữa quên bẵng đi lời hứa với tôi, làm cho không khí ở nhà vào chiều cuối tuần trở nên ngột ngạt. Trước đó, tôi trở về nhà và rất tức giận khi thấy cô ấy chểnh m
ng và dơ bẩn, đầu tóc từ tối hôm trước đến lúc ấy vẫn chưa chải và để dầu vecni chảy lênh láng khắp phòng khách. Do vậy, tôi cầm gậy và đi chơi gôn. Vì bực bội mà tôi quên mất đi đám tang và chỉ chợt nhớ ra khi thấy đoàn người đưa tang đi trên lối mòn dọc theo hàng rào tiến về phía tôi. Từ chỗ tôi đứng, có thể nhìn thấy rõ các ngôi mộ trong nghĩa trang và ngày hôm ấy nắng chiếu sáng lấp lánh các mảnh gốm vỡ, các cây thánh giá nghiêng lệch và các hũ đựng nước mưa và hoa héo.

Tôi thấy có chút lúng túng không biết có nên tiếp tục đánh gôn hay là nên dừng lại cho đến khi đám tang đi qua hết. Chiếc xe lừa kêu cót két và rít theo từng vòng quay của bánh xe và chuyển động chậm chạp, lưỡng lự theo hai chú lừa. Bụng các chú lừa chềnh ểnh, đầu ngập dưới càng xe, tai vểnh ra sau, vâng phục và buồn bã như đám đàn ông, đàn bà đang chậm rãi theo sau. Ôi, những con lừa kiên nhẫn. Nhìn cảnh chúng kéo xe có thể hiểu tại sao chúng trở thành những biểu tượng trong Kinh Thánh. Sau đó đám tang đi đến chỗ tôi đứng và dừng lại, do đó tôi phải đặt gậy xuống. Quan tài được khiêng xuống. Đó là chiếc quan tài làm bằng gỗ, được đánh vecni bóng loáng, nhìn như một vật dụng rẻ tiền. Các chú lừa giật giật tai để đuổi ruồi. Petrus, Franz, Albert và ông lão nâng quan tài lên vai và đoàn người tiếp tục bước đi. Đó thật sự là một khoảnh khắc bối rối. Tôi đứng đực ra bên hàng rào, im lặng còn đoàn người thì chầm chậm đi qua, đầu cúi gằm. Bốn người đàn ông cong lưng dưới chiếc quan tài bằng gỗ bóng loáng và những người đưa tang bước đi chậm chạp. Tất cả họ là những người ở của chúng tôi hoặc là người ở của trang trại láng giềng - những người hay tuỳ tiện tán gẫu về công việc của chúng tôi. Tôi nghe có tiếng ông lão thở.
Tôi cúi xuống nhặt gậy thì nghe có tiếng trong đoàn người đang nghiêm trang bước đi phát ra một tiếng kêu lạ. Tôi cảm nhận ngay tiếng kêu ấy, như đang cảm nhận một luồng hơi nóng trong không khí hay một dòng nước lạnh trong con suối yên tĩnh, thình lình bám lấy chân mình. Ông lão đang thì thầm điều gì đó; đoàn người dừng lại, bối rối và co cụm lại với nhau. Có người nào đó bảo họ tiếp tục đi, người khác thì xì xào bảo họ im lặng. Tôi thấy dù họ bối rối nhưng họ không thể phớt lờ lời của ông lão. Đó là những lời thì thầm như lời của một nhà tiên tri, dù không rõ nhưng có thể hiểu được. Góc quan tài nơi ông lão khiêng võng xuống, dường như ông ấy đang cố thoát ra khỏi sức nặng của nó. Petrus phản đối ông lão.

Cậu bé được cắt cử ở lại coi lừa vứt dây cương và chạy lại xem. Không hiểu tại sao nhưng tôi cũng vạch hàng rào thép gai chạy theo cậu ta, như kiểu người ta thường bu quanh một người nào đó bị ngất trong rạp chiếu phim.
Petrus đưa mắt nhìn tôi, nhìn mọi người, vẻ bối rối và sợ hãi. Ông lão đã hoàn toàn rút vai ra khỏi quan tài, chỉ còn lại ba người và do không thể tiếp tục khiêng đi, họ đặt quan tài xuống ngay trên lối mòn. Một làn bụi mỏng bay lên chiếc quan tài bóng loáng. Tôi không hiểu ông lão nói gì và lưỡng lự định hỏi. Ông ấy tiến đến chỗ tôi, đưa tay ra và bắt tay tôi và nói với tôi điều gì đó dù tôi không hiểu lời nhưng nghe giọng điệu thì tôi biết đó là những lời biểu thị sự kinh ngạc.
“Có chuyện gì vậy Petrus? Có điều gì không ổn?”, tôi gặng hỏi.
Petrus buông thõng hai tay, đầu cúi xuống, xây xẩm, quay cuồng rồi bỗng cậu ta ngẩng đầu lên nhìn tôi. “Bố nói: con trai tôi không nặng như thế này?”.
Im lặng. Tôi có thể nghe được tiếng ông lão thở; ông ấy để miệng hở ra một ít, như thường thấy ở người già. “Con trai tôi còn trẻ và ốm”, cuối cùng ông ấy nói bằng tiếng Anh.

Lại im  lặng. Sau đó có tiếng xì xào râm ran. Ông lão la lối mọi người; răng ông ấy chỉ còn mấy chiếc vàng và xỉn, ông có bộ râu quai nón xum xuê, đã hoa râm, chắc đã mọc từ đời thuở nào xa lắc, giờ hiếm thấy. Lời nói của ông rất gãy gọn, có hiệu lực đặc biệt do có lẽ đó là dấu hiệu khôn ngoan của tuổi tác - nó chuyển tải những ý tưởng sâu sắc khủng khiếp nhờ nó mang theo trong nó sự đúng đắn đến kinh ngạc. Ông đã làm cho họ bị sốc còn họ thì nghĩ ông lẩm cẩm nhưng họ phải nghe theo ông. Ông lấy tay nậy nắp quan tài và ba người đàn ông khiêng quan tài tiến tới giúp ông. Sau đó ông ngồi xuống đất, vẻ già nua, yếu ớt, không nói một lời, chỉ run rẩy đưa tay về phía quan tài rồi thẫn thờ với tay về phía mọi người.
Đám người vây quanh ông già và chiếc quan tài, (tôi cũng vậy), rồi bỗng họ lặng yên nhưng vài phút sau vỡ oà lên kinh ngạc. Họ há hốc mồm và ồn ào bàn tán. Tôi để ý thấy cậu bé giữ lừa chồm lên chồm xuống, gần như phát khóc vì giận dỗi do những tấm lưng ở người lớn đã che mất quan tài, làm cậu nhìn không được.

Trong quan tài là một người trước đây chưa ai nhìn thấy: một người bản xứ da hơi sáng, thân hình nặng nề, trên trán có một vết sẹo, còn những mũi khâu có thể thấy rõ. Người này có lẽ do bị đánh trong một cuộc cãi vã, rồi bị thương nặng và chết.
Tôi mất một tuần tranh cãi với các nhà chức trách về vụ việc. Tôi có cảm giác là họ sửng sốt mà nói ngắn gọn đó là do lỗi của họ. Tuy nhiên họ cần sự giúp đỡ để khắc phục sự nhầm lẫn do người chết là một người không được biết tên. Họ nói với tôi, “Chúng tôi đang tìm kiếm” và “Chúng tôi đang rà soát”. Mỗi lần dẫn tôi vào nhà xác họ đều nói, “Đấy! Xin dở tấm vải lên, xem có phải là em trai cậu người ở của ngài không! Có rất nhiều khuôn mặt da đen, chắc cũng có một khuôn mặt mà ngài tìm. Và mỗi chiều khi tôi về nhà, Petrus đã đợi tôi ở nhà bếp, “vâng, họ đang cố gắng. Họ vẫn đang tìm kiếm. Tôi cũng đang theo dõi giúp cậu”, tôi nói với cậu ta. “Lạy Chúa, tôi phải mất quá nhiều thời gian, mà lẽ ra tôi phải dành khoảng thời gian đó cho hãng lữ hành, để chạy đôn chạy đáo khắp các xó xỉnh để theo dõi vụ này”, tôi nói với Lerice vào một buổi tối.

Khi tôi nói, nàng và Petrus cùng đưa mắt nhìn tôi và thật kỳ quặc, lúc ấy họ nhìn thật giống nhau, mặc dù nói ra điều này thật trái tai: Vợ tôi có trán cao, trắng trẻo và có thân hình mảnh mai của một phụ nữ Anh, trong khi cậu người ở có bàn chân trần chai cứng, quần kaki bó túm ở gối và mồ hôi ứa ra từ da, nhễ dại, có mùi rất khó chịu.
“Chuyện gì làm cho anh quá giận dữ, quá lo lắng vậy?”, bỗng Lerice hỏi.
Tôi trừng mắt nhìn nàng. “Đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Tại sao họ lại lừa đảo, mang xác đi rồi lại bỏ trốn? Đây là lúc các nhà chức trách đó phải thức tỉnh, phải nhìn vào việc làm của gã viên chức chịu trách nhiệm về vụ này”.
Nàng nói, “Ôi dào”. Và khi Petrus từ từ mở cửa nhà bếp để đi ra vì thấy câu chuyện chẳng còn liên quan đến mình, nàng cũng quay đi.

Mỗi buổi chiều tôi đều phải làm “công tác tư tưởng” cho Petrus nhưng rồi mỗi chiều, giọng nói của tôi và những gì tôi nói đều không có gì khác nhau nên hy vọng càng lúc càng mờ mịt. Cuối cùng thì chuyện đã trở nên rõ rành rành là chúng tôi sẽ không bao giờ mang được xác của cậu em trai Petrus về, vì không ai thực sự biết cậu ta đang ở đâu. Hay là cậu ta đã được chôn ở một nghĩa trang nào đó, nơi mà các ngôi mộ đều giống hệt nhau? Hay là cậu ta đang nằm ở một ngôi nhà nào đó không phải nhà của cậu? Hay là cậu ấy chỉ còn là một bộ xương ở một trường y nào đó? Có Chúa mới biết được. Cậu ta chẳng để lại một dấu tích trên đời này cả.
Sau khi biết rõ là không tìm được xác, bằng một giọng điệu e dè, Petrus xin tôi hãy cố gắng lấy lại tiền.
“Nghe giọng cậu ta nói, em sẽ nghĩ cậu ta đang bòn tiền của người quá cố”, sau đó tôi nói với Lerice. Nhưng như tôi đã kể, Lerice vì quá căng thẳng với vụ việc nên chẳng có nổi một cái cười mỉa mai.

Tôi cố gắng lấy lại tiền; Lerice cũng cố gắng. Nhưng rõ ràng là phần lớn tiền ấy đã được trả cho người làm dịch vụ tang lễ và anh ta đã làm xong phần việc của mình. Do vậy, toàn bộ số tiền kia đã được dùng một cách hoang phí, thậm chí còn là rất hoang phí bởi đó là tiền của người nghèo.

Ông lão đến từ xa có tầm vóc giống với ông bố của Lerice, nhờ đó nàng đã cho ông một bộ đồ của bố nàng vào mùa đông. Ông lão trở về nhà, tươm tất hơn lúc đến.

TRẦN NGỌC HỒ TRƯỜNG dịch
(Dịch từ The International Story,
NXB St Martin” s Press, New Yorl, 1994)
(nguồn: TCSH số 218 - 04 - 2007)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tue Jan 23, 2018 7:30 pm

.

Miền ánh sáng
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


Vào mùa thu năm hai mươi bốn tuổi, nơi nhà nghỉ bên bờ biển, tôi đã gặp nàng. Đó là mối tình đầu của tôi.
Đột nhiên nàng vươn cổ và lấy tay áo mimônô che mặt. Tôi nhìn nàng và phát hiện ra thói quen xấu của mình. Tôi bối rối và làm ra vẻ khổ sở.
- Tại anh nhìn em, đúng không?
- Vâng. Nhưng cũng không phải vậy đâu.
Nàng nói điều buồn cười ấy bằng một giọng mềm mại. Tôi như được cứu thoát.
- Anh tệ quá nhỉ.
- Không. Bình thường thôi nhưng mà... không có gì đâu.
Nàng hạ ống tay áo xuống, hơi ráng sức chịu đựng ánh mắt tôi. Tôi ngoảnh nhìn ra biển.

Tôi có thói quen hay quan sát gương mặt của những người xung quanh. Tôi tự nhủ mình phải từ bỏ ngay tật xấu này. Nhưng nếu không được nhìn gương mặt của người xung quanh, đối với tôi đó là niềm đau đớn. Và mỗi lần phát hiện mình đang nhìn mặt người khác, tôi lại cảm thấy căm ghét mình. Có lẽ tôi đã biết đọc gương mặt tha nhân từ lúc ấu thơ khi tôi mất nhà, mất cha mẹ, và đến sống nhờ nhà người khác chăng? Đôi khi, tôi đã từng suy nghĩ nghiêm túc xem thói quen này được hình thành từ lúc tôi còn ở nhà mình hay sau khi tôi đến ở nhà người ta. Nhưng tôi không tìm ra một ký ức gì có thể giúp tôi làm minh bạch điều này.
Dẫu sao tôi cũng thôi nhìn nàng và chuyển ánh nhìn sang vùng lấp lánh nơi bờ biển xa, được nhuộm bởi ánh sáng mặt trời mùa thu. Miền ánh sáng kia gợi cho tôi nhớ về kỷ niệm xưa đã bị chôn vùi trong dĩ vãng.

Sau khi cha mẹ tôi mất, tôi đến sống với người ông gần mười năm trong một ngôi nhà nhỏ miền quê. Ông tôi bị mù. Và trong bao nhiêu năm, trong căn phòng nhỏ, trước lò sưởi, ông ngồi yên một chỗ nhìn về hướng đông. Đôi khi ông nghiêng đầu nhìn về hướng nam. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông nhìn về hướng bắc. Có lần, sau khi phát hiện ra thói quen của ông, tôi đã hết sức ngạc nhiên khi thấy gương mặt ông chỉ quay về một hướng. Tôi đã ngồi trước mặt ông rất lâu, chăm chú quan sát xem ông có quay mặt về hướng bắc lần nào không. Nhưng tôi buồn rầu và thất vọng vì cứ năm phút một lần ông lại nghiêng đầu sang phải và chỉ nhìn về phương nam như một con búp bê điện tử. Phía nam là miền ánh sáng và tôi nghĩ liệu rằng hướng nam có đem lại cho người mù cảm giác về ánh sáng hay không?

Bây giờ tôi đã nhớ lại được kỷ niệm về miền ánh sáng mà tôi đã lãng quên.
Tôi hay nhìn mặt ông tôi, chỉ muốn ông quay về phương bắc. Ông tôi thì mù và tôi đã nhiều lần quan sát gương mặt ông một cách tự nhiên. Tôi đã hiểu rằng từ kỷ niệm đó đã khởi phát thói quen nhìn mặt tha nhân về sau này. Thói quen ấy đã có từ khi tôi còn ở nhà. Nó không xuất phát từ cái tâm đê tiện của tôi. Hiển nhiên, tôi hối tiếc vì mình đã mang tật xấu này. Khi nghĩ như vậy, tôi muốn nhảy lên vì vui sướng. Tôi càng nuôi thêm khát vọng làm thanh sạch mình, chỉ vì nàng.
Nàng lại nói:
- Tuy đã quen nhưng em vẫn hơi ngượng.
Tôi nghe như giọng nói kia ẩn chứa lời yêu cầu tôi hãy nhìn gương mặt nàng. Dường như nàng nghĩ tôi đã tự thú sự xấu xa của mình từ lúc nãy.
Tôi quay lại nhìn nàng. Gương mặt tôi sáng lên. Nàng đỏ mặt. Ánh mắt tinh nghịch nhìn tôi.
- Qua ngày rồi đêm, gương mặt em hết mang điều mới lạ nên em chẳng lo lắng gì đâu.

Nàng nói như trẻ con. Tôi cười. Đột nhiên tôi cảm thấy thân thiết hơn với nàng. Tôi muốn mang theo những ký ức về nàng và ông tôi đi đến miền ánh sáng nơi bờ biển phía xa kia.
 
Hoàng Long dịch
(từ nguyên tác Nhật ngữ)


Sấm mùa thu

Hôn lễ chúng tôi cử hành trong một lữ quán có tiếng sáo trúc kiểu xưa ngân nga.Mùa thu mới bắt đầu, cũng là lúc các cô gái xuân thì từ biển trở về và lượn quanh thành phố như những con ngựa tơ xinh đẹp, lông màu hạt dẻ.
Bất thình lình chớp lóe sáng khung cửa sổ và sấm nổ rền như muốn phá tan hôn lễ. Cô dâu mười bảy tuổi của tôi trắng xanh sắc mặt. Nàng nhắm nghiền mắt lại và thân thể rũ xuống như một lá cờ ướt sũng.
- Đóng cửa sổ, đóng màn lại mau!
Sau khi hôn lễ kết thúc, cha vợ tôi mới bảo: “Con gái tôi sợ sấm có thể là do một lời nguyền xưa. Rồi ông kể cho tôi câu chuyện này, về một đứa con trai hiếu thảo của xứ Tamba thuở nào:
“Yoshida Shichizaemon lại rất sợ sấm, chỉ cần nghe một tiếng trống gõ là bà có thể ngất xỉu. Vì thế cho nên, bất kỳ khi nào nghe tiếng sấm rền là Shichizaemon đâm bổ về nhà, cho dù anh đang ở đâu hay đang làm gì. Vào mùa hạ, anh không dám đi đâu xa, chỉ đến thôn làng lân cận là cùng.

Thế cũng chưa đủ. Ngay cả sau khi mẹ qua đời, cứ nghe thấy tiếng sấm là anh chạy ngay đến nghĩa trang, vòng tay ôm chặt mộ của bà.
Một đêm kia, trong khi Shichizaemon ôm ghì mộ bia suốt cơn dông, anh bị sét đánh chết. Sáng hôm sau, trời trong xanh và tươi đẹp.
Khi một người dân trong làng cố gỡ cánh tay Shichizaemon ra khỏi bia mộ thì nó vỡ ra từng mảnh. Thân thể cháy đen của anh đã trở thành một hình tượng bằng tro, chạm vào là vỡ vụn.
Rõ ràng là kéo chàng Shichizaemon hiếu thảo ra khỏi mộ chí kia là điều lầm lẫn.
Một bà lão nhặt lên một ngón tay của anh vừa rơi xuống đất và cất vào trong tay áo. Bà nghiêng mình mà nói: “Để cho thằng con trai vô tâm, bất trị của già này uống”.

Các thôn dân khác cũng bắt chước nhặt từng mảnh hài cốt. Thứ tro linh ấy đã truyền từ đời này sang đời khác như thể gia bảo. Khi ta còn nhỏ mẹ ta đã cho ta uống. Không biết có phải vì thế mà ta và cả con bé này nữa sợ sấm hay không”.
- Vậy là cô bé này (tôi ám chỉ người vợ mới) cũng được cha cho uống tro ấy à?
- Không, ta quên. Nhưng nếu bên nhà con thích thì ta sẽ gửi một gói cho nó.
Trong căn nhà mới của chúng tôi ở ngoại ô thành phố, bốn con dế nhảy ra từ phía sau chiếc bàn làm việc mới tinh của vợ tôi. Chiếc khăn phủ trắng muốt cũng chưa thay. Người vợ mới của tôi ánh lên vẻ rạng rỡ của một bó hoa tử đinh hương vào đầu mùa hạ. Thế rồi một lần nữa, tiếng sấm cuồng bạo lại nổ rền như thể mùa hạ đang tự hủy. Khi tôi ôm giữ cô dâu bé nhỏ đang run rẩy của mình, cái mà tôi cảm thấy trước hết qua làn da nàng là một người mẹ trong nàng.

