Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon

Diễn Đàn của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Nguyễn Trãi Saigon
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
tran VNCH thang Thuong hanh Chia sung Mộng
Latest topics
» Hãy thong thả Sống
Yesterday at 9:45 pm by NHViet

» Tập Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tue Jun 19, 2018 7:16 am by NHViet

» Suy ngẫm chuyện đời - Thấu Cảm ...
Mon Jun 18, 2018 4:56 pm by NTcalman

» Tập Truyện Ngắn O. Henry: Khi người ta yêu
Sun Jun 17, 2018 10:30 pm by NHViet

» Tập Truyện Ngắn Tình Cảm
Fri Jun 15, 2018 5:45 pm by PVChuong

» Dài, Ngắn Thế Nào? - Bùi Bích Hà
Thu Jun 14, 2018 5:55 pm by PVChuong

» Vì cuộc sống có nhiều lựa chọn...
Thu Jun 14, 2018 1:18 pm by NHViet

» Lễ hội, tín ngưỡng và chuyện bát nháo thời sản mạt
Tue Jun 12, 2018 1:18 pm by NTcalman

» Bắc thuộc lần thứ 5
Tue Jun 12, 2018 12:08 am by NTcalman

June 2018
MonTueWedThuFriSatSun
    123
45678910
11121314151617
18192021222324
252627282930 
CalendarCalendar
Affiliates
free forum

Affiliates
free forum


Share | 
 

 Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng

Go down 
Tác giảThông điệp
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sun Jan 12, 2014 1:43 pm

.

Danh dự của người võ sĩ

Fujisawa Shuhei
Phạm Vũ Thịnh dịch





1

Mimura Shinnojo đứng dậy rời phòng gia đình. Đã gần một năm rưỡi trôi qua từ khi mắt anh mất ánh sáng. Anh đã quen nhiều với thế giới tăm tối rồi, nhưng vẫn chưa bước đi trong nhà được nếu không sờ tay vào đồ vật gì đấy. Vẫn chưa thoát khỏi nỗi bất an như có cạm bẫy gì bất ngờ ở ngay trước bước chân anh. Bàn tay trái sờ soạng vách phòng, chân anh dò dẫm bước. Ve vuốt cột trụ ở góc nhà, quẹo qua hiên thì ra đến trước phòng uống trà. Anh mò mẫm kéo một cánh cửa qua, rồi ngồi bệt xuống hàng hiên. Khí đêm phả trùm mặt anh, có phần lạnh hơn lệ thường vào mùa này. Nhưng trong hơi lạnh ban đêm vẫn có hàm chứa chút hương từ những chồi non đang nở.

    Trễ quá! Shinnojo hơi nhíu mày. Cái lạnh của không khí ban đêm cũng là dấu hiệu đêm đã về khuya. Vậy mà Kayo, vợ anh, vẫn chưa về nhà.
    Mỗi tháng một lần, Kayo đi chùa Rinmatsu ở làng bên cạnh cách chân thành này một dặm, để cầu nguyện cho anh, vì ở đó có tượng Phật trong chính điện nghe nói là đặc biệt có hiệu quả trị các bệnh về mắt. Kayo vẫn còn hy vọng là mắt Shinnojo còn có thể chữa khỏi.

    Không biết là từ lúc nào, anh bắt đầu cảm thấy có bóng dáng đàn ông lấp ló trong chuyện đi chùa của Kayo. Từ mùa thu vừa rồi, anh đã bị y sĩ chữa mắt là Kusanagi Kosuke bỏ rơi. Ông ta bảo có tiếp tục chạy chữa cũng vô ích thôi. Nghe thế, Shinnojo cũng không hoảng sợ gì lắm. Anh đã cầm bằng như thế rồi. Trong thời gian nhờ Kusanagi chữa bệnh, dần dần anh càng hiểu là bệnh anh không còn chữa trị được nữa. Thế rồi, khi đã quyết tâm sống thử cuộc sống của người mù, lòng anh từ trước đến nay đã hướng trọn ra bên ngoài với niềm hy vọng mong manh được chữa lành, thì nay lại chìm đắm sâu vào bên trong. Và cũng vì vậy, hình tích đàn ông mờ ảo ẩn nấp phía sau những chuyến đi chùa của vợ anh trước đây anh đã lơ là không để ý, thì nay lại hiện hình cồm cộm trên tâm tình trầm đắm ấy.
    Thoạt đầu, anh đã cho là manh tưởng vô lý mà thôi. Nếu không có Kayo bên cạnh, Shinnojo không thể tự mình thay quần áo, mà cả chuyện ăn uống cũng không xong. Nên anh bực bội cho rằng mình đã nhiễm thói ghen tương bẩn thỉu của loại đàn ông có mặc cảm hèn kém đối với vợ. Thế nhưng, dù anh đã cố gắng xua đuổi ý nghĩ ấy cách mấy đi nữa, cũng vẫn lưu lại mãi một niềm nghi hoặc. Từ khi mắt mù đi, anh cảm thấy tai anh dần thính hơn trước, và mũi anh phân biệt mùi tinh tường hơn trước bội phần. Nói thế chứ cũng phải mất đâu một năm trời. Chẳng phải khả năng nghe tiếng và ngửi mùi ấy đột ngột mà tinh nhuệ lên được như thế. Chỉ vì cần phải bù đắp vào thị giác bị mất đi, chỉ còn cách dựa vào các giác quan còn lại, nên mũi anh, tai anh đã phải tăng tiến hiệu quả hơn trước đó thôi. Dù gì đi nữa, dần dần tai anh đã bắt được không sót dù những tiếng động thật nhỏ, và mũi anh cảm nhận được cả những hơi hướm mơ hồ nhất.
    Ngay cả xúc giác của anh cũng truyền đạt được những cảm xúc mới mẻ khác hẳn hồi mắt anh còn trông thấy, đến nỗi có lúc anh nhận ra sự vật mà thầm ngạc nhiên vì rõ ràng không kém gì người mắt sáng cả.
    Và tai thính, mũi thính của anh đã cảm nhận được có gì khác lạ nơi vợ anh. Chẳng phải là chứng cớ gì rõ ràng, chỉ là cảm giác có gì đấy là lạ, thế thôi. Cảm giác ấy còn mơ hồ lắm, nhưng không còn xua tan được nữa.

    Shinnojo ngồi bệt, bất động, hướng ra vườn. Từ nhà bếp thoang thoảng mùi cơm đang nấu. Hẳn là vợ anh về trễ nên người lão bộc Tokusuke phải nấu thế. Thỉnh thoảng lại có tiếng ho trầm thấp của ông. Tokusuke đã đến giúp việc nhà Mimura từ trước khi sinh ra Shinnojo, và sống đến già ở nhà này. Bây giờ thì nhà chỉ còn hai vợ chồng anh và người lão bộc thân tín ấy. Cha mẹ anh mất sớm, Kayo vào làm dâu được năm năm nay nhưng chưa có con. Nhà quạnh vắng. Và quạnh vắng quá nên niềm nghi hoặc của Shinnojo khỏi phải hướng vào đâu khác mà tập trung ngay vào Kayo.
    Shinnojo nhận ra ngay những tiếng động chứng tỏ Kayo về đến nhà. Tiếng đóng cửa nhẹ nhàng, tiếng guốc êm nhẹ vọng đến tai anh. Rồi đột ngột Kayo đứng khựng lại. Có vẻ đã kinh ngạc khi thấy dáng anh ngồi nơi hiên tối.
    -"Anh làm gì ở đó vậy?"
    -"À, ra đón không khí ban đêm đây".
    -"Trời lạnh thế này mà...". Kayo cứ thế đi vòng ra vườn, đến đứng trước Shinnojo, cầm tay anh. -"Xin anh tha lỗi. Em mải trò chuyện ở chùa nên về trễ mất". Vừa nói, Kayo vừa xoa lưng bàn tay anh.
    Hồi mắt anh còn thấy đường thì cử chỉ như thế thật bất ngờ, nhưng từ khi đã biết là Shinnojo đành phải chịu mù thôi thì Kayo dần dần bạo dạn chạm tay vào thân thể chồng nhiều hơn.
    Shinnojo im lặng để yên tay mình cho vợ xoa. Hơi thở của Kayo gấp gáp. Có lẽ bởi đã phải bước vội về nhà trên đường đêm, nhưng cũng có thể vì đã bất ngờ thấy dáng chồng nơi hiên tối.
    -"Anh ăn tối chưa?"
    -"Tokusuke đang nấu cơm đấy".
    -"Xin lỗi anh. Em dọn cơm ngay đây".
    Tiếng guốc của Kayo khua rộn rã vòng ra phía cửa trước. Shinnojo đứng lên, đóng cửa ra hiên.
    Kayo bước lên nhà, dắt Shinnojo vào phòng uống trà. Chờ cho anh ngồi yên vị xong, Kayo nhanh nhẹn đốt đèn lồng lên rồi bước vào bếp.
    Mùi son phấn nồng quá! Shinnojo nghĩ thầm. Mùi hương son phấn nồng hơn lúc trưa rời nhà ra đi, hẳn là đã gặp trai, rồi phải trang điểm lại mà trở về nhà.
    Lòng anh chìm đắm trong nỗi đau xót vì niềm nghi hoặc ấy. Nếu được thì anh mong nó chỉ là manh tưởng vô cớ mà thôi. Thế nhưng, niềm nghi hoặc đối với Kayo càng ngày càng chồng chất thêm những dấu hiệu khả nghi như lúc này, đã thành một sự thực kiên cố không còn lay chuyển được nữa rồi.
    Dù sao, Kayo cũng không giận ghét hay bỏ bê gì người chồng bị mù. Shinnojo không nhận thấy ở vợ thái độ gì như thế, mà ngược lại, anh còn cảm thấy Kayo càng có vẻ gần gũi mật thiết với anh hơn trước nữa. Người vợ ấy chăm sóc chồng tật nguyền thật chu đáo, đến như anh ngứa chỗ nào là gãi hộ cho ngay chỗ đó. Lòng Kayo không xa lánh người chồng bất hạnh. Điều đó thì Shinnojo không nghi ngờ gì được.
    Ngoại trừ bóng đen của nghi hoặc về trinh tháo của người vợ trong đôi mắt không còn ánh sáng của Shinnojo ra, sinh hoạt thường ngày của nhà Mimura vẫn tiến hành bình thường không có gì trở ngại cả. Nhưng cũng chính vì vẻ bình thường vô sự thường ngày ấy mà bóng đen đàn ông lấp ló phía sau lưng Kayo lại càng nổi rõ đậm màu lên dần dần. Nhịp thở thường ngày của Kayo cứ mỗi tháng sau ngày đi lễ chùa về lại lộ ra những lệch lạc dị thường. Suốt vài ngày sau đó, thế nào cung cách của Kayo cũng có vẻ lấm lét dè chừng phản ứng của chồng, cử chỉ và lời nói có phần lúng túng, như là kẻ phạm tội đang cố che giấu tội lỗi của mình. Mà cũng có vẻ như kẻ đã trở về từ một thế giới nào khác, còn lúng túng vì khoảng cách khác biệt trong nếp sinh hoạt thường ngày. Trạng thái như thế hẳn không thể chỉ vì chuyện đi lễ chùa.
    Giả thử là có hẹn hò với trai... thì kẻ đó là ai nào? Shinnojo thật bối rối về điểm này. Shinnojo không sao hình dung ra được tên đàn ông càng ngày càng lộ nhiều dấu hiệu anh cảm nhận được ấy. Ngay cả chuyện Kayo ngoại tình cũng đã là quái dị đối với anh. Bởi ngược hẳn với đám đàn bà mà thiên hạ bảo là lẳng lơ, Kayo thuộc loại phụ nữ tiết chế, chừng mực. Lòng ghen giận của anh cũng vì thế mà không sâu đậm vì chưa biết dựa vào cơ sở nào. Thế nhưng, đâu phải là chuyện có thể bỏ qua được. Thế nào anh cũng phải truy cứu cho ra lẽ, nếu quả thật vợ anh ngoại tình thì phải đoạn tuyệt mà thôi.

2

Thông tin về tên đàn ông của vợ anh đến tai Shinnojo lần đầu tiên là từ người chị họ Ine.
    -"Cô Kayo đi vắng à?". Ine nói, sồng sộc bước vào phòng gia đình của Shinnojo. Anh nghe giọng Ine nói chuyện với lão bộc Tokusuke ngay từ cửa trước, thì đã chán ngán rồi. Ine là người lắm mồm và ồn ào xưa nay. -"Trà hả? không cần, không cần." Ine nói oang oang từ chối lời thưa của Tokusuke định pha trà mang đến. -"Ôi, nóng quá, nóng quá". Ine ngồi xuống trước Shinnojo, tay quạt phành phạch. Mùi son phấn trộn lẫn mùi mồ hôi uà trùm lên mặt Shinnojo. -"Anh Shinnojo dạo này mắt ra sao rồi?"
    -"Chẳng khá hơn mà cũng chẳng tệ hơn. Vẫn thế thôi".
    -"Hoàn toàn chẳng thấy gì cả sao?"
    Shinnojo cảm thấy trước mặt có chút gió, có lẽ Ine phất tay qua lại trước mắt anh. -"Không thấy gì cả".
    -"Tiếc quá nhỉ. Chứ anh vẫn đẹp trai có khác gì ngày trước đâu!".
    Đôi mắt của Shinnojo vẫn mở như người mắt sáng, con ngươi của anh vẫn đen không khác gì người bình thường cả.

    Sau khi Shinnojo đã bị mù mắt, Ine vẫn thường viếng thăm nhà Shinnojo, tấm thân đã mập mạp thêm ấy xách theo quà cáp mà đến xen vào chuyện gia đình anh.
    -"Nghe nói anh đang tập luyện nhạc Nô đấy à?"
    -"Ừm, không còn làm việc trong thành nữa, nên định có thể sau này dạy nhạc Nô cho học trò..."
    -"Sáng kiến ấy hay lắm chứ". Ine khen, rồi với lối nói liếng thoắng thường lệ, kể cho Shinnojo nghe chuyện người nọ người kia trong nhà, chuyện chồng mình được đề cử vào chức Chưởng quản Địa phương vào mùa thu tới, chuyện con cái,... liên tu bất tận. Nhà Hatano lương 100 hộc, nhưng vốn là nhà giàu sẵn, nên Ine đã vào làm dâu một nhà rất tốt.

    Toàn là những chuyện Shinnojo không đặc biệt muốn nghe gì mấy, nhưng anh im lặng nghe kể. Nhà anh chỉ có hai vợ chồng và người lão bộc nên nhiều lúc im vắng quá. Lời kể chuyện của người chị họ này, tuy không là thuốc độc mà cũng chẳng phải là thuốc bổ, nhưng cũng vui nhộn được trong chốc lát.
    Nhưng thình lình, Ine ngậm miệng lại. Rồi gọi: -"Này anh Shinnojo..." và thầm thì: -"Tôi vừa nghe Hatano nói một chuyện này quái lạ lắm...".
    -"......"
    -"Chuyện về cô Kayo đấy. Nhưng có nên nói ra không nhỉ?"
    -"Chuyện gì thế? Nói cho nghe đi". Shinnojo bình tĩnh đáp thế, nhưng trong bụng nghĩ chắc là chuyện ấy rồi. Bất giác, anh cảm thấy như máu trong thân mình chảy ngược lại. Như bị ai đánh thình lình. Chuyện có bóng dáng tên đàn ông nào lấp ló sau lưng Kayo ấy, cứ tưởng chỉ là chuyện giữa hai vợ chồng anh, nhưng tất nhiên, cũng có thể đã bộc lộ ra ngoài như thế này.
    Dù đã ướm hỏi là có nên nói ra không, nhưng Ine lại ngậm miệng im lìm. Điều lạ thường ở một người đàn bà lắm mồm. Shinnojo phải nói thêm: -"Có nghe chuyện gì đi nữa, tôi cũng không sao đâu".
    -"Hatano bảo là đã thấy cô Kayo ở xóm Somekawa đấy".
    -"Ồ!"
    -"Mà nếu chỉ có một mình cô ấy thôi thì chả nói làm gì, nhưng lại đi cùng với một người đàn ông nữa, nên Hatano mới lấy làm lạ chứ..."
    -"......"
    -"Thế anh có biết là ai đấy không?"
    -"Chuyện đó là lúc nào thế?"
    -"Đêm mồng sáu vừa rồi đấy. Đêm ấy, Hatano từ thành về, đi cùng bạn đồng sự đến quán trà ở xóm Somekawa. Tôi cứ phải dặn mãi là đi uống rượu thì phải về nhà thay áo quần trước đã rồi hãy đi, thế mà các ông uống rượu thì thật là dơ bẩn, cứ muốn uống rượu ngay tức thì, tiếc cả thì giờ phải quay về nhà nữa kia".
    Shinnojo chỉ nghe được phân nửa lời nói của người chị họ. Ðêm mồng sáu thì đúng là đêm Kayo đi chùa về trễ. Shinnojo nghe lòng xao động nỗi uất hận. Nỗi căm tức tất nhiên có lẫn chút hổ thẹn nữa.
    -"Thế anh Hatano có thấy mặt người đàn ông đó không?". Shinnojo hỏi.
    -"Cái đó thì anh ấy bảo là trời tối quá, mà còn cách một khoảng khá xa nên không nhìn rõ được. Lúc đầu anh ấy không nghĩ là hai người đi chung với nhau. Bởi họ đi cách xa nhau. Hatano dù trong tối cũng đã nhận ra cô Kayo nên định gọi rồi. Nhưng thấy cô ấy gật đầu chào ai đấy, nhìn qua thì thấy người đàn ông gật đầu chào lại, rồi rẽ sang góc phố mà đi mất, nên chỉ thấy dáng lưng thôi..."
    -"......"
    -"Không thấy mặt, nhưng dáng lưng có vẻ là một người còn trẻ..."
    -"......"
    -"Thế nào? Trong đám bạn bè quen biết, anh có nghĩ ra là ai đấy không?"
    -"Xà..."
    -"Này anh Shinnojo, anh không sao chứ? Mắt không trông thấy được, có phải vì thế mà anh không nhìn ra chuyện gì trong nhà nữa đấy không?".
    Ine dùng lối nói quanh co như thế để nói có lẽ anh không để ý đến những dấu hiệu khả nghi rằng có thể vợ anh ngoại tình. Có lẽ vợ chồng Ine đã nói với nhau chuyện ấy. Xóm Somekawa là xóm chơi bời, bước chân vào xóm thì thấy san sát những quán trà dùng làm chỗ hẹn hò, những quán nhậu tha hồ cho trai gái tự do tình tự chùng lén. Tất nhiên là khu vực mà đàn bà con gái nhà võ sĩ không lui tới, nhất là vào ban đêm, cho dù là võ sĩ mạt hạng lương chỉ có 30 hộc chăng nữa. Chồng của Ine có kinh ngạc mà nghi ngờ thì cũng là chuyện đương nhiên thôi.
    -"Chị Ine à...". Shinnojo rướn thẳng lưng, nói. -"Chuyện đó để tôi hỏi Kayo ngay tối nay xem sao. Nhưng mà, chuyện vừa nói ấy, không nên nói ra ngoài làm gì thêm phiền phức"
    -"Tôi có nói ra ngoài với ai đâu nào". Ine nói, giọng có vẻ giận dỗi. -"Tôi chỉ lo ngại cho thanh danh của anh mà thôi. Một người như anh, thuở bé đi học được gọi là thần đồng, lúc tập kiếm ở võ đường Kibe thì được xem là tay kiệt xuất, thế mà số phận đưa đẩy thế nào đến nỗi mắt không còn thấy được nữa. Tôi không muốn thấy anh phải chịu đựng thêm điều gì trên tình cảnh bất hạnh này đâu".
    -"Tôi hiểu thế chứ". Shinnojo nói, và mỉm cười vỗ về. -"Tất nhiên là chị Ine có hảo ý đến cho tôi biết chuyện như thế. Cảm ơn chị lắm. Tôi sẽ hỏi ngay cho rõ sự tình".
    -"Nhưng mà, anh căn vặn khe khắt quá thì cũng không tốt đâu nhé". Giọng Ine đổi sang e dè. -"Giả thử Hatano không nhìn lầm đi nữa, cũng có thể cô Kayo đã có sự tình gì đấy mà phải đến xóm Somekawa. Chứ tôi đâu có tin là cô Kayo lại có thể phản bội anh. Vì thế, anh nên kiếm lời nhỏ nhẹ mà hỏi cô ấy xem sao nhé".

3

Ine về rồi, Shinnojo đứng dậy, sờ sẫm bước trong phòng, với tay lấy thanh kiếm gỗ móc vào đà ngang trên đầu tường. Anh lần ra cửa trước, gọi lão bộc đỡ anh ra ngoài.
    -"Không cần dép đâu". Shinnojo bảo. Chân trần dẫm lên đất cho anh cảm giác dễ chịu.
    -"Thưa, cậu tập kiếm đấy à?". Tokusuke nói, dắt tay anh đưa ra vườn. -"Ðã lâu lắm rồi, cậu nhỉ. Ngày trước thì cậu tập luyện đều đặn là thế! Sáng tập chiều tập..."
    -"Đưa tôi ra chỗ vẫn tập ngày trước đi. Ông biết chỗ nào rồi chứ?"
    -"Thưa vâng, tất nhiên là biết chứ cậu"
    -"Trời tốt quá nhỉ, Tokusuke". Shinnojo nói. Nắng chiếu vào trán anh thật nóng, nhưng có được chút gió nhẹ. Shinnojo cảm thấy làn gió như lông chim nõn mơn man trán anh. Nhưng trải rộng trước mắt anh là khoảng trống đen thẫm bao la.
    -"Vâng, trời tốt lắm. Nhưng cậu có nóng không?"
    -"Không. Dễ chịu lắm".
    Shinnojo đứng dừng lại khi nghe lão bộc nói "Thưa, đến nơi rồi". Ðó là khoảng giữa vườn, đất nện cứng nhất. Đứng đấy hướng mặt về phía mặt trời thì giữa anh và hàng rào nhà bên cạnh hẳn có cây mai và cây lý, bên tay phải hẳn là nhà anh, bên tay trái có luống trồng hoa chạy dài ra tận cổng. Thoang thoảng hương các đoá hoa mà mắt anh không thấy được.
    -"Được rồi, ông vào nhà đi". Shinnojo chờ để xác nhận động tác rời đi của người lão bộc, rồi cầm kiếm vào thế tấn. Võ đường Kibe của anh dạy kiếm phái Togun, nghe đâu thầy Kibe Sonhachiro đã học được từ sư phụ Takagi Kyozai ở xứ xa.
    Shinnojo vung nhẹ thanh kiếm gỗ. Anh có cảm giác như mới vung kiếm lần đầu, bởi đã lâu lắm rồi anh không cầm đến thanh kiếm gỗ này. Anh bấm chân vững chãi, sửa lại thế tấn rồi múa kiếm mạnh dạn theo đúng chiêu thức. Nhưng lập tức, Shinnojo mất phương hướng. Chân anh dẫm hụt hẫng, mũi kiếm gỗ quật xuống nền đất nẩy tung lên. Tay anh tê điếng, thân thể chao đảo. Shinnojo loạng choạng chống tay xuống đất. Vậy mà thân người anh vẫn còn nghiêng đi. Một luồng khí lạnh chạy xuyên qua thân thể anh, như ánh nắng vừa bị che khuất mất. Phải một lúc sau, cảm giác dị thường ấy mới dứt, và trán anh lại cảm thấy ấm nóng tia nắng mặt trời.
    -"Hừm. Lại thành chuyện khó khăn rồi đây". Shinnojo nghĩ thầm.
    Anh gượng đứng lên, toàn thân toát mồ hôi lạnh.
    Từ ngày mắt không nhìn thấy nữa, Shinnojo hầu như không ra khỏi nhà. Sau khi y sĩ cho biết là mắt anh không chữa được nữa vào mùa thu năm ngoái, vợ anh cứ phải khuyến khích anh ra ngoài mãi. -"Chứ anh cứ ở trong nhà mãi không ra ngoài thì có hại cho thân thể lắm". Thỉnh thoảng Kayo lại nhắc thế, rồi dắt tay anh ra vườn tản bộ. Đến lúc đã quen được đôi chút với chuyện ra ngoài nhà, định lúc nào đấy sẽ một mình chống gậy ra vườn bước đi xem sao, thì mùa đông lạnh lại đến, Shinnojo lại phải ru rú trong nhà.
    Cũng bởi đã lâu không ra ngoài nên thân thể Shinnojo bối rối, tạo ra cảm giác lạ lẫm như thế. Thêm vào đó, lại đột ngột múa thanh kiếm gỗ nặng nề ấy nữa, nên có lẽ anh đã bị một cơn chóng mặt nhẹ. Mắt anh chìm đắm nơi đáy vực sâu thẳm. Dù với nguyên cớ gì đi nữa, thực tế vẫn là người từng được gọi là nhân tài kiệt xuất của võ đường Kibe ấy, nay đã lâm vào tình cảnh thảm hại như thế này.
    Shinnojo cười không thành tiếng. Anh đã nghĩ rằng lòng Kayo không rời xa anh, nhưng đó chỉ là ảo tưởng của anh mà thôi. Có thể là từ bao lâu nay, lòng Kayo đã ngã theo người đàn ông khác rồi. Cứ nhìn hình trạng thảm hại này của anh, cũng đủ hiểu được điều ấy.
    Shinnojo lại cầm thanh kiếm gỗ đứng tấn. Tự mình cũng hiểu là mặt mình không còn chút máu. Sớm muộn gì rồi cũng phải xác nhận việc ngoại tình của vợ anh và giải quyết dứt điểm. Ðể làm được điều đó, thế nào anh cũng phải khôi phục khả năng dùng kiếm đã tập luyện được ấy cho thân thể mù lòa này.
    Shinnojo chuyển kiếm từ thế Thanh nhãn [2] sang thế tấn giương cao kiếm lên quá đầu. Chân dẫm xoạc ra, anh chém vụt xuống khoảng không trước mặt, đồng thời với tiếng thét tấn công bằng tất cả khối hơi trong ngực anh. Nhưng lần này anh không cảm thấy cảm giác loạng choạng dị thường lúc nãy. Bàn chân anh dẫm vững vàng trên mặt đất.
    Anh nín thở xác nhận như thế xong, lại cầm kiếm đứng tấn. Giương kiếm nghếch mũi lên cao rồi chém vụt xuống. Lặp đi lặp lại những động tác ấy 20, 30 lần, mồ hôi chảy ràn rụa trên da anh. Mặc, anh vẫn tiếp tục tập cùng một thế kiếm ấy.
    Sau lưng anh, có tiếng chân bước nhẹ lại gần. Anh nghĩ là Kayo đấy, nhưng vẫn cầm chặt kiếm, xoay mình lại thật nhanh. Hẳn là mặt anh đanh lại.
    Tiếng chân ngừng bặt. Có vẻ Kayo giật mình đứng khựng lại.
    -"Anh tập kiếm đấy à?" Tiếng Kayo nói. Anh nghe có vẻ giọng cao hẳn lên. -"Thế thì hay quá. Em mừng lắm đấy".
    -"Ừm, lâu lắm rồi mới được đổ mồ hôi thế này". Shinnojo nói, bình thản đổi kiếm sang tay trái. -"So với lúc còn thấy đường thì cảm giác khác đi. Làm quen lại được, chắc là còn khó nhọc lắm đây".
    -"Tất nhiên phải thế chứ. Nhưng y sĩ cũng đã bảo là cần phải tập từ từ cho quen mới được đấy... Anh à, em lấy thuốc xong, vòng về qua xóm Hatsune thì thấy có rau warabi mà anh thích đấy. Tối nay em làm món gỏi rau ấy cho anh nhé".
    -"Món ấy thì hẳn là ngon rồi".
    -"Anh còn tập kiếm nữa không? Hay là vào nhà, em nấu nước ngay để lau mồ hôi cho anh?"
    -"Mồ hôi nhiều lắm à?"
    -"Vâng, áo quần anh ướt đẫm rồi đấy".
    -"Thế thì hôm nay tập đến đây là đủ rồi". Shinnojo nói.
    Kayo đến ngay bên cạnh, nắm tay anh. Thoảng mùi hương rau warabi có lẽ vợ anh ôm nơi ngực.
    -"Anh bước cẩn thận nhé". Kayo nói, và dắt anh đi, những ngón tay đan chặt giữ tay anh. Bàn tay hơi ẩm nhưng có sức lắm. Bất giác, một tình cảm mãnh liệt dậy sóng trong lòng Shinnojo. Mất người vợ này, chắc mình không sống nổi. Anh nắm chặt bàn tay vợ, nhỏ nhắn, mềm mại. Không hiểu lúc nãy, Kayo có nhận thấy sát khí đã hiện lên một cách vô thức trên mặt anh không?

4

Nhưng quả thật là Kayo đã phạm tội rồi. Điều đó đã hiển hiện rõ ràng khoảng hai tháng sau ngày người chị họ Ine đến cho biết là chồng Ine đã bắt gặp Kayo trên đường trong xóm Somekawa. Trước đó thì từ cử chỉ thái độ của Kayo, Shinnojo vẫn còn nghĩ rằng cho dù vợ anh có thật đã đi gặp người đàn ông nào khác, như anh đã đánh hơi thấy đi nữa, vẫn chưa hẳn là đã thật sự phạm vào tội ngoại tình. Kayo là con mồ côi đã được bà con họ hàng thay nhau nuôi dạy từ tấm bé, cha mẹ không có mà quyến thuộc gần gũi cũng không. Anh không nghĩ là Kayo có bà con thân cận gì mà phải giấu chồng đi gặp họ, thế nhưng vẫn có thể vợ anh có sự tình gì đấy cần kíp phải làm thế. Shinnojo đã gắng nghĩ đến như thế cho vợ, nhưng sự thực đã tàn nhẫn đập nát hy vọng mong manh ấy của anh. Bởi đã bại lộ ra tên đàn ông chùng lén hẹn hò với Kayo chính là Shimamura Fujiya, cấp trên cũ của Shinnojo.
    Người xác nhận điều ấy là lão bộc Tokusuke. Shinnojo đã cho Tokusuke theo dõi Kayo hai lần. Anh đã cắn răng mà thổ lộ chuyện anh nghi ngờ vợ anh ngoại tình, để bảo Tokusuke đi theo rình lúc Kayo đi chùa. Tokusuke đã sửng sốt, rồi lộ vẻ ngần ngừ không muốn làm, đến Shinnojo phải quát lớn mới chịu đi cho.
    Lần đầu tiên thì Tokusuke không thấy ra được ai. Chuyện Kayo đi chùa có vẻ không phải là kiếm cớ để gặp trai, Kayo quả thật đã đi một dặm đường đến chùa Rinmatsu mà bái nguyện Phật. Nhưng đến chiều tối, trên đường về, Kayo đột ngột không về xóm ở chân thành mà lại rẽ vào đường về hướng đông của bờ sông Gomagawa. Phía trước đó là xóm bán rau trái mới lập, có vài quán trà lâu đời. Không nhộn nhịp như xóm Somekawa ăn chơi còn được gọi là xóm Trà thất, nhưng xóm này, phía sau có ngọn đồi thoai thoải, phía trước có dòng sông, nên cũng không thiếu gì khách ưa thích khung cảnh êm đềm yên tĩnh này mà tìm đến. Dần dần, quanh các quán trà ấy, nhà ở được dựng lên nhiều, tạo thành một xóm dân cư khá đông.
    Kayo đến xóm này, bước vào trong một quán trà. Đó là quán Hanai. Nhưng lần đó, Tokusuke không thấy tên đàn ông. Chỉ đâu chừng một giờ sau, Kayo bước ra một mình, vội vã bước lên đường về nhà. Trên đường, cũng đã có bóng dáng vài võ sĩ ra vẻ đang tìm đến quán trà để uống vài chén, nhưng Tokusuke chẳng thấy ai có vẻ hẹn hò gì với Kayo cả.
    Phải đến buổi tối lần thứ hai, Tokusuke âm thầm theo dõi, mới thấy Kayo, rồi sau đó một lúc, một người đàn ông rời quán Hanai, đến quãng qua khỏi cầu, hai người trao đổi cử chỉ từ biệt thầm lén trước khi rẽ đi hai ngả. Lòng già phập phồng, lão bộc Tokusuke theo sau người võ sĩ cao lớn ấy cho đến lúc ông ta bước vào nhà Shimamura ở xóm Sanai.
    -"Nhưng mà, cậu chủ à. Có khi mợ ấy có sự tình gì đấy mà phải gặp người ta đấy. Thế nào cũng cần nghe mợ ấy giãi bày mới rõ ra được". Tokusuke thuật chuyện cho Shinnojo vào ngày hôm sau, khi Kayo đã đi chợ. Giọng người lão bộc run run tỏ rõ nỗi kinh ngạc không tin nổi những gì đã mục kích tối hôm qua, thêm với nỗi lo sợ chuyện gì sắp xảy ra. Vẻ lo âu hằn rõ trên khuôn mặt đầy nếp nhăn sâu của Tokusuke.
    -"Tất nhiên rồi, Tokusuke à. Chuyện này không thể xem nhẹ được. Để tôi lấy lời mềm mỏng mà hỏi cho ra lẽ. Ông đừng lo". Shinnojo nói, mỉm cười, nhưng cảm thấy nụ cười nửa chừng đanh lại. Thế này thì chuyện ngoại tình của vợ anh là sự thực rồi.
    Shimamura thuộc dòng dõi danh giá, và là một đội trưởng cận vệ của Lãnh Chúa. Tất nhiên là đã có vợ con. Hắn 34 tuổi, đẹp người mà tài năng cũng được đánh giá cao, chỉ có tật háo sắc ai cũng biết. Thời đôi mươi đã nổi tiếng là tay chơi ở xóm yên hoa Somekawa, nhưng từ ngày nối nghiệp nhà, vào làm việc trong thành thì tất nhiên đã phải bỏ những trò chơi đã tạo cho hắn thứ danh hão ấy, thay vào đấy, thói háo sắc của hắn chuyển vào nấp trong bóng tối. Nghe đồn là hắn chuyên tằng tịu với đám quả phụ trẻ trong thành. Lời đồn đại thì có phần khoa trương, nhưng cũng có đôi, ba lần là sự thực, trong đó có một lần xảy ra sự kiện người đàn bà kia tìm cách tự sát, nên chuyện bại lộ trước mắt mọi người. Chuyện chơi bời thời trai trẻ của Shimamura thì đã được khoan dung bỏ qua, nhưng lúc này hắn đã là người chủ một gia đình, có vợ có con rồi, nên chuyện bêu diếu ấy đã bị tầng lớp cao cấp trong phiên trấn đưa ra nghiêm trị. Shinnojo nghe nói Shimamura đang đêm bị gọi đến tư dinh quan Gia lão [3] thứ nhì Nomura Sukezaemon để chịu quở trách nghiêm khắc. Tuy nhiên, tầng lớp cao cấp trong phiên trấn có cau mặt trước hành vi ấy của Shimamura đi nữa, cũng muốn giữ kín sự vụ trong nội bộ mà thôi. Quan Gia lão thứ nhì chỉ quở trách như thế là xong, bởi hắn thuộc dòng thế gia vọng tộc, nhà Shimamura từ ngày xưa đã có ba đời liên tiếp làm quan đến cấp Gia lão, cha hắn khi còn sống đã là một trưởng tổ, tham gia vào việc cai trị phiên trấn.
    Những lời đàm tiếu trong giới thuộc hạ của Lãnh Chúa, những suy xét châm chước của tầng lớp cao cấp trong phiên trấn không biết đã được Shimamura nhận thức như thế nào. Shimamura cao lớn, có khuôn mặt cân chỉnh ra vẻ con nhà dòng dõi. Nhưng khuôn mặt ấy thường thoảng nét cười khinh khỉnh không ai hiểu có ý nghĩa gì. Nét cười như thế vẫn không đổi khi hắn nghe tin cô vợ goá trẻ nhà Komano cắt cổ tay quyên sinh, hay cả khi hắn bị quan Gia lão thứ nhì quát mắng ầm ĩ về thói trăng hoa.
    Một chuỗi những lời đàm tiếu vừa êm đi thì có tin vợ con của Shimamura bỏ về nhà bên vợ. Tin đồn ấy một thời đã là đầu đề bàn tán trong tổ Cận vệ, nhiều người công nhiên lộ vẻ chê cười nữa, nhưng chính đương sự thì vẫn nở nụ cười khinh khỉnh cố hữu, và vẻ mặt bất cần mặc cho gió thổi bên tai.
    Tuy vậy, Shimamura không phải là thứ người bất tài thường thấy ở đám con cháu các thế gia vọng tộc. Hắn vẫn được biết là người có tài năng, làm việc trong thành rất nhanh nhẹn đắc lực. Thông minh, giỏi kiếm thuật, ngày xưa đã có thành tích là một trong những môn sinh cấp cao nhất trong võ đường Miyagi phái Itto. Tầng lớp cao cấp trong phiên trấn sở dĩ hạn chế việc xử phạt hắn ở mức quở trách mà thôi như thế, có lẽ không chỉ vì châm chước cho người thuộc gia tộc có danh vọng, mà còn từ suy tính rằng chỉ cần bỏ thói trăng hoa ấy đi thì hắn là nhân vật sau này sẽ tham gia vào việc cai trị trong phiên trấn nữa.
    Sau vụ đó, bẳng đi khoảng ba năm không nghe một lời đồn đại nào về thói háo sắc của Shimamura nữa. Tất nhiên, vợ con hắn cũng đã trở lại trong nhà hắn. Lúc tưởng là Shimamura đã chừa thói trăng hoa ấy rồi, thì đùng một cái, lại xảy ra chuyện vợ Shinnojo bị hắn dụ dỗ.
    -"Ai chứ Shimamura thì đúng rồi!". Shinnojo hiểu ra. Hành vi đê tiện đến mức ấy thì chỉ có tên này làm được mà thôi. Dù vậy, anh vẫn không hiểu được vì sao Kayo lại có thể phản bội chồng mà tiếp tay với hắn trong hành vi đê tiện ấy. -"Ngoại tình từ nguyên nhân nào mới được chứ?"
    Tokusuke rón rén bước ra khỏi phòng xong, Shinnojo vẫn còn ngồi thừ ra suy nghĩ. Kayo chẳng phải là loại đàn bà chỉ vì thấy kẻ kia là cấp trên của chồng mình mà sa ngã theo. Quái lạ thật!
    Nhưng sự quái lạ ấy đã được giải minh một cách đơn giản khi Shinnojo căn vặn Kayo tối hôm ấy.
    Lúc đầu Kayo không nhận tội. Trước những lời tra vấn nghiêm ngặt của chồng, Kayo ngồi im lìm suốt gần một giờ, khiến Shinnojo phải than thầm sao mà vợ mình có thể ngoan cố đến như thế. Nhưng cuối cùng, bất chợt Kayo khóc oà lên và thú nhận chuyện ngoại tình.
    Số là Shinnojo bị mù mắt trong lúc làm phận sự nếm độc trong thức ăn cho Lãnh Chúa. Lãnh Chúa Ukyo Dayu Yorichika có thói quen dùng bữa trưa trong phòng làm việc. Vì thế, tổ Cận vệ cắt người thay nhau từng tháng làm việc nếm thử xem có độc trong thức ăn không. Rủi là vào ngày làm việc của mình, Shinnojo nếm thử thức ăn, đã thình lình phát bệnh mà ngã ngay ra sàn. Cơn đau kịch liệt cuồn cuộn ở cả bụng lẫn ngực anh, thân nhiệt bốc cao đến làm anh bất tỉnh phải khiêng về nhà. Người nóng hầm hập suốt mười ngày, khi hạ nhiệt thì mắt Shinnojo không còn thấy được gì nữa cả.
    Thân thể Shinnojo trở nên không còn thích hợp cho công việc nữa. Đương nhiên, anh đã cầm bằng bị truất hết lương bổng rồi. Thế mà, sau này sứ giả của phiên trấn đã đến thông báo là bổng lộc được giữ nguyên, anh hãy cẩn trọng dưỡng sinh.
    Thật ra, chính thông báo ấy đã do vợ anh, Kayo đổi chác trinh tháo mà có. Không bao lâu sau ngày mắt Shinnojo không còn nhìn thấy nữa, y sĩ chữa mắt Kusanagi đã bảo riêng với Kayo là không còn chữa trị gì được nữa rồi. Shinnojo thì nghĩ là Kusanagi đã đầu hàng trước bệnh mắt của anh từ mùa thu năm ngoái, chứ thực ra trước đó một năm, Kusanagi đã chẩn đoán như thế rồi. Lúc nghe Kusanagi phán như thế, Shinnojo đã kinh động đến muốn nhảy nhỏm lên khỏi sàn bệnh.
    Không đành lòng nhìn chồng bị dày xéo trong bất hạnh, Kayo đã trăn trở loay hoay tìm đủ cách để giúp chồng, cuối cùng đã tìm đến cấp trên của Shinnojo là Shimamura để nhờ nói giúp cho nhà Shinnojo được sống sót. Shimamura đã nhận lời. Sau khi hứa hẹn chắc chắn sẽ tận lực giúp việc ấy, hắn đã nở nụ cười khinh khỉnh cố hữu mà đòi hỏi chuyện đền bù cho hắn bằng thân thể của Kayo. Không còn cách nào khác hơn, Kayo đành trao thân cho số phận, cầm bằng như người đã chết rồi. Bởi lời hứa chắc của người dòng dõi thế gia vọng tộc ấy thế nào cũng sẽ mang lại kết quả, chỉ cần trao cho hắn điều hắn muốn. Tất nhiên là Kayo định chỉ một lần mà thôi. Thế nhưng Shimamura thì đâu có thể thoả mãn với chỉ một lần ăn vụng được. Hắn đã cưỡng bách Kayo những lần sau đó. Quả thật, nhà Mimura đã nhận được thông báo đặc biệt may mắn từ phiên trấn. Nhưng Kayo đã rơi xuống địa ngục rồi.
    -"Em hiểu là sẽ có ngày chuyện vỡ lỡ ra, lúc đó sẽ cam chịu mọi hình phạt xứng đáng. Xin anh cứ tận tình xử phạt em".
    -"Thật là ngu xuẩn!". Shinnojo quát lớn khi nghe vợ kể xong. -"Quý báu gì món bổng lộc chỉ 30 hộc ấy! Có bị truất đi mà phải sống đầu đường xó chợ thì đã sao nào? Chứ nhà này đã giữ lại được nhờ môi mép của thằng đàn ông trộm cướp vợ người ấy, thì càng nghĩ đến càng muốn nôn mửa ra. Nhà này rồi cũng đến vứt đi mà thôi!"
    -"Thưa anh, không phải em vì nhà Mimura đâu". Shinnojo cảm thấy như vợ anh nãy giờ cúi gục xuống chợt ngẩng mặt đẫm nước mắt lên. Kayo lết lại gần, bàn tay nắm lấy đầu gối anh. Rồi nói giọng thầm thì. -"Anh quên rồi ư? Lúc anh nhỏm dậy như bật lên khỏi sàn bệnh ấy, anh đã đòi mang kiếm đến cho anh mổ bụng tự sát đấy. Anh bảo là thân thể không còn làm việc được thì sống nữa mà làm gì..."
    -"......"
    -"Cả em lẫn Tokusuke đều không dám mang kiếm đến nên anh đã tự mình lết đi mà tìm cho được thanh kiếm đấy." Ðầu gối Shinnojo rung lên dưới bàn tay Kayo. Nghe như nước mắt nóng ấm đẫm ướt đầu gối anh. -"Em không muốn anh chết. Cho dù thân em có ra sao đi nữa..."
    -"Lại càng ngu xuẩn hơn nữa!"
    Shinnojo từ từ kéo đầu gối rời khỏi bàn tay Kayo, rồi gọi Tokusuke. Nghe tiếng đáp ngay, có vẻ lão bộc nãy giờ vẫn ở gian bếp ngay bên cạnh để lắng nghe. -"Kể từ giờ phút này, ta ly hôn với người đàn bà này. Lập tức tom góp đồ đạc, đưa ra khỏi nhà này ngay đi!"
    -"Nhưng, thưa cậu..." Tokusuke vội nói. -"Trời đã khuya quá rồi mà..."
    -"Thôi, Tokusuke khỏi nói nữa". Kayo nói, giọng trở lại bình thường. -"Cậu chủ đã tha chết cho rồi. Xin cảm tạ mà bái lĩnh".
    Kayo thu xếp đồ đạc chỉ trong vòng nửa giờ là xong. Shinnojo im lặng nghe động tĩnh Tokusuke đưa Kayo ra khỏi nhà. Đến lúc ấy, Shinnojo mới chợt nhớ là Kayo đâu có chỗ nào để trở về, nhưng anh quyết liệt đè nát quan tâm ấy. Anh chỉ muốn nghĩ đó là người đàn bà đã lừa dối, phản bội anh mà thôi. Nhưng lạ thay, tình cảm căm ghét Kayo không nổi lên được trong lòng anh, chỉ tràn ngập nỗi niềm cô độc hiu quạnh.
    Không bao lâu, Tokusuke quay trở vào.
    -"Đi rồi à?"
    -"Thưa vâng. Cô dặn là ráng chăm nom săn sóc cậu, rồi cứ khóc mãi thôi...". Giọng nói của Tokusuke cũng đẫm nước mắt lẫn tiếng sụt sịt khịt mũi rõ to. -"Rồi cô đi thất thểu thật tội nghiệp quá. Mà...". Tokusuke chợt đổi sang giọng lo âu. -"cô đi đâu được bây giờ? Có ai là thân thích gì đâu! Chao ôi...".
    Có vẻ Tokusuke đứng ngồi không yên, giọng nói chợt sắc nhọn hẳn lên. -"Đêm đã khuya thế này, còn đi đâu được nữa chứ. Mà cậu cũng nhẫn tâm quá. Phải chi cậu nhẫn nhịn cho một đêm nay nữa thôi... Hay là để tôi chạy theo gọi cô ấy lại..."
    -"Thôi, đừng nói nữa. Yên đi nào!". Shinnojo mắng.
    Anh như trông thấy hình dáng Kayo thiểu não ôm gói áo quần trước ngực, lảo đảo lầm lũi bước xa dần trên đường đêm tối ám. Nhưng chỉ là dáng sau lưng, có đuổi theo cũng vô ích!
    -"Hãy quên chuyện Kayo đi. Mà này Tokusuke, có chuyện cần nhờ đây. Đã tối rồi mà còn làm phiền ông đấy, nhưng mà hãy đến ngay nhà Yamazaki Hyota, nhắn anh ấy sáng mai trước khi vào thành, ghé lại đây hộ tôi đi".