Ai dám bảo tôi sẽ không trở thành một hình hài cháy rụi khi tôi ôm ấp cái bia mộ mềm mại ấm nồng này? Chớp loé sáng. Sấm như thử biến chiếc giường cưới của chúng tôi thành một chiếc giường chết chóc, vang động rầm rĩ trên mái nhà.
- Màn, đóng màn lại mau!

Nhật Chiêu dịch
(từ nguyên tác Nhật ngữ)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Mon Feb 05, 2018 2:00 pm



CHÚ BÒ THỦY CHUNG
Ernest Hemingway
(Nobel 1954)


Ngày ấy có một chú bò, tên chú không phải là Ferdinand và chú ta chẳng quan tâm đến bất cứ thứ gì ngoại trừ những bông hoa. Chú thích đánh nhau. Dẫu đã từng so tài với hết thảy những con bò cùng tuổi hay đủ mọi lứa tuổi khác nhau nhưng chú bao giờ cũng là vô địch.

Sừng của chú cứng như loài gỗ quí và nhọn tựa lông nhím. Sau mỗi trận đấu, gốc sừng thường ê ẩm nhưng chú chẳng bận tâm. Cơ trên cổ chú dồn lại thành cục u lớn mà người Tây Ban Nha gọi là morillo. Khối morillo ấy gồ lên như một ngọn đồi nhỏ mỗi khi chú chuẩn bị giao đấu. Chú luôn sẵn sàng chiến đấu, lông, da chú đen bóng, mắt chú phát ra những tia sáng của lòng dũng cảm.

Cái vẻ bề ngoài ấy toát lên nét hiếu chiến và thái độ cao thượng trong cuộc đấu tựa như phong cách của một người lúc ăn, lúc đọc hoặc là đi lễ nhà thờ. Mỗi độ lâm trận, chú đánh hết mình. Những con bò khác không sợ chú vì chúng cùng có một dòng máu kiêu hùng và ý chí bất khuất.

Nhưng chúng chẳng thích khiêu chiến bởi lẽ chúng chẳng muốn đánh nhau với chú.

Chú không tự kiêu và cũng chẳng độc ác, nhưng chú mê đánh nhau như người ta thích hát, thích làm vua hay làm tổng thống. Chú chẳng hề có tham vọng gì trong giao đấu. Đánh nhau, với chú chỉ là bổn phận, nghĩa vụ và niềm hứng khởi.

Chú giao đấu trên vùng đất sỏi, gồ ghê, trong rừng bần và trên cả cánh đồng cỏ ngọt ngào cạnh dòng sông. Chú chạy mười lăm dặm mỗi ngày, suốt từ bờ sông lên đến những vùng đất xấu. Chú đánh nhau với bất cứ con bò nào nhìn chú. Nhưng chú chẳng bao giờ nổi giận.

Thật không chính xác lắm khi nói như vậy bởi lẽ cơn giận của chú chỉ âm ỷ trong lòng. Nhưng chú chẳng rõ nguồn cơn vì không có thời gian suy xét. Chú rất cao thượng và say sưa chiến trận.


Rồi chuyện gì xảy ra? Nếu bất cứ ai sở hữu một con vật như thế thì họ đều biết ngay chú là con vật vô giá nhưng lại rất lo lắng bởi phải tốn quá nhiều tiền để bồi thường chiến phí do chú gây ra. Những con bò bình thường, trị giá hơn cả ngàn đô la nhưng sau khi đánh nhau với chú thì giá của chúng chỉ còn hai trăm đôla và có khi lại còn thấp hơn.

Thế nên ông chủ của chú, một con người tốt bụng, quyết định giữ chú ta lại để gây giống, thay vì đưa chú đến trường đấu làm vật hi sinh. Từ đó, chú thành nhà truyền giống.

Nhưng chú là con bò kỳ lạ. Ngay khi được thả vào đồng cỏ cùng đàn bò cái, chú đã bị một cô nàng trẻ, đẹp, cân đối, cơ thể tròn lẳn, sáng sủa và đáng yêu hơn tất cả các con bò cái nào khác hớp mất hồn vía. Thế là chú chẳng còn mê chuyện đánh nhau, và chú yêu nàng đến nỗi chẳng đoái hoài gì đến một nàng nào khác. Chú chỉ muốn ở bên cạnh nàng, những cô ả khác chẳng có ý nghĩa gì đối với chú.

Vì cái chuyện này mà người chủ đã bán chú cùng năm con bò đực khác cho trường đấu. Cuối cùng, chú đành phải xung trận dù rằng con tim chú đang khắc khoải yêu đương. Bới chú lâm trận rất kiêu hùng cho nên tất thảy người xem đều vô cùng ngưỡng mộ. Thế nhưng chính kẻ giết chú lại là người thán phục chú nhất. Cuối trận đấu, tấm áo choàng của người giết chú - được gọi là đấu sĩ - thì sũng nước, còn miệng anh ta thì khô khốc.

- Con bò cừ thật, - đấu sĩ nói trong khi trao thanh kiếm cho người phụ đấu. Thanh kiếm ấy bị vấy máu đến tận chuôi và máu của trái tim chú bò kiêu hùng chưa hề một lần gặp hiểm nguy trong bất kỳ tình huống nào đang từ lưỡi kiếm rỏ xuống. Xác chú được bốn con ngựa kéo ra khỏi trường đấu.
- Phải rồi, đó là con bò bị Marques ở Villamajor loạl ra khỏi trại giống vì nó quá thủy chung, gã giữ kiếm hiểu chuyện nói.

Hẳn là tất thảy chúng ta cũng nên chung thủy, đấu sĩ nói.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Tue Feb 13, 2018 12:30 am


Selma Lagerlöf (1858-1940)

Nhà văn nữ Thụy Điển, đoạt giải Nobel Văn học năm 1909.
Bà là nhà văn nữ đầu tiên trên thế giới đoạt giải thưởng này.

BỨC CHÂN DUNG NGƯỜI MẸ

Selma Lagerlöf  (Nobel 1909)


Căn nhà của ông lão Matxơn là một trong số một trăm căn nhà của xóm chài, tất cả đều nhất loạt giống nhau, từ hình dáng, kích thước, số cửa sổ và chiều cao ống khói.

Nhà nào cũng bày biện những đồ đạc như nhau; mép cửa sổ nhà nào cũng trồng một thứ hoa, tủ nhà nào những vỏ ốc và những cành san hô giống nhau, tường nhà nào cũng treo những phong tục cổ.
Phía trên giường nằm của lão Matxơn, trên vách có treo một bức chân dung bà mẹ của lão. Một đêm kia lão mơ thấy bức chân dung đi ra ngoài khung, đến trước mặt lão và tuyên bố với một giọng quyền uy: "Matxơn, con phải lấy vợ".

Lão Matxơn ra sức trình bày với bức chân dung rằng lão không thể nào làm được điều ấy: lão đã sáu mươi hai tuổi. Nhưng bức chân dung cứ nhắc lại một cách kiên quyết hơn: "Matxơn, con phải lấy vợ".
Từ trước đến nay lão Matxơn vẫn rất tôn kính bức chân dung bà mẹ. Bao nhiêu năm nay, trong những trường hợp khó khăn, đó là người cố vấn duy nhất của lão, và lão đã luôn luôn gặp điều tốt lành khi theo đúng những lời khuyên của bức chân dung. Nhưng lần này cái ý kiến mới lạ của nó làm cho lão ngạc nhiên vì trái hẳn với những quan niệm xưa nay của nó. Mặc dầu đang thiu thiu ngủ, Matxơn vẫn nhớ lại rõ ràng cái việc đã xẩy ra lần đầu tiên khi lão muốn lấy vợ. Đúng vào lúc lão đang mặc bộ quần áo cưới thì cái đinh đỡ khung chân dung bị long ra, và bức chân dung rơi ngay xuống. Đó là một lời cảnh cáo mà lúc ấy lão không hề quan tâm. Nhưng chẳng bao lâu sau lão phải hối hận vì điều này.
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi ấy của lão rất bất hạnh.

Lần thứ hai khi lão mặc bộ quần áo cưới, bức chân dung lại đổ xuống một lần nữa. Lần này lão không dám trái ý và bỏ mặc tất cả họ hàng bạn bè cùng cô dâu, lão ba chân bốn cẳng chạy trốn, xuống tầu xin làm thủy thủ, đi hết một vòng quanh thế giới rồi mới dám đánh bạo trở về nhà. Ấy thế mà bây giờ lại chính bức chân dung từ trên tường đi xuống và ra lệnh cho lão phải cưới vợ! Mặc dù lòng kính trọng sâu sắc, lão vẫn cho phép mình nghĩ rằng bức chân dung chế giễu lão. Nhưng bức chân dung một khuôn mặt hết sức dày dạn mà những cơn gió dữ dội và những ngọn sóng mặn chát đã khắc họa nên đường nét, bức chân dung ấy vẫn giữ vẻ nghiêm nghị và, với cái giọng đã quen nói to một cách khác thường sau bao nhiêu năm hò hét mời chào khách mua cá ở chợ, với giọng nói ấy, bức chân dung nhắc lại mệnh lệnh: "Con phải lấy vợ, Matxơn".

Lão Matxơn van xin bức chân dung hãy nghĩ đến cái xã hội mà lão đang sống. Một trăm căn nhà trong xóm đều có những mái nhọn và những bức vách trát torsi trắng như nhau. Tất cả những thuyền trong xóm đều cùng một kiểu và xếp đặt dụng cụ giống nhau. Không người nào trong xóm làm một việc khác đời. Nếu bà mẹ còn sống thì chắc sẽ là người đầu tiên phản đối một cuộc hôn nhân vô lý như vậy. Chẳng phải ngày xưa bà đã rất mực yêu cầu mọi người tôn trọng phong tục và tập quán đó sao? Vậy thử hỏi từ bao giờ đã sinh ra cái phong tục và tập quán cho một người gần thất tuần đi lấy vợ?

Thế là bức chân dung giơ bàn tay đeo đầy nhẫn lên nghiêm khắc ra lệnh cho lão phải tuân lời. Từ trước đến nay, mỗi khi bà mẹ xuất hiện như vậy với chiếc áo dài có riềm bằng lụa trơn đen thì cả người bà như toát ra một uy lực thần bí. Nhìn thấy cái trâm cài đầu và sợi dây chuyền nặng trĩu bằng vàng của bà, bao giờ Matxơn cũng bị xúc động mạnh mẽ. Nếu bà chỉ mặc bộ xống áo hằng ngày đi chợ, đầu chít cái khăn kẻ ô vuông, ngực đeo tạp dề bằng vải dầu bám đầy vết máu và vảy cá thì bà đã chẳng gây ra cho lão một niềm kính sợ sâu sắc như vậy.

***

Sáng hôm sau, lão Matxơn thức dậy lòng đầy lo lắng. Lão chẳng hề có ý cưỡng lại bức chân dung của bà mẹ là người chắc chắn biết rõ hơn lão rằng lợi ích chân chính của lão là như thế nào. Nhưng lão run lên khi nghĩ đến những ngày khủng khiếp sắp tới.

Lão liền xin kết hôn với cô con gái xấu nhất của người dân chài nghèo nhất. Đó là một cô gái so vai rụt cổ và hàm răng dưới nhô ra. Bố mẹ cô gái nhận lời và họ ấn định ngày sẽ cùng nhau ra tỉnh để ký hôn ước.

Con đường từ xóm ra thị xã đi qua hướng đồng cỏ nước mặn gió thổi vật vờ và những bãi đầm lầy. Đường dài đến một dặm; và có một truyền thuyết cho rằng dân trong xóm giàu đến nỗi có thể rải những đồng bạc trắng đẹp suốt cả chiều dài con đường. Nếu đúng như vật hì con đường mòn này sẽ mang một vẻ duyên dáng kỳ lạ biết! Nó sẽ sáng loáng như cái bụng con cá đầy vẩy trắng, uốn khúc ngoằn ngoèo giữa những bụi cói và những vũng nước thỉnh thoảng vang lên tiếng kêu oàm oạp của bầy nhái bén. Cây bạch cúc trang trang điểm cho vùng đất bị con người bỏ quên này sẽ soi bóng xuống những đồng tiền nhẵn nhụi được gìn giữ giữa những mũi gai nhọn tua tủa của cây gai. Tiếng gió sẽ vang vọng biết bao khi thổi vào đám lau sậy và những sợi điện thoại! Có lẽ lão Matxơn sẽ cảm thấy chút nào êm ái khi đặt những đồng bạc leng keng; có điều chắc chắn là lão phải đi trên con đường này nhiều lần hơn là lão mong muốn.

Giấy tờ của lão không hợp lệ. Cái việc liều lĩnh ngày trước, khi lão bỏ rơi cô vợ mới cưới, làm cho việc ký hôn ước bị chậm trễ. Phải chờ ông mục sư viết thư xin hội nghị giáo chủ cho phép lão được ký kết một cuộc hôn nhân mới. Công việc bị kéo dài.

Thế là mỗi lần văn phòng của ông mục sư mở cửa là lão Matxơn lại ra tỉnh để gặp ông. Lão im lặng và bình tĩnh ngồi chờ cho đến khi tất cả những người khác về hết. Lúc ấy lão mới đứng dậy và hỏi ông mục sư đã nhận được bức thư nào chưa?
- Chưa, chưa nhận được.
Ông mục sư nhìn lão già ngồi trên cái ghế dài, mặc bộ quần áo dệt kim bằng sợi thô, chân mang đôi ủng đi biển cao ống, nét mặt thô ráp và thông minh, đầu đội cái mũ vải trùm lên mái tóc dài màu xám, lão già ấy đang chờ được phép cưới vợ. Và ông mục sư kinh ngạc thầm khen tình yêu ở một người già lại có quyền lực mạnh mẽ đến thế, chẳng hề ngã lòng trước bao nhiêu trở lực.
- Ông Matxơn nóng lòng ký kết cuộc hôn nhân này lắm nhỉ? - Một hôm ông mục sư hỏi.
- Hừm, hừm, xong việc càng chóng càng hay.
- Thế ông không cho rằng từ bỏ việc này đi thì lại càng hay hơn sao? Ông chẳng còn trẻ trung gì nữa.
- Ông mục sư không nên quá ngạc nhiên như vậy, - lão già trả lời chống chế.
Và lão nói thêm: "Tôi biết rằng tôi già rồi, nhưng tôi phải lấy vợ, nhất thiết phải lấy vợ."
Thế rồi tuần này qua tuần khác, lão trở đi trở lại suốt sáu tháng ròng. Vì mãi sáu tháng sau, lời chuẩn y mới được gửi đến.

Suốt thời gian này, lão Matxơn mất ăn mất ngủ. Bất cứ ở đâu, từ trên bãi cỏ xanh phơi những tấm lưới nâu, dọc theo những đập chắn sóng bằng xi măng của bến cảng, cho đến tận ngoài khơi, nơi họ đuổi theo những bầy cá mới, đâu đâu lão cũng nghe thấy tiếng xì xào ngạc nhiên và tiếng cười nhạo báng nổi lên rào rào như một cơn bão.
- Chả, chả, lão lại sắp lấy vợ. Cái lão Matxơn lần trước đã co cẳng chuồn ngay buổi sáng ngày lễ cưới của lão ấy mà!
Cả cô dâu, cả lão cũng chẳng được buông tha. Nhưng điều tệ hại nhất là không ai thấy điều này là lố bịch hơn chính lão. Bức chân dung bà mẹ làm cho lão suýt phát điên lên được.

***

Buổi chiều ngày chủ nhật hôm ký hôn ước, để tránh sự tò mò và những lời châm chọc phiền toái, lão Matxơn một mình lánh ra con đường kè và đi đến tận tháp đèn biển. Ở chân tháp, lão thấy vị hôn thê của mình đang khóc. Lão hỏi chuyện nàng có phải trước đây nàng đã muốn lấy người khác? Mới đầu nàng không trả lời gì cả. Nàng lấy móng tay cậy những miếng vôi ở tường và thả rơi xuống biển.
- Hay cô đã yêu một người khác chăng?
- Không, chẳng có ai cả.

Ở tháp đèn, cảnh thật đẹp. Nước biển trong vắt vỗ ì oạp xung quanh, bờ biển bằng phẳng, những căn nhà đều tăm tắp trong xóm, thành phố ở phía xa xa. Tất cả đều tắm trong ánh sáng của biển Sund và trong vẻ đổi mới của nó. Thỉnh thoảng từ đám sương mù xôm xốp thường nổi bập bềnh ở chân trời phía tây ló lên một chiếc thuyền chài. Chiếc thuyền chạy theo một đường vát táo bạo và tiến gần bến cảng. Nó vui vẻ lao vào cảng qua một cửa vịnh hẹp, nước reo tung tóe bắn lên mũi thuyền. Những chiếc buồm bỗng hạ xuống, đám bạn chài vẫy vẫy chiếc mũ của họ và giữa khoan thuyền lấp lánh mẻ cá vừa đánh được.

Trong khi lão Matxơn đang đứng trên đường kè thì một chiếc thuyền chạy vào bến. Một chàng trai đang ngồi cầm lái bỏ mũ ra và chào cô gái trẻ. Lão già thấy lóe lên một tia sáng trong đôi mắt vị hôn thê của mình. "Chà, - lão tự nhủ, - cô em đã phải lòng anh chàng đẹp trai nhất xóm. Anh chàng ấy chẳng bao giờ cô em lấy được đâu. Cô em lấy ta còn hơn là chờ đợi hắn."

Thật không có cách nào thoát khỏi ý muốn của bức chân dung bà mẹ! Nếu cô gái yêu một người mà may ra cô có cơ lấy được thì lão Matxơn sẽ cho phép mình từ bỏ cuộc hôn nhân. Nhưng trong trường hợp này thì lão chẳng có lý do gì chính đáng để trả lại tự do cho cô gái.

***

Mười lăm ngày sau thì tổ chức đám cưới, và sau đó chẳng bao lâu, cơn bão tháng mười một ập đến.

Một trong những chiếc thuyền nhỏ của xóm chài bị mất cả cột buồm lẫn bánh lái, và hoàn toàn hư hại trôi bập bềnh trên sóng biển Sund. Lão Matxơn và năm người khác đi trên chiếc thuyền ấy lênh đênh như vậy trong hai ngày hai đêm. Khi người ta cứu được thì họ đã gần chết vì đói và rét. Mọi vật trên thuyền đều đóng băng và quần áo của họ bắt đầu đông cứng lại. Sức khỏe của lão Matxơn chẳng bao giờ hồi phục được nữa. Lão ốm mòn mỏi trong hai năm rồi chết.

Bấy giờ nhiều người mới lấy làm lạ rằng làm sao lão lại nghĩ đến lấy vợ đúng vào lúc trước khi xẩy ra tai nạn, bởi vì người vợ bé nhỏ mà lão đã chọn trở thành một người chăm sóc bệnh nhân giỏi. Nếu lão chỉ có một thân một mình thì không biết sẽ ra sao? Cả xóm chài đều thừa nhận rằng cả đời lão chưa bao giờ làm được một việc khôn ngoan hơn thế; và người đàn bà bé nhỏ được mọi người mến phục vì đã tận tụy chăm sóc chồng.
Người ta bảo nhau: "Cô ấy rồi sẽ lấy được chồng khác dễ như bỡn".

Suốt thời gian bị bệnh, ngày nào lão Matxơn cũng kể cho cô vợ trẻ nghe câu chuyện bức chân dung.
- Khi tôi chết, em sẽ lấy bức chân dung ấy, - lão nói. - Vả lại tất cả những gì của tôi thì em cũng sẽ lấy hết đi thôi.
- Thôi đi, ông đừng có nói chuyện ấy...
- Em sẽ lấy bức chân dung bà mẹ tôi, và sau này khi có người đến hỏi làm vợ, em cứ đem bức chân dung ra mà chiêm nghiệm. Tôi quả quyết với em rằng, trong cả xóm này, không có ai thành thạo về hôn nhân hơn bức chân dung ấy.

NGỌC THỌ dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri Feb 23, 2018 1:51 pm



Thiên Thần Gẫy Cánh

Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)

    
Khi mưa đến ngày thứ ba, cua bò vào nhà nhiều đến nỗi Pelayo giết cũng không xuể nữa. Chàng phải lội qua khoảng sân trước nhà để ném chúng ra biển. Vì vợ chồng Pelayo mới sanh thằng con và họ nghi rằng chính vì mùi cua mà thằng bé bị sốt nặng cả đêm. Từ thứ Ba, thế giới buồn thảm đạm. Biển cũng như trời xám như tro, và bờ biển thường sáng long lanh trong những đêm tháng Ba, bây giờ nhầy nhụa những bùn và mùi cá chết. Dù giữa trưa, ánh sáng mặt trời cũng yếu ớt đến nỗi khi Pelayo sau khi ném lũ cua ra biển trở vào nhà cũng không nhận ra một đống thù lù đang cựa quậy và rên rỉ ở sân sau. Chàng phải tiến lại thật gần mới nhận ra đó là một lão già lụ khụ đang nằm úp mặt xuống vũng bùn, và dù có cựa quậy thế nào đi nữa cũng không trở dậy nổi vì lão ta có một đôi cánh khổng lồ.

Kinh hoàng như gặp cơn ác mộng, Pelayo chạy vào gọi vợ, Elisenda, lúc đó đang đắp khăn ướt lên trán thằng nhỏ, ra xem. Hai vợ chồng đứng đờ ra nhìn hình thù quái lạ đang cựa quậy. Lão già trông như một người đi lượm rác. Đầu hói bóng, chỉ còn lưa thưa vài sợi tóc bạc, và vài chiếc răng lung lay còn sót lại. Trong tình trạng thảm hại này, nếu lão ta có được vẻ uy nghi nào thì cũng không còn nữa. Đôi cánh rộng như cánh chim ưng bẩn thỉu, cụp xuống, bị dính cứng vào đống bùn. Cả hai vợ chồng đứng sững nhìn lão ta thật lâu và khi đã bình tĩnh trở lại, họ thấy ở lão ta một vẻ quen thuộc. Cả hai cùng cất tiếng hỏi, nhưng lão đáp lại bằng một thứ tiếng lạ, với giọng ồm ồm như những tay thủy thủ. Vợ chồng Pelayo cũng bớt sợ, và cho rằng đây chỉ là một tay đi biển nào đó bị đắm tầu trôi dạt vào đây. Tuy vậy, họ cũng gọi bà hàng xóm thông thái của họ sang xem. Bà ta chỉ cần liếc qua là biết ngay họ đoán lầm.
"Thiên thần đấy," bà ta bảo họ với giọng quan trọng. "Chắc ổng được phái xuống để chữa cho thằng nhỏ, nhưng chắc già yếu quá nên bị trận mưa làm cho rớt xuống đây luôn."

Ngày hôm sau, cả làng đều biết là có một thiên thần bằng xương bằng thịt đang bị nhốt trong nhà Pelayo. Dù bà hàng xóm cho biết là ngày nay thiên thần là những kẻ phạm tội trên thiên đình trốn đi, họ cũng không nhẫn tâm đập chết lão già. Cả buổi chiều hôm đó, chàng còn cẩn thận kéo lão ra khỏi đống bùn, và nhốt vào chuồng gà. Cho đến nửa đêm, khi mưa dứt và cả hai vợ chồng Pelayo vẫn còn đang bận giết những con cua chạy lung tung trong nhà, bỗng
thằng nhỏ tỉnh dậy, khoẻ khoắn như không, lại còn đòi ăn nữa. Hai vợ chồng bỗng thấy "lòng từ bi bất ngờ", và quyết định cho lão ta lên một chiếc bè với lương thực đủ cho ba ngày và thả lão ta ra đương đầu với biển cả. Nhưng khi sáng dậy, cả làng đã kéo đến bu quanh chuồng gà, vừa ngắm nghía vừa chọc ghẹo ông già không nể nang gì cả. Họ ném đồ ăn cho ông lão qua mắt lưới chuồng gà như đối với một con thú trong gánh xiệc, chứ không phải đối với một sinh vật siêu nhiên.

Linh mục Gonzaga đến trước bảy giờ sáng, vì ông cũng nghe được những tin đồn vệ sự việc lạ lùng vừa xảy ra. Vào lúc đó những kẻ hiếu kỳ lúc sớm đã bỏ đi hết, những người mới đến sau xúm lại bàn tán chỉ trỏ lung tung, người thì cho rằng lão nên được bầu làm chủ tịch của cả thế giới. Những người khác cho rằng ông ta phải làm một ông tướng năm sao để có thể thắng được mọi trận chiến. Vài kẻ mộng mơ lại nghĩ rằng nên cho ông già này vào lò ngựa giống để có thể tạo ra một giống người thông minh, có cánh để chinh phục thế giới. Nhưng cha Gonzaga, trước khi thành một linh mục, hành nghề thợ rừng cho nên rất thực tế, ông phải ngẫm nghĩ xem nên dụng văn hay dụng võ. Song le, vì "cha là linh mục" cho nên khi đứng bên chuồng gà ông duyệt lại bộ giáo luật và bảo đám người bu xung quanh mở chuồng cho ông "vào trận". Ông nhìn lão già đáng thương đang nằm như một con gà khổng lồ bịnh hoạn giữa đám gà con ngơ ngác. Lão ta nằm trong góc chuồng phơi đôi cánh giữa đống vỏ trái cây và thức ăn sáng còn dư do những người đến từ sáng sớm ném vào. Lạc lõng với thế giới loài người, lão chỉ mở đôi mắt xanh ngắt mầu nước biển, và lẩm bẩm thứ tiếng lạ khi cha Gonzaga cất tiếng chào bằng tiếng La-tinh. Ông cha xứ bỗng đâm nghi cái hình thù trước mặt vì lão ta không hiểu được ngôn ngữ của Thượng Đế, và không biết cách chào vị chủ chăn chút nào hết. Càng nhìn kỹ, ông càng thấy ông già không có chút gì "thiên thần" hết: mùi hôi nồng nặc bốc lên vì nhiều ngày không tắm rửa, đôi cánh bị đầy bọ bám vào, và những chiếc lông vũ bị gió thổi làm xơ xác cả. Sau khi nghiên cứu xong ông bước ra và cảnh cáo đám dân hiếu kỳ không được tưởng tượng ra những điều quái lạ. Ông cũng nhắc cho họ nhớ là quỉ sứ thường mượn các trò như đoàn xiệc để lừa bịp dân khờ.

Ông lý luận rằng nếu đôi cánh không phải là yếu tố chính để phân biệt một con chim và một chiếc máy bay, thì cũng khó nhận ra được một thiên thần chỉ vì đôi cánh. Song le, ông cũng hứa sẽ viết thư cho Cha Bề Trên để Đức Cha sẽ chuyển lên dần cho đến Đức Giáo Hoàng để xem ngài phán như thế nào.
Sự cẩn thận của cha xứ cũng chỉ vô ích cũng như phúc âm gieo vào những kẻ cứng lòng. Tin một thiên thần bị bắt truyền đi mau lẹ, và chỉ trong vài giờ, sân trước nhà Pelayo đã biến thành một cái chợ ồn ào, huyên náo đến nỗi người ta phải gửi lính mang lưỡi lê đến giữ trật tự khi đám đông tràn vào như muốn xô xập căn nhà. Elisenda, sau khi phải còng lưng quét dọn rác, nảy ra sáng kiến làm hàng rào quanh nhà, và bán vé vào cửa mỗi người 5 xu để xem thiên thần.

Những kẻ hiếu kỳ từ mọi nơi xa đều đến xem. Lúc đó có một đoàn xiếc từ xa đến, có màn trình diễn đu bay nhưng chẳng ai thèm xem cả vì cánh bay của họ không phải là cánh thật. Những kẻ tàn tật, bất hạnh đến xin thuốc chữa bệnh: một người đàn bà nghèo bị bịnh cứ đếm nhịp tim của mình từ lúc mới sinh ra và đã đếm hết cả số rồi; một người Bồ Đào Nha bị mất ngủ vì âm thanh của những vì sao quá ồn ào; một kẻ mộng du cứ đêm đêm thức dậy phá hết những gì ban ngày hắn làm được; và còn nhiều những kẻ khác bị bịnh nhẹ hơn. Đoàn người hành hương hỗn độn, ồn ào khiến cho trái đất rung động, nhưng Pelayo và Elisenda vừa mệt vừa vui, vì chỉ trong vòng chưa đến một tuần họ đã chất tiền vô đầy nhà, trong khi đoàn hành hương vẫn còn dài dằng dặc cho đến mãi chân trời.

Trong lúc thiên hạ chộn rộn, bận bịu mua vé vào xem thiên thần như xem diễn viên đóng trò thì thiên thần vẫn mặc kệ. Ông dùng hết thì giờ cố làm sao cho được thoải mái trong "cõi tạm" chuồng gà nóng như quỉ vì những ngọn đèn dầu, và những ngọn nến thánh đặt dọc theo cửa chuồng. Lúc đầu họ thử cho lão ăn những cục long não, vì theo bà hàng xóm thông-thái, long não là thức ăn chính của thiên thần. Nhưng lão không chịu ăn, cũng như không ăn những thức ăn dành cho các bậc tu hành do những kẻ đang ăn năn tội lỗi mang tới. Và họ cũng không thể hiểu nổi không biết vì lão là thiên thần, hay chỉ là một ông già mà cuối cùng lão cũng chỉ ăn những nụ cà pháo. Lão dường như chỉ có một đức hạnh siêu nhiên ấy là sự kiên nhẫn chịu đựng, nhất là trong những ngày đầu khi những con gà mái mổ vào đôi cánh to sù của lão để tìm những con bọ chét bám đầy trong đó, và khi những kẻ tật nguyền kéo những chiếc lông cánh để thoa vào chỗ tật nguyền của họ; ngay cả khi có những tên độc ác ném đá vào mình lão cố làm cho lão đứng dậy để xem hình thù thế nào. Chỉ có một lần họ thành công khi dí một thanh sắt nung nóng, vì lão cứ nằm bất động trong hàng giờ khiến họ nghi rằng lão đã chết. Nhưng lão choàng tỉnh dậy, gừ lên những tiếng lạ, và đôi mắt thì đẫm lệ, rồi vỗ vỗ đôi cánh khiến cho một cơn trốt đầy phân gà, và bụi kèm theo một cơn gió kinh hoàng dường như chưa có trên quả đất bao giờ làm cho họ kinh hoảng. Mặc dù nhiều người cho rằng phản ứng này của lão chỉ vì đau chứ không phải vì giận, họ cũng cẩn thận không dám chọc lão nữa, vì đa số hiểu rằng sự thụ động này không phải của một vị anh hùng sa cơ mà là của ngọn núi lửa đang bị đè nén.

Cha Gonzaga phải dùng chiêu chiều chuộng đám đông như một một người tớ gái để ngăn đám đông đừng làm them những hành động bất kính, cho đến khi nhận được phán quyết cuối cùng của Giáo Hoàng về số phận của "lão thiên thần". Nhưng thư từ La-Mã không có gì lộ vẻ khẩn trương cả. Họ nhẩn nha tìm hiểu xem lão có lỗ rốn hay không, ngôn ngữ của lão có dính dáng đến tiếng Aramic, hay chỉ là một người Na-Uy có cánh. Những lá thư này có lẽ sẽ tiếp tục cho đến khi tận thế nếu không có một biến cố khác xảy ra cất đi cái bệnh nhức đầu ông cha xứ mắc phải từ khi thiên thần mắc đọa.

Trong suốt thời gian đó, ngoài các gánh hát đến rồi đi, có một cuộc trình diễn của một người đàn bà bị biến thành một con nhền nhện vì không vâng lời cha mẹ. Vé vào cửa cũng bằng vé vào xem thiên-thần-mắc-đọa, nhưng người ta được hỏi bà này và được sờ mó từ đầu đến chân để chứng thực là bà ta bị biến hình thật sự. Bà ta là một con nhện đầu người, to bằng một con cừu đực. Nhưng điều làm cho người ta não lòng nhất không phải vì hình dáng của bà ta mà vì sự đau khổ thành khẩn khi bà ta kể lại chi tiết về nỗi bất hạnh bà phải chịu. Khi còn là một cô bé, cô ta đã trốn nhà đi "nhót". Khi về nhà, sau khi đã nhảy suốt đêm mà không xin phép cha mẹ, cô đi qua một cánh rừng, bỗng một tiếng sấm nổ vang xé bầu trời ra làm hai, và cô bị sét đánh hóa thành một con nhện. Thức ăn của bà ta bây giờ là những viên thịt mà những kẻ hảo tâm quăng vào miệng. Một cảnh tượng như thế, đầy chất "người", và mang một bài học đáng sợ đến thế gần gũi với loài người hơn, và dĩ nhiên, "show" thiên thần không ăn khách nữa. Thêm vào đó, một vài phép lạ xảy ra từ "lão thiên thần" cho thấy lão tâm trí không được bình thường. Một kẻ mù không sáng mắt được mà mọc ra ba cái răng mới, hoặc kẻ què không đi được lại trúng số, và người cùi không hết bịnh mà những vết loét lại trổ những bông hoa hướng dương. Những phép lạ này làm cho lão thần tiên mất hết tiếng tăm khi bà nhện xuất hiện. Khi đó cha Gonzaga mới thực sự hết mất ngủ, và gia đình Pelayo mới trở lại bình thường, vắng vẻ như trong ba ngày mưa dầm với lũ cua bò lúc nhúc trong nhà.

Tuy vậy, chủ nhà cũng chẳng có gì tiếc nuối. Họ đã có đủ tiền để cất một căn nhà hai từng có ban-công, có vườn, có hàng rào cao ngăn không cho lũ cua lọt vào nhà trong mùa đông, và cửa sổ có song sắt để ngăn không cho ông lão chui vào. Pelayo xây một trại nuôi thỏ gần phố, và bỏ nghề làm phú-lít vĩnh viễn. Elisenda cũng sắm sửa giầy cao gót, áo sa-teng, quần lụa lèo để mặc trong những ngày chủ nhật như những người đàn bà khác thời bấy giờ. Chuồng gà là nơi duy nhất không được tu bổ gì hết. Nếu họ có quét dọn bằng dầu thơm, hay xông trầm đều đều, không phải vì họ kính nể gì ông già mà vì phân dính đầy tứ tung, mùi hôi thối không thể tả cứ ám vào căn nhà mới sẽ làm cho nó cũ đi. Nhưng dần dần họ hết sợ, và dần dần quen với mùi khó chịu đó. Trước khi thằng nhỏ mọc chiếc răng thứ hai, nó lẫm chẫm đi vào chuồng gà để chơi, vì các song chắn đã xiêu vẹo, rụng rơi cả rồi. Lão thiên thần cũng chả tỏ vẻ gì thân mật với nó hơn đối với những sinh vật khác, nhưng lão chấp nhận sự nghịch ngợm vô tư của thằng nhỏ với sự kiên nhẫn của một con chó không có một ảo tưởng nào cả. Cả hai đều bị bệnh đậu gà cùng một lúc. Vị bác sĩ chữa cho thằng nhỏ không ngăn được tính tò mò cố nghe tim thiên thần xem nó đập như thế nào, nhưng ông ta chỉ nghe được những tiếng kêu rù rù trong quả tim, và hàng chục thứ tiếng khác nhau trong trái thận, khiến ông không thể tin là lão có thể sống được. Điều làm cho vị bác sĩ ngạc nhiên nhất là đôi cánh. Nó dính vào xác thịt lão già một cách tự nhiên đến nỗi ông ta tự hỏi tại sao những người khác không thể có được.

Khi thằng nhỏ đến tuổi đi học, thời gian và mưa nắng làm cho chuồng gà sụp đổ. Lão ta đi lê thê trong vườn từ nơi này sang nơi nọ như một bóng ma trơi. Thường sau khi dùng chổi quét lão ta từ trong buồng ngủ ra, lại thấy lão ở trỏng rồi. Dường như lão có thể có mặt tại nhiều nơi trong cùng một lúc đến nỗi họ tin rằng lão có phép phân thân làm Elisenda khó chịu như phải sống trong một địa ngục đầy những thiên thần. Hầu như lão không ăn uống gì cả, và đôi mắt mầu xanh nước biển lúc nào cũng như phủ một lớp sương mờ làm cho lão ta hết va đầu vào cột này lại đâm đầu vào cột khác. Quần áo lão đã rách nát hết, chỉ còn trơ trọi những sợi lông khiến cho Pelayo phải cho lão một tấm mền và động lòng trắc ẩn cho lão ngủ trong nhà kho, và chỉ khi đó họ mới biết lão bị sốt về đêm, và cứ lầu bầu thứ tiếng khó nghe như của một lão già người Na Uy. Có đôi lần họ tưởng rằng lão "đi đứt rồi". Ngay cả bà hàng xóm thông-thái cũng không biết phải làm sao với một cái xác thiên thần.

Nhưng không những lão "qua hết một mùa đông" mà còn khoẻ ra trong những ngày nắng ấm. Lão vẫn nằm bất động trong vài ngày ở tận một góc vườn nơi ít người để ý. Khi tháng Chạp bắt đầu, một vài chiếc lông vũ mọc trở lại trên đôi cánh, những sợi lông cứng như lông quạ lại càng làm tăng thêm nỗi thảm hại trên một thân hình tiều tụy. Nhưng lão hẳn biết nguyên do của những sự thay đổi này, vì lão rất cẩn thận không để ai chú ý tới, cũng như bài hát về biển lão thường ngân nga dưới những vì sao.

Một buổi sáng kia, khi Elisenda đang thái những củ hành cho bữa ăn trưa, thì một cơn gió dường như từ biển thổi vào trong bếp. Nàng chạy ra cửa sổ và bắt gặp lão đang vỗ cánh tập bay, nhưng rất vụng về vì khi té xuống móng tay lão cào thành những luống dài trên những liếp rau, đôi lần suýt nữa làm sụp luôn nhà kho vì đôi cánh chưa đủ sức cản gió.