(xem tiếp phía dưới)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sun Jan 12, 2014 1:53 pm


Danh dự của người võ sĩ (tiếp theo)

5

Yamazaki Hyota dò hỏi theo lời nhờ của Shinnojo, đã đến cho anh biết kết quả vài ngày sau đó. Lúc ấy, Shinnojo đang đứng ngoài vườn, vung tập thanh kiếm gỗ.
    -"Chao ôi, quang cảnh này sao mà gợi lên lòng thương hại của người ta đến thế!". Yamazaki vừa bước vào vườn đã quay nhìn Shinnojo mà châm chọc thẳng thừng.
    Giọng anh thật to. -"Múa kiếm gỗ thế thì đã nhớ lại được ngày xưa chút nào chưa? Nhưng mà, tay kiếm nổi tiếng ngày xưa bây giờ đã thành ra mù loà thế thì còn gì nữa đâu. Đáng tiếc. Chẳng bù với tớ, thân thể lành lặn thế này, mà kiếm thuật thì lại chẳng tiến thêm được chút nào cả. Ông Trời thật là hà tiện quá, chẳng cho ai được hoàn toàn cả".
    Shinnojo cười đau khổ. -"Thế chuyện đã nhờ thì xong chưa nào?"
    -"À, điều tra ra rồi đây". Yamazaki lững thững tiến lại gần, nhưng chợt dừng chân, nín thở rồi thốt lên. -"Ồ". Có vẻ anh vừa nhìn thấy vô số xác côn trùng la liệt dưới chân Shinnojo.
    Không khí xao động mạnh trước mặt Shinnojo, hơi hướm Yamazaki rời ra xa. Có vẻ Yamazaki bất chợt nhảy lùi lại rồi.
    -"Này, không đùa đấy chứ?". Yamazaki nói. -"Chả lẽ mấy xác côn trùng ấy là do cậu chém rơi đấy sao?"
    -"Ừ, thì thế..."
    -"Thế thì đưa kiếm gỗ ấy cho tớ. Chứ bọn kiếm sĩ này, không đề phòng cẩn thận thì nguy hiểm quá".
    Shinnojo phì cười, nhưng cũng nghe lời, trao thanh kiếm gỗ cho Yamazaki và nói:
    -"Khỏi lo, cậu thì khác với ruồi muỗi chứ!".
    -"Ai mà biết được. Chẳng phải cứ vật gì cử động là cậu chém cho một nhát ngay đấy sao?".
    Chỉ là lời nói đùa của Yamazaki, nhưng lại đúng với kiếm pháp mà Shinnojo mới hội đắc được mấy ngày gần đây.
    Trong vườn mùa hè có vô số côn trùng bay lượn. Lớn có nhỏ có. Có loại bay nhanh vút qua, cũng có loại bay vòng, vỗ cánh thành tiếng nặng nề. Ruồi trâu và ong thì thường uy hiếp Shinnojo mù loà nhất. Nhưng một hôm, tình cờ nhát kiếm vô thức của Shinnojo phát ra tiếng nhỏ lúc đánh rớt một côn trùng nhỏ bay đến. Shinnojo chợt cảm thấy tay kiếm tưởng đã thành vô dụng của mình bỗng nhiên có được một sinh lộ mới. Chuyện đã hơn một tháng trước rồi.
    Từ đó, buổi tập kiếm của Shinnojo đổi dạng. Sau khi vung kiếm gỗ một hồi cho thân thể dẻo dai ra, Shinnojo đứng yên, tấn kiếm theo thế Thanh nhãn. Ánh nắng mùa hè nóng hực. Trên mặt anh dần dần mồ hôi rịn ra thành hạt chảy tràn qua cổ xuống lưng xuống ngực, nhưng Shinnojo vẫn đứng yên, chờ côn trùng bay đến. Anh nhìn đăm đắm vào khoảng tăm tối bao la. Chợt có vật gì bay tới. Nhắm vào chút động tĩnh ấy, Shinnojo vung kiếm nhanh như chớp. Lúc đầu, kiếm anh chém vào khoảng trống không, lũ côn trùng hẳn đã diễu cợt mà đậu xuống mặt xuống tóc anh. Nhưng dần dần, thanh kiếm gỗ của Shinnojo đã chém trúng vào côn trùng thật chính xác. Bây giờ thì anh có thể chém mười phát trúng đến chín.
    Khoảng đầu, cảm giác của anh còn nghễnh ngãng, ngay cả đối với vật gì có ngay trước mặt anh nữa, nhưng dần dần được mài giũa bén nhọn thêm, cuối cùng anh đã có thể chém trúng vào vật di động trước mũi kiếm, rồi còn có thể cảm nhận được hơi hướm, động tĩnh của vật gì đang từ xa bay đến, để tiến bước mà chém trúng nữa. Những kỹ thuật đã tập luyện ở võ đường Kibe bao lâu nay ngủ im nay lại khai nhãn được cho anh trong thế giới tối tăm này.
    -"Thế nghĩa là...". Yamazaki nói, sau khi dắt Shinnojo vào dưới mái hiên rồi cùng ngồi xuống. -"cậu đã hội đắc được kiếm pháp gọi là "Chém ngược vào tiếng vọng" rồi đấy sao?"
    -"Không đâu. Còn khó khăn lắm mới đạt đến mức ấy". Shinnojo đáp.
    "Chém ngược vào tiếng vọng" là kiếm pháp bí truyền đắc ý cùng cực của võ đường Kibe. Tổ phụ của chủ võ đường Kibe là Une Masanosuke đã được truyền thụ kiếm pháp Mumyogiri (Vô minh kiếm) của phái Togun, rồi khổ công nghĩ ra thêm chiêu thức mà bồi đắp thành kiếm pháp cùng cực ấy. Nhưng chủ võ đường Kibe Sonhachiro chưa hề truyền lại cho môn sinh nào cả. Chỉ nghe truyền tụng rằng ngày trước, trong cuộc đấu tế lễ vào mùa đông một năm nọ, Kibe Une Masanosuke đã bất giác phải dùng mà lộ ra kiếm pháp ấy, nhưng đến nay thì hầu hết những người đã may mắn thấy được kiếm pháp ấy đã qua đời cả rồi, nên thực hư ra sao, chẳng ai trong đám môn sinh biết được cả.
    Nghe người ta đồn rằng, lúc ấy Masanosuke chọn bốn môn sinh, trao kiếm gỗ cho, còn mình thì chỉ nắm một thanh kiếm tre, quát bảo bốn môn sinh nhất tề tấn công ông. Nhưng bốn môn sinh hò hét xông tới chém ấy, chỉ trong thoáng chốc, đã ngã lăn quay quanh Masanosuke.
    Nghe đâu lúc sử dụng kiếm pháp thần tốc ấy, Masanosuke đã nhắm mắt một nửa, mặt đổi sang màu xanh xám như mặt xác chết. Đến sau khi đã chém ngã cả bốn môn sinh, mặt ông vẫn còn xanh xám như thế và ông còn đứng yên một hồi rõ lâu.
    -"Làm sao mà bì được với kiếm pháp ấy!". Shinnojo nghĩ thầm. Thế kiếm chém côn trùng của mình chỉ là phần kỹ thuật mà thôi, còn kiếm pháp bí truyền "Chém ngược vào tiếng vọng" ấy còn vượt lên trên kỹ thuật nữa. Tuy vậy, anh hiểu được tâm tình của Yamazaki khi thốt lên tên gọi của kiếm pháp bí truyền ấy. Shinnojo đã từng được gọi là nhân tài kiệt xuất của võ đường Kibe, đến khi trình độ kiếm thuật của anh đạt đến mức ngang ngửa với thầy dạy là Kamisaka Shonosuke thì đã có lời đồn là thầy chủ võ đường định sẽ truyền thụ kiếm pháp bí truyền ấy cho anh chứ không ai khác. Yamazaki thì, đúng như anh ta đã nói, không tiến bộ mấy về kiếm thuật, nhưng cũng là môn sinh có nhiệt tình tập luyện không thua kém người nào trong võ đường Kibe. Nay lại thấy Shinnojo cầm kiếm, mắt nhắm một nửa, mặt xanh xám mà đứng yên như thế, hẳn đã nhìn thấy chồng lên hình ảnh ông Kibe Une Masanosuke như lời người ta đồn đại ngày xưa. Tuy chỉ có thế mà bất chợt liên tưởng đến kiếm pháp bí truyền ấy thì có lẽ vì Yamazaki chưa tinh thông về kiếm lắm.
    -"Thế điều tra ra được gì rồi?". Shinnojo hỏi.
    Yamazaki không chỉ là đồng môn của anh ở võ đường Kibe, mà còn là đồng sự ở tổ Cận vệ, và là bạn tâm đắc nhất trong tổ. Anh đã nhờ Yamazaki bí mật dò hỏi về những chuyện đã xảy ra khoảng trước sau lúc anh ngộ độc trong thành, và tiến trình đưa đến việc cho anh giữ nguyên bổng lộc cũ thay vì chỉ cấp cho mức lương bố thí. Anh đã không nói lý do, nhưng Yamazaki sốt sắng nhận lời hỏi giúp ngay. Giờ đây, Yamazaki cũng thản nhiên nói: -"À, đã đi vòng vòng dò hỏi rồi, nhưng chẳng có gì đáng nghi cả. Không có chút gì đáng cho cậu phải e dè..."
    -"......"
    -"Nghĩa là, cậu cứ việc đường đường ăn ngủ bình thường là được rồi".
    Sau khi người nếm thử kiểm độc trong thức ăn của Lãnh Chúa, là Shinnojo ngã xuống đau đớn, thì chung quanh Lãnh Chúa đã náo động cả lên vì lo sợ thuốc độc. Thế nhưng, cuộc điều tra thận trọng sau đó đã vạch ra nguyên nhân là chất độc từ sò Kasagai dùng để nấu món canh trong bữa cơm trưa ấy. Đầu bếp đã vô ý dùng phải sò cũ, nên sau đó bị xử đuổi ra khỏi phiên trấn, và cả các quan chức liên hệ cũng bị xử phạt, thế là sự kiện đã được giải quyết xong xuôi.
    Tất nhiên khi biết là Mimura Shinnojo phát nhiệt cao rồi bị mù mắt, các quan lớn cũng đã bình nghị chuyện đối xử với nhà Mimura. Có một ngài bàn là hãy lấy nhà lại, cấp cho lương bố thí chừng 20 hộc một năm cho đủ sống sót là được rồi. Nhưng đa số đã nghiêng về phía muốn che chở anh. Có ngài chủ trương rằng Shinnojo đã mất cả thị giác lẫn chức vụ thì nên thưởng thêm cho anh nữa. Phần lớn thì tán đồng ý kiến chỉ giảm một ít bổng lộc thôi và cho anh tiếp tục giữ nếp nhà Mimura. Quyết định cuối cùng của chuyện bình nghị ấy là từ chính Lãnh Chúa Ukyo Dayu: cho Shinnojo giữ nguyên bổng lộc và khuyến khích cố gắng trị bệnh.
    -"Quyết định ấy của Lãnh Chúa...". Shinnojo nói, thận trọng. -"có tham khảo ý kiến vị nào dâng lên không, để có được kết quả khoan dung đến như thế?"
    -"Không, không. Chẳng có chuyện đó đâu". Shinnojo nghe hơi gió, biết là Yamazaki xua tay mạnh mẽ mà nói. -"Cuộc bình nghị ấy không nhất trí được nên quan Gia lão đến phiên trực tháng ấy là ngài Nose mới trình lên thỉnh ý Lãnh Chúa. Lãnh Chúa suy nghĩ một lúc rồi phán rằng nếu không nhờ Shinnojo nếm độc đến mắc bệnh, thì hẳn là chính Lãnh Chúa mà cả người trong nội cung nữa, cũng đã bị ngộ độc thê thảm rồi. Nghe nói Lãnh Chúa đã truyền quyết định như thế ngay lập tức kia mà. Tớ đã nghe chính miệng ngài Nose cho biết thế đấy, không nghi ngờ vào đâu được..."
    -"......"
    -"Thực tế, khi cậu nếm xong ngã ra đấy, thì thức ăn đã được mang vào nội cung cả rồi, đúng là chỉ còn khoảng cách một sợi tóc là cả nội cung bị nguy hiểm, thế nên Lãnh Chúa đã cảm kích lắm đấy".
    -"Thế thì, chuyện cấp trên của mình là ngài Shimamura đã dâng lời xin với trên cho mình được giữ lại bổng lộc cũ, chắc là không có?"
    -"Nói gì thế?". Yamazaki lên giọng, bộc lộ rõ rệt ác cảm thường ngày anh vẫn ôm trong lòng đối với cấp trên ấy. -"Ông ấy mà nói gì để giúp cho người nào được à? Ở sở làm, khi nghe đồn mắt cậu đã mù đi thì ông ta cười khinh khỉnh như thường lệ mà bảo thế là Mimura giờ cũng thành kẻ vô dụng rồi. Chính tai tớ đã nghe như thế đấy".
    Yamazaki nhỏm dậy, bước xuống vườn, vươn vai ngáp. Rồi trở lại giọng ôn tồn: -"Chuyện là như thế. Cho nên cậu không cần phải e dè gì cả. Cứ thung dung mà chữa bệnh là được rồi. Tớ cũng phải ganh tỵ với cậu đấy. Hay là tớ cũng nếm thử thứ sò độc ấy cho được như cậu".
    -"Đừng có nói điên thế".
    -"Mà này, chị ấy về quê chưa trở lại à?". Yamazaki hỏi. Yamazaki chưa được anh thổ lộ chuyện chia tay với Kayo. Cũng chẳng phải là chuyện gì nên loan truyền ra ngoài. -"Nhà không có đàn bà thì có vẻ bẩn bẩn thế nào ấy! Sao mà u ám quá!". Có vẻ Yamazaki đã dòm vào bên trong nhà nên nói như thế. Rồi phàn nàn: -"Khách đến viếng thế này mà một chén trà cũng chẳng có!".
    Yamazaki về rồi mà Shinnojo vẫn ngồi yên ở hiên nhà. Khí nóng đã hạ bớt phần nào, có lẽ trời đã xế chiều.
    -"Thằng đê tiện!". Shinnojo nghĩ về Shimamura. Kết quả dò hỏi của Yamazaki có vẻ khả tín. Kayo vẫn tin rằng nghiệp nhà Mimura sở dĩ được bảo tồn như thế là do công của Shimamura nói giúp vào, nhưng sự thực thì tiến trình quyết định ấy đã chẳng có chỗ trống cho Shimamura chen miệng vào lúc nào cả. Mà có thể hắn cũng chẳng hề muốn xen vào làm gì. Như thế, chỉ là chuyện hắn thấy tự nhiên mà ngay trước mắt lại có được cơ hội để tha hồ lợi dụng một người đàn bà son trẻ, nên đã quáng mắt mà làm điều đê tiện đó thôi. Kayo đã bị hắn lừa rồi.
    Trước mắt Shinnojo dần dần hiện lên hình ảnh một người đàn bà nhẹ dạ và một thằng đàn ông đê hèn. -"Không thể để mặc như thế này được!" Shinnojo cảm thấy chút phân vân cuối cùng đã tiêu tan, lòng anh đã quyết! Anh đứng lên, gọi lão bộc. -"Mấy giờ rồi, Tokusuke?"
    -"Thưa cậu, đã gần 6 giờ chiều rồi đấy. Ðể tôi làm cơm..."
    -"Cơm thì để đó đã". Shinnojo nói. Giờ này thì hẳn là Shimamura đã rời thành về đến nhà rồi. -"Đến ngay nhà Shimamura hộ tôi đi". Anh hiểu là lão bộc giật mình, run rẩy. -"Nói với ông ấy thế này: chiều ngày mốt lúc 6 giờ, tôi sẽ chờ ông ấy ở bờ sông bên cạnh bãi thả ngựa ấy. Chỉ cần nói thế là được rồi".
    -"Thưa cậu..."
    -"Đừng cho người nhà nghe, cứ nhờ Shimamura đưa vòng qua phía hiên sau mà nói như thế trực tiếp với ông ấy thôi. Chẳng có gì phải lo ngại cả". Shinnojo vươn tay vỗ lên vai Tokusuke đang run lẩy bẩy. -"À, nói thêm thế này nữa: cậu chủ tôi bảo là đừng thấy kẻ mù mà khinh thường".

6

Shimamura đến đúng giờ hẹn.

    Shinnojo đang ngồi khom người chợt đứng lên, xoay mặt về hướng có tiếng chân bước đến. Lúc ấy, tiếng người nói từ xa trên bãi thả ngựa đã im bặt, cả Tokusuke dắt anh đến đây cũng đã ẩn nấp nơi xa như lời anh dặn rồi nên bốn bề im phăng phắc. Chỉ có tiếng chân bước lại gần trong khoảng im lặng đó. Shinnojo nghiêng mặt nghe ngóng. Tiếng chân chợt ngừng lại. Có vẻ Shimamura chuẩn bị các thứ trên người. Từ đó, hắn đột ngột chuyển sang những động tác thầm lén mà từ từ tiến tới, có vẻ dép cũng đã tháo vất đi rồi.
    -"Nghe nói đã bỏ vợ rồi đấy nhỉ?". Shimamura nói. Giọng có vẻ mai mỉa. -"Nếu thế thì đã xong cả rồi, thế mà vẫn chưa bằng lòng sao chứ?..."
    -"......"
    -"Chém nhau với kẻ mù thì ta không nỡ. Nhưng nếu cậu thế nào cũng phải quyết đấu mới bằng lòng thì cũng được thôi. Khỏi phải khách khí. Hiểu chưa?"
    -"Ta đã bảo là đừng thấy kẻ mù mà khinh thường!". Shinnojo gằn giọng.
    Shimamura cười lớn ra vẻ khinh bỉ.
    Đột nhiên, Shinnojo cảm thấy sát khí bao trùm mình. Shimamura đã tuốt kiếm ra rồi.
    Shinnojo cũng tuốt kiếm đứng tấn. Phía trước mũi kiếm của anh, trong tăm tối, có chút di động nhẹ. Nhưng khoảng cách giữa hai người vẫn còn xa. Một lúc sau, có dấu hiệu địch thủ dời qua bên phải. Các ngón chân của Shinnojo quay sang phải. Có vẻ Shimamura ngừng lại, đứng yên một hồi như để dò chừng tình hình, rồi lại dời sang bên phải một chút nữa. Shinnojo xoay người theo. Chắc chắn lúc này Shimamura đang đâu lưng về phía hàng rào của bãi thả ngựa.
    Thình lình, dấu hiệu động tĩnh của Shimamura ngưng bặt. Shinnojo cảm thấy luồng khí lạnh khủng hoảng chạy suốt sống lưng anh. Trước mắt anh là cả khoảng tăm tối bao la vô tận, vắng bặt mọi động tĩnh dù nhỏ đến đâu. Ngay cả tiếng thở nhẹ cũng không có. Nhưng chẳng phải là Shimamura đã bỏ chạy đi đâu. Hắn hẳn là đang còn ở gần đây. Bởi sát khí nồng đượm đến nghẹt thở vẫn còn bao phủ thân người Shinnojo. Toàn thân anh toát mồ hôi.
    Mình thua rồi sao? Shinnojo nghĩ thầm. Nếu là thứ gì động đậy thì dù là côn trùng nhỏ tí, anh cũng có thể chém rơi được, nhưng nếu không có chút dấu hiệu cử động nào cả thì anh đành chịu thôi. Shimamura là một tên đàn ông đáng phỉ nhổ, nhưng hắn lại là một kiếm sĩ tài ba của phái Itto. Có thể hắn đã có nghiên cứu chiêu thức gì đặc biệt để đối phó với kiếm pháp của người mù rồi.
    Thế nhưng, nỗi hoang mang trong lòng anh đã lắng đọng ngay được. Thắng hay thua không phải là tất cả. Anh chỉ cần bảo vệ được danh dự của người võ sĩ. Kẻ địch chắc chắn sẽ ra tay ngay đây. Lúc ấy chính là giây phút quyết định thắng bại đối với anh, dù sẽ sống hay chết.
    -"Ra tay đi Shimamura. Ta sẵn sàng rồi đây". Anh nghĩ.
    Ở võ đường Kibe, lúc được trao ấn chứng, môn sinh được dạy cho hiểu điều này: "Giữ lòng ở điểm hai bên cùng chết. Thắng được là nhờ đó" và "Hết sức làm cho đến chết thì tìm thấy đường sống". Ngay lúc này đúng là trạng huống cùng cực để anh áp dụng lời dạy đó.
    Shinnojo buông thả mình chìm xuống trong khoảng không tăm tối, để lòng xa lánh chuyện thắng bại, cách ly với chuyện sống chết. Nghĩ rằng mình đã một lần định chết rồi, thì lòng anh nhẹ nhàng rời xa cái chết. Shinnojo đứng yên, hoà mình làm một vào cõi hư không tăm tối.
    Vật nặng ấy rơi xuống từ hư không. Như trên trời rơi xuống vậy. Shinnojo lùi lại một bước, chém thẳng vào hư không, như trong vô thức. Anh cảm thấy cánh tay trái nhói đau như bị xước, cùng lúc, anh nghe tiếng thét đau đớn của Shimamura. Tiếp theo đó là tiếng vật nặng bị ném xuống đất.
    -"Cậu chủ ơi!". Tokusuke chạy lại, gọi anh với giọng run run.
    -"Coi chừng! Có thể hắn còn sống đó!".
    Shinnojo quát lớn, khiến Tokusuke sợ hãi đứng khựng lại, nhưng rồi nói ngay: -"Thưa, khỏi lo rồi. Ngài Shimamura không còn thở nữa".
    -"Vậy à?"
    -"Ôi, nguy hiểm quá chứ! Ngài Shimamura đã leo lên hàng rào, đứng như chim đậu trên ấy. Cứ sợ không biết cậu chủ có nhận ra được thế không, đến nỗi gan mật tôi cứ co rút cả lại".
    Hoá ra đấu pháp đặc biệt của Shimamura là thế đấy. Hắn đứng yên trên hàng rào cao và xa để anh không cảm nhận được động tĩnh gì, rồi từ trên không lao xuống mà chém một nhát chí tử.
    Còn thế kiếm của anh, có phải gần với kiếm pháp "chém ngược vào tiếng vọng" đó không?. Shinnojo đã chém banh thân người của Shimamura ra chỉ bằng một nhát chém ngược hầu như trong vô thức. Lưỡi kiếm không có thời gian để dò tìm động tĩnh của kẻ địch, nên đã hầu như tự động phản ứng theo động tác của đối thủ. Ðường kiếm đó quả là đã phát sinh từ tấm lòng trống như hư không của Shinnojo.
    Nhưng anh không định nhờ thầy Kibe Sonhachiro xác nhận điều đó. Bởi anh nghĩ sẽ không còn so kiếm với ai nữa cả.
    Chỉ một nhát kiếm của Shinnojo đã cắt đứt động mạch ở cổ Shimamura. Khỏi cần đến nhát kiếm ân huệ nào nữa. Shinnojo giở đùi đứng dậy, bảo Tokusuke: -"Thôi, ta đi".


    -"Ta đã ớn mấy món Tokusuke nấu rồi. Kiếm thứ gì thay đổi đi chứ". Shinnojo nói.
    -"Thì lúc nãy tôi đã thưa với cậu rồi đấy. Xin thuê một cô người làm để lo chuyện nấu nướng".
    -"Được rồi, kiếm người ngay đi. Phải là người quen việc bếp núc mới được đấy. Bà già cũng được, cho ông có người nói chuyện."
    Cái chết của Shimamura đã được người nhà hắn thưa lên quan như một cái chết khả nghi, và quan Kiểm sát đã cho điều tra ngay, nhưng sau đó được cho qua nhanh chóng. Thây Shimamura còn quấn khăn đầu, mặc quần võ sinh, nên rõ ràng là đã đấu kiếm sinh tử với người nào đấy rồi, nhưng đối thủ là ai thì quan Kiểm sát đã đành mà người trong thành cũng chẳng ai nghĩ đó có thể là người mù Shinnojo. Anh đã lo là lão bộc Tokusuke có thể bị tra vấn vì đã đến nhà Shimamura đưa lời thách đấu hộ anh, nhưng điều đó cũng không xảy ra. Người nhà Shimamura hôm ấy chẳng ai buồn để ý đến một lão già lưng còng như Tokusuke.
    Chẳng bao lâu, không còn ai nói gì đến cái chết thô bạo của Shimamura nữa.
    Ngày tháng trôi qua, mùa xuân lại đến. Trong khoảng thời gian đó, nhà Shinnojo trải qua những ngày sống bình thường tẻ nhạt, không có gì đáng nói, trừ đôi khi, người chị họ Ine đến chơi với ý định mai mối cho Shinnojo tái hôn. Ine nhiều lần nhiệt tâm thúc giục Shinnojo tái hôn đến sôi bọt mép, nhưng lần nào Shinnojo cũng từ tạ, nên đành hậm hực ra về.
    Ba ngày sau khi Shinnojo bảo tìm người làm, Tokusuke dắt một người tớ gái về. Bảo tên là Chiyo, 25 tuổi, quả phụ nhà nông đấy. Chỉ một mình Tokusuke nói suốt, người đàn bà kia thì hầu như chẳng hề lên tiếng. Hai người ra khỏi phòng xong, không lâu sau, đã nghe tiếng dao thớt rộn ràng trong nhà bếp. Chỉ thế thôi, nhưng cũng đủ làm cho căn nhà trước nay chỉ còn hai người đàn ông ấy có lại vẻ tươi vui sáng sủa hẳn lên.
    -"Hừm, có vẻ là người siêng năng làm việc đấy". Shinnojo khen thầm. Không vướng mùi son phấn, mà ít nói nữa thì thật là hợp ý anh.
    Thế nhưng, lúc sắp xong bữa cơm tối, Shinnojo bất giác ngưng đũa, ngẩng mặt lên. Rồi cảm nhận được cử động giật mình của Chiyo đang hầu cơm, anh lại im lặng ăn nốt cho xong.
    -"Hừm, Tokusuke bày trò đây!". Đêm ấy nằm ngủ, Shinnojo cười khổ sở. Anh đã hiểu ra người đàn bà xưng tên Chiyo, bây giờ đang nằm ngủ trong phòng nhỏ bên cạnh nhà bếp ấy chính là Kayo, người vợ mà anh đã ly hôn. Bởi vị canh tương ấy, lối nêm thức ăn, mức cơm chín ấy, tất cả đều đã quen thuộc với lưỡi anh rồi.
    Nhưng Shinnojo không nói gì với Kayo lẫn Tokusuke về việc mình đã để ý mà biết như thế. Mà Kayo như cũng sợ anh để ý nên hiếm khi đến gần Shinnojo, hầu như chỉ ru rú trong bếp.
    Vài ngày sau, Shinnojo tập kiếm ngoài vườn xong, trở vào nhà, hướng về phía bếp, bảo mang trà đến cho anh. Nghe tiếng Kayo đáp, rồi không bao lâu, cửa phòng mở ra và Kayo mang trà vào. Đặt chén trà gần đầu gối anh xong, Kayo cầm bàn tay anh đặt chạm chén trà. Có vẻ đã làm như thế trong vô thức, theo thói quen. Nên Kayo giật mình, co người lại.
    Shinnojo giả bộ không để ý. Từ nhà bếp thoảng mùi thơm thức ăn. Mùi rau warabi mà anh thích. Lúc nãy trong nhà bếp vang tiếng dao thớt đều đều, hẳn là Kayo đã thái rau này rồi.
    -"Tối nay có món gỏi rau warabi đấy à?". Shinnojo nói. -"Món rau warabi năm ngoái cũng ngon quá chứ. Thức ăn thì đúng là phải nhờ đến tay em thôi. Chứ mấy món nhà làm của Tokusuke thì làm sao mà so bì được".
    Anh biết Kayo cứng người lại như đá rồi.
    -"Sao thế? Vắng nhà một thời gian thì mất cả lưỡi rồi sao chứ?".
    Bất giác, Kayo xoay mình chạy trốn. Nghe tiếng cánh cửa nhà bếp đóng lại, rồi không bao lâu có tiếng khóc sụt sùi.
    Làn gió từ hiên nhà thoảng đến mùi hương của lá non. Có vẻ lão bộc Tokusuke đang chẻ củi bên hông nhà, vọng đến tiếng chẻ củi thỉnh thoảng xen lẫn tiếng hách xì. Tiếng khóc của Kayo đổi sang thổn thức áo não. Bao bọc trong đủ thứ tiếng động của đời sống, Shinnojo ngồi ung dung nhắp trà.

Phạm Vũ Thịnh dịch
Sydney, 02/08-06/08

Chú thích:

[1] Hộc: Koku, đơn vị đo lường, khi dùng để tính bổng lộc hàng năm của võ sĩ thì khoảng 150 kí gạo.
[2] Thanh nhãn: Seigan, thế tấn giương thẳng kiếm, chĩa mũi kiếm vào mắt đối thủ.
[3]Gia lão: Karo, cấp quan cao nhất, giúp Lãnh Chúa cai trị phiên trấn.

Ghi chú của người dịch:

Truyện ngắn "Momokuken - Kodamagaeshi" (Kiếm pháp của người mù - Chém ngược vào tiếng vọng) của Fujisawa Shuhei, đăng lần đầu trên tạp chí văn học O-ru Yomimono tháng 7 năm 1980, đã được quay thành phim "Bushi no Ichibun" (Danh dự của người võ sĩ - Love and Honor) năm 2006, với đạo diễn Yamada Yoji (nổi tiếng với loạt phim "Otoko wa tsurai yo - Đàn ông khổ lắm" 48 cuốn từ năm 1969 cho đến 1996), và nam tài tử ăn khách nhất Nhật Bản hiện nay là Kimura Takuya thủ vai chính.



Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
P-C
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Jan 15, 2014 12:02 pm


7 đức tính cao quý theo tinh thần võ sĩ đạo của Nhật Bản


 
Tóm tắt nguồn gốc Samurai
 
Từ Samurai được hiểu rộng rãi là "người phục vụ thân cận với giới quý tộc", dùng để chỉ một người đàn ông dòng dõi cao quý, được chỉ định để bảo vệ các thành viên Hoàng tộc. Theo William Scott Wilson, một nhà nghiên cứu văn hóa Nhật nổi tiếng của Mỹ, từ Samurai xuất hiện sớm nhất vào khoảng năm 905-914 trong hợp tuyển thơ Kokin Wakashū.

Theo các nhà sử học, Samurai nguyên gốc xuất thân từ các kỵ binh, bộ binh và cung binh ở Nhật vào thế kỷ thứ 6. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9, những tầng lớp này chỉ được coi là những võ phu thất học và thô lỗ. Khoảng thế kỷ thứ 10, Samurai chỉ những thị vệ có vũ trang, theo thời gian họ dần giành được vị trí trong chính trị, và ngang hàng với giai cấp quý tộc truyền thống. Sau thế kỷ thứ 11, Samurai ngày càng có học thức và được kính trọng. Họ là những người "văn võ song toàn". Đến thế kỷ thứ 12, Samurai gần như đồng nghĩa với Bushi - những người giữ chức vụ trung và cao cấp trong giai cấp chiến binh. Samurai bắt đầu tuân thủ theo những luật lệ dành riêng cho họ, hình thành một cách sống được biết đến với tên gọi Bushidō - tinh thần võ sĩ đạo.

Đất nước Nhật Bản bước vào thời kì phong kiến từ năm 1185, kéo dài đến 1867, cũng là gần 700 năm đời sống bị chi phối bởi quân đội. Vào giai đoạn hỗn loạn nhất của thời chiến, thuật ngữ Samurai lại dùng để chỉ cơ quan vũ trang của chính phủ, bộ phận duy trì hòa bình và những người lính chuyên nghiệp. Hay ngắn gọn hơn, bất cứ ai luôn trang bị gươm và sẵn sàng chiến đấu đều được gọi là Samurai.



Samurai tham gia chiến trường, năm 1293


Hình ảnh Samurai nửa cuối thế kỷ thứ 19

Tinh thần võ sĩ đạo của Samurai Nhật Bản

Chỉ một vài thập kỷ sau khi giai cấp chiến binh Nhật Bản bị bãi bỏ, một cuốn sách về tinh thần võ sĩ đạo Nhật Bản có tên Bushido: The Soul of Japan của tác giả Nitobe Inazo được xuất bản, và trở thành một trong những cuốn bestseller trên toàn thế giới trong thời kỳ đó. Không chỉ kể về cuộc sống của các võ sĩ đạo Nhật Bản thời xưa, tác giả Nitobe Inazo còn nói nhiều đến những phẩm chất đáng quý của Samurai mà những người đàn ông nên noi theo. Và dưới đây là những phẩm chất đặc trưng trong tinh thần võ sĩ đạo của Samurai:


7 đức tính theo tinh thần võ sĩ đạo của Nhật Bản:

1. Chính trực và công bằng

Là đức tính mạnh nhất của võ sĩ. Một Samurai nổi tiếng đã định nghĩa như thế này: "Chính trực là khả năng đưa ra quyết định vói một lý do thích hợp và không suy chuyển; hi sinh nếu như hi sinh là đúng, đánh nếu như đánh là đúng." Một định nghĩa khác: "Chính trực giống như xương sống giúp định hình cơ thể và phát triển. Không có xương, cái đầu không thể nằm trên cổ, tay không thể cử động, hay chân không thể đứng vũng. Cũng như thế, không có sự chính trực thì dù có tài năng hay cố gắng học hỏi đến mấy, cũng không thể trở thành một Samurai được."
 
2. Can đảm

Can đảm là khả năng đối diện với sợ hãi, đau đớn, nguy hiểm, biến cố, và mối đe dọa. Can đảm chia làm hai loại: can đảm mang tính vật lý, là khả năng đối đầu với sự đau đớn về thể xác, với cái chết; can đảm trong đạo đức là dám hành động đúng khi đối diện với những vấn đề đạo đức hay lối sống. Trong tinh thần võ sĩ đạo, can đảm chỉ được coi là một đức tính khi nó là chính đáng. Hành động can đảm là thực thi những điều đúng đắn.

3. Nhân ái

Là tự nguyện cho đi mà không đòi hỏi nhận lại. Những người có quyền sinh sát như Samurai luôn được mọi người kỳ vọng có cả đức tính nhân ái: biết yêu thương, cao thượng, có lòng cảm thông và thương hại. Nhân ái là thuộc tính cao nhất của tâm hồn. Không có nó, võ sĩ sẽ trở thành những kẻ tàn bạo.

4. Lễ độ

Với người Nhật, có sự khác biệt rõ rệt giữa thái độ khúm núm và lễ độ. Họ cho rằng sự nhã nhặn có nguồn gốc từ lòng nhân ái. Sự lễ độ là biểu hiện của sự quan tâm một cách khoan dung đến cảm giác của người khác, chứ không phải bắt nguồn từ sự sợ hãi.
   
5. Lương thiện

Những Samurai chân chính không coi trọng tiền bạc. Họ tâm niệm rằng: "Đàn ông phải coi thường đồng tiền, để có được sự giàu có về tri thức". Võ sĩ luôn khuyến khích tính tiết kiệm, không phải vì lý do kinh tế, mà là để thực hành những sự tiết chế. Sự xa xỉ được coi là mối đe dọa lớn nhất đến nhân cách.

6. Tự trọng

Tự trọng là có ý thức về danh dự, nhận thức mạnh mẽ về nhân phẩm và giá trị. Samurai sinh ra đã mang sứ mệnh làm rạng rỡ nghĩa vụ và đặc ân của riêng họ. Nỗi sợ bị ô nhục giống thanh gươm luôn kề bên cổ tất cả các Samurai.
 
7. Trung thành

Nền kinh tế dường như đã thổi tung lòng trung thành của con người trên toàn thế giới. Thế nhưng, những người đàn ông chân chính vẫn kiên trung với những gì mà họ còn mắc nợ. Trung thành với cấp trên là đức tính đặc biệt nhất của con người trong thời kỳ phong kiến, có trong mọi loại người, ngay cả những kẻ móc túi cũng luôn giữ lòng trung thành với đàn anh của họ. Samurai được coi là những người đặc biệt trung thành và đây là đức tính điển hình của họ.
 
Ngày nay, võ sĩ đạo còn dùng để chỉ bản sắc của người Nhật hiện đại. Đó là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nghiêm khắc với bản thân, nhân từ với người dưới, khoan dung với địch, xa lánh dục vọng cá nhân, chính trực công bằng, trọng danh dự hơn vật chất.

.
Về Đầu Trang Go down
hoangvu
Khách viếng thăm



Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Fri Jan 17, 2014 5:45 pm


Huyền thoại về 47 Samurai trả thù và tự tử tập thể



Lòng trung thành, sự dũng cảm của 47 Samurai đã thể hiện niềm tự hào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật Bản.

Samurai là niềm tự hào của cả dân tộc Nhật Bản. Tài năng, sự dũng cảm và lòng trung thành của họ là điều không phải bàn cãi. Dưới đây là một trong nhiều câu chuyện hay nhất nói về những phẩm chất ấy của họ - câu chuyện về 47 lãng nhân, một huyền thoại quốc gia của xứ sở hoa anh đào…

Khởi nguồn của tấn bi kịch

Câu chuyện khởi nguồn vào năm 1701 tại Nhật Bản dưới sự cai quản về hình thức của Thiên hoàng ở Kyoto nhưng thực quyền thuộc về đại tướng quân (Shogun) Tokugawa Tsunayoshi tại Edo.

Để tỏ ý kính trọng Thiên hoàng, Tokugawa hàng năm dâng tặng cống vật tới Kyoto vào dịp năm mới, đổi lại Thiên hoàng cho khâm sai tới Edo. Năm đó, nhiệm vụ đón tiếp khâm sai được đại tướng quân giao cho hai thân tín trẻ là Naganori Asano, chúa tỉnh Harima và thành Ako cùng với Munehare Date, chúa tỉnh Sendai.


Chân dung lãnh chúa Asano

Cái chết “oan” của vị lãnh chúa trẻ

Bước ngoặt câu chuyện tới khi Tokugawa cử Yoshinaka Kira - một vị quan lớn tuổi tới để trợ giúp hai lãnh chúa trẻ về lễ nghi đón tiếp. Thế nhưng Yoshinaka Kira lại là một tham quan kiêu ngạo, đòi hỏi cả Asano và Date phải hối lộ cho ông ta những món quà giá trị.

Vì họ không đáp ứng, Kira tỏ ra khó chịu, thường xuyên lăng mạ và sỉ nhục cả hai. Date là người nổi giận trước, suýt nữa đã định giết chết Kira. May sao, quân sư đã khuyên can ông. Date sau đó đã hối lộ cho Kira một khoản cực lớn để ông ta đối xử với mình tử tế.


Chân dung tham quan Kira - khởi nguồn của tấn bi kịch

Ngược lại, Asano không hề làm giống như người bạn mình. Là một người cực kỳ trọng đạo đức, ông không chấp nhận được hành động hối lộ mà Kira yêu cầu. Hệ quả là Kira xúc phạm Asano rất nhiều lần, thậm chí còn gọi ông là “đồ con lợn”.

Asano chịu đựng điều này được trong 2 tháng. Cuối cùng, ngày 14/3 năm ấy, tại thành Edo, Asano đã dùng dao găm tấn công Kira, nhưng chỉ làm ông ta bị thương ở mặt.


Vụ tấn công Kira của Asano ngay trong thành Edo

Vào thời kỳ đó, hành động của Asano bị khép vào trọng tội: tấn công quan của đại tướng quân ngay ở thành Edo. Asano buộc phải thực hiện nghi lễ tự sát Seppuku, bị tịch thu tài sản, gia tộc bị truất quyền thừa kế và 321 Samurai dưới trướng ông trở thành “lãng nhân” (Ronin - Samurai mất chủ, con người trôi dạt). Trong khi đó, tham quan Kira vẫn nhởn nhơ, không bị xử tội gì.


Bia đá tưởng niệm nơi diễn ra vụ tấn công

Kế hoạch báo thù và tâm nguyện được hoàn thành


Những người thân tín, nhất là các Samurai vô cùng bất bình vì cái chết oan của chủ nhân mình. 321 Samurai trở thành Ronin (lãng nhân) nhưng có 60 người còn lại kiên quyết chống lại, lên một kế hoạch trả thù cho chủ nhân của mình. Người đứng đầu kế hoạch là Oishi Kuranosuke - nguyên trưởng quân sư của Asano quá cố.


Oishi Kuranosuke - chỉ huy nhóm 47 lãng nhân

Để tránh khỏi sự nghi ngờ của Kira và vây cánh đồng minh, những lãng nhân này chia nhau ra, giả làm các thương nhân, nhà sư, thậm chí là kẻ nghiện ngập để chờ thời cơ trả thù cho chủ tướng Asano năm xưa.

Sau hai năm, thời cơ đã tới với các lãng nhân. Trong số 60 người, Oishi Kuranosuke chỉ cho phép 46 người cùng với mình tấn công vào dinh thự của Kira. Đêm ngày 14/12/1702, 47 lãng nhân đột nhập vào nhà riêng của viên tham quan.


Cuộc tấn công diễn ra vào một đêm nhiều tuyết và vô cùng ác liệt

Trong vòng 1,5 giờ đồng hồ, 47 lãng nhân đã đánh bại 61 vệ sĩ của Kira mà không hề bị thương một vết nhỏ nào. Họ bắt được Kira khi đang trốn trong một ngôi nhà phụ.


Kết quả, phần thắng thuộc về các lãng nhân

Nhóm lãng nhân yêu cầu Kira thực hiện nghi lễ Seppuku nhưng ông ta không chịu. Kết quả là y bị các lãng nhân chặt đầu, mang tới mộ của Asano để tế lễ. Trên đường đi, một lãng nhân được lệnh phái tới Ako báo tin kế hoạch trả thù đã thành công.


Nhóm lãng nhân được người dân vô cùng yêu quý, nể phục

Trong lúc nhóm Samurai "bị mất chủ" đem thủ cấp của Kira tới bái tế vong hồn lãnh chúa Asano, câu chuyện về cuộc trả thù của họ nhanh chóng được lan truyền. Người dân ca ngợi họ vì lòng trung thành, sự dũng cảm và tinh thần võ sĩ đạo. Thậm chí nhiều người còn mời nhóm lãng nhân nghỉ ngơi, uống nước trước khi tiếp tục hành trình.

Và cái chết thương tâm…

Khi tới Tuyền Nhạc Tự - nơi chôn cất lãnh chúa Asano, Oishi Kuranosuke tắm rửa sạch sẽ cho thủ cấp của Kira, sau đó bái tế chủ soái cũ. Hành động của nhóm 47 lãng nhân tới tai Tokugawa.

Ông cũng cảm phục hành động của họ nên không biết phải xử trí ra sao. Cuối cùng, sau 47 ngày suy nghĩ, cân nhắc, ông ban cho họ lệnh tự xử và miễn tội cho lãng nhân trẻ nhất Terasaka Kichiemon - người đưa tin tới Ako.


Mộ của lãnh chúa quá cố Asano tại Tuyền Nhạc Tự

Sau cùng, 46 lãng nhân còn lại tự chia thành 4 nhóm nhỏ, tất cả đồng loạt tự sát tại Tuyền Nhạc Tự, bên cạnh bia mộ của chủ soái Asano. Sau đó, họ được chôn cất bên cạnh người chủ cũ của mình. Về phần Terasaka, ông sống tới khoảng năm 1747 và sau khi chết, cũng được đem tới chôn cạnh các chiến hữu năm xưa.



Mộ của 47 lãng nhân tại Tuyền Nhạc Tự

Từ đó, huyền thoại về 47 lãng nhân kết thúc và trở thành một trong những câu chuyện nổi tiếng thể hiện niềm tự hào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật Bản.

.
Về Đầu Trang Go down
NHViet



Posts : 348
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Nov 08, 2017 12:15 pm

.

Shishi-odoshi: Văn hóa ống tre Nhật Bản

Không ít người trong chúng ta biết đến và yêu thích đài phun nước ống tre, nhưng bạn có biết rằng nó có nguồn gốc từ Nhật Bản với tên Shishi-odoshi. Mang âm hưởng tinh thần wabi-sabi đặc trưng của người Nhật, đài phun nước này giúp xua tan cái oi bức của mùa hè bằng âm thanh róc rách mát lành.



Những khu vườn thiền Nhật Bản không thể thiếu tiếng nước từ vòi tre rót vào bồn đá róc rách của “Shishi-odoshi”. (Ảnh: Kilala)

Nếu có dịp tìm hiểu về những khu vườn thiền Nhật Bản, bạn sẽ thấy bên cạnh phần “nhìn” với nghệ thuật tạo hình cây cảnh và pha phối màu sắc sao cho tạo ra các mặt cắt 3 chiều chỉ trong một không gian cố định, người Nhật còn chăm chút cả phần “nghe” với những âm thanh của thiên nhiên được lồng ghép hết sức tinh tế.

Đó có thể là tiếng chim hót, tiếng cá quẫy đuôi đạp nước, tiếng lá rơi xào xạc,… và chắc chắn không thể thiếu tiếng nước từ vòi tre rót vào bồn đá róc rách của “Shishi-odoshi”.



Tên gọi “Shishi-odoshi – 鹿おどし” được ghép từ chữ “鹿 – shika” tức “con hươu/nai” và “威し – odoshi” tức “đe dọa, dọa nạt”. Ban đầu, Shishi-odoshi là loại vật dụng dùng để đánh động thú hoang, ngăn chúng xâm nhập và phá phách nương rẫy. Thông thường, Shishi-odoshi sẽ gồm 2 ống nước bằng tre và một bồn chứa nước bằng đá.

Nguyên lý hoạt động của cơ cấu này cũng rất đơn giản. 2 vòi nước ống tre được đặt lệch nhau, 1 ống cố định dùng đễ dẫn nước còn 1 ống được gác lên bệ đỡ sao cho có thể di chuyển lên xuống như một chiếc bập bênh.

Nước được dẫn từ sông suối sẽ đi qua ống nước đầu tiên và chảy vào miệng của ống thứ 2. Khi gần đầy tràn, trọng lực sẽ khiến cho ống thứ 2 ngả xuống và rót nước vào chiếc bồn đá bên dưới, đánh lên một tiếng “cạch” khô khốc đặc trưng. Khi đã rót hết nước, ống thứ 2 lại trở về vị trí như ban đầu, tiếp tục nhận nước từ ống thứ 1 và lặp lại vòng tuần hoàn này!



Ngày nay, Shishi-odoshi được sử dụng như một tiểu cảnh không thể thiếu trong những khu vườn Nhật hoặc vật dụng trang trí ngoài trời được cả người Nhật và người nước ngoài yêu thích.

Với hình dáng mộc mạc mang âm hưởng của tinh thần wabi-sabi đặc trưng của người Nhật Bản, Shishi-odoshi còn giúp xua tan cái nóng oi bức của mùa hè khi rót vào tai người nghe tiếng nước chảy róc rách mát lành.











Theo Kilala.vn
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sat Nov 11, 2017 11:56 am



Kawabata Yasunari (1889-1972) là nhà văn Nhật bản đầu tiên nhận giải Nobel văn chương năm 1968. Nhiều tác phẩm của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Kawabata nổi tiếng với các tiểu thuyết “Xứ Tuyết”, “Ngàn cánh hạc”, và “Tiếng núi”, nhưng ông cũng viết nhiều truyện rất ngắn - loại truyện mà ông gọi là tanagokoro no shôsetsu (truyện ngắn trong lòng bàn tay). Những truyện này ít có cốt truyện, mà miêu tả những cảm xúc và trải nghiệm tức thời có những ý nghĩa lớn.




Thủy Nguyệt
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)

Với những 8x đời cuối hay 9x đời đầu thì đây là một truyện ngắn không lạ. Không phải vì "Thủy nguyệt" (Suigetsu) vốn đã là một truyện ngắn nổi tiếng. Mà đơn giản vì nó đã từng nằm trong chương trình sách giáo khoa văn học (tập 2) lớp 12 của những học sinh thế hệ đó! Truyện ngắn này được xuất bản lần đầu năm 1953 khi tác giả đã 54 tuổi. Cái tuổi mà độ chín về sáng tác đã đạt đỉnh điểm: Cô đọng, đầy chất thơ và chất họa, dư tình và để lại cho người đọc nhiều suy tưởng. Giờ mời các bạn đọc truyện.



Một hôm, Kyoko bỗng nảy ra ý nghĩ: sao mình không dùng một chiếc gương tay nhỏ để giúp người chồng đau yếu đang nằm liệt giường trên gác nhìn ảnh phản chiếu của mảnh vườn rau bé bỏng trước nhà? Việc chắc hẳn sẽ mở ra trước mắt chồng cả một quãng đời mới lạ. Nhưng rồi bao chuyện khác nữa cũng đã xảy đến với chiếc gương tay bé nhỏ kia.

Chiếc gương ấy là gương nào? Hóa ra đó chính là cái gương tay nhỏ vẫn nằm trong ngăn kéo chiếc bàn trang điểm mà nàng mang theo khi về nhà chồng. Một món hồi môn của nàng. Cả chiếc bàn trang điểm ấy lẫn cái vành gương đều được làm bằng gỗ dâu. Hồi mới cưới nhau, Kyoko thường dùng chiếc gương con ấy mỗi lần nàng muốn ngắm cái lọn tóc sau gáy xem đã vấn gọn ghẽ chưa. Ống tay áo kimono vẫn hay trượt lên cao, để lộ cánh tay đến tận khuỷu, và Kyoko còn nhớ rõ nàng đã đỏ mặt ngượng nghịu ra sao mỗi lần nàng soi gương để sửa lại mái tóc trên đầu. Chiếc gương mà Kyoko trao cho chồng để anh được ngắm mảnh vườn nhà chính là chiếc gương tay nhỏ này...

Hồi trước, mỗi lần Kyoko soi gương trang điểm sau lúc tắm, chồng nàng thường bảo: "Em vụng quá, nào đưa gương đây - anh giữ giúp cho". Anh giật lấy chiếc gương trên tay, rồi rọi giúp từ nhiều hướng khác nhau, để nàng nhìn rõ hơn lọn tóc ở sau gáy phản chiếu vào chiếc gương to gắn trên bàn trang điểm kia; còn chính anh thì ngây người sung sướng đứng ở sau lưng nàng. Thực ra không phải Kyoko vụng về gì. Chẳng qua nàng chỉ hơi lóng ngóng, vì thấy chồng cứ đứng ở sau lưng và chăm chú nhìn mình.

Từ đó đến nay, thời gian tuy chưa xa cách là bao, cái khung bằng gỗ dâu chưa kịp long ra, nhưng chiến tranh, rồi tản cư, và căn bệnh hiểm nghèo của chồng đã dồn dập ập đến, nên khi Kyoko lần đầu tiên nghĩ đến việc giúp chồng ngắm mảnh vườn rau nhỏ, thì mặt gương đã mờ, còn chung quanh vành gương thì đã ố đen vì bụi bặm và loang lổ đầy bụi phấn mịn. Chuyện đó chẳng làm nàng lo lắng mấy, thậm chí nàng cũng chẳng để ý đến nữa. Nhưng chồng nàng, kể từ ngày cầm được chiếc gương trong tay thì anh không lúc nào rời nó ra, mà cứ giữ khư khư bên gối, và chắc vì bất đắc dĩ phải lâm vào cảnh ở dưng hoặc vì cái thói dễ cáu bẳn vốn có của người đau ốm, nên anh đã lau sạch bụi bặm bám trên khung và đánh cho mặt gương bóng lộn lên. Nhưng ít lâu sau, Kyoko thường thấy chồng hay hà hơi lên gương và cẩn thận lau chùi. Nàng thường bắt gặp mình có ý nghĩ: nếu anh ấy hay hà hơi thế, thì những thớ gỗ trên đó chắc phải dính đầy những vi trùng lao phổi vô hình... Lần nào chải tóc cho chồng, Kyoko cũng bôi lên một ít dầu hải đường rất thơm. Nhưng khi Kyoko chưa kịp chải xong, anh đã miết tay lên tóc, rồi bôi ngay lên chiếc khung gỗ, nên chiếc khung mỗi ngày một bóng lên hơn như thể đánh véc-ni, trong khi đó thì gỗ chiếc bàn phấn trang điểm nằm bên xó cửa vẫn xỉn màu như cũ.

Khi Kyoko đi bước nữa, nàng cũng đã mang chiếc bàn trang điểm theo, như một món hồi môn. - Nhưng chiếc gương nhỏ cầm tay thì nàng đã cho hỏa thiêu cùng với thi thể của người chồng cũ. Nàng không kể lại chuyện ấy với người chồng sau này. Nên bây giờ trên bàn trang điểm nàng lại có một chiếc gương tay khác, lồng trong chiếc khung gỗ bóng, chạm trổ theo lối trang trí Kamakura [1].

Thi hài người chồng quá cố, lúc khâm liệm, được đặt vào áo quan với hai bàn tay buộc chặt vào nhau theo phong tục xưa nay, nằm bắt chéo ở trước ngực. Bởi thế không thể nghĩ đến chuyện trao chiếc gương con ấy vào tay chồng: thế là Kyoko đành đặt nhẹ nó lên ngực, cạnh tim chồng.
Lát sau, nàng chuyển nó xuống thấp hơn, miệng thì thầm khe khẽ:
- Ngực anh đã đau đớn mãi, đặt chiếc gương lên chắc càng nặng thêm ra.

Lúc đầu, sở dĩ Kyoko đặt nó lên ngực, bên cạnh tim chồng, vì chiếc gương đã giữ vai trò quan trọng trong cuộc chung sống giữa hai người. Nàng không muốn họ hàng bên chồng nhận thấy chiếc gương, nên đặt một bó hoa cúc trắng đè lên trên. Ngọn lửa hỏa thiêu đã làm thủy tinh chảy ra, đông cứng thành một khúc ống sần sùi, chỗ vàng, chỗ sạm đen, vì dính phải than tro trong lúc thiêu xác.
Một người bà con bên chồng ngạc nhiên cất tiếng hỏi:
- Gì mà trông như thủy tinh thế này! Gì thế nhỉ?

Thực ra, bên trên cái gương tay ấy, Kyoko còn để thêm một chiếc nữa - cái gương bé tí, gắn trên nắp chiếc xắc nhỏ xách tay. Đó là chiếc gương soi được cả hai mặt, hình tanzaku [2]. Kyoko ước ao sẽ được dùng nó trong chuyến đi du lịch tân hôn, nhưng chiến tranh ập đến, và hai vợ chồng đành phải gác lại mọi dự định. Hồi người chồng trước còn sống, nàng chưa hề đem chiếc gương con ra dùng.

Đến khi tái giá, Kyoko mới được hưởng chuyến đi du lịch tân hôn. Cái xắc của nàng đã sờn cả đi, thậm chí lắm chỗ bắt đầu lên mốc; vì thế, nàng phải sắm một cái mới. Cái xắc , dĩ nhiên, cũng có gắn một chiếc gương con trang điểm ở bên trong.

Trong ngày đầu tiên của chuyến đi, người chồng mới vừa ôm Kyoko vào lòng, vừa thủ thỉ với nàng:
- Trông em vẫn hệt như một thiếu nữ. Rõ thật tội nghiệp thân em!

Giọng anh không pha vẻ châm chọc, thậm chí còn phảng phất một niềm sung sướng bất ngờ. Có lẽ trong thâm tâm, anh cảm thấy sung sướng thực tình, bởi lẽ Kyoko trông như thể chưa bao giờ lấy chồng. Nhưng câu nói ấy lại khiến nàng buồn vô hạn. Nàng khóc nấc lên, co rúm người vào. Nhưng người chồng mới thì coi cử chỉ đó chỉ là vẻ e lệ trinh nữ của nàng.

Nàng không hiểu mình bật khóc là vì tủi thân hay vì thương người chồng cũ ngày nào. Nàng không thể tách bạch hai thứ. Nhưng ngay lúc đó nàng bỗng cảm thấy thế là quá bất công với người chồng mới và phải tỏ ra âu yếm với anh hơn, nên nàng đã nói, vẻ bông đùa:
- Thật ư? Anh thấy thế thật sao? - Nhưng chưa dứt lời Kyoko đã hiểu ngay là mình ăn nói vụng quá, nên nàng ngượng chín mặt.

Anh chồng mới, trái lại, lại rạng rỡ vì vui thích.
- Chắc chỉ vì chưa có con, - anh nói tiếp, và câu nói đó lại khiến lòng Kyoko tan nát.

Hễ gặp phải một sức mạnh đàn ông, khác với sức mạnh của người chồng cũ, Kyoko bao giờ cũng thấy mình bị hạ nhục tuồng như họ chỉ coi nàng là một món đồ chơi để giải khuây trong chốc lát cho vui.
- Nhưng em đã bận bịu khác nào như nuôi con mọn, - Kyoko cãi lại rồi im bặt.

Ngay cả sau khi chôn cất chồng cũ, nàng vẫn coi người chồng ốm nặng như là một đứa bé mà nàng phải cưu mang trong bụng.

"Sao mình lại tránh gần gũi, vì lo cho sức khỏe anh ấy, nếu như mình thừa biết sớm muộn gì rồi anh ấy cũng sẽ qua đời?" - Kyoko nghĩ bụng.

- Mori [3] thì anh chỉ được nhìn thấy loáng thoáng qua cửa toa, - ôm chặt Kyoko trong lòng, người chồng mới nhắc đến quê nàng. - Đó chắc hẳn là nột thành phố đáng yêu lắm và có rừng cây bao bọc chung quanh. Chẳng phải vô cớ mà người ta lại gọi nó bằng cái tên ấy. Em sống ở đó đến năm lên mấy?
- Đến năm tốt nghiệp trung học. Còn nghĩa vụ lao động thời chiến thì em hoàn thành tại nhà máy quân khí Sanzyo.
- Nghĩa là em sinh trưởng ở gần Sanzyo? Ồ, thảo nào em đẹp như tiên. Chẳng phải vô cớ mà thiên hạ vẫn thường bảo: muốn kén gái đẹp thì tìm đến Sanzyo, thuộc tỉnh Etigo.
- Xinh đẹp gì cái thứ em, - Kyoko đưa tay lên che ngực.
- Tay em đẹp, chân em đẹp. Thế thì những thứ khác của em làm thế nào xấu xí được?
- Không, chẳng phải vậy đâu! Kyoko cảm thấy cánh tay làm nàng vướng, nên nàng bỏ tay xuống.
- Dù em có con chăng nữa, anh cũng nhất quyết lấy em, - anh thì thầm vào tai nàng, - và nhận đứa bé ấy làm con, yêu thương nó như con đẻ. Nếu được là con gái, thì cố nhiên tốt nhất.

Chắc vì anh ấy đã có một đứa con trai, Kyoko nghĩ bụng. Nhưng thậm chí dù đó là những lời yêu đương chăng nữa nàng vẫn cảm thấy bây giờ chưa phải là lúc nên nói ra. Rất có thể anh đã tổ chức chuyến đi du lịch tân hôn với những người hôm nay là để cố trì hoãn cuộc gặp giữa nàng và đứa con trai.

Người chồng mới hiện đang dùng một cái xắc du lịch hảo hạng bằng da thật. Cái xắc của Kyoko rõ ràng là thua kém đủ đường. Nó vừa to, lại vừa bền, tuy rằng chẳng còn mới mẻ gì. Chồng nàng thường phải đi đây đi đó luôn, nhưng rõ ràng là anh hết sức giữ gìn cái xắc kia, nên lớp da bọc ngoài mới lên nước, trông thích mắt đến thế, mà chỉ những đồ vật hảo hạng dùng lâu mới có thể có được.

Kyoko vụt nhớ tới cái xắc cũ của nàng - mốc meo lỗ chỗ, mặc dù nàng chưa dùng đến bao giờ. Chỉ có chiếc gương con gắn trong ấy là nàng đã gỡ ra, trao cho chồng và gửi nó sang thế giới bên kia cùng với người chồng xấu số. Chiếc gương ấy chính là chiếc nàng đã đặt vào quan tài, bên trên chiếc gương tay... Cả hai đã chảy ra, quyện chặt vào nhau trong ngọn lửa hỏa thiêu, không ai đoán được trong cái xù xì ấy có đến những hai chiếc gương nhỏ. Cũng chẳng ai nảy ra ý nghĩ: cái khối thủy tinh vón cục dị hợm ấy trước vốn là gương soi.

Về phần mình, Kyoko không hề hé răng với ai về chuyện này.

Nàng có cảm giác như thể nhiều thế giới khác nhau từng in bóng trong hai chiếc gương con ấy cũng đã bị ngọn lửa phũ phàng thiêu cháy mất đi. Nàng không thấy có gì khác nhau giữa sự mất mát ấy với việc thi thể chồng nàng đã biến thành một dúm tro. Hồi đầu khi muốn giúp chồng mình thấy mảnh vườn, nàng chỉ trao cho anh có chiếc gương nhỏ cầm tay, và chồng nàng không rời nó ra nữa; nhưng rồi ít lâu sau, chiếc gương tay ấy nếu cầm lâu đã trở nên quá nặng đối với đôi tay yếu ớt của người đang ốm dài ngày, nên đã bao lần Kyoko cứ phải xoa bóp mãi hai cánh tay và đôi vai cho chồng. Bởi thế, nàng đã quyết định đưa thêm cho anh một chiếc gương nữa - bé hơn và nhẹ hơn.

Hồi còn sống, nhờ hai cái gương ấy, chồng nàng có thể nhìn thấy không chỉ mảnh vườn rau bé bỏng trước nhà. Trong gương, anh còn được ngắm cả bầu trời cùng những áng mây, cả cảnh tuyết rơi, và cả những rặng núi xa xa cùng dải rừng thưa gần đó. Được nhìn thấy cả vầng trăng, những đóa hoa hồng và những đàn chim di trú qua ngang trời. Trong gương còn phản chiếu cả khách bộ hành đi lại trên đường cùng bầy trẻ nô đùa trước sân.

Chính Kyoko cũng đâm ra sửng sốt với cái thế giới bao la và trù phú mà chiếc gương con ấy đã mở ra. Gương soi - đó chẳng qua chỉ là thứ đồ vật giúp người ta chăm sóc nhan sắc; hơn nữa, đấy chẳng phải là gương lớn mà chỉ là một chiếc gương tay nhỏ, chuyên dùng để phản chiếu lên tấm gương cái gáy của mình... Nhưng với một người đang ốm thì chiếc gương kia lại mở ra trước mắt anh ta một cách mới mẻ cả thiên nhiên lẫn con người! Nhiều hôm, Kyoko ngồi xuống bên đầu giường, cùng chồng nhìn vào gương và ngẫm nghĩ về những hình ảnh họ cùng trông thấy trong gương. Dần dần nàng không phân biệt được thế giới phản chiếu trong gương. Đối với nàng, cả hai đều trở thành những thế giới tồn tại độc lập, hơn nữa, cái thế giới mới, thế giới nhìn thấy trong gương, thậm chí nàng còn cảm thấy thực hơn là cái thế giới thực.
- Trong gương, bầu trời ánh lên sắc bạc - Nàng nói, rồi ngước nhìn qua cửa sổ và thêm: - Còn bầu trời ngoài cửa sổ thì xám ngoét như chì.
Bầu trời trong gương không gợi lên cảm giác nặng nề. Bầu trời ấy quả thực rất sáng sủa.
- Hay là vì anh thường chịu khó đánh bóng mặt gương?

Chồng nàng khẽ quay đầu lại để ngước nhìn bầu trời chắc gì đã như nhau trong mắt người và mắt muông thú, như chó hoặc chim sẻ, chẳng hạn? Cho nên, đã ai dám nói chắc màu sắc thật của bầu trời là màu gì?
- Thế sắc trời trong gương là màu sắc mà đôi mắt của gương nhìn thấy hay sao?... - Kyoko muốn nói: "Là màu sắc của hai người yêu nhau thắm thiết nhìn thấy hay sao". Sắc cây in bóng trong gương cũng xanh tươi hơn, so với màu thực có.
- Đây là dấu ngón tay cái em đấy. Ngón cái của bàn tay mặt - Chồng nàng chỉ vào mép gương.

Tim Kyoko chẳng hiểu sao bỗng thắt lại. Nàng hà hơi vào chỗ ấy và vội vã chùi đi cái dấu tay.

- Đừng chùi. Em không biết, chứ hôm đầu tiên em giúp anh nhìn thấy mảnh vườn, trên mép gương cũng có một dấu tay em.
- Thế mà em chẳng để ý.
- Em thì dĩ nhiên em không để ý rồi, nhưng bây giờ thậm chí anh còn biết đích xác dấu tay của ngón cái với ngón trỏ của em khác nhau ra sao.

Có lẽ chỉ những ai ốm liệt giường dài ngày mới có thể ghi nhớ từng dấu tay của vợ.
Chồng nàng gần như đã ốm suốt từ dạo họ mới cưới nhau. Thậm chí anh đã vắng mặt trong suốt cuộc chiến tranh.

Nhà họ bị bom thiêu trụi, nên hai vợ chồng đã phải thuê tạm một căn phòng của một đôi vợ chồng mà Kyoko quen. Hồi ấy, người chồng đang còn ở trong quân ngũ. Già một tháng sống dưới mái nhà của chính mình và hai tháng ngụ trong căn phòng thuê tạm - đó là toàn bộ khoảng thời gian mà chồng nàng còn khỏe mạnh bên nàng.

Khi chiến tranh sắp chấm dứt, anh mới bị gọi vào quân đội.
Nhưng anh chỉ phải đào hầm đào hố đâu vài hôm trong một phi trường, rồi ngã ốm ngay và trở về nhà. Đúng hôm đó thì chiến tranh cũng chấm dứt luôn. Anh không tự đi lại được, nên Kyoko phải đưa ngay anh về nếp làng mà cha mẹ nàng đã tản cư lên.
Nàng đã chuyển hầu hết đồ đạc, cả của mình lẫn của chồng, về trên ấy từ trước.

Chồng nàng thuê một ngôi nhà nhỏ nằm trên một vùng đồi núi để chữa bệnh. Ngoài hai vợ chồng trong nhà còn có một gia đình tản cư, nhưng chiến tranh vừa chấm dứt, thì họ đã đưa nhau về lại dưới Tokyo. Họ để lại cho Kyoko một vườn rau nhỏ - vuông mỗi bề chừng sáu mét, đã lên luống sẵn.

Sống ở đây giữa chốn thôn quê, hai vợ chồng có thể thừa sức mua đủ rau ăn của bà con dân quê quanh đây; nhưng thời buổi này mà bỏ hoang một mảnh vườn như thế thì phí phạm quá, nên Kyoko giờ đây ngày ngày vẫn cuốc xới dưới vườn và thích thú đứng ngắm những luống rau nàng trồng nảy nở tươi tốt, đơm hoa, kết trái.

Nàng mê mải với mảnh vườn chẳng phải vì muốn thỉnh thoảng được thoát khỏi cái giường mà người chồng ốm đang nằm mà chỉ vì khâu vá và đan lát dễ khiến nàng buồn. Hơn nữa, việc chăm sóc mảnh vườn còn gieo vào lòng nàng những niềm hi vọng trong trẻo khả năng chồng nàng sẽ bình phục. Đó cũng là một cách kín đáo đế lộ tình yêu của nàng đối với người chồng phận hẩm. Ngoài ra, nàng đã phải quanh quẩn bên chồng quá nhiều thì giờ rồi - những lúc ngồi đọc sách cho anh nghe. Thêm một lẽ nữa; chắc hẳn vì quá mệt mỏi với việc chăm sóc người ốm, nên Kyoko bắt đầu có cảm giác là mọi thứ tuồng như đều đang ra đi mà chẳng bao giờ trở lại bởi vì, nàng hi vọng rằng việc chăm sóc mảnh vườn sẽ trả lại cho lòng nàng sự thư thái.

Họ đưa nhau về đây hồi giữa tháng chín. Khi những người dân thủ đô trốn lên đây tránh nắng rồi bỏ vùng này để về lại dưới đồng bằng thì những trận mưa dầm lạnh lẽo thường có vào buổi đầu thu bắt đầu dồn dập kéo về. Nhưng một hôm, trước lúc hoàng hôn, chim chóc bỗng vui vẻ hót vang và bầu trời cao không gợn một bóng mây, Kyoko bèn xuống thăm mảnh vườn rực sáng ánh nắng chiều và ngắm những luống rau mướt xanh như ngọc. Rồi nàng ngước mắt lên, nhìn theo những đám mây hồng đang thong thả trôi xuôi trên những đỉnh núi xa xa. Mải ngắm những bóng mây trôi, nàng không nghe thấy tiếng gọi gắt gỏng của chồng từ trên lầu vọng xuống. Đến khi nghe thấy, nàng vội vàng chạy lên, thậm chí còn chưa kịp phủi sạch đất cát bám trên tay.

- Tôi gào đến khản cả tiếng. Thế mà cô không nghe thấy à?
- Anh thứ lỗi, em đang mải nghĩ.
- Vất quách cái mảnh vườn ấy đi! Kẻo không có ngày tôi đến phải tắt thở vì gọi cô. Rồi mai mốt tôi không còn biết là cô đang ở đâu và đang làm gì nữa.
- Em chỉ quanh quẩn dưới vườn, chứ có đi đâu đâu. Nhưng nếu anh muốn, em sẽ không xuống dưới ấy nữa.
Chồng nàng đã bình tâm lại.
- Em có nghe tả tiếng chim sơn tước vừa hót không?

Anh gọi nàng chẳng qua chỉ là để hỏi chuyện đó. Giữa lúc vợ chồng đang trò chuyện thì trong cánh rừng thưa cạnh nhà, chú sơn tước nọ lại cất tiếng hót lanh lảnh. Dải rừng lúc này đang cắt hình rõ nét trên nền trời chiều trong vắt. Kyoko vẫn còn nhớ như in tiếng hót của chú chim sơn tước này.
- Ta sẽ sắm một cái chuông con, - để anh dễ gọi em hơn. Tạm thời em sẽ để bên đầu giường anh một món đồ gì đó. Khi nào cần đến em, anh cứ ném nó qua cửa sổ.
- Em định bảo anh vứt hết cốc chén từ trên gác này xuống chứ gì? Nói dễ nghe nhỉ?

Chồng nàng dẫu sao cũng không cấm nàng chăm bón mảnh vườn nhà. Mãi đến lúc mùa đông khắc nghiệt và dài lê thê của vùng rẻo cao qua đi và mùa xuân bắt đầu sang, Kyoko mới nghĩ ra cách giúp chồng nhìn thấy mảnh vườn rau bằng chiếc gương tay nhỏ.

Chao ôi, nàng sung sướng biết bao khi chiếc gương con bình dị đã làm sống lại trước mắt người chồng đau yếu cả một thế giới cây cối tươi non mơn mởn trong dịp đầu xuân. Giờ đây, chồng nàng thậm chí còn nhìn thấy cả việc Kyoko lần bắt từng con sâu hại lá cho mỗi cọng rau. Nhưng dáng dấp của những con sâu ấy ra sao thì anh không nhìn rõ được, nên Kyoko thường phải mang lên tận trên gác để chỉ cho chồng xem. Về sau, anh còn được dịp ngắm vợ cuốc lật đất vườn.

Trong gương, anh thấy rõ cả lũ giun, lúc em cuốc lật đất lên. - Anh đã nói thế với Kyoko khi nàng lên gác. Thường thường, khi bóng nắng đã đổ dài trên mặt đất, thình lình nàng bỗng cảm thấy có một luồng ánh sáng rực rỡ rọi thẳng vào mặt mình. Nàng ngước nhìn lên thì thấy anh đang nằm trên gác, đặt chếch mặt chiếc gương lên để phản chiếu vầng mặt trời ngả bóng, rồi rọi thẳng xuống chỗ nàng. Anh bắt nàng may một chiếc quần rộng ống bằng một mảnh vải thô còn giữ lại được từ những năm đang theo học ở đại học. Anh rất thích thú được ngắm nàng diện chiếc quần rộng ống màu xanh lơ điểm lấm tấm những nốt tròn trắng muốt ấy, để cuốc đất dưới vườn.

Kyoko biết anh đang ngắm nàng trong gương, nhưng vì mải làm, nên lắm lúc nàng đã quên bẵng đi. "Mình đã thay đổi quá nhiều kể từ độ mới cưới nhau, hồi ấy, thậm chí mình còn ngượng ngập mỗi lần phô ra hai cánh tay để trần đến tận khuỷu". - Kyoko hồi tưởng lại và tim nàng ấm áp hẳn lên.

Kể từ khi nước Nhật bắt đầu nếm mùi chiến bại, nàng không còn ngó ngàng gì đến son phấn bao giờ. Tiếp đó, nàng đâm ngượng mỗi lần ngồi vào bàn trang điểm vì chồng đang ốm đau, nên mãi sau ngày đi bước nữa, nàng mới thực sự bắt đầu mó đến phấn sáp, lược gương. Nàng nhận thấy son phấn đã làm nhan sắc nàng hoàn toàn đổi khác. Nàng thực sự trở thành một giai nhân khi vừa trang điểm xong. Cho nên nàng bắt đầu tin rằng người chồng mới đã thực lòng thán phục nhan sắc nàng vào ngày đầu tiên, khi chỉ còn lại một mình hai vợ chồng.

Giờ đây, Kyoko không còn e thẹn khi mỗi lần ngồi ngắm gương mặt mình trong gương sau lúc tắm gội. Nàng thấy mình xinh đẹp. Nhưng người chồng xấu số đã dạy cho nàng một cách cảm nhận về nhan sắc được phản chiếu trong gương, vốn khác hẳn với cách cảm nhận thường có của nhiều người, và nàng vẫn gìn giữ nó cho đến tận bây giờ. Giờ đây, chẳng phải nàng ngờ vực gì vẻ đẹp mà mình nhìn thấy trong gương. Nhưng dẫu sao nàng vẫn tin chắc cái được phản chiếu trong gương kia là một thế giới hoàn toàn khác.
 
Tuy thế, khi nhìn mình, rồi sau đó ngắm kĩ bóng mình phản chiếu trong gương, dẫu sao nàng vẫn không nhận từ có một sự khác biệt nào, tương tự như sự khác biệt giữa bầu trời xám ngoét bên kia của sổ với bầu trời lấp lánh sắc bạc trong gương. Có lẽ, không thể cắt nghĩa điều đó đơn thuần bằng sự khác nhau về khoảng cách. Mà còn phải lưu ý đến một nhân tố rất hệ trọng nữa: niềm ham mê cháy bỏng và tâm trạng ngao ngán của chồng nàng vốn bị bệnh tật giữ chịt trên giường. Chắc hẳn anh đã cảm thấy nàng xinh đẹp biết dường nào khi ngắm nàng trong chiếc gương con, lúc nàng làm lụng dưới vườn? Giờ đây, Kyoko không còn cách nào để biết đích xác chuyện ấy nữa. Nhưng hồi chồng nàng còn sống, nàng vẫn chưa hiểu ra điều đó.

Cả hình ảnh của chính nàng mà người chồng đau ốm từng nhìn từ trong gương, cả sắc xanh của những đóa thủy tiên, cả màu trắng mát của những bông huệ nước, cả bầy trẻ thôn quê nô đùa bên rìa ruộng, cả vầng mặt trời buổi sáng nhô lên trên những rặng núi tuyết xa xa... Hết thảy những thứ, Kyoko không những cố làm sống lại trong kí ức, mà còn nhớ nhung tha thiết đến nó, một thế giới khác hẳn, mà xưa kia vốn là của riêng nàng và người chồng xấu số của nàng. Nàng cố nén cái tình cảm ấy trong lòng, một tình cảm mà bất cứ lúc nào cũng chực bùng lên thành một nỗi khát khao mãnh liệt, vì không muốn người chồng hiện nay lo lắng thêm. Cho nên, nàng thường buộc mình phải nghĩ đến tình cảm như một cái gì rất đỗi xa xăm và chỉ chuyên dành cho một cho một thế giới khác, không phải là cái thế giới đang hiện hữu.

Vào một sáng tháng năm, Kyoko bỗng được nghe trên máy thu thanh những tiếng hát của chim chóc sống trong rừng. Đó là một buổi truyền thanh trực tiếp từ một vùng rẻo cao, kế bên ngôi làng trong đó người chồng trước của nàng giã từ cuộc đời. Tiễn chồng đi làm xong, nàng liền lôi ngay trong ngăn kéo chiếc bàn trang điểm cái gương tay và bắt đầu ngắm bầu trời quang đãng trong gương. Rồi nàng ngắm cả gương mặt mình in hình trong ấy. Và thình lình nàng bỗng phát hiện ra một điều kì lạ - thì ra ai cũng chỉ có thể nhìn thấy mặt mũi của chính mình bằng cách ngắm nó trong gương; ngoài cách ấy ra, không còn một cách nào nữa hết. Từ đó trở đi, ngày nào Kyoko cũng phải ngắm nghía và sờ nắn trong gương gương mặt của chính mình, để biết đích xác gương mặt in bóng trong gương kia cũng chính là gương mặt nàng nhìn từ ngày ngày, không cần đến một chiếc gương nào. Nhưng vì lẽ gì mà con người do trời sinh ra lại bị tước đoạt mất cái bản năng thiết cốt là tự nhìn thấy được gương mặt của chính mình?

"Nếu có được bản năng ấy, con người chắc sẽ hoàn toàn bối rối hoặc hoàn toàn mất trí chăng?" - Nàng tự hỏi.

Không, chắc hẳn ngay từ buổi sơ khai, con người đã không được trời đất ban cho cái diễm phúc được nhìn thấy gương mặt chính mình. Thế nhưng cái diễm phúc ấy có lẽ chuồn chuồn và bọ vái [4] lại có được. Chẳng lẽ con người cần có gương mặt chỉ để cho người khác ngắm nghía hay sao? Rõ ràng là ở đây có một cái gì đó na ná như là những nguồn khêu gợi yêu đương...

Nàng gạt chiếc gương tay nhỏ ấy ra xa và bỗng bất thần nhận thấy rằng màu sắc của chiếc bàn trang điểm bằng gỗ dâu chẳng hòa hợp tí nào với những đường nét chạm trổ theo kiểu Kamakura của chiếc gương tay nhỏ. Chiếc gương ngày trước, chiếc đã bị thiêu cháy cùng với thi thể của chồng nàng, và cái bàn trang điểm này như thể hóa thành một quả phụ. Khi trao chiếc gương tay và chiếc gương con gắn trong cái xắc cho chồng, nàng đã mang đến chẳng những điều lành, mà cả điều dữ nữa. Vì ngày ngày anh cũng đã nhìn thấy trong hai chiếc gương ấy cả sắc mặt chính mình và nhận ra hết triệu chứng này đến triệu chứng khác của căn bệnh đang tiến triển hiện rõ trên khuôn mặt, và những dấu hiệu của cái chết đang đến gần. Nếu có một kiểu mưu sát bằng tâm lí nhờ sử dụng gương soi, thì cái chết của anh ấy phải chăng là do chính nàng đã gây nên? Trước đó khá lâu nàng đã nghĩ đến cái điều dữ ẩn giấu trong chiếc gương và thậm chí nàng đã toan đem cất nó đi, nhưng chồng nàng cứ khăng khăng cự tuyệt.

- Em định tước đoạt của anh niềm vui được nhìn ngắm mọi thứ chung quanh, - chồng nàng bảo, - nhưng anh thì chừng nào còn sống, anh còn muốn được hưởng cái thú vui thưởng ngoạn hết thảy những gì mắt mình có quyền được nhìn thấy. Anh đã hi sinh đời mình để đem lại sự sống cho cái thế giới hiện hữu trong gương. Anh đã mê mải ngắm trong gương bóng vầng trăng in hình trong vũng nước mưa đọng lại dưới sân. Và kỉ niệm về vầng trăng soi bóng dưới đáy nước - phải chăng đó chỉ là hình bóng phản chiếu trong gương? - Kyoko vẫn còn giữ mãi trong lòng cho đến tận bây giờ.

Chỉ những ai khỏe mạnh mới có được một tình yêu lành mạnh, - người chồng sau của nàng thường bảo vậy, và lần nào nghe nói thế, Kyoko cũng ngượng nghịu gật đầu, nhưng ở đâu đó trong đáy lòng mình, nàng hoàn toàn không chấp nhận điều này. Lúc đầu, nàng tự trách mình: sao lại dại dột đi chối bỏ những dịp gần gũi với người chồng đau yếu? Vì dẫu có làm thế chăng nữa cũng đâu cứu sống được anh? Nhưng những ý nghĩ dần dà đã biến thành những hoài niệm về một mối tình sầu muộn, nên về sau nàng mới nghĩ rằng: khi mà nó trở thành hoài niệm, thì lòng nàng vẫn dào dạt yêu đương như xưa, và nàng không còn tự quở trách mình.

Còn về người chồng mới?... Có phải vì quá nông nổi, nên anh khó lòng thấu hiểu tình cảm yêu đương của người phụ nữ chăng?!
- Tại sao một người đầy nhân đức như anh mà lại nỡ bỏ rơi người vợ cũ? - Có lần Kyoko đã ướm hỏi anh ta vậy. Anh ta nín thinh. Kyoko sở dĩ lấy anh ta chẳng qua chỉ vì nàng đã nghe theo lời khuyên ân cần của anh trai người chồng cũ. Trước ngày cưới, nàng và người anh trai đã thường xuyên gặp gỡ nhau trong suốt bốn tháng ròng. Chồng mới của nàng hơn nàng những mười lăm tuổi.

Khi Kyoko bắt đầu biết mình sắp có con, nàng đã hết sức hoảng sợ. "Em sợ lắm, em sợ lắm", - nàng vừa nhắc đi nhắc lại câu, vừa ôm ghì lấy cổ chồng. Khổ sở do những cơn buồn nôn của thời kì thai nghén hành hạ, đầu óc nàng như mụ hẳn đi.

Nàng thường chạy chân trần ra sân, vơ lấy một nắm lá thông, rồi cho vào miệng nhai ngấu nghiến. Khi sắp xếp cho cậu con chồng đi học, nhiều hôm nàng đã cho vào cặp nó những hai hộp đồ ăn điểm tâm, mà chẳng hiểu sao trong cả hai hộp đều chỉ toàn cơm... Có lúc nàng bỗng nhìn chằm chằm vào cái ngăn kéo của chiếc bàn trang điểm, và nàng bất thần có cảm giác mặt bàn trở nên trong suốt, đến nỗi nàng có thể nhìn rõ được cả chiếc gương tay với cái khung chạm trổ theo lối Kamakura nằm bên trong. Có lần, đang nửa đêm nàng bỗng thức giấc, và ngồi dậy, nhìn chòng chọc hồi lâu vào khuôn mặt người chồng đang ngủ cạnh nàng. Kinh hoàng với cái kiếp phù sinh của con người, nàng cởi dải thắt lưng chiếc kimono mặc ngủ ra: có lẽ nàng định thít chặt cổ người chồng đang ngủ. Và bất thần nàng bỗng trào nước mắt. Người chồng tỉnh giấc, âu yếm dỗ dành nàng rồi buộc giúp lại dải thắt lưng. Kyoko run bắn người lên vì cảm thấy lạnh, tuy rằng đang là giữa hè và đêm, thậm chí trời vẫn còn oi bức như đang lúc giữa trưa.
- Phải nghĩ đến đứa con trong bụng chứ, Kyoko, người chồng vừa lay vai vàng, vừa dỗ dành âu yếm.

Thầy thuốc khuyên nên đưa ngay nàng vào bệnh viện. Kyoko từ chối, nhưng rồi cuối cùng người ta cũng đã thuyết phục được nàng.
- Được, em sẽ vào, nhưng trước lúc vào, hãy để cho em về thăm lại thầy mẹ em vài hôm, - nàng bảo chồng.
Người chồng đích thân đưa nàng đi.

Hôm sau, nàng đã một mình lên ngay cái nơi mà nàng và người chồng cũ đã từng chung sống trước đây. Đang là đầu tháng chín - hồi vợ chồng đưa nhau lên đây, họ cũng bị trễ mất khoảng mươi hôm. Lúc ngồi lên tàu, nàng lại bị những cơn buồn nôn tai ác và những cơn nhức đầu như búa bổ làm tình làm tội.

Thậm chí nàng lo sợ sẽ phải bỏ dở giữa chừng cuộc hành trình nàng từng ao ước này. Nhưng rốt cục nàng cũng đã đến nơi, và trước khi bước xuống sân ga, hít thở một hơi dài đầy lồng ngực làn không khí tươi mát ở đây, nàng vụt cảm thấy dễ chịu. Nàng bừng tỉnh lại - như thể cái bóng ma vẫn ám ảnh nàng lâu nay phút chốc đã tan biến hoàn toàn. Kyoko dừng lại và ngước nhìn những ngọn núi chung quanh, lòng dào dạt một cảm xúc khác lạ.

Những rặng núi xanh thẫm cắt hình rõ rệt trên nền trời. Kyoko cảm thấy như được sống lại giữa một thế giới sinh động. Lau khô những giọt nước mắt nóng bỏng ràn rụa trên đôi mắt mình, nàng thong thả tiến về phía ngôi nhà hai vợ chồng từng chung sống bên nhau. Từ dải rừng thưa đã thẫm bóng trong bầu trời đỏ rực buổi chiều hôm, tiếng chim sơn tước ríu rít lại vọng đến tai nàng y như ngày chồng nàng còn sống.

Ngôi nhà đã có người khác ở: trong khung cửa sổ trên gác đang bay phơ phất một tấm rèm bằng đăng ten trắng. Không dám đến gần, Kyoko chỉ ngước nhìn lên và bất thần buột ra một câu nói khẽ, mà hẳn chồng nàng cũng phải ngạc nhiên:

Ta sẽ làm gì hả anh, nếu đứa bé em đang mang trong bụng giống anh?

Và lòng thanh thản, Kyoko quay gót trở lại nhà ga.


[1] Một kiểu chạm trổ kết hợp với lối đánh bóng bằng sơn then.
[2] Hình một loại giấy dài, khổ hẹp, dùng để chép những bài thơ kiểu tanka.
[3] Tiếng Nhật Bản có nghĩa là "rừng thưa".
[4] Bọ vái: Một loài sâu bọ sống ở các vùng phía Nam, thường hay đứng ở tư thế gục đầu, hai chân trước khoanh lại như người đang quỳ lạy trong lúc cầu nguyện.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 348
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Mon Nov 13, 2017 10:30 am


Murakami Haruki sinh năm 1949 tại Kyoto, là một trong những tiểu thuyết gia, dịch giả văn học người Nhật Bản được biết đến nhiều nhất hiện nay cả trong lẫn ngoài nước Nhật.
Murakami đã trở thành hiện tượng trong văn học Nhật Bản đương đại với những tiểu thuyết ăn khách như Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển, 1Q84 và Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương. Tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 38 thứ tiếng trên thế giới.

Folklore của thời đại chúng ta
Haruki Murakami


Lời của người dịch:

Đây là một câu chuyện có thật vào những năm sáu mươi. Thời của chính Haruki Murakami. Một chuyện tình buồn. Quá buồn. Tác giả xem đó là những sự kiện "truyền thống văn hóa" mà mình góp nhặt và thuật lại như một chứng nhân lịch sử. (Rất tiếc chúng tôi không có bản nguyên tác Nhật ngữ để đối chiếu, nhưng chúng tôi phỏng đoán rằng từ "folklore" 1 trong bản tiếng Anh không phải nói đến văn hóa dân gian mà nói đến giá trị của văn hóa truyền thống Nhật Bản vào những năm sáu mươi).
Nhân vật chính của câu chuyện là một cặp tình nhân hoàn hảo vào thời đó. Cả hai người làm lớp trưởng trường cấp 3, học giỏi, biết chơi thể thao, là người tổng kết ý kiến trong các cuộc thảo luận ở lớp. Anh chị sạch sẽ ("clean") như trong quảng cáo kem đánh răng. Tình yêu của họ kéo dài suốt bốn năm nhưng cuối cùng tan vỡ vì giá trị truyền thống. "Ngay đến những xúc chạm sinh lý, họ cũng có luật của mình. Không bao giờ cởi bỏ quần áo, chỉ dùng tay sờ soạng nhau mà thôi. Một tuần một lần, họ ở chung với nhau một buổi chiều trong phòng ngủ của người này hay người kia. Cả hai nhà đều yên tĩnh. Cha đi vắng. Mẹ ra ngoài có việc. Họ dành cho nhau từ mười đến mười lăm phút để sờ soạng nhau say sưa rồi quay trở về với việc học tập, ngồi cạnh nhau. "Được rồi chứ nhỉ? Quay trở về sách vở thôi". Nàng nói và kéo thẳng chiếc áo sơ mi của mình".

Nàng muốn giữ trinh tiết đến khi lập gia đình, chàng muốn chiếm hữu thân xác người yêu. Nàng hứa rằng "Em sẽ ngủ với anh, nhưng không phải bây giờ. Sau khi lập gia đình, em sẽ ngủ với anh. Em hứa". Và rồi hai người chia tay.
Chàng vào làm một hãng kinh doanh. Nàng lấy chồng là một đạo diễn nhưng không có con. Nàng gọi điện cho chàng trong lúc chàng kinh doanh khó khăn, nhắc lại việc thực hiện lời hứa năm xưa. Nhưng đúng như chàng thuật lại: "Chúng tôi ôm ghì nhau," anh ta nói, "nhưng tôi không ngủ với nàng. Nàng không trút bỏ quần áo. Chúng tôi dùng tay sờ soạng nhau như những ngày xưa cũ. Tôi nghĩ như thế là tốt nhất. Có lẽ nàng cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi vuốt ve nhau rất lâu, lâu lắm. Không ai nói lời nào. Có gì để chúng tôi nói? Đó là cách duy nhất để chúng tôi nhận ra nhau sau những năm xa cách. Như khi chúng tôi còn học ở trường. Tất nhiên, mọi thứ giờ đã khác. Có lẽ tình dục bình thường tự nhiên sẽ giúp chúng tôi hiểu nhau hơn. Và có lẽ nó sẽ làm cho chúng tôi cùng vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng chúng tôi đã trải qua thời đó từ lâu rồi. Những ngày đó đã bị khóa chặt và không ai có thể phá dấu niêm phong".

Haruki Murakami không lên án quan niệm trinh tiết, cũng không lên án những giá trị đạo đức của những năm sáu mươi. Nhưng như tác giả viết: "Và chỉ có một điều tôi muốn bạn hiểu: tôi chẳng có chút tự hào về thời đại mình". Sau khi ra trường, có việc làm, nvật chính của câu chuyện mới nhận ra rằng thế giới này đủ lớn để cho những giá trị khác nhau có thể cùng tồn tại. Những giá trị làm nên con người nhưng cũng làm nên vết thương đời người. Cảm thấy mình bơ vơ vì không bị "nhốt trong hộp" nữa là cảm giác vô cùng phi lý. Phi lý nhưng có thật. Đó là cảm giác của nhân vật chính của câu chuyện này. Bởi ngay từ nhỏ chúng ta đã như chim nhốt trong lồng, không làm chủ được cuộc đời mà chỉ biết tuân theo "các bậc cao niên" dạy bảo. Cuối cùng là gì ư? Chỉ là một cái ngục lớn giam hãm con người mà thôi. Những thiên tài xuất hiện trong cơn thịnh nộ như Nietzsche, như Nagarjuna, như Bồ đề đạt ma muốn phá hủy giá trị để âm thầm tái tạo bình minh. Nào thấy gì ngoài cô đơn miên viễn, những lời nguyền rủa của đám đông hiện thế và bóng tối những cơn điên? Mỗi thời đại có những giá trị riêng của mình. Chính vì thế mà những vết thương khác nhau, đặc biệt cho từng thế hệ. Con người tự đâm chính mình bằng những thứ ta tự mình huyễn hoặc, tự mình tấn phong, rồi tự mình làm ngục thất cho chính mình. Và kết thúc công cuộc hiện sinh làm người bằng huyệt tự mình đào sẵn, tay trắng như từ khi lạc bước vào thế giới này?
Đó là những tư tưởng gợi lên trong tác phẩm. Nhìn qua nó giống như câu truyện cười. "Và khi mọi chuyện kết thúc, nhà vua và cận thần phá lên cười," cuối cùng anh nói. " Tôi luôn nghĩ đến câu này khi nhớ lại ngày tháng đó". Tôi đoán nó là một phản xạ có điều kiện. Tôi không biết có phải không, nhưng nỗi buồn dường như luôn chứa đựng vài câu chuyện hài hước nhỏ lạ lùng".

Bởi câu chuyện là câu chuyện đời của tất cả chúng ta. Chính vì thế mà tuy không phải là một bài luân lý mới nhưng nó là kinh nghiệm sống của cả bao nhiêu thế hệ. "Đó là lý do tôi không thể cười nổi khi nghe anh nói chuyện. Đến bây giờ tôi vẫn không thể cười".
Đó có lẽ cũng là thái độ của chúng ta.

Hoàng Long

***

Tôi sinh năm 1949, bắt đầu vào trường cấp 3 năm 1963 và nhập học trường cao đẳng năm 1967. Thế rồi cuộc bạo loạn điên rồ năm 1968 xảy ra vào đúng năm tôi hai mươi tuổi, nếu không thì lẽ ra tôi đã có một năm tốt lành. Tôi đồ rằng chính thời đại đã khiến tôi trở thành một đứa trẻ điển hình vào những năm sáu mươi. Đó là giai đoạn dễ bị tổn thương nhất, có vai trò định hình tính cách và do đó là quan trọng nhất trong cuộc đời tôi. Tôi hít thở đầy buồng phổi niềm tự do và coi thường tất cả, một cách hoàn toàn tự nhiên. Tôi đạp tung vài cánh cửa đáng đạp, và thật là khoái trá bất cứ khi nào một cánh cửa đáng được đạp tự bày ra trước mặt mình, như thể có Jim Morrison, The Beatles, và Bob Dylan đóng trò trong hậu cảnh. Tất cả những việc ấy.

Ngay cả bây giờ, khi nhìn lại những năm tháng ấy, tôi nghĩ chúng quả là đặc biệt. Tôi chắc là nếu bạn khảo sát lần lượt những thuộc tính của thời gian, bạn sẽ chẳng khám phá được điều gì đáng chú ý. Chỉ có hơi nóng phát ra từ cỗ máy lịch sử, cái tia sáng tù mù mà một số vật nào đó phát ra ở những nơi nào đó vào những lúc nào đó - cái tia sáng ấy và một sự bứt rứt bất an không thể giải thích, như thể khi ta nhìn mọi thứ qua kính viễn vọng nhưng bằng đầu ngược. Tính anh hùng và côn đồ, niềm say mê và tan vỡ, tử vì đạo và chủ nghĩa xét lại, niềm im lặng và sự hùng biện, vân vân và vân vân…những chất liệu của bất cứ thời đại nào. Chỉ có điều, trong thời đại chúng ta - nếu bạn tha cho cách diễn đạt rỗng tuếch này - bằng cách này hay cách khác, nó vẫn quá ư nhiều màu sắc, quá rõ ràng với tay ra là chạm tới. Không có mánh lới quảng cáo, không có phiếu giảm giá, không có quảng cáo kín, không có hệ thống thẻ chấm điểm để dụ khách hàng quay lại, không có những thủ tục giấy tờ lắt léo và thâm hiểm. Nguyên nhân và kết quả bắt tay nhau; lý luận và thực tiễn tự tin ghì siết nhau. Thời kỳ tiền đề cho chủ nghĩa tư bản cao độ: cá nhân tôi gọi những năm tháng này như thế.
Nhưng thời đại có mang lại cho chúng tôi - nghĩa là thế hệ chúng tôi - một tia sáng đặc biệt nào không thì tôi không dám chắc. Phân tích đến cùng, có lẽ chúng tôi chỉ đơn giản đi qua thời này như thể đang xem một bộ phim kích động: chúng tôi trải qua cảm giác như thật - tim đập mạnh, bàn tay đẫm mồ hôi -, nhưng khi đèn bật sáng thì ta ra khỏi rạp chiếu phim và trở lại nơi mình đã rời khỏi. Dù lý do nào đi nữa, chúng tôi cũng đã sao nhãng việc học bất cứ bài học thực sự có giá trị nào từ đó. Đừng hỏi tôi tại sao. Tôi đã quá gắn bó với những năm tháng đó nên không thể tìm câu trả lời. Chỉ có một điều tôi muốn bạn hiểu: tôi chẳng chút tự hào về thời đại mình. Tôi đơn giản chỉ trình bày những sự kiện.

Bây giờ tôi sẽ nói với bạn về những cô gái, về mối quan hệ tính dục hỗn tạp giữa chúng tôi, những thằng con trai, với những bộ phận sinh dục mới tinh và các cô gái mà dĩ nhiên lúc đó vẫn còn là con gái.
Nhưng đầu tiên là về sự trinh trắng. Trong những năm sáu mươi, trinh tiết có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với bây giờ. Nhưng như tôi thấy (chẳng phải tôi đã điều tra gì đâu), khoảng năm mươi phần trăm các cô gái thời chúng tôi đã không còn trinh trước tuổi hai mươi. Ít nhất đó hình như là tỷ lệ chung ở những người xung quanh tôi. Điều này có nghĩa là, dù có ý thức hay không, một nửa các cô gái vẫn còn kính trọng cái gọi là trinh trắng.
Bây giờ nhìn lại, tôi có thể nói rằng phần lớn các cô gái trong thời chúng tôi, dù còn trinh hay không, đều chia sẻ những xung đột nội tâm về tính dục. Nó tùy thuộc vào hoàn cảnh và đối tác. Họ bị kẹp giữa một bên là đám đông tương đối thầm lặng, có cách nghĩ thoáng, cho tình dục là một loại thể thao và một bên là những người thủ cựu cho rằng con gái phải giữ gìn trinh tiết đến tận khi lập gia đình.
Trong số những chàng trai, cũng có nhiều người nghĩ mình phải cưới một cô gái còn trinh trắng.

Mỗi người một khác nên giá trị cũng khác. Điều này là hằng số cho mọi thời đại. Nhưng những năm sáu mươi không giống bất cứ thời nào ở chỗ chúng tôi tin những sự khác biệt này có thể giải quyết được.
Và đây là câu chuyện của một người mà tôi biết. Anh ta học chung lớp với tôi vào năm cuối của trường trung học ở Kobe. Thành thật mà nói, anh ta là loại người có thể làm được mọi thứ. Học lực tốt, biết chơi thể thao, tính tình thận trọng và có phẩm chất lãnh đạo. Anh không quá điển trai nhưng sáng sủa dễ nhìn. Anh thậm chí còn biết hát. Là một diễn giả hùng hồn, anh luôn là người tổng hợp ý kiến trong các cuộc thảo luận ở lớp. Điều này không có nghĩa anh là người có tư duy độc đáo - nhưng ai lại mong chờ sự độc đáo gì trong các cuộc thảo luận ở lớp? Tất cả chúng tôi đều muốn nó kết thúc càng sớm càng tốt, và mỗi khi anh bắt đầu nói là chúng tôi biết chắc cuộc thảo luận sẽ kết thúc đúng giờ. Trong nghĩa đó, bạn có thể nói anh là một người bạn thực sự.
Anh không có khuyết điểm nào. Nhưng dẫu vậy, tôi chẳng bao giờ hình dung được điều gì đang diễn ra trong tâm trí anh ta. Đôi khi tôi muốn tháo đầu anh ta ra mà lắc, để nghe xem nó sẽ phát ra thứ âm thanh nào. Thế mà anh ta được rất nhiều cô gái ngưỡng mộ. Bất cứ lúc nào anh ta đứng dậy để nói trước lớp, mọi cô gái đều nhìn về anh ta với ánh mắt thán phục. Có bài toán nào khó, các nàng lại hỏi anh ta. Anh ta nổi tiếng hơn tôi khoảng 27 lần. Anh ta đúng là loại người như vậy.

Lớp chúng tôi đã học cùng nhau những bài học của quyển sách giáo khoa cuộc sống; và một chút trí khôn tôi đã nhặt được trên đường đời là ta phải chấp nhận rằng trong bất cứ tập thể nào cũng có những mẫu người như vậy. Dù vậy, không cần phải nói rằng cá nhân tôi chẳng ưa lắm mẫu người như anh ta. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi thích ai đó có tì vết hơn, ai đó có một nhân cách khác thường hơn. Vì thế trong suốt khóa học, dù ở cùng lớp, tôi chưa một lần đi chơi với anh ta. Thậm chí tôi không nhớ mình đã có bao giờ nói chuyện với anh ta. Lần đầu tiên tôi trò chuyện nghiêm túc với anh ta là trong kỳ nghỉ hè năm nhất cao đẳng. Chúng tôi tình cờ học lái xe ở cùng một trường và thi thoảng có nói chuyện hay cùng uống cà phê trong giờ nghỉ. Cái trường dạy lái xe đó chán đến mức tôi sẵn lòng giết thì giờ bằng cách nói chuyện với bất cứ người nào làm quen được. Tôi không nhớ gì nhiều về những câu chuyện giữa chúng tôi. Dù chuyện gì đi nữa, chúng chẳng để lại ấn tượng nào, dù tốt hay xấu.

Một điều khác tôi còn nhớ là anh ta có một cô bạn gái. Cô ta học khác lớp và được xem là hoa khôi của trường. Cô ta học lực tốt, cũng là dân thể thao, cũng là lớp trưởng như anh ta. Cũng như anh, cô luôn là người phát biểu tổng kết mỗi buổi thảo luận ở lớp. Hai người như thể sinh ra để thành đôi với nhau. Đúng là chàng CLEAN và nàng CLEAN (sạch sẽ) như trong quảng cáo kem đánh răng.
Tôi thấy họ luôn. Giờ ăn trưa nào hai người cũng ngồi ở góc sân trường mà nói chuyện. Sau giờ học, họ cùng lên xe điện và xuống ở những ga khác nhau. Chàng tham gia vào đội tuyển bóng đá, nàng có chân trong câu lạc bộ tiếng Anh của trường. Khi những hoạt động ngoại khóa của họ không kết thúc cùng giờ, người ra sớm hơn sẽ đến thư viện học bài. Những giờ rảnh thì họ luôn ở cùng nhau.
Không ai trong chúng tôi - trong đám đông chúng tôi - chống lại hai người. Chúng tôi không cười nhạo họ, không ai làm khó gì hai người. Thực ra chúng tôi hầu như không chú ý gì đến họ. Hai người thực sự chẳng có gì đáng tìm hiểu. Họ giống như thời tiết - đơn giản là họ có đó, như một sự kiện vật lý. Hiển nhiên là chúng tôi dành thời gian để nói về những điều chúng tôi quan tâm hơn: tính dục, nhạc rock and roll, phim của Jean-Luc Godard, các phong trào chính trị, tiểu thuyết của Kenzaburo Oe và những thứ tương tự. Nhưng đặc biệt là chúng tôi nói về tình dục.

Đúng thôi, chúng tôi đều ngu ngốc và tự mãn. Chúng tôi không hiểu biết gì về cuộc đời. Nhưng đối với chúng tôi, chàng và nàng CLEAN chỉ tồn tại trong thế giới sạch sẽ (clean world) của họ mà thôi. Điều đó hẳn có nghĩa là những ảo tưởng mà chúng tôi thích thú hồi đó và những ảo tưởng mà họ ấp ủ trong chừng mực nào đó có thể hoán đổi cho nhau.
Đấy là câu chuyện của họ. Không phải là câu chuyện vui vẻ đặc biệt gì, và vào thời điểm đó nó cũng chẳng phải câu chuyện đạo đức gì. Nhưng không sao. Câu chuyện của họ cũng là câu chuyện của chúng tôi. Mà tôi đoán nó sẽ làm nên một dạng thức lịch sử văn hóa. Đó chỉ là chất liệu thích hợp cho tôi - tôi, một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian không nhạy cảm - tuyển chọn và nhắc tới ở đây.

Tôi ngẫu nhiên gặp anh ta ở Lucca, một khu phố Italia nằm ở một dãy đồi thấp xứ Tuscan. Vào thời gian đó, tôi và vợ tôi đang thuê một căn hộ ở Roma. Nhưng cô ấy đã trở về Nhật Bản vài tuần, còn tôi đi du lịch đó đây bằng xe lửa. Từ Venice đến Verona rồi Mantua rồi Modena và dừng chân ở Lucca, một thành phố nhỏ yên bình, với một nhà hàng vùng ngoại ô có phục vụ món nấm tuyệt vời. Và trùng hợp làm sao, anh ta lại ở ngay khách sạn mà tôi cư ngụ.
Thế giới thật nhỏ làm sao.
Hôm đó chúng tôi dùng bữa tối tại nhà hàng. Cả hai chúng tôi đều đi du lịch một mình và đều chán như nhau. Bạn càng có tuổi thì niềm vui đi du lịch một mình càng giảm sút. Phong cảnh kém ngoạn mục hơn, những cuộc đối thoại bất tận của tha nhân làm đinh tai nhức óc bạn. Bạn không còn bận tâm đi tìm những nhà hàng mới và sự đợi chờ những chuyến xe điện dường như là bất tận. Bạn liên tục nhìn đồng hồ và thậm chí không buồn cất công học nói ngôn ngữ của nước bạn đang viếng thăm. Bạn nhắm mắt lại, và chỉ có những lỗi lầm xa xưa lùa vào tâm trí bạn.
Có lẽ đó là lý do tại sao anh ta và tôi cảm thấy khuây khỏa khi gặp lại nhau, như thể chúng tôi đang ở trường dạy lái xe. Chúng tôi chọn một cái bàn cạnh lò sưởi, gọi món rosso hảo hạng, và tiếp tục món khai vị funghi trifolati, sau đó là fettuccine ai porcini và arrosto di tartufo bianco.

Anh ta nói mình đến Lucca để mua đồ trang trí nội thất. Anh ta có một hãng kinh doanh chuyên về đồ trang trí nội thất Châu Âu và dĩ nhiên là thành đạt. Anh ta chẳng khoác lác với tôi điều gì, nhưng tôi có thể nói ngay rằng người đàn ông này có cả thế giới trong tay mình. Điều này thể hiện rõ trong cách cư xử của anh ta, trong bộ vía anh đang mặc, trong cách nói năng của anh ta. Trong một cách nào đó, thật hài lòng thấy thành công đã để mắt đến anh ta.
Ban đầu chúng tôi nói về nước Ý. Về những lịch tàu chạy không đáng tin cậy, về khoảng thời gian dài quá đáng mà người ta dành cho bữa ăn. Thế rồi tôi chẳng nhớ chúng tôi còn nói những chuyện gì nữa, nhưng khi người hầu bàn mang ra chai rượu thứ hai thì anh ta đang kể cho tôi nghe chuyện của mình còn tôi thì đưa ra nhận xét vào những lúc thích hợp khi anh ta ngừng nói. Tôi chắc rằng đã lâu anh ta muốn kể cho ai đó nghe nhưng chưa lúc nào làm được. Nếu như không có một nhà hàng ấm cúng và hương vị Coltibuono 83’ thì chắc chẳng bao giờ anh ta đề cập đến chủ đề nay. Nhưng anh ta đã nói.
"Tôi luôn nghĩ mình là người đáng chán," anh ta nói. "Ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã bị nhốt vào hộp. Tôi nhìn thấy những hàng rào xung quanh tôi và tôi cẩn thận chẳng bao giờ vượt qua chúng. Đó là nguyên tắc, như trên một đường cao tốc: cứ đi đúng làn đường này, hướng về phía trước, cấm vượt. Cứ việc làm theo những dấu hiệu, thế là bạn tới nơi. Tôi làm mọi việc kiểu như thế - cứ việc làm đúng cách, thế là người lớn nhặng xị tán dương tôi. Khi tôi còn trẻ, tôi nghĩ mọi người đều nhìn sự vật một cách giống nhau. Nhưng sớm muộn rồi tôi cũng nhận ra rằng không phải như vậy."
Tôi đưa ly rượu về phía ánh lửa và nhìn một lúc lâu.

"Cả đời tôi - hay ít nhất là nửa đầu đời - mọi thứ đều trôi chảy. Tôi chẳng có gì để phàn nàn nhưng mặt khác, liệu tôi có khái niệm gì về ý nghĩa cuộc sống hay không? Tôi không có ý tưởng gì về việc tôi làm, về điều mà tôi theo đuổi. Ý tôi là tôi giỏi toán, giỏi tiếng Anh, giỏi cả thể thao. Đường đi cứ thẳng băng. Họ hàng vỗ về tôi, thầy cô nói tôi chẳng có gì phải lo lắng cả. Nhưng thực ra tôi sinh ra là để làm gì? Tôi muốn làm cái gì với bản thân mình? Tôi sẽ học luật hay là kỹ sư? Tôi có nên học y không? Cái nào cũng tốt cả. Vì vậy tôi làm theo lời cha mẹ và thầy cô đã chỉ giáo. Tôi đã đậu rất cao vào ngành Luật ở đại học Tokyo."
Anh uống một hớp rượu. "Anh còn nhớ cô bạn gái tôi ở trường trung học không?".
"Phải nàng là Fujisawa không?". Tôi lục tìm trong trí nhớ tên cô ta. Tôi không chắc lắm nhưng hóa ra là đúng.
Anh ta gật đầu. "Đúng rồi. Fujisawa Yoshiko. Nàng cũng tương tự vậy. Tôi có thể kể cho nàng nghe tất cả những gì tôi cảm thấy. Và nàng hiểu. Chúng tôi có thể nói chuyện với nhau mãi. Đúng là… cho đến khi tôi gặp nàng, tôi chẳng có người bạn nào để có thể trút bầu tâm sự".

Anh ta và Fujisawa Yoshiko là một đôi song sinh tinh thần lạ lùng. Họ đều là thủ lĩnh, là siêu sao của trường. Hai người đều thuộc dòng dõi "trâm anh thế phiệt", tuy thế cha mẹ họ lại không thuận hòa với nhau. Cha họ đều có tình nhân và thường không về nhà vào buổi tối. Lý do duy nhất để cha mẹ không ly dị là sợ người khác dị nghị cười chê. Các bà mẹ cai quản gia đình và những đứa con bị thúc bách phải trở nên giỏi giang trong mọi chuyện. Những đứa trẻ cũng xa cách với mọi người. Họ đều nổi tiếng, nhưng đều không có bạn, họ cũng chẳng hiểu tại sao. Có lẽ những người bình thường, không hoàn hảo chỉ thích làm bạn với những người bình thường, không hoàn hảo khác.
Họ luôn cô đơn, luôn sống trong cõi của mình. Nhưng để thoát khỏi nỗi buồn, họ tìm đến nhau. Họ chấp nhận nhau. Họ yêu nhau. Họ cảm thấy hoàn toàn thoải mái khi ở bên nhau, đặc biệt khi họ cô đơn cùng nhau. Họ có quá nhiều điều bí mật để chia sẻ. Họ nói không biết mệt về nỗi cô độc của mình, về nỗi bất an và về những giấc mơ.
Ngay đến những xúc chạm sinh lý, họ cũng có luật của mình. Không bao giờ cởi bỏ quần áo, chỉ dùng tay sờ soạng nhau mà thôi. Một tuần một lần, họ ở chung với nhau một buổi chiều trong phòng ngủ của người này hay người kia. Cả hai nhà đều yên tĩnh. Cha đi vắng. Mẹ ra ngoài có việc. Họ dành cho nhau từ mười đến mười lăm phút để sờ soạng nhau say sưa rồi quay trở về với việc học tập, ngồi cạnh nhau. "Được rồi chứ nhỉ? Quay trở về sách vở thôi". Nàng nói và kéo thẳng chiếc áo sơ mi của mình.

Hai người đều đạt điểm cao. Học hành đối với họ không phải là nặng nề gì, chỉ như một lẽ tự nhiên thứ hai thôi. Họ thậm chí còn thi nhau giải các bài toán khó. "Điều này thật vui," chàng nói. Vâng, nghe thì có vẻ ngu ngốc nhưng đối với họ thì đó chính là niềm vui, mà người bất toàn như chúng ta chẳng thể nào hiểu được.
Tuy thế, đôi lúc, mối quan hệ đó không làm chàng thỏa mãn. Chàng cảm thấy như mình còn thiếu điều gì đó. Chàng muốn ngủ với nàng. Chàng muốn làm tình. "Sự hợp nhất thể xác," đó là từ mà chàng sử dụng. "Tôi nghĩ, điều đó sẽ giúp chúng tôi hiểu nhau mật thiết hơn," anh bảo tôi. "Nó chỉ như bước nhảy tự nhiên tiếp theo mà thôi".

Tuy nhiên, nàng lại không đồng ý. Mím môi và hơi lắc đầu, nàng nói: "Em thích anh lắm. Nhưng em muốn mình còn trinh trắng đến ngày cưới". Dù chàng thuyết phục nàng thế nào đi nữa, nàng cũng không thay đổi ý định. "Anh biết là em thích anh," nàng nói. "Thật sự và chân thành. Nhưng điều đó khác, điều này khác. Em xin lỗi. Hãy chịu đựng với em. Nếu thực sự yêu em, anh hãy quên điều đó đi".
"Nếu đó là những gì cô ta muốn, tôi phải tôn trọng thôi," anh bảo tôi. "Đó không phải là điều không thể. Cá nhân mình, tôi không nghĩ trinh tiết là vấn đề lớn đến vậy. Tôi chẳng quan tâm đến chuyện cô gái mình cưới có còn trinh hay không. Tôi không phải là người cấp tiến, nhưng cũng không phải là người thủ cựu. Tôi đơn giản là người thực tế. Điều quan trọng cho một cặp tình nhân là phải biết mình xuất phát từ đâu. Tôi nghĩ vậy. Nhưng nàng có một viễn cảnh về cái cuộc sống mà nàng muốn sống. Và tôi phải chịu đựng. Chúng tôi hôn hít nhau, sờ soạng nhau dưới lớp quần áo. Chắc anh biết kiểu đó rồi".
"Tôi tin vậy," tôi nói.

Anh đỏ mặt rồi mỉm cười. "Điều đó cũng chẳng tệ lắm, nhưng tôi không thể nào thôi nghĩ về tính dục. Đối với tôi thì chúng tôi mới đi được nửa đường. Tôi muốn hợp nhất với nàng. Tôi muốn không có gì bị che phủ, không có gì ẩn giấu. Đó là vấn đề xác nhận quyền sở hữu. Tôi cần một thứ dấu hiệu nào đó. Hiển nhiên, thôi thúc tình dục là một phần, nhưng không chỉ có thế. Chưa một lần trong đời tôi cảm thấy mình có thể hoàn toàn hòa hợp với ai hay một điều gì. Tôi luôn cô độc. Tôi bị bó buộc trong cái hộp đó. Tôi muốn tự giải thoát mình. Tôi muốn phát hiện cái tôi đích thực của mình. Nếu được ngủ với nàng, tôi nghĩ mình có thể phá vỡ cái hộp đó".
Anh ta bắt đầu thực hiện một kế hoạch. Anh ta nói rằng ngay sau khi tốt nghiệp, họ có thể cưới nhau. Nếu nàng muốn đính hôn, họ có thể làm điều đó sớm hơn. Chẳng có vấn đề gì. Nàng nhìn thẳng vào anh trong vài giây. Và một nụ cười lướt qua gương mặt nàng. Một nụ cười thực sự đáng yêu. Nàng rõ ràng vui sướng khi nghe những lời anh ta nói. Nhưng ngay lúc đó, nụ cười lại bị ngăn cách bởi sự nhẫn nhục, cùng một thoáng buồn mơ hồ. Nàng không tỏ ra hạ mình, điều đó thì rõ, nhưng nàng cũng chẳng khuyến khích anh, ít nhất đó là điều anh cảm nhận.

"Điều đó không thể," nàng nói. "Em sẽ chẳng bao giờ lấy anh. Người em lấy phải lớn hơn em vài tuổi, còn anh phải lấy người nhỏ hơn anh vài tuổi. Điều này là hợp lý. Bởi phụ nữ dậy thì sớm hơn đàn ông nên họ cũng mau già hơn. Ngay cả dù chúng ta kết hôn sau khi tốt nghiệp thì cũng chẳng bền. Dù sao, chúng mình cũng không thể như vậy mãi. Anh biết là em thích anh hơn bất cứ ai khác. Nhưng điều đó khác, điều này khác." Đó hình như là cách nói của nàng. "Chúng ta vẫn đang đi học. Chúng ta được gia đình nâng niu bảo bọc. Thế giới thực bên ngoài rộng lớn hơn nhiều và khó khăn hơn nhiều. Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng".
Anh biết nàng đang muốn nói điều gì. Anh là người có tư tưởng thực tế hơn nhiều, hơn tất cả những thằng con trai cùng thế hệ. Nếu được nghe một điều tương tự như một lời giáo huấn chung chung, anh hoàn toàn có thể đồng ý. Nhưng đây không phải là một lời giáo huấn chung chung. Nó liên quan mật thiết đến anh.