Nhưng sau một lúc lão bay lên được. Nàng thở ra một hơi nhẹ nhõm cho chính nàng, và cho cả lão nữa khi nàng thấy lão từ từ bay khuất khỏi những căn nhà cuối cùng với đôi cánh đập như cánh chim ưng. Nàng tiếp tục nhìn theo cho đến khi không còn nhìn thấy nữa, bởi vì lão không còn là một nỗi khó chịu trong đời nàng, mà chỉ như một chấm tưởng tượng ở cuối chân trời.

Trịnh Tường chuyển ngữ

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri Mar 09, 2018 1:50 pm



Nữ văn sĩ người Đức gốc Romania Herta Mueller vinh dự được nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 2009. Với sự cô đọng của thi ca và tính chân thực của văn xuôi, các tác phẩm của Mueller đã mô tả sinh động những gì diễn ra ở Romania khi bà còn sinh sống ở mảnh đất này.
Hầu hết các tác phẩm của bà được viết bằng tiếng Đức, trong đó nhiều tác phẩm nổi tiếng đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha như "The Passport" (năm 1989), "The Land of Green Plums" (năm 1996), "Traveling on one leg" (năm 1998) và "The Appointment" (năm 2001).
Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

Đám tang
Herta Mueller
(Nobel 2009)


Trên sân ga xe lửa, những người họ hàng chạy dọc theo đoàn tàu đang phụt khói. Vừa chạy họ vừa giơ cao tay vẫy vẫy.

Một chàng trai đứng sau cửa sổ toa tàu. Ô kính kéo lên ngang tầm nách anh. Anh giữ chặt một bó hoa trắng tơi tả trước ngực. Khuôn mặt anh đờ đẫn.
Một phụ nữ trẻ bế một đứa bé nằm im ra khỏi ga. Người phụ nữ bị gù.
Đoàn tàu đang đi ra trận.
Tôi tắt ti vi.

Cha đang nằm trong quan tài đặt ở giữa phòng. Các bức tường dán đầy ảnh che kín cả tường.
Trong một bức Cha đứng cao gấp rưỡi chiếc ghế ông đang nắm tay. Ông mặc quần áo và đôi chân vòng cung của ông cứ khuỳnh ra. Đầu ông hình quả lê, bị hói.
Trong một bức khác Cha là chú rể. Bạn chỉ thấy được nửa ngực ông thôi. Nửa kia bị che khuất bởi bó hoa trắng tơi tả trong tay Mẹ. Đầu hai người kề sát nhau dến mức dái tai chạm vào nhau.

Trong một bức khác nữa, Cha đứng thẳng người trước hàng rào. Chân ông đi giày dẫm lên tuyết. Tuyết trắng lóa khiến ông như đứng giữa khoảng trống không. Một tay ông giơ cao lên đầu làm điệu bộ chào. Trên cổ áo ông thấy có những hình thù kỳ dị.
Trong bức kế bên Cha đang vác cuốc. Phía sau ông là những thân ngô dán chặt lên trời. Cha đội một cái mũ trên đầu. Cái mũ phủ một bóng râm lớn che khuất mặt ông.
Trong bức tiếp đó Cha đang ngồi sau tay lái một chiếc xe tải. Xe chở đầy bò. Hàng tuần Cha phải lái xe chở bò đến lò mổ trong thành phố. Khuôn mặt cha gầy và có những nét thô cứng.

Trong mọi bức ảnh Cha đều bị đóng khung ở tư thế nửa chừng. Trong mọi bức ảnh Cha trông như là không biết mình làm gì. Nhưng Cha luôn biết việc mình làm. Vì vậy các bức ảnh đều sai. Tất cả các bức ảnh đều giả, tất cả các khuôn mặt trong ảnh đều giả, chúng khiến căn phòng trở nên lạnh lẽo. Tôi muốn đứng lên khỏi ghế, nhưng quần áo tôi đã bị đóng băng vào gỗ. Quần áo tôi trong suốt và màu đen. Mỗi khi tôi cử động, nó kêu răng rắc. Tôi vươn tay chạm vào mặt Cha. Nó lạnh hơn các đồ vật trong phòng. Bên ngoài đang là mùa hè. Bọn ruồi bay loạn xạ. Làng trải dài dọc theo một con đường cát to. Con đường nóng bỏng, rám nắng, nhìn vào chói mắt.

Nghĩa trang xây bằng đá. Trên các ngôi mộ có rải đá cuội.
Khi tôi nhìn  xuống đất thì thấy đế giày đã bật ra. Tôi luôn dẫm phải dây giày. Chúng dài và nặng lết quết kéo lê phía sau tôi, đầu dây cuộn lên.

Hai người đàn ông bé nhỏ một cách kỳ lạ đang khiêng quan tài ra khỏi xe tang và hạ nó xuống huyệt bằng hai sợi dây thừng cũ nát. Cỗ quan tài lắc lư. Cánh tay hai người đàn ông và hai sợi dây thừng cứ vươn dài ra. Huyệt đầy nước dù là đang hạn hán.
Cha cô đã giết nhiều người, một trong hai người đàn ông nhỏ bé dáng say rượu nói.
Tôi nói: ông ấy đi lính đánh nhau. Cứ giết được hai lăm người thì được một huân chương. Ông ấy đã mang về nhà mấy tấm huân chương.
Ông ấy đã hiếp một phụ nữ trong ruộng củ cải, người đàn ông nhỏ nói. Cùng với bốn người lính khác. Cha cậu đã thọc một củ cải vào giữa hai chân cô ta. Khi bọn ta bỏ đi cô ta bị chảy máu. Cô ta người Nga. Các tuần sau đó, bọn ta gọi mọi thứ súng ống là củ cải tất.
Khi đó là cuối thu, người đàn ông nhỏ nói. Lá củ cải bị đen và cuộn lại vì sương giá. Nói rồi người đàn ông nhỏ đặt một hòn đá to lên quan tài.

Người đàn ông nhỏ dáng say nói tiếp:
Vào dịp Năm Mới, bọn ta đi xem opera ở trong một thị trấn nhỏ của Đức. Giọng hát của tay ca sĩ nghe the thé như giọng đàn bà Nga la hét. Bọn ta từng người một bỏ về hết. Chỉ cha cậu là ngồi nghe đến cuối. Mấy tuần sau ông ấy gọi tất tật bài hát là củ cải, tất tật đàn bà là củ cải.
Người đàn ông nhỏ uống rượu sơ-nap. Dạ dày ông ta sôi ùng ục. Bụng ta chứa đầy rượu sơ-nap y như huyệt đầy nước ngầm vậy, người đàn ông nhỏ nói.
Nói rồi người đàn ông nhỏ đặt một hòn đá to lên quan tài.

Người đàn ông chủ tang đang đứng cạnh cây thập giá bằng đá hoa trắng. Ông tiến lại chỗ tôi. Hai tay ông đút trong túi áo khoác.
Người đàn ông chủ tang có một bông hồng bằng bàn tay cài ở lỗ khuy áo. Bông hoa trông mượt mà, mềm mại. Khi đến sát bên tôi ông rút một tay ra khỏi túi. Đó là một bàn tay co quắp. Ông cố duỗi thẳng các ngón tay nhưng không được. Mắt ông trợn lên vì đau. Ông rên lên khe khẽ, chỉ đủ cho mình nghe.

Trong chiến tranh, anh không thể đi cùng đồng hương được, ông ta nói. Anh không thể ra lệnh cho họ ở quanh mình được.
Nói rồi người đàn ông chủ tang đặt một hòn đá to lên quan tài.

Bây giờ một người đàn ông béo bước đến đứng cạnh tôi. Đầu ông ta thuôn như một cái ống, không thấy mặt đâu.
Cha cô đã ngủ với vợ ta hàng năm trời, ông ta nói. Lão ấy đã hăm dọa ta khi ta say và cuỗm luôn tiền của ta.
Ông ta ngồi xuống một phiến đá.

Tiếp đó một phụ nữ nhăn nheo, khẳng khiu đi lại chỗ tôi, dậm chân xuống đất, chửi rủa tôi.
Đám người dự tang đứng ở phía bên kia huyệt. Tôi nhìn mình và hoảng sợ vì họ có thể nhìn thấy cặp vú của tôi. Tôi cảm thấy lạnh.
Mọi người đều đổ dồn mắt vào tôi. Những cặp mắt trống rỗng. Từ dưới mi mắt, các cặp đồng tử chĩa ra chòng chọc. Đàn ông khoác súng, đàn bà thì đeo chuỗi hạt.

Người đàn ông chủ tang rút bông hồng ra. Ông ta ngắt từng cánh hoa đỏ như máu cho vào mồm nhai.
Ông ta vẫy tay cho tôi. Tôi biết giờ là lúc mình phải nói. Mọi người đang nhìn tôi.
Tôi không nghĩ ra được lời nào. Mắt tôi trợn ngược lên đầu qua cổ họng. Tôi đưa tay lên miệng và gặm ngón tay. Mặt sấp tay tôi vẫn còn in dấu răng. Răng tôi nóng. Máu chảy từ khóe miệng nhỏ xuống vai tôi.

Một cơn gió giật tung tay áo tôi. Mảnh vải đen bị cuốn tung lên trời dập dờn bay lượn.
Một người đàn ông đang chống gậy dựa vào một phiến đá to. Ông ta giương súng nhằm vào ống tay áo bóp cò. Khi nó sa xuống đất ngay trước mặt tôi nó nhuộm đầy máu. Cả đám tang vỗ tay.
Cánh tay tôi lộ ra. Tôi đứng chết lặng giữa trời.
Người chủ tang ra hiệu. Đám đông thôi vỗ tay.

Chúng ta tự hào về cộng đồng mình. Các thành tích của chúng ta đã cứu chúng ta khỏi suy sụp. Chúng ta không muốn để mình bị xúc phạm. Chúng ta không muốn để mình bị phỉ báng. Nhân danh cộng đồng Đức của chúng ta, cô bị kết tội chết.
Tất cả họ chĩa súng vào tôi. Trong đầu tôi vang lên một tiếng nổ lớn.
Tôi ngã nhào nhưng không chạm đất. Tôi nằm lơ lửng trong không trung giữa những cái đầu của họ. Lặng lẽ tôi đẩy các cánh cửa mở ra.

Mẹ tôi đã lau chùi hết mọi căn phòng.
Bây giờ trong phòng có một chiếc bàn dài trên đó cơ thể được bày ra. Đó là chiếc bàn hàng thịt. Có một chiếc đĩa trắng để không và một cái bình cắm bó hoa trắng tơi tả.
Mẹ mặc một bộ đồ đen trong suốt. Bà cầm một con dao to. Mẹ đứng trước gương và dùng con dao to đó cắt rời bím tóc xám dày nặng của mình. Mẹ dùng hai tay bê bím tóc đến bàn. Bà để một đầu bím tóc lên chiếc đĩa.
Từ nay đến hết đời mẹ sẽ chỉ mặc đồ đen, bà nói.
Bà châm lửa vào đầu bím tóc. Lửa lan từ đầu bím tóc trên đĩa đến đầu kia. Bím tóc cháy như một cái cầu chì. Lửa liếm sạch và nuốt hết.

Ở Nga họ đã cạo tóc mẹ. Đó là hình phạt thấp nhất. Mẹ bị đói đến không đi vững nữa. Đang đêm mẹ bò vào ruộng củ cải. Người gác có súng. Anh ta mà thấy mẹ chắc sẽ bắn mẹ chết. Khu ruộng không phát ra tiếng sột soạt. Khi đó là cuối thu, lá củ cải bị đen và cuộn lại vì sương giá.
Tôi không nhìn thấy Mẹ nữa. Bím tóc đang cháy mạnh. Khói mù mịt khắp phòng.

Họ đã giết con, mẹ tôi nói.
Hai mẹ con không nhìn thấy nhau nữa vì cả căn phòng dày đặc khói.
Tôi nghe tiếng bước chân mẹ đi lại gần. Tôi giang tay ra sờ người mẹ.
Đột nhiên bà móc bàn tay xinh xắn vào tóc tôi. Bà móc đầu tôi. Tôi thét lên.

Tôi đột ngột mở mắt. Căn phòng quay tròn. Tôi đang nằm trên đống hoa trắng tơi tạ và bị khóa ở bên trong.
Sau đó tôi cảm thấy tòa nhà chung cư này đang nghiêng xuống và đổ vào lòng đất.
Đồng hồ báo thức kêu. Bây giờ là năm rưỡi sáng thứ bảy.

NGÂN XUYÊN dịch từ tiếng Anh
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sun Mar 18, 2018 8:09 am



Đống củi cháy và bầy kiến
Alexander Solzhenitsyn
(Nobel 1970)

Tôi ném thanh củi mục vào đống lửa mà chẳng biết có bầy kiến sống trong đó.

Thanh củi bắt đầu bén lửa lách tách, bầy kiến đổ ùa ra nhốn nháo chạy quanh trong tuyệt vọng. Chúng chạy ngược xuôi và quằn quại khi bị lửa đốt. Tôi chộp thanh củi, lăn nó về một bên. Nhiều con kiến thoát được lên cát hoặc mớ lá thông.

Nhưng lạ thay chúng không chịu chạy tránh xa đống lửa.

Vừa chế ngự được nỗi kinh hoàng, chúng đã quay lại xúm xít, và có hấp lực nào đó lôi kéo chúng trở về với quê hương chúng đã ruồng bỏ. Nhiều con kiến trèo trở lại lên thanh củi đang cháy, chạy loanh quanh và tan xác trên đó.

Trần Tuệ Minh dịch từ bản Anh ngữ “The bonfire and the ants”

The Bonfire and the Ants

I threw a rotten log onto the fire without noticing that it was alive with ants.
The log began to crackle, the ants came tumbling out and scurried around in desperation. They ran along the top and writhed as they were scorched by the flames. I gripped the log and rolled it to one side. Many of the ants then managed to escape onto the sand or the pine needles.
But, strangely enough, they did not run away from the fire.
They had no sooner overcome their terror than they turned, circled, and some kind of force drew them back to their forsaken homeland. There were many who climbed back onto the burning log, ran about on it, and perished there.
 
Poetry Terms
This poem is a parable which is a poem with a moral lesson at the end. This qualifies as a parable because it has a lesson.
Everyone make take this lesson differently, but I believe the lesson is you can’t live in the past, you have to move on.
Another technique used in this poem is sensory details which evoke your senses.
Ex:
ants came tumbling out and scurried around in desperation.
log began to crackle
 

nobelprize.com,
literature book

The Bonfire and the Ants discusses the behavior of ants on a log. Someone, unaware of the ants, throw a log into the fire. This person then analyzes the action the ants. At first, the ants run away afraid to die, but then they return. The narrator doesn’t understand why the ants return only to die, but I feel like that is the most interesting part of the poem. Personally, I think the ants returning to the log could be one of two things:
1. They are scared of change. They don’t want to lose their home.
2. They are naive and unaware of what will happen in they return.
These ants can represent people who are afraid of change and unaware of the consequence of their actions. We all know many people who are either scared of new things or do without thinking.
This also relates to the Gulag camps because people who are taken away from their homes might of rather been killed in their homes then taken to these awful labor camps, although many weren’t given that choice.

Solzhenitsyn’s Influence

Through his writing, Alexander Solzhenitsyn became a very important person. He used his writing to expose the cruelty of the Soviet Union and the Gulags. While the Bonfire and the Ants was not one of his most famous poems, it still stays with the writing of his message and ties in to the Gulags.

About the Author


(1918-2008)

Solzhenitsyn was born on December 11, 1918 just six months after his father died in the war.
He was raised by his mother and attended grammar school always knowing he wanted to be a writer.
He strayed from his writing and ended up enrolling in the Department of Mathematics at Rostov University.
He then fought in World War 2, but was arrested for criticizing Stalin and spent 11 years in labor camps, 8 of those years being in the Gulag.
His writing through books and poems recount his experiences.
He went on to win a Nobel Prize in literature in 1970.
.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 382
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Wed Mar 21, 2018 12:30 pm



Băng tuyết mỹ nhân
Mặc Ngôn
(Nobel 2012)


Sau khi chú tôi nghỉ hưu ở bệnh viện thành phố, ông về thị trấn mở phòng khám, chữa bệnh tư. Tôi thi rớt đại học, việc nông lại chẳng biết, ở nhà nhàn rỗi không có việc gì làm, tâm tính đâm ra bất ổn. Cha tôi thấy thế sốt ruột quá, đành mặt dày mày dạn van vỉ chú tôi, cho tôi được học việc ở phòng khám của ông.

Chú tôi vốn là thầy thuốc nông thôn kiểu “dầu cù là”. Đông y, tây y, nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, phụ khoa, phàm người nào có bệnh tìm đến, ông đều chữa tuốt. Chữa khỏi hay không đương nhiên là chuyện khác. Sau khi cải cách mở cửa, chú tôi thi vào lớp chuyên tu của Học viện quân y tỉnh học hai năm, trở về bệnh viện thành phố mặc áo choàng trắng, đi găng tay, trở thành bác sĩ ngoại khoa mổ bụng moi ruột người. Hai năm chuyên tu ở Học viện y khoa của tỉnh làm chú tôi như hổ thêm cánh, to gan lớn mật, chỉ có bệnh người ta không dám mắc chứ không có dao nào mà chú tôi không dám mổ.

° ° °

Tôi học việc với chú đã được hơn nửa năm. Công việc chính của tôi là quét nhà, đun nước, trưa đi mua ba hộp cơm, hai hộp mời chú thím và một hộp phần tôi. Vào mùa đông, tôi còn có thêm việc nữa là nhóm lò. Lò để ở gian ngoài, có lắp mấy ống dẫn hơi vào phòng mổ bên trong cho ấm.

Hôm ấy tôi vừa nhóm lò xong thì thấy con chó mực quắp đuôi, trên lưng đầy tuyết đi qua. Nó đi rất cẩn thận như sợ đánh rơi tuyết trên lưng. Tôi vội đứng lên, lấy khăn lau cửa kính để nhìn cho rõ con chó, thì thấy một người thiếu nữ dỏng cao từ phía sông Mã Tang đi tới. Tôi nhận ra ngay đó là Hỉ Hỉ, một bạn học gái của tôi. Cô là con gái bà Mạnh. Nhà bà ở ngay mặt phố, mở quán lẩu đầu cá, nên người trong thị trấn gọi bà là Mạnh đầu cá, cô con gái cũng được gọi bằng Tiểu Mạnh đầu cá. Cô cao như mẹ nhưng thon thả hơn nhiều, cô có đôi môi đầy đặn, tươi rói, hơi cong cong, trông thật kiêu ngạo mà cũng thật nghịch ngợm. Tên cô là Mạnh Hỉ Hỉ.

Hồi tôi còn chơi với mấy đứa càn quấy, tôi có đến ăn lẩu đầu cá ở hàng bà Mạnh, nhưng mỗi khi tôi trông thấy Mạnh Hỉ Hỉ từ xa là lòng tôi lại đau nhói. Cô đang bị đám bạn mất dạy của tôi vây quanh, chúng động chạm chân tay vào thân hình xinh đẹp của cô mà cô chẳng hề bực tức. Sau đó tôi thường tìm cớ gây sự, đánh nhau với bọn chúng, và mặc dù chúng còn nhẹ tay nhưng đã đủ làm tôi xưng vếu mặt mũi. Một lần tôi lấy lá bạc hà che cái mũi bị sưng tím từ bờ sông đi về thì vừa hay gặp Hỉ Hỉ. Tay cô dương chiếc dù màu sáng, trên người mặc áo mỏng tang như cánh ve, bên dưới là chiếc váy da ngắn cũn, tay bôi móng đỏ chót, móng chân cũng đỏ như vậy, cổ tay đeo dây chuyền vàng, cổ chân cũng đeo dây chuyền vàng, rõ ra vẻ của loại “bán cái ấy”. Cô mỉm cười hỏi tôi, hàm răng như trắng bóng hơn: – Sao bạn lại ra nông nỗi này?