"Anh không quan tâm", chàng bảo nàng. "Anh yêu em và muốn có em. Anh rất rõ ràng trong chuyện này. Nó rất quan trọng đối với anh. Anh chẳng quan tâm nếu vài chuyện nào đó không phải là như vậy trong thực tại. Anh quá yêu em. Anh điên lên vì em".
Nàng lắc đầu như muốn nói: "Chẳng ăn thua gì". Rồi nàng vừa vuốt tóc vừa nói: "Anh có thực sự nghĩ rằng chúng ta chỉ mới biết những điều đầu tiên về tình yêu không? Tình yêu chúng ta chưa bao giờ được thử thách. Cả anh em mình đều còn là trẻ con".
Anh chán đến mức không buồn trả lời. Một lần nữa, anh chẳng thể nào phá vỡ bức tường vây quanh mình, anh chỉ còn biết quá rõ mình bất lực đến thế nào. Mình không thể làm được bất cứ việc nào, anh nghĩ. Nếu tình hình cứ thế này, chắc chắn mình sẽ phải sống cả đời trong hộp. Năm này qua tháng khác, vô mục đích.

Tuy thế hai người vẫn cặp kè bên nhau đến tận khi tốt nghiệp cấp 3. Hẹn gặp nhau trong thư viện, cùng nhau học bài, sờ soạng nhau dưới lớp áo. Nàng dường như chẳng nghĩ có điều gì sai lầm trong cách thỏa thuận như vậy; thậm chí nàng còn có vẻ hứng thú với tình trạng dở dang đó. Trong khi các bạn bè nghĩ rằng hai anh chị - anh CLEAN và chị CLEAN - đang hưởng thụ một thời tuổi trẻ lý tưởng thì riêng anh cô độc khôn nguôi.
Cuối cùng, vào mùa xuân năm 1967, anh nhập học đại học Tokyo 2. Nàng ở lại Kobe, học ở trường Cao đẳng nữ. Ngôi trường này thuộc loại có hạng trong số các cơ sở giáo dục nhưng đối với nàng thì chẳng hề khó khăn gì. Lẽ ra nàng có thể dễ dàng vào đại học Tokyo nhưng thậm chí nàng không buồn dự thi đầu vào. Theo nàng, loại giáo dục đó là không cần thiết. "Em chẳng muốn kiếm việc ở Bộ Tài chính đâu. Em là con gái. Đó chính là điểm khác biệt. Anh có thể học lên cao, nhưng em chỉ cần học bốn năm nữa thôi. Cần giải lao, anh biết chứ, cần dừng lại nghỉ ngơi. Bởi vì khi em lập gia đình, em sẽ chẳng còn sự nghiệp gì nữa, đúng không?".
Thái độ của nàng làm anh thất vọng. Anh từng hy vọng hai người sẽ cùng lên Tokyo, cùng nhau chia sẻ những điều mới mẻ trong quan hệ của họ. Anh nài nỉ nàng nghĩ lại, nhưng nàng chỉ lắc đầu.

Mùa hè đầu tiên của đời sinh viên (cùng mùa hè mà tôi và anh ta gặp nhau ở trường dạy lái xe), anh ta trở về Kobe, và gặp lại nàng hầu như mỗi ngày. Nàng lái xe đưa anh đi chơi. Họ sờ soạng nhau như ngày xưa cũ. Nhưng anh không khỏi nhận ra rằng đã có điều gì thay đổi. Sự thay đổi không đột ngột. Theo cách nào đó, mọi cái không có gì thay đổi. Cách nàng nói chuyện, cách nàng ăn mặc, quan điểm của nàng… dường như tất cả đều như xưa. Nhưng anh không còn muốn hòa mình trở lại vào cuộc sống cũ. Đó là luật của động lực: từng chút một, không ngừng, hai người tuột ra khỏi sự đồng bộ trước kia. Và điều này cũng chẳng tệ hại gì nếu anh ta biết mình đang đi theo chiều hướng nào.

Anh lại cô đơn ở Tokyo, vẫn không thể kết bạn với ai. Thành phố đông đúc và dơ bẩn, thức ăn vô vị. Anh luôn nghĩ về nàng. Buổi tối, anh giam mình trong phòng để viết thư cho nàng. Nàng hồi âm lại (dù không thường xuyên). Những bức thư miêu tả chi tiết đời sống hàng ngày của nàng, anh đọc đi đọc lại. Nếu không nhờ những bức thư đó, anh dám chắc mình đã phát điên. Anh hút thuốc và bắt đầu uống rượu. Đôi khi anh thậm chí còn cúp tiết.
Anh đã từng xiết bao mong ước kỳ nghỉ hè để có thể quay về quê nhà Kobe! Nhưng đến khi trở về, anh lại càng ngao ngán hơn nữa. Điều khôi hài là anh chỉ mới ra đi được ba tháng thôi. Tại sao tất cả lại bỗng dưng có vẻ bụi bặm và lờ đờ đến thế? Thành phố mà anh từng nhớ nhung quá đỗi giờ trông xạc xài bệ rạc đối với anh, chỉ lại thêm một cái thành phố tỉnh lẻ khác chỉ biết việc của mình, không hơn không kém. Bắt chuyện được với mẹ cũng là một kỳ công. Đi đến tiệm cắt tóc mà anh thường cắt hồi còn bé là một viễn cảnh tối tăm. Bờ sông mà anh thường dắt chó lang thang mỗi ngày là một vùng hoang vu rác rưởi.

Ngay cả việc gặp nàng cũng không làm cho anh khá hơn chút nào. Điều quái quỉ gì đang diễn ra thế này? Dĩ nhiên là anh vẫn yêu nàng, nhưng như thế chưa đủ. Đam mê không thể tự nó duy trì mãi mãi. Anh phải dùng đủ mọi cách, dù cho mối quan hệ hai người có thể bị bóp chết.
Anh quyết định mình phải đặt lại vấn đề tính dục, phải lôi nó ra khỏi tủ lạnh mà đặt lên bàn. Đó là cơ hội cuối cùng.
“Ba tháng nay anh cô đơn ở Tokyo và chỉ nghĩ đến em. Anh thật sự yêu em quá rồi. Dù chúng ta xa nhau bao nhiêu, anh thấy cảm giác của anh vẫn nguyên vẹn. Nhưng khi ta xa nhau, anh thấy mình chênh vênh quá. Tâm trạng anh u ám. Em có thể không hiểu điều này nhưng anh chưa bao giờ cô đơn đến thế trong đời anh. Anh cần mối liên kết thực sự với em, như một bằng chứng bảo đảm rằng dù xa nhau bao nhiêu đi nữa, chúng mình vẫn luôn có mối buộc ràng chắc chắn”.
Nàng hít một hơi thở sâu và hôn anh. Quá dịu dàng, nàng nói: “Em xin lỗi. Em không thể cho anh sự trinh trắng của em được. Điều đó khác, điều này khác. Em có thể làm tất cả cho anh, tất cả, trừ điều này ra. Nếu anh thực sự yêu em, xin đừng nêu vấn đề này ra nữa”.

Một lần nữa, anh trở lại chủ đề cưới xin.
“Có hai bạn trong lớp em đã đính hôn,” nàng nói. “Nhưng vị hôn phu của họ đã có việc làm ổn định rồi. Cưới xin đồng nghĩa với trách nhiệm đấy anh ạ”.
“Anh có thể đảm đương trách nhiệm chứ”, anh nói quả quyết. “Anh đã vào một trường rất tốt. Anh hứa với em là điểm số anh cũng sẽ rất tốt. Anh có thể được nhận vào bất cứ công ty hay văn phòng chính phủ nào. Anh sẽ xin việc bất cứ nơi đâu em nói. Anh có thể làm tất cả nếu anh chú tâm. Vậy cái gì mới là vấn đề đây?”
Nàng nhắm mắt gục đầu và im lặng. “Em sợ,” một lúc sau nàng nói, vùi mặt vào lòng tay, thổn thức. “Em rất sợ. Sợ đến mức em không thể chịu đựng được. Em sợ hãi đời sống, sợ phải xây dựng cuộc sống cho mình. Vài năm nữa thôi, em phải bước chân vào đời sống thật, em sợ đến phát ốm. Tại sao anh không hiểu điều đó? Tại sao anh phải hành hạ em như thế này?”
Anh ôm nàng trong tay. “Chẳng có gì phải sợ hãi cả em ạ,” anh nói. “Anh đang ở đây. Em nhìn đi. Anh cũng sợ như em vậy. Nhưng nếu anh em mình biết vậy thì chúng ta sẽ vượt qua thôi. Nếu chúng mình chung sức thì chẳng có gì phải sợ. Chẳng có gì đáng sợ đâu”.
Nàng lắc đầu. “Anh không hiểu đâu. Em là phụ nữ. Em khác anh. Anh không biết một tý gì cả. Chẳng biết gì”.
Anh chẳng còn gì để nói. Nàng cứ khóc mãi. Và nói một điều kỳ lạ nhất: “Nghe này, nếu như duyên anh em mình không trọn, em vẫn nhớ anh mãi mãi. Thật sự em chẳng bao giờ quên anh. Anh biết là em yêu anh như thế nào mà. Anh là người đầu tiên em chăm sóc, và chỉ cần ở bên anh là em vui đến thế nào. Hãy hiểu cho em. Nếu như đây là lời hứa mà anh muốn, em sẽ hứa. Em sẽ ngủ với anh, nhưng không phải bây giờ mà sau khi lập gia đình, em sẽ ngủ với anh. Em hứa”.

“Cô ta nói cái quái gì vậy? Nó làm tôi rối trí”, anh nói, mắt nhìn chằm chằm vào chiếc lò sưởi đang chiếu sáng rực rỡ. Người hầu bàn mang món primi piatti đi và thêm một thanh củi vào lò sưởi. Những tia lửa kêu tanh tách. Một cặp trung niên ở bàn kế bên đang cân nhắc chọn món thực đơn tráng miệng. “Tôi không thể nào hiểu quan niệm của nàng. Tôi trở về nhà mà những lời đó cứ lởn vởn trong tâm trí. Đơn giản là tôi không thể nào nắm bắt được lý lẽ của nàng. Anh có hiểu gì không?”
“Tôi chắc cô ta định giữ mình trinh trắng đến tận đêm tân hôn, nhưng khi đã lập gia đình và chữ trinh không còn là vấn đề quan trọng nữa, cô ta có thể ăn nằm với anh. Đại khái như thế”.
“À thì đại loại như thế. Tôi chỉ có thể đọc ra thế mà thôi”.
“Độc đáo thật. Tôi nói nàng ta. Và dù sao cũng hợp lý nữa”.
Một nụ cười thoáng nhẹ trên môi anh ta. “Chính xác và có vài điểm hợp lý”.
“Một cô dâu trinh trắng, một người vợ ngoại tình. Y như tiểu thuyết cổ điển Pháp. Chỉ có điều không có phòng khiêu vũ và những người hầu”.
“Thế mà đối với nàng, đó là giải pháp thực tế duy nhất,” anh ta nói.
“Buồn thật,” tôi nói.
Anh nhìn tôi một phát sắc bén rồi chậm rãi gật đầu. “Phải, thật buồn. Và thực sự lâm ly thống thiết nữa. Anh nói hoàn toàn đúng. Bây giờ tôi cũng nghĩ vậy. Cũng phải thôi, tôi đã già hơn rồi. Nhưng khi đó thì không. Tôi vẫn còn là một thằng nhóc và hoàn toàn mù tịt về những sự bất an nhỏ bé làm xáo động tâm trí con người ta. Tất cả những chuyện đó làm tôi sửng sốt, nó làm tôi bị sốc”.
“Tôi có thể tưởng tượng được”, tôi tán đồng.

Rồi như thoả thuận ngầm, chúng tôi dùng món tartufi.
“Tôi đoán là anh biết điều gì sẽ xảy ra sau đó,” anh nói sau một lúc im lặng. “Cô ấy và tôi chia tay nhau. Không ai trong chúng tôi thổ lộ điều gì. Chỉ là một kết thúc tự nhiên. Rất êm thắm. Chúng tôi chỉ thấy mệt mỏi khi cố tìm cách giữ mối quan hệ đó. Và như tôi biết thì những ý niệm của nàng về cuộc sống không… Nói thế nào nhỉ? Nàng không chân thành lắm. Không, cũng không đúng. Điều tôi muốn nói là tôi biết lẽ ra nàng đã có thể tốt hơn. Tôi thất vọng về nàng. Thay vì hành hạ nhau về những vấn đề cũ rích như trinh trắng, cưới xin, lẽ ra nàng nên cố gắng học hỏi được nhiều hơn từ cuộc sống”.
“Nhưng điều này quá sức nàng”, tôi nói.
Anh gật đầu, xiên một khoanh nấm cho vào miệng. “Chuyện đó vẫn xảy ra. Anh bị mất khả năng co giãn. Có một thời điểm anh bị căng đến một mức giới hạn và không thể đi xa hơn. Điều tương tự vậy đã xảy đến cho tôi. Ngay từ nhỏ, cả hai chúng tôi luôn luôn bị lùa về phía trước. Hết bị xô lại đẩy, tiến lên, tiến mãi về phía trước. Người ta hướng anh đến chỗ được đào tạo tốt, có mọi điều kiện thuận lợi, và ta chỉ có thể làm được những gì người ta bảo. Cho đến một ngày anh phát nổ”.

“Nhưng làm thế nào anh thoát khỏi điều đó?”
“Tôi đã vượt qua nó”, anh nói sau một lát suy nghĩ. Rồi đặt dao và nĩa xuống, lấy khăn ăn lau miệng. “Sau khi tôi và cô ấy chia tay, tôi có một cô bạn gái ở Tokyo. Một cô gái dễ thương. Chúng tôi chung sống cùng nhau một thời gian. Nói thật, tôi không hề rơi vào trạng thái lo lắng, bất bình như đã từng có với Fujisawa Yoshiko. Một mối quan hệ thực sự, và tôi thật sự thích cô bạn mới. Cô nàng đã chỉ bảo cho tôi nhiều điều về những con người có thực, và tôi bắt đầu có thể kết bạn. Tôi hứng khởi với chính trị. Tôi nhận ra rằng thực tại có đủ mọi chiều kích và hình dạng. Và thế giới này đủ lớn cho những giá trị khác nhau cùng tồn tại. Chẳng cần phải thành một sinh viên sáng giá. Đó là cách tôi bước chân vào xã hội”.
“Và trở nên thành công”.
“Đủ thành công,” anh nói với hơi thở dài than oán. Sau đó nhìn tôi như thể nhìn một kẻ đồng lõa, anh nói: “So với những người cùng lứa tuổi chúng ta, khách quan mà nói tôi thừa nhận rằng thu nhập mình cao hơn tất cả”. Đó là tất cả những gì anh có thể nói.
Nhưng tôi biết câu chuyện vẫn chưa kết thúc, vì thế tôi không nói gì. Tôi đợi anh ta tiếp tục.

“Tôi không gặp lại Fujisawa Yoshiko một thời gian dài”, anh tiếp tục. “Thật sự dài. Tôi tốt nghiệp đại học và có việc làm trong một hãng kinh doanh. Tôi làm việc ở đó năm năm, có một thời gian ở nước ngoài. Mõi ngày công việc tràn ngập. Tôi bận rộn đến khó tin. Nghe mẹ nàng nói rằng hai năm sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng nữ, nàng lập gia đình, nhưng tôi không hỏi nàng lấy ai. Điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi nghe mẹ nàng nói là quả thực nàng đã giữ trinh trắng đến tận đên tân hôn. Nhưng tôi hơi buồn một chút. Và hôm sau nữa lại buồn hơn. Nó như thể một kỷ nguyên đã chấm dứt, một cánh cửa đóng sập lại sau tôi vĩnh viễn. Nhưng điều đó tự nhiên thôi. Fujisawa Yoshiko là cô gái tôi yêu thực sự chân thành. Chúng tôi đã có những giây phút ngọt ngào bên nhau suốt bốn năm, thậm chí còn toan tính chuyện cưới nhau. Nàng là người chiếm phần quan trọng trong thời tuổi trẻ của tôi, vì vậy nên tôi buồn là điều dĩ nhiên. Nhưng không sao, tôi thực sự hy vọng rằng nàng hạnh phúc. Tôi chúc nàng mọi điều tốt đẹp. Nhưng tôi cũng hơi lo lắng cho nàng. Nàng mỏng manh quá”.

Người hầu bàn dọn mấy cái dĩa và chúng tôi gọi cà phê.
“Tôi lập gia đình khá trễ, khi tôi ba mươi hai. Chính vì thế, tôi vẫn độc thân khi nhận được điện thoại của Yoshiko. Năm tôi hai mươi tám. Đã mười năm trôi qua đến lúc bấy giờ. Trong thời gian đó, tôi nghỉ việc công ty và làm tự do. Cha tôi cho mượn vốn để tôi sáng lập một công ty nhỏ của riêng mình. Tôi nhận thấy tiềm năng lớn mạnh của thị trường hàng nội thất nhập khẩu và bắt đầu thử sức mình. Nhưng mọi sự khởi đầu đều như thế chẳng có gì trôi chảy ở giai đoạn đầu tiên. Giao hàng chậm, kho trống rỗng, phí tổn thuê kho chồng chất, ngân hàng siết cổ… thành thật mà nói, tôi suy sụp và gần như đánh mất cả hy vọng. Chắc chắn đó là giai đoạn khó khăn nhất trong đời tôi. Và đúng khi tôi đang chìm xuồng như vậy, nàng gọi điện đến. Tôi không biết làm cách nào nàng có được số điện thoại của tôi. Chuông điện thoại reng vào lúc 8 giờ tối. Tôi nhận ngay ra giọng nói của nàng. Có những điều ta chẳng bao giờ quên được. Tôi cảm giác hơi luyến tiếc. Anh biết chắc là tôi sao rồi. Tôi cảm thấy quá đỗi vui sướng khi được nghe lại giọng nói người bạn gái năm xưa vào một lúc như thế.”
Anh nhìn chăm chú một lúc lâu vào lò sưởi, như để nhớ lại điều gì.
 
Nhà hàng đầy ắp khách. Người ta nói cười ở mỗi bàn, bát dĩa lách cách, cốc rượu leng keng.
“Không biết ai đã nói cho nàng mà nàng biết tất cả mọi thứ về tôi. Nàng biết tôi còn độc thân, đã đi nước ngoài, đã bỏ chỗ làm cũ và có công ty riêng. Nàng biết tất cả. “Anh đã đến đích. Anh làm được việc. Anh đã làm em tin tưởng”. Nàng nói vậy. Tôi không thể diễn tả với anh là tôi vui như thế nào khi nghe nàng nói vậy. Rồi tôi hỏi về nàng. Nàng cưới ai, đã có con chưa, sống ở đâu… Nàng không có con. Chồng nàng hơn nàng bốn tuổi, làm việc ở đài truyền hình. Một đạo diễn, nàng bảo tôi. Tôi nói: “Nghe có vẻ bận đấy nhỉ”. “Đúng, anh ta quá bận đến nỗi không có thời gian sinh con nữa”. Nàng nói và cười. Hai người sống ở Tokyo, trong một khu phố gần Shinagawa. Còn tôi sống ở Shiroganedai. Không phải là láng giềng nhưng cũng gần nhau. “Mọi chuyện đúng là kỳ lạ phải không?”, tôi nói. Chúng tôi nói về tất cả những gì mà những đôi tình nhân cũ thời trung học thường nói trong tình huống ấy. Tôi thấy mình hơi căng thẳng và vụng về nhưng tất cả đều tốt đẹp. Như hai người bạn cũ gặp nhau, chúng tôi nói đủ thứ chuyện hình như đến mấy giờ liền. Và khi không còn gì để nói nữa, chúng tôi im lặng bên hai đầu dây. Có thể nói thế nào nhỉ? Một sự im lặng dày đặc, khơi cho ta đủ thứ ý nghĩ”. Anh khoanh tay rồi đặt lên bàn nhìn lên mắt tôi. “Đáng lẽ tôi đã treo máy ở đó. Tôi nói: "cám ơn em đã gọi, rất vui được nói chuyện với em" rồi gác máy, kết thúc câu chuyện. Anh thấy tôi nói thế nào?”
“Đó hẳn là điều thực tế nhất phải làm,” tôi đồng ý.

“Nhưng nàng vẫn cầm máy. Nàng mời tôi đến chỗ nàng. “Sao anh không ghé thăm? Chồng em đi làm suốt, còn em buồn chán lắm”. Tôi không biết nói gì. Tôi chẳng nói gì cả. Nên nàng cũng không nói. Im lặng kéo dài. Và anh biết nàng nói gì không? Nàng nói: “Anh biết không, em vẫn còn nhớ lời hứa dành cho anh”.
“Anh biết không, em vẫn còn nhớ lời hứa dành cho anh”. Đầu tiên, anh chẳng biết nàng đang nói gì. Anh chưa một lần xem lời hứa của nàng là một lời hứa thật. Nhưng khi nhớ lại lời hứa ấy, anh nghĩ rằng đó chỉ là một sự lỡ lời, rằng nàng chắc hẳn phải ngượng vì điều đó.
Nhưng nàng chẳng ngại ngùng. Với nàng lời hứa là lời hứa.

Trong thoáng chốc, anh chẳng biết chuyện này sẽ đi về đâu. Phải làm gì mới đúng đây? Anh nhìn quanh tuyệt vọng nhưng không có bức tường nào vây quanh, không còn ai hướng đường cho anh đi nữa. Dĩ nhiên anh muốn ngủ với nàng. Điều này không cần phải nói. Từ khi chia tay nhau, anh vẫn tưởng tượng ngủ với nàng nhiều lần. Ngay cả khi nhìn thấy một người đàn bà khác, anh vẫn nghĩ mình đang tìm đường đến với nàng trong bóng đêm. Dù anh chưa nhìn nàng khoả thân lần nào nhưng anh biết cơ thể nàng qua cảm giác khi sờ nhau qua lớp áo.
Anh biết sẽ nguy hiểm như thế nào khi ngủ với nàng trong lúc này. Anh chẳng muốn kích động những gì đã ngủ yên trong bóng đêm quá khứ. Trực giác bảo anh rằng có những thứ không thể làm. Nhưng dĩ nhiên anh không thể từ chối. Tại sao anh phải từ chối? Nó là một câu chuyện thần tiên hoàn hảo, một điều cầu được ước thấy chỉ một lần trong đời. Nàng sống gần bên, và muốn chu toàn lời hứa đã ban ra trong cánh rừng quá khứ xa xăm.
Anh nhắm mắt lại và không thể nói gì. Anh không còn sức mà nói.
“Này. Anh còn ở đó không?”, nàng nói.
“Anh sẽ đến ngay. Em cho anh địa chỉ đi”.

“Nếu là anh, anh sẽ làm gì?”, anh ta hỏi tôi.
Tôi lắc đầu. Tôi không biết trả lời như thế nào cho câu hỏi đó.
Anh cười, nhìn xuống ly cà phê đặt ở trên bàn. “Tôi đến chỗ nàng và gõ cửa. Phần nào đó, tôi hy vọng nàng không có nhà. Nhưng đúng là nàng đang ở đó, vẫn đẹp như bao giờ. Nàng rót nước mời tôi, và nói chuyện về những ngày xưa cũ. Chúng tôi thậm chí đã nói về những thành tích học tập xưa kia. Và anh nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?”
Tôi không biết. Tôi bảo anh ta là tôi không hình dung được.
“Khi còn nhỏ, tôi đã đọc một câu chuyện thiếu nhi.” Anh như đang nói với bức tường phía xa của nhà hàng. “Tôi quên mất cốt truyện, nhưng tôi nhớ dòng chữ sau cùng. Nó như thế này: “Và khi mọi chuyện kết thúc, nhà vua và cận thần phá lên cười”. Đúng là kiểu kết thúc chuyện lạ lùng. Anh không thấy vậy sao?”
“Ừ, đúng vậy”.
“Tôi ước gì mình có thể nhớ được câu chuyện đó. Chúa biết là tôi cố gắng mà. Tất cả những gì tôi còn nhớ được là dòng chữ điên loạn sau cùng: “Và khi mọi chuyện kết thúc, nhà vua và cận thần phá lên cười”. Kết thúc chuyện kiểu quái gì thế này?”

Chúng tôi đã dùng xong cà phê.
“Chúng tôi ôm ghì nhau,” anh ta nói. “Nhưng tôi không ngủ với nàng. Nàng không trút bỏ quần áo. Chúng tôi dùng tay sờ soạng nhau như những ngày xưa cũ. Tôi nghĩ như thế là tốt nhất. Có lẽ nàng cũng nghĩ như vậy. Chúng tôi vuốt ve nhau rất lâu, lâu lắm. Không ai nói lời nào. Có gì để chúng tôi nói? Đó là cách duy nhất để chúng tôi nhận ra nhau sau những năm xa cách. Như khi chúng tôi còn học ở trường. Tất nhiên, mọi thứ giờ đã khác. Có lẽ tình dục bình thường tự nhiên sẽ giúp chúng tôi hiểu nhau hơn. Và có lẽ nó sẽ làm cho chúng tôi cùng vui vẻ, hạnh phúc. Nhưng chúng tôi đã trải qua thời đó từ lâu rồi. Những ngày đó đã bị khóa chặt và không ai có thể phá dấu niêm phong”.
Anh xoay cái ly không trong dĩa. Anh giữ nó một lúc lâu đến mức người hầu bàn đi đến chỗ chúng tôi và chờ đợi. Nhưng điều đó nhắc nhở anh trả cái ly lại chỗ cũ và gọi một ly cà phê Espresso khác.
“Có lẽ tôi ở chỗ nàng khoảng một tiếng. Nếu hơn nữa, chắc hẳn tôi sẽ phát điên mất”. Anh cười ranh mãnh. “Tôi tạm biệt và rời khỏi nhà nàng. Nàng cũng chào tạm biệt. Và lúc đó thực sự là vĩnh biệt, một lần cho mãi mãi. Tôi biết điều đó và nàng cũng biết vậy. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy nàng, nàng đứng trên bậc cửa, khoanh tay trước ngực. Nàng nhìn tôi như muốn nói điều gì đó nhưng rồi lại thôi. Bất luận thế nào, tôi cũng biết nàng sẽ nói gì. Tôi kiệt sức... trống rỗng. Tôi bước đi không mục đích, cảm thấy mình như đã uổng phí cả cuộc đời. Tôi ước gì mình có thể quay lại chỗ nàng và làm tình với nàng dài lâu và đậm sâu. Nhưng tôi không thể làm thế. Và cũng chẳng biết làm gì tốt hơn.”

Anh lắc đầu, uống hết ly cà phê thứ hai.
“Thật khó nói điều này. Nhưng tôi bước thẳng ra ngoài, bắt một ả gái điếm. Lần đầu trong đời. Và ắt hẳn là lần cuối”.
Tôi nhìn cốc cà phê của mình mà nghĩ về chuyện ngày xưa mình là một gã xa cách khó gần đến thế nào. Tôi muốn cho anh ta biết tôi đang nghĩ gì, nhưng chỉ e mình không thể tìm ra lời thích hợp.
“Kể những chuyện thế này, tôi thấy như thể đang nói về một người nào khác,” anh nói với tiếng cười nhẹ rồi im lặng.
“Và khi mọi chuyện kết thúc, nhà vua và cận thần phá lên cười,” cuối cùng anh nói. “Tôi luôn nghĩ đến câu này khi nhớ lại lúc đó. Tôi đoán nó là một phản xạ có điều kiện. Tôi không biết có phải không, nhưng nỗi buồn dường như luôn chứa đựng vài câu chuyện hài hước nhỏ lạ lùng”.

Và như tôi nói lúc mở đầu, câu chuyện này chưa đủ để gọi là một bài đạo đức. Tuy nhiên nó là câu chuyện cuộc đời anh ta, là câu chuyện đời của tất cả chúng ta. Đó là lý do tôi không thể cười nổi khi nghe anh nói chuyện. Đến bây giờ tôi vẫn không thể cười.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Nov 15, 2017 6:32 pm



Cành hoa trong đêm tối

Nguyên tác Yamizakura của Higuchi Ichiyo
Người dịch: Quỳnh Chi


Có hai nhà nọ là Nakamura và Sonoda, ở cách nhau chỉ một bức tường rào chùa Kenninji. Mối giao tình thâm sâu như mạch nước giếng trong vườn, họ đã cùng đón xuân sang dưới cây hoa mơ nở trước hiên nhà, cùng chia nhau cả mùi hương.

Ông Sonoda đã qua đời một năm trước, để lại người con nối dõi là một chàng trai trẻ tên Ryo no Suke, năm nay hai mươi hai tuổi, còn là sinh viên đang theo học tại một trường nọ.
Bên nhà Nakamura chỉ có mỗi một cô con gái. Họ cũng đã sinh hạ một mụn con trai nhưng chẳng may vắn số, sau mới được mỗi cô con gái này, nên thương lắm, nâng niu như viên ngọc quý trên tay, chỉ cầu sao cho được như cành hoa trên chiếc trâm cài tóc đừng bị gió thổi bay đi. Tên đặt là Chiyo (Thiên Đại) thì đủ biết lòng cha mẹ mong sao con mình được sống lâu như loài chim hạc.
Người ta vẫn bảo "Xoan thơm từ thuở hai mầm lá non", mà quả thực từ lúc Chiyo mới lên ba lên bốn, tinh anh đã phát tiết ra ngoài, khiến mọi người phải trầm trồ bảo bây giờ đã thế nữa là về sau. Như nụ hoa khi mới hé nở trên núi lúc tháng tư , khiến mặt trăng vằng vặc sau chòm lá trên những cành thông cũng muốn dòm xuống nhìn.
Vẻ yêu kiều tuổi đôi tám lộ ra dưới mái tóc vấn lên cao kiểu Taka-Shimada, xinh như màu áo hồng nhuộm hoa văn lấm tấm Tamako-Shibori. Sắc hồng ở giữa vườn cây xanh biếc thì làm sao mà giấu được. Ngay cả đến những người không quen biết cô tiểu thư nhà Nakamura cũng đồn đãi về cô. Người đẹp có khi cũng phiền đấy.

Thói quen kể cũng lạ thật. Tuy Ryo no Suke biết rằng cánh diều thả ngày gió bắc, bị vướng phải cột điện, chỉ là chuyện ngày xưa còn bé, thế nhưng mỗi khi gặp Chiyo chàng vẫn như khi hai đứa còn chơi đồ hàng, chẳng để ý gì đến dáng dấp đã ra vẻ người lớn của Chiyo. Họ vẫn hồn nhiên gọi nhau một cách thân mật là Ryo và Chi, rồi cuối cùng còn cãi vã:
- Từ nay đừng có qua bên đây nữa nghe!
- Ai thèm qua bên đó làm chi! Bên đó cũng đừng có qua bên đây nữa nghe!
Xong hờn lẫy không nhìn mặt nhau chỉ được chừng hai hôm, Chiyo đã lại hồn nhiên xin lỗi như khi còn bé:
- Hôm trước Chi hư quá, thôi từ nay Chi không nói thế nữa đâu. Anh đừng giận Chi nữa nghe.
Và thế là bao nhiêu giận hờn cũng tan biến như thể băng tan khi mùa xuân đến, Ryo no Suke liền đáp:
- Đâu có, không phải tại Chi đâu, tại anh cũng bậy đó mà.
Ryo no Suke không biết em gái thì như thế nào, nhưng chàng nghĩ nếu mình có em gái thì chắc cũng dễ thương như thế này.
Chiyo nhí nhảnh trong tà áo yukata, vừa đè lên tay áo của Ryo no Suke vừa nói:
-Anh Ryo này, đêm qua Chi nằm mơ vui lắm, thấy anh học xong rồi ra làm quan, chức gì không biết, mà đội mũ cao, đi xe ngựa sơn đen bóng, ra vào tòa nhà xây kiểu Tây phương.
-Người ta bảo mộng một đằng, thực một nẻo. Vậy là điềm dữ rồi. Không chừng sẽ bị ngã ngựa đó.
Ryo no Suke cả cười nói vậy, thì Chiyo khẽ nhíu đôi mày ngài mà rằng:
- Anh chỉ nói gở! Hôm nay chủ nhật nhưng anh phải ở nhà, không được đi đâu đó nghe.
Chiyo nói nghe có vẻ mê tín dị đoan, không hợp với người theo tây học như Ryo no Suke, nhưng sự chân thật của Chiyo khiến chàng thấy lại đáng yêu.

Bên này đã thân thiết gần gũi, bên kia cũng chẳng chút ngại ngùng. Đời nhiều chuyện buồn phiền, nhưng giữa họ chưa hề có một mảy may nào âu lo, dù chỉ như giọt sương đọng nơi chót lá. Vào giữa tháng hai, khi mùa xuân còn tràn ngập tiếng cười và gió còn rơi rớt lạnh, họ rủ nhau đi xem hoa mơ chùa Tokudaiji, nhằm ngày chợ phiên Marishiten họp trong sân chùa. Tay cầm tay trong ống tay áo ấm áp, Chiyo giao hẹn:
-Anh Ryo, anh mà quên đã hứa gì là Chi giận đó nghe.
-Yên tâm đi, anh không quên mà. Để coi nào... À... Mà cái gì nhỉ?
-Thấy chưa!? Khi ra khỏi nhà Chi đã dặn đi dặn lại rồi, mà anh vẫn còn quên!
- Đúng rồi! Anh nhớ ra rồi! Chi muốn đi xem đồng hồ lên dây cót, có búp bê Ô Sichi biết cử động, phải không?
- Dễ ghét! Anh chỉ nói bừa...
- Hay là Chi muốn anh đi bắt sống con gấu dữ ở xứ Tanba về cho Chi?
-Sao cũng được! Thôi Chi về đây!
- Thôi, anh xin lỗi. Nẫy giờ anh nói đùa đó mà. Có khi nào tiểu thư Chiyo nhà Nakamura lại nhờ Ryo no Suke này mấy chuyện đó. Đúng ra là tiểu thư đã nhờ mua... mua...
- Thôi, Chi không cần thứ gì nữa hết!
- Đừng hờn lẫy, người ta biết làm sao bây giờ? À, mà... vừa đi đường vừa cãi nhau, thiên hạ họ cười chết!
- Chứ không phải tại anh cứ đùa giỡn...
- Thì anh đã xin lỗi Chi rồi. Chà, mải nói nẫy giờ mà đi qua hàng xén lúc nào không hay.
- Làm sao giờ... Ở phía trước không biết có còn chỗ nào bán nữa?
- Không biết. Mà này! Chớ không phải là ai đó vừa mới nói "Không cần thứ gì nữa hết" đó sao?
- Chi giao hẹn, không nói vậy nữa đó nghe!.

Hai người cứ chuyện trò như thế suốt dọc đường. Ryo no Suke bảo:
- Phía bên phố buôn có trồng nhiều cây, mình sang bên đó nghe.
Thế là Chiyo liền chạy theo, tiếng guốc rộn rã khua vang.
Người đàn bà mù gẩy đàn tì bà với bài hát xẩm "Đời như bông hoa sớm nở tối tàn, như giọt sương ban mai tan trong khoảnh khắc" nghe thật ai oán. Cạnh hàng bán kẹo mạch nha vừa ngọt vừa dẻo, với tiếng mời khách dẻo quẹo "Ăn kẹo mạch nha hạt dẻ hôn...", là quày hàng bán bánh đa xem-bê cứng còng mới nướng vừa nóng hổi vừa dòn tan, kể cũng vui.
- Chi xem kìa, cái thứ hai, phía bên trái.
- A, bông hoa màu đỏ phải không anh.
Chiyo đang mải nhìn, thì từ đằng sau có người vỗ vào lưng cô, gọi:
- Nakamura!
Chiyo giật mình quay lại, thấy một đám con gái, không biết nẫy giờ đã nhìn gì, mà họ bảo:
- Tình tứ quá há!
Một câu nói sỗ sàng không biết là từ cặp môi hoa nào vừa thốt, tiếp theo là một chuỗi tiếng cười dòn của mấy cô thiếu nữ. Rồi bọn họ bỏ đi, để lại cơn gió lạnh chiều hôm. Ryo no Suke nhìn theo, ngao ngán bảo:
- Ai vậy hả Chi? Mấy bạn học ở trường à? Nghịch dữ a!
Còn Chiyo thì cúi gầm, mặt đỏ au.

* *

Tìm đâu lại sự bình thản trong tâm hồn ngày qua, khi trái tim đã bắt đầu biết rung động để rồi xao xuyến mãi không thôi. Lời tròng ghẹo lửng lơ của mấy cô bạn hôm trước như đã in sâu vào tâm khảm, khiến hoang mang chẳng biết là sao nữa, nhưng hễ nhớ đến lại xao xuyến đến run rẩy cả châu thân. Từ khi đem lòng tưởng nhớ người ta thì hay ngượng ngùng, e sợ đủ điều. Sợ nói thế này người ta cười cho, sợ làm thế kia không biết người ta có ghét mình hay không. Thậm chí người ta chỉ hỏi thăm có vài câu, cũng ấp úng không đáp lại được. Chỉ những nghĩ quanh nghĩ quẩn điều kia nỗi nọ, cứ như người tối ngày lo lật chiếu rũ bụi. Mới hôm trước còn hồn nhiên "Gặp nhau nghe", "Cho xem nào", tâm hồn lúc ấy còn hời hợt giản dị biết bao. Bây giờ không còn dám gọi người ta là "Anh bên đó" hay "Anh Ryo" nữa. Mà không được nhắc đến người ta thì lại buồn. Nếu không giòng lệ tuôn rơi, làm sao dập tắt lòng ai lửa nồng. Suốt đêm chẳng chợp mắt được, nhớ đến nẫu cả người, rồi mơ màng thấy bóng người chập chờn mông lung. Người ấy dịu dàng đặt tay lên lưng hỏi:
- Chi đang nghĩ gì thế?
Đã toan muốn nói:
- Chỉ tại anh thôi.
Nhưng lại cúi mặt làm thinh. Người ấy lại bảo:
- Có chuyện gì mà giấu anh như thể người dưng vậy?
Nhìn bộ dạng thì chắc là ai mà chẳng biết nên người ấy hỏi:
- Chi đã thương ai rồi phải không? Ai mà có phước được Chi thương vậy?
Làm mặt thản nhiên mà trách người ta thế, dễ ghét chưa kìa.
-Nếu mà cũng như người khác, thì đâu đến nỗi vóc hạc xương mai thế này. Anh xem đây.
Người ấy ấn nhẹ vào cánh tay chìa ra, rồi ôn tồn hỏi:
- Vậy chớ Chi thương ai ?
Lần này đã toan đáp lại, thì bỗng có tiếng chuông ban mai vang lên bên gối, mở mắt ra mới biết đó chỉ là giấc mộng.

Tiếng chim buổi sáng não nùng, chia tay giấc mộng tao phùng đêm qua. Tình chung buồn nỗi chia xa, tình riêng nuối tiếc xót xa một mình.
Mẹ nhìn mặt hỏi:
- Sáng nay con làm sao thế? Sao sắc mặt ủ ê làm vậy?
Dù mẹ làm sao biết được những gì trong mộng đêm qua, nhưng nghe mẹ hỏi, phải cố giấu sắc mặt đang đỏ ửng.

Ban ngày tay cầm kim thêu may mà lòng dạ rối bời, chỉ những muốn khâu kín lại cõi lòng đang ngổn ngang trăm mối. Lúc này thôi đừng thương nhớ nữa. Biết rồi có thành hay không mà nhớ với thương. Lỡ nói ra mà bị người ta hắt hủi thì xấu hổ chết, còn mặt mũi nào nhìn nhau nữa. Bởi coi như em gái, nên người ta mới cho gần cận, nuông chiều. Nếu là bạn đời, hẳn là người ta mơ một người con gái như thế nào kia chứ. Ngay cả đến mình cũng còn nghĩ rằng người được gọi là vợ anh hẳn phải là một trang giai nhân tuyệt sắc, văn chương tài nghệ, đàn địch giỏi giang, mới xứng đôi vừa lứa; huống hồ chính anh, chắc hẳn cũng nghĩ thế. Hở môi nói ra chi chuyện viển vông làm cho mối thâm tình bấy lâu hóa ra nhạt nhẽo cách xa, lúc ấy biết làm sao. Đừng mơ chi chuyện lứa đôi, cứ qua lại như tình anh em lâu nay, thì người ta chẳng nỡ ghét bỏ, còn được nghe lời nói dịu dàng, dù chỉ là người dưng. Đã nhủ lòng dứt mối tơ vương, mà lòng nào có chịu nghe cho, lệ lòng cứ chảy dài trên má, tơ lòng cố gỡ lại rối bời.
Cũng tại người ta quá dịu dàng. Phải chi người ta hờ hững lạnh lùng thì mình đã dứt tình được rồi. Nhưng không dứt được, là tại mình hay tại người nhỉ? Càng thương lại càng giận. Không còn muốn nghe tiếng nói, không còn muốn nhìn thấy dáng hình, bởi hễ nghe tiếng thấy hình thì lại càng thêm thương nhớ, nỗi nhớ thương nung nấu cả tâm can.
Phải chi người ta chẳng đoái hoài, rẻ rúng, hẳn là đã chẳng buồn chẳng khổ. Dù có phải đau lòng, nhưng chẳng thà hai bên như nước với lửa kị nhau, thế mà lòng trí lại thảnh thơi. Được rồi! Kể từ hôm nay sẽ không gặp, không nói chuyện nữa. Nếu vì thế mà người ta sinh ra phật ý thì đúng là cầu được ước thấy còn gì. Lòng đã quyết như thế rồi, mà chỉ mới vừa nghe có tiếng bên nhà bên vọng sang, đã lại xiêu lòng ngày, lại nhớ thương và nôn nao mong gặp.
Nhưng nhớ và thương cũng chỉ một mình mình biết, ai nào có hay. Người ta vẫn còn nhìn đời bằng ánh mắt vô tư, lòng không chút tơ vương, đâu biết trên đời này có người yêu mình. Người ta không biết nên không thể hiểu được nỗi lòng u uẩn của ai đó. Đàn ông vô tâm cười nói vui vẻ như thế thì biết nói gì đây, cứ nghĩ tới ngày sau mà buồn duyên tủi phận, mùa xuân đâu rồi để hoa xuân không nở, chỉ có vạt cỏ non mới mọc vươn qua hàng rào.

* *

- Hôm nay Chi có thấy khỏe hơn chút nào không?
Ryo no Suke đẩy chiếc bình phong có hai cánh sang một bên, bước vào ngồi xuống bên gối, khiến Chiyo e thẹn vì mái tóc rối bỏ xõa chưa chải, chống tay toan ngồi dậy, để lộ cánh tay gầy guộc.
- Chi phải nằm nghỉ mới được. Khi đau ốm thì phải nằm chứ có chi đâu mà ngại. Còn nếu Chi muốn ngồi dậy một chút thì hãy dựa vào người anh cho khỏi mệt.
Ryo no Suke vừa nói vừa nâng Chiyo ngồi lên.
- Anh Ryo, bây giờ đang mùa thi, phải không ạ?
- Ờ, đúng rồi.
- Đang mùa thi mà anh sang thăm Chi, có sao không?
- Chi lo gì chuyện đó. Đang đau mà lo nghĩ làm chi cho mệt.
- Sợ làm phiền anh.
- Có gì mà phiền với hà! Chi không phải lo chuyện gì hết, hãy ráng cho mau lành bệnh.
- Cảm ơn anh đã lo cho Chi. Nhưng bệnh của Chi không khỏi đâu.
- Lại nói bậy nà! Nghĩ quẩn thế thì bệnh còn dây dưa, làm sao khỏi được, cha mẹ lo biết chừng nào. Chi là đứa con hiếu thảo mà nói vậy là không được đó nghe.
- Nhưng bệnh của Chi không thể nào khỏi được mà.
Chiyo nói một cách tuyệt vọng, đôi mắt đăm đăm nhìn Ryo no Suke mà long lanh ngấn lệ. Tuy ngoài miệng Ryo no Suke bảo Chiyo là "Chỉ nói gở!", nhưng chàng cũng nghĩ như mọi người rằng bệnh của Chiyo khó mà lành được. Mỗi ngày Chiyo lại gầy xọp hẳn đi. Đôi má lúm đồng tiền xinh xắn giờ đã lõm sâu xuống, làn da trắng nõn mọi ngày nay nhợt nhạt xanh xao. Mái tóc đen nhánh như có xoa dầu không còn óng ả nữa. Ai trông thấy hình dáng tiều tụy ấy mà không xót xa, huống hồ Ryo no Suke thì còn đau lòng hơn nữa.

Chiyo mặc một chiếc áo đã nhàu có in những bông hoa nhỏ, thắt lưng màu hồng nhạt buộc lại thành chiếc nơ trước bụng. Ryo no Suke không biết chàng còn được trông thấy hình dáng ấy được bao ngày nữa.
Bao nhiêu năm tháng thân cận bên nhau nửa bước chẳng rời, mà sao ta không hiểu được đáy lòng nàng. Tối qua mới nghe cô giúp việc Ô Fuku vừa khóc vừa kể lại rằng trong lúc mê sảng Chiyo đã không ngớt gọi tên mình. "Cũng tại cậu mà cô Chiyo bị ốm", bị nói thế cũng là đáng lắm. Giận cho mình sao không hay biết gì cả, mà cũng giận ai kia đã chôn chặt nỗi niềm riêng.
Sáng nay khi Ryo no Suke sang thăm, Chiyo đã tháo chiếc nhẫn bị lỏng ra trên ngón tay gầy guộc, đưa cho Ryo no Suke, khẽ cười buồn mà rằng:
- Anh giữ cái này làm kỷ niệm của Chi.
Phải chi Ryo no Suke sớm hiểu được tấm tình của nàng thì Chiyo đâu đến nỗi tiều tụy đến như thế. Chàng thấy mình thật nặng tội, ánh mắt nhìn như muốn bảo bọc che chở cho Chiyo, thì nàng lại thều thào hỏi:
- Anh Ryo, anh đã đeo chiếc nhẫn Chi đưa anh sáng nay chưa?
Ryo no Suke thấy nghèn nghẹn nơi ngực, không nói được lời nào, cứ lặng thinh mà đưa bàn tay trái ra. Chiyo kéo bàn tay ấy lại gần mình, đăm đăm nhìn.
- Anh hãy xem cái nhẫn này như chính em.
Dường như Chiyo muốn nói thế nhưng vẫn không nói lời nào, nước mắt đoanh tròng rồi cứ thế úp mặt xuống gối,
- Chi mệt lắm phải không? Ô Fuku đâu, lấy thuốc cho cô uống nào. Chi làm sao vậy? Sắc mặt sao xanh quá. Bác ơi, bác lại xem, Chi làm sao rồi ạ!
Ryo no Suke hoảng hốt gọi. Me Chiyo đang tụng kinh cầu nguyện ở phòng bên cạnh và Ô Fuku đang đi lấy nước để lên bàn thờ, cũng hớt hơ hớt hải chạy lại bên gối. Chiyo mở đôi mắt đang nhắm nghiền ra hỏi:
- Anh Ryo...
- Anh Ryo đang ở bên gối con, ở bên phải con kia kìa.
- Mẹ ơi, mẹ bảo anh Ryo về đi nhé.
-Sao vậy hả Chi? Anh ở đây có phiền gì cho Chi sao? anh ở đây cũng có sao đâu.
Nhưng Chiyo vẫn bảo:
- Ô Fuku thưa với cậu dùm cô, xin cậu hãy về đi.
- Sao cô lại nói vậy? Nãy giờ cậu Ryo vẫn ở bên cạnh cô. Nếu cô thấy mệt thì để con lấy thuốc cho cô uống. Cô gọi bà à? Bà đang ở sau lưng cậu Ryo đó ạ..
-Mẹ đang ở đây con ạ. Mẹ đây, con nhận ra không? Mẹ cũng đã cho người gọi cha về với con rồi. Con hãy gắng uống một ngụm thuốc này đi.. Sao thế? Con thấy tức ngực à? Phải vậy không? Trời ơi, mồ hôi ra đầm đìa... Ô Fuku! Chạy đi mời ông lang tới nhanh lên nào! Ông ơi, ông đừng đứng đó mà lại đây, làm sao dùm tôi đi ông. Cháu Ryo! Cháu đưa dùm cho bác cái khăn kia... Con muốn nói gì hả con? Bảo cậu Ryo vui lòng ra về đừng ở lại đây nữa, hả? Được rồi, để mẹ bảo. Cháu Ryo à, Chiyo nó nói như vậy đó.
Người mẹ đau khổ cuống quýt theo hơi thở dốc mỗi lúc một dồn dập của con gái, trong phút chốc sắc mặt Chiyo nhợt hẳn.

Chắc là không qua khỏi đêm nay. Ryo no Suke không còn lòng dạ nào mà đứng lên ra về lúc này, nhưng nghĩ thương cho Chiyo đến lúc sắp lìa đời vẫn còn giữ gìn ý tứ, nên chàng bèn bước vài bước ra phía ngoài tấm bình phong. Tức thì có tiếng Chiyo, mong manh như tơ trời, vọng ra từ phía sau tấm bình phong:
- Anh Ryo...
- Gì hả Chi ?
- Mai này Chi sẽ xin lỗi anh.
Trời không gió mà từng cánh hoa anh đào nhẹ rơi ngoài đầu hiên, và có tiếng chuông vang lên trong bầu trời đêm.

Nguyên tác: Yamizakura (23/3/1892), Higuchi Ichiyo
Người dịch: Quỳnh Chi (4/2010)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sun Nov 19, 2017 5:58 pm



Vị Sư Chùa Shiga và Tình Yêu    
Yukio Mishima
Dịch giả: Vy Anh


Yukio Mishima là một trong những đại văn hào lừng danh của Nhật, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thế giới Kinkakuji (Kim Các Tự) và Gogo No Eiko (Chiều Hôm Lỡ Chuyến) cùng những cuốn khác. Ông cũng là người Samurai cuối cùng của Nhật đã Harakiri (rạch bụng tự sát) trước quốc hội Nhật để phản đối quốc hội, đồng thời khêu gợi lại tinh thần quốc gia của người Nhật sau khi bại trận năm 1945.

° ° °


Theo như Eshin viết về "Những điều cốt yếu của sự cứu rỗi" thì Mười Điều Khoái Lạc cũng chỉ như là một giọt nước của biển cả khi so sánh với những lạc thú của Vùng Đất Trong Lành.
Trong vùng đất này, mặt đất toàn bằng ngọc bích và hững con đường đi có những dây quấn bằng vàng viền hai bên đường. Mặt đất trải dài vô tận không nhìn thấy biên giới.
Ở mỗi một khu thờ phượng thiêng liêng có năm chục triệu căn phòng và những tháp được dát nào là vàng, bạc, ngọc lưu ly, thủy tinh, san hô, mã não và ngọc trai; và những kỳ trân dị vật trải dài trong các phòng. Trong các phòng ốc và trên đỉnh của các tháp, nhiều thiên thần tấu lên những khúc nhạc thiêng liêng và ca những bài ca ngợi Đức Phật Thích Ca Tất Đạt Đa.

Trong ngôi vườn bao quanh các ngôi nhà, tháp và hàng trụ là những cái hồ lớn đầy vàng và ngọc bích, nơi mà các tín đồ đến để gột rửa tội lỗi; và những cái hồ bằng vàng được viền bằng cát bạc, và cái hồ ngọc bích thì được viền bằng cát thủy tinh. Những hồ được phủ đầy bông sen tỏa muôn màu muôn sằc, có làn gió nhẹ thoảng qua trên mặt nước cùng những luồng ánh sáng chiếu đan nhau từ mọi hướng. Ngày cũng như đêm trên bầu trời đầy tiếng chim hót của chim hạc, ngỗng, công, trĩ, vẹt, và giọng hát ngọt ngào của Kalavinkas, một loài chim có khuôn mặt của những người đàn bà đẹp. Những âm thanh này cùng với muôn ngàn con chim đầy màu sằc khác đều cất lên các điệu hót êm đềm để ca ngợi Đức Phật. (Tuy nhiên giọng hát ngọt ngào của chúng chỉ là âm thanh, nên khi chúng tụ hợp lại thì rất là ồn ào).
Bờ của những cái hồ và các con sông đều có những rừng cây quý. Mọi cây có thân bằng vàng, cành bằng bạc và những hoa bằng san hô, vẻ đẹp của nó được soi trên mặt nước. Trên không trung còn có những sợi dây nhiều màu sằc, và đầu sợi dây đều được treo những chiếc chuông quý giá reo lên ca ngợi Phật Pháp vô thượng.

Nếu một người nào muốn ăn một vật gì đó thì tự động trước mặt người đó hiện ra bảy bàn, trên đó hình của bảy cái bát màu sắc đựng đầy các món ăn ngon nhất. Nhưng mà không cần phải gắp thức ăn đưa vào miệng. Chỉ cần nhìn màu sằc hấp dẫn đó và thưởng thức cái hương vị của nó: thế là bao tử được ăn đầy và cơ thể được nuôi dưỡng, trong khi đó con người vẫn giữ được trong sạch về tinh thần lẫn thể xác. Khi một người đã dùng xong bữa ăn mà không đụng đến thức ăn, những cái bát thức ăn và các bàn tức thời biến đi.
Còn nữa, thân thể được tự động trang phục mà chẳng cần may, vá, giặt hay nhuộm tẩy gì cả. Đèn cũng thế vì bầu trời dược chiếu sáng bởi ánh sáng vĩnh cửu. Hơn thế nữa, ở vùng đất Trong Lành này khí hậu quanh năm điều hòa nên chẳng cần máy lạnh hay lò sưởi. Có hàng trăm ngàn hương thơm ngào ngạt trong không khí và những cánh hoa sen rơi không ngớt.

Trong chương nói về Cổng Kiểm Soát, chúng ta lại được cho biết là những người đi quanh quẩn gần đó không thể nào có hy vọng đi sâu vào vùng đất Trong Lành, họ phải tập trung tinh thần trước để khai ngộ những năng lực của "sự ngoại tưởng", và sau đó tiếp tục phát triển những năng lực này. Cái năng lực tưởng tượng sẽ cho ta một thời gian ngằn thoát khỏi cái trần tục xô bồ này để tìm thấy Đức Phật. Nếu chúng ta được ban cho sự giàu có, sự suy tưởng lung tung thì chúng ta có thể chú tâm vào một đóa hoa sen độc nhất và từ đó có thể đi đến những chân trời vô tận.
Nếu quan sát qua kính hiển vi và dùng phép chiếu thiên văn học thì hoa sen có thể trở thành nền tảng của toàn bộ lý thuyết về vũ trụ và nhờ sự tác động ngoại biên thì chúng ta có thể tìm được chân lý. Trước hết chúng ta phải biết mỗi một cánh hoa có tám mươi bốn nghìn đường gân, và mỗi đường gân cho ra tám mươi bốn ngọn đèn. Hơn nữa, những bông hoa nhỏ nhất cũng có đường kính khoảng hai trăm năm chục yojana. Như vậy cái số đo yojana mà chúng ta đọc được trong các thánh thư tương ứng với bảy mươi lăm dặm, như thế chúng ta thấy rằng một hoa sen có đường kính khoảng mười chín nghìn dặm thu nhỏ lại. Mỗi bông hoa như thế có bốn mươi tám cánh hoa và ở giữa các cánh hoa có một triệu hạt ngọc, và mỗi hạt chiếu ra một nghìn ánh sáng. Đẹp hơn hết là giữa đài hoa có bốn trụ lộng lẫy thật là cao vời vợi và một tháp ở giữa trung tâm của vũ trụ Phật. Nếu tập trung nhìn vào những hình tượng này thì chúng ta sẽ biết được ý tưởng về đài hoa sen của Đức Phật ngồi, và cái quan niệm về thế giới mà đã nói ở đây chỉ để làm nền tảng cho câu chuyện về thế giới ưởng tương mà thôi.
Vị đại hòa thượng chùa Shiga là một người rất là đạo hạnh, lông mày của ông bạc trằng, và ông ta không làm dược gì nhiều hơn để cà nhắc tấm thân trên chiếc gậy đi từ thiền viện này qua thiền viện khác.
Trong đôi mắt ông cho thấy giới tu khổ hạnh chỉ như là một đống gạch vụn. Ông ta dã từ bỏ cuộc sống đó từ một năm nay và cây thông nhỏ do chính tay ông trồng khi ông dời vào căn phòng nhỏ hiện nay, đã thành cây thông lớn có những cành cây đong đưa theo gió. Một vị tu sĩ đã thành tựu trong việc lìa xa thế giới phù du đã lâu cảm thấy an tâm ở tương lai.
Khi vị cao tăng nhìn thấy sự giầu có và cao sang thì ông chỉ mỉm cười với lòng trằc ẩn và tự nghĩ rằng tại sao những lớp người này lại không nhận thức được là họ đã hưởng được những lạc thú qua mộng ảo. Và khi ông thấy những người đàn bà đẹp, phản ứng của ông chuyển qua thương hại cho những người đàn ông vẫn còn đam mê cái thế giới ảo tưởng và những người đã bị cuốn trôi vào cơn sóng khoái lạc của nhục dục.

Một khi người đàn ông không còn hứng thú một chút nào về những cám dỗ của thế giới vật chất thì thế giới lúc đó sẽ hoàn toàn yên lặng; nó chỉ là một bức tranh ở trên một tấm giấy, môt tấm địa đồ của một xứ lạ nào đó. Khi một người có trong trí óc những cái ham muốn xấu xa của cái thế giới hiện tại thì được gạn lọc kỹ càng và nỗi lo sợ cũng quên đi. Vì thế lão hòa thượng không hiểu được tại sao lại có địa ngục. Ông ta hiểu rằng không chừng sau này cái thế giới này không có một quyền lực nào áp đặt lên ông cả; vì ông hoàn toàn không có tánh tự kiêu, nó hoàn toàn không có ở nơi ông ta vì đức hạnh cao dày của ông.
Hơn nữa tấm thân của ông cũng được quan tâm; người ta có thể nói rằng vị hòa thượng không còn lâu lắm sẽ lìa khỏi cái xác phàm của ông. Trong một vài trường hợp nào đó ông nhìn tấm thân của ông chẳng hạn như khi ông tắm ông ta lại hoan hỉ nhìn những cái xương nhô lên dưới lớp da khô nhăn tạm thời che phủ nó. Bây giờ thân thể ông đã đến tình trạng này và ông cũng cảm thấy nó đã đến thời kỳ của nó, cũng như cảm thấy nó thuộc về một người nào khác. Một thân hình như thế chỉ thích hợp với sự dưỡng sinh ở vùng đất Trong Lành hơn là những thức ăn uống ở địa cầu.
Trong giấc mơ ông thấy mình sống suốt đêm ở vùng đất Trong Lành, và khi thức dậy, ông thấy mình vẫn còn hiện hữu ở thế giới hiện tại với nỗi buồn và giấc mơ biến dần.

Vào mùa xem hoa, nhiều người từ thủ đô đến viếng làng Shiga. Điều này chẳng làm phiền người tu hành một chút nào vì ông ta đã quá quen thuộc với sự động của thế tục nên cũng không bận tâm chút nào cả. Vào một buổi chiều Xuân, ông ra khỏi tịnh thất của ông, nương theo chiếc gậy đi xuống hồ. Bóng hoàng hôn chầm chậm tỏa những tia sáng trong chiều tà. Mặt hồ không một gợn sóng. Vị Lão hòa thượng bằt đầu đọc những câu kinh về "Sự suy gẫm về nước".
Vào lúc đó, một chiếc xe bò đi quanh hồ và dừng lại gần chỗ vị hòa thượng đang đứng; chiếc xe bò rõ ràng là của một viên chức cao cấp. Chủ nhân của nó là phu nhân của vương đình ở vùng Kyogu ở thủ đô, đó là thứ thiếp của một vị đại vương. Vị phu nhân này đến Shiga vào dịp Xuân và bây giờ trên đường về dừng lại bên hồ để ngằm cái hồ lần cuối. Vô tình vị hòa thượng nhìn về phía người phụ nữ và bất chợt vị tu già toàn thân rúng động vì sằc đẹp của người mệnh phụ phu nhân. Hai đôi mằt giao nhau, ông không làm sao dời ánh mằt đi, và bà ta cũng không nhìn chỗ khác. Không phải bà ta có tính dễ dãi cho phép người nào đó có những cái nhìn nóng bỏng; nhưng thái độ của vị tu già khằc khổ này thì có thể chấp nhận được hơn là những người bình thường; bà ta tự nghĩ như thế.

Một lúc sau người phụ nữ kéo rèm che xuống. Chiếc xe bò bắt đầu chuyển bánh lìa khỏi Shiga và từ từ ra con đường đi về kinh thành. Màn đêm xuống dần và chiếc xe kéo đang trên con đường Đền Bạc đi về thành phố. Khi mà chiếc xe của sự quấy nhiễu khuất dạng sau những hàng cây, lão hòa thượng vẫn còn đứng lặng yên tại chỗ. Chỉ trong một nháy mằt, cái thế giới hiện tại đã trả thù người tu hành một cách tàn nhẫn. Những điều gì mà ông cho là hoàn toàn an lành nay đã hoàn toàn sụp đổ.
Ông trở về ngôi chùa, tọa trước tượng Đức Phật và niệm Phật. Nhưng những tư tưởng không trong lành đã ám ảnh ông. "Một người đàn bà đẹp" ông nói thầm nhưng sự ma ám thoáng chốc đó chỉ là một hiện tượng tạm thời đượm vẻ xác thịt sẽ sớm bị hủy hoại. Đúng thế, mặc dù cố gằng hết sức mình để tránh nỗi ám ảnh dó đi, cái vẻ đẹp không thể nào tả được của người phụ nữ đã khích động ông một khoảnh khằc bên bờ hồ, bây giờ đã đè nặng trên trái tim của ông với một hấp lực từ nơi vô tận nào đó. Lão hòa thượng không còn trẻ về tinh thần và thể xác để biết rằng là cái cảm giác đó chỉ là một sự lường gạt của da thịt ông trên thể xác của ông. Da thịt của con người, ông biết rất rõ là không thể thay đổi một cách mau chóng. Hơn nữa, ông có vẻ chìm đằm trong cái chất độc dịu dàng đã đột ngột làm biến đổi tính khí của ông.

Vị lão hoà thượng không bao giờ phá vỡ cái tịnh khiết. Cái xung đột của nội tâm mà ông đã phấn đấu vào lúc trẻ chống chọi với những đòi hỏi của xác thịt làm cho ông nghĩ đến những người đàn bà cũng chỉ là ý muốn của nhục dục. Chỉ Có cái xác thịt thực sự là cái xác thịt có ở trong trí tưởng tượng của ông. Vì ông ta cho rằng xác thịt như là ý niệm trưù tượng hơn là một thực thể, Ông đã tin vào sức mạnh tinh thần để chinh phục nó. Với sự nỗ lực đó vị lão tăng đã thành công; thật vậy không ai có thể nghi ngờ điều này.
Đúng vậy, gương mặt của người phụ nữ đã vén rèm của chiếc xe và nhìn ra hồ thật là êm đềm, thơ mộng, thật là rực rỡ, được diễn tả như là một vật chói lọi mà ông không thể nào diễn tả được. Ông chỉ có thể nghĩ rằng để hồi tưởng lúc tuyệt vời đó, một điều gì đó đã ẩn nấp thầm kín trong tâm hồn ông, cuối cùng cũng tự nó hiển lộ ra. Điều này chẳng khác gì cái thế giới hiện tại đang yên nghỉ, nhưng bây giờ đột nhiên biến ra khỏi bóng tối và bắt đầu khuấy động.
Sự thể tưởng chừng như là ông ta đang đứng trên con đường lớn dẫn về thủ đô, hai tay bịt chặt lấy hai tai và nhìn hai cỗ xe bò lớn khua động lăn bánh đi ngang qua nhau. Bất thần ông bỏ hai tay ra và tiếng động ngoại cảnh xâm chiếm tâm hồn ông.

Để nhận biết những hiện tượng xảy ra, để có những âm động trong tai của một người, thì chúng ta phải hòa nhập vào cái thế giới hiện tại. Một người như lão hòa thương đã cắt đứt những sự liên hệ với những sự thể bên ngoài thì lại một lần nữa đã tự đặt mình trong sự liên hệ với chúng. Ngay cả khi đọc kinh Tình yêu Sutras, đôi lúc; ông cũng nghe được những tiếng thở dài não ruột của ông. Ông nghĩ rằng có lẽ thiên nhiên đã làm rối loạn tâm trí của ông, và ông nhìn ra cửa sổ của căn phòng ông thấy dẫy núi vươn cao trên nền trời lúc chiều tà. Tuy nhiên những suy nghĩ của ông thay vì tập trung vào cái đẹp đẽ, thì nó lại tản mắc như những cụm mây trôi lững lờ. Ông tập trung tầm nhìn vào mặt trăng, nhưng những suy nghĩ của ông một lần nữa lại bồng bềnh trôi như nước; và khi một lần nữa ông đứng trước sự thật với cố gắng vô vọng lấy lại sự trong sạch của tâm trí; khuôn mặt của Đức Phật bây giờ biến dạng và trông giống như mặt của người phụ nữ trong chiếc xe. Cái vũ trụ của ông lại bị giới hạn trong cái vòng nho nhỏ: ở một điểm là vị hòa thượng và điểm đối diện là thứ thiếp của đại vương.

Người thứ thiếp của đại vương thành Kyogoku sớm quên đi người tu sĩ già đã nhìn chăm chú vào bà ở bên hồ Shiga. Tuy nhiên, mãi một thời gian sau, lời đồn đãi dến tận tai mới làm bà nhớ lại sự việc đã qua. Một gười dân làng tình cờ nhìn thấy cảnh vị lão hòa thượng dứng nhìn chiếc xe của người phụ nữ đi xa dần. Người này đã nói cho vị quan cũng đã đến Shiga để xem hoa rằng: kể từ ngày đó người tu già trở nên si dại. Vị hoàng phi giả vờ như không tin vào lời đồn đãi đó, vì đức hạnh của nhà sư đặc biệt này được truyền khắp thủ đô, và sự việc này chỉ làm tăng thêm tính tự cao của nàng mà thôi.
Nàng đã hoàn toàn chán ngấy cái tình yêu mà nàng đã nhận được của những người đàn ông ở cái thế giới này. Nàng cũng biết rõ sắc đẹp của mình, và nàng có cái khuynh hướng bị thu hút bởi bất cứ hấp lực nào, chẳng hạn như tôn giáo, vì nó đã cho nàng sắc đẹp và quyền uy là những thứ vô giá. Vì quá chán cái thế giới hiện tại nên nàng tin vào vùng đất Trong Lành. nhưng có một điều không tránh được là ở Niết Bàn lại là nơi từ chối mọi sắc đẹp và vẻ hào nhoáng của nhãn quan vì nó bị coi như là rác rến vô giá trị; nó đã đặc biệt cảnh tỉnh những người như vị thứ phi là người đã hoàn toàn giác ngộ trong cuộc sống cao sang của cung đình.
Trong những thứ người ta ưa thích là tình yêu, vị thứ phi giữ được danh giá được xem như là một sự tinh lọc trong cung đình. Thật thế, người ta biết bà không hề yêu một người nào. Bà đã hoàn thành nhiệm vụ của bà đối với vị đại vương trong sự lễ nghi toàn vẹn, không một ai không tin được rằng bà đã yêu ông thật lòng. Vị thứ phi đã mơ mộng một ước vọng nằm ở ranh giới không đạt đến được.

Vị sư già ở chùa Shiga được nổi danh về đức hạnh, và mọi người ở thủ đô đều biết vị chủ trì già nua này đã hoàn toàn từ bỏ cái thế giới hiện tại. Thật là một điều làm mọi người đều giật mình, phải chăng là lời đồn ông ta đã quáng mắt bởi vẻ diễm kiều của vị thứ phi và vì bà mà ông nỡ hy sinh cái thế giới tương lai của ông hay sao? Việc từ bỏ thú vui ở vùng đất Trong lành mà đã ở trong tầm tay của ông quả thật là không có một sự hy sinh nào lớn lao bằng, một món quà nào lớn bằng.
Người thứ phi của đại vương hoàn toàn thờ ơ trước những vẻ đàng điếm của những chàng trai trẻ phóng đãng hay đổ xô vào cung đình, hay vẻ hào hoa của những vương tôn công tử đến gặp nàng. Những vóc dáng bề ngoài của những người đàn ông chẳng có nghĩa gì đối với nàng. Bây giờ nàng chỉ quan tâm đến một việc là: tìm kiếm một người nào đó có thể cho nàng một tình yêu sâu đậm. Một ngươi đàn bà mà có một khát vọng như thế phải là một nhân vật đáng sợ. Nếu nàng chỉ là một gái giang hồ đệ nhất lưu thì chắc nàng đã thỏa mãn với những của cải vật chất. Tuy nhiên, nàng là vợ hờ của vị đại vương, đã từng thụ hưởng sự giàu có mà thế giới có thể cung cấp cho nàng. Người đàn ông mà nàng chờ đợi phải cho nàng của cải của cái thế giới tương lai.

Những lời đồn đãi về sự mê say của lão hòa thượng loan truyền khắp cung đình. Phần cuối câu chuyện hằng ngày thường là những câu chế giễu vị đại vương. Dĩ nhiên là nàng khó chịu bởi những lời giễu cợt này và cố giữ trầm tĩnh, giữ dáng điệu thờ ơ. Mặc dù nàng đã biết rõ mọi việc, nhưng có hai lý do mà tại sao người ở trong cung đình lại tự do giễu cợt điều này mà thường lệ bị cấm: thứ nhất, để cho biết là được như tình yêu của vị sư già là để ca ngợi sắc đẹp của người đàn bà đã khiến cho người tu sĩ đức hạnh cao dày lại bỏ sự tịnh tâm của mình; thứ nhì, mọi người đều biết rõ rằng tình yêu của ông già đối với một người đàn bà sang trọng thì chẳng có thể bao giờ được đáp lại.
Vị thứ phi đã nhớ lại khuôn mặt của người tu sĩ gì mà nàng đã nhìn thấy qua cửa sổ của chiếc xe. Nó không giống như những khuôn mặt của bất cứ một người nào từ đó cho đến nay đã yêu nàng. Một điều lạ là cái tình cảm đó lại trổi dậy trong trái tim của một người đàn ông mà chẳng có một điểm nào để được yêu. Người đàn bà nhớ đến câu nói "tình yêu của tôi cô đơn và tuyệt vọng" do các chàng thi sĩ quèn đã phổ biến trong hoàng thành để khơi dậy sự cảm động trong trái tim của những tình nhân của họ… Và cũng để so sánh với tình trạng vô vọng mà vị đại hòa thượng đã tự chuốc lấy, cái tình trạng ít có may mắn về cuộc tình sang trọng, và những vần thơ đại loại như thế nhắm vào nàng cũng chỉ là những thứ trang điểm của người biểu đồng tình, những lời nói ngẫu hứng hư không và hoàn toàn không phải là những lời nói để cho người ta động lòng.

Lão hòa thượng tìm thấy niềm vui mới trong việc tôn sùng trong tầm nhìn vào người phụ nữ với nhiều cách khác nhau, cũng như ông tôn sùng tượng Phật với hào quang. Để thực hiện điều đó, ông đã chuyển đối tượng tình yêu vào một cái gì chói lọi để tự cảm thấy niềm vui mới. Mỗi khi ông suy nghĩ đến vấn đề này thì giác ngộ chớm nở với ông. Ông đã diễn tả về người thứ phi không phải là con người bằng xương thịt, cũng không chỉ là một hình ảnh, mà là một mẫu tượng thực, một mẫu tượng tinh túy của sự việc. Thật là quái lạ, khi theo đuổi tìm cái bản thể ở trong gương mặt của người đàn bà. Đúng thế, cái lý do để tìm kiếm cũng không xa lắm. Ngay cả khi rơi vào bẫy tình, vị hòa thượng chùa Shiga cũng không từ bỏ thói quen mà ông đã luyện tập trong những năm dài tọa thiền, để phấn đấu tiến đến cái tinh túy của sự việc bởi phương cách hoàn toàn trừu tượng. Người thứ phi ở vùng Kyogoku bây giờ trở nên đồng dạng với cái nhìn về một hoa sen vô tận với dộ lớn hai trăm năm mươi ngàn yojana. Khi nàng nằm trên mặt nước được nâng bởi các hoa sen thì nàng trở nên vĩ đại như núi Sumeru, to lớn như toàn thể vương quốc.

Một khi vị sư già càng cố chuyển tình yêu của ông vào một hình tượng không tưởng nào đó, thì ông lại càng lánh xa đức Phật. Vì việc không thể nào đạt được trong tình yêu đã dẫn đến việc không thể nào có được sự giác ngộ. Ông càng nghĩ đến tình yêu tuyệt vọng, thì chắc chắn điều quái lạ càng lớn và căn tính sẽ dẫn đến những ý nghĩ không trong sạch.
Ông hy vọng có được cơ hội nào đó thấy được khuôn mặt của người phụ nữ đó một lần nữa, nhưng cũng sợ rằng khi gặp lại nàng, khuôn mặt đó bây giờ đang vĩ đại như một hoa sen, sẽ vỡ vụn thành tro bụi. Nếu việc đó xảy ra, chắc chắn ông sẽ được cứu. Đúng như thế lần này thì ông sẽ đạt được sự siêu thoát. Và chính cái viễn tượng đó đã làm cho người tu sĩ già vừa sợ vừa kinh hoàng.

Tình yêu đơn côi của lão hòa thượng biến đổi một cách kỳ lạ, tự lừa dối mưu mẹo, và cuối cùng là ông có quyết định đi gặp bà hoàng, ông đang ở trrong tình trạng mơ màng mà ông vừa mới hồi phục sau cơn bệnh đã làm khô héo con người của ông.
Người tu sĩ già lầm lạc này lại nhầm lẫn tìm niềm vui bằng cách hoàn thành quyết định của ông để hoàn phục và cuối cùng sẽ thoát được những ngăn trở trong tình yêu của ông.
Không một ai ở trong cung của vị thứ phi lấy làm lạ cái cảnh tượng một vị tu sĩ già lặng lẽ đứng ở góc vườn, nương thân hình trên chiếc gậy và nhìn vào cung một cách buồn bã, vì những nhà sư phải khổ hạnh và những người ăn xin thường đứng ngoài những ngôi nhà lớn của kinh đô để chờ của bố thí. Một trong những tỳ nữ của người thứ phi đã để ý đến sự kiện này và nói cho chủ của nàng hay. Người thứ phi hờ hững nhìn qua bức màn che ngăn cách nàng với quang cảnh ngoài vườn, mơ hồ qua những cành lá xanh tươi là bóng dáng đứng gục đầu trầm lặng của người sư già khắc khổ trong chiếc áo đại bào đen bạc. Một đôi lúc nàng lại nhìn ông ta, nhưng khi nàng sực nhớ rằng mình chẳng có chuyện gì để hỏi nhà sư này cả, người mà nàng đã nhìn thấy bên hồ ở Shiga, sắc mặt của nàng tái đi.

Sau một thời gian không có một chủ định nào, bấy giờ nàng mới cho biết là không hề biết đến sự có mặt của nhà sư trong khu vườn của nàng. Các thị nữ của nàng nhận lệnh và lui ra. Bây giờ, đây là lần đầu tiên nàng cảm thấy một nỗi lo lắng. Trước đây suốt trong cuộc đời của nàng, nàng đã từng thấy có biết bao nhiêu người đã từng từ bỏ cuộc sống trần tục này, nhưng chưa bao giờ nàng dừng đôi mắt vào ai đã từ bỏ cái thế giới tương lai của mình. Nàng cho rằng cái nhìn đó là một điềm xấu và là một nỗi khiếp sợ không thể nào diễn tả được. Nỗi vui mừng lớn lao trong dự tưởng mà nàng cầu xin là cái ý tưởng tình yêu của nhà sư hãy biến nhanh đi tức khắc. Cái ý tưởng này còn mạnh hơn là sự việc ông ta đã từ bỏ cái thế giới tương lai của ông chỉ vì nàng, cái thế giới đó, bây giờ nàng đã nhận thức được rằng nó sẽ chẳng bao giờ đến với nàng.
Người thứ phi nhìn xuống áo quần thanh lịch của nàng và đôi bàn tay xinh đẹp, đoạn nàng nhìn ra vườn, nhìn vào hình dạng xấu xí của người sư già và nhìn vào chiếc đại bào sờn rách của ông. Có một sự mê hoặc khủng khiếp nào đó đã móc nối những điều này lại với nhau.

Có sự khác biệt là do ở cái nhìn sâu sắc! Vị Lão hòa thượng bây giờ như một người đi cà nhắc vừa ra khỏi địa ngục. Nhưng bây giờ không còn gì lưu lại trên con người đức hạnh mà đã kéo lê theo mình cái hào quang rực rỡ của vùng đã từng vang dội ở trong tâm trí. Cái quang vinh của vùng đất Trong lành, bây giờ đã hoàn toàn tiêu tan, như thế thì điều chắc chắn là con người đã đứng trên bờ hồ Shiga đồng thời cũng là một con người hoàn toàn khác biệt.

Cũng như hầu hết những người ở trong cung đình, vị thứ phi cũng có ý thức tự kềm chế những cảm xúc của mình, nhất là khi nàng đương đầu với điều gì đó mà làm cho nàng cảm kích sâu đậm. Bây giờ rõ ràng thấy mối tình của lão hòa thượng, nàng cảm thấy chán nản cho ý nghĩ về khát vọng quá đáng mà nàng đã từng mơ ước qua bao năm tháng, bây giờ xem như đó là một cái gì hư ảo.
Cuối cùng khi nhà sư già khập khiễng trên chiếc gậy đến được kinh thành thì ông quên hết sự mệt mỏi. Ông thầm lặng tìm đường đi vào cung của người thứ phi vùng Kyogoku và đứng nhìn qua khu vườn. Sau những bức rèm kia, không ai khác hơn là vị phu nhân mà mình yêu, ông thầm nghĩ vậy. Bây giờ sự tôn thờ của ông được xem như một hình trạng tinh khiết, cái thế giới tương lai lại một lần nữa cố hết sức dẫn dụ nhà sư. Trước đây chưa bao giờ ông ta hình dung được vùng đất Trong Lành sao mà tinh khiết lẫn chua cay đến thế. Sự khao khát về việc này của ông ta hoàn toàn bởi nhục cảm. Không còn ý thức gì ở trong ông ngoài việc gặp vị thứ phi, bày tỏ tình yêu của mình, và như thế một lần nữa ông lại bước lên những ý tưởng không trong sạch mà nó đã trói buộc ông vào cái thế giới này và cũng vẫn ngăn trở ông đến vùng đất Trong Lành. Đó là những sự việc còn lưu lại để giải quyết.

Thật là khổ cho ông phải đứng tựa thân hình già nua của mình trên chiếc gậy. Những tia nắng mặt trời của tháng năm, rọi xuyên qua những lá cây và chiếu xuống cái đầu trọc của ông khiến dần dần ông cảm thấy thiếu tự chủ, và nếu không có chiếc gậy thì có lẽ ông đã gục ngã. Và nếu như vị phu nhân hiểu được hoàn cảnh của ông và mời ông vào diện kiến được như thế thì xem như ước nguyện của ông đã được thỏa mãn! Vị lão hòa thượng vẫn chờ đợi.
Ông đứng đó và nuôi hy vọng trên chiếc gậy. Cuối cùng thì mặt trời được bao phủ bởi những đám mây chiều. Hoàng hôn xuống. Nhưng cũng chưa có một lời nào từ người thứ phi mời ông đến gặp nàng.
Dĩ nhiên là nàng không thể nào biết được rằng: vị tăng lữ này đang tìm vào vùng đất Trong Lành qua nàng. Thỉnh thoảng nàng lại nhìn qua bức rèm. Ông ta đứng bất động, ánh nắng chiều cũng nhạt dần trong khu vườn, nhưng vị sư già vẫn còn đứng đó.

Người thứ phi cảm thấy sợ hãi. Nàng cảm thấy cái điều mà nàng nhìn thấy ở ngoài vườn là một hiện thân của "cội nguồn ảo ảnh" mà nàng đã đọc được trong kinh Sutras. Nàng đã chế ngự được nỗi sợ bị trầm xuống địa ngục. Vì bây giờ nàng lại quyến rũ một người tu sĩ dày đức hạnh, thay vì mong muốn vào vùng đất Trong Lành thì lại thấy địa ngục, một việc khủng khiếp khi nàng nghĩ đến điều này. Một tình yêu vô thượng mà nàng đã từng mong ước đã vỡ tan nát. Được yêu như nàng vậy nội tại đã hàm chứa khổ kiếp. Khi mà lão hòa thượng nhìn qua nàng để mà vào vùng đất Trong Lành, thì hiện giờ nàng lại nhìn qua người tu già để xuống địa ngục khủng khiếp.
Vị phu nhân kiêu ngạo của vùng Kyogoku đã quá tự hào để không cưỡng nổi những nỗi sợ hãi mà không có một phấn đấu, và bây giờ nàng cố gọi cái năng lực của cái vô tính thiên bẩm của nàng. Nàng tự nhủ người tu sĩ già sớm muộn gì cũng sẽ gục ngã. Nàng nhìn qua rèm che và nghĩ rằng bây giờ chắc lão đang nằm dài trên mặt đất. Điều khó chịu đối với nàng là hình dáng im lìm đứng bất động của lão hòa thượng.

Đêm xuống và dưới ánh sáng trăng, thân hình của người tu sĩ giống như một đống xương. Vị Phu nhân không thể nào ngủ được với nỗi sợ hãi. Nàng lại nhìn qua rèm và xoay lưng ra phía vườn. Nhưng lúc nào nàng cũng cảm thấy hình như có một tia nhìn xuyên thấu của lão hòa thượng vào lưng của nàng.
Điều này nàng biết là không phải là một tình yêu bình thường. Vì nỗi s
hãi vì được yêu, sợ phải đọa xuống địa ngục, vị thứ phi càng thành tâm cầu nguyện - một vùng đất Trong Lành mà nàng cố đạt được mà không bị tổn hại đến tâm hồn của nàng.
Đó là một vùng đất khác biệt với vùng đất của nhà sư và nó cũng chẳng liên quan đến mối tình của ông ta. Nàng cảm thấy chắc chắn rằng nếu nàng không khi nào để ý đến ông ta thì mọi việc sẽ giải tỏa ngay tức khắc.
Nàng tự nghĩ, tình yêu của nhà sư chẳng dính dáng gì đến nàng. Đó chỉ là mối tình đơn phương, mà tình cảm của nàng chẳng có tí nào cả, và cũng không có một lý do nào để mà loại nàng không được vào vùng đất Trong Lành. Ngay cả nếu như ông ta có chết đi, nàng cũng không bị tổn hại gì. Khi đêm càng đi vào khuya và trời càng lạnh hơn, thì niềm tin tưởng đó bắt đầu bỏ rơi nàng.
Lão hòa thượng vẫn đứng trong vườn. Khi mặt trăng bị che khuất bởi những đám mây, ông trông giống như một người khác lạ, một cái bướu cây cổ thụ. Nàng nghĩ rằng cái hình tượng ngoài kia không quan hệ gì đến mình, bên cạnh nàng hoàn toàn là sự khổ não, và nàng chỉ muốn gào lên cho vơi bớt sầu não. Tại sao vì cõi Niết bàn mà phải chịu khổ như thế này?
Vào một lúc nào đó, nàng hoàn toàn quên hẳn sắc đẹp của nàng, hay có thể nói một cách chính xác hơn là nàng tự kiếm cách nào để quên chuyện này. Cuối cùng thì ánh sáng trắng nhạt cũng biến mất trên bầu trời và thân hình của tu sĩ già lại đón nhận ánh sáng bình minh. Ông ta vẫn đứng yên. Vị thứ phi đành phải chịu thua. Nàng gọi nữ tì và ra lệnh mời lão hòa thượng vào trong sân và quì bên ngoài bức mành.

Vị hòa thượng đang ở vào trạng thái lãng quên trong khi xác thịt sắp gục ngã. Ông cũng không biết có phải ông là ông đã đợi người thứ phi hay là đợi cái thế giới tương lai. Vì thế mà khi ông nhìn thấy người hầu từ cung đi ra đến gần, ông cũng không ngờ rằng cái điều mà ông đang chờ đợi đã đến được trong tay.
Khi tì nữ chuyển lời mời của người thứ phi cho ông. Khi cô ta nói xong, vị hòa thượng hoàn toàn sợ hãi, và bật ra tiếng la không giống người. Người tì nữ cố cầm tay ông dẫn đi, nhưng ông rút tay lại và tự mình đi về phía ngôi nhà với những bước đi nhanh nhẹn dị thường và chắc chắn.

Ở phía trong của bức rèm lờ mờ tối nên bên ngoài không thể nhìn thấy hình dáng của vị phu nhân. Người tu sĩ đã quì xuống, hai tay ôm lấy mặt; ông ta khóc. Một lúc lâu ông đứng dậy không nói một lời nào và thân hình của ông run lên.
Nhưng rồi trong cái lờ mờ của rạng đông, một bàn tay trắng từ sau bức rèm từ từ đưa ra. Nhà sư chùa Shiga nắm lấy nó trong bàn tay của ông và áp nó lên trán và vào má của mình. Người thứ phi vùng Kyogoku cảm thấy có một bàn tay lạnh ngắt sờ vào bàn tay của nàng. Và cùng lúc đó nàng đã nhận biết có một chất nước âm ấm. Bàn tay của nàng bị ướt đẫm bởi nước mắt của một người. Và khi mà những tia sáng nhợt nhạt của ánh bình minh xuyên qua bức rèm rọi đến nàng, sự tin tưởng nhiệt thành của nàng được nhuộm bởi một sự cảm hứng huyền diệu Nàng cảm thấy chắc chắn rằng: cái bàn tay của người nào đó đã sờ tay nàng không của ai khác hơn là của đức Phật.

Rồi thì cái mộng tưởng lớn dần, một lần nữa lại tràn ngập tâm hồn của người phụ nữ: mặt đất bằng ngọc bích của vùng đất Trong Lành, hàng triệu bảy-tháp-châu-báu, các thiên thần hòa nhạc, những cái đầm vàng chảy ra những cát bạc, hoa sen rực rỡ, và những giọng hót ngọt ngào của chim Kalavinkas – mọi thứ hình như đều mới nảy sinh. Nếu đấy là vùng đất Trong Lành mà nàng được thụ hưởng – bấy giờ nàng tin như vậy – thì sao nàng lại không chấp nhận tình yêu của lão hòa thượng? Nàng chờ đợi người đàn ông với đôi bàn tay của Phật yêu cầu nàng vén tấm rèm ngăn cách nàng và ông ta. Bây giờ ông có thể hỏi nàng; và rồi thì nàng có thể gỡ bỏ sự ngăn cách đó và cái thân hình tuyệt đẹp của nàng sẽ ở trước mặt của ông như ngày nào đã xuất hiện trên bờ hồ ở Shiga; và nàng có lẽ sẽ mời ông bước vào phòng.

Vị thứ phi chờ đợi... Nhưng người tu sĩ già không nói một lời nào cả. Ông không đòi hỏi nàng một điều gì. Một lúc sau tay của ông lơi dần và bàn tay trắng như tuyết trắng của người thiếu phụ cô đơn còn lại trong ánh sáng của buổi bình minh. Người tu sĩ đã bỏ đi. Trái tim của vị thứ phi lại trở nên lạnh giá.

Vài ngày sau tin đồn đến vương đình là linh hồn của vị lão hòa thượng đã đạt được sự giải thoát cuối cùng ở trong tịnh thất của ông ở Shiga. Với cái tin này thì vị phu nhân ở kinh thành Kyogoku tập viết kinh Sutras từng cuộn từng cuộn giấy với nét bút rất đẹp.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Fri Nov 24, 2017 12:44 am



Con người ta đôi khi đã phải bấu víu vào những giấc mơ, sự tưởng tượng về một tình yêu lý tưởng, về một hình mẫu tuyệt vời để cứu vớt cho một thực tại quá ư bất hạnh khổ đau, thất vọng. Mặt khác nữa sự hiện diện của người phụ nữ trong câu chuyện đã thức tỉnh nhân vật chính – nhà văn Kasumi và thức tỉnh với mỗi chúng ta. Rằng liệu lúc nào đó trên đường đời ta đã vô tình lãng quên một điều gì đó. Một cốt truyện trong trẻo, phảng phất nỗi buồn, gợi cảm xúc như khi ta đứng trước một bức tranh thủy mặc.

VỊNH CÁNH CUNG
Kawabata Yasunari (1889-1972)
(Nobel 1968)


Tae vào phòng khách nói với bố rằng có một phụ nữ hỏi ông, bà ta bảo quen ông ba chục năm trước đây, ở thị trấn Umiura. Kasumi mời người đàn bà vào phòng khách.

Nhà văn Kasumi hầu như ngày nào cũng có những người khách ông không quen và cũng không hề chờ đợi. Chiều nay, một buổi chiều tháng chạp ấm áp khác thường, ông cũng có khách như mọi khi - ba người đến cùng một lúc. Mỗi người có một việc riêng với Kasumi, nhưng bây giờ, họ cùng ngồi trò chuyện với ông.

Bà khách mới đẩy cửa vào, cúi chào, nhưng chưa vào ngay, hình như bà ngại ngùng khi trông thấy mấy người khác. Kasumi vội nói:
- Mời bà vào đây.
- Tôi bối rối quá. - Bà ta cất tiếng, giọng hơi run - Đã bao nhiêu năm chúng ta chưa gặp nhau... Họ của tôi là Thay. Chắc ông nhớ tôi. Bây giờ, lấy theo họ chồng, tôi là Murano.

Kasumi chăm chú nhìn bà khách mới vào. Bà ta trông khá trẻ, mặc dù có lẽ đã ngoài năm mươi tuổi. Đôi má trắng trẻo của bà ta thoáng ửng hồng. Mắt bà ta to tròn như thiếu nữ, chắc hẳn vì vẫn giữ được không bị béo phì như nhiều phụ nữ ở lứa tuổi ấy.

- Ông Kasumi, trông ông vẫn như xưa... - Người đàn bà nói tiếp, cặp mắt long lanh vui sướng nhìn Kasumi. Ông thì nhìn bà ta vẫn bằng ánh mắt không biểu lộ gì, ông đang cố nhớ xem bà ta là ai. - Ông hoàn toàn chẳng thay đổi gì. Cả khuôn mặt trái xoan, cả đường nét cái cằm, cả khuôn vai - tất cả vẫn hệt như xưa...

Kasumi hơi khó chịu khi bị đem ra mô tả như thế. Cảm giác ngượng ngùng lại càng tăng thêm khi ông thấy mình không nhớ bà ta chút nào.

Người đàn bà ăn mặc rất khiêm nhường. Cả dải dây lưng dài bằng lụa, cả chiếc kimono, cả chiếc khaori màu đen trên ống tay có thêu hình gia huy - tất cả đều bình thường và sờn cũ. Trên các ngón tay của hai bàn tay bé nhỏ không đeo một chiếc nhẫn nào. Nhưng bà ta không gây ấn tượng một người phụ nữ mệt mỏi với những gian truân trong cuộc đời. Bà ta nhanh nhẹn và có gương mặt thanh tú rất sống động.
- Ông Kasumi, ông có nhớ cách đây ba mươi năm ông đã tới thị trấn Umiura không? Chính dịp ấy ông đã đến chơi nhà tôi, đã vào phòng tôi. Có thể ông đã quên cuộc gặp gỡ rồi... Buổi chiều, ngày lễ, ở đền.
- Thật ư?... Lạ nhỉ...

Nghe thấy bà khách nói xưa kia ông đã đến chơi nhà bà ta, lại còn cả vào phòng riêng của bà ta. Kasumi cố lục lọi trí nhớ để tìm dấu vết sự quen biết. Ba mươi năm trước đây chắc bà ta xinh đẹp lắm... Còn ông, hồi ấy ông còn chưa có vợ, ông mới hai mươi lăm tuổi...
- Lần ấy ông đi cùng Hirosi Kida và Kuro Akijama trong chuyến đi vùng Kusu của họ. Ông cùng với họ từ Nagasaki tới thị trấn Umiura chúng tôi dự buổi khai trương một tờ báo mới...

Nhà văn Hirosi Kida và nhà văn Kuro Akijama - bây giờ cả hai đều đã qua đời - nhiều hơn ông khoảng mười tuổi. Cách đây ba mươi năm, họ đang ở đỉnh cao vinh quang và họ bảo trợ ông, một nhà văn trẻ hai mươi lăm tuổi. Quả thật vào những năm ấy họ có đến Nagasaki. Ông biết điều này vừa qua những ghi chép đi đường, vừa qua các truyện ngắn của họ. Chuyến đi ấy bây giờ chắc nhiều người cũng biết.

Nhưng bà khách này đang nói gì thế nhỉ? Chả lẽ hai nhà văn nổi tiếng ấy cho ông cùng đi tới Nagasaki khi ông mới vào nghề viết, mà ông lại không nhớ gì, Kasumi băn khoăn tự hỏi. Ông căng óc ra cố nhớ lại, thì trong kí ức ông hiện ra rõ nét hình ảnh hai nhà văn đáng kính ấy, ông nhớ lại nhiều trường hợp họ nâng đỡ ông, giúp đỡ ông trong lúc khó khăn. Dần dần, ông đắm mình vào cảm giác man mác buồn thường kèm theo các kỉ niệm, và điều ấy có lẽ phản ánh lên gương mặt ông.

- Đấy, ông đã nhớ lại rồi đấy, - bà khách xúc động nói. - Lần ấy, ngay trước khi ông đến, tôi đã cắt ngắn tóc và làm kiểu đầu mới. Ông có nhớ lúc đó tôi còn nói rằng vì chưa quen nên tôi thấy cứ thế nào ấy và lạnh cả tai... Bấy giờ là cuối thu. Ở thị trấn chúng tôi bắt đầu có một tờ báo, tôi vào đó làm phóng viên nên mới cắt tóc ngắn. Khi ông nhìn cái cổ để lộ ra của tôi, tôi giật mình như bị kim châm, và tôi ngoảnh đi. Còn khi chúng ta vào phòng riêng của tôi, ông nhớ không, tôi lập tức mở cái hộp đựng cái dải băng buộc tóc khoe với ông. Có lẽ lúc tôi muốn chứng minh với ông rằng mới đấy tóc tôi còn dài lắm. Ông rất ngạc nhiên thấy tôi có bao nhiêu là băng. Tôi luôn thích các dải băng, từ hồi nhỏ...

Mấy người khách kia im lặng. Họ cho rằng bây giờ chủ nhà chú ý nhiều tới bà khách vừa mới đến là hoàn toàn đương nhiên. Ngoài ra, trong cách xử sự của bà ta có một cái gì đó buộc họ phải im lặng cho nên họ chỉ ngồi, để mặc hai người nói chuyện và làm ra vẻ như không nghe thấy hai người nói chuyện gì.

- Sau lễ khai trương tờ báo, chúng ta đi từ trên đồi xuống mé biển. Hoàng hôn đỏ rực như thể cả thế giới sắp bốc cháy. Ông Kasumi, đến bây giờ tôi vẫn nhớ lời ông nói: "Cả ngói trên các mái nhà, cả mặt cô - tất cả xung quanh đều như bằng đồng đỏ..." Tôi đáp lại rằng Umiura nổi tiếng về cảnh hoàng hôn đẹp! Đúng là như vậy. Đến bây giờ tôi vẫn thường nhớ lại cảnh hoàng hôn ở đó...

Nhưng hôm chúng ta gặp nhau, hoàng hôn đẹp một cách đặc biệt.

Vịnh biển cắt dải bờ núi non thành một hình bán nguyệt, giống như cái cung, bởi vậy thị trấn đó được gọi là Umiura - Vịnh cánh cung và màu sắc hoàng hôn ở sâu trong vịnh như đậm thêm, rực rỡ hơn. Còn bầu trời vẩn mây hôm đó như thấp hơn mọi khi, và đường chân trời thì gần một cách kì lạ, tưởng như đàn chim đổi mùa chẳng còn nơi nào mà bay. Màu nước trong vịnh rực rỡ đến nỗi cứ như bầu trời không chỉ phản chiếu trong đó, mà là trút xuống đó toàn bộ dự trữ sắc màu đỏ rực của mình. Trên mặt vịnh có những con thuyền trang hoàng cờ hoa tươi thắm. Ngồi trong thuyền là những đứa trẻ ăn mặc đẹp đẽ, chúng đánh trống và thổi sáo. Ông nhìn những chiếc thuyền ấy và bỗng nói: "Có lẽ cả trời cả biển sẽ đều bốc cháy nếu ta châm một que diêm vào quần áo đỏ của những đứa trẻ kia". Ông nhớ không?

- Lạ thật, tôi không nhớ gì cả...
- Trí nhớ tôi cũng kém đi nhiều sau khi tôi lấy chồng. Không hiểu sao tôi hay quên quá. Chắc là vì trong cuộc đời có quá ít những niềm vui sướng đáng để ta lưu giữ trong kí ức...Nhưng nếu bận rộn và hạnh phúc như ông, có lẽ người ta cũng không nhớ được những điều vụn vặt. Mà cũng chẳng cần nhớ làm gì... Còn đối với tôi, thời gian tốt đẹp nhất trong đời là những ngày tháng tôi ở Umiura.
- Bà ở đó lâu không? - Kasumi hỏi để duy trì câu chuyện.
- Không, không lâu. Nửa năm sau cuộc gặp gỡ của chúng ta, tôi lấy chồng và đến ở Numatzu. Bây giờ các con tôi đã lớn. Cháu trai tốt nghiệp đại học và đi làm, còn cháu gái đã đính hôn... Tôi sinh ra và sống một thời gian dài ở Sidzuska, nhưng sau đó tôi bất hòa với mẹ ghẻ, nên tôi được gửi tới một gia đình họ hàng ở Umiura. Ngay sau khi tới đó, để phản kháng, tôi vào làm ở tòa báo. Nhưng ít lâu sau bố mẹ tôi biết, liền gọi tôi về và gả chồng cho tôi ở Numatzu. Cho nên tôi ở Umiura vẻn vẹn có bảy tháng...
- Thế chồng bà làm gì?
- Ông làm giáo trưởng đền Sinto ở Numatzu.

Kasumi không quen ai thuộc giới ấy, cho nên với một hứng trí mới mẻ ông đưa mắt nhìn bà khách, nhìn vầng trán cao đẹp đẽ của bà ta chỉ có một món tóc che ở giữa. Bây giờ người ta đã quên cả tên kiểu tóc như thế kia - "fudzi" lại cuốn hút sự chú ý của Kasumi.
-... Trước kia chồng tôi khá giả lắm, và chúng tôi sống rất sung túc. Nhưng sau chiến tranh, đời sống ngày càng tồi tệ... Tôi được con cái tôn trọng, chứ chồng tôi thì cả hai đứa chúng nó đều hay cãi lại.

Chỉ bằng một câu ấy, người đàn bà đã để lộ ngay cho Kasumi thấy sự trục trặc trong gia đình bà sâu sắc nhường nào.
- Đền Sinto ở Numatzu lớn hơn nhiều so với ngôi đền ở Umiura, ông nhớ không, đó là nơi chúng ta gặp nhau trong buổi lễ hôm ấy... Đền ở Numatzu lớn, nên cai quản không dễ. Bây giờ chồng tôi lại còn bị buộc tội là đã tự ý bán một mảnh đất ở khu vườn của đền... Mà ông biết không, tôi đến Tokyo thế này là tôi giấu chồng tôi đấy!
-...?
- Trí nhớ con người thật đáng quý! Con người ta có thể nhớ được quá khứ bất chấp mọi thử thách của đời thường - năng lực ấy là món quà tặng lớn lao của ông trời. Ông Kasumi, ông có nhớ khi chúng ta từ trên đồi xuống biển, lúc đi qua ngôi đền bên trong đang có lễ cầu nguyện, ông nói: "Chúng ta không nên ghé vào, trong đó rất nhiều trẻ con". Gần ngôi đền ở hõm đá chứa nước rửa mặt, có một khóm hải đường với vài bông hoa trắng... Đến tận bây giờ tôi vẫn nghĩ - người nào trồng khóm cây ấy chắc phải có một tâm hồn dịu dàng và trong sạch lắm...

Kasumi không còn nghi ngờ gì nữa - trong các kỉ niệm của người đàn bà này, ông như là người tham gia và chứng kiến tất cả những sự kiện nho nhỏ ở Umiura. Và dưới tác động câu chuyện bà ta kể, ông có cảm giác quả thật ông đang nhớ lại được cả dải bờ vịnh uốn cong đỏ rực trong ánh hoàng hôn, cả khóm hoa hải đường. Nhưng đồng thời ông cũng cảm thấy không thể đi cùng với người đàn bà này trong chuyến đi của bà ta vào thế giới kỉ niệm mà bà ta cố kéo ông vào.

Thời gian gần đây trí nhớ của Kasumi kém đi nhiều. Nói chuyện với một người quen cũ, lắm khi ông chợt phát hiện ra rằng mình không sao nhớ ra tên người đó. Tình trạng này vừa đáng lo ngại vừa đáng sợ. Như bây giờ chẳng hạn, ông cố nhớ lại chuyến đi Umiura, và do căng óc ra như thế mà không ăn thua gì, đầu ông nhức như búa bổ.
- Căn phòng của tôi ở Umiura rất khiêm nhường... ông chỉ vào đó có mỗi một lần... Và đây, chúng ta đã gặp nhau sau ba mươi năm...

Kasumi cố gắng mấy cũng không nhớ lại được căn phòng của bà ta. Do cố quá, lông mày ông nhíu lại, mặt ông đăm đăm. Bà khách thấy vậy vội nói:
- Tôi xin lỗi vì đường đột đến đây. Tôi đã chờ rất lâu một dịp gặp ông. Tôi rất mừng. Tôi... tôi còn muốn nói rất nhiều điều với ông...ông cho phép tôi đến thăm ông lần nữa chứ?
- Rất vui lòng.

Chắc hẳn người đàn bà e ngại mấy người khách kia nên nói chưa hết những gì muốn nói. Khi Kasumi ra phòng ngoài để tiễn bà ta, ông sửng sốt trước sự thay đổi đột ngột của người phụ nữ này. Động tác của bà ta trở nên yếu ớt và kiệt sức, như thể các bắp thịt bỗng không chịu tuân theo ý bà ta nữa. Người phụ nữ chỉ cảm thấy yếu ớt như vậy trước người nào đã từng có lần ôm mình.

- Cô gái ban nãy đưa tôi vào nhà là con gái ông?
- Vâng.
- Rất tiếc là tôi không được gặp vợ ông.
Kasumi không đáp. Ông đi đằng trước. Đến cửa, ông ngoảnh về phía bà ta và hỏi:
- Bà bảo tôi có vào phòng riêng của bà?
- Vâng. - Bà khách nói, quay nửa người về phía ông. - Và tại đó, ông đã ngỏ lời với tôi...
- Gì kia?
- Nhưng tôi đã đính hôn với người chồng tôi hiện nay của tôi và tôi đã nói với ông điều đó, tôi từ chối ông... mặc dù...

Tim Kasumi như thắt lại. Dù trí nhớ ông kém đến đâu, nhưng quên mất và không thể nhớ lại cô gái mà xưa kia ông đã ngỏ lời thì không còn là một điều buồn cười nữa, mà là một điều đáng sợ. Ngay hồi còn trẻ, ông cũng đâu có dễ dàng tỏ tình đến thế.

- Ông Kasumi, lúc ấy ông đã hiểu tôi một cách đúng đắn, - bà khách nói, và mắt bà ta ứa lệ. Đôi tay run run, bà ta lấy từ trong xắc ra một tấm ảnh.
- Đây là các con tôi. Con gái tôi đã cao hơn tôi, nó rất giống tôi hồi trẻ.

Nhìn tấm ảnh, Kasumi thầm tự hỏi: lẽ nào xưa kia đúng là ông đã gặp cô gái này và ngỏ lời với cô?
- Hôm nào tôi sẽ tới đây cùng với con gái tôi. Có thể ông muốn nhìn xem hồi trẻ trông tôi như thế nào, - giọng bà khách nghẹn ngào. - Tôi đã kể về ông cho các con tôi nghe. Chúng đã biết hết chuyện, ông Kasumi ạ, và chúng nói về ông rất trìu mến...Còn điều này nữa - cả hai lần mang bầu, tôi đều rất yếu, thậm chí tôi thường bị ngất luôn. Nhưng ông biết không, đôi khi tôi có cảm giác như đứa con trong bụng tôi là con ông, thế là tôi dễ chịu hơn. Thật kì lạ, phải không ông? Nhiều lần, tôi chợt thấy mình muốn giết chồng... Cả chuyện ấy, các con tôi cũng biết.

- Sao lại thế? Không thể được. Như vậy không tốt...
Kasumi ngừng bặt, không tìm ra lời để nói, nhưng có một điều ông thấy rất rõ: người đàn bà này rất bất hạnh, bất hạnh lắm lắm. Và gia đình bà ta cũng vậy. Mà nguyên nhân là ông, Kasumi... Nhưng... biết đâu các mơ tưởng về ông đã làm dịu lòng bà ta, đã đem lại cho cuộc đời đau khổ của bà ta ít nhiều niềm vui. Và niềm vui, bà ta đem chia sẻ cả với hai đứa con...

Kasumi cảm thấy mình rất có lỗi với người phụ nữ này, làm sao trong kí ức ông lại không lưu giữ được, lại đã biến mất hết tất cả những kỉ niệm mà bà ta trân trọng đến thế.
- Ông có muốn giữ tấm ảnh này không? - Bà ta hỏi.
- Không, không cần đâu, - Kasumi lắc đầu, đáp.

Bà khách thong thả đi ra cổng. Rồi đi khuất hẳn.
Kasumi quay vào phòng khách, tay cầm cuốn bản đồ chi tiết nước Nhật và cuốn Từ điển địa danh. Cùng với mấy người khách, ông lật giở cả cuốn bản đồ, cả cuốn từ điển, nhưng trên đảo Kusu cũng như trên các đảo khác đều không đâu có thị trấn Umiura.

- Lạ nhỉ. - Kasumi nói, rồi nhắm mắt lại, ông hồi tưởng. - Như tôi nhớ thì trước chiến tranh tôi chưa có dịp tới Kusu... Phải rồi, đúng là chưa. Lần đầu tiên tôi đến đó là hồi chiến tranh, tôi đến Nagasaki để xem hậu quả của bom nguyên tử... Trong lần này, một người ở đó có kể cho tôi nghe về chuyến viếng thăm của hai nhà văn Kida và Akijama...

Mấy người khách mỉm cười bàn luận về những ảo tưởng của bà khách do trí tưởng tượng của bà ta tạo ra. Cả ba người đều cho rằng bà khách không hoàn toàn bình thường. Nhưng Kasumi im lặng. Ông không thể bảo đảm cái đầu của chính ông đã ổn cả. Ông chẳng đã tin câu chuyện của người phụ nữ ngay từ đầu, lại còn bỏ ra bao nhiêu thời gian và sức lực để cố nhớ lại bà ta đó sao. May mà lần này tất cả chỉ là tưởng tượng - đơn giản là không hề có thị trấn Umiura. Nhưng biết bao sự việc có thật trong đời ông đã bị ông quên hẳn lại vẫn sống trong kí ức những người ông không quen biết... Vẫn sống không phai mờ như ở người phụ nữ này. Và cả sau khi ông qua đời, bà ta cũng sẽ vẫn tin rằng xưa kia, ở thị trấn kia, ông đã ngỏ lời với bà ta.

MỸ HÀ dịch
(Lấy từ Truyện ngắn Nhật Bản,
nhiều tác giả, Nhà xuất bản Trẻ, 2000).
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Nov 29, 2017 10:40 am



Vào Đông

Kawabata Yasunari
Trần Thiện Huy dịch


Anh đang chơi cờ vây với vị đạo sĩ của ngôi đền trên núi.

- Có chuyện gì với ông bạn vậy? Hôm nay ông chơi yếu quá, làm như có người nào khác chơi thế, - đạo sĩ nhận xét.
- Trời trở lạnh là tôi lại úa ra như một lá cỏ. Không làm gì nổi cả. – Anh thấy mình hoàn toàn thảm bại, đến nỗi không dám đáp lại cái nhìn của người đối diện.

Đêm qua, như thường lệ, trong cánh chái biệt lập của ngôi nhà trọ khu suối nước nóng, tai lắng nghe tiếng lá rụng xạc xào, anh và cô đã nói chuyện.
- Năm nào cũng vậy, đến lúc bàn chân giá lạnh là em lại nhớ nhà. Em chỉ mơ về nhà mình mà thôi.
- Trời vào đông thế này làm anh lại bắt đầu thấy mình không xứng đáng với em. Anh không xứng đáng với người đàn bà nào cả. Ý nghĩ ấy giờ lại càng mạnh hơn.

Nhưng đến lúc này, tâm tưởng họ không còn nắm bắt được ý của nhau nữa. Anh nói thêm, cố gắng diễn tả:
- Trời vào đông, anh mới hiểu được cảm giác khi người ta cầu nguyện thần linh. Đó không phải là cảm giác thành kính, mà là yếu đuối. Giá anh có thể tập trung hết tâm hồn vào một đấng thần linh, và hoan hỉ đón nhận miếng ăn hàng ngày, anh nghĩ như vậy là đủ hạnh phúc rồi. Chỉ một chén cơm hẩm mỗi ngày thôi là đủ.