Tôi nhổ một bãi nước bọt xuống đất trước chân cô, quay người đi luôn. Trực giác cho tôi biết Hỉ Hỉ còn đứng đó nhìn theo nhưng tôi không ngoảnh đầu lại, tôi không hiểu vì sao nước mắt đã lưng tròng…

Lúc này tôi lại nhớ đến cha tôi. Khi ông nghe người ta bàn tán về chuyện phát tài của gia đình cô, cha tôi nói: “Phải tích đức cho cái mồm chứ! Người ta mẹ goá, con côi, mà mở được cửa hàng lớn. Các người không thích người ta phát tài, thế người ta chống gậy đi ăn mày thì các người mới hả lòng hả dạ hay sao?”.

Tôi biết cha tôi nói đúng nhưng hễ cứ nghĩ tới cái dáng phong lưu của Hỉ Hỉ thì trong lòng tôi lại như có lửa đốt. Tôi thường vén đùi tự chửi rủa: “Hỉ Hỉ là vợ, là chị của mày à? Đã chẳng phải vợ, chẳng phải chị em, mày có tư cách gì để quản người ta?”. Sau khi học việc với chú, tôi không nghĩ nhiều đến cô nữa. Có nghĩ đến chỉ hơi buồn chứ không còn cảm giác muốn chết như trước.

° ° °

Nhìn Hỉ Hỉ từ phía sông Mã Tang thong thả bước tới thì tôi cảm thấy có chuyện lạ. Trước hết là cô xuất hiện ở chỗ không cần xuất hiện – cửa hàng lẩu cá của nhà cô cách phòng khám bệnh của chú tôi rất xa, không cần tới rửa cá ở con sông trước cửa phòng khám bệnh, hai là tôi vừa nghĩ tới Hỉ Hỉ thì cô đi tới. Tôi không thể xác định cô đi đâu. Ở đầu đằng đông thị trấn mới mở một khách sạn tắm nước nóng. Người đến khám bệnh nói nơi ấy rất tập nập, nhiều đại gia các tỉnh khác đến đấy thả hồn, lẽ nào Hỉ Hỉ cũng đến đấy “làm ăn” với các đại gia? Tôi thấy tim đau nhói. Hỉ Hỉ đang đi đến gần hơn, tôi mong chỉ nháy mắt cô sẽ đi qua phòng khám bệnh. Tôi biết khi tôi nhìn bóng dáng cô mờ dần trong tuyết bay, tôi sẽ càng đau khổ hơn nữa, song tôi vẫn muốn cô đừng gõ cửa phòng khám rồi bước vào. Tôi đang nghĩ ngợi lung tung đến ứa nước mắt, cô đã đến trước cửa phòng khám. Một phút, hai phút rồi ba phút… Trời ơi, thế ra cô dừng lại ở trước cửa phòng khám hay sao? Nghe thấy tiếng gõ cửa khe khẽ, tôi nhảy bổ ra cửa, giật mạnh. Một luồng khí lạnh tươi mới ùa vào mang theo cả mùi nước hoa của cô – thứ nước hoa hồi còn học chung lớp, đã quen thuộc với tôi.
– Bác sĩ Quản có nhà không? – Cô gật đầu với tôi, dịu dàng hỏi.
– Không… nhưng chú tôi về ngay bây giờ.
Cô cụp ô, giẫm chân mấy cái cho tuyết rơi, cởi áo khoác da dê đắt tiền khoác vào tay rồi ôm chặt trước ngực như sợ ai lấy mất. Giọng cô khàn khàn, mặt cô trắng bệch, trán đẫm mồ hôi. Tôi vội hỏi:
– Bạn ốm đấy hả?
– Không sao…

Vừa lúc ấy, chú thím tôi bước vào. Hỉ Hỉ ôm áo lông đứng lên chào. Chú tôi chỉ “hừ” một tiếng, không thèm nhìn, còn thím tôi thì nhìn cô như thể mẹ chồng xoi mói, muốn tìm một lỗi gì đó ở con dâu. Bà mát mẻ:
– Thì ra là Mạnh tiểu thư, khách hiếm tới phòng này. Sao thế, cô đau ở đâu? Mời ngồi, mời ngồi!
Mạnh Hỉ Hỉ ngồi xuống ghế, ngượng ngịu, vẻ mặt càng khó coi hơn, trán vẫn đổ mồ hôi. Hai mép vốn cong lên, bây giờ quặp xuống, hình thành nếp nhăn, chạy mãi xuống tới cằm.
– Đau ở đâu – chú tôi hỏi.

Hỉ Hỉ nhích ghế ngồi đối diện với chú tôi, môi run run toan nói thì cửa bỗng bị tông bật ra, một bà béo mặc áo đen lăn vào như một quả bom:
– Mẹ tôi nguy lắm… Vừa nôn vừa đau bụng, ngất đi rồi, thế mà hai ông con trai cứ mặc kệ… Mời bác sĩ…
Lúc ấy ngoài đường có tiếng đàn bà kêu: “Đau quá, chết mất thôi…”, rồi thấy hai người đàn ông dùng cánh cửa cáng bệnh nhân vào. Chú tôi đưa tay nắn chỗ da bụng đã phát đen của bà ta, nói:
– Viêm ruột thừa có mủ rồi, phải mổ thôi.
– Hết bao nhiêu?
– Năm trăm!
– Xin bác sĩ chữa cho. Hai em trai tôi không trả thì tôi trả – Người đàn bà béo nói.
Lát sau trong phòng mổ có tiếng bệnh nhân kêu ré như lợn, rồi im lặng, chỉ có tiếng dao kéo va vào nhau lanh canh. Tôi biết chú tôi đang căng thẳng thần kinh, tập trung vào ca mổ.

Ởngoài này, mồ hôi trên trán Hỉ Hỉ chảy thành dòng, vẻ mặt tỏ ra đau đớn. Cô vẫn ngồi thẳng, chỉ có hai tay không ngừng động đậy, lúc nắm chặt vạt áo lông, lúc buông ra. Tôi quan tâm hỏi:
– Bạn đau lắm à?
Cô gật đầu rồi lại lắc. Mắt cô đẫm nước mắt khiến tôi cũng ứa lệ theo. Chợt cô run run nói:
– Nhờ bạn hé cửa… hé cửa giùm…
Tôi giật cửa, hoa tuyết ùa vào, mấy người nhà bệnh nhân viêm ruột thừa kêu ầm lên.

Sau này nghĩ lại, tôi bảo đúng là có số. Khi chú tôi mở cửa phòng mổ, vứt chuẩn xác đôi găng tay vấy máu vào bồn nước, bảo người nhà bệnh nhân cáng bà ta về thì một người đàn ông nữa như con nhặng mất đầu xô cửa xông vào. Hai tay ông bưng lấy mặt. Máu rỉ qua kẽ tay nhưng tôi cũng nhận ra là Mã Khuê, người chuyên nghiệp làm pháo hoa ở đầu trấn đằng tây.
– Xui xẻo quá, định nhân ngày tuyết rơi thử làm pháo nổ đôi, không ngờ… Bác sĩ ơi, cứu tôi với…
– Đáng đời! – Chú tôi bực mình nói – Sao nó không nổ cho đứt luôn đầu ông đi?
– Cứu tôi với… Tôi còn mẹ già tám mươi tuổi… – Mã Khuê kêu khóc.

Thím tôi dìu Mã Khuê vào phòng mổ, chú tôi cũng bỏ mặc Hỉ Hỉ ngồi đấy, không thèm gật đầu với cô một cái. Tôi rất không bằng lòng với chú, cảm thấy ông cố tình bỏ rơi Hỉ Hỉ. Dựa vào tay nghề và kinh nghiệm, chú có thể chẩn đoán bệnh cho Hỉ Hỉ xen giữa hai ca mổ ấy.

Có lẽ Hỉ Hỉ nhận ra vẻ bất mãn của tôi nên khi tôi lấy làm tiếc nhìn cô thì cô khe khẽ lắc đầu. Trong phòng mổ lại vang lên tiếng kêu gào và tiếng quát mắng. Đã gần mười hai giờ trưa, đến giờ tôi đi mua cơm hộp, nhưng tôi không thấy đói, chỉ thấy ruột rối như canh hẹ. Tôi hỏi Hỉ Hỉ: “Tôi đi mua cơm cho bạn ăn nhé?”.

Cô nhè nhẹ lắc đầu. Tôi thây lúc này trán cô không túa mồ hôi nữa nhưng mặt đã chuyển sang màu nghệ, môi đã tím tái, cả đôi mắt vốn long lanh của cô cũng phủ một lớp mây đen. Trong ký ức của tôi, cô luôn sống động, tươi cười hớn hở, tiếng nói trong trẻo, tiếng cười ròn rã, còn bây giờ…, chỉ cách hôm tôi nhổ nước bọt trước chân cô chưa tới nửa năm.

Không biết tuyết bên ngoài ngừng rơi từ lúc nào, gió cũng dịu đi. Một tia nắng ló ra khỏi đám mây đen, đám tuyết phủ đầy mặt đất phản xạ lại màu sáng trắng. Tôi bảo Hỉ Hỉ: “Tuyết ngừng rơi, nắng lên rồi kìa!”.

Cô không gật đầu mà cũng không lắc, càng không đáp lời tôi. Bỗng dưng tôi phát hiện, chỉ trong giây phút thôi, mặt cô trắng bệch ra như sáp. Mi mắt cũng sụp xuống, lông mi dài dường như chạm cả vào da dưới mắt. Tôi giật nẩy người, lớn tiếng gọi tên cô: “Hỉ Hỉ!”.
Cô không có phản ứng gì, tôi chồm tới lay vai cô. Dường như cô thở hắt ra, đầu bỗng ngật sang một bên.
– Chú ơi! – Tôi đập cửa phòng mổ – Chú ơi!
– Làm gì mà kêu toáng lên thế?
– Hình như Mạnh Hỉ Hỉ chết… chết rồi!

Chú tôi nhanh nhẹn không ngờ, nhào ra. Chú tiêm thuốc trợ tim, chú nắm tay lại ấn mạnh xuống vùng tim, chú giật bóng đèn đi, lấy đầu dây điện gí vào vùng tim của Hỉ Hỉ rồi mặt đầy mồ hôi, chú thất vọng đứng lên.
Đồng tử của Hỉ Hỉ đã dãn.

Thím tôi hấp tấp nói:
– Mình chẳng có trách nhiệm gì cả!
Chú tôi lườm thím một cái, nói:
– Thôi câm mẹ mồm đi!

Dịch Giả: Phạm Tú Châu
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri May 11, 2018 12:16 am



Vì một bông hồng
Pearl S. Buck
(Nobel 1938)


Người đàn ông cáu kỉnh nhìn đám đông tụ tập trên con đường làng trước nhà anh. Họ là những người láng giềng, độ bốn mươi người, vừa đàn ông đàn bà, trịnh trọng lắng nghe hai vợ chồng anh cãi lộn. Trẻ con mình trần dưới sức nóng mùa hè chen qua chân người lớn để chui vào giữa nơi hai vợ chồng anh đang đứng để nghe thấy tất cả không sót một tí gì.

Người đàn ông không nhìn vợ đang khóc. Anh nghiêng đầu về một bên với nỗi bực dọc và trông thấy con của anh trong đám đông trẻ nhỏ vừa chen vào giữa. Đứa con của anh độ tám hay chín tuổi. Rồi hai đứa em của nó cũng bắt chước đi theo để xem cãi lộn. Khi lọt vào giữa, ba đứa trẻ ngơ ngác nhìn cha mẹ chúng.
Bỗng người đàn ông không chịu đựng được.
Trong mấy ngày qua, anh đã bị bắt buộc phải nghe những tiếng khóc, những tiếng cằn nhằn, những lời bóng gió xa xôi. Anh gầm lên một tiếng, nhào tới chụp thằng con thứ ba, vừa tát vừa hét.
- Vô trong nhà, đồ chó!
Cậu bé ré lên khóc, đưa tay lên xoa chiếc đầu trọc, đứng ỳ ra đó tiếp tục khóc, tin chắc rằng là đám đông sẽ có cảm tình với nó.
Đang khóc thầm, người vợ liền hét to lên, hết nhìn người này đến nhìn người kia để phân bua
- Đó bà con thấy không, ngày nay chồng tôi thay đổi tánh tình như vậy đó.

Đám đông im lặng trố mắt nhìn người đàn ông. Họ đã nghe hết tất cả từ lời tố cáo của người vợ đến câu trả lời của người chồng và sự im lặng của hai vợ chồng. Đám đông không hài lòng về thái độ của người chồng. Chính người đàn ông cũng nhận thấy điều đó. Y nhìn xuống hai bàn chân chai cứng, cho ngón cái quẹt tới quẹt lui trên mặt đất. Bụi đất khiến anh nhớ đến cánh đồng khô hạn đang chờ anh tưới nước. Anh lẩm bẩm:
- Mình còn biết bao nhiêu công việc cần phải làm, nhưng mình bị kẹt ở đây phí cả một buổi chiều.

Ý nghĩ đó sục sôi trong lòng anh trong một lúc, bỗng mặt anh đỏ bừng lên và mạch máu căng lên đen sậm trên thái dương. Anh ngẩng đầu lên nhìn vợ với vẻ giận dữ, quát to:
- Đồ chó. Mày muốn gì chớ? Nói trắng cho tao biết rồi để cho tao ra đồng? Ở đây riết, làm sao tao kiếm tiền nuôi hết cả đám chúng bây!
Người vợ lại rên rỉ:
- Đó, bà con thấy ngày nay nó biến đổi như thế nào. Nó nói chuyện với tôi như vậy đó. Cách đây hai tháng, nó là ngươi đàn ông hiền lành nhứt. Các chị em thường nghe tôi cám ơn trời Phật đã ban cho tôi một người chồng gương mẫu. Luôn luôn kiếm được đồng nào, nó đưa hết cho tôi đồng đó rồi nó xin tiền tôi đi hớt tóc trước ngày có tiệc tùng, hoặc đánh bài, hoặc mua thuốc hút như một đứa con nít. Và tôi rất vui vẻ cho nó những đòi hỏi đó. Còn bây giờ thì khác. Trong hai tháng nay, nó không đưa cho tôi đồng xu nào, mặc dầu nó bán gạo rất được giá mà nó cũng không cho tôi biết là nó thu được bao nhiêu.
Người vợ khóc to lên, gương mặt nhăn nheo nhỏ bé đen xạm đầm đìa nước mắt. Chị kéo chiếc khăn choàng trước ngực lên che đầu, tiếp tục khóc.

Đám đông chung quanh vẫn im lặng và mấy đứa bé mở tròn xoe đôi mắt ra nhìn. Hai đứa nhỏ của người đàn ông đến sát bên mẹ, úp mặt vào chiếc quần dài xanh rộng ống của mẹ chúng, òa lên khóc nức nở.
Trong không khí im lặng hòa tiếng khóc đó, người đàn ông vô tình liếc về một cánh cửa ở bên đường.
Một người con gái mặc áo dài xanh, như các phụ nữ ở chợ thường mặc lúc bấy giờ, có mái tóc cắt ngắn sát gáy. Nàng có một gương mặt xinh xinh, tinh quái. Nàng hơi mỉm cười khi lơ đãng tựa người vào khuôn cửa lắng nghe cuộc cãi vã. Khi bắt gặp cái nhìn trộm của người đàn ông, nàng lấy chiếc lược trên mái tóc chải lên mớ tóc xòa xuống trán, chấm mi lông mày vẽ đậm. Nhưng người đàn ông cúi mặt nhìn xuống. Mặt y trở nên tái hơn. Y nói với giọng nghẹn lại:
- Tao không hiểu tại sao lúc nào mày cũng đòi tiền. Trong nhà có gạo, có bột, có dầu, ngoài vườn có cải bắp...

Người vợ kéo chiếc khăn trên mặt xuống, ngả về phía người chồng, hai mắt ráo nước mắt vì cơn giận bốc lên.
Chị chống hai bàn tay nhăn nheo lên hai bên hông ốm teo, ngả thân hình gầy gò tới trước, hét the thé:
- Còn vấn đề mặc nữa chứ! Mấy đứa nhỏ không còn giày để mang. Bà con ơi, ngó tôi mà xem. Ngó chiếc áo chấm vá mà tôi đang mặc đây. Chừng nào tôi mới có được một tấm áo mới? Cách đây ba năm chồng tôi đánh bài ăn mười đồng bạc. Nó mua cho tôi hai cây vải trắng, loại thật thô, thật rẻ. Tôi đem đi nhuộm xanh, cắt cho nó hai bộ quần áo, cho tôi một bộ, cho thằng lớn nhứt một bộ. Đến ngày nay tôi cũng còn mặc, chấm vá không biết bao nhiêu lần. Bây giờ thì không thể chấm được nữa.

Tôi cũng không có giày. Chân tôi bị bó làm sao tôi đi chân không như mấy đứa nhỏ. Sáng hôm nay, tôi hỏi xin một ít tiền mua giày. Nó nói thế nào bà con có biết không? Nó chỉ chửi bới chớ không cho gì. Nó còn giận hờn không chịu về nhà hồi trưa này. Nó vô quán ăn uống trong khi bỏ phí bữa cơm tôi dọn cho nó ở nhà. Vậy mà nó nói nó không có tiền!
Cơn bực khiến chị òa ra khóc nữa.
- Đâu phải tôi đòi tiền để mua sắm áo dài như các cô các bà mặc trong những ngày này. Tôi biết là nó có tiền để mua áo dài cho một người đàn bà nào đó, chớ không phài cho tôi.
Lúc bấy giờ gương mặt người đàn ông có vẻ ghê gớm. Anh nhảy tới đưa cánh tay lên, toan đấm người vợ, nhưng từ trong đám đông nhiều người bước ra bắt cánh tay của y lại. Vài người đàn bà cũng kéo người vợ ra.
Một người đàn ông ôn tồn nói:
- Nên nhớ người này là vợ anh và là mẹ của mấy đứa con anh.
Người vợ được dịp rên rỉ:
- Tôi đã sanh cho nó mấy đứa con trai.

Ngay lúc đó có tiếng dịu dàng vang lên, tiếng của một bà lão chống gậy đứng bên ngoài đám đông.
Bà lão nói:
- Hai đứa bây không còn trẻ dại. Này Lý, mày đã bốn mươi lăm tuổi rồi. Tao biết rõ vì lúc mẹ mày sanh mày, có tao ở đó. Vợ mày năm nay cũng bốn mươi tư.
Tao biết rõ vì tao có đi dự đám cưới và rước dâu. Hai đứa bây đã ăn ở với nhau hăm tám năm. Con vợ mày sanh mười hai lần, nhưng chỉ còn có bảy đứa.
Thằng trưởng nam của mày, nếu còn sống cũng được hăm bảy tuổi. Và bây cũng có thể là ông nội, bà nội. Đứa con nhỏ nhứt của bây mới lên ba. Hãy nghĩ đến những điều đó và những năm bây sống chung với nhau mà nên giải hòa ngay bây giờ đi.
Bà lão là người lớn tuổi nhứt trong ấp và là mẹ của người giàu nhứt trong làng. Ai cũng kính trọng và nghe lời bà.
Sau khi bà nói dứt lời, người vợ quay về phía bà, nói:
- Bà cụ dư biết tôi thường khen chồng tôi là người hiền lành nhứt, tử tế nhứt. Nhưng cách đây hai tháng, nó vụt đổi tánh.