Chính ra thì hàng ngày họ vẫn tiệc tùng. Chỉ có điều họ không thể rời khỏi vùng núi có suối nước nóng này. Giá mà mọi chuyện đã xảy ra như ý định của họ trước đây, có lẽ họ đã có thể mướn qua mùa hè ngôi nhà mà cô đã bị mất năm hay sáu năm về trước. Nhưng sáu tháng trước, không nghĩ gì đến hậu quả, họ đã dời đến nơi đây và ở lại giống như để ẩn trốn. Những con người thân thiện nơi nhà trọ, không nói lời nào, đã để cho họ lưu lại trong căn phòng độc nhất của chái nhà này. Trong thời gian đó, anh đã chán chường với cái gọi là hy vọng. Mãi rồi họ cùng tập được tính tuân phục số phận trong tất cả mọi chuyện.

- Chơi thêm một ván nữa chứ? Ta nhóm lửa trong cái lò này giờ đây.
Anh còn đang nghĩ "để coi lần này" thì đạo sĩ chẳng khách khí gì đã đặt ngay một quân cờ đá xuống góc bàn cờ trước mũi anh. Vị đạo sĩ miền quê này quả tình hài lòng vì đã thọc sâu được vào góc trận bên địch. Thật là bực bội. Bỗng nhiên người khách của ông mất hết hứng thú, cảm thấy năng lực của mình đang thoát đi đâu hết.

- Đêm qua ông không mơ thấy được thế đỡ nào sao? Nước đi này của ta chính là lúc ông tới số.
Nhưng đối thủ của đạo sĩ vẫn đặt bừa một quân cờ xuống mặt bàn. Đạo sĩ phá lên cười:
- Đồ ngốc ạ! Tấn công bên địch kiểu tay mơ vậy ư.

Bàn cờ bên khách đã bị công hãm một cách thê thảm. Càng gần cuối trận, đạo sĩ càng chiếm thêm thế công. Giữa lúc anh đang cố bắt kịp ông ta một cách chán nản, ánh sáng tự nhiên vụt tắt ngấm.

Đạo sĩ bật cười và nói oang oang:
- Thật kinh hồn. Ông đã qua mặt cả vị khai tổ. Thần thông của ông làm cho vị khai tổ phải hổ thẹn. Đồ ngốc, còn lâu! Thật kinh hồn. Không, ta thấy đúng là kinh hồn thật đấy.
Đạo sĩ đứng dậy tìm một cây nến. Chuyện ánh sáng vụt tắt đã làm cho đối thủ của ông ta cất tiếng cười sảng khoái lần đầu tiên suốt buổi tối tới giờ.

Những câu nói như "Đêm qua ông có mơ thấy nước đi này không" hay "Đồ ngốc ạ" đã thành cửa miệng đối với họ khi chơi cờ. Chúng có xuất xứ từ giai thoại về vị khai tổ của đền thờ, mà đạo sĩ đã thuật lại cho anh nghe.

Đền thờ được dựng nên vào thời Đức Xuyên. Vị khai tổ là một võ sĩ. Con trai ông ta là một kẻ bị chứng ngớ ngẩn. Một đầu mục trong phiên trấn của ông ta đã chế nhạo nó. Giết chết tên đầu mục xong, ông ta cũng giết luôn cả con mình rồi trốn khỏi lãnh địa. Trong lúc trốn tránh ở khu suối nước hẻo lánh này, ông ta bỗng có một giấc mộng. Trong mơ, ông ta đang nhập định dưới thác nước trên núi cao, cách suối nước nóng khoảng một dặm rưỡi, thì người con của gã đầu mục xuất hiện để báo thù, và xả ông ta làm đôi bằng một nhát kiếm độc nhất, chém xéo từ vai trái qua.

Khi người võ sĩ tỉnh dậy, khắp người ông toát mồ hôi lạnh. Thật là một giấc mơ kỳ dị, ông tự nhủ. Đầu tiên, ông chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ngồi nhập định dưới thác nước này cả. Ngoài ra, khó lòng có chuyện ông lại ngồi yên đó, lặng lẽ nhìn vào lưỡi kiếm sáng loé của kẻ thù không đội trời chung. Lại còn khó có khả năng hơn nữa là chuyện ông ta, một người có thể kiêu hãnh về kiếm thuật của mình, dù là chiến pháp của ông khác biệt với những gì vị giáo đầu của phiên vẫn dạy, lại bị đốn gục sau một nhát kiếm bởi tay những kẻ như đứa con của tên đầu mục kia. Tuy nhiên, chính vì nó không thể tin được, giấc mộng mới làm cho ông thấy bồn chồn. Đó có thể nào là định mệnh của ông? Nếu như số của ông là phải có một thằng con ngớ ngẩn, biết đâu số của ông cũng là bị chém chết dưới thác nước? Có phải ông đã nhìn thấy trước kết cục của mình trong mơ? Có thể nào đây là cái mà người ta gọi là điềm báo? Và vì vậy, giấc mơ đã đưa ông tới bên thác nước.

- Được lắm, vậy thì ta sẽ chống lại số phận. Ta sẽ bắt nó phải nhường lối.

Ông bắt đầu đi đến thác nước hàng ngày. Ở đây, đặt mình vững và thẳng trên một mỏm đá dưới những cột nước, ông ngồi mộng ngay giữa lúc còn đang tỉnh. Ông thấy đi thấy lại hình bóng lưỡi kiếm trần loé sáng rạch xuyên qua vai trái mình. Ông phải thoát ra khỏi cái viễn ảnh này. Thanh kiếm ảo ảnh đó phải chém hụt khỏi vai ông và thay vì đó, va vào một tảng đá. Rồi một ngày, sau khi đã quán tưởng như thế khoảng một tháng liền, thanh kiếm sáng loé trong ảo ảnh đã sướt qua vai ông và bập thẳng vào tảng đá. Đứng bật dậy, ông liền múa một điệu ngắn để bày tỏ niềm hoan hỉ.

Dĩ nhiên, chuyện xảy ra trong thực tế cũng hệt như trong điềm báo vậy. Dù cho đứa con của tên đầu mục đã trút đủ kiểu thách thức lên đầu ông, và nhục mạ ông là một thằng hèn, ông ngồi yên nhập định, mắt nhắm nghiền, dạo chơi bên lề của vô ngã giới. Ông buông xả chính mình trong tiếng thác đổ. Mắt nhắm chặt, ông bỗng nhiên nhìn thấy hình bóng của lưỡi kiếm sáng loè. Đứa con tên đầu mục đã dùng hết sức phạt lưỡi kiếm xuống và chém trúng tảng đá, làm hai tay hắn tê chồn. Người võ sĩ mở bừng mắt ra nhìn.

- Đồ ngốc. Ngươi cho rằng học cách múa may cây kiếm như vậy là ngươi có thể tru diệt được chư thần thiên địa sao? Để tránh sức mạnh của thanh kiếm, ta đã cầu đến linh khí trong cả trời đất. Nhờ tương thông với quyền năng của trời cao, ta đã đẩy được thanh kiếm của số mạng lệch ra đúng ba tấc.
- Đồ ngốc! – Sau khi kể cho anh câu chuyện trên, đạo sĩ thường vui vẻ thọc thêm lời đùa cợt anh, bụng ông ta rung lên vì cười.

Đạo sĩ đã mang nến trở lại, nhưng người khách của ông xin cáo lui. Cắm ngọn nến vào trong chiếc đèn lồng giấy, đạo sĩ tiễn anh tới cổng chính của ngôi đền. Vầng trăng sáng, lạnh đang chiếu trên nền trời. Trên núi hay dưới cánh đồng, không thấy có ánh sáng nào được thắp lên.

Nhìn về phía những rặng núi, người khách của ông nói:
- Niềm hoan lạc của một đêm sáng trăng là cái mà bây giờ chúng ta không còn hiểu nổi nữa. Chỉ có người xưa, khi chưa biết thắp sáng, mới hiểu được cái hoan lạc của đêm trăng.
- Quả vậy – đạo sĩ cũng đang nhìn về những rặng núi.
- Mới rồi, khi tôi lên núi, nai đã bắt đầu cất tiếng gọi nhau. Bắt đầu mùa tìm bạn thật rồi.
- Còn người bạn của mình? – Anh tự hỏi khi bước trên những bậc thềm đá của ngôi đền. – Cô chắc đang nằm trên tấm chăn bông như thường lệ, đầu gối trên khuỷu tay.

Mấy buổi tối gần đây, người hầu gái đều dọn giường sớm. Nhưng anh không lên giường. Chui vào trong màn giờ này thật là quá phiền phức. Nằm duỗi ra trên tấm chăn bông, anh rút chân vào dưới vạt áo kimono của mình và gối đầu trên khuỷu tay. Đến một lúc nào đó, thói quen này của anh đã lây sang cho cô. Và cứ vậy, mỗi đêm, từ khi trời sụp tối, cùng một hình dạng lờ mờ như nhau phủ trên hai đám chăn gối, họ nằm đó, mắt quay đi không nhìn nhau.

Bóng dáng cô, trong khi anh đi qua khỏi cổng đền, chập chờn như một ảo ảnh về số phận anh. Có phải anh là kẻ duy nhất không thể bắt số mạng nhường đường?
- Dậy khỏi giường và ngồi thẳng lên, - anh ra lệnh cho cô thầm trong lòng.
- A! – Chiếc đèn đang run lên trong tay anh.

Anh cảm thấy cái lạnh của đêm, đang bắt đầu chuyển vào mùa đông, trên mí mắt mình.

(1926)

Nguyên tác: Toward Winter
(Fuyu chikashi)
Palm-of-the-Hand Stories -
Trans: J. M. Holman, L. Dunlop
Farrar Straus and Giroux, 2006
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Dec 06, 2017 12:12 am


 
Thằng ăn mày Sukehachi
    
Fujisawa Shuhei
Phạm Vũ Thịnh dịch
    

1
    Ibe Sukehachi bị người ta gọi lén là Thằng ăn mày Ibe hay Thằng ăn mày Sukehachi, tất nhiên chẳng phải vì anh ta làm ăn mày ăn xin gì đâu, mà chỉ vì hình dáng lôi thôi bẩn thỉu của anh ta đó thôi. Sukehachi lúc nào cũng dơ bẩn, áo quần dính bụi đất cáu ghét, có vẻ anh ta ít khi tắm nên thỉnh thoảng cả thân thể cũng bốc mùi hôi nữa.
    Sukehachi là người giữ kho phiên trấn, những ngày phải vào phòng việc trong thành thì chẳng nói làm gì, chứ hằng ngày từ nhà đến thẳng kho ở ngoài bìa khu Sannomaru của thành, nghe đâu anh ta chẳng buồn buộc tóc lên hay cạo râu nữa.
    Chuyện ấy không còn chỉ là tin đồn, mà đã là sự thực mọi người trong thành đều biết từ một sự kiện đã xảy ra vào tháng 5 năm ngoái. Lãnh Chúa về xứ [1] không bao lâu thì chợt nảy ra ý muốn đi thị sát các kho lẫm. Kho của phiên trấn gồm có 5 dãy kho gạo chứa thóc lúa tiến cống hàng năm cho Phủ Chúa Tokugawa, và một kho binh lương. Sukehachi giữ kho binh lương, đón một phái đoàn mười người gồm Lãnh Chúa, quan Gia lão [2] trực phiên trong tháng, trưởng tổ Cận vệ, và các quan khác; anh cùng quan Quản lý Kho lẫm là Kusaka Shobee hướng dẫn khách vào kho binh lương để xem xét các nơi.
Kho binh lương hiển nhiên là kho chứa lương thực cho quân sĩ, sẵn sàng để phiên trấn dùng khi xuất quân hay công thành. Những thứ như gạo lức, đậu nành, củ cải phơi khô, muối, tương đậu, rau khô, mực khô, cá khô,... đựng trong bao rơm hay thùng gỗ, chất cao tới trần nhà.
    Quan Quản lý Kho lẫm cùng Sukehachi đưa khách đến các nơi, mở bao, mở thùng ra, giải thích về tình trạng bảo quản, trình bày cho khách thấy những lương thực ấy, như tương đậu, mực khô,... được giữ gìn cẩn thận, có thể dùng ngay được khi cần đến. Trách nhiệm của nhân viên giữ kho là bảo quản phẩm vật sao cho đừng bị meo mốc, hư thối, hay mối mọt phá hoại.

    Đi xem một vòng, Lãnh Chúa tỏ vẻ hài lòng. Ngài vốn tính hiền hậu, nghe Sukehachi thuyết minh thì gật gù liên hồi, và ban lời ủy lạo nữa. Nhưng từ lúc xem qua được chừng một nửa, thỉnh thoảng khuôn mặt dài có phẩm cách cao quý của Lãnh Chúa lại thoáng vẻ mờ tối, mũi ngài hỉnh hỉnh như đánh hơi thấy gì đấy. Đến lúc chỉ còn một chút nữa là kết thúc được buổi thị sát thì Lãnh Chúa như cuối cùng đã nhận ra được cái mùi lạ lùng khác hẳn mùi binh lương chứa trong kho, cái mùi từ nãy đến giờ vẫn làm khổ khứu giác của mình ấy, thật sự phát ra từ đâu. Ngài đứng dừng lại, hỉnh hỉnh mũi lần nữa như để xác nhận cho chắc chắn, rồi đăm đăm nhìn Sukehachi.
    -"Mùi hôi là từ Sukehachi đấy phải không?"
    -"Thưa... vâng..."
    Sukehachi đỏ mặt, rồi xanh mặt. Trên mặt anh, đây đó còn những cọng râu dài cắt sót, nhìn gần thì thấy đầy cả những vết dao cắt lạm trên má, trên cằm. Có lẽ nghe tin Lãnh Chúa đi xem kho, anh đã hốt hoảng dùng đoản kiếm hay thứ dao gì đấy cạo vội râu ria, nên mới ra nông nỗi ấy.
    Râu ria còn không chịu cạo, hẳn là thân thể cũng chẳng tắm rửa gì! Lãnh Chúa lộ vẻ chua chát, đăm đăm nhìn Sukehachi đang đứng như trời trồng, toả mùi khó ngửi. Ngài quở trách:
    -"Người nhà Chúa phải làm gương cho thứ dân, dơ bẩn thì không được!"

    Chuyện như thế đã loan truyền khắp thành ngày hôm sau. Ibe Sukehachi trở thành đề tài cho người ta chê cười. Không chỉ bị chê cười, anh còn suýt bị xử phạt nặng nữa, vì quan Gia lão trực phiên cùng đi thị sát với Lãnh Chúa, là Mizoguchi Shuzen đã nổi giận đòi phạt nặng, may nhờ có cấp trên của Sukehachi là Kusaka Shobee ra sức biện hộ cho, mới thoát được. Vợ Ibe Sukehachi chết vì bệnh hai năm trước, từ đó anh ta sống đời cô độc trong sầu khổ, càng ngày càng bê bối bẩn thỉu ra. Tình cảnh cũng đáng châm chước. Vả lại, Sukehachi làm việc giữ kho rất giỏi, hoàn toàn không có gì đáng chê trách. Kusaka đã biện hộ cho như thế, và nói thêm một điều khiến quan Gia lão trực phiên phải chú ý: Sukehachi là con nối dõi của Ibe Tozaemon, kiếm sĩ phái Katori được Lãnh Chúa đời trước là ngài Unkei-in thương tài mà cho phép lập ra nhà Ibe.
    -"Nhà Ibe của Sukehachi là nếp nhà có vinh dự được chính ngài Lãnh Chúa đời trước đích thân cho phép, do đó chuyện bê bối lúc này của Sukehachi xin được miễn cho việc xử phạt nặng, mà xin chỉ bắt đương sự phải sửa đổi chỉnh đốn lại mà thôi"
    -"Bảo là nhà được chính Lãnh Chúa cho phép lập, thế nhưng chuyện phải là phải, trái là trái chứ..."

    Quan Gia lão không khứng, nhưng nghe Kusaka nhiệt thành bào chữa cho Sukehachi một hồi, dần dần ý định nghiêm phạt Sukehachi cũng giảm bớt đi. Quan lại tỏ ra thích thú chuyện khác.
    -"Thế anh đã được xem Ibe Tozaemon đấu kiếm lần nào chưa?". Quan Gia lão hỏi. -"Đấy, trận đấu với Shida Unemenosuke làm thầy chỉ đạo võ thuật của phiên trấn ấy, Ibe chỉ chém một thế là thắng! Lúc bấy giờ, ta mới gần 20 tuổi thôi, mà đến bây giờ, vẫn không quên được trận đấu ấy".
    -"Thưa vâng, tiện nhân cũng đã được xem trận ấy". Quản lý Kho lẫm Kusaka phụ hoạ. -"Trận đấu thật là tuyệt vời. Ngài Shida đã vì thua trận ấy mà từ chức thầy chỉ đạo võ thuật. Nhưng mà, điều kỳ lạ là nghe đâu Ibe Tozaemon thi triển kiếm kỹ trước mắt người ta thì suốt đời ông ta, chỉ có mỗi một lần ấy thôi".
    -"À, anh nói thế thì có lẽ đúng đấy". Quan Gia lão nói, rồi nhẹ lắc đầu. -"Nhưng mà, ta cho rằng chỉ cần xem được trận Ibe đấu với Shida ấy cũng đủ rồi".
    -"Thưa, đúng thế"
    -"Tozaemon đã qua đời năm trước đây". Quan Gia lão Mizoguchi xoa chiếc cằm tròn trịa đậm dấu râu đã cạo mà nói: -"Thế phái kiếm Katori thì đã để lại cho Sukehachi đấy à?"
    -"Thưa, nghe nói là đã dạy lại tất cả cho Sukehachi rồi đấy". Kusaka đáp. -"Nhưng chỉ nghe đồn thế thôi, chứ cũng chưa có ai thấy tận mắt Sukehachi nắm kiếm gỗ hay kiếm tre lần nào cả".
    -"Chuyện thế thì kỳ lạ quá nhỉ!". Quan Gia lão trực phiên nói.

    Câu chuyện giữa hai người đã chuyển sang đàm luận về kiếm thuật từ lúc nào rồi, chuyện xử phạt Sukehachi tiêu tan đi đâu mất. Cuối cùng, Mizoguchi chợt nhớ lại, cũng chỉ nói: -"Mà thôi, Lãnh Chúa cũng không giận dữ gì mấy" rồi cho qua.
    Tuy nhiên, Sukehachi thoát được việc xử phạt ấy, chẳng phải là thoát được chuyện bị mọi người trong thành chê cười. Từ đấy, hỗn danh Thằng ăn mày Sukehachi dính chặt vào anh.
    -"Ê, thằng ăn mày Sukehachi đến đấy. Đừng lại gần hắn thì tốt hơn. Mùi hôi dính qua người đấy!"
    -"Dù gì đi nữa, hắn cũng đã được chính Lãnh Chúa đóng ấn chứng nhận là dơ bẩn hôi thối rồi".

    Người ta thầm lén kháo nhau như thế một cách thích thú. Mà chính Sukehachi, bị cấp trên là Kusaka quở trách xong, cũng ráng cạo râu, thay đổi áo quần sạch sẽ đi làm, nhưng chỉ được không tới một tháng sau, người ngợm lại dần dần bẩn thỉu ra, tuy gọi là Thằng ăn mày thì có hơi quá, chứ chẳng bao lâu đã trở lại hình dáng lôi thôi lếch thếch cũ, Sukehachi cúi mặt lởm chởm râu ria mà đi đi về về từ nhà đến thành.
    Và tuy quả là người anh toả ra mùi hôi thật, nhưng hình ảnh người đàn ông như thế lủi thủi đi dưới mưa, hay có lúc như từ đằng xa đã nhận ra những kẻ chế nhạo mình đang đứng trông, thì ngóng cổ lên trừng mắt nhìn cho đến khi qua mặt,... cũng không khỏi khiến người ta động lòng bùi ngùi cho chiếc bóng lẻ loi của một người đàn ông chưa tới 30 tuổi đã phải chịu cảnh tử biệt với người vợ thân yêu. Vì thế, trong đám gia thần của Lãnh Chúa, không phải chỉ có toàn là những kẻ chuyên chê cười Sukehachi, mà cũng có những người, tuy không nhiều, như Quản lý Kho lẫm Kusaka, nhìn anh với mắt xót thương, cám cảnh.

2
    Thế nhưng, sự thật lại rất đơn giản, cả những người như Quản lý Kho lẫm Kusaka, thấy Sukehachi bẩn thỉu ấy qua hình ảnh một người sớm goá vợ, sầu thảm; hay cả bọn người khinh bạc, chỉ nhìn bề ngoài của Sukehachi đã chê cười là Thằng ăn mày Sukehachi, đều chẳng khác gì nhau là bao, bởi chẳng bên nào nhìn thấu được tâm can của anh ta cả.
    Quả thật, đàn ông goá vợ có nhiều điều bất tiện, nhưng cũng chẳng phải Sukehachi buồn thảm chuyện mất vợ đến như người ta tưởng. Tất nhiên, người vợ đã sống chung hơn sáu năm với nhau đột ngột chết đi thì ai cũng không khỏi buồn phiền, nhưng một chuỗi những nghi thức hậu sự đã xong thì Sukehachi lại sớm có cảm giác được giải thoát! Tuy anh không thể nói cho ai biết sự thực rằng bao lâu nay anh đã khổ sở vì Une, người vợ vừa chết ấy thật ra chẳng phải là một người vợ hiền!
    Une lớn hơn chồng hai tuổi. Quá lứa, những tưởng sẽ phải chịu ở vậy cho đến chết, thì được mai mối cho Sukehachi, nên đã chẳng suy nghĩ gì mà ưng chịu làm dâu nhà Ibe ngay. Thế nhưng, gốc nhà võ sĩ lãnh lương 100 hộc [3] thì quả là so le với nhà Ibe chỉ lãnh 30 hộc. Sinh hoạt trong gia đình đã khác nhau mà lề lối sống cũng khác hẳn. Có vẻ cả đời, Une đã không thuận ứng với sự khác biệt về thân thế ấy. Người đàn bà này quen miệng bảo chồng:
    -"Hãy gắng mà tiến thân, chứ không thì nhà em buồn lắm đấy".
    Ra cái điều cha mẹ trong "nhà em" buồn phiền vì đã phải cho con gái vào làm dâu một nhà nghèo hèn giữ kho cho phiên trấn. Lời nói như thế làm sao mà chịu cho nổi!

    Lúc đầu Une chỉ nói như thế riêng với chồng thôi, nhưng theo với năm tháng, dần dần đã dám nói ngay mặt mẹ Sukehachi lúc bấy giờ còn sống. Có chút gì là cô lại lôi ngay chuyện nhà cô giàu có làm mẫu mực mà chê bai cảnh sống nghèo túng của nhà Ibe.
    Rồi sau khi mẹ chồng chết, Une trở thành người vợ lăng loàn ai cũng ngán. Nhưng cứ nhìn vào thói xét nét của Une đến cả những chuyện như lối cầm đũa của chồng, cho đến cả những cung cách trong phòng the, thì có lẽ Une chẳng phải đi lấy chồng rồi mới đâm ra lăng loàn, mà hẳn vốn tính đã như thế rồi.
    Tuy nhỏ tuổi hơn, nhưng tất nhiên Sukehachi vẫn là gia trưởng của nhà Ibe chứ. Khoảng thời gian đầu, anh cũng đã thẳng thắn trách mắng Une. Nhưng không bao lâu sau, anh nhận ra rằng sự lăng loàn của Une vượt quá khả năng đề kháng của mình. Anh có trách mắng tranh cãi bao nhiêu đi nữa, cũng chẳng thể nào thay đổi được Une. Thế nhưng, cũng chẳng phải vì thế mà dễ dàng ly hôn được với Une. Bởi mai mối Une cho anh lại chính là một người trong gia tộc về phía mẹ của anh mà nhà anh đã mang ơn, vả lại, tuy là người vợ lăng loàn, nhưng Une vẫn chu toàn mọi việc của một nàng dâu trong nhà. Mới hai năm trước đây, nhà Ibe vẫn còn được chăm sóc kỹ càng, lau chùi bóng loáng từ bàn thờ Phật cho đến sàn gỗ hay nan cửa kéo, sáng choang không dính chút bụi, là nhờ bàn tay ưa sạch sẽ của Une. Vì thế, cuối cùng Sukehachi chỉ còn cách ngậm miệng mà chịu thôi.
    Sau khi Une chết, Sukehachi đổ ra dơ bẩn như thế, tất nhiên cũng vì mất đi tay đàn bà chăm sóc, nhưng một phần cũng vì đột nhiên được giải thoát khỏi bàn tay bó buộc chi phối của người vợ lăng loàn kia, anh đâm ra hụt hẫng trong đời sống.

    Hình ảnh thương tâm của người đàn ông trẻ sớm goá vợ mà cấp trên của Sukehachi là Kusaka đã gợi nên thật ra chỉ là cảm nhận quá trớn của ông ta đó thôi, chứ bản thân Sukehachi đã chịu đựng những khía cạnh địa ngục trong cuộc sống chung với vợ mình. Dáng đi cúi gầm mặt xuống mà bước thầm lặng trên đường phố của Sukehachi thật ra đã bắt đầu từ lúc anh nhận ra địa ngục trong quan hệ vợ chồng ấy rồi, nhưng dạo gần đây, lại có thêm bề ngoài cáu bẩn ghê gớm ấy giúp làm nổi bật lên vẻ u ám khiến người ta chú ý mà chê cười đó thôi.
    Hiện giờ, Sukehachi từ kho về đến nhà là cởi áo khoác, quần cộc, vất sang bên, rồi ngồi duỗi chân rộng ra mà làm thêm việc đan giỏ nuôi côn trùng cho trẻ con chơi. Đến khi mỏi mệt thì nằm lăn ra đấy cũng chẳng ai nói gì anh cả. Đôi khi anh nghĩ sao mà đời sống độc thân lại thoải mái đến thế!
    Nói đúng ra thì cũng chẳng phải anh sống một mình. Bởi có người bà con lo lắng cho anh nên đã gửi đến một bà già giúp việc nhà tên là Okane. Nhưng Okane đã gần 70 tuổi, chỉ chuyên việc nấu ăn, còn chuyện quét dọn trong nhà thì ít khi làm, hễ rảnh rỗi lại nằm ngủ ngay trong gian bếp. Bà cụ lẩm cẩm quá đến nỗi có khi Sukehachi đâm ra nghi ngờ lòng tốt của người bà con kia, chẳng biết có phải đã muốn gán bà cụ khó xài ấy cho nhẹ nợ đi chăng? Tuy vậy, anh vẫn hài lòng có được người lo việc cơm nước cho mình.
    Sukehachi chỉ tắm khi nào anh muốn, còn thì cứ để mặc thân thể bốc mùi mồ hôi. Thỉnh thoảng làm thêm kiếm được đồng nào, anh lại trùm khăn che mặt đi qua xóm bên, vào quán rượu ngồi quầy uống một chén rồi về. Thú vui này, anh tìm thấy sau khi vợ chết. Anh cũng đã nghe người ta chê cười là Thằng ăn mày Sukehachi, và dạo gần đây, họ hàng của anh lại càng thúc hối anh lấy vợ khác, nhưng anh vẫn không muốn dứt bỏ chuỗi ngày độc thân muốn gì làm nấy, thoải mái tuy có phần bê bối này.

3
    Người khách đàn bà ấy đến nhà anh trong một đêm tháng tư. Sukehachi tuy người toả mùi hôi như thường lệ, nhưng lưng rướn thẳng, đang chăm chú đọc cuốn Sử ký thường ngày anh thích đọc. Nghe bà cụ Okane báo tin, Sukehachi ra cửa trước thì người nữ khách ấy vừa cởi khăn trùm đầu vừa cất tiếng chào.
    -"Thưa, lâu ngày không được gặp..."
    -"À... vâng?..."
    -"Đêm hôm khuya khoắc, xin lỗi đã đến quấy rầy..."
    -"Không, không sao,..."
    Miệng đáp vậy, nhưng Sukehachi chẳng nhận ra khách là ai cả. Anh nghĩ không chừng người ta lầm nhà ai khác chăng? Có lẽ đoán được anh đang nghĩ thế, người đàn bà xinh đẹp trước mắt anh mỉm cười nói:
    -"Anh quên em rồi sao? Hatsu nhà Iinuma đây mà!"
    -"A!..."
    Sukehachi sững sờ, rồi bối rối nói:
    -"Thế này thì... Cô Hatsu! Cô thành người lớn, đoan trang quá đỗi, tôi không nhận ra ngay được".

    Nhà Iinuma ấy có người con trai trưởng nối dõi Tomonojo là bạn thân của Sukehachi. Hai người thân nhau bắt đầu từ thời con nít cùng học sách Chu tử ở trường Tomita Sanaka, dạo gần đây vì Sukehachi vào làm việc cho nhà Lãnh Chúa nên ít có dịp gặp nhau, chứ lúc trước rất thân mật, thường qua lại nhà nhau. Cha của Tomonojo là người có học vấn cao thâm, làm chức quan Thư ký được Lãnh Chúa tin cậy đến giao cho tất cả mọi việc văn thư ngoại giao vào tay ông. Những năm gần đây, vì già yếu bệnh hoạn nên ông về xứ làm việc, chứ cho đến tuổi tráng niên, ông đã theo sát bên cạnh Lãnh Chúa mà làm việc năm này ở Edo [4], năm sau về phiên trấn nhà. Vì thế mà nhà Iinuma lúc nào cũng có hơi hướm Edo. Có lẽ do phong cách gia đình như thế nên hai cô em gái của Tomonojo cũng không e lệ nấp vào nơi kín cổng cao tường, mà dạn dĩ mang bánh trái ra mời Sukehachi, hay nhằm lễ Hina mừng con gái trong tháng ba, gặp anh thì các cô cũng mời ngay vào tiệc mà chuốc rượu ngọt màu trắng Shirozake cho anh. Sukehachi đã thấy cô Hatsu đang đứng trước mặt anh đây, từ hồi cô còn nhỏ cho đến tuổi sắp thành người lớn. Nói vậy chứ anh cũng chỉ thấy đến khi cô 13, 14 tuổi gì đấy thôi, sau đó, hai chị em cô đã ẩn mình vào cổng kín tường cao theo đúng nghĩa đen như thế, nên Sukehachi đã không còn có dịp thấy các cô nữa. Anh chỉ nghe Tomonojo nói: khoảng hai năm trước đây, cô Hatsu đã về làm dâu nhà trưởng tổ Koda rồi. Thảo nào bây giờ gặp lại cô, anh đã không nhận ra ngay được.

    Sukehachi nghĩ thế khi nhìn Hatsu, đôi mắt đẹp, đôi má trắng hồng, thân hình thon thả lồ lộ những đường cong kiều mỵ nơi hông và ngực. So với người thật ngay trước mắt anh thì hình ảnh cô bé Hatsu ngày xưa chỉ là con tằm nằm trong kén mà thôi.
    -"Thế...". Sukehachi gắng trấn tỉnh mà hỏi. -"... có việc cần gấp đến tôi đấy à?"
    -"Vâng ạ".
    Hatsu cúi mặt xuống. Nhưng lúc ngẩng lên thì mỉm cười hỏi anh có nghe là cô đã bỏ đi khỏi nhà Koda chưa.
    -"Vâng, tôi đã nghe như thế".
    -"Thế, việc ngài Koda Toyotaro không chịu ly hôn mà làm ầm lên thì sao ạ?"
    -"Vâng, tôi cũng có nghe".
    Sukehachi đáp. Mới đây, anh nghe Tomonojo cho biết rằng cô Hatsu rời chồng trở về nhà là chuyện đành phải chịu thôi, nhưng người chồng là Toyotaro thỉnh thoảng lại tìm đến quát mắng, đánh đập hung bạo, làm phiền cả gia đình anh nữa. Nhà Iinuma sợ Toyotaro đến nỗi đã phải cho Hatsu đi trốn ở nhà bà con, nhưng rồi Toyotaro vẫn tìm đến được mà thoá mạ nhiều lời nghe không chịu nổi. Chuyện cô Hatsu gần đây, Sukehachi nghe thì nghe vậy chứ cũng không chú tâm bao nhiêu, bởi bản thân anh đang ngập đầu trong những phiền toái của chính mình.
    -"Hẳn là chồng cô Hatsu muốn giữ cô lại lắm đấy chứ gì?"
    Nghe Sukehachi nói thế, Hatsu cúi mặt cười nhẹ. Nụ cười như chứa đựng chút bí mật gì đấy khó hiểu ý nghĩa là gì.
    Ngẩng mặt lên, Hatsu nói quả quyết:
    -"Thủ tục ly dị đã xong cả rồi. Ông ấy không còn là chồng em nữa đâu".
    -"Thế à?". Sukehachi đăm đăm nhìn Hatsu, rồi nhẹ giọng hỏi: -"Rồi lại sinh chuyện làm phiền cô Hatsu đấy nhỉ?"
    -"Lúc nãy, người mai mối lúc trước là ngài Yasumatsu cho người đến báo tin gấp là Koda uống rượu say sắp đến quấy rầy đấy, cần phải đề phòng...".
    -"Ồ!..."
    -"Nghe thế, anh của em hoảng lên, bảo em đến đây xin trú lại đêm nay, thế nên em chạy ngay đến đây đấy".

    Sukehachi khoanh tay suy nghĩ. Koda Toyotaro là đệ tử hạng cao trong võ đường Sakamaki gần thành, thuộc môn phái Itto (Nhất Đao), to con, cánh tay có sức mạnh hơn người. Đối lại, đàn ông nhà Iinuma thì văn nhược, người cha bệnh hoạn yếu đuối, còn Tomonojo là thư sinh trói gà không chặt, tuy hồi nhỏ cũng có sờ tay vào kiếm tre ở võ đường của phiên trấn. Sukehachi hiểu rõ nỗi hoảng hốt của Tomonojo bạn mình. Nhưng anh nghĩ lại: thân anh là đàn ông goá vợ, nếu cô Hatsu trú lại mà người ta biết thì có thể đồn đại bêu xấu khắp trong thành. Cũng là những lời chê cười cả, nhưng đây là chuyện đồn đại quan hệ đến phẩm cách của võ sĩ, thêm vào đó, cả cô Hatsu cũng sẽ bị bêu diếu nữa.
    -"Việc này thì có chút khó khăn đấy".
    Nghe Sukehachi nói thế, mặt Hatsu lại thoáng nụ cười bí hiểm lúc nãy. Rồi cô nói, giọng dịu dàng:
    -"Em cũng đã nghĩ là anh sẽ nói như thế. Ngài Ibe đang sống một mình mà! Nhưng nếu chỉ một chốc lát thôi thì anh có thể cho em ở lại được không?"
    -"À, tất nhiên là được chứ".
    Sukehachi chợt nhớ ra là từ nãy đến giờ vẫn để mặc khách đứng trên nền đất sau cửa. Anh vội vàng nói:
    -"Nào, nào, mời cô bước lên nhà!"

    Vừa nói xong, Sukehachi lại cảm thấy bối rối ngay. Bởi cả căn nhà này lẫn người chủ nhà đều quá dơ bẩn để có thể đón tiếp người nữ khách xinh đẹp thình lình hiện đến này. Tình cảm xấu hổ lâu nay ngủ quên dưới đáy lòng anh bỗng thấy bóng dáng cô Hatsu mà đột ngột thức dậy.
    -"Bà cụ ơi! Cho trà đi!"
    Sukehachi vừa đưa Hatsu vào phòng uống trà vừa hét vọng vào bếp. Anh hét lớn tiếng vì có khi bà cụ Okane đang ngủ gà ngủ gật trong bếp, mà cũng vì có ý mong phù phiếm rằng tiếng hét lớn có thể khiến cho Hatsu ít nhiều quên đi những bụi bặm bám trên nền chiếu, hay mùi hôi toả ra từ thân người anh. Thế nhưng, đến lúc ngồi đối mặt nhau trong phòng uống trà, và bà Okane đã mang vào hai chén trà âm ấm rồi, Sukehachi vẫn không khỏi áy náy:
    -"Nhà cửa dơ bẩn quá, chắc là cô ngạc nhiên lắm?"
    -"Thưa không".
    -"Vậy chứ phòng này cũng là sạch nhất nhà đấy. Khoảng nửa tháng là lau bụi một lần..."
    Sukehachi nói có phần tự trào, rồi nhìn Hatsu chăm chú. Hatsu mỉm cười nhìn lại anh, nhưng khuôn mặt ấy không có vẻ dè bĩu như Sukehachi đã lo. Có lẽ lòng cô đang đầy những lo âu riêng rồi, không còn chỗ để quan tâm đến chuyện người khác.
    Dù sao, Sukehachi cũng an tâm được rồi.
    -"Bà cụ tuổi đã cao rồi, mà tôi thì suốt ngày làm việc trong thành, khó có thì giờ để quét dọn nhà cửa". Sukehachi cố biện giải, tuy bỏ qua phần biện minh về mùi hôi từ thân người anh. -"Thế, chị của cô thì như thế nào? Sau đó có gì thay đổi không?"

4
    Sukehachi và Hatsu rời nhà Sukehachi khoảng giữa khuya. Đi nửa đường thì nghe tiếng chuông nửa đêm của chùa Korenji. Khoảng giữa nhà Sukehachi và nhà Hatsu chỉ có xóm Hyakuken gồm những nhà thị dân lẫn lộn với các dãy nhà của võ sĩ hạng thấp, nên không xa mấy. Hai người rảo bước trên đường đêm tĩnh mịch không một bóng người nào khác, hướng đến nhà Hatsu.
    Đẩy nhẹ, tức thì cổng mở. Cổng chẳng cài then.
    Sukehachi dừng chân, dòm về phía gian nhà chính, nhưng không thấy đèn đóm gì cả. Có vẻ cả nhà đang ngủ yên rồi?
    -"Có vẻ Toyotaro đã về rồi nhỉ?"
    Sukehachi quay lại nói. Hatsu cúi gầm mặt xuống. Rồi nói, như đã an tâm:
    -"Thưa ngài Ibe, tối nay em đã quấy rầy ngài rất nhiều, xin ngài tha tội cho".

    Hai người bước vào trong cổng. Khi đến gần ngưỡng cửa nhà chính thì bên trong cửa chợt lấp ló ánh đèn. Có vẻ có người đi ra.
    Lập tức thổi tắt ngọn đèn lồng cầm nơi tay, Sukehachi vòng qua phía bóng cây trồng trước cửa chính, vòng tay ra sau che chở cho Hatsu.
    Tức thì, cửa chính bật mở, một người đàn ông cầm đèn lồng bước ra ngoài. Người đó quay lưng lại ngay nên Sukehachi không kịp nhìn thấy mặt anh ta, nhưng nhìn dáng lưng cao ngồng ấy thì hẳn là Koda Toyotaro đấy rồi. Vẫn quay lưng như thế, người đàn ông nói:
    -"Vậy thì, hiểu rồi chứ? Hai giờ chiều, nơi sau chùa Hannyaji đấy nhé!"
    Giọng nhừa nhựa mùi rượu. Rồi vẫn giọng khàn đục ấy dặn thêm cho chắc:
    -"Đừng có quên đấy!"
    -"Thình lình mà nói chuyện vô lý thế thì không nên!". Nghe ra giọng thanh có phần the thé của Tomonojo. Giọng nói run loạn lên có lẽ vì tức giận. Nhưng không thấy mặt người, vì Tomonojo đứng khuất sau cửa. -"Tôi không đến đấy đâu. Cho dù là cậu đang say, nhưng nói đến chuyện đấu kiếm thì vô lý quá! Cậu còn ép buộc nữa thì tôi sẽ thưa lên quan đấy!".
    -"Lại làm bộ quan trọng rồi!". Người đàn ông nói có vẻ chế diễu. -"Có phải là chuyện chết người gì đâu nào. Kẻ hèn này, Koda...". Toyotaro chợt ợ ra một tiếng lớn, rồi nói tiếp. -"Xin lỗi... Koda Toyotaro này chẳng phải là kẻ ngu ngốc đến như thế. Tôi chỉ bảo là anh hãy mang kiếm gỗ đến đấy thôi mà. Võ sĩ thì phải cho ra võ sĩ mà giải quyết chuyện này đi chứ! Mà anh nói sai rồi! Tôi có say đâu nào!"
    -"Cậu nói lôi thôi vô lý quá. Chẳng ra chuyện gì cả!"
    -"Cái gì là vô lý?". Toyotaro gầm lên. Giọng nói bắt đầu có vẻ doạ nạt. -"Tôi đã biết chính anh là người đã bày vẽ ra chuyện ly dị này rồi. Lão già Yasumatsu đã thú tội như thế đấy"
    -"......"
    -"Tôi không lưu luyến gì Hatsu cả. Cô ấy không thích thì cũng đành chịu thôi. Thế nhưng, với anh thì vẫn có chuyện muốn nói đây. Vì anh mà tôi bị thiên hạ chê cười là đứa bị vợ ruồng bỏ! Tôi muốn đấu nhau một trận cho thoả lòng hận ấy đấy. Đánh nhau một trận xong thì hai bên mới khuây khoả ra được chứ!"
    -"Nhưng mà...". Tomonojo khàn giọng nói. -"Nói thẳng ra thì tôi chưa hề cầm đến thanh kiếm gỗ..."
    -"Điều đó, tôi chẳng cần biết!". Toyotaro lạnh lùng nói. Lối nói cho thấy bản tính lạnh lùng ác độc. Toyotaro lì lợm nói tiếp: -"Nếu thế nào anh cũng không chịu đấu kiếm, thì thôi vậy. Nhưng nếu thế, tôi sẽ không khuây khoả được nỗi hận này, sẽ thỉnh thoảng tới đây quấy rầy anh đấy. Anh muốn như thế hơn sao? A,...". Toyotaro đưa một cánh tay lên. -"Còn chuyện thưa lên quan, anh nên dẹp đi thì hơn. Đằng này không làm gì ngu dại đến bị quan xử phạt đâu nhé. Cứ theo cách khôn khéo mà làm chứ!"
    Sukehachi nghĩ: tên này chẳng đáng mặt võ sĩ.
    Chợt anh để ý, từ lúc nào rồi, bàn tay Hatsu níu áo khoác của anh phía sau, đã run rẩy mãnh liệt như động kinh. Dợm quay lại, anh chợt hiểu ra: Hatsu kinh sợ tên đàn ông này quá rồi. Sao anh không để ý sớm hơn nhỉ? Lúc kể cho anh nghe chuyện Hatsu ly hôn, Tomonojo đã nói rằng Hatsu bị hành hạ khổ sở lắm. Nghe thế, anh chỉ nghĩ đơn giản là chuyện nàng dâu chịu nạn bà gia thông thường trong thiên hạ đó thôi, nên đã hiểu là Hatsu bị mẹ chồng hành hạ, nhưng lúc này anh hiểu ra kẻ hành hạ Hatsu chính là người chồng đang đứng trước mặt anh kia. Có lẽ Hatsu đã lấy phải một tên đàn ông thích hành hạ người khác. Nghe những lời hắn nói nãy giờ, Sukehachi hiểu rõ được như thế. Anh nhớ lại nét cười bí ẩn của Hatsu lúc tìm đến nhờ anh. Hẳn đấy là nụ cười muốn thổ lộ nỗi đau khổ nhất mà lại không nói ra được.
    Sukehachi gỡ nhẹ tay Hatsu, bước ra trước.
    -"Trận đấu đó, xin cho thay người có được không nào?"

    Nghe tiếng anh, tấm thân to lớn của Toyotaro phản ứng nhanh nhẹn đến làm Sukehachi ngạc nhiên. Vọt ngang chừng 2 gian (khoảng 3 mét 6), quay phắt lại đối mặt với Sukehachi, bàn tay trái của Toyotaro đã bật đốc kiếm sẵn sàng rồi.
    -"Ngươi là ai?"
    -"Ibe Sukehachi, làm việc trong kho phiên trấn"
    -"Hừm, người giữ kho à?". Toyotaro nói, rồi có vẻ nhận ra tên Sukehachi ngay. Hắn chợt hết căng thẳng, nở nụ cười chế diễu. -"Thằng ăn mày Sukehachi gì đấy là ngươi đấy à?"
    -"Có vẻ cũng có đứa ngu dại gọi như thế".
    -"Ngươi quan hệ như thế nào với anh em Hatsu?"
    -"Tomonojo là bạn thân từ thuở nhỏ, cô Hatsu là em của bạn, thế thôi, đáng tiếc là không có gì sằng bậy như ngươi nghĩ đâu. À, có một điều ngươi nên lưu ý". Sukehachi vừa xem chừng Toyotaro vừa nói: -"Cô Hatsu với ngươi đã là người dưng rồi, gọi tên trống không như thế thì không nên. Nghe nhột tai quá đấy".
    Nụ cười nhạt chợt biến mất trên mặt Toyotaro đổi sang nét hung hiểm. Hắn nhổ nước miếng xuống đất rồi gằn giọng:
    -"Tên giữ kho kia! Ngày mai, ngươi rảnh chứ?"
    -"Ngày nghỉ đấy"
    -"Ngươi nhảy ra đòi thay thế người đấu, hẳn là có tự tín vào tay kiếm lắm hả?"
    -"Xà, biết nói sao đây? Cứ chờ đến ngày mai hẳn biết nhau chứ gì".
    -"Được lắm! vậy thì ngày mai, hai giờ chiều, nơi sau chùa Hannyaji. Mang theo kiếm gỗ. Người giám định thì phía ta sẽ lo liệu. Như thế là được chứ gì?"
    Sukehachi đáp: -"Được rồi!".
    Koda Toyotaro liếc tia mắt sắc nhọn từ Hatsu đến Tomonojo đã bước ra ngoài cửa, rồi quay lưng bước đi.

5
    Từ bên hông chính điện bước vào con đường nhỏ giữa rừng cây tạp, Sukehachi nghe tiếng chuông chùa Korenji báo 2 giờ chiều. Không khí trong rừng có phần lạnh lẽo, tuy có chút ánh nắng tươi sáng chiếu lọt qua kẽ lá non của đám cây dẻ, cây sồi, toả trùm phía trên đầu.
    Sukehachi bước vội qua khỏi đám rừng, ra khoảng đất trống sau chùa. Đã có vài người đàn ông đứng dưới nắng chói chang, đồng loạt nhìn về phía anh. Có lẽ là bạn bè của Toyotaro, người nào cũng có vẻ trai trẻ, hào nhoáng. Số người có hơi nhiều, chắc là hiếu kỳ muốn đến xem chơi. Toyotaro đang đứng trong bọn đó. Một người nói lên điều gì đấy, cả bọn vẫn hướng mặt về phía Sukehachi cùng cười ép giọng có vẻ kiềm chế giữ ý tứ. Hẳn là nói Thằng ăn mày Sukehachi gì đấy rồi.

    Sukehachi im lặng đứng dừng lại. Toyotaro đang cười chung với bạn, nghiêm mặt lại tiến đến trước mặt Sukehachi.
    -"Đến trễ thế!"
    -"Chẳng trễ gì mấy. Mới nghe tiếng chuông hai giờ chiều đây".
    -"Thôi, cũng được". Toyotaro nói, chợt để ý là Sukehachi nắm trong tay một khúc cây trắng, nên đổi giọng hung hiểm. -"Thứ gì kia?"
    -"Kiếm của môn phái ta đấy. Dùng thay kiếm gỗ".
    -"Có giao hẹn trước như thế đâu?"
    -"Ta là kẻ người ta gọi là Thằng ăn mày Sukehachi đây. Nắm kiếm gỗ lại gần thì ngươi sẽ ngạt thở vì mùi hôi mà bất tỉnh mất đấy".
    Bọn người đứng xem lần này cười phá lên không còn giữ ý tứ gì nữa. Chỉ có Toyotaro là không cười, chỉ nhìn chăm chú đánh giá Sukehachi và khúc cây ấy. Có vẻ đang so sánh lợi hại giữa khúc cây ấy và kiếm gỗ.
    -"Mà không, vừa rồi chỉ là lời nói đùa thôi. Dùng kiếm gỗ có khi đánh trúng chỗ hiểm có thể chết người. Dùng cho trận đấu bông đùa thế này thì không thích hợp. Khúc cây này thế mà an tâm hơn. Có đánh trúng cũng chỉ bầm người một chút thôi".
    -"Ai mà biết có thật thế không?"
    -"Nếu nghi ngờ thì cứ kiểm xem. Khúc cây này nhẹ thôi mà".
    -"Đâu, đưa đây xem".
    Sukehachi ném khúc cây qua cho Toyotaro. Toyotaro chụp lấy, cầm một tay vụt thử, thấy không có gì lạ bèn ném trả lại cho Sukehachi. Rồi thản nhiên nói:
    -"Nào, ta bắt đầu chứ".
    Hai người dẫm chân vững chãi trên đất, đối mặt nhau đứng tấn. Toyotaro tấn kiếm gỗ theo thế Thanh nhãn [5]. Sukehachi cầm khúc cây chếch lên bên tay phải.
    Thanh kiếm gỗ từ tay người đàn ông to con là Toyotaro toả mạnh sức ép uy hiếp đối phương. Tuy nhiên, bọn người đứng xem cũng hiểu mặc dù Sukehachi nhỏ con hơn, nhưng thân thể anh rắn chắc, to xương, cầm khúc cây đứng tấn hùng mạnh, ra vẻ đã có quá trình tu luyện hơn người. Nếu sơ hở mà chém tới, thế nào cũng bị khúc cây ấy chém xuống chênh chếch từ phía bên trái.

    Nhích chân từ từ lại gần, hai người thủ thế xem chừng nhau thật lâu. Bọn đứng xem nuốt nước miếng. Không những khâm phục thế tấn không có chút khe hở, họ còn bị áp đảo bởi tia nhìn sắc nhọn của Sukehachi. Sukehachi tạo ấn tượng hoàn toàn khác lúc nãy, trừng trừng đôi mắt như mắt chim ưng phủ chụp lên từng động tác của đối thủ.
    Nhưng, ra đòn tấn công trước chính là Toyotaro. Hét lên một tiếng, Toyotaro dậm chân phóng nhanh tới, chém kiếm gỗ xuống vai Sukehachi. Cú chém thật thần tốc, nhưng Sukehachi rút chân lại còn nhanh hơn. Anh lùi lại thật nhanh như lướt về phía sau. Bọn người đứng xem thấy như khúc cây 4 thước (chừng 1 mét 2) trong tay Sukehachi chợt rút ngắn lại chỉ còn đâu chừng một thước. Sukehachi dậm chân dừng lại, rồi bước ngược tới một buớc. Động tác ấy trông như lại tiến lên nghênh chiến đúng lúc Toyotaro đang trên đà chém tới. Khúc cây nắm gọn trong tay Sukehachi bỗng vươn dài ra như cây gậy ma, đánh trúng vào màng tang đối thủ. Chỉ nghe một tiếng "cốc" khô khan. Trong mắt bọn người đứng xem chỉ thấy có một tia chớp trắng loáng lên, nhưng tấm thân to lớn của Toyotaro đã nẩy bật ra sau, ngã đùng xuống đất. Hắn cứ thế mà ngất luôn.
    Trong lúc cả bọn lao xao, Sukehachi quay lưng bỏ đi mất.

    Tối hôm đó, Iinuma Tomonojo mang lễ vật đến viếng Sukehachi. Vài ngày sau, đến phiên Hatsu tìm đến nhằm lúc Sukehachi đi vắng. Cô tự tay quét dọn nhà cửa cho anh.
    Sau đó, thỉnh thoảng Hatsu lại đến, quét dọn lau chùi trong nhà anh rồi về.
    Khoảng một tháng sau, Tomonojo đến thăm, báo tin rằng Koda Toyotaro có lẽ hổ thẹn vì đã đấu thua nên từ ngày đó, không thấy đến nữa. Rồi tiếp đó, Tomonojo hỏi Sukehachi có muốn tái hôn với Hatsu không, cô ấy cũng có ý muốn như thế. Nhưng Sukehachi từ tạ, bảo là đã ớn chuyện nhân duyên so le về gia thế rồi. Bởi nhà Iinuma cũng là cấp 100 hộc.

    Sukehachi cũng hiểu là tính tình Hatsu tốt hơn Une, nhưng vẫn còn lo ngại nếu cô về làm vợ anh, năm này qua năm khác phải gánh chịu cảnh nhà nghèo khó thế này, có thể khổ nhọc quá mà đâm ra gắt gỏng hay lăng loàn như người vợ trước. Lòng anh vẫn còn chai đá vì vết tích của những năm tháng cay đắng vì Une, người vợ đã chết. Anh không muốn thấy Hatsu sẽ thay đổi thành một người đàn bà như thế. Nhà Iinuma có lẽ nghĩ là chịu ơn anh đã thay Tomonojo mà đấu kiếm với Toyotaro. Điều đó lại khiến lòng Sukehachi nặng nề thêm. Anh có chút hối hận đã bộc lộ kiếm pháp bí truyền của nhà mình trước mắt người ta. Người cha đã mất của anh đã căn dặn anh khi truyền thụ kiếm pháp ấy cho anh xong:
    -"Kiếm kỹ này chỉ được dùng để bảo vệ chính mình khi nguy cấp mà thôi, ngoài ra gắng giữ kín, đừng dùng. Nếu cứ tự hào mà khoe khoang, thế nào cũng sẽ có ngày mang hoạ vào thân đấy".
    Nhớ đến lời dặn của cha mình, anh cảm thấy khó mà chấp nhận chuyện mình đã khoe kiếm pháp ấy trước mặt đám người lạ, kết quả là nhờ đó mà lãnh được người vợ xinh đẹp kia.
    Sukehachi đã thẳng thắn từ chối. Và mùa thu năm đó, tai hoạ ở đâu lại giáng xuống anh, đúng như lời cha anh đã nói.

6  
    -"Vụ Tonomura Yashichiro chém chết quan Trung lão, anh đã nghe rồi chứ gì?"
    Quan Gia lão Mizoguchi Shuzen hỏi.
    Sukehachi đáp là đã có nghe. Nhưng anh chẳng hiểu tại sao quan Gia lão lại không lên thành, mà cho gọi anh đến tư dinh để nói về chuyện ấy.
    Đầu mùa hạ năm nay, có một sự kiện đã làm chấn động mọi xóm quanh thành. Trưởng tổ Tonomura Yashichiro đã chém chết quan Trung lão là Naito Geki trong thành. Hai người ấy đã thù hằn nhau từ lâu, nhưng nghe đâu lỗi trực tiếp là do quan Trung lão Naito gây ra. Có lẽ vì vậy mà đáng lẽ bị xử mổ bụng ngay, nhưng Tonomura sau khi bị quan Kiểm sát tra vấn, tạm thời chỉ bị giam lỏng trong nhà, chờ phán quyết chính thức. Mà phán quyết ấy cũng đã có rồi, nhưng nghe đâu còn chờ Lãnh Chúa đang ở Edo cho quyết định tối hậu. Dù gì đi nữa, sự vụ đã cứ thế kéo dài qua mùa thu, rồi đến hôm nay, Mizoguchi đang là quan Gia lão trực phiên tháng này cho gọi Sukehachi đến mà đề cập chuyện ấy với anh. Mizoguchi nói:
    -"Đúng vụ ấy đấy. Đâu một tháng trước rồi nhỉ. Đã có lệnh của Lãnh Chúa ở Edo về việc xử trí Tonomura rồi đây".
    Lệnh của Lãnh Chúa là đuổi toàn bộ gia tộc của Tonomura ra khỏi phiên trấn nhà. Chấp nhận rằng phía Tonomura đã có lý do chính đáng, mà giảm hình phạt cho hắn rồi đấy. Đương nhiên là Tonomura nên cảm tạ phán quyết có phần khoan dung ấy của Lãnh Chúa.
    -"Thế nhưng, Tonomura là đứa kỳ quái khác đời". Mizoguchi nói tiếp.
    Tonomura bảo là cảm tạ hình phạt khoan dung ấy, tuân lệnh đưa tất cả gia tộc ra khỏi phiên trấn. Nhưng chính mình thì đã sinh ra lớn lên trong phiên trấn này, trong căn nhà này, nay phải ra thân vất vưởng nơi đất khách thì không thể nào chịu đựng nổi, nên muốn chết tại đây; phiên trấn hãy cho người đến xử tội đi. Vì thế, phiên trấn phải cho canh gác quanh nhà Tonomura thật nghiêm trọng, rồi cho sứ giả tức tốc chạy lên Edo báo tin cho Lãnh Chúa.
    -"Sáng nay đã có quyết định của Lãnh Chúa đây. Lãnh Chúa tức giận lắm đấy". Mizoguchi nói, nhìn Sukehachi đăm đăm. -"Lãnh Chúa ban lệnh là phải tức khắc cử người đến nhà Tonomura xử phạt cho hắn vừa lòng. Cũng tất nhiên thôi, bởi hắn đã không tuân thủ phán quyết khoan dung của Lãnh Chúa mà..."
    -"...."
    -"Nói đến đây, hẳn là anh đã đoán ra được rồi chứ? Các trọng thần đã bàn nhau và kết quả là đồng ý chọn anh làm người đi xử phạt đấy".
    -"Xin ngài chờ cho một chút!"
    Sukehachi thốt lên. Anh cảm thấy lông tóc dựng ngược cả lên. Tonomura Yashichiro chẳng phải chỉ là trưởng tổ, ông ta còn là kiếm khách nổi tiếng nữa. Kiếm sĩ thứ thiệt chứ chẳng phải là thứ tầm thường cỡ Koda Toyotaro.
    -"Hẳn ngài cũng rõ Tonomura là kiếm khách nổi tiếng của môn phái Jikishin. Tiện nhân thì..."
    -"Ta hiểu, ta hiểu!". Mizoguchi nói, mặt thoáng nụ cười. -"Chính vì vậy mới chọn anh đấy. Mùa xuân vừa rồi, chẳng phải anh đã thi triển kiếm pháp tuyệt luân mà đánh ngã con nhà Koda đấy sao?".
    -"...."
    -"Phiên trấn cũng chẳng phải bảo anh làm không công đâu. Việc này đầu xuôi đuôi lọt thì anh sẽ được tăng bổng lộc. Ta tính ra anh sẽ được tăng lương không chỉ cỡ 5, 10 hộc mà thôi đâu đấy".
    Mizoguchi nhìn Sukehachi chăm chú, rồi có lẽ hiểu là anh vẫn còn ngần ngừ, ông đột ngột đổi sang giọng uy hiếp:
    -"Nếu anh cứ khăng khăng không chịu, thì ta cũng có cách khác. Con nhà Koda vẫn còn ù tai chưa khỏi đấy. Cứ xét là anh đấu kiếm vì tư thù, thì chẳng những không được tăng bổng lộc mà anh còn bị giảm lương bổng nữa đấy nhé!"

    Từ tư dinh quan Gia lão về đến nhà, Sukehachi dòm vào bếp, hỏi:
    -"Bà cụ ơi! Có biết búi tóc võ sĩ không nào?"
    Đã nhận chịu làm người đi xử phạt Tonomura thì phải tắm rửa sạch sẽ, búi tóc đàng hoàng mới được.
    -"Ngày xưa đã có làm rồi nhưng về sau này thì không làm được nữa".
    Bà già này chẳng làm gì được cả nhỉ! Sukehachi suy nghĩ lung lắm, cuối cùng chợt nảy ra một ý.
    -"Thế bà có lần đã đến nhà Iinuma ở xóm Tachibana rồi chứ gì?"
    -"Vâng".
    -"Vậy thì bà đi gấp đến nhà ấy, mời cô Hatsu nhà Iinuma đến đây ngay cho ta. Hẳn là cô ấy chịu đến mà. Đi nhanh lên, nhưng coi chừng vấp ngã đấy!".

    Bà Okane đi rồi, Sukehachi ra giếng lấy nước vào tắm rửa và gội tóc cẩn thận.
    Quả như Sukehachi đã đoán, chưa tới một giờ sau, Hatsu đã vội vàng đến nhà anh. Nghe anh kể sự tình, Hatsu kinh ngạc lắm, nhưng sau đó cũng im lìm giúp anh thay áo, và búi tóc võ sĩ cho anh.
    Sukehachi chợt nảy ra ý muốn nhắc lại chuyện hôn nhân, có lẽ vì thấy dáng điệu Hatsu bình tĩnh mà nhanh nhẹn chu tất mọi việc trong nhà như thế, khiến anh thấy ra được hình ảnh ấm cúng của gia đình, dù chỉ trong thoáng chốc. Anh cảm thấy chỉ cần có Hatsu ở đấy là chung quanh anh như ấm cúng hẳn lên. Và anh càng thấm thía nỗi cô quạnh của cảnh đời đàn ông goá vợ.
    -"Trước đây thì anh Tomonojo đã có nói...". Mắt nhắm lại, tóc đang được búi lên, Sukehachi đột ngột mở lời. Anh cảm thấy hạnh phúc đang bao phủ toàn thân. -"Và chỉ cần cô Hatsu cũng ưng thuận, thì tôi mong được rước cô về nhà này... Cô nghĩ thế nào?".
    Bàn tay đang bận rộn búi tóc anh chợt ngừng lại. Nhưng rồi Hatsu vẫn im lìm búi tóc tiếp. Một lúc lâu sau, cô mới nói:
    -"Phải chi anh nói chuyện ấy sớm một chút thì tốt biết bao nhiêu!"
    -"Hà?..."
    -"Mới đây, đã định xong việc nhân duyên với người khác rồi..."
    -"Ủa?".
    Sukehachi thốt lên. Như đột nhiên thức tỉnh, mở choàng mắt ra, anh cảm thấy hổ thẹn đến không chịu nổi, vì anh đã chỉ biết nghĩ cho mình, không để ý gì đến chuyện người khác cả.
    -"Thế thì xin lỗi cô, tôi đã thất lễ quá. Vậy ra, nhờ cô giúp cho như thế này thì không nên nhỉ?"
    -"Không, có sao đâu. Được anh gọi đến, em cũng vui mừng lắm chứ".
    -"Nhưng mà, xin chúc mừng cô...".
    -"Không, cũng chẳng phải là chuyện gì đáng mừng lắm đâu". Hatsu nói nhỏ nhẹ. -"Đằng kia đã có hai con, mà tuổi cũng đã quá..."

    Lời nói của Hatsu còn lấp ló ẩn hiện trong tâm trí Sukehachi, ám ảnh mãi khi anh bước qua các xóm làng, đến nhà Tonomura ở xóm Takajo. Chợt nghĩ mình đã làm một việc sai lầm vô cùng trọng đại làm dang dở cả đời mình lẫn đời cô Hatsu, anh đắm chìm vào nỗi u uất trầm lắng.
    Thế này thì không được! Sukehachi lắc mạnh đầu. Anh gắng xua đi hình ảnh huyễn ảo của Hatsu trong trí anh. Suy nghĩ lung lắm, nhưng chân anh vẫn không ngừng nghỉ, cứ bước nhanh đến nhà trưởng tổ Tonomura.
    Cổng ngoài mở toang. Dẫm chân lên một bậc cấp bằng đá, Sukehachi đứng ngay trước cổng, thấy bên trong nhà trống hoang. Hẳn là mọi người trong gia tộc Tonomura đã dọn dẹp sẵn, sáng nay đã rời nhà đi về hướng biên giới rồi, chỉ còn một mình Tonomura trong nhà chờ người xử phạt đến mà thôi.

    Thế nhưng cũng chẳng thấy bóng dáng Tonomura đâu, căn nhà trống vắng im lìm.
    Sukehachi mở dây áo khoác, bật đốc kiếm, bước qua ngưỡng cửa to rộng, vào bên trong. Cứ thế, vừa nghe ngóng động tĩnh, Sukehachi vừa bước về phía cửa chính của căn nhà.
    Thình lình vang lên tiếng động lớn, cổng đóng sập lại.
    Sukehachi lập tức quăng áo khoác, quay người lại.
    Một người đàn ông khuôn mặt khôi ngô, hiên ngang, vừa dõi mắt trông chừng Sukehachi vừa cài then cổng lại.
    -"Nào, thế này thì chẳng còn ai xen vào được, tha hồ mà chém nhau nhé!".
    Người đàn ông vỗ hai tay vào nhau, nói xong, nhìn Sukehachi chăm chú. Tuy không to đến như Koda Toyotaro nhưng thân người ông ta cũng thật cao to. Hẳn là đã quá 40 tuổi. Mắt tròn, mũi to đùng như thể tự hào rằng mũi người ta dùng để ngửi thì phải to như thế mới được! Người ta gọi là mũi sư tử đấy. Và môi mỏng, miệng mím lại thành một vệt ngang. Dung mạo Tonomura Yashichiro mà Sukehachi thấy lần đầu là như thế.

    Nghe nói Tonomura trước khi nối nghiệp nhà đã là kiếm khách tập luyện trên mười năm trong môn phái Jikishin (Trực tâm) trên Edo. Lúc trở về xứ thì chẳng có ai địch nổi ông ta cả. Nhưng đấy là chuyện hơn mười năm về trước rồi.
    Sukehachi đang nghĩ như thế thì Tonomura nói vọng đến:
    -"Phiên trấn đã chọn mà gửi đến thì hẳn phải là tay kiếm cừ khôi rồi, nhưng ta không biết tên anh. Xưng tên đi!".
    -"Ibe Sukehachi".
    -"Ibe à? Ha Ha! Thế ra anh là con của Tozaemon đấy à?"
    Sukehachi đáp: Phải. Tonomura nhìn anh chòng chọc. Im lặng nhìn đăm đăm như thế một hồi lâu, rồi ông ta gật đầu, ngửa mặt lên trời mà cười như vui mừng lắm.
    Tonomura sửa lại dây buộc vai áo rồi nói:
    -"Nào, phái kiếm Katori, bắt đầu đi!"

    Sukehachi rút kiếm ra, tức thì tấn thế Thanh nhãn. Lúc đó, anh mới chú ý đến phục trang của Tonomura. Tonomura Yashichiro mặc quần cộc xứ Iga, chân mang giày rơm. Có vẻ chẳng phải để chém chết Sukehachi mà chạy trốn khỏi thành. Hiểu ra là đối phương chỉ chuẩn bị như thế để tử đấu mà thôi, Sukehachi cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng. Đối thủ trong trận tử đấu này đã hiện hình kiếm quỷ rồi. Tiếng cười lúc nãy hẳn là vì ông ta thoả mãn có được đối thủ xứng đáng nơi người đến xử phạt là Sukehachi. Sukehachi cũng hiểu đối thủ là tay kiếm khó thắng, đúng như mình đã dự đoán.
    Kiếm quỷ ấy đứng cách anh khoảng 10 gian (chừng 18 mét) tấn kiếm theo thế Bát song [6], nhưng rồi chuyển sang thế tấn vác kiếm trên vai mà phóng tới như gió lốc. Lối chạy nhanh vừa giữ khoảng hông an định thật tuyệt vời.
    Sukehachi bấm chặt chân tấn chỉ mang bao chân, chờ nhát kiếm chém tới. Cuộc tử đấu dai dẳng đã bắt đầu.

*
    Qùy gối, chống tay xuống đất, đầu gục xuống giữa hai vai, Sukehachi hồng hộc thở đến rung chuyển toàn thân. Anh thở hồng hộc tưởng chừng tim sắp nổ banh ra, một hồi lâu sau mới dần dần trở lại bình thường.
    Sukehachi ngẩng đầu lên, nhìn Tonomura đã ngã ra đấy. Trong khoảng hai giờ họ đấu chém nhau, mặt trời đã nghiêng đi, rồi lẫn vào sau đám mây mỏng. Thân thể Tonomura nằm sóng sượt không động đậy trên nền đất bắt đầu phủ màu hoàng hôn.
    Sukehachi đứng dậy, lê chân đã hầu cạn hết sức lực đến gần xác Tonomura, xác nhận Tonomura đã chết hẳn, rồi nhét mảnh giấy anh đã lấy trong túi ra lau máu trên lưỡi kiếm, vào ống tay áo của xác chết. Đúng theo nghi thức nhát kiếm ân huệ kín.
    Mặt trời ló qua khe hở giữa đám mây chiếu những tia nắng yếu ớt mùa thu xuống xác chết, soi sáng màu xương trắng dưới vết thương sâu trên vai.

    Sukehachi cũng bị thương nơi cánh tay và đùi. Anh cởi dây buộc ống tay áo ra, buộc chặt phía trên vết thương ở đùi, rồi nhặt áo khoác lên, ra đi. Chui qua cửa hông, ra bên ngoài thì có người đàn ông quấn khăn đầu, buộc ống tay áo sẵn từ trong bóng tối im lìm, bước ra hỏi:
    -"Thưa, xong cả rồi đấy ạ?"
    Giọng nói lễ độ, có vẻ là thuộc hạ của quan Kiểm sát.
    Sukehachi đáp: -"Xong rồi".
    -"Cổng đóng kín, sau đó không nghe được tiếng gì cả nên tôi lo quá. Mà ngài cũng đã bị thương đấy".
    -"Chỉ là mấy vết xước thôi. Việc thu dọn thì giao cho anh đấy".
    Sukehachi nói, rồi bước đi. Người đàn ông nói vói theo: -"Xin bảo trọng" rồi đưa tay lên ra hiệu. Tức thì, một đội cầm thương bước ra từ bên hông nhà Tonomura theo cửa hông lúc nãy Sukehachi đi ra mà lũ lượt theo nhau chui vào bên trong.
    Sukehachi bước đi, các vết thương càng hành đau nhức mãnh liệt. Có vẻ máu tươi lại rịn ra từ các vết thương ấy. Anh chọn đường vắng người mà bước đi một hồi.

    Mặt trời đã khuất bóng, màu đêm mờ mờ phủ xuống xóm nhà. Sukehachi nghĩ: phải nhờ bà cụ nấu nước nóng mà lau rửa các vết thương mới được. Sống một mình, thật khó khăn khi phải nhờ cậy ai. Hay có lẽ nên đi y sĩ ngay thì tốt hơn. Nhưng anh lại chẳng biết y sĩ nào ở đâu. Cô Hatsu chắc biết, nhưng cô hẳn đã về nhà cô ấy rồi.
    Lúc đưa anh ra đi, cô đã nói, giọng nhỏ nhẹ:
    -"Em không đợi anh về được. Xin chúc anh may mắn và thành công".
    Sukehachi nghĩ: tất nhiên như thế rồi, cô Hatsu là người dưng hoàn toàn mà.
    Đột nhiên, nỗi cô độc mãnh liệt hơn bao giờ hết tràn ngập lòng anh, đến làm toàn thân anh như co rút cả lại. Sukehachi nghiến răng chịu đau cả thân xác lẫn tâm hồn, mà tiếp tục bước đi. Không để ý là bước chân anh đã có phần lạng quạng vì phát nhiệt toàn thân.
    Cuối cùng lê bước được đến xóm nhà mình, Sukehachi dõi mắt tìm cổng nhà thô sơ quen thuộc của mình. Anh chợt thấy trước cổng, trên đường đêm mờ tối có dáng người đen thẫm đang đứng im. Sukehachi dừng chân đứng lại.

    Bóng đen bước lại gần. Tiếng guốc vang trong đêm. Khuôn mặt trắng ngà ấy chính là cô Hatsu. Sukehachi ngỡ là mình đang nhìn một bóng hình hư ảo.

    Phạm Vũ Thịnh dịch
    Sydney 02/09-07/10

Chú thích:
[1] Phủ Chúa Tokugawa đặt ra lệ Sankinkotai (Tham cần giao đại) bắt các Lãnh Chúa (Daimyo) mỗi năm phải đổi chỗ trú ngụ, năm này ở Edo, năm sau ở lãnh địa của mình, để tránh bớt âm mưu phản loạn.
[2] Gia lão: Karo, cấp quan cao nhất, giúp Lãnh Chúa cai trị phiên trấn.
Trung lão: Churo, cấp quan cao thứ nhì, ngay sau cấp Gia lão.
[3] Hộc: Koku, đơn vị đo lường, khi dùng để tính bổng lộc của võ sĩ thì khoảng 150 kí gạo, khi dùng để tính dung tích thuyền bè thì khoảng 180 lít.
[4] Edo: trung tâm cai trị của Phủ Chúa Tokugawa, bây giờ là Tokyo.
[5] Thanh nhãn: Seigan, thế tấn giương thẳng kiếm, chĩa mũi kiếm vào mắt đối thủ.
[6] Bát song: Hasso, thế tấn giương kiếm lên trên vai, lưỡi kiếm hơi nghiêng vào trong, làm thành một nửa chữ Bát. Tấn bên vai phải, vai trái, thành hai (Song) nửa của chữ Bát.

Ghi chú của người dịch:

Truyện ngắn "Hoito Sukehachi" của Fujisawa Shuhei, được dịch từ nguyên tác là truyện thứ 8 trong tập truyện "Tasogare Seibee - Võ sĩ hoàng hôn" ra mắt độc giả năm 1988, bản bỏ túi do nhà Shincho Bunko tái bản lần thứ 28 tháng 5 năm 1999.

Nội dung truyện ngắn này đã được đạo diễn Yamada Yoji (nổi tiếng với loạt phim "Otoko wa tsurai yo - Đàn ông khổ lắm" 48 cuốn từ năm 1969 cho đến 1996) nhập chung với truyện ngắn "Tasogare Seibee - Võ sĩ hoàng hôn" trong cùng tập truyện (thêm vài chi tiết từ truyện ngắn "Takemitsu shimatsu" cũng của Fujisawa Shuhei) để quay thành phim "Tasogare Seibee - The Twilight Samurai - Võ sĩ hoàng hôn" năm 2002 đoạt được 12 giải thưởng của Hội đồng Phim ảnh Nhật Bản.
.    
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sun Dec 10, 2017 12:08 am



Xem phim Kiếm Sĩ Cơ Hàn
The Twilight Samurai Vietsub (2002)


HD Phụ đề 129 phút
Đạo diễn: Yôji Yamada
Diễn viên: Hiroyuki Sanada, Rie Miyazawa, Nenji Kobayashi
Thể loại: Võ Thuật - Kiếm Hiệp
Quốc gia: Nhật Bản

http://bomtan.org/xem-phim/kiem-si-co-han-6566/full.html

http://phimnhanh.com/xem-phim/kiem-si-co-han-vietsub-the-twilight-samurai-vietsub-2002-2002#xem

Bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn nổi tiếng Fujisawa Shuhei với nhân vật chính là chàng samurai Iguchi Seibei. Iguchi Seibei là một samurai thứ cấp sống trong thời đại đầy biến động của xã hội Nhật Bản đầu thế kỷ thứ 19. Anh mang trên vai gánh nặng gia đình gồm người vợ ốm yếu, bà mẹ già và hai con nhỏ.
Vợ mất đi, Iguchi phải làm việc thật cật lực để trả nợ nên không có thời gian chăm sóc bản thân và giao lưu vời bạn bè, vì vậy, anh bị mang biệt danh chàng samurai cơ hàn. Tomoe, một cô gái xinh đẹp và đầy nghị lực với mong muốn được chia sẻ cuộc sống với anh nhưng Iguchi đã từ chối.
Mọi chuyện thay đổi kể từ khi Iguchi bị bắt buộc phải đi quyết chiến với một samurai bị coi là phản nghịch. Đó là một kiếm sĩ cô đơn có cùng cảnh ngộ với Iguchi, anh đứng trước một lựa chọn sinh tử. Cuối cùng, người bạn mới quen này đã giúp anh một lối thoát và có được một cuộc sống hạnh phúc với Tomoe.



Truyện ngắn "Hoito Sukehachi" của Fujisawa Shuhei, được dịch từ nguyên tác là truyện thứ 8 trong tập truyện "Tasogare Seibee - Võ sĩ hoàng hôn" ra mắt độc giả năm 1988, bản bỏ túi do nhà Shincho Bunko tái bản lần thứ 28 tháng 5 năm 1999.
Nội dung truyện ngắn này đã được đạo diễn Yamada Yoji (nổi tiếng với loạt phim "Otoko wa tsurai yo - Đàn ông khổ lắm" 48 cuốn từ năm 1969 cho đến 1996) nhập chung với truyện ngắn "Tasogare Seibee - Võ sĩ hoàng hôn" trong cùng tập truyện (thêm vài chi tiết từ truyện ngắn "Takemitsu shimatsu" cũng của Fujisawa Shuhei) để quay thành phim "Tasogare Seibee - The Twilight Samurai - Võ sĩ hoàng hôn" năm 2002 đoạt được 12 giải thưởng của Hội đồng Phim ảnh Nhật Bản.

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Tue Dec 19, 2017 3:02 pm



Xem Phim Kiếm Sĩ Mù
The Blind Swordsman: Zatoichi (2003)


Quốc gia: Phim Nhật Bản
Thể loại: Phim Hành Động
Thời lượng: 116 phút
Trạng thái: HD VietSub
Diễn viên: Takeshi Kitano, Tadanobu Asano, Yui Natsukawa
Đạo diễn: Takeshi Kitano

Xem Phim:
http://bomtan.org/phim-kiem-si-mu-17259.html

Phim là một trong những câu truyện kể về Zatoichi, một võ sĩ đạo mù nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản.
Lần này trong khi phiêu bạt ông đã gặp hai chị em xinh đẹp Osei và Okinu, những người đang lần theo dấu vết của một băng cướp đã sát hại gia đình khi họ còn nhỏ.
.


Được sửa bởi NTcalman ngày Sun Jan 07, 2018 12:06 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 348
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sun Dec 24, 2017 8:36 pm




Xem phim Vườn Thủy Sinh Satoyama Nhật Bản
Satoyama Japans Secret Watergarden (2012)

   
    Quốc gia:Phim Nhật Bản
    Thể loại: phim tư liệu
    Thời lượng: 2x 52 Phút
    Trạng thái: SD VietSub


http://bomtan.org/xem-phim/vuon-thuy-sinh-satoyama-5604/full.html

* Satoyama I:
https://www.youtube.com/watch?v=pII_2VbgheI

* Satoyama II:
https://www.youtube.com/watch?v=Q2WshkiSFpE

Trong gần 2000 năm, một lối sống độc đáo đã phát triển thịnh vượng quanh bờ hồ nước ngọt lớn nhất Nhật Bản – Hồ Biwa – được bồi đắp bởi hơn 500 con sông chảy từ vùng rừng rậm trên đảo Honshu. Để khai thác nguồn nước dồi dào trên núi, nhiều thế hệ nông dân đã biến vùng chân đồi xung quanh hồ thành một mê cung gồm các cánh đồng nhiều tầng được xếp đặt rất tài tình.

Sự cân bằng hài hòa giữa con người và tự nhiên được phản ánh qua tên tiếng Nhật của trong khu sinh thái nhân tạo này: Satoyama. Bộ phim nói về Satoyama, một khu vườn thủy sinh nổi tiếng của Nhật Bản. Nơi con người sống hòa mình với thiên nhiên. Nơi đây,người dân vẫn giữ các phong tục từ ngàn xưa, cùng nhau bảo vệ môi trường và chia sẻ thiên nhiên với các loài vật...

Bộ phim gồm 2 phần, được sản xuất vào năm 1999 và 2004.
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sat Dec 30, 2017 12:12 am




Xem phim 47 Lãng Nhân - 47 Ronin

http://bomtan.net/xem-phim/47-lang-nhan-999/full.html
 
Diễn viên: Keanu Reeves, Hiroyuki Sanada, Rinko Kikuchi
Thể loại: Phim Hành động
Thời lượng: 108 phút
Năm phát hành: 2013



Câu chuyện về 47 Ronin (những võ sĩ Samurai vô chủ) từ lâu được coi là một “huyền thoại quốc gia” của Nhật Bản, thể hiện cho danh dự, lòng trung thành và tinh thần võ sĩ đạo. Truyền thuyết kể về nhóm võ sĩ vào đầu thế kỷ 18 mất đi vị chủ tướng Asano.

Vị chủ tướng này bị ép phải thực hiện seppuku (nghi thức tự mổ bụng) vì bị buộc tội tấn công viên quan chức Kira do bị ông này nhục mạ. 47 vị lãng nhân kiên trì lên kế hoạch tìm cách báo thù cho chủ tướng trong nhiều năm. Năm nay, Hollywood quyết định đưa câu chuyện này lên màn ảnh rộng qua phiên bản mới kết hợp thêm các yếu tố siêu nhiên, ma quỷ.

47 Ronin vẫn kể về cuộc phiêu lưu đầy sóng gió của các lãng nhân sau khi mất đi chủ tướng Asano. Họ lên đường vượt nghìn trùng tìm kiếm sự giúp đỡ của Kai (Keanu Reeves) – võ sĩ mang hai dòng máu Anh – Nhật từng bị họ từ chối gia nhập đội võ sĩ. Những Ronin này phải đối mặt với thế lực hắc ám, ma quỷ, phù thủy đầy quyền năng luôn tìm cách hãm hại họ. Kai cũng phải tranh đấu để bảo vệ cho người anh yêu là tiểu thư Mika – con gái chủ tướng Asano – đang nằm trong tay lãnh chúa Kira độc ác.


Huyền thoại về 47 Samurai trả thù và tự tử tập thể



Lòng trung thành, sự dũng cảm của 47 Samurai đã thể hiện niềm tự hào tinh thần võ sĩ đạo của dân tộc Nhật Bản.

Samurai là niềm tự hào của cả dân tộc Nhật Bản. Tài năng, sự dũng cảm và lòng trung thành của họ là điều không phải bàn cãi. Dưới đây là một trong nhiều câu chuyện hay nhất nói về những phẩm chất ấy của họ - câu chuyện về 47 lãng nhân, một huyền thoại quốc gia của xứ sở hoa anh đào…

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sat Jan 06, 2018 6:36 pm



Niềm Tin
Akutagawa Ryunosuke
Người dịch: Nguyễn Nam Trân


Lời người dịch:

Năm 1919, khi viết Bisei no Shin (Chữ tín của Vĩ sinh) mà ở đây chúng tôi dịch là Niềm Tin, lần đầu tiên, người ta chợt nhận ra Akutagawa không giật giây nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của mình như vẫn thường làm mà để cho chính nhân vật giật giây ông.

Nhân vật Vĩ sinh đã thấy trong tác phẩm của Trang Tử cũng như trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Vĩ sinh không ai khác hơn là anh chàng hẹn gái dưới chân cầu, gái không tới, thủy triều lên, anh ta vì giữ chữ tín không bỏ đi nên chết đuối. Ông Tư Mã theo thầy Khổng nên khen “Phải giữ cho được chữ tín như thế!”, ông Trang mắng “Chết vì chữ tín kiểu đó là ngu!”.

Chữ tín là qui phạm đạo đức do xã hội đặt để nhưng niềm tin là tình cảm tự phát của cá nhân. Hơn hai nghìn năm sau, Akutagawa mở lại “hồ sơ” của Vĩ sinh và trình bày cách nhìn mới của ông về anh chàng “ngu ngốc và dại gái” nầy, nhưng không đưa ra chút phán đoán có tính đạo đức nào. Hãy xem “thuật luyện kim” của Akutagawa trong hai trang giấy ngắn ngủi sau đây.

Xuất xứ của nguyên tác là tập 29 nói về Akutagawa trong Văn Học Nhật Bản Toàn Tập (A Treasury of Japanese Literature) của nhà Chuô-Koron (ấn bản 1964). Ngoài ra, người dịch cũng học tập phong cách dịch của bà Edwige de Chavanes qua bản Pháp văn La Foi de Wei Cheng, in trong Les Noix, La Mouche, Le Citron, tập truyện dịch các tác giả Nhật Bản đời Taishô (1912-26) do nhà Le Calligraphe (Paris) xuất bản năm 1986.    
                       
***


Đã một đỗi lâu, Vĩ sinh đứng lặng dưới chân cầu, đợi người con gái đến.
Ngẩng lên nhìn hàng lan can cao của chiếc cầu đá có những sợi giây leo buông chùng, chàng thấy giữa khe hở chốc chốc có bóng người qua lại, tay áo trắng của họ lay động theo làn gió dưới ánh nắng lấp loá của buổi chiều tà. Thế nhưng người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh vừa huýt sáo nhè nhẹ, thong dong đưa mắt nhìn quanh bãi sông dưới chân cầu.

Bãi bùn vàng nhạt dưới gầm cầu chỉ rộng có mươi thước dư là đã tiếp giáp với mặt nước. Có lẽ vùng lau sậy trên bờ nước là nơi cư ngụ của lũ cua lớn hay sao mà có vài cái lỗ tròn thật to. Mỗi lần sóng vỗ vào chỗ đó là nghe thoảng như có tiếng óc ách. Thế nhưng người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh bắt đầu cảm thấy sốt ruột, mới tản bộ xuống phía bờ nước và đưa mắt ngắm suốt dãi sông chiều không có lấy một bóng thuyền.

Lau sậy trên dòng mọc xen khít. Chẳng những thế, đôi chỗ trong rặng lau lại có vài chòm liễu nước với tán lá hình tròn xanh tốt. Vì một phần dòng sông luồn vào cả đám cây cối nên mặt sông tưởng như hẹp lại chỉ còn là giãi nước trong leo lẻo in mỗi một áng mây trời như vân mi ca, lượn lờ len giữa ngàn lau. Thế nhưng, người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh không men theo bờ nước nữa. Lần nầy dưới vạt nắng chiều, chàng dạo đôi chỗ trên cái bãi bùn không mấy rộng, lắng tai nghe động tĩnh chung quanh.

Trên cầu, chẳng biết tự lúc nào, đã ngớt người qua lại. Không còn nghe tiếng chân đi, tiếng vó ngựa hay tiếng bánh xe nữa. Có chăng là tiếng gió, tiếng lau lách, tiếng nước chảy, thế rồi không biết từ đâu vọng ra vài tiếng cò xám gáy the thé. Vĩ sinh vừa dừng chân chưa kịp nghĩ ngợi thì đã thấy thủy triều dâng lên không biết tự lúc nào. Màu nước liếm lên bãi bùn vàng đã ánh lên gần hơn khi nãy. Thế nhưng người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh chau mày lấy làm lạ. Dưới chân cầu tối mờ mờ, chàng bắt đầu nhanh chân bước lên bãi. Trong lúc đó thì thủy triều bò dần từng phân một, tấc một. Cùng một lúc, mùi rong và mùi nước dậy lên, gây lạnh trên da thịt. Nhìn phía trên thì nắng chiều đã tắt lịm, chỉ còn bóng hàng lan can của chiếc cầu đá cắt thành những vệt đen kịt trên nền trời hoàng hôn xanh mờ. Thế nhưng, người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh đứng thừ người một chỗ.

Nước sông đã bắt dầu thấm gót giày.

Nước lóng lánh một thứ ánh sáng lạnh lẽo thư ánh thép, bắt đầu tràn lan dưới chân cầu. Thế rồi, chắc chắn chỉ trong khoảnh khắc thôi, mực nước của ngọn triều đầy sẽ ngập hết đầu gối, đến bụng rồi cả ngực. Mới nghĩ vậy mà mực nước đã dâng thêm lên làm hai ống chân chàng cũng bị nước bủa vây. Thế nhưng, người con gái vẫn chưa thấy tới.

Vĩ sinh cứ đứng dưới nước, chỉ còn nương vào một tia hy vọng mong manh, bao nhiêu lần ngước nhìn lên không trung phía chiếc cầu.

Phía trên làn nước đang bao phủ thân chàng, là màu chiều từ lâu đã trải rộng ngang vòm trời. Từ những hàng liễu, hàng lau xa gần, chỉ nghe vọng lại tiếng lá xào xạc xuyên qua làn sương đục. Một con cá, có lẽ cá vượt, vụt phóng người khoe cái bụng trắng ngay trước mũi Vĩ sinh. Trong khoảng không trung mà con cá vừa nhảy lên, lúc đó đã thấy tản mác dăm vì sao lấp lánh. Hình ảnh của mấy sợi giây leo buông trên thành cầu đá rồi cũng chìm lẫn vào bóng tối. Thế nhưng, người con gái vẫn chưa thấy tới.

Đến nữa đêm, khi ánh trăng đã ngập tràn một bờ đầy lau liễu suốt cả giãi sông, làn nước và làn gió nhẹ cùng thì thào với nhau, dịu dàng dìu thi thể của Vĩ sinh từ dưới chân cầu đi về phía biển. Không chừng vì hồn của Vĩ Sinh ao ước nhìn lại ánh sáng của vầng trăng đang treo giữa không gian tịch mịch nên nó đã thoát ra khỏi thể xác để bay lên bầu trời mờ ảo. Như thể, cả mùi nước và mùi rong cũng lặng lẽ rời khỏi mặt sông một lượt cùng về với vầng sáng trên cao.

Rồi cách đó một vài nghìn năm, hồn của Vĩ sinh sau khi lưu lạc qua không biết bao nhiêu đời kiếp, lại phải chịu số phận làm người thêm lần nữa. Linh hồn đó đã đến ngụ trong thân xác của tôi. Cho nên tuy tôi sống giữa thời hiện đại nầy mà chưa làm được dẫu một việc gì có ý nghĩa. Hết sáng lại chiều, tôi như anh chàng đắm chìm trong mơ mộng mông lung, chỉ sống để trông mong một điều kỳ diệu chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi là Vĩ sinh, dưới chân cầu trong ánh sáng nhạt buổi hoàng hôn, mãi mãi đợi chờ bóng một người yêu vĩnh viễn không bao giờ tới.

(Năm Taishô thứ 8 (1919), tháng 12)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed Jan 17, 2018 10:54 am



SỢI TƠ NHỆN
Akutagawa Ryunosuke (1892-1927)


Akutagawa Ryunosuke (Giới Xuyên Long Chi Giới) sinh ở Tokyo ngày 01-3-1892, uống thuốc độc quyên sinh và mất ở Tokyo sáng sớm ngày 24-7-1927. Trong ba mươi lăm năm, ông hầu như sống hoàn toàn ở Tokyo, khoảng mười tám năm ở nhà trường và chừng mười một năm hầu như ở bàn viết với độ 200 truyện ngắn.

Theo truyền thuyết, sở dĩ cha ông (Niihara Toshizo) đặt tên ông là Long Chi Giới (giữa loài rồng) vì ông sinh vào giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn, năm Nhâm thìn.

Lúc còn thơ, ông được đem giao cho người bác (Akutagawa Shodo) không con nuôi dưỡng. Mới học lớp Ba, Ryunosuke đã tìm được tập phác thảo của Tokutomi Roka, nhan đề Shizen to Jinsei (Tự nhiên tô nhân sinh – Thiên nhiên và con người). Ông đọc say mê và từ đó có lòng ham thích văn chương. Ông được giới thiệu vào trường trung học ở Tokyo không phải qua thi tuyển, rồi tốt nghiệp hạng danh dự và vào Đại học Hoàng gia Đông Kinh (Tokyo). Tại đây, ông học văn chương Anh, tốt nghiệp năm 1916. Ông đã khước từ chức giáo sư tại Đại học Hoàng gia Cửu Châu (Kyushu). Cửa nhà ông luôn luôn treo bảng cáo bệnh để tạ khách, vì ông muốn dành nhiều thời gian đọc sách.

Năm 1914, ông đăng truyện ngắn đầu tiên trên tạp chí Shinshicho, nhưng không được chú ý lắm. Năm sau (1915), ông đăng hai truyện ngắn trên tạp chí Teikoku Bungaku, mà truyện thứ hai nhan đề Rashomon (Lã Sinh Môn) nổi tiếng gần như gắn liền với tên tuổi ông (truyện này còn được quay thành phim). Tháng 5-1917 ông xuất bản tập truyện đầu tay, nhan đề chung cho cả tập là Rashomon.

Truyện Sợi tơ nhện được ông đăng trên một tạp chí dành riêng cho thanh niên. Năm 1930, Glenn W. Shaw chọn trong 200 truyện của A. Ryunosuke, tuyển lấy 11 truyện và cố dịch sát nguyên tác, rồi giao cho nhà xuất bản Hokuseido ấn hành với nhan đề Tales grotesque and curious (Truyện truyền kỳ). Sợi tơ nhện (The spider’s thread) là truyện thứ sáu trong tập này, được kể bằng giọng văn giản dị, nhưng bố cục rất có chủ ý. Truyện thể hiện một trong những triết lý căn bản của đạo Phật là Nghiệp (Karma). – LAD

I.

Hôm ấy đức Phật một mình nhẹ gót bên bờ ao sen ở cõi Niết bàn.
Những đóa sen rộ nở trong ao, tất cả đều trắng ngần như châu ngọc, và ở tâm hoa cánh nhụy vàng không ngừng tỏa hương thơm bát ngát khung trời.

Ở cõi Niết bàn bấy giờ là buổi sáng.

Giờ đây đức Phật đứng yên lặng bên bờ ao, và qua một khoảng hở giữa đám lá che phủ mặt nước, Ngài chợt nhìn thấy cảnh quan ở dưới.
Bởi lẽ Địa ngục nằm ngay bên dưới ao sen của cõi Niết bàn, con sông Tam đồ [1] và ngọn núi Đao [2] có thể nhìn thấy rõ qua làn nước trong suốt như pha lê, như qua ống viễn kính.

Rồi đức Phật nhìn thấy một người tên Kandata, đang quằn quại cùng các tội nhân khác ở tận cùng Địa ngục.
Gã Kandata này là tướng cướp, xưa kia đã làm nhiều điều ác, sát sinh hại mạng và phóng hỏa đốt nhà, tuy nhiên y được ghi công đức một việc thiện. Có lần trên đường xuyên qua rừng sâu, y chú ý tới một con nhện bé nhỏ đang bò dọc theo vệ đường.
Giở chân lên thật lẹ làng, y sắp sửa dẫm chết con vật thì bất chợt nghĩ rằng: “Thôi đừng, nhỏ nhít như nó cũng có linh hồn; giết bừa nó đi thì thật xấu hổ.” Và y đã tha chết cho con nhện.

Khi nhìn xuống cõi Địa ngục, đức Phật nhớ lại cái cách Kandata tha mạng con nhện. Và đức Phật nghĩ rằng, nếu có thể được, để báo đền cho việc thiện ấy, Ngài muốn đưa y thoát ra khỏi Địa ngục. May sao, lúc nhìn quanh, Ngài bắt gặp một con nhện của cõi Niết bàn đang giăng sợi tơ như bạc xinh đẹp trên đám lá sen ánh một màu thanh bình yên ả.
Đức Phật nhẹ nhàng nâng lấy sợi tơ nhện trên tay. Và Ngài thả cho sợi tơ buông thẳng xuống tận cùng Địa ngục xa tít bên dưới, xuyên qua khoảng trống giữa những đóa sen trắng ngần như ngọc.

II.

Kandata đang ngụp lặn cùng các tội nhân khác trong ao Máu [3] ở nơi tận cùng Địa ngục.

Khắp chốn tối đen như mực, và thỉnh thoảng khi thoáng có gì hiện lên trong chỗ tối om ấy, hóa ra lại là ánh chớp lập loè của đầu mũi gươm, mũi kiếm trên ngọn núi Đao rợn người, thế nên hãi hùng khôn xiết. Hơn nữa, sự im lìm mộ địa đang ngự trị khắp nơi, và cái duy nhất thỉnh thoảng còn có thể nghe thấy là tiếng thở dài yếu ớt của các tội nhân.
Ấy bởi vì tội nhân khi xuống đến chốn này đều đã kiệt lực do muôn vạn cực hình của cõi Địa ngục và họ không còn hơi sức nào để kêu gào.
Thế nên, dù là tướng cướp dữ dằn chăng nữa, Kandata cũng ngạt thở vì máu, chẳng thể làm gì khác hơn là giãy giụa trong ao Máu như một con nhái đang giãy chết.

Nhưng thời cơ của y đã đến. Một hôm khi tình cờ ngẩng đầu lên nhìn vòm trời bên trên ao Máu, Kandata trông thấy từ trên cao, mãi tận các tầng trời thăm thẳm, thòng xuống chỗ y một sợi tơ nhện trắng như bạc, lấp loáng lờ mờ trong bóng tối âm u tịch mịch dường như thể nó cũng sợ bị người ta bắt gặp.
Nhìn thấy sợi tơ, y vỗ tay vui mừng. Nếu bám vào sợi tơ này mà leo lên đến tận chỗ nó xuất phát thì chắc chắn y có thể  thoát khỏi Địa ngục.
Và hơn thế nữa, nếu mọi sự suôn sẻ, thậm chí y còn có thể vào được cõi Niết bàn. Vậy thì y sẽ không bao giờ bị xô lên núi Đao hay đắm chìm trong ao Máu.

Ngay khi trong đầu nảy ra những ý nghĩ này, y nắm chặt lấy sợi tơ bằng cả hai tay và bắt đầu dốc toàn lực leo riết lên.
Vốn là tướng cướp, y quá đỗi thành thạo với những việc leo trèo như thế.
Nhưng Địa ngục cách Niết bàn hàng hà sa số dặm và có nỗ lực như y thì cũng không dễ gì thoát ra được. Sau khi leo được một lúc, cuối cùng y kiệt sức và không thể nhích thêm được lấy một phân.

Thế là, vì chẳng thể làm được gì khác hơn, y dừng lại dưỡng sức và đu mình vào sợi tơ, nhìn xuống, nhìn xuống tận bên dưới. Ngạc nhiên biết bao, nhờ y đã leo tận lực, ao Máu nơi y từng lặn hụp trong đó bấy giờ đã khuất chìm tận bên dưới trong bóng tối hun hút. Và ngọn núi Đao rợn người thì lấp loáng lờ mờ bên dưới y. Nếu cứ leo lên với tốc độ này, y có thể ra khỏi Địa ngục dễ dàng hơn y tưởng.
Xoắn bàn tay vào sợi tơ nhện, Kandata cười ha hả và bằng cái giọng mà y chưa hề thốt lên trong ngần ấy năm, kể từ khi xuống Địa ngục cho tới nay, y hét to: “Thành công rồi! Thành công rồi!”

Nhưng bỗng dưng y chú ý thấy rằng ở bên dưới sợi tơ nhện cơ man tội nhân khác cũng đang hăm hở leo lên theo sau y. Họ nhích lên, nhích lên, giống hệt như một đàn kiến diễu hành.
Mục kích cảnh tượng này, Kandata chỉ biết chớp chớp mắt một lúc, miệng há hốc ra một cách ngốc nghếch trong nỗi thảng thốt kinh hãi.
Sợi tơ nhện mỏng manh dường ấy, tưởng đâu chỉ với riêng một mình y thôi cũng phải đứt phựt rồi, cớ sao nó chịu đựng nổi sức nặng của cả ngần ấy thân hình kia chứ?

Nếu sợi tơ đứt phựt giữa lưng trời, thì kể cả chính y, sau bao công lao khó nhọc mới leo tới được chỗ này, y cũng sẽ phải cắm lộn đầu rơi ngược xuống Địa ngục trở lại. Nếu xảy ra sự việc như thế thì khiếp đảm quá.
Nhưng trong thời gian đó hàng trăm hàng ngàn tội nhân vẫn đang giãy giụa thoát ra khỏi ao Máu tối tăm và đang tận lực leo lên thành hàng trên sợi tơ mỏng manh lấp loáng. Nếu y không mau lẹ có hành động gì, sợi tơ chắc chắn sẽ phải đứt lìa, rớt xuống. Bởi thế, Kandata hét toáng lên:
“Nè lũ tội nhân chúng bay! Sợi tơ này là của tao. Ai cho phép chúng mày leo lên đây? Xuống đi! Xuống đi!”

Ngay đúng lúc ấy, sợi tơ nhện cho tới bấy giờ vẫn chưa có dấu hiệu gì là sẽ đứt, thình lình phựt lìa ngay tại chỗ Kandata đang đeo bám vào.
Thế là y vô phương cứu rồi. Chẳng kịp kêu lấy một tiếng nào, y cắm lộn đầu lao vút xuống rơi vào bóng tối, người y quay tít như cái bông vụ.
Sau đó, chỉ còn sợi tơ nhện của cõi Niết bàn, mỏng manh và lấp lánh, lơ lửng treo giữa khung trời chẳng ánh trăng sao.

III. 

Đứng trên bờ ao sen của cõi Niết bàn, đức Phật chăm chú theo dõi mọi sự diễn ra, và khi Kandata như một hòn đá chìm lỉm xuống đáy ao Máu, Ngài lại thong thả bước đi với nét buồn buồn trên khuôn mặt.

Hẳn nhiên trái tim lạnh lùng của Kandata không sao cứu được y thoát khỏi Địa ngục, và y đã nhận lấy sự trừng phạt đích đáng mà rơi trở xuống chốn đọa đày. Ánh mắt đức Phật bộc lộ nỗi xót thương, nhưng trong ao kia những đóa sen trắng ngần của cõi Niết bàn chẳng hề quan tâm chi những việc như thế cả.
Những đoá sen trắng ngần như châu ngọc đang đung đưa mơn man đôi bàn chân Phật. Khi hoa lắt lay qua lại, từ những cánh nhị vàng ở tâm hoa, hương thơm ngào ngạt không ngừng tràn ngập khung trời.

Ở cõi Niết bàn bấy giờ là gần trưa.

LÊ ANH DŨNG dịch
(Bà Chiểu, 21-5-1993)

Chú thích:

[1] sông Tam đồ (Tam đồ xuyên, Sanzu-no-Kawa): Con sông có ba chỗ phải vượt qua – chỗ cạn, chỗ sâu, và chỗ sâu nhất. Sau khi chết bảy ngày, hồn người chết phải vượt qua con sông này. Hồn nào xấu xa, tội lỗi nhất sẽ phải vượt sông ở chỗ sâu nhất. (Theo Japanese-English Buddhist dictionary, Daito Shuppansha – Từ điển Phật giáo Nhật-Anh, Đại đông xuất bản xã, 1965, tr. 261.)

Tam đồ còn được giảng là ba đường khổ: (1) Hỏa đồ: đường đưa tội nhân tới ngục lửa; (2) Huyết đồ: đường đưa tội nhân tới ngục máu, ở đó tội nhân xâu xé nhau như thú vật; (3) Đao đồ: đường đưa tội nhân tới ngọn núi trên đó mọi ngọn cỏ hay lá cây đều là lưỡi đao, lưỡi kiếm bén ngót. (Theo A dictionary of Chinese Buddhist terms. Buddhist culture service – Trung-Anh Phật học từ điển, Phật giáo văn hóa phục vụ xứ. Đài Bắc, Đài Loan: 1962, tr. 62.)

[2] Núi Đao (Đao sơn, Hari-no-Yama): Xem chú thích 1.

[3] Ao Máu (Huyết trì): tại ngục máu, còn gọi Huyết ô trì. (Theo Trung-Anh Phật học từ điển, tr. 221.) 
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NTcalman



Posts : 386
Join date : 13/03/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Mon Jan 22, 2018 11:10 am

.

TÍN NỮ
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


Sư trụ trì khu Thành Hạ có gương mặt y như cái nậm rượu (hyotan).

Nhà sư nói với người võ sĩ vừa bước vào sơn môn:
- Ngài có thấy đám cháy trên đường đi không?
- Có một cô gái khóc nức nở trên đường. Nàng vừa khóc vừa nói là chồng mình đã chết. Nhìn thấy mà thương.
- Ha ha ha. Tiếng khóc giả dối đấy.
- Sư nói sao ạ?
- Khóc vờ vĩnh đấy. Nàng ta rất vui mừng vì người chồng đã chết. Chắc ông ấy là người hiền lành. Có lẽ nàng ta chuốc rượu cho chồng mình say khướt rồi lấy kim đâm vào đầu ông ấy. Sau đó nàng ta châm lửa đốt nhà.
- Người ta đồn như vậy ạ?
- Không phải là những lời đồn nhảm đâu. Tiếng khóc kia...
- Tiếng khóc sao ạ?
- Con người ta không có cái tai giống Phật đâu.
- Thật thế ạ? Nếu vậy, nàng ta thật đáng ghét.

Chàng samurai trẻ tuổi đứng dậy bước ra khỏi sơn môn. Chẳng bao lâu sau, anh quay trở lại, gương mặt xanh xao.
- Hòa thượng...
- Sao rồi?
- Tôi đã chặt mụ ta làm hai mảnh.
- Ha ha ha. Ngài đã làm như vậy à?
- Nhưng khi nhìn lưỡi kiếm, tôi cảm thấy nghi ngờ lời nói của hòa thượng. Mụ ta ôm chặt cái xác chết cháy, cất tiếng khóc than. Chắp hai tay lại, mụ ta vừa cười vừa nói với tôi: hoặc anh giết tôi, hoặc là anh đến gần xác ông ấy, tôi sẽ cám ơn anh nhiều. Thà tôi chết đi còn hơn.
- Lại còn thế nữa!
- Sư nói sao ạ?
- Lúc nãy khi ngài đi qua, tiếng khóc là giả. Còn lúc ngài đến nàng ta khóc thật đấy.
- Hòa thượng là người xuất gia lại lừa dối chúng sinh sao?
- Ngài không có cái tai của Phật đâu.
- Tôi đã làm nhơ bẩn thanh gươm võ sĩ. Tôi phải làm gì với thanh gươm dơ bẩn này đây?
- Hãy làm thanh sạch thanh gươm. Rút nó ra.
- Để chém cái đầu của Hyotan à?
- Ngài sẽ lại làm bẩn nó thôi.
- Nếu vậy thì...
- Hãy đưa gươm cho tôi.
- A...

Ngay khi nhận lưỡi gươm, hoà thượng ném nó vào bia đá nơi bãi tha ma. Thanh gươm đâm một nhát vào bia đá. "Phập". Từ tảng đá, máu đỏ tuôn xối xả.
- Ya. Xa.
- Đó là máu của người đàn ông bị giết chết.
- Máu của ông ấy à?
- Máu của người đàn bà bị giết chết.
- Cái gì? Hòa thượng định dùng yêu thuật để lừa dối kẻ hèn này ư?
- Không phải yêu thuật đâu. Đó là tấm bia đá của dòng họ bị chết cháy.
Chàng võ sĩ bắt đầu thấy rùng mình.
- Hòa thượng, đây là thanh bảo kiếm gia truyền của dòng họ tôi nên...
- Tốt hơn là rút gươm ra phải không.
Chàng võ sĩ rút gươm, lập tức bia đá đổ xuống, thanh gươm gãy làm hai đoạn. Nơi tấm bia, rêu xanh phủ kín mặt đá, không hề có vết xước nào nhỏ như dấu móng tay.
- Thật kỳ lạ.

Chàng võ sĩ ngã bật xuống đất, trừng mắt nhìn lưỡi kiếm gãy. Nhà sư ung dung đi lên chánh điện.
- Đến lúc đọc kinh chiều đây.

HOÀNG LONG dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sat Feb 03, 2018 8:20 pm



Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.


Ánh sáng ban mai
Kita Morio (Nhật Bản)


- Vẫn đang đêm đấy à? Trời chưa sáng kia ư? - ông lão thở khó nhọc hỏi.
Những năm tháng đó mới dài làm sao… Thời gian kéo lê thê mới chậm chạp làm sao… Nhưng bây giờ ông lão biết rằng kết cục đã gần rồi. Ông lão đã chuẩn bị cho việc này. Thì sao, ông đã xoay xở không tồi với các trách nhiệm của bản thân mình. Một mình, nhưng không tồi. Sự thực thì cũng không hẳn là một mình.