Chị đảo mắt nhìn ông chồng. Đám đông cũng chăm chú nhìn y.
Người đàn ông lại cúi gầm đầu xuống, cổ y dần dần đỏ.
Người vợ nói tiếp:
- Bà cụ xem kìa. Nó là người hiền lành mà bây giờ nó quạu như chó. Hễ ra ngoài thì nó cười cợt vui vẻ với mọi người, nhưng về nhà thì nó quậm lại, nín thinh. Không một lời nào vui tươi, dễ chịu. Hễ mở miệng thì chê tôi thông biết chải tóc, áo không được sạch hoặc tìm chuyện này chuyện kia để rầy. Mà tôi thì vỏn vẹn có chiếc áo này. Làm sao tôi có thể sạch được luôn luôn chớ? Còn công việc trong nhà, còn mấy đứa nhỏ, rồi còn công việc ngoài đồng. Làm sao tôi có thể ngồi không đánh phấn, xức dầu như một vài người đàn bà khác!

Người chồng không thể chịu đựng được nữa. Anh ngẩng đầu lên, gắt:
- Tao hỏi mày, mày muốn cái gì? Chuyện không đáng mà mày làm rùm beng lên. Mày muốn cái gì chớ?
Người vợ nóng nảy lặp lại:
- Tao muốn cái gì hả? Tao chỉ muốn có một điều. Tao muốn mày ăn ở với tao như trước đây hai tháng. Tao chỉ muốn có bao nhiêu đó thôi.

Đám đông dường như không còn ở đó nữa. Chỉ còn có hai vợ chồng đang sôi nổi gây gổ với nhau, bất chấp mọi người chung quanh.
Chị đưa hai bàn tay chai cứng với móng tay đen kêu lên:
- Tôi chỉ muốn được như ngày trước...
Đám đông thở dài, khó chịu.
Người đàn ông liếm môi hai ba lần thật nhanh và từ mái tóc đen hai hàng mồ hôi chảy dài xuống má. Anh lại liếc về phía cánh cửa, nơi bóng dáng thiếu nữ mặc áo xanh nhạt tựa người trong ánh chiều tà. Anh không nhìn lên gương mặt của nàng. Nhưng anh biết thật rõ gương mặt của nàng như thế nào. Anh biết rõ làn da trắng xanh, đôi môi đầy đỏ thắm, luôn luôn mỉm cười, đôi mắt đen không hề biết sợ, không hề ngó xuống hay quay đi khi anh nhìn nàng. Chính cách nhìn của nàng đã làm cho anh đắm say mỗi khi đi ngang qua. Anh thường đi ngang qua để tìm cái nhìn đó mặc dầu anh không hề nói một lời nào v
i nàng.
Làm sao anh có thể nói được khi nàng là cháu của người giàu nhứt trong ấp, còn anh thì chỉ là một gã nông dân không có một mảnh đất cặm dùi. Trong hai tháng qua, anh đã phải dành dụm để sắm một chiếc áo xanh như nhiều người thường mặc và một vớ trắng với một đôi giày trắng sản xuất ở chợ.

Khi nghĩ đến số tiền dành dụm khó nhọc đó, anh đâm bực với bà vợ hay khóc lóc cằn nhằn. Trong bao nhiêu năm qua, anh là người chồng trung thành với vợ. Anh đã bốn mươi lăm tuổi rồi mà chưa hề biết hưởng lạc thú ở đời. Chưa bao giờ anh bước vào những nơi buôn hương bán phấn mà một kẻ nghèo cũng có thể vào đó mua vui với một đồng bạc thôi. Ngày lại ngày, anh chăm lo cày cấy cho vợ, cho con. Và đến nay khi đã bốn mươi lăm tuổi đời, anh chỉ có mỗi một chiếc áo cũ kỹ dính trong người, không còn một món gì khác, trừ những bộ áo rách chấm vá để mặc khi làm lụng.

Nhưng có một điều làm anh thắc mắc. Đôi mắt mở to và mơn trớn của người thiếu nữ kia chỉ dành riêng cho anh hay cho tất cả mọi người đàn ông? Chính điều đó đã làm anh bâng khuâng cả ngày lẫn đêm trong thời gian qua.
Mỗi khi đi ngang qua cửa nhà nàng, anh thường liếc nhìn nàng và lần nào nàng cũng nhìn anh, nhìn thật tự do và táo bạo. Anh có nghe người ta nói với nhau là ngày nay đàn bà thay đổi ghê lắm. Họ không sợ đàn ông, muốn ai thì chọn người đó, tự do quyến rũ...
Anh lại liếm môi, mồ hôi chảy dài xuống cổ. Làm sao biết được là nàng nhìn riêng một mình anh hay là nhìn tất cả mọi người? Nhứt định anh phải tìm hiểu sự thật.

Người vợ lảm nhảm từng cơn:
- Tôi muốn hai vợ chồng ăn ở với nhau như trước...
Chị vét một góc khăn lên lau nước mắt. Chị hết giận, trong lòng chỉ còn lại sự lo ngại.
Người chồng vụt nhìn lên cánh cửa mở rộng, anh muốn biết sự thật.
Khi đám đông thấy anh nhìn lên, họ cũng ngẩng đầu lên nhìn theo.
Cô gái đứng ngay khung cửa bận lo trang điểm. Nàng cầm chiếc lược xương trắng, đưa cao cánh tay xinh đẹp lên, nàng chải mớ tóc đen óng ánh về phía sau vành tai nhỏ bé, trắng xanh, có đeo hai hoa tai vàng. Mấy người đàn bà nhìn cô gái với vẻ thù nghịch. “Đàn bà con gái mà mặc áo dài như đàn ông”! Vài người đàn bà vụt lên tiếng bình phẩm.
Nhưng đám đàn ông nhìn cô gái, im lặng và trầm trồ.

Bấy giờ bà cụ đứng bên ngoài đám đông cũng tò mò nhìn theo. Cô gái mà mọi người đang nhìn, chính là cháu kêu bà bằng bà cố. Cô bé này ở chợ và được cha mẹ nuông chiều. Đã nhiều lần bà đã rầy người con trai vì quá nuông chiều để con bé hư hỏng không xứng đáng cho đàn ông đi nói. Bà thương hại cho người chồng tương lai của con bé. Hôm nay, bà cụ nhìn cô bé chăm chú hơn. Và, đây là lần đầu tiên bà cụ trông thấy gương mặt xinh xinh nhưng đầy vẻ tinh quái đang nhìn một người nào đó trong đám đông. Đôi má nhìn nheo đỏ rực lên, bà cụ nặng nề bước về phía cửa, nện mạnh đầu gậy xuống các tảng đá trên đường, ngó theo hướng cô bé đang nhìn. Cô bé đang phóng tầm mắt về phía chàng thanh niên la cà trước cửa.
Thoạt tiên, cậu này nhập vào đám đông để nghe cãi lộn. Nhưng sau đó, cậu quay lại nhìn cô gái. Đôi mắt cậu có vẻ ngốc nghếch và xấu hổ, một chút nước miếng chảy dài ở khóe miệng.

Bà cụ đập mạnh chiếc gậy lên đá. Bà biết cậu thanh niên đó. Hắn là con của ông chủ quán, không có một tấc đất và chỉ là một hạng làm công lặt vặt.
Bà kêu kêu giọng the thé đầy vẻ giận dữ và oai quyền khiến cô bé quay lại.
- Đi vô trong nhà? Đồ hư thân mất nết.
Cô bé bĩu môi chưa chịu vô.
Bà cụ lại hét lên, quơ gậy một cách dễ sợ:
- Tao bảo đi vô trong nhà! Nghe chưa?
Cô gái bước thật nhanh vào trong. Nhưng bàn tay của nàng đặt trên đà ngang cánh cửa, bàn tay thon nhỏ, trắng xanh với chiếc nhẫn vàng ở áp ngón út. Bà cụ tiến tới, quất mạnh vào bàn tay đó. Cô gái đành rút tay vào.

Bà cụ kêu lên:
- Tôi chưa hề thấy một con bé như thế. Đứng trước cửa nhìn bất cứ người đàn ông nào đi qua trước nhà. Mà nó đã có người đi hỏi rồi chớ đâu phải còn con nít! Người ta bảo tất cả con gái bây giờ đều như thế, thật tôi không biết đâu mà rờ!
Đám đông không còn háo hức, tò mò nữa. Người vợ khẽ cười, có hơi thấy dễ chịu. Mấy người đàn bà cũng bớt cáu kỉnh, còn mấy người đàn ông nhìn lên trời hoặc nhìn ra đồng, hoặc nhổ nước miếng xuống đất.
Một đứa trẻ khóc, đám đông tản ra, sẵn sàng để giải tán. Chỉ có cậu thanh niên con ông chủ quán là còn tần ngần đứng đó, nhìn về cánh cửa không người, như bị thôi miên.
Nhưng không phải chỉ có một mình cậu đã thấy ánh mắt rực rỡ của cô gái. Người đàn ông cũng đã trông thấy, và người vợ của y cũng đã trông thấy. Mặt người chồng không còn một chút máu. Gương mặt đó trở nên vàng như một chiếc lá khô. Anh đứng nhìn xuống đất. Bây giờ anh đã biết.

Nhưng bà cụ vẫn không chịu thôi. Bà chợt hiểu tất cả. Bà quay trở lại, quơ chiếc gậy về phía người đàn ông:
- Cậu Lý. Cậu là một thằng điên. Hãy ra đồng, nhưng trước hết phải đưa số tiên cậu cất giấu trong mình cho vợ cậu.

Từ từ, người chồng moi trong thắt lưng, lấy ra bốn đồng bạc. Anh không quay mặt lại, cầm tiền trong bàn tay đưa ra xa, cho đến khi các ngón tay của anh chạm vào lòng bàn tay khô cứng của vợ. Anh buông rơi mấy đồng bạc vào đó và cũng buông rơi tất cả mộng đẹp của anh.
Anh vươn người lên, nhìn đám đông đang giải tán, gương mặt hơi tái nhưng thanh thản. Anh nói với giọng hơi gay gắt như thường lệ:
- Tôi không hiểu tại sao vợ tôi lại kiếm chuyện gây gổ như thế này. Nó chỉ cần bảo nó cần tiền để làm gì. Và như nó đã nói, bao giờ tôi cũng đưa hết tất cả cho nó.

Anh cúi xuống lượm chiếc cuốc giẫy cỏ mà anh đã ném khi có người gọi trước đó, vác lên vai, và không nhìn ra sau, trở lại cuộc đời bình thường của anh.
.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Thu Jul 12, 2018 6:26 pm


Cao Hành Kiện, nhà văn Trung Hoa lưu vong và công dân Pháp,
được trao giải Nobel văn chương năm 2000.

Kinh Thánh Của Một Con Người

Cao Hành Kiện (Nobel 2000)


Hắn cần có một tổ ấm, cần một nơi ẩn náu, để trốn tránh người khác, một chốn riêng tư cho một mình hắn, không bị ai dòm ngó.

Hắn cần có được một căn phòng cách âm, đóng cửa phòng lại có thể nói to mà không ai nghe thấy, muốn nói gì thì nói, một vũ trụ riêng trong đó hắn có thể nghĩ ra lời mà không cần hạ giọng. Hắn không thể náu mình trong cái kén như một con nhộng âm thầm nữa rồi, hắn cần được sống, được cảm nhận, khi làm tình với một người đàn bà, hắn muốn rên rỉ hay la to lên, cho đến khi kiệt lực. Phen này hắn phải đấu tranh để giành lấy một không gian sinh tồn, không thể nào chịu đựng được cái ngột ngạt của những năm qua, và cái ước muốn vừa khơi dậy này nhất định phải được thoả mãn.

Căn phòng nhỏ hắn ở hồi đó chỉ vừa vặn chiếc giường một người, cái bàn và cái kệ sách. Mùa đông, để thêm cái lò và ống thông hơi, có thêm một người trong phòng là hết chỗ cục cựa. Bên kia tấm ván tường là hàng xóm, hắn nghe rõ mồn một, bất luận hai vợ chồng công nhân tí tởn ban đêm hay đứa bé tè tè. Cái sân có vòi nước và ống thoát nước, hắn phải dùng chung với hai gia đình. Mỗi lần cô bé đến thăm hắn là bị hàng xóm theo dõi, hai người uống trà hay trò chuyện hắn cũng phải để ngỏ cửa. Vợ hắn lấy hắn hơn mười năm trước song hai người chưa bao giờ ăn ở với nhau, ả đã xin đảng uỷ Hội nhà văn mở cuộc điều tra về hắn, và đảng uỷ đã liên hệ với uỷ ban khu phố. Đảng xía vào mọi việc, tư tưởng, sáng tác của hắn cũng như đời tư.

Lần đầu tiên đến thăm hắn, cô bé mặc bộ quân phục rộng thùng thình có gắn huy hiệu đỏ. Mặt cũng đỏ, cô ta nói đọc tiểu thuyết của hắn rất cảm động. Hắn vốn ngại những cô bộ đội, nhưng thấy cô mặt non choẹt, bầu bầu, hắn hỏi cô bao nhiêu tuổi. Cô ta tự giới thiệu, nói đã học trường y tế quân đội và hiện đang thực tập một năm ở bệnh viện quân y. Năm ấy, cô mới mười bảy. Tuổi này là tuổi các cô hay yêu, hắn tự nhủ.

Lúc hắn ta hôn cô lần đầu tiên, sau khi đã cẩn thận khép cửa phòng lại, thì toà án vẫn chưa xong thủ tục li dị. Hắn nín thở vuốt ve cô, trong tai còn nghe thấy hàng xóm mở nước máy giặt quần áo hay rửa rau gì đó, rồi tiếng đổ nước bẩn. Hắn nghe cả từng bước đi của họ.

Rõ ràng là hắn phải có cho được một nơi chốn riêng, cho dù chỉ là để có thể ôm một người đàn bà trong vòng tay. Chỉ cần một cái mái che mưa che gió, và bốn bức tường bao quanh, cách ly hắn với âm thanh bên ngoài. Chứ hắn không hề có ý định lấy vợ lần nữa. Cuộc hôn nhân kéo dài hơn mười năm do pháp luật bắt buộc như vậy quá đủ rồi. Hắn ngại phụ nữ lắm rồi, đặc biệt là các cô trẻ đẹp, tương lai đầy hứa hẹn, mà hắn có thể yêu mê yêu mệt. Đã mấy lần hắn bị phản bội và tố giác. Hồi còn ở đại học, hắn yêu một cô bạn cùng lớp. Khuôn mặt thon thon, giọng nói dịu dàng, cô gái dễ thương và cầu tiến ấy đã nộp một bản báo cáo tư tưởng cho bí thư đảng uỷ, ghi lại những lời hắn mỉa mai cuốn tiểu thuyết cách mạng Lời ca tuổi trẻ mà Đoàn thanh niên cộng sản bắt sinh viên phải đọc. Thật ra cô không hề có ý hại hắn, nhưng con gái là thế, càng yêu lại càng muốn giãi bày tâm sự với đảng, cũng như tín đồ muốn thố lộ mọi chuyện với cha cố. Thế là tổ đảng nhận định hắn có vấn đề tư tưởng. Chưa phải là trọng tội, hắn vẫn được trường cấp bằng tốt nghiệp tuy không được kết nạp đoàn. Với cô vợ thì nghiêm trọng hơn, ả mà có chứng cớ trong tay, thí dụ một trang bản thảo viết chui của hắn thôi, thì hồi đó cũng đủ để hắn bị quy là phần tử phản cách mạng. Ôi, đẹp làm sao những năm tháng cách mạng ấy, các cô lên cơn cách mạng tới mức gieo rắc kinh hoàng !

Một cô gái mặc quân phục như cô bé, làm sao hắn tin được. Cô ta đến xin hắn giúp ý kiến về văn học. Hắn nói hắn không thể dạy cô được và khuyên cô theo học lớp bổ túc ở đại học. Có đủ thứ lớp bổ túc học tối, chỉ cần đóng một số tiền nhỏ, hai năm sau là được cấp bằng hẳn hoi. Cô hỏi hắn nên đọc những cuốn nào. Hắn khuyên cô không nên đọc các giáo trình, bây giờ phần lớn thư viện đã mở cửa trở lại rồi, cô tha hồ đọc những cuốn trước đây bị cấm. Cô lại nói còn muốn tập viết văn, hắn khuyên cô đừng viết, chỉ tổ hại đến tiền đồ của cô, hắn lao đao nhiều hắn biết. Một cô gái bình thường và trong trắng như cô, mang quân phục, lại có nghề y trong tay, tiền đồ coi như đã vạch sẵn. Cô trả lời em không bình thường không trong trắng như anh tưởng đâu. Cô muốn tìm hiểu thêm nhiều chuyện, muốn hiểu đời, điều đó đâu có mâu thuẫn gì với bộ quân phục và nghề y.

Không phải hắn không ưng cô, nhưng hắn không muốn lôi thôi, muốn làm tình thì chọn cô gái nào từng trải là yên chuyện, khỏi mất công dạy bảo việc đời. Vả lại, đời là cái gì, chỉ có trời biết.

Làm sao mà hắn có thể giảng cho cô hiểu thế nào là cuộc đời, còn thế nào là văn học thì lại càng gay go hơn nữa, cũng như hắn không tài nào giải thích được cho bí thư đảng đoàn Hội nhà văn, cơ quan chủ quản của hắn, hiểu rằng cái mà hắn gọi là văn học thì không cần ai lãnh đạo hay cho phép cả. Bởi vậy hắn mới lao đao khốn đốn mãi.

Trước bộ quân phục của cô gái dễ thương và tươi mát chừng ấy, hắn chẳng hề lung lay, mơ tưởng. Hắn không thể tưởng tượng có ngày hắn sẽ chạm vào người cô, hay có ngày hai người sẽ ngủ với nhau. Hôm cô ta đến trả mấy cuốn sách mượn trên kệ, mặt cô đỏ ửng, thở dốc bước vào nhà. Hắn pha trà như phải thù tiếp tổng biên tập một tạp chí. Hắn mời cô ngồi xuống chiếc ghế trước bàn giấy, bên cạnh cửa vào, còn hắn ngồi trên cái ghế phía sau bàn. Trong phòng còn có một cái ghế bành thô mộc. Lúc ấy đã vào đông, trong phòng đã đặt lò than. Để cô ngồi trên ghế bành thì cái ống thông khói sẽ che khuất khuôn mặt cô, khó nói chuyện. Thành thử họ ngồi hai bên cái bàn. Hai bàn tay cô gái mân mê mấy cuốn tiểu thuyết mang trả còn đặt trên mặt bàn, những cuốn truyện trước đây bị cấm vì thuộc loại phản động đồi truỵ. Nghĩa là cô đã nếm trái cấm, ít ra cô lúng túng vì biết nội dung sách là như thế nào.