- Bên ngoài vẫn tối à? Bóng tối vẫn chưa tan sao? - ông lão hỏi lại một lần nữa.
- Hãy chưa tan, thưa cụ. Nhưng có lẽ một giờ nữa trời sẽ sáng, - người bạn trả lời ông, mắt nhìn màn đêm đen dày đặc bên ngoài cửa sổ. - Nếu cụ không ưa bóng tối, để con châm đèn.
- Không, không cần đâu, Dziro à. Ta muốn thấy ánh sáng ban mai bằng chính mắt mình.
- Ở đây đêm dài lắm, - Dziro nói. - Nhưng với cụ hình như nó còn dài hơn, vì cụ không thích bóng tối mà.
- Chuyện vặt cả thôi, Dziro à. Chẳng qua hôm nay là một đêm đặc biệt. ở xứ sở, nơi ta chào đời, đêm nay được gọi là đêm Giao Thừa, còn buổi sáng tới sau nó là sáng Năm Mới.
- Năm Mới ư? - Dziro khàn khàn hỏi rồi im bặt.
- Phải đấy. Năm Mới. Ta biết là chú mày không hiểu điều này. Không quan trọng đâu. Ta muốn chú mày hãy lắng nghe ta… Chú mày có biết không, Dziro, mỗi năm là một cột mốc trong cuộc đời chúng ta đấy. Một năm trôi qua, năm mới đến, và chúng ta sẽ già thêm một tuổi. Và luôn luôn như vậy, cho đến khi người ta già hẳn đi, như ta đây…

Ông lão nín lặng hồi lâu. Rồi tiếp tục:
- Nhưng một dạo đã xa lắc xa lơ rồi, ta còn trẻ lắm và vui vì được già thêm một tuổi. Ta yêu một nàng… Ôi chao, chuyện mới xưa làm sao… Và nàng yêu ta… Phải, bọn ta còn rất trẻ, trẻ măng. Gần như là những đứa trẻ… Chú mày có nghe không đấy, hở Dziro?
- Vâng, con đang nghe, nhưng con không hiểu hết được.
- Chuyện đó không quan trọng, chú mày hãy cứ nghe thôi. Vậy đấy, chúng ta gần như là những đứa trẻ và vẫn chưa thể sống với nhau được. Và vì thế mà chúng ta rất muốn chóng già thêm. Và chúng ta vui khi năm cũ kết thúc, rồi năm mới bắt đầu. Mỗi lần như thế, chúng ta đều lén trốn nhà gặp nhau trong vườn và chờ mặt trời của năm mới lên.
- Mặt trời năm mới ư?
- Dziro tội nghiệp à, chú mày không hiểu gì cả, nhưng chuyện này chẳng có nghĩa lí gì hết. Chú mày hãy cứ nghe, hãy nghe thôi, Dziro à… Chú mày có biết chuyện đó thế nào không? Đầu tiên là ban đêm - trời đen như mực ấy, còn sao thì to và sáng rực rỡ. Sau đó các ngôi sao bắt đầu nhạt đi. Rồi ở phương Đông, sát đường chân trời hiện lên một dải sáng le lói, và trong lòng trở nên vui sướng hơn… Đó chính là thứ ánh sáng mà chúng ta chờ đợi mỗi lần… Và đến cuối cùng, khi các ngôi sao tắt lịm hẳn đi, rồi trên bầu trời xanh lơ nhợt nhạt xuất hiện vầng mặt trời của năm mới, chúng ta mỉm cười với nhau rồi đi về nhà.

Rồi một lần nàng nói với ta: “Mình sẽ đón mặt trời năm mới thêm lần nữa, còn sau đó sẽ được bên nhau, bên nhau mãi mãi…” Dziro này, chú mày có nghe không đấy?
- Vâng, con nghe.
Nhưng tiếng ông lão đã đứt quãng. Rồi Dziro nghe thấy một âm thanh lạ lùng - hình như ông lão khóc.
- Dziro à, chú mày không hiểu chuyện này… Chú mày sẽ chẳng hiểu gì hết đâu… Nàng đã chết…
Dziro hoang mang im lặng.
- Đó là một câu chuyện rất buồn, Dziro ạ. Rất là buồn, buồn nhất trên đời… Không có gì cay đắng hơn cái chết của người yêu hết… Nhưng chú mày không phải hiểu chuyện này… Vì thế mà ta đã đến đây. Ta chạy trốn nỗi buồn không chịu nổi. Ta đã chạy đến các vùng đất, nơi mà đêm kéo dài gần năm mươi giờ đồng hồ…
- A-a… - Dziro chợt nói. - Ánh sáng đã xuất hiện trên đường chân trời. Có lẽ bình minh đang đến.
Ông lão muốn nhỏm dậy, nhưng bị ho sặc sụa đau đớn và ngã xuống gối.
- Dziro à, hãy thứ lỗi cho ta, ta không thể tự mình được. Chú mày hãy đỡ ta dậy với.

Dziro giúp ông lão ngồi dậy.
- Cám ơn chú mày, Dziro! Chú mày đã phục vụ ta lâu và tận tụy… Phải rồi, bầu trời phía Đông hình như đã rạng lên, nhưng sương mù làm mờ mắt ta. Dziro, chú mày hãy nói ta nghe, có phải bóng tối đang tan không?
- Vâng.
- Trên bầu trời đã lấp lánh những tia nắng óng vàng chứ?
- Vâng.
- Viền các đám mây đã ngả sang màu hồng và trong vắt chứ?
- Vâng, ở xung quanh đã chuyển màu hồng hết cả rồi đấy ạ.
Ông lão gật đầu mãn nguyện.
- Ta cám ơn chú mày, Dziro ạ. Bây giờ hãy đặt ta nằm thoải mái hơn và đắp chăn cho ta. Ta thấy lạnh…
Ông lão nằm với đôi mắt nhắm nghiền. Ông không cử động thêm và không hỏi xem mặt trời đã lên hay chưa. Trên khuôn mặt ông ngưng lại một vẻ yên bình hoan lạc.

Dziro đứng cạnh ông lão một lát, rồi mở cửa bước ra bên ngoài. Ánh sáng ban mai của Năm Mới từ Trái Đất đã lan tỏa khắp hành tinh xa vô tận. Trên mái căn lều nhảy nhót những vệt nắng hồng.
Lồng ngực kim loại của Dziro sáng rực dưới những tia mặt trời lấp lánh, chàng Ngốc robot, kẻ không biết thế nào là tình yêu và cái chết, tên hầu bé nhỏ bằng thép đã một lòng một dạ phục vụ chủ nhân của mình là Hiệp Sĩ - Người Khai Sáng vũ trụ, bởi vì bộ não điện tử truyền lệnh cho chàng như thế, cầm lấy chiếc xô và bước xuống theo con đường mòn về phía nguồn nước.

Nhưng đã chẳng còn có ai để uống nước nữa rồi!

KIỀU VÂN dịch
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Tue Feb 13, 2018 9:02 pm



Lễ hội hoa
Komatsu Sakio


Komatsu Sakio sinh năm 1931 tại Osaka. Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magazines" tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.


Dọc hai cánh tường vây bên lối vào công viên vắng ngắt. Yosiko tình cờ đi ngang qua đang ngạc nhiên về điều này, chợt có tiếng nói:
- Nhiệt liệt chào mừng quý khách, xin mời.

Cô hoảng sợ ngoảnh lại. Đứng trước mặt cô là một chàng thanh niên vóc dáng cân đối.
- Xin được phép tháp tùng cô chứ ạ?
- Cái gì, các anh hiếm khách vậy sao? – Yosiko hỏi.
- Từ tuần trước đến giờ cô là người đầu tiên. – Chàng trai nhã nhặn mỉm cười. -  Mọi người đã ngừng để tâm đến cái đẹp rồi. – Chợt trong giọng anh ta vang lên những âm sắc kim khí. – Vào cửa mất tiền – một trăm năm mươi đồng – dành cho hướng dẫn viên. Xin mời trả tiền.
Yosiko trao tiền. Chàng thanh niên để cho cô đi qua cửa quay.
- Cô qua đi, - anh ta nói. – Hơi tối, nhưng cô cứ đi vào đi, rồi chờ tôi một lát.

Khi mắt Yosiko đã quen với bóng tối chập choạng, cô nhận thấy mình đang đi lên đồi, còn xung quanh là những bóng cây đang thẫm dần. Phía sau chúng bầu trời buổi rạng đông vừa hiện.
- Cô thích không? – giọng nói âm vang ngay phía trên tai cô.
Yosiko bất giác rụt đầu lại.
- Thế những bông hoa đâu?
- Có ngay. Nhìn này, - chàng thanh niên nói. – Dành cho cô đấy.

Có cảm tưởng như anh ta đang quay tay quay của một cỗ máy nào đó.
Bầu trời phía Đông rạng dần, đường chân trời nhuốm màu vàng óng, sau đó ngả hồng, những cụm mây phát sáng lóng lánh xuất hiện, những tia nắng mặt trời chiếu xuyên qua đám cành đan bện vào nhau.
Trên các thân cành trơ trụi phồng căng lên những nụ hoa bé xíu, xinh xắn màu hồng dìu dịu. Những bông hoa nở bung ngay trước mặt.

Yosiko đứng dưới trời xuân giữa hoa anh đào đua nở.
- Thật là đẹp biết nhường bao! – cô bất giác thốt nên lời.
- Cô thích không? – chàng thanh niên nói, nhìn đăm đăm vào khuôn mặt Yosiko. – Nhưng cô tuyệt đẹp hơn những bông hoa.
Yosiko đỏ mặt. Chàng thanh niên đưa tay mời cô đi theo mình.

Đi xuống phía dưới theo dọc hành lang anh đào nở hoa, chàng thanh niên bí mật nhấn chiếc nút gắn trên một trong các thân cây. Từ đâu đó thoảng tới ngọn gió ấm áp. Những cánh hoa xoay tròn trong không khí như cơn bão hồng nhợt nhạt.
- Đúng, dịch vụ của các anh rất cao cấp, - Yosiko mỉm cười.
- Tất nhiên, - chàng thanh niên nói.

Lối đi dưới những hàng cây anh đào đã kết thúc. Bên chân đồi, từng chùm hoa đậu tía diễm lệ màu phơn phớt tím từ trên cao buông rủ la đà. Ong phấn hoa kêu vo ve mơ màng. Trên mặt nước ao tối đen vươn lên những thân cỏ xanh, những cánh hoa bách hợp nặng trĩu, êm mượt, sắc trắng chói lóa lặng lẽ hé nở.

Càng đi tới, phía trước Yosiko đua nở thêm càng nhiều loài hoa mới lạ hơn. Nhưng bất chợt quang cảnh trở nên thẫm tối. Vầng trăng đã lên đồi. Trên bãi trống, trong những tia sáng bạc lấp lánh, cỏ lau kaya dợn sóng nhấp nhô, còn đằng sau ngọn đồi đêm hiện lên thêm một bãi trống nữa ngập trong hương thơm nồng đượm của hoa cúc. Những hoa cúc vườn, những hoa cúc đồng nội... Tiếng hươu kêu chói đanh bay vụt qua thung lũng chìm trong rừng phong cháy rực. Lá rụng xào xạc dưới bước chân. Yosiko run rẩy.
- Sắp đến cửa ra, - chàng thanh niên nói. – Chúng ta đã ở trên đồi và đi vòng quanh nó. Cô thích chứ?

Yosiko im lặng. Mưa bụi ảm đạm và buốt chạm vào má cô. Gió bắt đầu lạnh thấu tận xương. Lá rụng như mưa.
- Sắp đến cửa ra rồi, - chàng thanh niên nói. – Cô có thật thích không? Tôi hi vọng cô sẽ trở lại với chúng tôi lần nữa chứ?
- Không. Xin miễn cho. Thế là đủ rồi.
- Cô sao vậy? – chàng thanh niên buồn rầu hỏi. – Không lẽ như vậy còn chưa kì diệu?
- Ồ, tất nhiên là kì diệu rồi! Anh thấy ngay nó đáng bao nhiêu tiền còn gì! Thực quả là tiện, khi ngay lập tức trong chừng đâu có nửa giờ đồng hồ được ngắm hoa của tất cả các mùa trong năm. Nhưng tôi cảm thấy hình như cái đẹp thực sự chỉ có thể bắt gặp khi ta được ngắm độ nở hoa ngắn ngủi theo đúng nhịp đất trời mà thôi.

Đã rõ là một trăm năm mươi đồng không phải là giá đắt với những gì mà anh cho tôi xem, nhưng... - Yosiko bỗng cười sặc sụa. – Nhưng trong công viên của anh cả thông lẫn mận đều không có! [hai loại cây luôn có mặt trong tranh phong cảnh Nhật Bản truyền thống].

Khi Yosiko đã đi khỏi, một gã râu ria tua tủa từ sau thân cây ló ra.
- Hừ-hừm! – gã ta nói. – Dở ẹc! Cô gái nói về những cây thông và mận nào đó. Cậu có biết, như vậy là sao không?
- Tôi làm sao biết được? – chàng hướng dẫn viên – người máy có thân hình cân đối đáp lời.

KIỀU VÂN dịch

.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Tue Feb 27, 2018 2:25 pm


https://www.youtube.com/watch?v=jDm2soD0UFE
Day Tripper Lyrics - Beatles


Người đi vé ngày
Murakami Haruki


Tôi 32 nàng 18…
Cứ nghĩ thế là đâm ra nản. Tôi mới 32 còn nàng đã 18…
Ừ, thế mới được.

Chúng tôi là bạn hơi đặc biệt của nhau, chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Tôi có vợ, còn nàng có đến sáu người bạn trai. Nàng hò hẹn với bạn trai mỗi tuần sáu ngày, còn với tôi thì chỉ một ngày Chủ nhật mỗi tháng. Những ngày Chủ nhật còn lại, nàng ở nhà xem TV. Khi xem TV, nàng trông dễ thương như con hải-mã.
Nàng sinh năm 1963. Năm ấy, Tổng thống Kennedy bị bắn chết. Và năm ấy, tôi hò hẹn với gái lần đầu tiên. Bản nhạc thịnh hành trong năm là "Summer Holiday" của Cliff Richard, hình như thế.
Nhưng mà, sao cũng được. Cứ biết là nàng đã sinh vào một năm như thế là được rồi. Tất nhiên, khoảng ấy thì tôi đã chẳng bao giờ nghĩ là có ngày mình sẽ hẹn hò với một cô gái sinh vào năm ấy. Mà ngay cả bây giờ đây, tôi cũng thấy là-lạ. Như lên tận phía lưng của mặt trăng mà hút thuốc vậy.

Đám bè bạn của tôi vẫn có ý kiến thống nhất rằng gái trẻ thì nhàm chán. Thế mà, ngay cả tụi nó cũng hò hẹn với các cô gái trẻ. Vậy thì, có phải tụi nó đã tìm đâu ra được gái trẻ mà lại không nhàm chán chăng? Không, làm gì có chuyện đó. Kết cuộc, cái nhàm chán của các cô gái trẻ đã quyến rũ được tụi nó. Tụi nó vừa xối nước nhàm chán ào ào lên đầu vừa cố tránh không để cho một giọt nhàm chán nào văng dính vào các cô gái trẻ, cứ thế mà tận tình vui thú ngây thơ với trò chơi rắc rối đó.
Ít nhất thì cũng khiến tôi nghĩ như thế.
Thật sự, các cô gái trẻ thì mười cô hết chín là nhàm chán thật đấy. Nhưng tất nhiên là các cô đâu có để ý đến điều ấy. Các cô trẻ, đẹp, và đầy lòng hiếu kỳ. Các cô nghĩ sự nhàm chán không dính dáng gì đến mình cả.
Chao ôi!
Không phải tôi trách cứ gì các cô gái trẻ, mà tôi cũng không ghét bỏ gì các cô. Trái lại, còn thích các cô nữa là khác. Các cô giúp tôi nhớ lại con người nhàm chán của chính mình thời còn trẻ. Điều nầy, nói sao nhỉ… thật tuyệt vời!

"Nầy anh, có muốn trở lại thời 18 tuổi một lần nữa không?" Nàng hỏi tôi.
"Thôi." Tôi đáp. "Không muốn đâu."
Có vẻ nàng không lý giải được câu trả lời ấy.
"Không muốn trở lại thời 18 tuổi à? Thật không đấy?"
"Thật chứ."
"Tại sao?"
"Cứ như bây giờ được rồi."

Nàng chống khủy tay lên bàn, nâng cằm, suy nghĩ lung lắm. Vừa suy nghĩ lung lắm vừa khuấy muỗng lách cách trong cốc cà-phê.
"Em không tin đâu."
"Tin thì tốt hơn."
"Nhưng tuổi trẻ mới là tuyệt vời chứ!"
"Có lẽ thế."
"Vậy sao anh lại muốn như bây giờ?"
"Bởi trẻ một lần là đủ rồi."
"Em thì chưa đủ đâu."
"Chứ em vẫn còn ở tuổi 18 mà."
"Hừm."

Tôi gọi cô hầu bàn cho thêm lon bia. Ngoài trời đang mưa, qua cửa sổ nhìn thấy cảng Yokohama.
"Nầy anh, hồi 18 tuổi, anh suy nghĩ chuyện gì thế?"
"Chuyện ngủ với gái."
"Ngoài chuyện ấy ra?"
"Chỉ mỗi chuyện ấy thôi."
Nàng cười khúc khích, uống một ngụm cà-phê.
"Rồi, có được không?"
"Có lúc được, có lúc không. Tất nhiên, không thì nhiều hơn."
"Thế đã ngủ được với bao nhiêu cô rồi?"
"Có đếm đâu mà biết."
"Thật không đấy?"
"Có muốn đếm đâu nào."
"Nếu em là đàn ông thì em đếm tuốt. Vui lắm chứ không sao."

Thật ra có lúc tôi cũng nghĩ là trở lại được thời 18 tuổi thì cũng hay hay. Nhưng trở lại thời 18 tuổi rồi bắt đầu làm chuyện gì cho phải, thì tôi chịu, không sao nghĩ ra được. Có thể lúc ấy tôi lại được dịp hẹn hò với một người đàn bà quyến rũ 32 tuổi. Thế thì được lắm.
"Có khi nào chị nghĩ muốn trở lại thời 18 tuổi không?" Tôi hỏi nàng.
"Ừm." Nàng mỉm cười, làm bộ suy nghĩ một lúc.
"Không, có lẽ không khi nào."
"Thật không?"
"Thật."
"Khó hiểu đấy. Ai cũng nói tuổi trẻ là tuyệt vời cả mà."
"Đúng đấy. Tuyệt vời lắm chứ."
"Thế tại sao lại không muốn trở lại?"
"Cậu lớn thêm rồi sẽ hiểu."

Nhưng thực tế thì tôi đã 32 tuổi, đang trong tình trạng tuần nào mà lười biếng chạy bộ thì bụng trông bự ra ngay. Không thể nào trở lại tuổi 18 được nữa. Dứt khoát như thế.
Cứ xong cữ chạy bộ buổi sáng là uống một lon nước rau, rồi ngồi dựa ngửa lên ghế mà nghe bài "Day Tripper" của ban Beatles.

"Daaaay-ay-Tripper"
Nghe bản ấy, lại có cảm giác đang ngồi trên xe lửa. Những trụ điện, nhà ga, đường hầm, cầu sắt, những bò, ngựa, những ống khói, những đống vật liệu phế thải,… nối tiếp nhau chạy dạt về phía sau. Chạy đến đâu cũng chừng ấy phong cảnh, chẳng có gì thay đổi. Giá là ngày xưa thì mình đã vui thích mà nghĩ là phong cảnh kỳ thú lắm đấy.

Chỉ thỉnh thoảng thì người ngồi ghế bên cạnh mình mới có gì khác. Có lần, bên cạnh tôi là một cô gái 18 tuổi.
Tôi ngồi ghế gần cửa sổ, cô ngồi gần lối đi ở giữa xe.
"Cô có muốn đổi sang ghế nầy không?" Tôi hỏi.
"Cảm ơn ông." Nàng nói. "Ông tử tế quá nhỉ."
Tôi cười đau khổ. Đâu phải tử tế gì. Chỉ vì tôi đã quá quen với sự nhàm chán rồi, so với cô em.

Đến chuyện đếm xem có bao nhiêu cái trụ điện chạy qua, cũng đã nhàm chán rồi.
Người-đi-vé-ngày 32 tuổi.
 
Phạm Vũ Thịnh dịch.

Truyện ngắn trên đây, "Day Tripper", ra mắt người đọc trong tạp chí Torefuru - Trefle khoảng 1981-1983, là truyện thứ 12 trong tuyển tập Kangaruu Hiyori (Ngày Đẹp Trời để xem Kanguru)
.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
NHViet



Posts : 348
Join date : 23/08/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Thu Mar 08, 2018 7:05 am



Xoắn Ốc
Banana Yoshimoto


Ngày hôm đó tôi say bí tỉ, suốt cả buổi chiều chẳng làm được việc gì.
Tôi kiếm sống bằng nghề viết văn. Thực ra hôm đó tôi có việc cần hoàn thành gấp là viết chú thích cho các bức ảnh phong cảnh của một nhà nhiếp ảnh nữ quen biết. Nhưng đầu tôi đau ghê gớm, nên thật lòng tôi chẳng thể quan tâm đến những tấm ảnh chụp cảnh biển khơi dậy sóng của cô ấy. Tôi thích được cộng tác với những người đã tạo ra những tác phẩm mình yêu thích, nhưng đôi khi tôi có cảm giác rất lạ, như thể mình và họ đang nhìn thấu tâm can nhau, nhắc nhau về một lời hứa. Ước hẹn từ thưở xa xưa.
Nhưng hôm đó thì tôi chẳng hứa hẹn với ai điều gì, hay ít ra tôi vờ như thế. Suốt ngày hôm đó tôi chỉ cuộn mình trên giường nhìn ngắm bầu trời thu trong văn vắt. Trong suốt tới tận đáy. Không hiểu sao, tôi lại có cảm giác giống như bị phản bội.

Đứa trẻ nhà hàng xóm đang tập đàn violon. Rất vụng về. Tiếng vĩ cầm rít lên rền rĩ, xuyên thủng bầu trời xanh, ngập tràn tâm trí tôi, khiến tôi muốn khóc. Cô bé chơi càng sai nốt, tạo ra những âm sắc càng tồi tệ thì tiếng đàn lại càng trở nên hòa hợp với cái màu xanh khác thường mà nhắm mắt tôi cũng nhìn rõ mồn một ấy.
Tôi nhắm mắt, lắng nghe tiếng đàn, tưởng tượng hai hàng mi của người con gái tôi quen hiện lên trên nền trời xanh. Mỗi khi khó tìm từ, nàng thường không chỉ nói "nghĩa là" hay "ờ thì", mà nhất định sẽ nhắm mắt lại giây lát. Khi ấy, hàng mi viền quanh mí mắt trắng trẻo sẽ đột nhiên nhìn rõ từng sợi một, cặp lông mày khẽ nhíu lại, cho ta cảm giác thật đặc biệt khi thấy rõ được toàn bộ tính cách của nàng, bao gồm cả sự bất an lẫn điềm tĩnh bên trong.
Khoảnh khắc hiểu được điều đó lúc nào cũng thật đáng sợ.
Mỗi lần như thế, tim tôi lại như ngừng đập. Bởi lẽ tôi biết rằng khi mình hiểu một cô gái nhiều chừng ấy thì chuyện của chúng tôi sẽ chẳng đi đến đâu. Và cụ thể với nàng, cái cách nàng nhắm mắt còn cảnh báo tôi nhiều hơn thế. Nàng cứ nhắm mắt, hoảng sợ, bấn loạn, cho đến khi tìm được đúng từ mình cần, và cuối cùng (thường thì cũng chỉ mất một, hai giây thôi), nàng sẽ lại mở to mắt và sẽ lại trở lại là một người dễ hiểu. Nàng sẽ nói kiểu như "Em hiểu rồi, thật tuyệt."
Tôi nghĩ nàng thật đơn giản, nhưng không vì thế mà tôi ghét nàng. Sự giản đơn ấy chính là đức hạnh, dù nếu phân tích như vậy thì tôi có lẽ phải tự hổ thẹn về đức hạnh của bản thân mình.

Tối nay có hẹn với nàng, nhưng tôi lại thấy hơi ngại. Gần đây, lúc nào trông nàng cũng như đang có điều gì muốn nói.
"Chín giờ tối nay, ở cửa hàng mọi khi nhé". Nàng nói. Nhưng cửa hàng đó tám giờ đã đóng cửa. Nàng luôn làm tôi rối tinh lên.
Tôi gọi điện đến để từ chối cuộc hẹn, nhưng chỉ có tiếng máy trả lời tự động lặp đi lặp lại lời nhắn bằng một giọng ngọt ngào. Dạo này nếu không đi làm, nàng đi đâu và làm gì tôi hoàn toàn không hay biết.
Không còn cách nào khác, tôi đành phải ra khỏi nhà.
Góc phố tối om, không có lấy một bóng người. Chỉ có ngọn gió thu độc diễn. Quả là một đêm buồn. Rẽ sang đường khác cũng chỉ có mỗi một thứ ánh trăng chiếu rọi. Trong không khí trong suốt, thời gian lắng đọng lại một cách kỳ dị. Ngọn gió mát lành thanh lọc tâm trí đang tràn ngập những ý nghĩ không lối thoát của tôi. Chúng quẩn quanh giữa các tòa cao ốc một cách buồn bã và tạo nên bóng tối.
Cửa hàng quả nhiên đã đóng cửa. Không thấy nàng đâu. Đó là một tiệm tạp hóa, chuyên bán đồ nhập khẩu, phía trước mặt là quán cà phê tường lắp kính.
Tôi vốn thích những thứ mà ranh giới giữa chúng dường như đang tan chảy ra như vậy. Đêm và ngày, nước xốt trên đĩa, đống đồ tạp hóa tràn sang cả quán cà phê. Đấy là ảnh hưởng của việc tôi yêu nàng. Nàng giống như trăng khuya, thứ ánh sáng trắng mờ gần như biến mất trong dải trời màu xanh lơ nhàn nhạt.
Tôi tiến lại gần, leo lên cầu thang trước lối vào cửa hàng, ghé mắt nhòm vào. Không thấy nàng bên trong.
Nhưng tồi tôi nghe thấy tiếng nàng gọi. Giọng nàng hơi nghèn nghẹt khiến tôi chợt thấy ngạc nhiên. Có cảm giác như nàng đang ở đâu đó trên thiên đường trông xuống dưới hạ giới gọi tôi vậy.
Tôi ngẩng đầu lên và thấy từ trong cửa hàng tối om, giữa đám bàn ghế trắng nổi bật, nàng đang gọi tôi qua tấm kính.
Nàng cười, đưa tay vẫy tôi, rồi từ phía trong mở cánh cửa kính dày nặng cho tôi bước vào.
"Làm sao mà em lại vào được thế?"
Tôi thắc mắc.
"Em hỏi mượn chìa khóa người phụ trách cửa hàng."
Nàng đáp. Bước vào trong cửa hàng, tôi thấy đồ đạc sắp xếp ngăn nắp như trong thư viện, tiếng giày và giọng nói cũng vang to khác thường. Không thể tưởng tượng được rằng cửa hàng này và nơi chúng tôi vẫn hẹn hò lại là một. Chúng tôi ngồi xuống bàn, đối diện với nhau giống như những vong hồn bị mắc kẹt lại từ ban ngày.
Nàng lấy nước ngọt từ trong tủ lạnh của cửa hàng, rót ra cốc bày sẵn ở bồn rửa.
"Em cứ tự tiện lấy đồ của người ta như thế mà không làm sao à?"
Tôi hỏi.
"Không sao đâu, mấy thứ này em đã hỏi trước rồi mà."
Nàng trả lời từ phía bên kia quầy thu tiền.
"Không bật điện lên được hả em?"
Cảm thấy không thoải mái trong bóng tối đen như mực, tôi hỏi.
"Không được đâu anh. Những khách hàng khác lại kéo vào mất."
"Thế thì cứ ngồi mãi ở đây trong bóng tối ư?"
"Anh không thấy vui hay sao?"
Nàng đáp, rồi thành thạo như một cô phục vụ bàn đích thực, đặt hai cốc nước ngọt lên khay mang đến chỗ tôi.
"Không có bia sao?"
"Anh chẳng đã say khướt rồi còn gì."
"Sao em biết?"
Tôi ngạc nhiên hỏi.
"Anh đã nói với em à?"
"Anh để lại tin nhắn trên điện thoại cho em còn gì?"
Nàng cười khúc khích, tôi thấy yên tâm hẳn.
"Tối muộn rồi, nên có uống thêm cũng chẳng sao đâu."
"Thôi được."
Nàng nói, rồi ra tủ lạnh lấy bia cho tôi.

Dường như có điều gì đấy không bình thường. Nàng mỉm cười nhiều hơn, tiếng giày giống như đang rời đi thật xa khiến tôi hơi căng thẳng. Và dự cảm về một điều không hay.
Hơn nữa, bia uống trong bóng đêm chẳng ngon chút nào. Giống y như như ngồi uống ở Bắc Cực với ánh sáng vàng lờ mờ dưới vòm trời lạnh lẽo. Lượng cồn vẫn còn trong cơ thể cộng thêm bóng tối mờ mờ như ở trên cung trăng khiến tôi ngay lập tức say trở lại.
"Tuần sau em sẽ tham gia một khóa học." Nàng bảo.
"Gì cơ?" Tôi nói.
"Trong đám bạn của em có một đứa đang gặp rất nhiều chuyện buồn, con bé ấy đã tìm ra khóa học này, nhưng rồi lại thấy khoá học hơi cực đoan một chút nên rủ em đi cùng."
"Cực đoan à?"
"Thì phải xóa sạch mọi thứ trong đầu mình. Không phải là phát triển năng lực nghe thấu hay là thiền định gì đâu, mà là quay đầu về trạng thái bằng không để có thể làm lại từ đầu. Nếu như vậy, phải quên đi rất nhiều thứ. Người ta bảo bạn em là hầu hết những suy nghĩ và kỷ niệm đang chất chồng trong tâm trí chúng ta là những thứ không mấy cần thiết. Thú vị đấy chứ, anh nhỉ?"
"Chẳng thú vị chút nào. Ai mà biết được cái gì là cần thiết hay không chứ?"
"Chuyện đấy thì đành phải đánh cược thôi. Thậm chí có khi người ta còn quên sạch sành sanh những thứ mình vẫn cho quan trọng, những thứ mình không muốn quên."
"Như những thứ đang ám ảnh em à?"
"Không hẳn vậy. Bạn em bị trầm cảm vì cú sốc sau ly hôn nên muốn dự khóa học này để quên chuyện đó đi. Đó là chuyện nó muốn quên. Nhưng em cá là nó không thể quên được đâu."
"Em đừng có đi nữa." Tôi nói.
"Nhưng mà, em không thể để nó đi một mình được, em đã nói với nó là sẽ đi mất rồi." Nàng bảo.
"Với lại, em cũng hơi hứng thú với chuyện này. Em cũng muốn biết nó thế nào. Nếu không đi thì làm sao biết được nó có tốt hay không?"
"Không được đâu. Chẳng có gì thú vị cả. Anh không tin những nơi như thế. Em chẳng có lý do gì để quên tất cả mọi thứ, đúng không nào?"
"Em không được phép quên sao? Kể cả những chuyện mình không thích nữa?"
"Những chuyện đó em tự mình quyết định được mà. Ít nhất thì em cũng phải chọn xem nên quên cái gì chứ?"
"Chẳng sao đâu, nghĩa là…"
Nàng nhắm mắt, lựa chọn từ ngữ phù hợp rồi mở mắt ra và nói.
"Đúng rồi, ít ra thì em cũng sẽ không quên anh đâu."
"Làm sao mà em biết được chứ?"
"Em biết mà, không sao đâu anh."
Nàng vừa nói vừa mỉm cười. Nhưng tôi biết rõ sâu thẳm tận đáy tim nàng có một người khác nữa đang cảm thấy bất an. Tôi gần như có thể nghe thấy tiếng người đó.
"Em muốn quên chính bản thân em, cái người đang muốn quên hết tất cả mọi chuyện về anh."
Điều đó nghe róng riết đến nỗi tôi từ bỏ ý định thuyết phục nàng.
"Có khi em quên sạch chuyện giữa hai chúng mình từ trước đến giờ cũng nên". Tôi cười.
"Quên hết chuyện của một nghìn năm nay á?" Nàng cũng cười. Khi nàng nói như vậy, niềm vui trong giọng nói sâu lắng của nàng khiến tôi trong một khoảnh khắc đã nghĩ điều đó là sự thật. Tôi gần như đã tin rằng chúng tôi đã yêu nhau được một nghìn năm rồi.
"Cả những việc xảy ra khi mình đi du lịch lần đầu tiên à?"
"Lúc đó em chỉ khoảng mười chín chứ mấy."
"Đúng rồi, mình nghỉ tại nhà trọ kiểu Nhật, còn bị bà hầu phòng đáng ghét nói là ‘Vợ ông trẻ quá đi mất’ nữa chứ."
"Mặc dù tuổi chúng mình có chênh nhau là mấy đâu."
"Ôi, anh trông già trước tuổi mà lại… Phòng ngủ rộng thênh thang, trần nhà tối om làm em sợ chết đi được."
"Nhưng buổi tối khi mình ra ngoài sân lại được thấy trời sao rất đẹp."
"Và vì khi ấy là mùa hè nên có mùi cỏ rất thơm."
"Em hồi ấy để tóc ngắn."
"Rồi mình trải đệm ra nằm ngủ."
"Ừ."
"Anh lại còn kể chuyện ma, làm cho em sợ đến mức không dám đi đến suối nước nóng một mình."
"Hai đứa mình chẳng cùng đi còn gì?"
"Chúng mình còn ôm nhau ở bồn tắm ngoài trời."
"Ờ, cứ như mình đang ở giữa rừng rậm nhiệt đới ấy."
"Những ngôi sao đẹp thật… em thấy nhớ quá đi mất."
"À này, có lẽ giống như là cái chết cũng nên."
"Cái gì cơ?"
"Thì việc quên hết mọi thứ chứ còn gì?"
"Anh thôi đi, làm em buồn bây giờ."
"Điều này có lẽ gần giống như chuyện viết trong cuốn 'Bay qua tổ chim cúc cu' (1) em ạ."
"Phẫu thuật thùy não ư? Em nghĩ không phải thế đâu."
Nàng nhắm mắt lại.
"Nhưng, chắc là em sẽ quên hết những gì không cần thiết."
"Như anh chẳng hạn?"
"… Ờ, nhưng mà cái gì là không cần thiết nhỉ, em cũng chẳng biết nữa."
"Hay mình ra ngoài đi, ở đây yên tĩnh quá, làm anh thấy căng thẳng thế nào ấy."
"Ừ, có lẽ nhưng tiếng vang ở đây khiến anh cảm thấy kiểu như đang nói điều gì đó rất hệ trọng đúng không? Đợi em một lát. Em muốn kiểm tra cửa hàng."

Chúng tôi nhìn một vòng xung quanh cửa hàng. Trên kệ bày hàng, những món đồ ngoại quốc được xếp ngay ngắn. Mỗi chiếc cốc chồng lên nhau đang phát sáng giống như lăng kính hình trụ đều mang một giá trị khác với ban ngày.
Hai chúng tôi rời cửa hàng, khóa cửa cẩn thận như đang rời khỏi căn phòng của chính mình rồi bước ra ngoài, bỗng chốc có cảm giác như thời gian cũng bắt đầu chuyển động cùng với ngọn gió đêm đang thổi tới.
"Hay mình đi uống them chút gì đi em?"
"Cũng được anh ạ."
Tự nhiên tôi thấy tâm trạng nhẹ nhõm hơn.
"Em chỉ cần tìm thấy bất cứ điều gì về anh là sẽ nhớ ra anh ngay."
Vừa rảo bước, nàng vừa bất chợt bảo tôi.
"Giả dụ như em có quên hết đi chăng nữa…"
"Quên hết mọi thứ?"
"… thì mình đã cùng nhau ngắm nhìn rất nhiều thứ, nếm thử rất nhiều món ăn, nên hình bóng anh phản chiếu trên mọi cảnh vật trên thế gian này. Trên em bé mới sinh mình vừa đi ngang qua. Trên hoa văn sống động trên chiếc đĩa trong suốt bày món sashimi cá nóc. Pháo hoa trên nền trời mùa hạ. Mặt trăng bị mây che khuất trên biển đêm. Khi em nói xin lỗi lúc lỡ giẫm phải chân ai đó dưới gầm bàn. Khi em cảm ơn người khác tốt bụng nhặt hộ món đồ mình đánh rơi. Khi nhìn thấy cụ già lẩy bẩy bước đi và tự hỏi liệu ông ấy còn sống được bao lâu nữa. Những con chó, con mèo trên đường phố. Quang cảnh nhìn từ trên cao. Khi bước xuống tàu điện ngầm, đón ngọn gió ấm áp phả và mặt mình, Khi điện thoại reo vào lúc nửa đêm. Ngay cả khi em thích một ai đó khác, em cũng sẽ luôn thấy hình bóng anh trên đường vòng cung lông mày của họ".
"Ý em là mọi thứ hiện hữu trên Trái Đất này đều khiến em nhớ tới anh chứ gì?"
"Không."
Nàng lại nhắm mắt, rồi mở ra, hướng đôi mắt sáng trong như pha lê nhìn thẳng vào tôi.
"Không phải mọi thứ, chỉ những thứ có trong trái tim em thôi."
"Vậy sao? Đó là tình yêu của em ư?" Tôi hỏi, hơi bất ngờ.

Chính khoảnh khắc đó tôi đã thấy một luồng sáng lóe lên và tách ra làm đôi. Tôi nghe thấy một tiếng nổ lớn như tiếng sét. Trong giây lát, tôi không hiểu có chuyện gì xảy ra.
Tôi cảm thấy âm thanh và ánh sáng phá vỡ đôi chút cảm giác xa cách. Phía trên tòa nhà có thể nhìn thấy từ góc đường bên kia bỗng chói sáng, lửa bốc lên đột ngột cùng với âm thanh sắc nhọn, những mảnh kính vỡ như trong đoạn phim quay chậm bay lả tả trong bóng đêm.
Chỉ vài giây sau đó, người người thức giấc từ mọi ngóc ngách đổ xô ra đường. Khung cảnh náo loạn. Từ đằng xa, tiếng còi xe cảnh sát và xe cứu hỏa đang tiến lại mỗi lúc một gần hơn.
"Chắc hẳn là bom nổ đấy!" Tôi phấn khích kêu lên.
"Chỉ có chúng mình nhìn thấy thôi. Chắc không ai bị thương đâu nhỉ."
"Làm gì có ai. Tòa nhà đó tối om. Cũng chẳng có người qua lại. Lại là trò đùa tai ác của ai đấy mà."
"Nếu vậy thì may quá. Đẹp thật anh nhỉ, nói ra thì nghe có vẻ không hợp với hoàn cảnh nhưng em thấy trông giống như pháo hoa ấy."
Nàng vẫn còn ngẩng đầu nhìn lên bầu trời.
Vừa quan sát khuôn mặt trông nghiêng của nàng, tôi vừa nghĩ ngợi.
Tình yêu của anh có hơi khác với tình yêu của em.
Ý anh là khi em nhắm mắt lại, trong khoảnh khắc ấy, cả trung tâm của vũ trụ đều tập hợp vào em.
Và dáng em trở nên bé nhỏ vô cùng trong sự bao la đang trải ra vô hạn phía sau em. Em trở thành trung tâm mà từ đó vạn vật trải rộng với tốc độ chóng mặt, nhấn chìm tất cả quá khứ của anh. Những chuyện từ trước khi anh sinh ra. Những điều anh đã viết. Những cảnh tượng anh từng nhìn ngắm từ trước tới giờ. Những chòm sao. Những khoảng không vũ trụ tối thẫm mà từ đó có thể ngắm nhìn địa cầu xanh lơ xa tít tắp.
Rồi em mở mắt ra, và tất cả những thứ đó biến mất. Liệu em có thể suy ngẫm thêm một lần nữa được không nhỉ, anh tự nhủ.

Cách suy nghĩ của hai chúng tôi hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng tôi là đôi trai gái của thời nguyên thủy. Là nguyên mẫu của tình yêu giữa Adam và Eva. Mọi người con gái đều có những cố tật như thế và mọi người con trai đều có những phút giây đắm nhìn trong chúng. Như chuỗi xoắn ốc kéo dài bất tận sao chép lẫn nhau.
Như chuỗi ADN. Như vũ trụ bao la rộng lớn.
Khi đó, thật kỳ lạ, nàng nhìn tôi và cười, và nói như đang trả lời tôi.
"Ôi, đẹp quá đi mất! Suốt đời này em sẽ không bao giờ quên."

--------------------------------
(1) Tác phẩm nổi tiếng của tiểu thuyết gia Mỹ Ken Kesey xuất bản năm 1962, được chuyển thể thành bộ phim được giải Oscar năm 1975.

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Sat Mar 17, 2018 2:08 pm



LỜI NGUYỆN CẦU CỦA XỬ NỮ
Kawabata Yasunari
(Nobel 1968)


- Đã thấy chưa?
- Thấy rồi.
- Đã thấy chưa?
- Thấy rồi.
Những dân làng từ núi và ruộng đồng tập trung lại ở con đường dưới phố, nói đi nói lại câu hỏi với vẻ mặt bất an.

Nhiều người đang làm việc trên đồng và trên núi tụ họp lại, ai cũng bị chấn động. Chắc hẳn cái điều họ đã nhìn thấy ở cùng một góc phố, cùng trong một khoảng thời gian như thỏa thuận với nhau từ trước là không thể nghi ngờ.
Làng này là một thung lũng tròn. Chính giữa có ngọn núi nhỏ, xung quanh núi là dòng sông. Trên ngọn núi là nghĩa địa của làng.
Dân làng nói rằng từ khắp nơi họ đã nhìn thấy một tháp đá rơi xuống núi và di chuyển như một ma vật màu trắng. Nếu chỉ có một hay hai người nhìn thấy người ta có thể cho là hoa mắt, cười cho qua. Nhưng nhiều người như thế này cùng nhìn thấy điều quái lạ trong cùng một lúc thì không thể không tin. Vì vậy, tôi và một nhóm dân làng hiếu kì trèo lên ngọn núi điều tra.

Đầu tiên chúng tôi lục tìm khắp nơi từ chân núi đến lưng chừng mà không thấy tảng mộ thạch rơi ở đâu cả. Vì vậy, chúng tôi lên núi xem xét từng ngôi mộ thì thấy các tháp đá im lặng xếp ngay hàng thẳng lối. Dân làng lại nhìn nhau kinh hoàng.
- Đã thấy rồi mà.
- Thấy rồi.
- Đã thấy rồi mà.
- Thấy rồi.

Và vừa nói những điều ấy, mọi người leo xuống núi như trốn chạy cái nghĩa địa. Dân làng nhất trí rằng đây là điềm báo trước chắc chắn sẽ có điều gì tệ hại xảy ra với làng. Chắc chắn là thần phật ma quỉ hay người chết báo ứng. Phải cầu nguyện để giải thoát điều tà này thôi. Phải tẩy sạch nghĩa địa.

Dân làng tập trung các trinh nữ. Và trước khi mặt trời lặn, khoảng mười sáu hay mười bảy trinh nữ được một nhóm dân làng bao vây và dẫn lên núi. Tôi, dĩ nhiên, cũng lẫn trong đám đông.

Các trinh nữ sắp hàng ngay giữa nghĩa trang. Vị trưởng lão tóc bạc đứng phía trước và nói một cách nghiêm khắc:
- Các cô gái trong trắng, hãy cười đến vỡ cái bụng đi. Hãy cười trả lại cái điều gây tai họa cho làng ta.
Và người già lĩnh xướng:
- Ha… ha… ha… ha… ha…ha…
Các cô gái khỏe mạnh của núi rừng nhất loạt cười lên: Ha… ha… ha…
Ha… ha… ha…
Ha… ha…ha…
Cái thằng tôi, quá sức giật mình, bất ngờ, cũng hòa tan và chìm đắm vào tiếng cười rung thung lũng, vô hình sắc và đam mê.
- Ha… ha… ha… ha… ha…

Một người trong làng châm lửa vào cỏ khô nghĩa địa. Xung quang các tia lửa bắn ra như lưỡi của ác ma, các thôn nữ ôm bụng cười, tóc xõa bay linh loạn. Khi giọt nước mắt lúc bắt đầu cười đã khô đi, những đôi mắt đó lung linh ánh lửa ma quái. Mãnh lực tiếng cười mạnh như sấm sét khiến người ta có thể nghĩ rằng sức mạnh con người có thể làm đất đá tiêu tan.

Các trinh nữ múa cuồng loạn, phô ra những chiếc răng trắng như răng thú. Điệu nhảy có vẻ kì bí và man rợ thế nào. Tâm trạng dân lành sau khi cười điều gò bó sinh mệnh đã tươi sáng như một ngày đẹp trời. Và khi nghĩ tiếng cười của một người nào chấm dứt, tôi chợt quì xuống một tảng mộ thạch được chiếu sáng bởi tia lửa cỏ khô:
- Thần phật ơi! Con đã thanh sạch rồi.

Tuy nhiên tiếng nói đó là tiếng cười dội vào tim tôi đến mức không thể nghe thấy.
Dân làng lặng yên bởi tiếng các trinh nữ. Và tiếng cười vang lên, nổi bập bềnh như làn sóng vang chung quanh núi:
- Ha… ha… ha…
- Ha… ha… ha…

Cái lược bị rơi từ một cô gái cũng nhảy múa và cầu nguyện. Cái khăn từ một người con gái rơi ra bắt lửa cháy và cuốn lấy một người con gái khác.

(1926)
HOÀNG LONG dịch
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
PVChuong
Admin


Posts : 415
Join date : 25/04/2012

Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   Wed May 30, 2018 12:11 am



Chú thích của người dịch: Truyện ngắn “Trăng cười” sau đây được dịch từ nguyên tác Nhật ngữ “Warau Tsuki”, trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên tái bản lần thứ 24 do nhà xuất bản Shin chou sha (Tân Triều Xã) ấn hành năm 2001. Truyện ngắn này cho chúng ta thấy rất rõ dấu vết của những phân tích y học đã ảnh hưởng vào phong cách viết văn của Abe Kobo ra sao. Dường như nó là một đoản thiên tùy bút nhàn đàm hơn là một truyện ngắn.
  
Trăng cười
Abe Kobo


Trong tầm kinh nghiệm của tôi thì một giấc mơ dù vui vẻ đến đâu cũng không bao giờ trở thành hiện thực vui vẻ đến vậy. Nhưng trái lại, tôi thấy rằng những cơn ác mộng, trong nhiều trường hợp, lại dự báo một nỗi hãi sợ bất an trong hiện thực còn nhiều hơn thế.  

Như trường hợp của tôi chẳng hạn. Trong một giấc mơ sâu thẳm quen thuộc nhất đã ám ảnh tôi không biết bao nhiêu lần, đó là cơn ác mộng có một mặt trăng cười xua đuổi tôi. Tôi nghĩ rằng lần đầu tiên tôi gặp cơn ác mộng này là vào thời tiểu học. Nỗi sợ hãi ám ảnh tôi nhiều ngày sau đó, đến mức khi đêm xuống, cứ nghĩ đến chuyện phải đi ngủ là tôi lại cuống cuồng lo sợ. Tôi nhớ không được chính xác lắm, nhưng thường thì cứ một chu kỳ khoảng nửa năm đến một năm, cơn ác mộng mặt trăng cười lại đến viếng thăm tôi. Lần cuối cùng là khoảng chừng mười năm trước.

Ba mươi năm đã trôi qua, nỗi sợ hãi về cơn ác mộng mặt trăng cười vẫn theo đuổi tôi liên tục.  

Là như thế này. Lơ lửng trên mặt đất khoảng ba mét, một vầng trăng tròn màu cam, đường kính khoảng một mét rưỡi, chầm chậm đuổi theo tôi. Nhìn nghiêng, gương mặt nó giống như nhãn hiệu của loại xà bông Hoa Vương [1]. Nó cho tôi cảm giác như một cái môi rách rưới kéo dài đến tận mang tai của một con quái vật vô tình. Thêm vào đó, nó còn phát ra một thanh âm nữa. Nói theo hình ảnh bây giờ, thì thanh âm đó giống như tiếng rù rì máy móc của thanh điện tử được sử dụng trong các bộ phim khoa học giả tưởng. Tôi chạy vòng vòng theo con đường mòn xa lạ. Cuối cùng tôi chạy đến mái hiên nhà. Khi luồn tay ra sau đóng cửa lại, tôi có cảm giác ghê tởm rằng một phần của mặt trăng bị kẹt cứng vào cánh cửa đã đóng kín. Và tôi thức dậy.  

Không biết tại sao tôi lại hãi sợ hình ảnh mặt trăng đó đến vậy. Tôi sợ gì chứ nhỉ? Một gương mặt cười, một tiếng động rù rà rù rì hay cảm giác sợ bị tóm gọn nơi cánh cửa đã đóng lại đằng sau. Gương mặt cười thì quả là đáng sợ rồi. Khi ngẫm nghĩ, tôi thấy hình ảnh mặt trăng cười có lẽ giống với hình quân bài Joker trong bộ bài tây hơn là giống với nhãn hiệu xà bông Hoa Vương. Dù vậy, gương mặt đó cũng tương xứng với cảm giác hãi sợ đấy chứ. Ây dà, đáng lẽ mình phải nghĩ ra chính cái sự xua đuổi mới là điều đáng sợ chứ nhỉ. Tôi có cảm giác rằng đầu tiên chỉ là nỗi sợ hãi bị truy đuổi mà thôi. Về sau thì nỗi hãi sợ đó mới hiện hình ra thành hình ảnh mặt trăng cười.

Nhưng cứ cho đây đơn thuần chỉ là giấc mơ về nỗi hãi sợ quái vật, thì con quái vật có mấy chục cái sừng có vảy trên đầu mà tôi đã nhìn thấy vào lúc nào đó mới đầy đủ sức mạnh tấn công hơn chứ nhỉ?
 
Chắc có lẽ là chính cái tâm lý hãi sợ được tạo thành trong khi ngủ đã phóng chiếu ra thành hình ảnh mặt trăng cười trên phông nền của giấc mơ. Chỉ có điều tôi không hiểu tại sao ảnh tượng cực hạn của nỗi sợ lại là hình ảnh mặt trăng cười. Có lẽ không có lý do nào chăng? Nếu gặp một con quái vật có vảy trong đời thì tôi cũng đã sợ rồi, nhưng nỗi sợ hình ảnh mặt trăng cười ám ảnh đến mức tôi nhìn đóa khô vĩ thảo cũng tưởng là nó và giật mình hãi sợ. Phải chăng chúng ta nên giải thích giấc mơ như là giấc mơ thôi. Còn việc phán đoán ý nghĩa của giấc mơ như trên thật chẳng có gì là thú vị.  

Khi tôi ngước mắt lên nhìn bầu trời đêm, hình ảnh những ngôi sao phản chiếu trong tầm mắt ta, trong nhiều trường hợp nó điều chỉnh ánh mắt, làm cho ta không thấy được chúng nữa. Và ngược lại khi ta nheo mắt, hình ảnh của chúng lại quay về trong tầm mắt ta. Đó là hiện tượng phân chia cơ năng giữa bộ phận trung tâm của cương mô với vùng ngoại vi. Tôi cho rằng mối quan hệ giữa giấc mơ và hiện thực cũng giống như thế. Hiện thực được nắm bắt một cách rõ ràng nhờ vào phần trung tâm của ý thức, còn giấc mơ chỉ được nắm bắt ở vùng ngoại vi. Chính nhờ việc nắm bắt ở vùng trung tâm mà chúng ta không làm mất dấu đi bản chất của hiện tượng.

Nếu diễn dịch lại bằng ngôn ngữ khi ta tỉnh thức thì việc giải thích giấc mơ theo như cách hiểu của con người chúng ta đã làm ta hiểu sai đi ý nghĩa thực sự của nó. Và chúng ta nên xét đoán giấc mơ như là chính giấc mơ mà thôi.  

Trước đây, không nhớ chính xác là vào lúc nào nữa, tôi có đọc được một bài báo rất thú vị giải thích giấc ngủ của chúng ta.  

Nếu tôi nhớ không lầm thì người ta đã đưa ra một cách giải thích là tế bào thần kinh của đại não là khí cụ phát quang và khi chúng ta ngủ thì ánh sáng tắt đi. Hình như lượng phát quang của đại não là nhất định và để duy trì sự sống khi ta ngủ thì chỉ có một bộ phận nào đó tắt ánh sáng đi thôi còn các bộ phận khác vẫn phát quang theo tỉ lệ nghịch. Vùng tối càng mở rộng thì vùng sáng càng tập trung và sáng hơn. Và ngay khi đại não dần tỉnh thức thì vùng sáng chỉ còn lại một điểm và vùng tối lại càng sâu dày hơn. Khi chúng ta ngủ lại thì điểm sáng tập trung đó lại khuyếch tán dần ra và toàn não bộ chúng ta được bao bọc trong một làn ánh sáng mờ nhạt.  

Mặt khác não bộ chúng ta cũng có hai trạng thái tương ứng nhau giữa khi ngủ và khi chúng ta tỉnh thức. Nhưng dường như là nếu chúng ta thức quá lâu và tập trung quá độ thì não bộ chúng ta không thể duy trì lượng phát sáng ra toàn thể được. Ánh sáng ngập tràn não bộ sẽ dần dần thẩm thấu ra vùng ngoại vi và chúng ta sẽ rơi vào trạng thái gần như là ngủ gật. Và nếu chúng ta càng tập tập trung tinh thần bao nhiêu thì chúng ta sẽ càng đạt đến gần trạng thái ngủ bấy nhiêu.

Mặc dù giấc mơ xảy ra ở vùng ngoại vi của ý thức nhưng chúng ta không thể nào xem thường nó được. Bởi chính sự linh hoạt của tư tưởng được tiến hành ở vùng ngoại vi của ý thức. Kinh nghiệm của tôi cho thấy rằng khi có nhiều sức ép của công việc khiến tinh thần càng phải năng động bao nhiêu thì chúng ta càng ngủ mơ nhiều bấy nhiêu. Không chỉ số lần ngủ mơ tăng lên mà nội dung của giấc mơ cũng phức tạp lên nhiều, trở nên rõ ràng cụ thể tới từng chi tiết nhỏ nhất. Và những ý tưởng của chúng ta do đó cũng được thăng hoa bay bổng. Nhưng dù chúng ta cố gắng suy tư theo ý thức thông thường đến đâu đi nữa chúng ta cũng không bao giờ hiểu được. Bởi giấc mơ đi lang thang ở vùng ngoài của ý thức. Giấc mơ chính là tác phẩm của chính những ý tưởng chúng ta.  

Có lẽ giấc mơ chính là ý thức bổ sung dưới dạng tiềm thức chăng? Hay giấc mơ chính là quyển tập sáng tác liên tục được ghi dưới vùng tiềm thức nhỉ? Tuy nhiên những điều kỳ quái trong giấc mơ rồi cũng nhợt nhạt đi trong ánh sáng ngày, màu sắc rồi cũng bắt đầu bị biến chất đi.

Nếu như chúng ta có ý định sử dụng chúng thì hãy chế biến chất liệu này khi chúng còn tươi mới. Vì thế mà một vài năm sau này, tôi luôn mang theo một cái máy ghi âm gối đầu giường để có thể ghi lại ngay những giấc mơ của mình.  

Như vậy, hình ảnh trong tâm can tôi không phải là kích thước, hay bản chất của mặt trăng cười mà chỉ là hình ảnh trăng cười mà thôi.

Hoàng Long dịch   

[1] Xà bông Hoa Vương (Kaou sekken) là một loại xà bông rất nổi tiếng ở Nhật Bản. Logo của loại xà bông này là hình ảnh một vầng trăng khuyết, giống như gương mặt cười nhìn nghiêng.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng   

Về Đầu Trang Go down
 
Văn học Nhật bản - Tập Truyện Ngắn những nhà văn Nhật nổi tiếng
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon  :: ĐỀ TÀI :: Văn Hóa, Nghệ Thuật :: Văn-
Chuyển đến