Hắn nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay mịn màng và dịu dàng đang gần kề, đang mơn trớn mấy cuốn sách. Thấy hắn nhìn, cô gái ngượng ngập rụt tay, giấu xuống gầm bàn, mặt đỏ như gấc. Hắn hỏi cô nghĩ sao về các nhân vật trong truyện, nhất là nhân vật nữ. Họ hành xử hoàn toàn không theo khuôn phép đạo lý của thời đại, lại càng không theo lời dạy của đảng. Hắn nói có lẽ đời là thế, trong cuộc đời, không có gì là phải chăng, là chừng mực. Giá như một ngày kia, cô tố cáo hắn, hoặc bị tổ chức đảng của cơ quan quân đội cật vấn về quan hệ với hắn, thì nói như hắn vừa nói cũng chẳng có gì đáng ngại. Hắn đã có kinh nghiệm cảnh giác rồi. Đời là thế mà !

Cô còn thêm Mao chủ tịch cũng khối vợ ra đấy. Lúc đó hắn mới dám ôm hôn. Cô gái nhắm mắt, mặc cho hắn vuốt ve tấm thân nhạy cảm dường như đang có điện, lọt thỏm trong bộ quân phục thùng thình. Cô hỏi mượn mấy cuốn truyện cùng loại. Cô nói muốn đọc đủ thứ, cô thấy chẳng có gì đáng sợ cả. Hắn nói một xã hội biến sách vở thành trái cấm mới là một xã hội đáng sợ. Trong cái gọi là Đại Cách mạng văn hoá mà người ta bảo là đã kết thúc, nhiều người đã bỏ mạng vì vậy đó. Cô nói cô biết chứ, cô đã thấy tận mắt người ta bị đánh cho đến chết, ruồi bâu trên xác chết đen máu của những người bị quy là phản cách mạng, chẳng ai dám nhận lãnh về chôn. Lúc đó cô còn nhỏ, giờ cô người lớn rồi, sao anh cứ như trẻ con.

Hắn hỏi thế nào là người lớn. Cô bảo hắn đừng quên là cô học y khoa, rồi cô cười, nhăn nhăn mặt. Rồi hắn cầm tay cô, hôn đôi môi lúc đầu mím chặt rồi từ từ mềm mở. Về sau, cô hay quay lại nhà hắn, trả sách và mượn sách, bao giờ cũng vào ngày chủ nhật, ở lại mỗi lần lâu hơn, có khi từ trưa đến chiều tối, nhưng phải bắt kịp chuyến xe buýt 8 giờ để về trại lính ở ngoại ô xa. Lúc ấy trời đã tối hẳn, trong sân không còn tiếng vòi nước, tiếng rửa rau, hàng xóm đã đóng cửa, hắn cũng đóng cửa và ôm chặt lấy cô. Cô không bao giờ cởi bộ quân phục, mắt cô luôn luôn canh chừng chiếc đồng hồ báo thức. Đến giờ chuyến xe buýt chót, cô hấp tấp cài hàng khuy áo vét.

Càng ngày hắn càng nóng ruột có được một nơi chốn để che chở cuộc sống riêng của mình. Khi hắn chật vật xin được giấy chứng chỉ li hôn, theo đúng quan niệm sinh hoạt chính thống của chính quyền, hắn tuyên bố muốn lập gia đình và nói điều kiện tiên quyết cô vợ tương lai đặt ra là hắn phải có nhà ở. Hắn đã có 20 năm thâm niên (tính cả những năm cải tạo ở nông thôn hồi Cách mạng văn hoá), theo chính sách phân phối nhà ở, lẽ ra hắn phải được cấp nhà từ lâu. Không biết bao nhiêu lần hắn làm ỏm chuyện với cán bộ văn phòng, cuối cùng họ phải cấp cho hắn một căn hộ nhỏ, trước khi hắn bị lãnh đạo đảng ở cấp trên Hội nhà văn quy kết. Thế là hắn dốc hết quĩ tiết kiệm, lại moi thêm được tiền ứng trước cho một cuốn sách chẳng biết rồi có được phép xuất bản hay không, thiết bị một chút tiện nghi cho căn hộ. Kết quả là rốt cuộc, hắn đã có được một tổ ấm.

Cô gái vừa bước chân vào nhà mới, hắn vừa khép cửa cài then thì cả hai đã phấn khích tột độ. Mấy bức tường hồi đó chưa chát xong vữa, sàn nhà đầy vôi là vôi. Giường cũng chưa có, thế là trên một tấm ni-lông lấm vôi, hắn đã cởi bộ quân phục quá khổ của cô, phô ra tấm thân con gái thon thả. Cô chỉ yêu cầu hắn đừng tra vào, nội quy bệnh viện quân y là hàng năm mọi người phải khám sức khoẻ, gái chưa chồng phải khám cả màng trinh. Trước khi nhập ngũ họ đều phải qua sát hạch chính trị và khám xét toàn thân bởi vì, ngoài công tác hàng ngày ở quân y viện, thỉnh thoảng họ còn phải thi hành nhiệm vụ quân sự, tháp tùng để chăm lo sức khoẻ cho các thủ trưởng trong những chuyến công tác. Họ không được phép lập gia đình trước tuổi 26, lấy ai cũng phải được sự chuẩn y của cấp trên. Cũng không có quyền từ nhiệm trước khi lấy chồng bởi vì, theo lời giải thích được phổ biến, có thể có những bí mật nhà nước mà họ biết được trong thời gian công tác.

Hắn đã làm đủ thứ với cô, có một điều là không tra vào. Hắn đã giữ đúng lời hứa với cô. Ít lâu sau, cô phải đi công tác với một tư lệnh quân đội ở biên giới Trung-Việt, hắn bặt tin.

Gần một năm sau, cũng vào mùa đông, cô đột nhiên xuất hiện trở lại. Bữa ấy hắn đến nhà bạn nhậu cho đến nửa đêm, vừa về tới nhà thì nghe thấy tiếng khe khẽ gõ cửa. Mặt đẫm nước mắt, cô nói đứng đợi hắn suốt sáu giờ ở ngoài kia, cóng lạnh mà không dám vào hành lang, sợ có người tọc mạch hỏi cô đợi ai. Cô phải đứng tạm trú dưới mái nhà kho, đợi mãi mới thấy nhà hắn lên đèn. Hắn vội vã đóng cửa, kéo màn. Hơi thở còn hổn hển, thân hình lọt thỏm trong bộ quân phục, cô nói: "Anh, anh yêu em đi".

Hắn đã yêu cô trên tấm thảm. Họ lăn đi lộn lại, không, họ lấp biển dời sông, trần trũi như những con cá, đúng hơn, như những con dã thú vật lộn cắn cấu nhau. Cô khóc nức nở, hắn nói cứ khóc đi em, ngoài kia không ai nghe thấy đâu. Và cô khóc thật to, rồi thét rồi gào. Hắn nói hắn là con lang con sói. Cô bảo không, anh là anh yêu của em. Hắn nói hắn muốn thành con sói, con dã thú tàn bạo và khát máu. Cô nói cô hiểu anh lắm, anh là anh của em, em không sợ, từ nay em là em của anh, em chỉ tiếc đã không hiến em cho anh từ trước… Em đừng nói vậy…, hắn nói.

Rồi cô nói chỉ mong cha mẹ tìm mọi cách cho cô thoát khỏi quân đội. Còn hắn trước đó ít lâu đã nhận được giấy mời xuất ngoại, mà bịn rịn chẳng muốn đi. Cô nói em sẽ đợi anh, em là người vợ bé bỏng của anh. Đến khi hắn có hộ chiếu và thị thực thì chính cô hối thúc hắn phải đi kẻo lại có lệnh hoãn. Hắn không ngờ họ sẽ mãi mãi xa nhau, hoặc giả hắn không muốn, không dám nghĩ tới điều ấy, tránh nhìn thấu tâm can mình.

Hắn không chịu cho cô ra sân bay, vả lại cô cũng bảo cô không thể xin nghỉ phép. Có muốn chăng nữa, thì đi chuyến xe buýt đầu tiên từ trại lính, đổi xe hai lần, cũng chẳng thể nào tới phi trường kịp giờ máy bay cất cánh.

Hắn chẳng bao giờ có thể ngờ có ngày bỏ nước ra đi, mãi tới lúc máy bay nổ máy rồi cất cánh khỏi phi đạo của sân bay Bắc Kinh, hắn mới ý thức có lẽ sẽ như vậy, hắn mới nghĩ rằng " có lẽ " hắn sẽ không bao giờ quay trở lại dải đất đang chạy dài bên kia khung cửa kính, dải đất hoàng thổ gọi là tổ quốc kia, nơi hắn đã ra đời, lớn lên, đã đi cải tạo, đã trưởng thành, đã khổ đau, mà không bao giờ nghĩ rằng hắn sẽ từ biệt. Vả chăng, hắn có tổ quốc đâu ? Cái vùng đất màu vàng mênh mông kia, nơi những dòng sông đóng băng chảy ngang kia, phải chăng là tổ quốc của hắn ? Câu hỏi ấy mãi về sau mới hiện lên trong đầu hắn, và cũng dần dà hắn mới tìm ra câu trả lời.

Hồi ấy, hắn chỉ muốn để mọi sự trôi qua, chỉ muốn hít thở tự do hơn, muốn thoát ra khỏi cái màn tối đã bao trùm lên quê hương và bản thân hắn. Phải mất gần một năm trời hắn mới xin được hộ chiếu, một năm chạy từ cơ quan này sang cơ quan nọ. Nào hắn có phải là một tên tội đồ, hắn là công dân đất nước này cơ mà. Không có lí gì mà người ta phủ nhận quyền xuất ngoại của hắn. Nhưng mỗi người có quy chế riêng, chế độ đãi ngộ riêng, người ta thiếu gì lí do để không cho anh đi.

Qua hải quan, người ta hỏi hắn mang gì trong va li. Hắn nói chẳng có gì là đồ quốc cấm, toàn vật dụng cá nhân. Hắn phải mở khoá.
– Cái gì trong này vậy?
– Nghiên mực. Mới nguyên mà.
Hắn muốn nói cái nghiên mực này không phải là cổ vật cấm xuất khẩu, nhưng nếu họ muốn ngăn không cho hắn đi thì thiếu gì cớ. Càng lúc hắn càng thấy căng thẳng. Đột nhiên một ý nghĩ loé trong đầu hắn : đây không phải là quê hương của hắn.

Cùng lúc ấy, dường như có tiếng gọi :
– Anh…
Hắn hít một hơi dài, cố gắng bình tĩnh trở lại.

Cuối cùng, họ để cho hắn qua. Hắn đóng chiếc va-li, đặt nó lên thảm lăn, khép túi xách tay rồi bước qua cổng dẫn vào hành lang lên tàu. Một lần nữa, hắn lại nghe thấy tiếng gọi, hình như có ai kêu tên hắn. Hắn tiếp tục bước, làm như không nghe thấy, nhưng vẫn quay đầu lại. Người lính hải quan vừa khám xét hành lí của hắn nhìn chăm chăm vào những người ngoại quốc đi sau hắn, nhưng không khám ai mà để cho họ qua hết.

Lúc ấy, hắn nghe tiếng gọi dài, giọng nữ réo tên hắn, âm thanh như vọng lên từ xa, bay vượt lên trên tiếng ồn ào của đám đông đứng ở phòng đợi. Hắn đưa mắt tìm nơi xuất phát tiếng gọi ở phía bên kia vách gỗ hàng rào hải quan, thấy thấp thoáng bóng người mặc áo măng-tô nhà binh, đầu đội cát-két, đứng dựa vào lan can cẩm thạch trắng trên lầu, nhưng không nhìn ra mặt.

Cái đêm hai người chia tay, cô ép người vào hắn, thầm thì: "Anh, anh đừng trở về làm gì". Phải chăng cô linh cảm? Hay cô đã nghĩ hộ hắn? Cô sáng suốt đoán trước ý hắn? Hắn lặng thinh, chưa dám quyết định. Chính cô đã gieo ý trong đầu hắn dù hắn không dám nhìn thẳng vấn đề. Hắn chưa sẵn sàng chế ngự tình cảm và dục vọng, hắn không thể bỏ cô.

Hi vọng không phải cô đang nhô người khỏi lan can, hắn quay đầu trở lại, tiến về cổng lên tàu. Ngọn đèn đỏ nhấp nháy trên bảng báo chuyến bay khởi hành. Hắn lại nghe tiếng gọi xé tai, kéo dài "Anh…". Chắc là cô. Hắn không ngoái cổ lại, bước thẳng qua cổng.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Fri Aug 24, 2018 12:06 am




BÓNG MA THÁNG TÁM
Gabriel García Márquez
(Nobel 1982)


Chúng tôi đến Arezzo trước buổi trưa một tí và mất hơn hai giờ để tìm tòa lâu đài thời Phục Hưng mà nhà văn Venezuela, Miguel Otero Silva đã mua lại, ở góc trữ tình của vùng quê xứ Toscane.

Đó là một ngày cháy bỏng, giục giã đầu tháng năm và không dễ tìm một người nào biết được một điều gì trong những đường phố đầy nghẹt du khách. Sau nhiều lần toan tính vô ích, chúng tôi đã trở lại xe và rời thành phố qua một con đường với một hàng cây bách chạy dọc hai bên nhưng không có một dấu hiệu chỉ dẫn nào; một người đàn bà luống tuổi đang đứng bán ngỗng đã chỉ cho chúng tôi lâu đài ấy nằm đúng chỗ nào. Trước khi nói lời từ biệt, bà còn hỏi chúng tôi có định ngủ lại nơi đó không; chúng tôi đáp lại chúng tôi chỉ đến đó để dùng buổi trưa, ý định ban đầu của chúng tôi là thế.
- "Ờ, thế thì tốt", bà ta nói, bởi vì căn nhà đó có ma đấy".
Vợ tôi và tôi đều không tin có chuyện ma cỏ hiện giữa ban ngày ban mặt đã cười sự cả tin của bà ta. Nhưng hai đứa con của chúng tôi, đứa lên chín, đứa lên bảy, vui mừng với ý tưởng sắp được gặp ma bằng xương bằng thịt.

Miguel Otero Silva, một chủ nhà tuyệt vời và là một kẻ sành ăn tinh tế cũng là một nhà văn tài ba, đang đợi chúng tôi đến với một bữa ăn trưa khó quên. Vì quá trễ, chúng tôi không còn thì giờ để đi xem bên trong tòa lâu đài trước khi ngồi xuống bàn ăn, nhưng chẳng thấy có điều gì đáng kinh hãi khi thoạt trông lâu đài đó và mọi e dè đều tan biến khi chúng tôi nhìn toàn cảnh thành phố từ trên sân thượng phủ đầy hoa, nơi chúng tôi dùng bữa trưa. Thật khó tin rằng đã có biết bao tài năng tồn tại lâu đài trong ký ức nhân loại đã được sinh ra trên ngọn đồi lô nhô những căn nhà đủ chỗ cho cả mười chín ngàn người cư ngụ đó. Tuy thế, Miguel Otero Silva, đã nhận xét với óc hóm hỉnh đặc biệt vùng Carribê của ông, là không có ai trong bọn họ là người lừng danh nhất sinh trưởng ở Arezzso.
- "Kẻ vĩ đại nhất" ông tuyên bố, "là Ludovico".

Chỉ thế thôi, không cần nói đến họ. Ludovico, một vị mạnh thường quân vĩ đại của nghệ thuật và của chiến chinh, đã xây dựng lâu đài này, lâu dài đã chứng kiến nỗi thống khổ vô biên mà Miguel đã kể về cuộc đời lạ lùng của người ấy suốt buổi ăn trưa. Ông kể cho chúng tôi nghe về quyền lực lớn lao của Ludovico, về mối tình sóng gió và về cái chết ghê rợn của ông ta. Ông kể cho chúng tôi nghe mọi việc diễn biến ra sao khi trong cơn cuồng điên của con tim tuyệt vọng, ông ấy đã cột chặt bà vợ trong chiếc giường còn nồng ấm dấu tích ái ân của hai vợ chồng, rồi thả mấy con chó săn dữ tợn ra cắn nát chính vợ mình thành từng mảnh vụn, máu thịt tả tơi. Ông khẳng định với chúng tôi, một cách rất nghiêm chỉnh, là sau nửa đêm, bóng ma của Ludovieo đi trong bóng tối của căn nhà, cố tìm sự thanh thản cho tâm hồn trong luyện ngục của Tình Yêu.

Lâu đài trông thật rộng lớn và mờ tối. Nhưng trong ánh sáng ban ngày, với cái dạ dày dầy ắp và một tấm lòng hả hê, thì câu chuyện của Miguel chỉ có vẻ như một trong những trò giải trí ông dùng để tiêu khiển cho những người khách của mình. Sau giấc ngủ trưa, chúng tôi tản bộ không hề có linh tính nào, qua tám mươi hai căn phòng đã trải bao đổi thay qua bao nhiêu đời chủ. Miguel đã canh tân toàn bộ tầng một và cho xây một phòng ngủ hiện đại với sàn bằng đá hoa cương, một phòng tắm hơi với trang cụ thể dục cũng như sân thượng phủ đầy hoa rực rỡ nơi chúng tôi vừa ngồi ăn trưa. Tầng hai, tầng được sử dụng nhiều nhất qua bao thế kỷ gồm những căn phòng giông giống nhau với đồ đạc được tích lũy qua nhiều thế kỷ, đã bị bỏ mặc cho số phận của chúng. Nhưng ở tầng trên cùng, chúng tôi gặp một căn phòng được giữ nguyên vẹn, gần như bị thời gian lãng quên không hề đặt chân thăm viếng - đó là phòng ngủ của vị chủ nhân lừng danh Ludovico.

Khoảnh khắc đó thật kỳ ảo. Chiếc giường ngủ vẫn an vị đàng kia, bao bọc chung quanh bởi tấm màn thêu chỉ vàng kim tuyến, thành giường với các nét hoa văn chạm trổ công phu, mỹ thuật vẫn còn sắc nét, loang lổ những vết máu khô của người tình bạc phận. Một lò sưởi với tro tàn lạnh giá và khúc củi cuối cùng đã biến thành đá, tủ kiếng trưng bày những vũ khí tiêu biểu thời Phục Hưng và trong một khung hình bằng vàng, bức họa chân dung bằng sơn dầu của nhà Hiệp sĩ trầm tư, do một họa sĩ bậc thầy xứ Florence vẽ; tiếc rằng tên tuổi họa sĩ tài ba đó đã không được may mắn tồn tại với thời gian. Tuy nhiên, điều gây ấn tượng cho tôi nhất là mùi hương của những quả dâu tươi không biết từ đâu vẫn phảng phất khắp phòng ngủ.

Những ngày hè ở xứ Toscane vẫn kéo dài không vội vã vào đêm, và chân trời vẫn đứng yên tại chỗ cho đến chín giờ đêm. Khi chúng tôi đã tham quan hết lâu đài. Lúc đó là sau năm giờ chiều, nhưng Miguel tha thiết rủ chúng tôi đi thăm các bức bích họa tuyệt tác do nhà danh họa Piero della Francesca vẽ trên các bức tường của Nhà Thờ Thánh Francesco.

Rồi chúng tôi nấn ná dừng chân, nói chuyện qua tách cà phê dưới những tán cây nơi quảng trường và khi chúng tôi quay trở lại để thu xếp hành trang, chúng tôi thấy một bàn đang đợi sẵn. Và thế là chúng tôi phải ngồi lại dùng bữa ăn tối.

Trong khi chúng tôi ngồi ăn dưới bầu trời tím với một ngôi sao đơn độc, mấy thằng bé lấy đèn bấm ở phòng ăn và đi ra ngoài để thăm dò bóng tối ở các tầng trên. Từ chỗ bàn ăn, chúng tôi có thể nghe âm thanh vó ngựa hoang phi nước đại trên các bậc cầu thang, các cánh cửa khóc than, tiếng la hét vui đùa của Ludovico trong các phòng tối lờ mờ. Chúng là những người duy nhất có ý tưởng tinh nghịch muốn ngủ tại nơi đó. Miguel Otero Silva vui vẻ chịu dựng chúng, còn chúng tôi e ngại, không dám từ chối ý thích của bọn trẻ.

Trái với điều chúng tôi lo sợ, chúng tôi đã ngủ rất ngon, vợ tôi và tôi, trong một phòng ngủ ở tầng một; mấy đứa con của chúng tôi ở phòng bên cạnh. Cả hai phòng đã được cách tân và không hề có vẻ gì ảm đạm. Trong khi chờ giấc ngủ, tôi đếm 12 tiếng gõ của đồng hồ quả lắc nơi phòng tranh và tôi nhớ lại lời báo động đáng e ngại của người đàn bà bán ngỗng. Nhưng vì quá mệt mỏi, chúng tôi đã nhanh chóng rơi vào giấc ngủ ngon lành, dày đặc, không hề bị quấy động và tôi thức giấc sau bảy giờ, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu xuyên qua màn nho leo nơi cửa sổ. Bên cạnh tôi, bà vợ tui dong thuyền trên mặt biển lặng hồn nhiên.

"Thật là điên rồ" tôi tự chủ, "Khi còn tin vào ba cái chuyện ma quỷ nhảm nhí ở thời đại ngày nay". Chỉ khi ấy tôi mới bị lay động bởi mùi hương của những quả dâu tươi và tôi thấy cái lò sưởi với tro tàn lạnh giá cùng với khúc củi cuối cùng dã biến thành đá và bức chân dung nhà hiệp sĩ buồn rầu trong cái khung hình vàng đang nhìn chúng tôi qua khoảnh khắc của ba thế kỷ. Bởi vì chúng tôi không phải đang nằm nơi phòng ngủ tầng thứ nhất nơi chúng tôi đã ngủ ngon lành trong đêm vừa qua mà là trong phòng ngủ của Ludovico dưới những màn trướng bụi bặm và tấm chăn còn ướt đẫm máu nóng nơi chiếc giường oan nghiệt của ông.

Tháng mười 1980.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 454
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   Sun Sep 16, 2018 8:20 am



TUNG CÁNH
Doris Lessing (1919-2013)
(Nobel 2007) 

Trên đầu ông lão là một chuồng chim câu cao nằm trên cột sàn có lưới sắt bao bọc, bên trong đầy những chú chim dáng vẻ oai vệ đang làm dáng. Ánh dương hắt lên những bộ lông ngực màu xám của chúng làm thành những sắc cầu vồng nho nhỏ.   

Những tiếng “gù gù” của bọn chim bên tai khiến lòng ông như lắng lại, ông vươn tay ra hướng đến con yêu quý nhất, một con câu nhà còn nhỏ và béo ú. Nó vẫn đứng đấy, hếch ánh mắt sáng, lanh lợi khi thấy ông. 
“Nào, ngoan nào, ngoan nào” ông nói khi túm được nó. Ông đem xuống, và cảm nhận được những móng vuốt lạnh lẽo đỏ màu san hô đang bấu chặt lên ngón tay mình. Hài lòng, ông nhẹ áp con chim vào ngực rồi tựa vào cây, nhìn đăm đăm khung cảnh buổi chiều muộn nơi bên kia chuồng chim. Trong cảnh nhập nhoạng, vùng đất trồng thoáng chốc biến thành những cục đất đầy bụi trải dài tận chân trời. Cây cối mọc đầy nơi thung lũng và cỏ xanh rậm rì dọc bên đường. Mắt ông nhìn khắp con đường dẫn về nhà và ông bắt gặp hình ảnh cô cháu gái đang đung đưa trên cánh cổng, bên dưới tán cây đại. Tóc cô xõa dài xuống lưng, óng ả trong ráng chiều; còn đôi chân dài để trần thì không ngừng đập đập vào những thân cây đại có sắc nâu nổi bật giữa bờ rào trổ đầy hoa.   
Cô đang nhìn chăm chú như thể chờ đợi điều gì đó nơi con đường dẫn vào làng phía xa xa quá khỏi những bụi cẩm chướng, quá khỏi ngôi nhà họ đang ở.   

Tâm trạng ông lão bỗng thay đổi. Ông thận trọng nhấc cổ tay mình ra khỏi ngực khi cảm thấy con chim sắp bay xổ ra và tóm lấy nó ngay khi nó vừa dang cánh. Bên dưới những ngón tay của ông con vật bụ bẫm đang cố gắng chòi đạp; thình lình một cảm giác tức giận dâng lên, ông nhốt con chim vào một hộp nhỏ và cài chặt then lại. “Giờ thì ở yên đó nhé” lão càu nhàu rồi quay lưng lại. Tiếp đó ông thận trọng đi dọc theo hàng rào đến bên cô cháu, lúc này đang vòng tay sau ót, khẽ lắc lư ca hát. Âm thanh thanh thoát và tràn đầy hạnh phúc ấy hòa quyện cùng tiếng “gù gù” ngân nga của lũ chim, và cơn giận trong lòng ông một tăng lên.   
“Này!” ông lão hét lên khi thấy cháu mình nhảy qua rào, ngoái nhìn lại có vẻ dè chừng cánh cổng. Ánh nhìn tránh né, cô nhanh nhẩu cất giọng chào ông: “Chào ông ngoại”. Sau khi khẽ liếc nhìn về phía con đường đằng sau cô lễ phép tiến lại gần ông.   
“Đang đợi Steven hử?” ông lão hỏi mà các ngón tay của ông cong lại tựa móng vuốt trong lòng bàn tay.   
“Có phản đối gì không?” cô cháu khẽ hỏi lại, vẫn tránh nhìn thẳng ông.   
Ông lão bước đến đối diện cháu với mình, đôi mắt ông thu hẹp lại, đôi vai khom lại tựa hồ đang phải chịu đựng một nỗi đau: những con chim đỏm dáng, ánh dương rực rỡ, những đóa hoa muôn màu và cả cô cháu nữa. Ông nói: “Cháu nghĩ đã đủ lớn để cặp bồ đấy phỏng?”   
Cô gái làm điệu bộ hất đầu xưa cũ và hờn dỗi: “Ông ngoại!”   
“Cháu muốn bỏ nhà đi phải không? Cháu nghĩ có thể chạy chơi vòng quanh những cánh đồng vào buổi tối ư?”   
Nụ cười của cô làm ông nhớ lại hình ảnh ông thường thấy mỗi đêm trong tháng hè ấm áp cuối cùng này: tay trong tay tung tăng trên con đường dẫn vào làng với gã trai cường tráng con người đưa thư. Nỗi phiền muộn bốc lên tới đầu và ông quát lên đầy tức tối: “Ông sẽ bảo mẹ đấy!”   
“Méc đi!” cô cháu đáp lại, cười phá lên rồi đi về phía cổng.   
Khúc ca của cô mới thật khó chịu làm sao:   
“Em yêu anh rất nhiều. Em mang đầy hình ảnh anh sâu thẳm trong tim…”    “Rác rưởi” ông lão thét to. “Rác rưởi. Rặt những từ vớ vẩn!”   

Ông lão giận dữ lẩm bẩm khi quay lại chuồng chim, nơi ông tìm thấy niềm an ủi so với ngôi nhà ông đang cùng sống với con gái mình, con rể và lũ trẻ. Tuy nhiên giờ đây ngôi nhà đã trống vắng. Bọn trẻ đều đã đi xa, mang theo chúng tiếng cười đùa, những trò chòng ghẹo lẫn nhau. Ông lão cũng bị bỏ rơi, không còn ai quan tâm và cảm thấy cô độc khi sống với người phụ nữ có vầng trán vuông, đôi mắt điềm tĩnh - con gái ông.   
Ông lão dừng lại, thì thầm, trước chuồng chim, bực bội khi nghe những tiếng “gù gù” say mê của lũ chim. Từ phía cổng cô cháu hét lên: “Vô méc đi! Méc đi, còn chờ gì nữa?”   
Ông lão dùng dằng quay về nhà, nhưng vẫn liếc những cái nhìn nhanh, liên tục đầy đau khổ và kêu gọi về phía cháu mình. Nhưng cô vẫn không thèm nhìn lại. Thái độ cô ngang ngạnh nhưng chứa nhiều khao khát của tuổi trẻ khiến ông cảm thấy thương cô hơn và đâm hối hận. Ông lão dừng lại. “Ông không có ý đó” ông thì thầm, chờ đợi cô quay lại và chạy đến bên mình. “Ông không có ý…”   
Cô không hề quay lại. Cô đã không còn nhớ đến ông rồi. Trên đường chàng trai Steven xuất hiện, cầm theo vật gì trong tay. Một món quà cho cháu mình? Lòng ông trở nên sắt lại khi thấy cánh cổng bật ngược về và đôi trẻ ôm chầm lấy nhau. Dưới những bóng râm màu hơi sẫm của cây đại, cháu của ông, đứa cháu yêu quý, đang nằm trong tay của thằng con người đưa thư, và mái tóc cô xõa qua vai hắn.   
“Thấy hết rồi nhé!” ông hét lên đầy khinh bỉ. Bọn chúng vẫn đứng đấy. Ông bèn sầm sầm bỏ đi vào ngôi nhà có tường quét vôi trắng nhỏ bé, dưới chân ông vang lên tiếng cót két đầy tức giận của hàng hiên. Con gái ông ngồi may ở phòng ngoài, và đang xỏ kim trước ngọn đèn.   
Ông lão lại dừng lại, nhìn lần nữa ra sau vườn. Đôi trẻ lúc này đang nắm tay nhau đi tản bộ giữa những bụi cây, thỉnh thoảng lại cười phá lên. Ông thấy cháu mình đột nhiên láu lỉnh rụt tay khỏi cậu bạn trai và chạy trốn vào các lùm hoa còn cậu ta thì đuổi theo. Ông nghe chúng la hét, cười giỡn rồi thì im lặng.   
“Không thể thế được”, ông lão lẩm nhẩm một cách khó chịu. “Không thể thế được. Tại sao chúng không thể thấy chứ? Chạy nhảy và cười đùa, và hôn nhau và hôn nhau. Chúng mày thật quá lắm.”   
Ông nhìn cháu mình với vẻ khinh thường đầy căm tức, và rồi đâm khó chịu với chính bản thân. Cả hai chúng nó đều bị bắt quả tang nhưng cháu ông vẫn thoải mái đùa nghịch.
“Tại sao nó lại không thấy chứ?” Ông lão ước chi đứa cháu, lúc này đang nằm dài trên đám cỏ dày xanh rì bên cạnh cậu bạn của mình, biến đâu cho khuất mắt.   

Con gái ông bỗng nhìn lên, đôi lông mày khẽ nhướng lên chịu đựng.   
“Ba cho chim đi ngủ chứ?” Bà ta hỏi đùa.   
“Lucy”, ông lão gọi gấp gáp. “Lucy…”   
“Dạ, có chuyện gì nào?”   
“Nó đang ở trong vườn với thằng Steven”.   
“Ba à, ngồi xuống đi, và dùng tách trà nhé”.   
Ông lão dậm chân liên tục lên chỗ sàn gỗ đã bị trũng xuống và la lên: “Nó sẽ cưới thằng ấy. Ba bảo cho biết nhé, rồi nó sẽ cưới thằng ấy chẳng mấy chốc đâu!”   
Con gái lão vội đứng dậy, dọn bàn và mang đến cho lão một tách trà.    “Ba không uống trà lúc này. Ba bảo không cần cơ mà”   
“Rồi, rồi” giọng con lão vỗ về. “Nhưng chúng cưới nhau thì có sao đâu? Tại sao lại không kia chứ?”   
“Nó mới mười tám tuổi. Mới mười tám thôi biết không!”   
“Con mười bảy đã lấy chồng rồi, mà có thấy sao đâu.”   
“Láo”, ông lão giận dữ. “Nói láo. Mày có hối tiếc đấy. Tại sao mày ép các con mày lấy chồng như vậy? Chính mày đã làm điều này. Làm thế để làm gì hử? Tại sao?”   
“Ba đứa kia đều gia đình êm ấm cả. Chúng đều là những chàng rể tốt. Vậy tại sao Alice không vậy chứ?”   
“Nhưng nó là đứa út”, ông lão rầu rĩ. “Ta không thể giữ nó lại lâu hơn chút sao?”
“Coi nào, Ba. Nó chỉ ở cuối con đường kia thôi. Nó vẫn về thăm ba mỗi ngày cơ mà”.   
“Nhưng chẳng thể nào như trước cả”. Ông lão lại nhớ đến ba đứa cháu trước đây, chúng mau chóng thay đổi hẳn đi, từ những đứa trẻ quyến rũ, nhí nhảnh và nghịch ngợm bỗng trở nên chững lại, nghiêm túc hẳn lên.
“Ba chẳng hề thay đổi kể từ khi chúng con kết hôn”, con lão đáp. “Tại sao vậy? Luôn luôn là thế. Lúc con kết hôn, ba cũng khiến con thấy như thể đó là một sai lầm rất nghiêm trọng. Đến lượt tụi nhỏ, cũng thế. Ba khiến chúng sợ hãi và lo lắng theo suy nghĩ của ba. Hãy để Alice yên. Nó cảm thấy hạnh phúc, thế là được rồi”. Bà ta khẽ thở dài, mắt bà nán lại một chút nơi khu vườn còn vương nắng.   
“Con nói chúng có thể kết hôn ư?” ông lão hỏi đầy hoài nghi.   
“Vâng, Ba à. Có gì khiến chúng không thể nhỉ?” Giọng con lão đáp lại cương quyết và bà ta lại tiếp tục công việc may đang dang dở.   

Lão bật khóc, rồi bước ra hàng hiên. Những giọt nước mắt ướt đẫm cằm lão, lão lần túi lấy khăn ra lau. Khu vườn vắng lặng.   
Từ một góc trong vườn bọn trẻ bỗng tiến đến, song chúng không còn vẻ gì chống đối lão nữa. Một con chim câu đang đậu trên cổ tay thằng con người đưa thư, ánh nắng yếu ớt óng trên bộ lông ngực của nó.   
“Cho ông à?” ông lão hỏi vừa hỏi vừa lau đi những giọt nước mắt nơi cằm. “Cho ông thật à?”   
“Ông thích nó chứ?” cô cháu lúc này nắm chặt tay lão và lắc lắc. “Của ông đấy, Ngoại à. Steven mang nó cho ông đấy”. Đôi trẻ tíu tít quanh lão đầy tình cảm, chúng cố làm cho lão quên đi những giọt nước mắt và u sầu. Bọn chúng, mỗi đứa một bên, vừa nắm tay lão, dẫn lão đến bên chuồng chim vừa nói đủ chuyện vui, âu yếm lão rằng chẳng có gì thay đổi cả, sẽ chẳng điều gì khiến chúng thay đổi, và rằng chúng vẫn luôn ở bên lão. Con chim như là bằng chứng vậy, chúng nói, mắt ánh lên những tia hạnh phúc khi ấn nó vào tay lão. “Ngoại, giữ nè. Của ngoại đấy”.   
Chúng háo hức theo dõi hành động của lão khi lão cầm con vật trong tay, vuốt nhẹ tấm lưng mềm mại, tỏa ra hơi ấm của những tia nắng chiều, khi lão ngắm nghía con vật vung vẩy đôi cánh và cố giữ thăng bằng.   
“Ông phải nhốt nó một thời gian”, cô cháu nói với giọng thân mật “cho đến khi nó quen với nơi này, và xem như tổ của nó”.   
“Chà, trứng đòi khôn hơn vịt nữa đấy”, giọng lão nghe “gừ gừ”.   

Sau khi đợi lão nguôi bớt, bọn trẻ cười phá lên rồi rút lui, ra phía cánh cổng nơi khu vườn. “Chúng cháu vui khi thấy ông thích nó”. Hơn tất cả, mối quan tâm chúng dành cho lão khiến lão không còn cảm thấy cô đơn nữa; điều này khiến nỗi buồn, giận của lão nguội dần đi cũng như niềm vui của những chú cún con được lăn mình trên cỏ mượt. Bọn trẻ lại quên lão. Cũng được thôi, lão thầm nhủ, tuy cảm thấy cổ họng nấc lên và môi run nhẹ. Lão cầm con chim mới trên tay, vuốt nhẹ bộ lông óng mượt của nó. Sau đấy lão nhốt nó vào chuồng và mang con lão yêu thích nhất ra.  
“Giờ mày có thể bay đi rồi đấy”, lão nói to lên. Lão cầm hờ nó, sẵn sàng thả ra trong khi nhìn xuống khu vườn hướng có tụi trẻ. Rồi thì ghìm lại nỗi đau mất mát, lão nâng con chim lên và trông nó vút ra. Một loạt những tiếng vù vù từ các đôi cánh vang lên, cả đàn trong chuồng cũng bay vụt vào trời chiều.   

Nơi cánh cổng Alice và Steven ngừng trò chuyện và ngước cổ nhìn những con chim.   
Nơi hàng hiên, con gái lão đứng lặng, tay vẫn cầm bộ đồ may che mắt nhìn.   
Với lão thời gian như ngừng trôi trước hành động tự nguyện này, thậm chí những chiếc lá cũng không lay động.   
Lau khô mắt, đôi tay xuôi hai bên hông, lão đứng đó lặng yên dõi mắt vào bầu trời.   
Bầy chim bay chấp chới, phát ra tiếng rít từ những đôi cánh đang ra sức vẫy đập, tựa dải sáng màu bạc càng lúc càng cao hơn, ngang qua mảnh ruộng màu tối sẫm, những rặng cây um tùm và thảm cỏ xanh tươi cho đến khi chúng như trôi bồng bềnh trong ánh dương hệt một đám bụi mù. Chúng đảo một vòng tròn thật rộng rồi chao cánh tạo thành những ánh sáng lóa, tiếp đó nối tiếp nhau từng con một cả bầy quay trở về với những rặng cây, thảm cỏ, đồng ruộng, hay thung lũng, nơi chúng có thể ẩn náu khi đêm xuống từ trời cao lộng gió.   

Cả khu vườn rộn lên tiếng huyên náo của bầy chim trở lại. Rồi thì lại trở nên tĩnh lặng, bầu trời hóa trống không. Lão chầm chậm quay xuống khu vườn, nhướng đôi mắt mỉm cười kiêu hãnh với cháu của mình. Cô gái đang nhìn lão chăm chú, không mỉm cười. Nhưng mở to đôi mắt, và hơi tái đi trong cái lạnh buổi đêm về, và lão thấy từng giọt nước mắt tuôn rơi lã chã trên khuôn mặt cô.

Dịch giả: Bùi Nguyễn Quý Anh -

Dịch từ nguyên tác “Flight” 
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel   

Về Đầu Trang Go down
 
Tập Truyện Ngắn các tác giả được giải Nobel
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến